Trong thời kì giao thương đang ngày càng được mở rộng, với bài Luận văn: Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu doanh nghiệp đã đưa đến một chủ đề mới và hot bởi vì hoạt động xuất nhập khẩu càng ngày càng phát triển, tiềm năng phát triển của thị trường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu nói chung cũng như tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu nói riêng cũng đứng trước những cơ hội phát triển vô cùng lớn. Nắm bắt lấy cơ hội này, Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC đã nỗ lực đẩy mạnh phát triển doanh thu từ hoạt động bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu cũng như hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu và đạt được một số thành quả không nhỏ. Dưới đây là Đề tài Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC”, mời các bạn tham khảo
LỜI MỞ ĐẦU
Sự tồn tại của rủi ro có thể coi là một trong những lý do chính dẫn đến sự ra đời của bảo hiểm. Khi hoạt động bảo hiểm dần được chuyên nghiệp hóa cũng là lúc các doanh nghiệp bảo hiểm được ra đời. Tuy nhiên đứng trước các nhu cầu cần được “bảo vệ” của khách hàng, không phải bất kì doanh nghiệp bảo hiểm nào cũng có đủ năng lực tài chính để theo đến cùng các hợp đồng bảo hiểm. Khi các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận nhận bảo hiểm cho những rủi ro quá lớn, bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm cũng trở thành “đối tượng được bảo hiểm”. Chính vì vậy, nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững nhưng không rơi vào thế mạo hiểm đồng thời thỏa mãn tối đa nhu cầu bảo hiểm của xã hội, các doanh nghiệp bảo hiểm bắt buộc phải tìm đến các phương pháp phân tán rủi ro, trong đó có tái bảo hiểm.
Tái bảo hiểm nhanh chóng trở nên phổ biến và trở thành một công cụ hữu hiệu cho các doanh nghiệp bảo hiểm (bao gồm các bên nhượng tái và bên nhận tái) có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn, đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, trở thành một bộ phận không thể thiếu của thị trường bảo hiểm của mỗi quốc gia và quốc tế.
Đại dịch Covid-19 đã tác động tiêu cực đến các cá nhân, doanh nghiệp, xã hội và thị trường trên phạm vi toàn cầu. Thị trường bảo hiểm cũng không ngoại lệ. Theo thống kê số liệu từ tập đoàn tái bảo hiểm Swiss Re Institute, thị trường bảo hiểm thế giới năm 2021 cũng chịu ảnh hưởng đáng kể bởi đại dịch Covid-19 khiến chuỗi tăng trưởng ấn tượng liên tục trong suốt 10 năm qua bị đứt gãy. Tuy nhiên ở chiều hướng ngược lại thì thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định nhờ những chỉ đạo kịp thời của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết số 128/NQ- CP ngày 11 tháng 10 năm 2021 của Chính phủ ban hành Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”.
Ngoài ra việc các các hiệp định thương mại quốc tế như EVFTA (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU) hay CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) được kí kết và bắt đầu có hiệu lực cũng đã mở ra một cơ hội lớn đối với hoạt động xuất nhập khẩu trong nước bằng các cam kết về lộ trình giảm thuế, mở cửa thị trường đối với các ngành chủ lực như may mặc, giày da…
Năm 2021 là một năm hết sức khó khăn với nền kinh tế Việt Nam khi chúng ta phải đón nhận làn sóng bùng phát dịch lần thứ 4 với nhiều thiệt hại vô cùng nặng nề cả về người và tài sản trong khi hoạt động thương mại bị tác động tiêu cực do công tác phòng chống dịch quá mức của một số nước, tình trạng thiếu vỏ container, giá một số mặt hàng nguyên vật liệu tăng cao đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam. Mặc dù đứng trước những khó khăn như vậy nhưng theo số liệu của Tổng cục Thống kê thì tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm của chúng ta vẫn đạt được một con số khá ấn tượng, đó là 316,73 tỉ USD, tăng trưởng 32,20% so với cùng kì năm ngoái. Tuy nhiên, tổng doanh thu phí bảo hiểm hàng hóa trong 6 tháng đầu năm chỉ đạt 1.351 tỉ đồng, tương đương với việc chỉ có khoảng 18,31% số lượng hàng hóa xuất nhập khẩu được mua bảo hiểm. Điều này chứng tỏ thị trường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vẫn còn đang bỏ ngỏ và là cơ hội rất lớn để các doanh nghiệp bảo hiểm phát triển trên lĩnh vực này.
Tại MIC, tỉ trọng bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu chỉ chiếm khoảng 3,3% trên tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc, doanh thu từ hoạt động nhận tái và nhượng tái bảo hiểm hàng hóa chiếm tỉ trọng khoảng 2,3%, trong khi tỉ lệ bồi thường chỉ chiếm 0,37%. Điều này cho thấy tiềm năng và không gian phát triển hơn nữa đối với Nghiệp vụ này. Tuy nhiên mặc dù thị trường còn rộng mở và không gian phát triển cũng lớn nhưng trước sự gia tăng các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước cũng như cạnh tranh từ các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài thì để có thể tiếp túc phát triển hay đơn giản là giữ vững thị phần trên thị trường nội địa cũng là một câu chuyện đang quan tâm. Từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài “Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Tổng công ty Cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC” làm đề tài cho luận văn của mình.
Có thể bạn quan tâm:
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ( Luận văn: Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu doanh nghiệp )
Tái bảo hiểm không phải là một lĩnh vực mới mẻ trên thế giới nhưng nó lại là một lĩnh vực mới mẻ trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Tuy nhiên đây lại là một thị trường khá tiềm năng nên nó vẫn nhận được sự quan tâm của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng, ta có thể thấy được điều đó qua một vài công trình nghiên cứu sau:
Tác giả Vũ Ngọc Anh (2000) với đề tài“Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu và thực tiễn ở Việt Nam”. Luận văn này tác giả đã trình bày các cơ sở lý luận căn bản về Bảo hiểm cũng như Tái bảo hiểm nói chung và Tái bảo hiểm Hàng hóa xuất nhập khẩu nói riêng. Tuy nhiên luân văn này lại chỉ đưa ra một số giải pháp và kiến nghị mang tầm vĩ mô nhằm mở rộng và phát triển thị trường tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu mà chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể đối với từng nhóm doanh nghiệp bảo hiểm.
Tác giả Bùi Hồng Trinh (2008) với đề tài “Phát triển nghiệp vụ Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện PTI”. Đến luận văn này, ngoài các cơ sở lý luận căn bản về Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển, tác giả đã đưa ra được những giải pháp và kiến nghị nhằm cải thiện quy trình thực hiện tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình kinh doanh tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI).
Như vậy, tuy có nhiều nghiên cứu về hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu nhưng chưa có nghiên cứu nào tập trung phân tích hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC do mỗi công ty lại có một điểm mạnh riêng. Vì vậy luận văn “Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC” sẽ đi sâu vào tìm hiểu thực trạng hoạt động tái bảo hiểm tại MIC, tìm ra các thuận lợi và khó khăn từ đó đưa ra được các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm hàng hóa XNK tại MIC.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tổng hợp lý luận về hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, phân tích đánh giá thực trạng tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC, mục đích nghiên cứu của đề tài là đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại đơn vị này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ( Luận văn: Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu doanh nghiệp )
Đối tượng nghiên cứu: Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu.
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC.
Thời gian nghiên cứu: Phân tích, đánh giá thực trạng tái bảo hiểm hàng hóa tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC giai đoạn 2017 – 2021 , thông qua các số liệu dựa trên báo cáo kinh doanh và số liệu từ thị trường để đưa ra các giải pháp và kiến nghị để thúc đẩy hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu. Luận văn đi sâu vào bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển do đây là phương thức vận chuyển phổ biến nhất trên thế giới, chiếm tỉ trọng lớn nhất trong các phương thức vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp hệ thống hóa, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thu thập số liệu thứ cấp để nghiên cứu.
Phương thức hệ thống hóa: khái quát lại hệ thống cơ sở lý luận về bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu và tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu.
Phương pháp phân tích tổng hợp: phân tích xu hướng của thị trường, phân tích triển vọng phát triển của nghiệp vụ cũng như các mặt thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại MIC, từ đó đưa ra được các giải pháp và kiến nghị thích hợp.
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: thu thập các số liệu từ Báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm, các giáo trình, công trình nghiên cứu…
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Lời mở đầu, Mục lục và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Lý luận chung về tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu.
Chương 2: Thực trạng hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Tổng công ty Cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC.
Chương 3: Giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội MIC
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÁI BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU
1.1. Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu ( Luận văn: Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu doanh nghiệp )
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu.
Ngành bảo hiểm trên thế giới đã có bề dày lịch sử hàng trăm năm. Có rất nhiều khái niệm về bảo hiểm. Theo Dennis Kessler “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít”. Còn theo Monique Gaullier thì “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê.”
Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”
Về mặt bản chất, bảo hiểm chính là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu. Bảo hiểm hoạt động dựa trên Quy luật số đông (the law of large numbers).
Hợp đồng bảo hiểm đầu tiên trên thế giới được ghi nhận lại là hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trên biển Địa Trung Hải tại cảng Génes – Italy vào năm 1347. Các nhà nghiên cứu đều cho rằng sự ra đời của bảo hiểm hàng hải chính là nét bút đầu tiên cho lịch sử phát triển của ngành bảo hiểm trên thế giới.
Ban đầu, khái niệm bảo hiểm hàng hải chỉ bao gồm việc bảo hiểm cho các đối tượng là thân tàu biển và hàng hóa vận chuyển trên biển. Các rủi ro được bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểm hàng hải đầu tiên cũng chỉ bao gồm các hiểm họa của biển (perils of the sea) như giông, bão…. Tuy nhiên theo sự phát triển của giao lưu thương mại quốc tế thì nhu cầu của người được bảo hiểm cũng thay đổi dẫn đến sự hình thành và phát triển bảo hiểm hàng hải như hiện nay.
Bảo hiểm hàng hải không chỉ bảo hiểm cho các tàu biển mà còn bảo hiểm cho các hoạt động hàng hải. Theo Bộ luật Hàng hải Việt Nam thì hoạt động hàng hải được hiểu là hoạt động có liên quan đến việc sử dụng tàu biển vào các mục đích kinh tế, khoa học kĩ thuật, văn hóa, thể thao, quân sự và công vụ nhà nước.
Bảo hiểm hàng hải bao gồm ba nghiệp vụ bảo hiểm chính, đó là Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, Bảo hiểm thân tàu và Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển (P&I).
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển bao gồm cả Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế và Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển giữa các cảng biển Việt Nam (bao gồm cả các chặng đường thủy nội địa và các chặng trong phạm vi lãnh hải của Việt Nam).
Thực chất bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế chính là Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển.
1.1.2. Các loại hình bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu. ( Luận văn: Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu doanh nghiệp )
Mỗi quốc gia đều có một thế mạnh riêng về năng lực sản xuất và khi kinh tế ngày một phát triển, đời sống con người ngày một nâng cao thì quá trình giao thương xuất nhập khẩu cũng ngày một phát triển mạnh mẽ. Tùy vào điều kiện địa lý và đặc thù hàng hóa, người ta có thể vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu bằng các phương thức khác nhau, chia làm ba nhóm chính là đường biển, đường bộ và đường hàng không tương đương với ba loại hình bảo hiểm chính là bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường biển, bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường bộ và Bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường hàng không.
- Bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường biển là loại hình bảo hiểm cho những hàng hóa chuyên chở bằng các tàu chở hàng chuyên dụng. Phần lớn hàng hóa trên thế giới đều được chuyên chở thông qua phương thức này. Phương thức vận chuyển này thích hợp với những hàng hóa có khối lượng lớn, dễ bảo quản, thời gian vận chuyển không cấp bách.
- Bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường hàng không là loại hình bảo hiểm cho những hàng hóa chuyên chở bằng máy Đây là một trong những phương thức vận tải quan trọng của hoạt động thương mại quốc tế. Ưu điểm của chúng là thời gian vận chuyển nhanh ở cự ly xa, tần suất liên tục. Phương thức vận chuyển này thích hợp với những loại hàng hóa cần gấp, hàng hóa khó bảo quản hay những loại hàng hóa yêu cầu cao về độ an toàn; tuy nhiên lại chỉ phù hợp với những hàng hóa có kích thước, khối lượng từ nhỏ đến trung bình, chi phí vận chuyển cao.
- Bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường bộ là loại hình bảo hiểm cho những hàng hóa chuyên chở bằng các phương tiện đường bộ như ô tô, tàu hỏa. Phương thức vận chuyển này thích hợp với những hàng hóa khối lượng nhỏ, quãng đường gần, những loại hàng hóa không yêu cầu quá cao về mặt bảo quản hay mức độ an toàn, chi phí vận chuyển thấp.
Tuy nhiên trong bài luận văn này tôi xin đi chuyên sâu vào loại hình bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường biển do vận chuyển bằng đường biển là phương thức vận chuyển phổ biến nhất thế giới, chiểm đến 80% tổng khối lượng chuyên chở quốc tế của tất cả các hình thức vận chuyển.
1.1.3 Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển:
- Rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa XNK bằng đường biển
Trong quá trình vận chuyển bằng đường biển, hàng hóa có thể phải chịu tác động từ nhiều loại rủi ro. Căn cứ vào nguyên nhân rủi ro, các rủi ro của bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường biển bao gồm các loại sau:
- Thiên tai (Acts of God): Hiện tượng biển động, bão, gió lốc, sét đánh, động đất, núi lửa… là những hiện tượng xảy ra một cách tự nhiên mà ngay chính con người không thể chi phối được.
- Tai họa của biển (Perils of the sea): Loại trừ những rủi ro về thiên tai, những tai nạn xảy ra đối với con tàu của bạn khi ở ngoài biển như mắc cạn, cháy nổ, đâm va nhau, hay va phải đá ngầm, đâm phải những vật thể khác, tàu của bạn bị lật úp, mất tích được xem là tai họa của biển.
- Các tai nạn bất ngờ khác: Những thiệt hại xảy ra một cách ngẫu nhiên và bất ngờ ở bên ngoài không nằm trong những tai họa của biển được nêu trên. Chúng có thể xảy ra trên biển hoặc trên bộ, trên không và ngay cả trong quá trình vận chuyển, xếp dỡ hàng hóa, lưu kho, lưu bãi, hấp hơi, lây bẩn hay lây hại… đều được xem là các rủi ro phụ (extraneous risk)
- Rủi ro do các hiện tượng chính trị, xã hội gây nên: Các loại rủi ro như chiến tranh, nội chiến, bạo động và các hành động thù địch khác, tàu và hàng bị tịch thu và bắt giữ; các rủi ro do đình công và các hành động khủng bố hoặc do những người khủng bố gây
Căn cứ vào vào nghiệp vụ bảo hiểm, các rủi ro của bảo hiểm hàng hóa bao gồm các loại sau:
- Rủi ro thông thường: là những rủi ro mà khi gặp phải hầu hết đều được bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm gốc. Hàng hóa vận chuyển bằng đường biển thường phải chịu các rủi ro thông thường như: mắc cạn, chìm đắm, cháy, đâm va, tàu mất tích, ném xuống biển…. Và những rủi ro này lại được chia thành hai nhóm là rủi ro chính, bao gồm mắc cạn, đắm, cháy, đâm va và các rủi ro thông thường khác. Sở dĩ chia như vậy vì các rủi ro chính trên là những rủi ro thường gặp của biến và chúng thường gây ra những tổn thất lớn cho chủ hàng cũng như chủ tàu.
Các rủi ro chính bao gồm những rủi ro như sau:
- Mắc cạn: Đây là hiện tượng đáy tàu chạm sát với đáy biển hoặc chướng ngại vật do một sự cố bất thường gây ra làm cho tàu không chạy được nữa khiến hành trình của tàu bị gián đoạn hoặc thậm chí là chấm dứt. Cần phân biệt mắc cạn với nằm cạn. Mắc cạn là một rủi ro không lường trước được có thể do bão, thời tiết xấu, hiện tượng sa bồi…. trong khi nằm cạn là những hiện tượng có thể lường trước được (do thủy triều hoặc con nước định kì). Phần lớn các nguyên nhân mắc cạn đều thuộc phạm vi bảo hiểm trừ khi rủi ro xảy ra do một hành động cố ý hoặc không tuân thủ pháp luật. Ngoài ra trách nhiệm của người bảo hiểm chỉ bồi thường cho những tổn thất trực tiếp như hỏng hàng do ước nước, va đập làm cong, vênh nứt vỡ hàng hóa…, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất gián tiếp nhưng chậm trễ, mất cơ hội bán hàng dẫn đến phải hạ giá hàng hóa hay tăng lãi vay phải trả cho ngân hàng do hàng tồn… ( Luận văn: Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu doanh nghiệp )
- Đắm tàu: là hiện tượng toàn bộ phần nổi của con tàu bị chìm xuống nước do một sự cố bất ngờ xảy ra khi tàu đang di chuyển trên biển hoặc đang neo đậu. Đắm tàu có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân như bão lốc, sóng thần, đâm va, bom mìn, ngư lôi, đạn pháo…. Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm cho những hành động cố ý hoặc không tuân thủ pháp luật. Việc tàu đắm do ảnh hưởng của chiến tranh hoặc đình công bạo loạn chỉ được bảo hiểm nếu có thỏa thuận riêng. Trong trường hợp tàu bập bềnh do sóng gió mạnh nhưng vẫn chạy được hoặc nhờ phương tiện lai dắt tiếp tục hành trình được thì không được coi là đắm. Đắm tàu thường gây những tổn thất to lớn về cả người và tài sản nên thông thường người bảo hiểm thường bồi thường tổn thất toàn bộ với những lô hàng chở trên những còn tàu bị đắm. Sau khi bồi thường người bảo hiểm có quyền nhận hoặc từ chối nhận quyền sở hữu lô hàng. Nếu chủ hàng muốn trục vớt hàng hóa để chở về thì người bảo hiểm sẽ bồi thường cho chủ hàng chi phí trục vớt, chi phí vận chuyển tiếp trong phạm vi số tiền bảo hiểm.
- Cháy: Trước đây cháy được quan niệm là phải có khói và do tia lửa, ngọn lửa bên ngoài gây ra nhưng thực tiễn hàng hải cho thấy có những vụ cháy hoàn toàn không phát ra tia lửa, không có khói và hoàn toàn là tự phát. Hiện này, cháy được định nghĩa là hiện tượng ô xi hóa có tỏa nhiệt cao gây ra một sự cố bất ngờ không kiểm soát được trên tàu. Rủi ro cháy được chia làm hai loại: Cháy thông thường: do nguyên nhân từ bên ngoài hay những nguyên nhân khách quan như thiên tai, sơ xuất của người không phải người được bảo hiểm hay buộc phải thiêu hủy để tránh dịch bệnh… Cháy nội tỳ: do bản thân hàng hóa tự bốc cháy. Người bảo hiểm có quyền từ chối bồi thường nếu họ chứng minh được nguyên nhân là do hàng hóa được xếp lên tàu trong điều kiện và trạng thái không thích hợp hoặc do bản chất tự nhiên của hàng hóa.
- Đâm va: là hiện tượng phương tiện vận chuyển bị va chạm vào một vật thể cố định (cầu cảng, kè cống, cầu trên sông, dàn khoan…) hoặc di động (ca nô, sà lan, các tàu khác….)
Các rủi ro thông thường khác bao gồm các rủi ro sau:
- Tàu mất tích: là trường hợp tàu không đến được cảng như quy định của hợp đồng và sau một khoảng thời gian nhất định kể từ ngày hành trình bị mất tin tức về tàu và hàng hoá trên tàu.
- Ném bỏ xuống biển: là hành động vứt hoặc ném một phần hàng hoá hoặc trang thiết bị của tàu xuống biển nhằm mục đích cứu tàu và hành trình của tàu.
- Nước cuốn trôi khỏi tàu: là hiện tượng hàng hóa bị sóng gạt, bị đứt dây chằng buộc làm cuốn trôi xuống biển. (Rủi ro này chỉ được bảo hiểm nếu người bảo hiểm tham gia theo điều kiện A hoặc điều kiện B. Điều kiện bảo hiểm C không bảo hiểm cho rủi ro này.)
- Dỡ hàng tải cảng lánh nạn: là trường hợp hàng hóa bắt buộc phải dỡ tại một cảng dọc đường không có trong hành trình trước khi đến cảng đích do tàu chở hàng gặp sự cố hoặc bị đe dọa buộc phải ghé vào để lánh nạn.
- Phương tiện vận chuyển trên bộ bị đổ hoặc lật bánh.
- Nước biển chảy vào tàu, sà lan, container hoặc nơi chứa hàng.
- Động đất, núi lửa phun, sét đánh.
- Mất cắp, giao thiếu hàng hoặc không giao hàng.
- Hành vi phi pháp của thuyền trưởng hoặc thủy thủ.
- Cướp biển.
Rủi ro phụ bao gồm một số rủi ro được bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm A hoặc điều kiện Mọi rủi ro. Rủi ro phụ thường bao gồm các rủi ro liên quan đến đặc thù của hàng hóa như:
- Vỡ, cong, bẹp: là hiện tường hàng hóa bị hư hạ trong quá trình vận chuyển và bốc dỡ do cẩu thả, nặng tay, do va đập vào hàng hóa khác hoặc do bị rơi, tác động của ngoại lực.
- Rỉ: là hiện tượng hàng kim loại bị ô xi hóa hoặc ăn mòn hóa học do độ ẩm cao trong hàng hóa hoặc do hàng hóa bị ngấm nước.
- Hấp hơi: là hiện tượng không khí trong hầm/khoang chứa hàng có độ ẩm quá cao ngưng đọng lại làm hỏng hàng hóa.
- Nóng: là hiện tượng hàng hóa bị nóng do tính chất riêng của hàng hoặc do lây sang từ hàng hóa khác, do máy lạnh của tàu bị hỏng hoặc xếp gần buồng máy.
- Lây hại: hiện tượng hàng hóa bị hư hỏng do xếp gần hàng có hương vị trái ngược hoặc do kí sinh trùng lây từ hàng này sang hàng khác.
- Lây bẩn.: hiện tượng hàng hóa bị bẩn do sơn, phẩm, dầu mỡ ngấm qua bao bì
- Hư hại do móc cẩu :là hiện tượng hàng hóa bị hư hỏng trong quá trình bốc dỡ do móc cần cẩu hoặc do móc của người công nhân xếp dỡ sử dụng làm đứt dây, đai, rách vỡ bao bì.
- Chuột bọ, côn trùng: là hiện tượng hàng hóa bị hư hỏng hoặc bị kém phẩm chất do bị ăn hại, bị cắn nát, bị ẩm mốc, nảy mầm do sinh trưởng và hoạt động của côn trùng, chuột bọ có sẵn trong hàng hóa hoặc có sẵn trên tàu.
- Các rủi ro phụ khác: nấm móc, rò chảy, xây sát, rơi vãi….
- Rủi ro riêng: Rủi ro này chỉ bao gồm hai rủi ro là Chiến tranh và Đình công. Chúng được gọi là rủi ro riêng vì chúng chỉ được bảo hiểm khi có thỏa thuận riêng và theo những điều kiện bảo hiểm riêng.
- Rủi ro loại trừ là những rủi ro không được bảo hiểm trong bất kì tình huống nào. Các rủi ro này bao gồm:
- Hành vi xấu, cố ý của người được bảo hiểm.
- Rủi ro thông thường, hao hụt trọng lượng, giảm thể tích thông thường hoặc hao mòn tự nhiên (tổn thất thương mại của hàng hóa)
- Bao bì đóng gói không thích hợp, đóng gói sai quy cách.
- Chậm trễ hành trình và hậu quả trực tiếp của việc chậm trễ (kể cả việc chậm trễ là do rủi ro được bảo hiểm).
- Phương tiện vận chuyển không đủ khả năng đi biển.
- Sự bất lực hay thiếu thốn về mặt tài chính của người chuyên chở
Phạm vi bảo hiểm của Bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường biển
Toàn bộ các Quy tắc chung về Bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường biển do các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam soạn thảo đều dựa trên bộ điều khoản do ủy ban kĩ thuật và điều khoản – Học hội Bảo hiểm London soạn thảo, đó là bộ quy tắc ICC 1982 (Institute Cargo Clause 1982). Bộ quy tắc ICC 1982 bao gồm 5 điều kiện bảo hiểm đó là Điều kiện bảo hiểm A (ICC-A), điều kiện bảo hiểm B (ICC-B), điều kiện bảo hiểm C (ICC-C), điều kiện bảo hiểm Chiến tranh (Institute War Clause) và điều kiện bảo hiểm Đình công (Institute Strike Clause).
Phạm vi bảo hiểm của ba điều kiện trên được thu hẹp dần theo thứ tự A, B, C. Hai điều kiện bảo hiểm Chiến tranh và Đình công là hai điều kiện bảo hiểm riêng, chỉ chấp nhận bảo hiểm khi có sự thỏa thuận giữa hai bên. ( Luận văn: Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu doanh nghiệp )
- Các loại hợp đồng bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển có đối tượng bảo hiểm là hàng hóa vận chuyển bằng tàu biển hoặc có thể kết hợp cả các phương thức vận chuyển khác trong liên hiệp vận chuyển (vận chuyển đa phương thức). Trong thực tế cũng như tại MIC có hai loại hợp đồng bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển được áp dụng là hợp đồng bảo hiểm chuyến và hợp đồng bảo hiểm bao.
- Hợp đồng bảo hiểm chuyến là loại hợp đồng bảo hiểm cho một chuyến hàng từ địa điểm này đến địa điểm khác. Đây được coi là loại hợp đồng “tường minh” nhất do tất cả các thông tin về đối tượng bảo hiểm như tên hàng hóa, số lượng hàng hóa, phương thức đóng gói, giá trị bảo hiểm, phí bảo hiểm… cũng như thông tin về phương tiện vận chuyển như tên phương tiện, ngày xếp hàng, ngày dỡ hàng, …đều được thể hiện rõ trên hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm bao là hợp đồng bảo hiểm cho nhiều chuyến hàng của cùng một chủ hàng trong một thời gian nhất định (thường là 01 năm). Loại hợp đồng này thường áp dụng đối với những chủ hàng có khối lượng hàng hóa XNK trong năm lớn, hàng đi thành nhiều chuyến. So với hợp đồng bảo hiểm chuyến, sẽ có nhiều thông tin mà người bảo hiểm không biết trước được, do đó hợp đồng bảo hiểm bao có thể coi như một dạng hợp đồng nguyên tắc, trong đó các bên chỉ thỏa thuận những điều khoản làm cơ sở cho việc tính giá trị bảo hiểm, phí bảo hiểm tương ứng với những điều kiện bảo hiểm, phương thức thanh toán phí, cam kết về phương thức vận chuyển…. Với mỗi chuyến hàng, bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ những thông tin mà bên bảo hiểm yêu cầu, bên bảo hiểm sẽ cấp từng GCN cho từng lô hàng của bên mua.
1.2. Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu
1.2.1. Khái niệm và vai trò
“Tái bảo hiểm là việc một doanh nghiệp bảo hiểm nhượng lại cho doanh nghiệp bảo hiểm khác một phần rủi ro và phí bảo hiểm mà doanh nghiệp đó đã chấp nhận cho bên mua bảo hiểm.” TS Đoàn Minh Phụng, Giáo trình Bảo hiểm Phi nhân thọ, NXB Tài chính, 2010.
Hay nói một cách khác, tái bảo hiểm là bảo hiểm cho các nhà bảo hiểm.Tái bảo hiểm chỉ hình thành trên cơ sở bảo hiểm gốc nhưng các thỏa thuận của hợp đồng tái bảo hiểm có thể khá độc lập với hợp đồng bảo hiểm gốc.
Tái bảo hiểm được chia thành hai phần tùy theo góc độ nghiên cứu là tái bảo hiểm đi (Outward Reinsurance) và tái bảo hiểm nhận (Inward Reinsurance).
Tái bảo hiểm đi hay còn gọi là nhượng tái bảo hiểm nghĩa là một doanh nghiệp bảo hiểm gốc (là công ty khai thác trực tiếp đứng ra kí kết hợp đồng với khách hàng) chuyển giao một phần rủi ro mà mình nhận cho các công ty tái bảo hiểm. Trong trường hợp này doanh nghiệp bảo hiểm gốc sẽ phải chuyển bớt một phần phí cho các công ty tái bảo hiểm và nhận lại sự đảm bảo và ổn định cho quá trình kinh doanh của mình.
Quá trình ngược lại được gọi là tái bảo hiểm nhận hay là nhận tái bảo hiểm.
Với cơ chế hoạt động là chuyển giao rủi ro từ một doanh nghiệp bảo hiểm này sang doanh nghiệp bảo hiểm khác, tái bảo hiểm có vai trò rất lớn đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Thứ nhất, nó góp phần tăng khả năng chấp nhận bảo hiểm của người được bảo hiểm. Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm gốc thì năng lực tài chính có giới hạn chính là rào cản lớn nhất không cho phép người bảo hiểm chấp nhận những dịch vụ lớn mà nếu tổn thất xảy ra vượt quá khả năng thanh toán của mình. Tuy nhiên năng lực bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm gốc có thể tăng gấp bội nhờ sự hậu thuẫn từ cam kết của người nhận tái bảo hiểm. Với những hợp đồng tái bảo hiểm cố định hoặc mở sẵn các doanh nghiệp bảo hiểm gốc sẽ càng chủ động, linh hoạt hơn trước các yêu cầu bảo hiểm lớn của khách hàng.
Thứ hai, nó trợ giúp các doanh nghiệp bảo hiểm mới thành lập phát triển thông qua việc hỗ trợ tăng cường khả năng chấp nhận bảo hiểm và sự tư vấn kĩ thuật nghiệp vụ của những người nhận tái bảo hiểm do phần lớn các nhà tái đều là những công ty lớn và lâu đời, trình độ chuyên môn và kĩ năng nghiệp vụ cao.
Thứ ba, nó còn góp phần duy trì sự ổn định trong kinh doanh. Mặc dù việc vận dụng quy luật số đông đã cho phép nhà bảo hiểm bảo đảm được các biến cố ngẫu nhiên, tuy nhiên kinh doanh bảo hiểm không vì thế mà không bị chi phối bởi sự thất thường, đột biến của rủi ro. Những sai số về xác suất rủi ro, giá trị tổn thất so với dự đoán không phải là điều hiếm gặp, và những sai số này có thể ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của nhà bảo hiểm. Những hợp đồng tái bảo hiểm đặc biệt như hợp đồng tái bảo hiểm vượt tỉ lệ bồi thường (hợp đồng Stop Loss), hợp đồng vượt mức bồi thường cho thảm họa lớn ( hợp đồng Cat XOL – Catasthrophe excess of loss)… có thể giúp nhà bảo hiểm giảm nhẹ những tác động bất lợi của sự biến động quá lớn của rủi ro, hiện tượng tích tụ tổn thất của các thảm họa tự nhiên.
Cuối cùng, tái bảo hiểm còn mang lại lợi ích ở tầm vĩ mô do có thể phân tán rủi ro cho thị trường bảo hiểm trên toàn thế giới, như vậy khi có rủi ro xảy ra cũng sẽ không có tác động mạnh đến nền kinh tế của quốc gia.
Ngoài những vai trò trên, tái bảo hiểm còn được các doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng như một công cụ nhằm giảm bớt những áp lực về vốn, tài chính trong những trường hợp đặc biệt.
1.2.2. Các bên tham gia trên thị trường tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu ( Luận văn: Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu doanh nghiệp )
- Công ty mua tái bảo hiểm:
+ Công ty bảo hiểm gốc: Đây là những những công ty trực tiếp giao kết hợp đồng với khách hàng sau đó thực hiện tái bảo hiểm (mua tái bảo hiểm) để phân tán bớt rủi ro của mình.
+ Công ty bảo hiểm chuyên ngành: Các công ty này thường không phải là một công ty độc lập mà là công ty con trong một hệ thống tập đoàn lớn kinh doanh một lĩnh vực cụ thể nào đó của nên kinh tế. Các công ty con này được thành lập để bảo hiểm cho các hoạt động của công ty mẹ. Tuy nhiên các công ty con này thường không đủ năng lực tài chính để bảo hiểm cho toàn bộ các hoạt động của công ty mẹ nên vẫn cần thực hiện tái bảo hiểm (mua tái bảo hiểm) để phân tán bớt rủi ro của mình.
+ Công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp: Các công ty này chuyên kinh doanh dịch vụ nhận tái và nhượng tái, không kinh doanh bảo hiểm gốc. Tuy nhiên trong quá trình nhận tái các công ty này cũng không tránh khỏi việc gặp tổn thất bất ngờ cho nên họ cũng thực hiện việc nhượng tái nhằm duy trì sự ổn định tài chính cho mình.
- Công ty bán tái bảo hiểm
+ Các công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp: Hầu hết việc bán tái bảo hiểm trên thị trường tái bảo hiểm đều do các công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp này thực hiện.
+ Các công ty bảo hiểm gốc: Các công ty bảo hiểm gốc cũng có thể được yêu cầu bán tái bảo hiểm cho nhau hoặc cho các công ty tái bảo hiểm khác.
+ Công ty bảo hiểm chuyên ngành: Việc bán tái bảo hiểm cho các công ty khách cũng đem lại một nguồn thu khác ngoài phí bảo hiểm gốc cho những công ty mẹ các các công ty này, tuy nhiên chỉ là con số nhỏ. Thông thường các công ty bảo hiểm chuyên ngành thường bán tái bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm chuyên ngành khác.
+ Quỹ chung (Pool): Trong trường hợp rủi ro quá lớn trong khi việc thu xếp tái bảo hiểm toàn bộ lại không thực hiện được thì Pool được thành lập do những những tổ chức có rủi ro giống nhau nhằm san sẻ cho nhau.
- Các trung gian tái bảo hiểm:
Các công ty môi giới tái bảo hiểm: Là những tổ chức có hiểu biết chuyên sâu về tái bảo hiểm cũng như các thị trường tái bảo hiểm trên thế giới do đó họ đóng vai trò trung gian quan trọng trong việc giúp đỡ các công ty có nhu cầu tái bảo hiểm trong việc thu xếp tái những dịch vụ cần tái cũng như lựa chọn được công ty tái bảo hiểm phù hợp.
Mời bạn tham khảo thêm:
1.2.3. Hợp đồng tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu ( Luận văn: Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu doanh nghiệp )
- Định nghĩa hợp đồng tái bảo hiểm.
Hợp đồng tái bảo hiểm là thỏa thuận được kí kết giữa công ty nhượng và nhà tái bảo hiểm, trong đó nhà tái bảo hiểm cam kết bồi thường phần trách nhiệm mà công ty nhượng phải gánh chịu trong hợp đồng khi sự kiện bảo hiểm xảy ra với điều kiện công ty nhượng phải chuyển giao một số phí bảo hiểm tương ứng với mức trách nhiệm của nhà tái bảo hiểm
Như đã đề cập ở trên, hợp đồng tái bảo hiểm luôn gắn liền với hợp đồng bảo hiểm gốc. Chúng ta có thể thấy được mối quan hệ giữa bảo hiểm và tái bảo hiểm trong sơ đồ sau:
- Khi doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro mà người được bảo hiểm đưa ra và ký kết hợp đồng bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm này gọi là hợp đồng bảo hiểm gốc, doanh nghiệp bảo hiểm này là doanh nghiệp bảo hiểm gốc. Quá trình này là bảo hiểm.
- Sau khi doanh nghiệp bảo hiểm gốc chấp nhận rủi ro, kí kết hợp đồng và thu phí bảo hiểm xong thì họ lại chuyển nhượng một phần trách nhiệm và phí bảo hiểm của mình cho một doanh nghiệp bảo hiểm khác thì hợp đồng kí kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm gốc và doanh nghiệp bảo hiểm còn lại này gọi là hợp đồng tái bảo hiểm.
- Doanh nghiệp bảo hiểm gốc được gọi là bên nhượng tái và doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận chuyển giao rủi ro là bên nhận tái. Quá trình này là tái bảo hiểm.
- Quan hệ tái bảo hiểm có thể được tiếp tục thực hiện với quá trình tương tự như trên, bên nhận tái bảo hiểm tiếp tục chuyển giao một phần trách nhiệm và phí bảo hiểm mình thu được cho một doanh nghiệp bảo hiểm khác, quá trình này gọi là nhượng tái bảo hiểm thứ cấp.
Quan hệ giữa người được bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm gốc bị chi phối bởi hợp đồng bảo hiểm gốc. Quan hệ giữa doanh doanh nghiệp bảo hiểm gốc (bên nhượng tái) và bên nhận tái bị chi phối bới hợp đồng tái bảo hiểm.
Cũng từ sơ đồ trên, ta có thể thấy được quyền và nghĩa vũ của các bên trong hợp đồng tái bảo hiểm hàng hóa XNK như sau:
Bên nhượng tái có nghĩa vụ chuyển một phần phí bảo hiểm cho bên nhận tái theo tỉ lệ thoải thuận trong hợp đồng tái bảo hiểm, ngược lại khi có tổn thất xảy ra với đối tượng được bảo hiểm thì bên nhận tái có nghĩa vụ phải bồi thường theo tỉ lệ tái đã thỏa thuận cho bên nhượng tái.
Bên nhận tái có quyền lợi đối với số phí bảo hiểm mà bên nhượng tái chuyển cho mình, tuy nhiên tùy theo thỏa thuận trong hợp đồng tái mà bên nhận tái sẽ phải chịu các khoản thủ tục phí theo quy định. Thủ tục phí có thể là hoa hồng hoặc thủ tục phí theo lãi.
Khi tổn thất xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm gốc sẽ đứng ra chi trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm theo các quy định thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm gốc. sau khi hoàn thành nghĩa vụ chi trả cho người được bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm gốc hay là bên nhượng tái trong hợp đồng tái bảo hiểm sẽ phân bổ số tiền bồi thường cho các công ty nhận tái bảo hiểm theo tỉ lệ nhận tái được thỏa thuận trong hợp đồng tái. Như vậy hợp đồng bảo hiểm gốc và hợp đồng tái bảo hiểm là hai loại hợp đồng tồn tại song song nhưng độc lập với nhau, điều chỉnh các mối quan hệ khác nhau.
- Các hình thức của hợp đồng tái bảo hiểm hàng hóa XNK
- Hợp đồng tái bảo hiểm cố định (Treaty Reinsurance).
Hợp đồng tái bảo hiểm cố định hay còn gọi là hợp đồng tái bảo hiểm bắt buộc. Đặc trưng của loại hợp đồng này chính là tính “bắt buộc” trong việc chuyển nhượng và chấp nhận dịch vụ bảo hiểm của người nhượng tái và người nhận tái. Theo hợp đồng này, trong thời gian hiệu lực hợp đồng, tất cả những rủi ro mà người nhượng bảo hiểm chấp nhận nếu phù hợp với những thỏa thuận về đối tượng bảo hiểm, phạm vi bảo hiểm, giới hạn trách nhiệm…. trong hợp đồng tái bảo hiểm thì sẽ tự động được chuyển nhượng mà không cần trao đổi hay thỏa thuận gì thêm. (TS Đoàn Minh Phụng, Giáo trình bảo hiểm Phi Nhân thọ – NXB Tài chính – 2010)
Loại hình hợp đồng này có những ưu điểm sau:
Thứ nhất, loại hợp đồng tái bảo hiểm được sử dụng phổ biến do người nhượng tái có được sự bảo đảm chắc chắn từ phía người nhận tái bảo hiểm để có thể chủ động chấp nhận các yêu cầu bảo hiểm. Người nhận tái cũng có thể có được thị trường, lượng dịch vụ tương đối ổn định.
Thứ hai, việc tái tục qua nhiều năm cho phép hai bên nhượng tái và nhận tái giảm thiểu các chi phí đàm phán giao dịch, tạo dựng mối quan hệ trung thực, tin tưởng giữa hai bên.
Tuy nhiên, hợp đồng này cũng có những hạn chế như hai bên sẽ bị ràng buộc bởi các thỏa thuận cố định về nhiều vấn đề như: phạm vi bảo hiểm, giới hạn trách nhiệm…. dẫn đến có những trường hợp rủi ro được bảo hiểm vượt khỏi khuôn khổ của hợp đồng tái bảo hiểm và buộc các nhà bảo hiểm gốc phải tìm đến các hợp đồng tái bảo hiểm khác.
- Hợp đồng tái bảo hiểm tạm thời (Falcultative Reinsurance).
Hợp đồng tái bảo hiểm tạm thời hay còn gọi là hợp đồng tái bảo hiểm tự nguyện. Đặc trưng của loại hợp đồng này chính là tính “tự nguyện” giữa các bên trong việc chuyển nhượng và chấp nhận dịch vụ bảo hiểm. Người nhượng tái có thể dựa vào tình trạng của rủi ro để quyết định xem có tiến hành tái bảo hiểm, chuyển nhượng rủi ro cho người nhận tái đã chọn đồng thời trên cơ sở các thông tin mà bên nhượng tái cung cấp, bên nhận tái có thể xem xét ký kết hoặc từ chối nhận dịch vụ (TS Đoàn Minh Phụng, Giáo trình bảo hiểm Phi Nhân thọ – NXB Tài chính – 2010)
Loại hình hợp đồng này có một số ưu điểm như sau.
Thứ nhất, đây là loại hợp đồng được sử dụng phổ biến khi phát sinh những rủi ro nằm ngoài phạm vi bảo hiểm hoặc giới hạn trách nhiệm của hợp đồng tái bảo hiểm cố định.
Thứ hai, trong trường hợp này người nhận tái bảo hiểm sẽ là người xác định giá, tính phí bảo hiểm, các điều khoản cũng như hạn chế cần thiết đối với các rủi ro được bảo hiểm.
Loại hình này cũng có nhược điểm chính là thủ tục phức tạp, thời gian đàm phán lâu, bên nhượng tái nằm ở thế bị động nên có thể ảnh hưởng tới việc giao thiệp với người yêu cầu bảo hiểm.
- Hợp đồng tái bảo hiểm tự nguyện/bắt buộc (Falcultative/Obligatory Reinsurance).
Hợp đồng tái bảo hiểm tự nguyện/bắt buộc là loại hợp đồng với đặc trưng cơ bản là việc nhượng tái đối với các rủi ro của người nhượng tái bảo hiểm là tự nguyện trong khi việc chấp nhận rủi ro lại là bắt buộc đối với người nhận tái.
Hợp đồng loại này có ưu điểm là nó cho phép người nhượng tái có thể chào tái cho từng phần trách nhiệm vượt quá mức giữ lại của mình cho một hay một số bên nhận tái khác và nhược điểm là bất lợi cho bên nhượng tái do không được phép từ chối các dịch vụ dẫn đến việc khó kiểm soát rủi ro được chuyển giao.
- Những nội dung cơ bản trong hợp đồng tái bảo hiểm hàng hóa XNK
- Hoa hồng tái bảo hiểm (thủ tục phí tái bảo hiểm) là một khoản tiền mà người nhận tái bảo hiểm trả cho công ty nhượng tái theo thỏa thuận của hợp đồng tái bảo hiểm. Phần phí này nhằm mục đích chi phí cho điều hành dịch vụ của công ty nhượng, nó được tính toán trên cơ sở tỉ lệ bồi thường của tái bảo hiểm tỉ lệ.
- Phí tạm giữ là khoản dự phòng riêng giúp cho công ty nhượng có thuận lợi trong việc giải quyết bồi thường cho nghiệp vụ bảo hiểm gốc trước khi quyết toán đòi bồi thường của nhà tái bảo hiểm bởi việc thanh toán bồi thường tái bảo bảo hiểm thường được chốt theo thời điểm nhất định (theo tháng, theo quý hoặc theo năm).
Thông thường phí tạm giữ thường được tính bằng một tỉ lệ phần trăm cố định của tổng doanh thu phí (khoảng 35-40%). Trong trường hợp nhà tái bảo hiểm không tiếp tục tham gia hợp đồng năm sau thì phí tạm giữ sẽ được giải quyết như sau:
+ Hoặc là tiếp tục chịu trách nhiệm với những rủi ro còn hiệu lực cho đến khi chấm dứt toàn bộ những rủi ro được bảo hiểm trong năm nghiệp vụ bảo hiểm đó.
+ Hoặc chuyển giao toàn bộ phần trách nhiệm còn tồn tại sang cho các nhà tái bảo hiểm mới cho năm tới
- Bồi thường tạm giữ là khoản tiền mà công ty nhượng tái tính toán trên cơ sở những vụ tổn thất đã xảy ra nhưng chưa được giải quyết trong năm. Khoản tiền này công ty nhượng sẽ giữ lại mà không thanh toán cho người được bảo hiểm vào thời điểm quyết toán năm tài chính, mục đích là để thanh toán cho các vụ tổn thất trong các kì tiếp
- Bồi thường trả ngay: là khoản tiền bồi thường mà nhà tái bảo hiểm phải thanh toán ngay cho công ty nhượng. Khoản tiền này không dùng để đối trừ trong các kì thanh toán mà phải thanh toán Thông thường thời gian thanh toán là trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được thông báo của công ty nhượng.
Khoản tiền này hoàn toàn phụ thuộc vào thỏa thuận giữa công ty nhượng tái và nhận tái, không bị chi phối bởi các quy định của pháp luật.
1.2.4. Các phương pháp tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu ( Luận văn: Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu doanh nghiệp )
- Tái bảo hiểm tỉ lệ (Proportional Reinsurance).
Tái bảo hiểm tỉ lệ (Proportionla Reinsuarance) là loại tái bảo hiểm mà hợp đồng tái bảo hiểm có thỏa thuận để việc phân chia phí bảo hiểm (thu được từ hợp đồng bảo hiểm gốc) giữa bên nhượng tái và bên nhận tái bảo hiểm bị ràng buộc bởi cùng một tỉ lệ với phâ chia trách nhiệm bồi thường (đối với rủi ro, tổn thất của hợp đồng bảo hiểm gốc và thuộc phạm vi hợp đồng tái bảo hiểm) giữa các bên đó. (TS Đoàn Minh Phụng, Giáo trình bảo hiểm Phi Nhân thọ – NXB Tài chính – 2010)
Phương pháp tái bảo hiểm này có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, trách nhiệm của bên nhượng tái và bên nhận tái tương ứng với theo tỉ lệ tham gia của mỗi bên.
Thứ hai, Phí và số tiền bồi thường được chia sẽ giữa bên nhượng tái và nhận tái tương ứng với tỉ lệ tham gia mỗi bên về số tiền bảo hiểm.
Có hai loại hợp đồng tái bảo hiểm tỉ lệ cơ bản là Tái bảo hiểm số thành và Tái bảo hiểm mức dôi
- Tái bảo hiểm số thành (Quota share)
Tái bảo hiểm số thành (Quota share) là phương pháp tái bảo hiểm trong đó tỉ lệ tái bảo hiểm và tỉ lệ mức giữ lại của bên nhượng tái được ấn định bằng một số tương đối (tỉ lệ phần trăm) nhất định, do đó việc phân chia phí bảo hiểm và số tiền bồi thường của các rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm của hợp đồng tái cũng sẽ tuân theo tỉ lệ ấn định trên.
Phương pháp này có ưu điểm là một phương pháp tái bảo hiểm đơn giản, dễ xử lý, chi phí hành chính và quản lý cũng đơn giản, ít tốn kém nhưng cũng có nhược điểm là mức giữ lại của bên nhượng tái không giống nhau với các rủi ro khác nhau, những rủi ro nhỏ vẫn bị nhượng đi. Chúng ta có thể hiểu rõ hơn về phương pháp tái này thông qua ví dụ minh họa sau:
Ví dụ minh họa 1: Giả định một hợp đồng số thành cố định có tỉ lệ giữ lại là 30% và tỉ lệ nhượng tái là 70%; phát sinh các tổn thất của một số rủi ro thuộc phạm vi hợp đồng tái bảo hiểm như sau:
(Số tiền bồi thường ở đây được hiểu là tổn thất thực tế cuối cùng, tức là tổn thất thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm gốc (bao gồm cả các chi phí liên quan đến viếc khiếu kiện nếu có) sau khi đã trừ đi phần thu hồi bồi thường và phần tài sản cứu được.
Phân định trách nhiệm bồi thường và phí bảo hiểm:
- Tái bảo hiểm mức dôi (Surplus)
Tái bảo hiểm mức dôi (Surplus) là phương pháp tái bảo hiểm trong đó mức giữ lại (thường được gọi tiếng anh là 1 line) được ấn định theo số tuyệt đối và mức tái bảo hiểm là mức chênh lệch giữa số tiền bảo hiểm và mức giữ lại của bên nhượng tái và được giới hạn tối đa bằng số tiền bảo hiểm mà hai bên thoải thuận cho mỗi rủi ro (thường được quy theo bội số của mức giữ lại: số lines)
Tái bảo hiểm mức dôi thường có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, tỉ lệ phân chia phí bảo hiểm, số tiền bồi thường sẽ hình thành khi bên nhượng tái căn cứ vào số tiền bảo hiẻm của mỗi rủi ro, thỏa thuận về giới hạn trách nhiệm nói trên và sắp xếp đưa vào hợp đồng tái bảo hiểm.
Thứ hai, có thể có nhiều mức dôi (số lines) và được đánh theo số thứ tự, lines sau chỉ được chuyển nhượng khi số tiền bảo hiểm của rủi ro đã vượt quá mức giữ lại và giới hạn trách nhiệm của một hoặc nhiều lines trước đó.
Thứ ba, hợp đồng tái bảo hiểm mức dội thường là hợp đồng cố định. Phương pháp tái bảo hiểm này cũng có một số ưu và nhược điểm như sau:
Ưu điểm của phương pháp này là đảm bảo sự cân bằng trong kinh doanh do có thể nhận được những rủi ro lớn vượt khả năng tài chính nhưng vẫn đảm bảo được mức giữ lại của mình.
Nhược điểm:
Thứ nhất, chi phí quản lý tốn kém do phải tính toán phân bổ trách nhiệm khi có tổn thất xảy ra đồng thời việc xác định mức giữ lại phù hợp với khả năng tài chính của bên nhượng tái cũng đòi hỏi kinh nghiệm và năng lực chuyên môn cao.
Thứ hai, không khống chế được tỉ lệ bồi thường do nếu có tổn thất nhỏ thuộc mức giữ lại thì sẽ phải chịu toàn bộ trách nhiệm, không nhận được sự san sẻ từ phía bên nhận tái. Chúng ta có thể hiểu rõ hơn về phương pháp tái bảo hiểm này thông qua ví dụ minh họa như sau:
Ví dụ minh họa 2:
- Mức giữ lại: 000 USD
- Mức dôi thứ nhất: 6 lines (3.000.000)
- Mức dôi thứ hai: 4 lines (2.000.000)
- Trong năm nghiệp vụ phát sinh các rủi ro với số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm và số tiền bồi thường thuộc phạm vi của hợp đồng tái bảo hiểm như sau:
Phân chia trách nhiệm số tiền bảo hiểm, Phân chia phí bảo hiểm, Phân bổ số tiền bồi thường
- Tái bảo hiểm phi tỉ lệ (Non-proportional)
Tái bảo hiểm phi tỷ lệ (Non-proportional) là loại tái bảo hiểm mà hợp đồng tái bảo hiểm có thỏa thuận để việc phân chia phí bảo hiểm (thu được từ hợp đồng gốc) giữa bên nhượng tái với bên nhận tái và phân chia trách nhiệm bồi thường (đối với rủi ro, tổn thất của hợp đồng bảo hiểm gốc và thuộc phạm vi hợp đồng tái bảo hiểm) giữa các bên đó không nhất định phải cùng tuân theo một tỉ lệ nhất định. (TS Đoàn Minh Phụng, Giáo trình bảo hiểm Phi Nhân thọ – NXB Tài chính – 2010)
Phương pháp tái bảo hiểm này có đặc điểm là việc phân chia quyền lợi (phí bảo hiểm) và phân bổ trách nhiệm (số tiền bồi thường) không bị ràng buộc bởi cùng một tỉ lệ, và mặc dù đây là một hình thức tái bảo hiểm ra đời muộn hơn nhưng lại là hình thức tái bảo hiểm có kĩ thuật bảo hiểm khá phức tạp.
Có hai loại hợp đồng tái bảo hiểm phi tỉ lệ cơ bản là Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường và tái bảo hiểm vượt tỉ lệ bồi thường.
- Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường (XOL – Excess of Loss)
Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường (XOL – Excess of Loss) là kĩ thuật tái bảo hiểm xoay quanh vấn đề cốt lõi là phân định trách nhiệm bồi thường và phương pháp xác định phí tái bảo hiểm.
Cách phân định trách nhiệm bồi thường trong kĩ thuật tái bảo hiểm này như sau:
Đối với hợp đồng XOL thì việc xác định trách nhiệm bồi thường của các bên
căn cứ vào thỏa thuận về giới hạn trách nhiệm trong hợp đồng.
+ Bên nhượng: Tự ấn định một mức tự bồi thường (deductible hoặc excess) trong một sự cố bảo hiểm. ( Luận văn: Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu doanh nghiệp )
+ Bên nhận (một hoặc nhiều bên): Giới hạn trách nhiệm được xác định bởi một hoặc nhiều lớp trách nhiệm (layer). Mỗi lớp trách nhiệm xác định số tiền tối đa mà người nhận tái của mỗi lớp có thể phải chi trả trong một sự cố bảo hiểm. Trách nhiệm của bên nhận chỉ phát sinh khi số tiền bồi thường tính theo tổn thất thực tế cuối cùng vượt quá mức tự bồi thường và giới hạn trách nhiệm của các lớp trước đó.
Phương pháp xác định phí tái bảo hiểm
Phí tái bảo hiểm có thể được trả khoán bằng một khoản tiền nhất định hoặc thông thường hơn là theo tỉ lệ nhất định tính trên tổng số phí thu được của bên nhượng tái (thường viết tắt theo tên tiếng anh: GNPI – Gross Net Premium Income). Nhìn chung, phí tái bảo hiểm thường căn cứ vào GNPI.
GNPI được hiểu là tổng phí bảo hiểm (không bao gồm VAT) – Số hoàn phí – Phí tái bảo hiểm trong các hợp đồng tái bảo hiểm khác (nếu có).
Tỉ lệ phí tái bảo hiểm có thể là một tỉ lệ cố định hoặc không cố định. Nếu tỉ lệ phí không cố định thì tỉ lệ phí được điều chỉnh theo các yếu tố sau:
+ Tỉ lệ chi phí tổn thất thuần túy (Burning cost).
+ Hệ số chi phí quản lý.
+ Thang đối chiếu.
Chúng ta có thể hiểu rõ hơn về phương pháp tái này thông qua ví dụ minh họa:Ví dụ minh họa 3:
- Mức tự bồi thường: 000
- Trách nhiệm của người nhận tái:
+ Lớp 1: 300.000 vượt quá 300.000 (mức tự bồi thường)
+ Lớp 2: 500.000 không vượt quá 500.000
+ Lớp 3: Không giới hạn vượt quá 1.000.000
Trong năm nghiệp vụ đã phát sinh các sự cố với số tiền bồi thường như sau:
Trách nhiệm bồi thường của các bên:
- Tái bảo hiểm vượt tỉ lệ bồi thường:
Tái bảo hiểm vượt tỉ lệ bồi thường là dạng tái bảo hiểm phi tỷ lệ mà nhà tái bảo hiểm chỉ có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp khi kết quả toàn bộ nghiệp vụ của công ty nhượng có một tỷ lệ bồi thường vượt quá một tỷ lệ hoặc một mức tiền ấn định trước.
Trách nhiệm bồi thường của bên người nhượng tái và người nhận tái bảo hiểm trong phương thức này được xác định theo tỉ lệ bồi thường tính cho cả năm:
Các công ty nhận tái bảo hiểm không nhất định phải chịu trách nhiệm bồi thường đến vô hạn mà có thể nhận phần trách nhiệm tùy theo khả năng tài chính của mình trong khoảng phần trăm nhất định. Như vậy thì có thể có nhiều người nhận tái và trách nhiệm của mỗi người sẽ được xác định theo những khoảng tỉ lệ phần trăm nhất định.
Mỗi phương pháp tái bảo hiểm đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, do đó để hạn chế các nhược điểm cũng như tận dụng được ưu điểm của các phương pháp, trong thực tế người ta thường sử dụng chúng bằng những cách phối kết hợp khác nhau.
1.2.5. Quy trình tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu. ( Luận văn: Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu doanh nghiệp )
Hoạt động chủ yếu trên thị trường tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu hiện nay phần lớn đều thực hiện thông qua môi giới, do đó quy trình các bước thu xếp tái bảo ihiểm đều do môi giới đảm nhận.
- Quy trình nhượng tái bảo hiểm
Bước 1: Công ty nhượng tái bảo hiểm gửi đơn chào tái cho môi giới hoặc gửi nội dung để bên môi giới soạn thảo đơn chào. Đơn chào tái bảo hiểm phải bao gồm nhưng nội dung cơ bản nhất của một hợp đồng nhượng tái bảo hiểm. Điều quan trọng là môi giới có chấp nhận mức phí tái bảo hiểm và hoa hồng tái bảo hiểm đã đưa ra hay không. Vì nếu hoa hồng cao cộng thêm phí môi giới sẽ không hấp dẫn các công ty nhận tái bảo hiểm. Ở đây môi giới sẽ thay mặt cho công ty nhận tái bảo hiểm quyết định có đồng ý với đơn chào hay sẽ phải thỏa thuận lại.
Bước 2: Môi giới tái bảo hiểm sẽ chào tái bảo hiểm tới nhiều doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm khác nhau trên thị trường. Môi giới tái bảo hiểm phải là người có quan hệ rộng rãi thì mới biết được ai là người có khả năng đứng đầu nhận tái bảo hiểm vì một người đứng đầu nhận tái bảo hiểm có kinh nghiệm và uy tín sẽ dễ dàng cho việc thu xếp các hoạt động khác trong đơn chào. Sau đó môi giới sẽ tiếp tục chào tái bảo hiểm tới nhiều công ty khác, công ty nào đồng ý với các điều kiện điều khoản của bản chào thì sẽ nhận một phần trách nhiệm thông báo danh sách các công ty nhận tái bảo hiểm cùng với mức trách nhiệm của họ cho người đứng đầu nhận tái bảo hiểm và cho công ty nhượng tái bảo hiểm biết. Nếu đồng ý thì công ty nhượng tái bảo hiểm sẽ xác nhận lại.
Bước 3: Môi giới tái bảo hiểm sẽ lập ra bản ghi chú trong đó ghi lại tất cả những điều kiện điều khoản trong đơn chào đã được các bên đồng ý và gửi lại bản ghi chú này cho tất cả các bên có liên quan.
Bước 4: Môi giới sẽ soạn một bản hợp đồng tái bảo hiểm (Reinsurance Contract) bao gồm tất cả các điều kiện điều khoản như trong bản ghi chú hoặc đã được sửa đổi và gửi cho công ty nhượng cùng các công ty nhận tái bảo hiểm. Các công ty này sau khi đọc và xác nhận lại các nội dung trước đó sẽ kí vào trang cuối hợp đồng và gửi lại cho bên môi giới. Hợp đồng tái bảo hiểm chính thức có hiệu lực kể từ ngày kí hợp đồng.
- Quy trình nhận tái bảo hiểm
Bước 1: Công ty nhận tái bảo hiểm thu thập thông tin đơn chào từ phía các công ty môi giới tái bảo hiểm.
Bước 2: Sau khi thu thập được những đơn chào phù hợp với khả năng của công ty mình thì phía công ty nhận tái sẽ có trách nhiệm thông báo lại cho môi giới tái bảo hiểm phần trách nhiệm mình muốn nhận cũng như các điều kiện điều khoản khác kèm theo nếu có.
Bước 3: Môi giới tái bảo hiểm sẽ lập ra bản ghi chú trong đó ghi lại tất cả những điều kiện điều khoản trong đơn chào đã được các bên đồng ý và gửi lại bản ghi chú này cho tất cả các bên có liên quan.
Bước 4: Môi giới sẽ soạn một bản hợp đồng tái bảo hiểm (Reinsurance Contract) bao gồm tất cả các điều kiện điều khoản như trong bản ghi chú hoặc đã được sửa đổi và gửi cho công ty nhượng cùng các công ty nhận tái bảo hiểm. Các công ty này sau khi đọc và xác nhận lại các nội dung trước đó sẽ kí vào trang cuối hợp đồng và gửi lại cho bên môi giới. Hợp đồng tái bảo hiểm chính thức có hiệu lực kể từ ngày kí hợp đồng
Các bạn có thể tham khảo thêm:

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
