Luận văn Giải pháp thúc đẩy tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu

Trong thời kì giao thương đang ngày càng được mở rộng, với bài Luận văn: Giải pháp thúc đẩy tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu đã đưa đến một chủ đề mới và hot bởi vì hoạt động xuất nhập khẩu càng ngày càng phát triển, tiềm năng phát triển của thị trường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu nói chung cũng như tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu nói riêng cũng đứng trước những cơ hội phát triển vô cùng lớn. Nắm bắt lấy cơ hội này, Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC đã nỗ lực đẩy mạnh phát triển doanh thu từ hoạt động bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu cũng như hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu và đạt được một số thành quả không nhỏ. Dưới đây là Đề tài Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC”, mời các bạn tham khảo

3.1.  Xu hướng phát triển của thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa

Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 tiếp tục có những diễn biến phức tạp, lan rộng ra nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước, đặc biệt là tại Thành phố Hồ Chí Minh – đầu tàu kinh tế của cả nước và nhiều tỉnh thành khác tại khu vực phía Nam, hoạt động xuất nhập khẩu trong tháng 7 đang có phần chững lại. Tuy nhiên, tính chung 7 tháng đầu năm 2021, xuất nhập khẩu vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, hoạt động xuất khẩu của hầu hết mặt hàng, nhóm hàng 7 tháng đầu năm đầu đạt mức tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên đà tăng trưởng này đang có phần chậm lại do dịch Covid-19 đang ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong thời gian tới, tăng trưởng xuất nhập khẩu sẽ phụ thuộc rất lớn vào tình hình kiểm soát dịch bệnh cũng như việc đẩy nhanh quá trình tiêm chủng vắc xin trong nước.

Cán cân thương mại hàng hóa tháng 7 ước tính nhập siêu 1,7 tỷ USD. Tính chung 7 tháng năm 2021, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 2,7 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 8,69 tỷ USD), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 17,8 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 15,1 tỷ USD.

Dự báo nhu cầu hàng hóa xuất khẩu vẫn đang khá cao, việc các nước đang triển khai mạnh mẽ tiêm vắc xin và mở cửa trở lại đã làm tăng nhu cầu đối với các sản phẩm dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử của Việt Nam. Cùng với đó, một số nền kinh tế tiếp tục triển khai các gói kích cầu, thông qua hỗ trợ trực tiếp cho người dân, qua đó thúc đẩy tiêu dùng các mặt hàng, trong đó có mặt hàng nhập khẩu từ Việt Nam. Trong thông báo được đưa ra ngày 21 tháng 7 năm 2021, Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) ước tính tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2021 sẽ ở mức 6%, tương đương với mức dự báo được đưa ra trong tháng 4/2021. Còn theo báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu của Ngân hàng Thế giới (WB) được công bố ngày 8 tháng 6 năm 2021, kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng 5,6% thay vì 4,1% được dự báo hồi đầu tháng 1/2021. WB cho rằng chương trình tiêm phòng Covid-19 và các biện pháp kích thích kinh tế ở các nước lớn sẽ thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu.

Một loạt các hiệp định thương mại tự do đã được kí kết và bắt đầu được thực thi cũng được kì vọng sẽ mang lại những hiệu quả vượt trội cũng như thúc đẩy các ngành xuất khẩu của Việt Nam đánh sâu vào thị trường quốc tế như:

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương – viết tắt là CTCPP chính thức có hiệu lực tại Việt Nam kể từ ngày 14/01/2019. Điểm nổi bật nhất của Hiệp định này chính là cam kết về các lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu đối với các hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam. Đây là một lợi thế rất lớn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy gia tăng giá trị xuất khẩu Hiệp định Thương mại tư do giữa Việt Nam – EU – viết tắt là EVFTA chính thức có hiệu lực từ ngày 01/08/2020 đã mở ra cơ hội và triển vọng vô cùng to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế Việt Nam nói chung cũng như hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng. Thị trường EU được coi là một trong những thị trường khó tính và có chuẩn mực cao nhất thế giới, việc Việt Nam đàm phán kí kết thành công Hiệp định này đã cho thấy những nỗ lực cải cách, xây dựng một thể chế kinh tế thị trường phát triển bền vững của chúng ta đã được ghi nhận cũng như thấy được quyết tâm tăng cường hợp tác của EU với Việt Nam. Ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Sau 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%. Việc giảm thuế trong một lộ trình ngắn như thế này sẽ giúp các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam tiết kiệm được một khoản chi phí vô cùng lớn, điều này sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. ( Luận văn Giải pháp thúc đẩy tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )

Theo chu kỳ nhập khẩu hàng hóa nguyên liệu sản xuất thường tăng vào đầu năm và giảm giai đoạn nửa cuối năm trong khi xuất khẩu đạt đỉnh điểm vào nửa cuối năm. Nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng cao trong nửa cuối năm 2021, đặc biệt là đối với ngành điện tử, máy móc thiết bị, đồ gỗ, hàng dệt may và thủy sản… Vì vậy cán cân thương mại được dự báo sẽ cải thiện trong thời gian tới.

Tuy nhiên, hoạt động xuất nhập khẩu có thể bị ảnh hưởng tiêu cực do trên thế giới khu vực Đông Nam Á tiếp tục là tâm điểm với số ca nhiễm Covid-19 mới gia tăng nhanh chóng tại các quốc gia như Indonesia hay Thái Lan… Trong nước, dịch Covid-19 bùng phát ở nhiều địa phương là khu vực sản xuất hàng hóa lớn, có quy mô kim ngạch xuất nhập khẩu đứng đầu của cả nước. Một số tỉnh, thành phố thực hiện giãn cách xã hội theo nguyên tắc Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ khiến cho gián đoạn quá trình lưu thông, vận chuyển hàng hóa; việc thiếu container rỗng và giá cước vận chuyển tăng cao cũng là trở ngại cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa trong những tháng cuối năm nay.

Đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ đạo như điện tử, dệt may và da giày, cùng với đà hồi phục nhu cầu tiêu dùng của các thị trường lớn như Mỹ và châu Âu, cùng với xu thế dịch chuyển chuỗi sản xuất toàn cầu sau dịch bệnh, các doanh nghiệp có thể có thêm các đơn hàng xuất khẩu mới. Tuy nhiên, trước tình hình dịch bệnh phức tạp, các doanh nghiệp đã và đang phải cố gắng duy trì sản xuất cùng với nguy cơ rủi ro rất lớn là khách hàng quốc tế sẽ dừng, huỷ đơn hàng để chuyển sang nước khác, đến khi dịch được kiểm soát, việc nối lại các mối quan hệ kinh doanh sẽ rất khó khăn và cần phải có quá trình.

Có thể bạn quan tâm:

DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ – BẢNG GIÁ

3.2. Triển vọng hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu trong thời gian tới ( Luận văn Giải pháp thúc đẩy tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )

Một số xu hướng phát triển của thị trường tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu trong thời gian tới bao gồm:

Thứ nhất, nhu cầu tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu sẽ giảm nhẹ trong năm 2022 và tăng ở các năm tiếp sau.

Nói chung, năm 2022 sẽ là một năm khó khăn cho toàn ngành kinh tế, và các công ty tái bảo hiểm cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng đó. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính trên toàn cầu, tình trạng xấu của thị trường tài chính đã làm giảm nguồn vốn thặng dư và tăng phí của các công ty tái bảo hiểm. Mức độ tiếp cận thị trường vốn hạn chế, gây tác động tiêu cực đến việc định phí, đặc biệt khi có những tổn thất lớn xảy ra. Lưu lượng hàng xuất nhập khẩu cũng giảm nhẹ vào năm 2022, dẫn đến nhu cầu bảo hiểm và tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu giảm.

Trong thời gian tiếp theo, nhu cầu bảo hiểm và tái bảo hiểm nói chung trên thế giới và tại Việt Nam sẽ có xu hướng tăng trong trung và dài hạn. Đặc biệt là khi nhận thức về bảo hiểm và tái bảo hiểm như một hình thức bảo vệ cho quyền lợi của chính doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu được nâng cao. Quy định về tái bảo hiểm bắt buộc không còn nữa, tuy nhiên tỷ lệ tái bảo hiểm trong nước cũng không giảm đáng kể, bởi các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm trong nước đã nâng cao khả năng, chất lượng phục vụ, tạo lòng tin với khách hàng trong và ngoài nước.

Bên cạnh đó, với xu thế phát triển kinh tế, lượng hàng hoá xuất nhập khẩu cũng tăng lên, đây là một tiền đề tốt cho sự phát triển của ngành kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu.

Thứ hai, mức phí tái tục sẽ tăng trong khoảng 5%-10% tuỳ từng dịch vụ. Theo tổ chức xếp hạng tín nhiệm Standard & Poor‟s nguyên nhân của tình trạng trên là do:

  • Lợi nhuận đầu tư của các công ty tái bảo hiểm có thể thu về trong trung hạn đều giảm, và dự báo sẽ tiếp tục giảm. Điều này là do lãi suất dự báo tiếp tục đà giảm hiện tại khi các chính phủ cố gắng điều hòa những ảnh hưởng do sụt giảm kinh tế toàn cầu, thêm vào đó nhiều công ty tái bảo hiểm sẽ không muốn mạo hiểm với những khoản đầu tư rủi ro cao do đã bị thâm hụt về vốn. Do đó dự kiến lợi nhuận đầu tư của các công ty chỉ đạt mức “an toàn” trong thời gian trung hạn (nghĩa là chỉ bằng lãi suất đầu tư vào trái phiếu chính phủ).
  • Dự báo mức độ bồi thường tăng khi các hoạt động kinh tế chậm lại. Những ảnh hưởng này dự báo tác động đến các nghiệp vụ có thời gian dài như bảo hiểm trách nhiệm lãnh đạo doanh nghiệp, và bảo hiểm/tái bảo hiểm trách nhiệm pháp lý đối với lỗi và sai sót. Những biến động tài chính gia tăng kể càng làm tăng khả năng gia tăng bồi thường. Tuy nhiên, một yếu tố giảm nhẹ là tỷ lệ lạm phát đã không còn cao như dự kiến và không ảnh hưởng nhiều đến số tiền bồithường.
  • Chi phí vốn của các công ty tái bảo hiểm sẽ tăng. Dự báo điều này cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình địnhphí.
  • Tâm lý tránh rủi ro và muốn đảm bảo an toàn tăng lên. Điều này có tác dụng hai mặt. Một mặt, khả năng tái bảo hiểm sẽ bị giảm do các công ty tái bảo hiểm muốn giảm mức trách nhiệm do thiếu vốn. Mặt khác, các công ty gốc cũng không còn mặn mà với việc tăng mức giữ lại. Cung giảm, cầu tăng, do đó phí cũng nhiều khả năng sẽ tăng. ( Luận văn Giải pháp thúc đẩy tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )

Thứ ba, xu hướng sát nhập và mua lại trở nên phổ biến hơn đối với các công ty bảohiểm.

Bước sang năm 2022 và các năm tiếp theo, dự báo sẽ xuất hiện xu hướng các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm tăng cường thực hiện các vụ sát nhập thành những công ty lớn. Cuộc khủng hoảng tài chính tạo ra những khó khăn nhưng cũng là cơ hội thúc đẩy các công ty sáp nhập trong trung hạn. Các công ty lớn hơn sẽ đóng vai trò là người hợp nhất, thôn tính các công ty nhỏ hơn. Các vụ sáp nhập chủ yếu thực hiện bởi các công ty chuyên ngành bởi các doanh nghiệp bảo hiểm quy mô nhỏ và trung bình hạn chế về khả năng tài chính và năng lực khai thác nghiệp vụ, sẽ phụ thuộc vào các công ty chuyên ngành. Dự báo rằng, hoạt động mua lại và sáp nhập sẽtrở nên phổ đối với các công ty có giá trị ít hơn 500 triệu USD. Đây là xu hướng chung tại các thị trường như Indonesia, Thái Lan, Philipines, Malaysia và Việt nam. Các doanh nghiệp bảo hiểm không chỉ sáp nhập về quy mô và còn đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ, gia tăng nghiệp vụ và năng lực quản lý.

Thứ tư, các doanh nghiệp bảo hiểm quy mô nhỏ và trung bình chịu nhiều áp lực, khó có thể cạnh tranh trên thị trường

Bên cạnh việc sáp nhập và mua lại, các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm có quy mô nhỏ và trung bình vẫn tồn tại và chịu nhiều áp lực do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, nhưng mức độ không đồng đều đối với các nghiệp vụ bảo hiểm và đối với từng công ty. Thêm vào đó, khi thị trường Việt Nam mở cửa hoàn toàn trên lĩnh vực bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được phép thành lập và tham gia sâu, rộng vào thị trường Việt Nam, điều này càng tạo ra nhiều cạnh tranh gay gắt cho các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm nói chung và các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm có quy mô nhỏ và trung bình nói riêng. Một lựa chọn đầy triển vọng đối với nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đang gặp khó khăn như ít vốn là cùng hợp tác với các đối tác nước ngoài để có thể tận dụng nguồn vốn và trình độ của họ.Thứ năm, các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm sẽ khó khăn trong huy động vốn.

Xét một cách toàn diện, ngành bảo hiểm thế giới vẫn có nền tảng vững chắc và tình hình vốn hoá tốt, vì vậy sẽ vượt qua được cơn bão tài chính đang diễn ra. Tuy nhiên, các doanh nghiệp bảo hiểm ở Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng gặp rất nhiều khó khăn về vốn. Các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm sẽ khó có thể vay và huy động vốn, đặc biệt khi tình trạng các ngân hàng và các định chế tài chính khác cũng đang gặp khó khăn. Điều này làm cho các giao dịch có thể chỉ giới hạn trong số các công ty có tiềm lực về mặt tài chính hoặc có thể dễ dàng huy động vốn.

Thứ năm, các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm sẽ tìm kiếm các sản phẩm, dịch vụ và kênh phân phối thay thế nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Dự đoán sẽ xuất hiện nhiều sản phẩm bảo hiểm, tái bảo hiểm mang tính liên kết và các kênh phân phối ứng dụng sự phát triển của công nghệ thông tin. Tuy nhiên ,điều này cũng tạo áp lực đối với các doanh nghiệp bảo hiểm khi phải dành những khoản chi phí cao cho việc xây dựng các sản phẩm và kênh phân phối mới. Việc bán bảo hiểm qua Internet là một cách thức đổi mới, nhưng hiện nay vẫn có ít triển vọng tại các nước đang phát triển. Tỷ lệ các sản phẩm bảo hiểm được bán qua Internet ở hầu hết các nước Châu Á vẫn còn rất thấp, tuy nhiên đây cũng là một kênh phân phối mà các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm nên quan tâm.

3.3. Giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa XNKtại Tổng công ty Cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC

3.3.1. Hoàn thiện sản phẩm bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu ( Luận văn Giải pháp thúc đẩy tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )

MIC nên tập trung nhiều hơn nữa vào việc nghiên cứu đề xuất ra nhiều sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường, điều này ở các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài làm rất tốt- họ đưa ra những chính sách khen thưởng, khuyến khích ngưới lao động đầu tư suy nghĩ, vận dụng những sản phẩm bảo hiểm nướcngoài vào Việt Nam và được tưởng thưởng xứng đáng (tỷ lệ với mức độ thành công của các sản phẩm mới mang lại).

Các sản phẩm bảo hiểm mới của MIC khi đưa ra thị trường cần phải dựa trên cơ sở nhu cầu có thực, hoặc nhu cầu tiềm ẩn của từng địa phương mà áp dụng từng sản phẩm bảo hiểm cho phù hợp, tránh tình trạng chạy theo thành tích, chỉ tiêu, triển khai tràn lan gây lãng phí ngân sách và thời gian vô ích.

Phải tổ chức mạng lưới triển khai sản phẩm mới, qui định thời gian, giám sát, tổng hợp, phân tích những động thái phát sinh trong quá trình thực hiện, đề xuất phương án khắc phục kịp thời tránh tình trạng đầu voi đuôi chuột phổ biến như nhiều dự án hiện nay.

Sản phẩm bảo hiểm là một loại hình dịch vụ đặc biệt đó là một cơ chế chuyển giao rủi ro với đặc tính là có hiệu quả xê dịch và có chu trình kinh doanh ngược. Vì thế người mua khó nhận biết về lợi ích kinh doanh của nó mà họ thường quan tâm đến mức phí(giá cả của sản phẩm bảo hiểm). Phí bảo hiểm không thể quá cao làm cho khách hàng tham gia bảo hiểm ở công ty khác, nhưng cũng không thể quá thấp vì còn phải đủ để trả bồi thường các khiếu nại dự tính trong suốt thời gian bảo hiểm và trang trải các chi phí khác như: hoa hồng, chi phí quản lý, trích lập dự phòng nghiệp vụ, Các công ty cần phải có những chính sách giảm phí cho những khách hàng truyền thống, có kim ngạch bảo hiểm lớn. Phí bảo hiểm cần phải được xây dựng trên cơ sở thông kê rủi ro, tổn thất qua các năm từ đó xác định được phí thuần, sau khi cộng thêm một số chi phí khác như: chi phí ký kết hợp đồng, chi phí quản lý… Ta sẽ được phí thương mại. Để có mức phí hợp lý công ty phải căn cứ vào một số yếu tố: thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh…rồi sau đó mới đưa ra được biểu phí cho khách hàng. Ngoài ra công ty cần phải thường xuyên theo dõi ảnh hưởng của mức phí đến tâm lý khách hàng cũng như sự tương quan với mức phí vủa các công ty khác để có sự điều chỉnh kịp thời. Vì vậy nên có một mức phí hợp lý.

Thực tế thì tỉ lệ phí đang cấp thấp hơn rât nhiều: phí chỉ từ 0,06% (với hàng nguyên đóng container) và khoảng từ 0,1% với hàng rời (tuy nhiên hàng một số mặt hàng đặc thù phí sẽ cao hơn và có nhiều điều khoản ràng buộc kèm theo hơn)

Ví dụ:

+ Hàng hóa chở rời sẽ có thêm điều khoản về giám sát độc lập.

+ Hàng đóng cont lạnh hoặc thực phẩm đông lạnh sẽ có điều khoản riêng.

Như vậy việc xác định được mức phí hợp lý sẽ thu hút được nhiều khách hàng truyền thống và những khách hàng mới. Từ đó thu được doanh thu lớn cho doanh nghiệp. Mức phí hợp lý cũng là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, tận dụng sự phát triển của xuất nhập khẩu để phát triển dịch vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, giúp tỉ lệ hàng hóa xuất nhập khẩu tham gia bảo hiểm trong nước ngày càng tăng, từ đó phát triển nền kinh tế Việt Nam vững mạnh.

3.3.2. Nâng cao nghiệp vụ chuyên môn ( Luận văn Giải pháp thúc đẩy tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )

Phần lớn cán bộ công ty nói chung, và cán bộ phòng TBH có tuổi đời còn rất trẻ. Tại trụ sở chính của công ty, các trưởng phòng nghiệp vụ còn rất trẻ, chỉ ngoài 30 tuổi. Đều có trình độ đại học, dĩ nhiên, họ là những con người hết sức năng động, thích ứng nhanh với công việc, có lòng say mê nghề nghiệp và có trách nhiệm. Tuy nhiên do độ tuổi còn quá trẻ, họ chắc chắn không thể có đủ kinh nghiệm để xử lý một số vấn đề nhất định.

Để nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các cán bộ, công ty cần tổ chức các buổi hội thảo với các đối tác nước ngoài để học tập thêm kinh nghiệm của họ, nhất là giúp các cán bộ hiểu rõ hơn về các luật lệ trong kinh doanh bảo hiểm, TBH quốc tế. Đồng thời, cử cán bộ tham gia các khoá đào tạo ở cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, việc cử cán bộ tham gia các khoá đạo tào phải đúng đối tượng, phù hợp với nhu cầu thực tế của công ty để tránh lãng phí. Việc kiểm soát chất lượng đào tạo, cũng như tinh thần học tập của họ cũng phải rất cần chú ý.

Ngoài ra, để tránh trường hợp đào tạo tràn lan, công ty khi tuyển dụng cũng cần đề ra những tiêu chí nhất định đối với người ứng tuyển; trong đó, khả năng ngoại ngữ và am hiểu thị trường là đặc biệt quan trọng, do đặc trưng của nghiệp vụ TBH là có nhiều quan hệ với các đối tác nước ngoài.

Mời bạn tham khảo thêm:

→  Danh mục tài liệu Luận văn Thạc Sĩ

3.3.3. Nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin

Rõ ràng, vai trò của công nghệ thông tin đang ngày càng trở nên quan trọng trong bất cứ lĩnh vực nào. Đặc biệt là trong thời đại 4.0 ngày nay thì việc ứng dụng nó vào quản lý doanh nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nói chung hoạt động TBH nói riêng.

Thứ nhất, ứng dụng công nghệ thông tin sẽ góp phần giảm bớt chi phí. Hai chi phí chủ yếu của doanh nghiệp bảo hiểm là chi phí bồi thường và chi phí quản lý doanh nghiệp. Nếu như chi phí bồi thường phụ thuộc và các yếu tổ rủi ro cũng như công tác quản trị rủi ro thì chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể kiểm soát được. Mà một trong những cách hiệu quả nhất chính là ứng dụng công nghệ thông tin. Nâng cấp ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin vào quản lý doanh nghiệp sẽ giảm bớt được chi phí cho việc thuê nhân sự quản lý các công việc hành chính, từ đó có thể tập trung vào việc thuê những nhân viên có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao hơn hoặc tập trung hơn vào công tác đào tạo, quản trị rủi ro.

Thứ hai, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin còn tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khách hàng. Việc mạng Internet đang ngày càng trở nên phổ biến, các doanh nghiệp bảo hiểm có thể tiến hàng cấp đơn bảo hiểm trực tuyến hoặc cung cấp thiết kế các ứng dụng để khách hàng có thẻe tự thiết kế các yêu cầu bảo hiểm theo ý mình. Đối với khách hàng, đặc biệt hơn trong thời kì dịch bệnh như ngày thì việc cấp đơn trực tuyến hoàn toàn giải quyết được các vấn đề về không gian khi khách hàng có thể chỉ cần ở trong nhà vẫn có thể tìm và tham gia được sản phẩm bảo hiểm mà mình cảm thấy phù hợp nhất, đồng thời cũng có thể nhanh chóng tiếp nhận được các thông tin phản hồi lại từ phía khách hàng để lấy cơ sở nâng cao chất lượng dịch vụ

Thứ ba, hệ thống công nghệ thông tin cũng là công cụ thống kê hữu hiệu. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng như tái bảo hiểm càng ngày càng được mở rộng đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ có một lượng khách hàng vô cùng lớn với các đối tượng bảo hiểm khác nhau, số tiền bảo hiểm khách nhau, phí cũng như thời hạn bảo hiểm khác nhau. Với một lượng lớn thông tin như thế nếu không có sự can thiệp của hệ thống công nghệ thông tin thì việc theo dõi các đơn bảo hiểm sẽ trở nên vô cùng khó khăn và không tránh khỏi thiếu sót. Các cơ sở dữ liệu thống kê còn là nền tảng quý giá để các doanh nghiệp bảo hiểm tính toán mức độ rủi ro, định phí và dự đoán nhu cầu của khách hàng. Điều này giúp cho việc hình thành các quỹ dự phòng nghiệp vụ theo từng trường hợp tại MIC có thể thực hiện dễ dàng hơn thông qua các số liệu thống kê.

3.3.4. Mở rộng mối quan hệ hợp tác ( Luận văn Giải pháp thúc đẩy tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )

Bên cạnh việc phát huy nội lực, các doanh nghiệp bảo hiểm cần hợp tác với nhau trên nhiều mặt. Các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm cùng tham gia vào Hiệp hội bảo hiểm. Thông qua tổ chức này, các thành viên có thể đưa ra những định hướng cho thị trường, cung cấp thông tin ngành, duy trì sự cạnh tranh lành mạnh, chống trục lợi bảo hiểm… tạo điều kiện phát triển thuận lợi cho toàn ngành.

Không chỉ tăng cường hợp tác trong nước, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cũng phải đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Cần nhanh chóng tạo lập, củng cố mối quan hệ với các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm có kinh nghiệm, uy tín trong khu vực và quốc tế nhằm hợp tác trong các lĩnh vực đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho nguồn nhân lực, trợ giúp về kỹ thuật, công nghệ, trao đổi thông tin… Việc thúc đẩy hợp tác quốc tế cũng sẽ mở ra những cơ hội kinh doanh mới cho cả hai phía, tạo thuận lợi cho ngành bảo hiểm Việt Nam vươn ra với thế giới.

Nói chung, để phát triển thị trường tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu nói riêng và thị trường tái bảo hiểm nói chung, các doanh nghiệp cần bảo hiểm và táibảo hiểm Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa. Tuy trong những năm qua, ngành bảo hiểm Việt Nam đã đạt được nhiều thành công như nâng cao chất lượng phục vụ, chủ động tiếp cận khách hàng, đa dạng hoá sản phẩm, nhưng trong thời gian tới, ngành bảo hiểm Việt Nam nói chung và tái bảo hiểm nói riêng cần không ngừng cải tiến, nâng cao năng lực hoạt động nhằm tồn tại và phát triển trước sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm. Riêng đối với công ty tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam – Vinare càng cần có những biện pháp nhằm giữ vững vị thế của mình trong thị trường tái bảo hiểm Việt Nam.

Những năm trước đây, bên cạnh việc tham gia vào hợp đồng chuyển nhượng lại TBH cố định từ VinaRe, MIC còn tham gia vào các hợp đồng TBH cố định từ các công ty trong nước như: PVI, PJICO, Bảo Minh, VNI. Tuy nhiên trong năm 2022 ngoài VinaRe, không thể tham gia nhận hợp đồng TBH cố định từ các công ty trong nước như PVI, PJICO, VNI. Điều này sẽ làm giảm đáng kể nguồn doanh thu nhận TBH của phòng trong năm 2022. Do vậy, tăng cường củng cố mối quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp bảo hiểm, TBH nước ngoài là nhân tố quan trọng nhằm thu hút thêm các hợp đồng nhận TBH cố định cũng như các dịch vụ tạm thời.

3.4. Kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa XNK tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC.

3.4.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước ( Luận văn Giải pháp thúc đẩy tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )

Nhà nước cần xây dựng một khuôn khổ pháp lý phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường và các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về kinh doanh bảo hiểm nói chung và tái bảo hiểm nói riêng. Thực hiện cam kết gia nhập WTO, Việt Nam đã có những sửa đổi về các quy định cho phù hợp với quy định của tổ chức thương mại thế giới, theo đó đến 1/1/2023, mở cửa hoàn toàn thị trường bảo hiểm Việt Nam cho các nhà bảo hiểm nước ngoài. Bên cạnh việc thực hiện tốt công tác quản lý, nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về hoạt động kinh doanh bảo hiểm để thị trường phát triển lành mạnh, an toàn, phù hợp với yêu cầu hội nhập. Nhà nước cần tạo môi trường pháp lý thuận lợi, môi trường kinh doanh an toàn, ổn định, bình đẳng nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời cũng cần có những cơ chế, chính sách ưu đãi để ngành tái bảo hiểm trong nước có cơ hội phát triển ổn định và đúng hướng. Nhà nước cũng cần quản lý chặt chẽ các vấn đề có tác động xấu tới thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm như mức phí bảo hiểm không bình thường, cạnh tranh không lành mạnh, mua bán bảo hiểm không đúng chuẩnmực.

Ngoài ra, giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp phải thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ để cùng nhau nắm bắt thông tin. Đồng thời, tăng cường công tác giám sát, cưỡng chế của cơ quan quản lý đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm của các doanh nghiệp. Cần phối hợp với Hiệp hội Bảo hiểm thực thi những quy tắc đạo đức nghề nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực.

Xây dựng đội ngũ quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm có trình độ cao

Nhà nước cần tăng cường đội ngũ quản lý Nhà nước về lĩnh vực bảo hiểm có trình độ thông qua đào tạo và tái đào tạo chuyên môn nghiệp vụ. Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, từng bước mở cửa thị trường theo các hiệp định và cam kết quốc tế, ngành bảo hiểm đang đứng trước thách thức và vận hội mới, đòi hỏi về đội ngũ làm công tác quản lý Nhà nước có trình độ càng trở nên cấp thiết. Đối với cán bộ đang công tác trong ngành, cần có kế hoạch bổ sung bồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độ, cập nhật thông tin. Đối với sinh viên các trường đại học, cần đưa nội dung tái bảo hiểm chuyện nghiệp vào chương trình học của các chuyên ngành liên quan nhằm đào tạo đội ngũ kế cận trong tương lai.

  • Phát triển thị trường xuất nhập khẩu

Xuất nhập khẩu là đầu vào cho thị trường tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu. Do đó, để phát triển lĩnh vực tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu cần chútrọng phát triển xuất nhập khẩu. Ngoài ra, điều kiện giao hàng có tác động trực tiếp đến việc phân định trách nhiệm giữa các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng thương mại. Nhà nước cần có cơ chế, chính sách cụ thể khuyến khích các công ty xuất nhập khẩu ký kết hợp đồng theo điều kiện xuất khẩu CIF, nhập khẩu FOB hoặc C&F như: giảm thuế Xuất nhập khẩu cho chủ hàng nào tham gia bảo hiểm tại Việt Nam, hoặc giảm thuế doanh thu hay thuế giá trị gia tăng, giảm thủ tục hải quan, hoặc chủ hàng được giao hạn ngạch xuất nhập khẩu cao hơn so với những chủ hàng không tham gia bảo hiểm tại Việt Nam… Như vậy, các công ty xuất nhập khẩu sẽ chủ động hơn trong đàm phán ký kết, thực hiện phương thức xuất khẩu theo điều kiện CIF, nhập khẩu theo điều kiện FOB hoặc C&F tạo cơ sở nâng cao tỷ trọng hàng hóa XNK tham gia bảo hiểm trong nước, đồng thời thúc đẩy ngành bảo hiểm và tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu Việt Nam pháttriển.

  • Xây dựng kế hoạch phát triển thị trường tái bảo hiểm tại Việt Nam:

Nhà nước thông qua điều chỉnh hoạt động của Vinare, kiểm soát và quản lý một cách hiệu quả thị trường tái bảo hiểm trong nước và giúp giảm bớt tình trạng tái ra nước ngoài đối với hoạt động bảo hiểm nội địa. Vì vậy, nhà nước cần có biện pháp hỗ trợ nhằm củng cố hoạt động và nâng cao khả năng kinh doanh cho công ty tái bảo hiểm quốc gia Vinare cho phù hợp với định hướng nhà nước. ( Luận văn Giải pháp thúc đẩy tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )

Xây dựng một thị trường tái bảo hiểm Việt Nam lớn mạnh.

Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho sự thành lập, tham gia thị trường của các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm, công ty môi giới tái bảo hiểm trong và ngoài nước tại thị trường tái bảo hiểm tại Việt Nam. Đồng thời, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu để tránh thất thoát ngoại tệ ra nướcngoài.

Hoạt động của thị trường tái bảo hiểm chịu ảnh hưởng lớn bởi hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm gốc và công ty tái bảo hiểm. Nếu hai loại công ty này hoạt động có hiệu quả thì kinh doanh tái bảo hiểm mới có hiệu quả. Do vậy các doanh nghiệp bảo hiểm gốc và công ty tái bảo hiểm cùng cần có các biện pháp hoàn thiện hoạtđộng kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

Đối với một doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm nói chung, năng lực về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, kinh doanh… là những yếu tố rất quan trọng tạo nên sức mạnh. Chính vì vậy, đây cũng là những yếu tố mà các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam nói chung cần đầu tư phát triển.

– Tăng cường trình độ quản lý, kinh doanh, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực

Việc tăng cường trình độ quản lý, kinh doanh, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực am hiểu kỹ thuật nghiệp vụ, nắm bắt luật pháp quốc gia, quốc tế, có nghệ thuật giao tiếp, ứng xử trước khách hàng là một yếu tố cần thiết cho thành công của doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam. Vì vậy, các doanh nghiệp bảo hiểm phải tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách phục vụ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho các cán bộ kinh doanh, đại lý môi giới bảo hiểm.

Bên cạnh việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực, các doanh nghiệp bảo hiểm – tái bảo hiểm trong nước cần có những chế độ chính sách hợp lý để giữ được đội ngũ cán bộ bảo hiểm chuyên nghiệp, tránh trình trạng chảy máu chất xám sang các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài với chế độ đãi ngộ hấp dẫnhơn.

– Đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng phụcvụ

Để tăng cường sức cạnh tranh, các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm cần nâng cao khả năng kinh doanh thông qua việc đa dạng hoá các sản, nâng cao chất lượng dịch vụ, khai thác triệt để thị trường trong nước; Bên cạnh các sản phẩm truyền thống cần tập trung phát triển, các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm cũng cần phát triển các sản phẩm dịch vụ mới mang tính liên kết nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng.

Đặc biệt, các doanh nghiệp bảo hiểm – tái bảo hiểm cần chú trọng đến việc chăm sóc khách hàng, cải cách hành chính, đơn giản hoá thủ tục bảo hiểm giám định tổn thất và giải quyết nhanh chóng, hợp lý công tác bồi thường tổn thất trong các trường hợp xảy ra rủi ro được bảo hiểm, tạo uy tín đối với kháchhàng.

  • Nâng cao năng lực tài chính

Các doanh nghiệp bảo hiểm – tái bảo hiểm cần có chiến lược nâng cao năng lực tài chính và tăng khả năng ký kết các hợp đồng bảo hiểm cho những tài sản có giá trị lớn. Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nhỏ cần mạnh bạo sáp nhập lại thành các công ty lớn với khả năng tài chính vững mạnh hơn.

  • Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh

Các doanh nghiệp bảo hiểm cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin vào quá trình khai thác và quản lý hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, tiết kiệm chi phí quản lý, hạ phí bảo hiểm một cách hợp lý. Khi mở cửa thị trường bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam sẽ mất hẳn sự bảo hộ của nhà nước, phải cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài. Để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, các doanh nghiệp cần tiếp tục trang bị và ứng dụng công nghệ thông tin vào khâu khai thác, quản trị rủi ro, quản trị doanh nghiệp, trong đó quan trọng nhất là ứng dụng thương mại điệntử.

Ứng dụng công nghệ thông tin cũng làm đa dạng hoá kênh phân phối bảo hiểm và tái bảo hiểm. Hiện nay, một trong các phương pháp thường được các doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng là thông qua các đại lý và hoặc hệ thống ngân hang và các tổ chức tài chính. Qua đây, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có cơ hội tiếp cận với đông đảo các khách hàng giàu tiềm năng với khả năng tài chính cao và nhu cầu lớn. Tuy nhiên, trong xu thế thương mại điện tử ngày nay, việc tiếp cận khách hàng bằng thư trực tiếp hoặc Internet cũng có thể mang lại hiệu quả cao. Hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường Việt Nam đều đã có website riêng, song mới chỉ có một vài công ty cho phép khách hàng đăng ký mua bảo hiểm, cũng như thanh toán trực tuyến. Việc triển khai hình thức này còn nhiều khó khăn, do hạ tầng thông tin nước ta còn yếu kém, thanh toán bằng tiền mặt vẫn rất phổ biến… Tuy nhiên, đó cũng là một phương thức hiệu quả mà các doanh nghiệp bảo hiểm cần quan tâm pháttriển.

  • Đa dạng hoá hoạt động đầu tư

Hoạt động đầu tư cũng cần được đẩy mạnh một cách có hiệu quả, bằng cách tận dụng tối đa các công cụ đầu tư tài chính, tham gia tích cực vào thị trường chứng khoán. Khi tham gia đầu tư vào các công trình, các dự án có vốn lớn, các công ty cần chú trọng công tác thẩm định để đảm bảo mức độ an toàn, tính thanh khoản cũng như khả năng sinh lời cho đồngvốn.

– Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, xây dựng thươnghiệu.

Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp bảo hiểm vàtái bảo hiểm cần đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm quảng bá hình ảnh công ty tới khách hàng tiềm năng và xây dựng niềm tin với khách hàng quen. Hoạt động xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp lại càng có ý nghĩa hơn khi mà tại Việt Nam, nhận thức của người dân về sự cần thiết của bảo hiểm đối với nền kinh tế, cũng như đối với đời sống xã hội vẫn còn hạn chế. Các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm cần nỗ lực hơn nhằm nâng cao hiểu biết người dân về bảo hiểm, cũng như xây dựng hình ảnh công ty trong lòng khách hàng.

3.4.2. Đối với Hiệp hội bảo hiểm ( Luận văn Giải pháp thúc đẩy tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu )

Hiệp hội bảo hiểm cần thực hiện tốt vai trò là tổ chức đại diện cho quyền lợi và trách nhiệm của các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm và các tổ chức trung gian bảo hiểm trong nước. Hiệp hội cần là nơi cung cấp thông tin thị trường đầy đủ và cập nhật, đề ra những quy tắc hoạt động bảo hiểm chung, giúp các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm hợp tác đồng bộ và chặt chẽ. Thông qua đó, các doanh nghiệp sẽ học hỏi, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn và phối hợp với nhau để nâng cao công tác khai thác, giám định, bồi thường, để cùng nhau cùng tồn tại và phát triển.

KẾT LUẬN

Tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm nói riêng cũng như đối với nền kinh tế quốc dân nói chung. tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu không chỉ đảm bảo sự ổn định tài chính, giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp bảo hiểm, mà còn tạo niềm tin cho các công ty xuất nhập khẩu ổn định, phát triển kinh doanh, góp phần gián tiếp thúc đẩy nền kinh tế quốc dân và đóng góp không nhỏ vào ngân sách nhà nước. Vì vậy, xây dựng một thị trường tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu lớn mạnh và hiệu quả tại Việt Nam là một nhiệm vụ cần thiết của cả nhà nước, các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm và các tổ chức cá nhân có liên quan.

Hiện nay, tỉ trọng tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu của Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội MIC còn nhỏ bé so với thị trường tái bảo hiểm khu vực và thế giới cũng như tốc độ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của ngành. Trong hoạt động tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu cũng tồn tại nhiều vấn đề như: Khả năng tài chính, kỹ thuật của thị trường còn hạn chế, lượng dịch vụ bảo hiểm gốc rơi vào tay các công ty nước ngoài lớn và ngày càng tăng, sự bảo hộ của nhà nước làm giảm khả năng cạnh tranh của các công ty trong nước, sự thiếu đồng bộ trong các quy định của pháp luật đối với lĩnh vực bảo hiểm, tập quán kinh doanh không phù hợp, sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường…

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận sự nỗ lực của toàn ngành nhằm nâng cao hiệu quả của thị trường tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu trong thời gian qua. Nhằm xây dựng và phát triển thị trường tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu lớn mạnh nói riêng và thị trường tái bảo hiểm Việt Nam nói chung, cần sự nỗ lực từ rất nhiều phía: các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm trên thị trường, cũng như những cá nhân, tổ chức khác có lên quan. Với chính sách đúng đắn của nhà nước, sự nỗ lực của các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam, thị trường tái bảo hiểm Việt Nam nói riêng và bảo hiểm nói chung sẽ ngày càng được củng cố và phát triển, tiến tới mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành trung tâm bảo hiểm và tái bảo hiểm lớn trong khu vực.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

→ Luận văn: Tái bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu doanh nghiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537