Bài mẫu Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện dựa trên cơ sở thực trạng quản lý và sử dụng nguồn nhân lực tài chính luận văn đã trình bày một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Với những giải pháp đề xuất sẽ giúp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại các bệnh viện, giúp các bệnh viện thuận lợi trong việc thực hiện tự chủ tài chính và đảm bảo nguồn tài chính các bệnh viện phát triển theo hướng bền vững. Đề tài luận văn “ Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Hòa Bình “ về cơ bản đã đạt được mục tiêu và những nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Trong những năm qua hệ thống Y tế Việt Nam được đánh giá là có những bước phát triển mạnh mẽ. Những thành tựu đạt được của Y tế là kết quả của quá trình đổi mới và phát triển của đất nước, trong đó có đổi mới hệ thống y tế. Đổi mới lĩnh vực y tế ở nước ta được bắt đầu từ đổi mới các chính sách và cơ chế tài chính trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ Khám bệnh, chữa bệnh như các chính sách thu một phần viện phí(Quyết định số 45-HĐBT ngày 24 tháng 4 năm 1989 của hội đồng bộ trưởng, Nghị định số 95-CP ngày 27 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ về việc thu một phần viện phí, Nghị định số 33/CP ngày 23/5/1995 của Chính phủ sửa đổi điểm 1 Điều 6 của Nghị định 95/CP), pháp lệnh hành nghề dược tư nhân (số 26-L/CTN ngày 30 tháng 9 năm 1993 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và sửa đổi tại pháp lệnh số: 07/2003/PLUBTVQH11 ngày 25 tháng 2 năm 2003), giảm viện viện phí với người có công với nước, người nghèo (1994) chính sách “ xã hội hóa” và giao quyền tự chủ về tài chính cho các cơ sở y tế công lập và gần đây là nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 Quy định Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập ,bộ y tế và bộ tài chính đã ban hành thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC, Quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc.
Nhà nước có nhiều chính sách đổi mới và hoạt động của các cơ sở y tế nhằm tăng cường năng lực hoạt động của các đơn vị. Các chủ trương, chính sách này một mặt đã tạo ra hành lang pháp lý khá rộng rãi cho các đơn vị sự nghiệp nói chung và các cơ sở y tế nói riêng trong việc phát huy quyền tự chủ, quyền tự chịu trách nhiệm để phát triển đơn vị, tăng thu nhập cho cán bộ đồng thời khuyến khích các đơn vị tăng tính tự chủ, giảm dần sự phụ thuộc vào NSNN cho các hoạt động cơ sở. Tuy nhiên, việc thực hiện các chủ trương mới diễn ra trong các bối cảnh các chính sách thu hồi một phần viện phí…điều này đã làm cho tính tự chủ của cơ sở y tế đã phần nào bị giới hạn.
Khác với những năm trước đây khi còn cơ chế bao cấp nhà nước, việc khám chữa bệnh hầu như không mất tiền, mọi khoản phí tổn đều do nhà nước đài thọ. Bước sang thời kỳ đổi mới, cơ chế bao cấp cũ không còn nữa, xã hội có nhiều thành phần kinh tế khác nhau và các loại hình khám chữa bệnh cũng phát triển ngày càng đa dạng. Các nguồn tài chính được khai thác dồi dào hơn chứ không chỉ trông chờ vào nguồn chủ yếu là NSNN. Mặt khác các có sở y tế hiện nay phải đối mặt với vấn đề dân số tăng nhanh, nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng lớn, yêu cầu chất lượng khám chữa bệnh ngày càng cao. Điều đó dẫn đến yêu cầu tổ chức quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính tại đơn vị. Bên cạnh việc quản lý tốt công tác chuyên môn để đảm bảo chất lượng chăm sóc người bệnh, quản lý tài chính cũng là một yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của quản lý các cơ sở y tế nói chung.
Thực tế trên đòi hỏi ngành y tế nói chung và cụ thể là các cơ sở y tế cần có cơ chế quản lý tài chính phù hợp. Trong bối cảnh đó, các bệnh viện công lập trên địa bàn tỉnh Hòa Bình ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính, để đảm bảo nhu cầu chi tiêu và phát triển bền vững như vậy trong xu thế hội nhập và cải cách hành chính của Nhà nước và các Bệnh viện trên địa bàn tỉnh Hòa Bình ngày càng gặp nhiều khó khăn về nguồn kinh phí để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu thường xuyên trong điều kiện NSNN cấp có xu hướng giảm xuống.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn, tôi lựa chọn đề tài “ Cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Hòa Bình” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn tìm hiểu thực trạng tự chủ tài chính và quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính. Từ đó đề xuất giải pháp phát triển nguồn tài chính theo xu hướng bền vững cho các Bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về chủ đề tài chính y tế. Có thể tóm tắt các vấn đề nổi bật đã được đề cập trong một số nghiên cứu tiêu biểu sau:
- Đặng Thị Lệ Xuân (2011) về “ xã hội hóa Y tế tại Việt Nam: Lý luận- Thực tiễn và giải pháp- Luận án tiến sĩ. Tác giả tập trung vào phân tích, đánh giá các phương thức xã hội hóa Y tế cơ bản hiện nay và đánh giá toàn bộ hệ thống y tế hay các bộ phận cấu thành của nó đặc biệt là tài chính y tế, từ đó chỉ ra được những hạn chế của các phương thức xã hội hóa về Y tế. Qua nghiên cứu, tác giả đề xuất Bảo hiểm Y tế là giải pháp ưu việt nhất cần tập trung phát triển. Viện phí là phương án cần duy trì trong điều kiện nguồn lực hiện nay cơ bản nhưng từng bước thay thế bằng bảo hiểm y tế toàn dân.
- Hoàng Thị Thúy Nguyệt (2006) “ Các giải pháp tài chính thúc đẩy sự nghiệp phát triển Y tế ở Việt Nam”- Luận án tiến sĩ. Tác giả tập trung vào phân tích và đánh giá thực trạng phát triển sự nghiệp Y tế ở Việt Nam, từ đó chỉ ra những tồn tại và hạn chế và đề ra các giải pháp hoàn thiện và thúc đẩy phát triển Y tế ở Việt
- Nguyễn Trường Giang (2003) về “ Đổi mới cơ chế quản lý kinh phí, ngân sách nhà nước trong lĩnh vực Y tế Việt Nam trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước”- Luận án tiến sĩ.. đã đi sâu vào nghiên cứu cơ chế quản lý kinh phí ngân sách nhà nước trong lĩnh vực Y tế Việt Nam trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Tác giả luận án đã đánh giá thực trạng quản lý kinh phí ngân sách nhà nước trong lĩnh vực Y tế Việt Nam trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước tốt hơn.
- Phạm Văn Thạch (2014) về Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên. Nghiên cứu đã khái quát các kiến thức cơ bản về quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu nói chung và các cơ sở y tế nói riêng. Từ đó đưa ra các giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.
- Nguyễn Thị Thanh Huệ (2015) về “ Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai – Luận văn Thạc sỹ. Nghiên cứu đã đánh giá cơ chế quản lý tài chính của ngành y tế nói chung và của Bệnh viện Bạch mai nói chung, từ đó đưa ra những giải pháp để hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch
Nhìn chung các nghiên cứu trên đã khái quát và phân tích, đánh giá được các được các điểm chung trong công tác quản lý Bệnh viện từ đó đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện từng lĩnh vực trong quản lý tài chính. Các công trình khoa học trên đã đề cập đến vấn đề khác nhau có liên quan cơ chế quản lý tài chính, nhưng cho đến nay chưa có công trình hay đề tài nào nghiên cứu về cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Hòa Bình mà tôi đã lựa chọn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
- Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chuyển đổi cơ chế tài chính bệnh viện có liên quan với việc thực hiện xã hội hóa và giao quyền tự chủ về tài chính, làm cơ sở để xác định những vấn đề đặt ra và khuyến nghị các giải pháp, đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích đề ra, đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về đơn vị sự nghiệp công lập, bệnh viện công và cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công.
- Đánh giá cơ chế quản lý tài chính hiện hành đang áp dụng tại cách bệnh viện trên địa bàn tỉnh Hòa Bình nhằm chỉ ra những hạn chế, điểm yếu của cơ chế hiện
- Đề ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề về lý luận và thực tế về cơ chế quản lý tài chính theo hướng tụ chủ tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Hòa Bình .
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu bao gồm phạm vi về không gian, thời gian và nội dung nghiên cứu.
- Không gian: việc nghiên cứu đề tài được tiến hành chủ yếu tại 05 bệnh viện tại tỉnh Hòa Bình : Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình, Bệnh viện Đa khoa TP Hòa Bình, Bệnh viện Đa khoa huyện Kim Bôi, Bệnh viện Đa Huyện Lương Sơn, Bệnh viện Đa khoa Huyện Đà Bắc.
- Thời gian: đề tài được nghiên cứu các chi tiêu và số liệu kinh tế tập chung trong 2 năm từ 2014-2016.
- Nội dung: đề tài nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính và các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các Bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
- Phương pháp luận:
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý tài chính và cơ chế quản lý tài chính công tại các đơn vị sự nghiệp công lập; những quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công.
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu, phương pháp so sánh.
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Luận văn thu thập các văn bản của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các tài liệu lý luận khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Thông qua các phương tiện viễn thông hiện đại như web, email, điện thoại…, tác giả có thể tiếp cận được những chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về công tác quản lý tài chính (đặc biệt là quản lý tài chính tại các bệnh viện công); các báo cáo về kết quả, tình hình thực hiện cơ chế tự chủ trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong những năm vừa
- Phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích số liệu: thống kê là một hệ thống các phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu và tính toán số liệu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán. Dựa trên những số liệu đã được công khai trong các báo cáo của các cơ quan quản lý của địa phương về tình hình thực hiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công, luận văn tổng hợp lại các số liệu và phân tích những số liệu đó nhằm đưa ra những nhận định, đánh giá cho luận văn.
- Phương pháp so sánh: sử dụng phương pháp so sánh, luận văn sẽ nghiên cứu được những thay đổi trong công tác quản lý tài chính tại các bệnh viện công trong nhiều năm, từ đó đánh giá được những mặt mạnh và yếu đang còn tồn tại trong công tác quản lý.
Ngoài ra luận văn còn sử dụng, kế thừa thành quả nghiên cứu của một số công trình nghiên cứu, bài viết, báo cáo, tài liệu liên quan.
Có thể bạn quan tâm:
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa về lý luận:
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện và làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công.
- Ý nghĩa về thực tiễn
Phân tích, làm rõ thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Hòa Bình;
Phân tích quan điểm và đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Hòa Bình;
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở khoa học về cơ chế quản lý tài chính đối với các bệnh viện công
Chương 2: Thực trạng thực hiện cơ chế quản lý tài chính tại bệnh viện công trên địa bàn tình Hòa Bình
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CƠ CHẾQUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG
1.1. Khái quát về bệnh viện công lập – đơn vị sự nghiệp có thu ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
1.1.1. Đơn vị sự nghiệp và vai trò đơn vị sự nghiệp
- Khái niệm đơn vị sự nghiệp
Để phục vụ nhu cầu đời sống kinh tế – xã hội ở tất cả các quốc gia từ cấp trung ương đến địa phương đều thành lập các đơn vị sự nghiệp. Có nhiều quan điểm về đơn vị sự nghiệp:
Theo Giáo trình Kế toán công trong đơn vị hành chính sự nghiệp của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì đơn vị sự nghiệp là:
Đơn vị do Nhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một hoạt động nào đó. Đặc trưng cơ bản của các đơn vị sự nghiệp là được trang trải các chi phí hoạt động và thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao bằng nguồn kinh phí từ ngân quỹ Nhà nước hoặc từ quỹ công theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp [47, tr12].
Theo Giáo trình Kế toán tài chính Nhà nước của Trường Đại học Tài chính Kế toán Hà nội (nay là Học viện Tài chính) năm 1997 thì:
Đơn vị sự nghiệp là một loại hình đơn vị do Nhà nước quyết định thành lập, giao thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một hoạt động nào đó. Nguồn kinh phí để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các đơn vị sự nghiệp do NSNN cấp và được bổ sung từ các nguồn khác [59, tr419].
Theo Giáo trình Quản trị tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp thì đơn vị sự nghiệp là “đơn vị được Nhà nước thành lập để thực hiện các nhiệm vụ quản lý hành chính, đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội… Các đơn vị này được Nhà nước cấp kinh phí và hoạt động theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp” [68, tr29].
Theo chế độ kế toán Việt Nam thì đơn vị sự nghiệp là:
Đơn vị do Nhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một lĩnh vực nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp toàn bộ hoặc cấp một phần kinh phí và các nguồn khác đảm bảo theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho từng giai đoạn [8, tr11].
Như vậy việc gọi tắt như trên xuất phát từ bản chất hoạt động các đơn vị HCSN nói chung là hoàn toàn khác biệt so với doanh nghiệp. Các đơn vị HCSN nhất thiết phải do Nhà nước ra quyết định thành lập, nguồn tài chính để đảm bảo hoạt động do NSNN cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách. Các hoạt động này có giá trị tinh thần vô hạn, chủ yếu được tổ chức để phục vụ xã hội do đó chi phí chi ra không được trả lại trực tiếp bằng hiệu quả kinh tế nào đó mà được thể hiện bằng hiệu quả xã hội nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Trong khi đó, các doanh nghiệp có thể thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau và để tồn tại trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi đảm bảo có lãi. Nếu không tuân thủ nguyên tắc này, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng phá sản.
Tuy nhiên theo luận văn này, các quan điểm trên đây đã đồng nhất các cơ quan hành chính Nhà nước và các đơn vị sự nghiệp. Về bản chất, cần hiểu đơn vị hành chính sự nghiệp là một từ ghép để phản ánh hai loại tổ chức khác biệt nhau: cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, hành chính là “hoạt động quản lý chuyên nghiệp của Nhà nước đối với xã hội. Hoạt động này được thực hiện bởi một bộ máy chuyên nghiệp”. Do đó cơ quan hành chính là các tổ chức cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công cho người dân khi thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình. Cơ quan hành chính Nhà nước là các cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, thuộc các cấp chính quyền, các ngành, các lĩnh vực (gồm các cơ quan quyền lực Nhà nước như Quốc hội, HĐND các cấp, Các cấp chính quyền như Chính phủ, UBND các cấp, Các cơ quan quản lý Nhà nước như các Bộ, Ban, Ngành ở Trung ương, các Sở, ban, ngành ở cấp Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, các phòng ban ở cấp huyện và các cơ quan tư pháp như Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp). Cơ quan hành chính Nhà nước hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp hoặc các nguồn khác theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao. ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
Trong khi đó, các đơn vị sự nghiệp không phải là cơ quan quản lý Nhà nước mà là các tổ chức được thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp. Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động cung cấp dịch vụ công cho xã hội nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thường của xã hội. Hoạt động sự nghiệp không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhưng nó tác động trực tiếp tới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định năng suất lao động xã hội. Những hoạt động sự nghiệp mang tính chất phục vụ là chủ yếu và không nhằm mục tiêu lợi nhuận đáp ứng nhu cầu về phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu về đổi mới, phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Xuất phát từ sự khác biệt đó, theo luận văn này việc phân định rõ cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập là hết sức cần thiết, đặc biệt trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính Nhà nước để nâng cao hiệu quả hoạt động của bản thân các tổ chức và đem lại lợi ích cho cộng đồng xã hội. Đối với các cơ quan hành chính Nhà nước, nhiệm vụ cụ thể đặt ra là phải đổi mới nhằm tiết kiệm chi hành chính, tinh giản bộ máy biên chế để nâng cao chất lượng công vụ, đơn giản hóa thủ tục, giảm cơ chế “xin-cho” và nâng cao chất lượng, trình độ công tác chuyên môn của đội ngũ công chức Nhà nước. Đối với các đơn vị sự nghiệp, bằng việc tạo quyền chủ động, tự quyết, tự chịu trách nhiệm sẽ thúc đẩy hiệu quả hoạt động, sắp xếp bộ máy tổ chức và lao động hợp lý đồng thời góp phần tăng thu nhập, phúc lợi cho người lao động.
- Phân loại đơn vị sự nghiệp trong nền kinh tế
- Đơn vị sự nghiệp công lập: là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước.
- Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm:
+ Đơn vị sự nghiệp được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (đây gọi là đơn vị sự nghiệp được giao quyền tự chủ).
+ Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp chưa được giao quyền tự chủ).
- Đơn vị sự nghiệp ngoài công lập: là các đơn vị do các tổ chức, cá nhân tự đầu tư, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
- Đơn vị sự nghiệp công lập có thu: là những đơn vị sự nghiệp công lập được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và được nhà nước cho phép thu các loại phí như: học phí, viện phí, phí cầu, phí đường… để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức và bổ sung tái tạo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị.
Cùng với nhiệm vụ trong việc thành lập, các đơn vị do nhà nước thành lập hoạt động trong các lĩnh vực Y tế, giáo dục, khoa học công nghệ và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm…
Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung vào nghiên cứu đơn vị sự nghiệp công lập có thu. Đơn vị sự nghiệp công lập có thu được xác định dựa trên những tiêu chuẩn sau:
- Có quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương học địa phương.
- Được nhà nước cấp kinh phí và tài sản để hoạt dộng thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu phí, lệ phí theo chế độ Nhà nước quy định.
- Có tổ chức bộ máy biên chế và bộ máy quản lý kế toán theo chế độ Nhà nước quy định.
- Có mở tài khoản kho bạc Nhà nước để kiểm soát các khoản thu, chi tài chính.
Các đơn vị sự nghiệp công lập có các đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp không nhằm mục đích lợi nhuận trực tiếp. Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm, dịch vụ do đơn vị sự nghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hóa cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội. Tuy nhiên việc cung ứng những hàng hóa này cho thị trưởng chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như doanh nghiệp. Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho người dân nhằm thể hiện vai trò của Nhà nước khi can thiệp và thị trường. Thông qua đó Nhà nước hỗ trợ các ngành kinh tế hoạt động bình thường, tạo điều kiện nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn.
Thứ hai, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp là cung cấp những sản phẩm mang lại lợi ích chung, lâu dài và bền vững cho xã hội. Kết quả của hoạt động sự nghiệp là tạo ra những sản phẩm, dịch vụ có giá trị về sức khỏe, tri thức, văn hóa, khoa học, xã hội… do đó có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng. Đây chính là những “hàng hóa công cộng” phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình tái sản xuất xã hội. Nhờ sử dụng những hàng hóa công cộng do các đơn vị sự nghiệp tạo ra mà quá trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao. Vì vậy hoạt động của các đơn vị sự nghiệp luôn gắn bó chặt chẽ và tác động tích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội.
Thứ ba, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước. Để thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia như: chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chương trình xóa mù chữ, chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình… Những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước với vai trò của mình thông qua các đơn vị sự nghiệp thực hiện một cách triệt để, có hiệu quả. Xã hội sẽ không thể phát triển cân đối được nếu những hoạt động này được tư nhân thực hiện sẽ vì mục tiêu lợi nhuận mà hạn chế tiêu dùng, từ đó xã hội sẽ không được phát triển cân đối. ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập:
Để quản lý tốt các hoạt động của ĐVSN có thu cũng như quản lý được quá trình phát triển của các loại hình dịch vụ này, phục vụ tốt cho hoạt động thường xuyên của đơn vị.
- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm:
- Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Văn hóa – Nghệ thuật;
- Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Giáo dục đào tạo bao gồm các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống Giáo dục Quốc dân;
- Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh cực Nghiên cứu khoa học;
- Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Thể dục thể thao;
- Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Y tế;
- Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Xã hội;
- Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Kinh tế;
Ngoài các đơn vị sự nghiệp có thu theo lĩnh vực nói trên còn có các đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc các tổng công ty, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội.
Việc phân loại các đơn vị sự nghiệp có thu theo lĩnh vực hoạt động tạo thuận lợi cho việc phân tích đánh giá hoạt động của đơn vị trong các lĩnh vực khác nhau có tác động đến nền kinh tế như thế nào, từ đó Nhà nước đưa ra các chế độ, chính sách phù hợp với hoạt động của đơn vị này.
- Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập theo nguồn thu:
Theo quan điểm tài chính của Nhà nước ta hiện nay, quy định tại Nghị định 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ, các đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính bao gồm:
+ Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên ( gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động) là các đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp luôn ổn định nên bảo đảm được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên. NSNN không phải cấp kinh phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị.
+ Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bản đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động). Đây là những đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp nhưng chưa tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước phải cấp một phần chi phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị.
+ Đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệm do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động).
Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động là đơn vị sự nghiệp có mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên bằng hoặc lớn hơn 100%, nhà nước không phải dùng ngân sách để cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị.
Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động là đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ trên 10% đến dưới 100%. Nhà nước vẫn phải cung cấp một phần kinh phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị.
Đơn vị sự nghiệp do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động là đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ 10% trở xuống. Áp dụng đối với đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp hoặc không có nguồn thu, nhà nước phải cấp toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị.
1.1.1.3 Vai trò của đơn vị sự nghiệp
Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập là một bộ phận của nền kinh tế và có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế. Trong thời gian qua, các đơn vị sự nghiệp công đã có nhiều đóng góp cho sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, thể hiện:
- Thứ nhất, cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao… có chất lượng cao cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới nhiều đơn vị sự nghiệp ngoài công lập có vai trò lớn hơn đơn vị công lập. ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
Ví dụ: Ở Hoa Kỳ, Anh,. các trường đại học danh tiếng chủ yếu là ngoài công lập. Ở Việt Nam nhiều trường đại học dân lập và bệnh viện tư đã có chỗ đứng vững chắc.
- Thứ hai, thực hiện các nhiệm vụ dược giao như: đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng và trình độ cao, khám chữa bệnh, bảo vệ sức khẻo người dân, nghiên cứu và ứng dụng các kết quả khoa học, công nghệ; cung cấp các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật….phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Thứ ba, đối với từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp công lập đều có vai trò chủ đạo trong việc tham gia đề xuất và thực hiện các đề án, chương trình lớn phục vụ sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
- Thứ tư, thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của nhà nước đã góp phần tăng cường nguồn lực, đẩy mạnh đa dạng hóa và xã hội hóa nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Thực hiện chủ trương “xã hội hóa” các hoạt động sự nghiệp nên thi phần nghiệp vụ của các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ ngày càng giảm, tuy nhiên vai trò của nó sẽ ngày càng lớn trong việc hướng dẫn chuyên môn.
1.1.2. Bệnh viện công lập – các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực y tế
- Khái niệm về Bệnh viện công lập
Bệnh viện công lập là những bệnh viện do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và hoạt động dưới sự quản lý của nhà nước. Là một đơn vị hành chính sự nghiệp cung cấp dịch vụ công về y tế cho người dân, đồng thời thực hiện nhiệm vụ chuyên môn về y tế.
- Đặc trưng của các bệnh viện công lập
Đây là một tổ chức hoạt động phi lợi nhuận, nguồn tài chính hoạt động chủ yếu từ NSNN.
Mục tiêu hoạt động đem lại cho người dân những dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất với chi phí hợp lý nhất, mang lại tính chất phúc lợi xã hội.
Chức năng chủ yếu là khám chữa bệnh cho người dân, ngoài ra còn có chức năng đào tạo, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y tế.
Bệnh viện được tổ chức hết sức khoa học, các khâu khám bệnh, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc được gắn kết chặt chẽ với nhau.
1.1.3. Vai trò và nhiệm vụ của bệnh viện công lập
- Vai trò của Bệnh viện công lập:
- Thứ nhất, Bệnh viện công lập thực hiện hầu hết các dịch vụ y tế đối với dân cư trên các địa bàn. Bệnh viện công lập giữ vai trò chủ đạo trong công tác khám chữa bệnh, đáp ứng phần lớn dịch vụ y tế cho người dân, đảm bảo sức khỏe cơ bản cho người dân. Góp phần đảm bảo thực hiện phát triển mục tiêu quốc gia về con người.
Bệnh viện công luôn là một tổ chức đứng đầu trong hệ thống ngành y tế về cung cấp dịch vụ mang tính chất phúc lợi xã hội. Đảm bảo cho người dân đều được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí hợp lý nhất, và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đặc biệt cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay, sự phân hóa giữa các tầng lớp thu nhập ngày càng tăng. Các tổ chức y tế ngoài công lập càng được coi trọng để đảm bảo tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe với nhiều đối tượng người dân trong xã hội.
Thứ hai, đi đầu trong nghiên cứu và thực hiện khoa học lâm sàng, là nơi đào tạo nhiều y bác sỹ giỏi cho cộng đồng. Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính cũng giúp cho các bệnh viện công nâng cao chất lượng khám chữa bệnh góp phần thực hiện mục tiêu phúc lợi xã hội, mà tiến tới còn đóng gốp nhất định vào NSNN.
Thứ ba, tư vấn cho lãnh đạo bộ y tế về chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
- Nhiệm vụ của Bệnh viện công lập
Theo quy chế bệnh viện hiện nay thì nhiệm vụ chung của các bệnh viện là: cấp cứu, khám chữa bệnh, đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến, phòng bệnh, hợp tác quốc tế.
1.2. Cơ chế quản lý tài chính đối với các bệnh viện công lập
1.2.1. Khái quát về cơ chế tài chính và quản lý tài chính trong bệnh viện ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
– Cơ chế tài chính: là cách thức vận dụng được quy định, để thực hiện các chính sách tài chính trong những điều kiện cụ thể, đối với từng loại pháp nhân và thể nhân trong từng không gian và thời gian nhất định.
- Chính sách tài chính: là tập hợp có hệ thống các văn bản pháp quy, chỉ rõ nghĩa vụ và quyền lợi tài chính của các pháp nhân và thể nhân trong khung khổ hoạt động cụ thể tại một không gian và thời gian nhất định.
- Quản lý tài chính trong bệnh viện: là giám sát thu, chi đảm bảo thực hiện đúng nguyên tác quản lý tài chính hiện hành.
Ở Việt Nam, quản lý tài chính Bệnh viện công là một nội dung của chính sách Kinh tế – tài chính công. Chính sách quản lý tài chính ở Bệnh viện do Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trương với trọng tâm là sử dụng các nguồn lực để đâì tư cho nhành y tế một cách hiệu quả nhất để cung cấp các dịch vụ y tế một cách chất lượng và công bằng. Nó được thể hiện qua hai mặt: tính hiệu quả và tính công bằng.
- Tính hiệu quả: chú trọng đến hiệu quả sử dụng các nguồn lực như: trình độ, trang thiết bị kỹ thuật, phương pháp phân phối nguồn lực, hiệu lực quản lý hành chính và chất lượng dịch vụ y tế tốt nhất để cung cấp cho nhân dân.
- Tính công bằng: đòi hỏi cung cấp dịch vụ y tế bằng nhau cho những người có mức độ bệnh tật như nhau không phân biệt giàu nghèo lớn bé, thỏa mãn nhu cầu khám chữa bệnh của mọi người khi ốm đau theo một mặt bằng chi phí nhất định mà không đòi hỏi những khả năng chi trả của người bệnh là điều kiện tiên quyết.
Do đó, quản lý tài chính trong Bệnh viện ở Việt Nam được định nghĩa là việc quản lý toàn bộ các nguồn lực của bệnh viện để phục vụ nhiệm vụ khám chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Quản lý tài chính trong bệnh viện của Việt Nam gồm:
- Sử dụng và quản lý các nguồn kinh phí NSNN cấp và các nguồn được coi như là NSNN cấp như: tiền thu viện phí, bảo hiểm y tế, các nguồn viện trợ… một cách hiệu quả nhất và tuân thủ theo đúng quy định của Nhà nước.
- Tăng các khoản thu hợp pháp, cân đối thu chi, sử dụng hợp lý các khoản chi có hiệu quả, chống lãng phí thực hành tiết kiệm.
- Thực hiện chính sách ưu đãi cho các đối tượng ưu đãi xã hội và người nghèo, người có công với đất nước và đảm bảo công bằng về khám, chữa bệnh.
- Từng bước tiến tới hạch toán chi phí và giảm giá thành khám chữa bệnh.
Mục tiêu của quản lý tài chính trong bệnh viện:
- Duy trì cán cân thu chi: đây là điều kiện tiên quyết và bắt buộc của quản lý tài chính bệnh viện và cũng là tiêu chuẩn để đánh giá cho sự thành công trong cơ chế quản lý tài chính mới.
- Nhân viên phải hài lòng với chính sách đãi ngộ của bệnh viện: đời sống cán bộ nhân viên ngày càng được cải thiện và nâng cao, cải tiện phương tiện làm việc, xây dựng và giữ gìn văn hóa Bệnh viện.
- Bệnh viện phải cải thiện phát triển cơ sở vật chất, phát triển các phòng khám chuyên khoa. Công bằng Y tế phải luôn đặt lên hàng đầu, chất lượng phục vụ như nhau cho toàn bộ các đối tượng.
Như vậy, quản lý tài chính Bệnh viện phải đáp ứng cùng lúc bốn đối tác: Ban Giám đốc Bệnh viện, bệnh nhân, nhân viên Bệnh viện và Nhà nước. Đó là:
Yêu cầu của Ban giám đốc Bệnh viện: hoàn thành trách nhiệm thực hiện cán cân thu chi.
Với bệnh nhân: chất lượng chăm sóc và công bằng y tế . Với nhân viên: hài lòng do đời sống được cải thiện.
Y tế nhà nước: Phát triển bệnh viện.
Nhìn chung trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, mục tiêu của quản lý tài chính Bệnh viện phải cùng lúc đạt được các mục tiêu trên. Tuy nhiên ở một số vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo gặp nhiều khó khăn thì thì lại cần phải sắp xếp thứ tự của ưu tiên nào cần phấn đấu trước tùy theo điều kiện hoàn cảnh của từng địa phương.
1.2.2. Sự cần thiết phải tăng cường cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện.
Chăm sóc sức khỏe cho nhân dân là chiến lược mà Đảng và Nhà nước rất ta rất quan tâm và coi là mục tiêu hàng đầu. Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho người dân là điều không thể thiếu của một quốc gia trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.
Các bệnh viện công cần nhận thức được rằng nhiệm vụ của mình ngày càng nặng nề, phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng, tính chất bệnh tật ngày càng phức tạp… nên để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ thì luôn phải nỗ lực hoàn thiện mọi mặt của đơn vị. Vừa đảm bảo công bằng y tế vừa đảm bảo tính hiệu quả kinh tế, cân đối thu chi là yêu cầu khắt khe trong quản lý tài chính bệnh viện và hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán trong các đơn vị chính là một yêu cầu nhằm cụ trên thể hóa các mục tiêu, chiến lược phát triển mà toàn ngành đặt ra
Mời bạn tham khảo thêm:
1.2.3. Tổ chức thực hiện cơ chế quản lý tài chính đối với các bệnh viện công lập ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
Hiện nay, cơ chế quản lý áp dụng với các đơn vị sự nghiệp là cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính. Việc áp dụng cơ chế quản lý tài chính theo hướng giao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp này với mục đích tạo quyền chủ động, tự quyết, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp theo hướng đa dạng hóa các loại hình đồng thời sắp xếp bộ máy tổ chức lao động hợp lý hơn và tăng thêm thu nhập, phúc lợi và khen thưởng cho người lao động.
Quản lý thu chi các nguồn kinh phí của bệnh viện là thông qua các nghiệp vụ tài chính để phản ánh chính xác tình hình tài chính của bệnh viện để từ đó cụ thể hóa định hướng, kế hoạch phát triển hoạt động ngắn hạn của bệnh viện, trên cơ sở tăng nguồn thu nhập hợp pháp và vững chắc, đảm bảo được các họat động thường xuyên của bệnh viện đồng thời từng bước củng cố và nâng cấp cơ sở vật chất của bệnh viện, tập trung đầu tư đúng mục tiêu ưu tiên nhằm đạt hiệu quả cao, hạn chế tối đa lãng phí và tiêu cực, từng bước công bằng trong sử dụng các nguồn đầu tư cho bệnh viện.
- Các nguồn thu và quản lý các nguồn thu của bệnh viện công lập
Nguồn thu của Bệnh viện công lập được Nhà nước cho phép hình thành từ các kênh sau:
- Các nguồn tài chính từ NSNN
Nhìn chung các nguồn tài chính từ NSNN là các nguồn đầu tư kinh phí cho bệnh viện thong qua kênh phân bổ của Chính phủ được coi là NSNN cấp cho bệnh viện. Theo đó hàng năm Quốc hội, Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính quyết định cấp một khoản cho ngân sách y tế, trong đó có phần quan trọng là cho các Bệnh viện (khối điều trị), các viện có giường bệnh. Tỷ lệ NSNN này căn cứ vào sự tăng trưởng NSNN hàng năm của quốc gia, căn cứ vào nhiệm vụ, kế hoạch của ngành y tế, của các Bệnh viện, và kế họch hàng năm của ngành, khối điều trị. Việc cấp phát NSNN cho các bệnh viện căn cứ theo Luật Ngân sách nhà nước.
Đối với các nước đang phát triển, thì nguồn NSNN cấp là nguồn tài chính quan trọng nhất. Ở Việt Nam hiện nay, hàng năm các bệnh viện công đều nhận được một khoản kinh phí được cấp từ ngân sách của Chính phủ căn cứ theo định mức tính cho một đầu giường bệnh/năm nhân với số giường bệnh theo kế hoạch của Bệnh viện. Số kinh phí này thường đáp ứng được từ 40-60% nhu cầu chi tiêu tối thiểu của Bệnh viện.
- Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế
Đây là một nguồn thu quan trọng và lâu dài của Bệnh viện. Theo quy định của Bộ tài chính nước ta, nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế chiếm một phần quan trọng trong ngân sách sự nghiệp Y tế của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng để đảm bảo chất lượng khám, chữa bệnh cho bệnh nhân. Nguồn viện phí và bảo hiểm Y tế thường chiếm tỷ trọng gần 97% ở Bệnh viện tự chủ toàn phần, 72% ở bệnh viện tuyến Trung ương và gần 82% ở bệnh viện tuyến tỉnh và gần 55% ở Bệnh viện tuyến huyện.
Đối với việc khám chữa bệnh theo yêu cầu thì mức thu được tính trên cơ sở hạch tóan và được cấp có thẩm quyền duyệt. Bệnh viện không được tùy tiện đặt giá.
Đối với người có thẻ BHYT thì cơ quan bảo hiểm phải thanh toán viện phí của bệnh nhân cho bệnh viện. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay mới chỉ phổ biến loại BHYT bắt buộc áp dụng cho các đối tượng CNVC làm việc tại các cơ quan nhà nước, cũng còn có những loại hình bảo hiểm khác dành cho những người nằm ngoài khu vực trên nhưng các loại hình bảo hiểm này dù đã được đưa vào nhưng sự quan tâm của đối tượng được hưởng chưa cao, những sai sót trong quá trình cấp thẻ gây khó khăn cho những người được hưởng quyền lợi. Ví dụ như các mã thẻ: DT, HN, CK, DK, TE, ……
Hiện nay với chủ trương xã hội hóa các họat động chăm sóc sức khỏe của Đảng và Nhà nước, rất nhiều các Bệnh viện và cơ sở Y tế bán công ngoài công lập ra đời với cơ chế tài chính chủ yếu dự vào nguồn thu viện phí và Bảo hiểm Y tế.
- Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác
Nguồn viện trợ cũng được chính phủ Việt Nam quy định là một phần Ngân sách của Nhà nước giao cho Bệnh viện quản lý và sử dụng. Đây là một nguồn kinh phí khá quan trọng. Có rất nhiều nguồn viện trợ: Chính phủ, Phi chính phủ, các hội từ thiện, các cá nhân, các chương trình dự án nước ngoài,….Tuy nhiên Bệnh viện thường phải chi tiêu theo định hướng những nội dung đã định từ phía nhà tài trợ. Nguồn kinh phí này tùy theo từng dự án được nhà nước đầu tư trong từng giai đoạn và thường không ổn định.
Ngoài ra các Bệnh viện còn có các nguồn thu khác như sau:
- Thu do nhượng bán tài sản cố định: các Bệnh viện được phép thanh lý nhượng bán tài sản vật tư thuộc đơn vị mình quản lý nay không còn sử dụng nữa cho các đơn vị khác.
- Dịch vụ khám chữa bệnh yêu cầu: trong điều kiện hiện nay, ở một số bệnh viện có tổ chức một số họat động kinh doanh có thu xuất phát từ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong tỉnh và trên khu vực. Bệnh viện đã hoạt động khám chữa bệnh theo yêu cầu tự nguyện để phục vụ nhân dân căn cứ theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập và thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC, Quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc.
- Nguồn thu từ trông giữ xe tại cổng bệnh viện.
- Thu dịch vụ quầy bán căng tin, nhà thuốc bệnh viện. ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
Các nguồn thu của Bệnh viện phải được quản lý chặt chẽ theo đúng quy định của Bộ tài chính và Kho bạc Nhà nước.
Thủ quỹ phải có trách nhiệm trước trưởng phòng Tài chính – Kế toán và Giám đốc Bệnh viện về bảo quản, thu, chi không để thiếu hụt ngân quỹ theo quy định.
- Các khoản chi và quản lý các khoản chi tại BVCL
Chi là quá trình phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm duy trì sự tồn tại và hoạt động của Bệnh viện nhằm thực hiện cấc chính sách và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Các khoản chi tại các BVCL:
+ Chi thường xuyên.
+ Chi nghiệp vụ chuyên môn.
+ Chi đầu tư xây dựng cơ bản.
+ Các khoản chi khác.
Nhóm I. Chi cho con người:
Đây là khoản chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân sách cấp cho Bệnh viện. Bao gồm các khoản chi về lương, thưởng, phụ cấp lương, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp khác. Trong đó:
+ Tiền lương: lương bậc, ngạch, lương tập sự, lương hợp đồng.
+ Phụ cấp: Phụ cấp trách nhiệm, chức vụ, phụ cấp làm thêm, phụ cấp lưu động, phụ cấp độc hại và nguy hiểm (tính theo chế độ hiện hành, kể cả nanag bậc lương hàng năm trong từng đơn vị hành chính sự nghiệp) và các khoản phải nộp theo lương: Bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội. Đây là khoản bù đắp hao phí sức khỏe lao động, đảm bảo duy trì quá trình tái sản xuấy sức lao động cho cán bộ, công chức, viên chức, lao động của bệnh viện.
+ Tiền thưởng: thưởng thường xuyên, đột xuất và các loại thưởng khác.
+ Phúc lợi tập thể: trợ cấp khó khăn thường xuyên, đột xuất, tiền tàu xe và các phúc lợi khác.
Nhóm II: Chi nghiệp vụ chuyên môn
Nhóm này bao gồm thứ nhất các khoản chi thanh tóan dịch vụ công (tiền điện, tiền nước, nhiên liệu, vệ sinh môi trường và các dịch vụ công khác…); chi vật tư văn phòng (văn phòng phẩm, công cụ dụng cụ vật tư văn phòng khác..); chi thông tin liên lạc (điện thoại, fax, tuyên truyền, truyền thông và thông tin liên lạc khác…), chi hội nghị, chi công tác phí…… các khoản chi này mang tính gián tiếo nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy của Bệnh viện. Do đó, các khoản chi này đòi hỏi phải chi đúng, chi đủ, chi kịp thời và cần sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả.
Trước đây trong cơ chế cũ các khoản chi này không bị khống chế bởi quy định của Nhà nước. Tuy nhiên, khi đổi mới cơ chế làm việc Bệnh viện chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chi tiêu nội bộ căn cứ trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật và chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước để đảm bảo hoạt động thường xuyên cho phù hợp với họat động đặc thù của Bệnh viện, đồng thời tăng cường công tác quản lý sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả trong phạm vi nguồn tài chính của mình. Cùng với việc chủ động đưa ra cá định mức chi, các Bệnh viện cũng cần phải xây dựng một chính sách tiết kiệm và quản lý chặt chẽ hơn nữa các khoản chi tiêu của mình. Điều này sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí và tăng thêm kinh phí sử dụng cho các nhóm khác.
Thứ hai là các khoản chi mua hàng hóa vật tư, trang thiết bị chuyên dụng dùng cho công tác chuyên môn và KCB, trang thiết bị kỹ thuật, sách, vở tài liệu chuyên môn y tế…. Đây là khoản chi quan trọng nhất vì nó có tác động trực tiếp đến công tác KCB. Có thể nói đây là các khoản chi quan trọng nhất đòi hỏi phải mất nhiều công sức về quản lý, phụ thuộc chủ yếu vào cơ sở vật chất và quy mô họat động của bệnh viện.
Đây là nhóm tiêu dùng thiết yếu nhất, thực hiện dựa theo nhu cầu thực tế nên Nhà nước ít khống chế việc sử dụng kinh phí cho nhóm chi này. Nhóm chi cho nghiệp vụ chuyên môn có liên hệ chặt chẽ rất mật thiết với chất lượng chăm sóc bệnh nhân và mục tiêu phát triển bệnh viện.
Vấn đề được đặt ra trong việc quản lý nhóm chi này là do những quy định không quá khắt khe của Nhà nước đòi hỏi các nhà quản lý phải biết sử dụng nguồn tài chính một cách linh hoạt đúng mực và thích hợp, tránh làm mất cân đối thu chi nhưng vẫn giữ được chất lượng điều trị hiệu quả và nhất là tiết kiệm được kinh phí, tránh lãng phí như: chi thuốc không quá 70% nhóm chi chuyên môn….
Nhóm III. Chi đầu tư, xây dựng cơ bản
Đây là nhóm chi rất quan trọng và không thể thiếu được. Có thể nói đây là nhóm chi mà các nhà quản lý Bệnh viện đều rất quan tâm vì nhóm này có thể làm thay đồi cơ sở vật chất của Bệnh viện và thay đổi công nghệ chăm sóc bệnh nhân. Hàng năm, do sự xuống cấp tất yếu của tài sản cố định dùng cho họat động KCB cũng như quản lý nên thường phát sinh nhu cầu sử dụng kinh phí để mua sắm trang thiết bị thêm hoặc phục hồi giá trị sử dụng cho những tài sản cố định đã xuống cấp với 04 mục tiêu chính: ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
+ Duy trì và phát triển cơ sở vật chất
+ Duy trì và phát triển tiện nghi làm việc
+ Duy trì và phát triển trang thiết bị
+ Duy trì và phát triển kiến thức, kỹ năng nhân viên
- Về sửa chữa
Nhìn chung các bệnh viện của Việt Nam đều đang trong quá trình xuống cấp và đòi hỏi phải sửa chữa, nâng cấp, mở rộng rất nhiều và đặc biệt là trong tình trạng quá tải bệnh nhân ở các bệnh viện công như hiện nay. Nhưng đây là nhóm chi được nhà nước quy định rất chặt chẽ trong từng phần vụ: sửa chữa nhỏ và sửa chữa lớn. Vấn đề đặt ra cho nhóm chi này là phải sửa chữa đúng mức, đầy đủ, đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh, điều này đòi hỏi phải phát huy năng lực quản lý tốt trong nhóm chi này nhằm bảo toàn giá trị vốn trong sửa chữa để có kết quả tốt trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn bỏ ra.
- Về việc mua sắm tài sản cố định
Bao gồm họat động mua sắm tiện nghi làm việc và trang thiết bị phục vụ chuyên môn. Do tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật, trang thiết bị cho KCB trong Bệnh viện đổi mới không ngừng và ngày càng hiện đại, sử dụng kỹ thuật ngày càng cao để đáp ứng nhu cầu KCB. Nhưng hầu hết các trang thiết bị này lại được sản xuất ở nước ngoài, giá cả của chúng thì lại tương đối cao. Vấn đề đặt ra là việc mua sắm các trang thiết bị này phải tính đến giá cả/hiệu quả. “Liệu cơm gắp mắm” là phương châm cho việc mua sắm trang thiết bị trong các Bệnh viện. Việc mua sắm này phải tuân thủ theo các quy định và thủ tục của Nhà nước đồng thời Bệnh viện cũng phải có một chiến lược quản lý lâu dài để có thể sử dụng công nghệ một cách có hiệu quả nhất.
Nhóm IV: đây là các khoản chi phát sinh không thường xuyên, đ t xuất và không thu c các khoản chi trên.
1.2.4. Chu trình quản lý tài chính trong bệnh viện.
Bước 1: Lập dự toán
- Ý nghĩa của việc lập dự tóan
Lập dự toán thu chi là khâu bắt đầu của một chu trình quản lý nói chung và chu trình quản lý tài chính trong bệnh viện nói riêng. Đây là quá trình phân tích đánh giá giữa khả năng thực tế của các nguồn tài chính trong Bệnh viện và nhu cầu của Bệnh viện để từ đó xác lập nên các khoản chi tiêu thu, chi dự trữ hàng năm một cách đúng đắn có căn cứ khoa học và thực tiễn, đồng thời trên cơ sở đó chúng ta có thể xác lập những biện pháp nhằm tổ chức thực hiện các nhiệm vụ mục tiêu đề ra. Việc lậo dự tóan này nếu được thực hiện một cách chính xác, có căn cứ khoa học, hợp thời gian….sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các khâu tiếp theo.
- Các cǎn cứ lập dự toán thu chi của Bệnh viện:
+ Phương hướng, chủ trương nhiệm vụ của đơn vị:
Căn cứ này giúp cho công tác xây dựng kế hoạch có được một cái nhìn tổng quát nhất về những mục tiêu nhiệm vụ từ đó có kế hoạch động viên, khai thác các nguồn thu và sử dụng chúng một cách hợp lý nhất.
+ Chỉ tiêu, kế hoạch có thể thực hiện được.
Để xây dựng được chỉ tiêu kế hoạch thu chi cho hàng năm thì ngoài các căn cứ nêu trên phải đặc biệt tuân thủ các chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu chi tài chính của ngành y tế thông qua hệ thống pháp luật mà nhà nước quy định.
+ Kinh nghiệm thực hiện các năm trước.
Các hoạt động tài chính thường diễn ra theo các quy luật nhất định, trong một thời kỳ nhất định. Vì thế nên, các tài liệu phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch của các năm trước đây luôn tuân theo quy luật hoạt động của các năm trước đây.
+ Khả năng NSNN cho phép.
+ Khả năng cấp vật tư của Nhà nước và của thị trường.
+ Khả năng tổ chức quản lý và kỹ thuật của đơn vị. ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
- Phương pháp lập dự toán:
Việc lập dự toán được tiến hành theo phương pháp lập dự tóan từ cấp cơ sở từ dưới lên trên. Theo phương pháp này thì các đơn vị cơ sở sẽ căn cứ vào số liệu để kiểm tra của cấp có thẩm quyền giao lập dự toán thu chi của đơn vị mình trong năm kế hoạch. Sau đó thủ trưởng đơn vị có nhiệm vụ xét duyệt và gửi lên cơ quan chủ quản tiến hành lập dự toán thu chi.
Bước 2: Thực hiện dự toán.
Thực hiện dự toán là khâu kế tiếp ngay sau khâu lập dự tóan và là khâu quan trọng trong quá trình quản lý tài chính Bệnh viện. Đây là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu đã được đề ra và ghi trong kế hoạch thành hiện thực. Thực hiện dự toán đúng đắn là cơ sở tiền đề quan trọng để thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế ở Bệnh viện. Tổ chức thực hiện dự toán là nhiệm vụ của tất cả các phòng, các ban, các bộ phận trong Bệnh viện. Vì thế, đây là một trong những nội dung được đặc biệt quan tâm trong công tác quản lý tài chính của Bệnh viện. Việc thực hiện dự toán này thường diễn ra trong một niên độ ngân sách nhất định (ở nước ta là một năm từ ngày 01/01 đến 31/12 hàng năm) Trong khâu này thì người ta thường tiến hành lập kế hoạch thu chi theo quý, trong đó người ta lại chia ra các tháng và tổ chức thực hiện kế hoạch của từng tháng đó. Sở dĩ phải làm như vậy là bởi vì kế hoạch năm là lập cho cả năm, đó là cái khung lớn là cái tổng quát, còn kế hoạch thu chi của quý là lập ra cho các quý, gắn liều với các quý nên sẽ sát thực hơn. Và để thực hiện tốt kế hoạch của các quý người ta lại đòi hỏi phải cụ thể hóa từng tháng. Do đó với kế hoạch từng tháng của các đơn vị sẽ đưa ra được các biện pháp tốt nhất để thực hiện các chi tiêu.
Đảm bảo cho giải quyết linh hoạt các vấn đề về kinh phí. Do sự hạn hẹp của các nguồn kinh phí và những hạn chế về khả năng thực hiện dự toán nên giữa kế hoạch đề ra và thực tế diễn ra trong quá trình chấp hành và thực hiện dự toán có thể có những sai khác nhất định đòi hỏi phải có sự linh hoạt trong quản lý. Nguyên tắc chung của thực hiện dự toán là chi theo dự toán nhưng nếu không có dự toán mà cần chi thì cần phải có một quyết định kịp thời, hợp lý đồng thời có thứ tự ưu tiên việc gì trước, việc gì sau.
Sau khi được cấp có thẩm quyền cao hơn phê duyệt dự toán và nhận được thông báo cấp vốn hạn mức, các đơn vị nên chủ động sử dụng vốn đó để hoàn thành nhệm vụ được giao.
Tổ chức và thực hiện các khoản thu nhận của các nguồn tài chính được cấp theo kế hoạch và theo quyền hạn.
Tổ chức thực hiện đúng các khoản chi theo chế độ, tiêu chuẩn và định mức do Nhà nước ban hành quy định trên cơ sở đánh giá tính hiệu quả, chất lượng công việc.
Bước 3: Quyết toán
Công tác quyết toán là khâu cuối cùng của một quá trình sử dụng quản lý tài chính đây là việc tổng kết lại quán trình thực hiện dự toán của năm, sau khi năm ngân sách kết thúc. Đây là quá trình phản ánh đầy đủ nhất về các khoản chi và báo cáo quyết toán ngân sách năm theo đúng chế độ báo cáo về biểu mẫu, thời gian, nội dung và các khoản chi tiêu trong năm. Trên cơ sở các số liệu của báo cáo quyết toán đó ta có thể đánh giá hiệu quả phục vụ của chính bệnh viện, đánh giá được tình hình thực hiện kế hoạch đồng thời từ đó có thể rút ra ưu, khuyết điểm của từng bộ phận trong quá trình quản lý tài chính để làm cơ sở cho việc quản lý ở chu kỳ tiếp theo đặc biệt là làm cơ sở cho việc lập kế hoạch quản lý tài chính của năm sau. Trong quá trình tổ chức các báo cáo quyết toán, phải đảm bảo yêu cầu: trong báo cáo không được xảy ra tình trạng chi lớn hơn thu. Nếu thực hiện công tác này tốt thì sẽ tạo được cơ sở vững chắc cho việc phân tích đánh giá quá trình chấp hành dự toán.
Muốn công tác quyết toán được tốt cần phải:
- Tổ chức đước một bộ máy kế toán theo quy định nhưng vẫn phải đảm bảo tinh giản, gọn nhẹ, linh hoạt và hiệu quả.
- Mở sổ sách theo dõi đầy đủ và đúng quy định.
- Ghi chép cập nhật, thường xuyên phản ánh kịp thời và chính xác.
Thường xuyên tổ chức đối chiếu, kiểm tra sổ sách
- Cuối kỳ báo cáo theo mẫu biểu thống nhất và xử lý những trường hợp trái với chế độ theo đúng quy định
Thực hiện báo cáo quý sau 15 ngày và báo cáo năm sau 45 ngày theo đúng quy định của Nhà nước đề ra.
1.2.5. Những nhân tố tác động đến quản lý tài chính bệnh viện ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
a, Nhân tố bên ngoài
Công cuộc đổi mới đất nước đã tạo nên sự chuyển biến quan trọng trong tất cả các các lĩnh vực hoạt động của xã hội. Quá trình đổi mới này đã tạo thuận lợi cho sự phát triển của hệ thống y tế nói chung và bệnh viện nói riêng.
- Về kinh tế
Hơn 20 năm tiến hành đổi mới kinh tế, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng: đầu tư trong và ngoài nước được khuyến khích; Tăng trưởng kinh tế hàng năm tương đối cao: từ 5-8%; Cấu trúc hạ tầng phát triển mạnh mẽ; Lạm phát được kiềm chế. Vì vậy, đầu tư của Nhà nước cho các lĩnh vực kinh tế xã hội cũng như y tế tăng nhiều. Chi NSNN cho y tế hàng năm chiếm khoảng 3% GDP. Đây là nguồn kinh phí chủ yếu cho hoạt động của bệnh viện.
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, đời sống vật chất của đại đa số nhân dân được cải thiện so với trước thời kỳ đổi mới. Nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ tăng lên. Số lượt người đến các cơ sở y tế khám chữa bệnh tăng vọt so với trước. Do đó, nguồn thu viện phí cũng tăng. Tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế là sự phân hoá giàu nghèo trong tầng lớp dân cư. Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2014, mức chi phí điều trị nội trú bình quân mỗi người một năm là 2.193.000 đồng chiếm khoảng 25% so với thu nhập- đây là mức chi phí quá cao. Một điều tra xã hội học của Bộ Y tế cũng chỉ ra: chỉ khoảng 30% người dân đủ khả năng tự chi trả đầy đủ chi phí khám chữa bệnh; hơn 30% thuộc diện không chịu nổi mức viện phí như hiện nay.
Mặt khác, mặc dù nền kinh tế tăng trưởng tương đối mạnh song do xuất phát điểm thấp lại chưa thực sự vững chắc, các lĩnh vực xã hội còn phải chi quá nhiều dẫn đến đầu tư cho ngành y tế còn chưa tương xứng mặc dù trong tổng đầu tư cho y tế thì đầu tư phục vụ khám chữa bệnh cho các bệnh viện vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Khả năng thu phí để tái đầu tư mở rộng còn rất hạn chế. Việc xác định các đối tượng nghèo không có khả năng chi trả chi phí khám chữa bệnh để thực hiện các chế độ ưu đãi còn rất khó khăn.
- Môi trường pháp lý
Nhà nước đã chú ý đến đầu tư phát triển văn hoá xã hội nhằm từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, cố gắng thực hiện công bằng xã hội. Với chính sách “xã hội hoá, đa dạng hoá” đã tạo điều kiện tăng các nguồn lực để phát triển các mặt xã hội và kết quả bước đầu đã có nét khởi sắc. Chính sách này cho phép các bệnh viện đa dạng hoá việc khai thác các nguồn tài chính phục vụ cho công tác khám chữa bệnh của mình: Phát triển thành bệnh viện bán công; xây dựng khoa khám và điều trị tự nguyện…
Cùng với các chính sách mới về kinh tế, xã hội, trong những năm qua Nhà nước đã ban hành một hệ thống các chính sách để củng cố, phát triển hệ thống y tế, nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế đồng thời đảm bảo công bằng và hiệu quả trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân nói chung và các chính sách về tài chính áp dụng cho quản lý trong bệnh viện nói riêng. Các chính sách này tạo hành lang pháp lý cho bệnh viện tổ chức thực hiện tốt quản lý tài chính trong đó phải kể đến chính sách viện phí và bảo hiểm y tế.
Trước thời kỳ đổi mới, các bệnh viện được Nhà nước bao cấp hoàn toàn, nhân dân được khám chữa bệnh miễn phí. Bước sang thời kỳ đổi mới, nguồn NSNN không thể đảm bảo cho công tác chăm sóc sức khoẻ nên vấn đề tài chính cho các bệnh viện càng trở nên bức xúc. Để có thêm nguồn kinh phí cho hoạt động khám chữa bệnh, từ năm 1989 Nhà nước đã ban hành chính sách thu một phần viện phí. Chính sách này đã tăng nguồn ngân sách cho hoạt động của các bệnh viện, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Một thay đổi mang tính đột phá của ngành y là lần đầu tiên sau 18 năm kể từ khi các cơ sở khám, chữa bệnh trong hệ thống y tế Nhà nước chỉ được phép thu một phần viện phí theo nghị định 95/CP ngày 27/8/1994 của chính phủ và thông tư liên tịch số 14/TTLB của liên Bộ Y tế- Tài chính- LDTBXH và Ban vật giá Chính phủ, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15-10-2012 về cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp y tế công lập; Liên bộ Y tế và Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BYT-BTC, điều chỉnh 470/3.000 giá dịch vụ y tế tạo nền tảng để cải tiến, đổi mới cơ chế tài chính trong lĩnh vực y tế, từng bước chuyển dần đầu tư ngân sách của Nhà nước cho cơ sở cung ứng dịch vụ sang cho người được hưởng thụ dịch vụ. Theo Nghị định, năm 2013 giá các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh được tính trên cơ sở các chi phí trực tiếp như: Tiền thuốc, hóa chất, vật tư tiêu hao, vật tư thay thế để thực hiện dịch vụ (bao gồm cả chi phí bảo quản, hao hụt theo định mức được cơ quan có thẩm quyền quy định); tiền điện, nước, nhiên liệu, xử lý chất thải, vệ sinh môi trường trực tiếp để thực hiện dịch vụ; duy tu, bảo dưỡng thiết bị, mua thay thế công cụ, dụng cụ trực tiếp sử dụng để thực hiện các dịch vụ; chi phí trả phụ cấp thường trực, chi phí chi trả phụ cấp phẫu thuật, thủ thuật. ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
Đến giai đoạn 2014 – 2017, đầu tiên là Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập, tiếp theo là thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC, Quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc. Giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh được tính trên cơ sở các khoản chi phí nêu trên, đồng thời tính cả chi phí về tiền lương; chi phí nhân công thuê ngoài (nếu có), chi phí đặc thù; khấu hao tài sản cố định; chi phí gián tiếp, các chi phí hợp pháp khác để vận hành, bảo đảm hoạt động bình thường của bệnh viện. Trong đó, năm 2014-2015, chi phí tiền lương chỉ tính 30% Quỹ tiền lương cơ bản đối với các bệnh viện tuyến tỉnh ở khu vực miền núi, Tây Nguyên và các bệnh viện quận thuộc Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; 50% Quỹ tiền lương cơ bản đối với các bệnh viện tuyến Trung ương và của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương còn lại. Từ năm 2016-2017 sẽ được tính 100% Quỹ tiền lương cơ bản đối với bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến Trung ương và các bệnh viện quận thuộc Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; 50% Quỹ tiền lương cơ bản đối với các bệnh viện tuyến huyện còn lại.
Giai đoạn từ năm 2018 trở đi, giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh được tính đủ các chi phí để thực hiện dịch vụ, bao gồm cả chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
Về bảo hiểm y tế, bảo hiểm y tế được triển khai ở Việt Nam từ năm 1993. Trong những năm qua bảo hiểm y tế đã thu được nhiều kết quả khả quan. Năm 2015 tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 75% dân số, và đến 2016 là 81,8% . Mục tiêu của Chính phủ là đến năm 2020 là có 90 % dân số tham gia BHYT.
(Nguồn: Bảo hiểm y tế Việt Nam, 2017). Các loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện chưa đa dạng, phong phú và chưa thu hút được các đối tượng tham gia. Đa số người lao động thuộc khu vực kinh tế phi chính thức hoặc người dân sống ở nông thôn thường chưa tham gia BHYT.
Tóm lại, các nhân tố bên ngoài vừa có ảnh hưởng tích cực vừa có những hạn chế đến việc quản lý tài chính bệnh viện.
b, Nhân tố bên trong Nhân tố con người
Con người là nhân tố trung tâm trong hoạt động của một tổ chức. Đặc biệt do đặc thù của bệnh viện là cung cấp các dịch vụ phục vụ cho chăm sóc sức khoẻ con người thì yếu tố con người lại càng quan trọng. Nó đòi hỏi con người phải vừa có Tâm vừa có Tài. Trong yếu tố con người ở đây cần nhấn mạnh đến cán bộ quản lý. Người làm quản lý có ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịp thời, chính xác của các quyết định quản lý. Do vậy, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động của bộ máy quản lý nói chung cũng như quản lý tài chính nói riêng.
Một bệnh viện có cán bộ quản lý tài chính có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm, hiểu biết sẽ đưa ra được những biện pháp quản lý phù hợp, xử lý thông tin kịp thời và chính xác làm cho công tác kế toán tài chính ngày càng có kết quả tốt. Và một đội ngũ cán bộ kế toán tài chính có trình độ nghiệp vụ, có kinh nghiệm, năng động sáng tạo là điều kiện tiền đề để công tác quản lý tài chính đi vào nền nếp, tuân thủ các chế độ quy định của Nhà nước về tài chính góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính bệnh viện.
- Mô hình tổ chức và hiệu quả hoạt đ ng của bệnh viện
Ngày nay do đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện nên nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng. Người dân ngày càng có điều kiện quan tâm đến sức khoẻ, bệnh tật của mình hơn. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao và càng đa dạng của nhân dân cũng như để cạnh tranh với các hình thức cung cấp dịch vụ y tế khác đòi hỏi các bệnh viện phải đầu tư các phương tiện hiện đại, kỹ thuật mới, thuốc mới cũng như đầu tư nâng cao tay nghề của đội ngũ cán bộ. Điều này đặt hoạt động quản lý tài chính bệnh viện trước những thử thách mới. Do vậy, việc xác định mô hình tổ chức phù hợp, nâng cao chất lượng hoạt động sẽ tạo cơ sở cho việc quản lý tài chính bệnh viện được tốt.
- Mối quan hệ giữa bệnh viện với khách hàng
Trước hết là mối quan hệ giữa bệnh viện với bệnh nhân. Trước đây, mối quan hệ này là mối quan hệ của người phục vụ với người được phục vụ theo sự phân công có tổ chức của bộ máy Nhà nước. Mối quan hệ giữa thày thuốc và bệnh nhân không có quan hệ kinh tế, tiền bạc. Trong cơ chế, mối quan hệ giữa bệnh viện và bệnh nhân là mối quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ và người trả giá cho các dịch vụ đó. Do vậy, quan hệ tốt với bệnh nhân sẽ tạo được uy tín cho bệnh viện đồng thời cũng giúp cho việc đưa ra chính sách, chiến lược, kế hoạch tác nghiệp và xu hướng phát triển hoạt động bệnh viện trong tương lai.
Cùng với việc xây dựng uy tín trong hoạt động khám chữa bệnh của mình, bệnh viện có thể tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế thông qua các dự án viện trợ không hoàn lại. Hoặc liên doanh, liên kết, mở rộng hợp tác đầu tư trong và ngoài nước.
Ngoài ra các yếu tố khác như quy mô bệnh viện, vị trí địa lý, hệ thống thông tin … cũng có ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính bệnh viện.
1.2.6 Các công cụ của cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
- Thứ nhất: Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước
Bao gồm các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý tài chính của các bệnh viện. Các văn bản pháp luật quy định các điều kiện, chuẩn mực pháp lý cho các hoạt động tài chính ở các bệnh viện. Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước thực hiện theo hướng tạo điều kiện phát huy quyền tự chủ tài chính cho các bệnh viện thì đó sẽ là động lực nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý tài chính của mỗi bệnh viện.
- Thứ hai, Công tác kế hoạch
Công cụ này đóng vai trò rất quan trọng trong quản lý tài chính, nó bảo đảm cho các khoản thu chi tài chính của bệnh viện được đảm bảo. Căn cứ vào quy mô hoạt động, cơ sở vật chất, hoạt động sự nghiệp và hoạt động khác năm báo cáo để có cơ sở dự kiến năm kế hoạch cho các bệnh viện. Dựa vào số liệu chi cho con người, chi quản lý hành chính, chi nghiệp vụ chuyên môn và chi mua sắm, sửa chữa, xây dựng cơ bản của năm báo cáo làm cơ sở dự kiến năm kế hoạch.
- Thứ ba: Quy chế chi tiêu n i b
Công cụ này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý tài chính, nó đảm bảo các khoản thu chi tài chính của các bệnh viện được thực hiện theo quy định. Việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ nhằm quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính. Thông qua quy chế chi tiêu nội bộ sẽ thực hiện quản lý tập trung, thống nhất các nguồn thu, duy trì và khuyến khích mở rộng các nguồn thu, đảm bảo chi tiêu thống nhất trong toàn bệnh viện, thực hiện chi tiêu tiết kiệm và hợp lý.
Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính các bệnh viện công tiến hành xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ làm căn cứ để cán bộ viên chức trong đơn vị thực hiện và kho bạc nhà nước thực hiện kiểm soát chi.
- Thứ tư: Hạch toán, kế toán, kiểm toán
Hạch toán kế toán là một phần không thể thiếu của quản lý tài chính. Để ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các nhà quản lý, đòi hỏi công tác ghi chép, tính toán, phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sử dụng kinh phí của Trường phải kịp thời, chính xác.
Thông qua công tác kiểm toán các bệnh viện có thể kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu chi tài chính, kiểm tra việc giữ gìn và sử dụng tài sản, sử dụng kinh phí, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những hành động tham ô, lãng phí, xâm phạm tài sản, vi phạm các chế độ chính sách, kinh tế của Nhà nước và của các bệnh viện
- Thứ nǎm: Hệ thống thanh tra, kiểm tra
Công cụ này cho phép chủ động ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực về tài chính trong hoạt động thu chi tài chính của các bệnh viện. Đồng thời phát hiện ngăn chặn những hành vi sai trái, tiêu cực trong quản lý tài chính cho nên cần thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra một cách thường xuyên nhằm giúp cho các bệnh viện quản lý và sử dụng các nguồn tài chính một cách chặt chẽ và hiệu quả.
- Thứ sáu: Tổ chức bộ máy quản lý tài chính
Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý. Năng lực cán bộ là yếu tố quyết định trong quản lý nói chung và trong quản lý tài chính nói riêng.
Trình độ quản lý của lãnh đạo bệnh viện tác động rất lớn tới cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện. Giám đốc là người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, quyết định việc xây dựng dự toán thu chi, quy định mức tiền lương, thu nhập tăng thêm, phúc lợi và trích lập quỹ của bệnh viện.
Đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác tài chính kế toán cũng đòi hỏi phải có năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm công tác để đưa công tác quản lý tài chính kế toán của bệnh viện ngày càng đi vào nề nếp, tuân thủ các chế độ quy định về tài chính kế toán của nhà nước góp phần vào hiệu quả hoạt động chung của bệnh viện.
1.3. Kinh nghiệm thực hiện cơ chế quản lý tài chính tại một số bệnh viện công lập trong nước
1.3.1. Thực hiện cơ chế quản lý tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
Tình hình chung: Bệnh viện Bạch Mai được thành lập năm 1991, là BVĐK đặc biệt, ĐVSN y tế có thu trực thuộc Bộ Y tế. Ngày 31 tháng 01 năm 2007 Bộ trưởng ộ y tế ký quyết định số 384/QĐ-BYT Ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của Bệnh viện Bạch Mai.
Tình hình hoạt động: Năm 2010 Được Bộ y tế giao 1900 giường kế hoạch trong đó có 500 giường XHH. Bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải trầm trọng với công suất sử dụng giường bệnh thường xuyên ở mức gần 200%. Thực trạng này dẫn đến quá tải trong sử dụng máy móc trang thiết bị.
Triển khai thực hiện cơ chế quản lý tài chính:
Ngày 26/12/2006 Bộ trưởng Bộ y tế ký Quyết định số 5550/QĐ-BYT về giao quyền TCTC cho Bệnh viện Bạch Mai từ 01/01/2007. Giám đốc Bệnh viện đã ký quyết định số 251/QĐ-BM ngày 22/05/2007 về việc thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, phổ biến Nghị định cho toàn thể cán bộ công nhân viên, phân công các phòng chức năng, đơn vị xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện, đặc biệt nêu cao vai trò thủ trưởng của các đơn vị trong quản lý tài chính, vật tư trang thiết bị theo các quy định của nhà nước và của Bộ y tế.
Bệnh viện đã áp dụng chính sách XHH y tế trong đầu tư trang thiết bị phục vụ chẩn đoán và điều trị hiện đại như: CT-Scanner, CT 64 dãy, máy chụp cộng hưởng từ, máy xạ phẫu Gamma knife quay, Gia tốc tuyến tính, Spect… các thiết bị này đang được sử dụng rất hiệu quả.
Từ 01/07/2007 đến nay Bệnh viện đã giao quyền TCTC đến tất cả các đơn vị có thu.
Kết quả thực hiện:
Giảm thất thoát chi phí thuốc, máu, dịch truyền, vật tư tiêu hao,… xuống mức thấp nhất, các đơn vị hạch toán đầy đủ, đúng chi phí đã sử dụng (trước đây tỷ lệ thất thoát thuốc, dịch khoảng 2% tương đương 300 tỷ x 2% = 6 tỷ VNĐ)
Tiết kiệm chi phí hành chính, văn phòng phẩm, tiêu hao nguyên nhiên liệu, điện, nước…v.v.
Bước đầu có tích luỹ; Năm 2005 Bệnh viện bị thiếu nguồn là 15 tỷ vnđ (Theo kết quả kiểm toán nhà nước năm 2005). Sau 5 năm thực hiện TCTC bệnh viện đã bù đắp được nguồn thiếu hụt và trích lập quỹ đầu tư phát triển sự nghiệp (năm 2010 hơn 29 tỷ VNĐ; Năm 2011 hơn 34 tỷ VNĐ), phục vụ nâng cấp máy móc trang thiết bị y tế theo hướng chuyên sâu, phù hợp với tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật (Bệnh viện Bạch Mai, 2011)
Đánh giá chung việc thực hiện cơ chế quản lý tài chính
- Việc giao quyền tự chủ cho các ĐVSN có thu là một chủ trương đúng đắn, nước ta đã thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế do vậy việc phát triển các dịch vụ kỹ thuật cao để người dân không phải ra nước ngoài điều trị.
- Từ năm 1986 Nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường đời sống người dân ngày càng được cải thiện do đó nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân ngày càng cao.
- Nhà nước với nguồn NS hạn hẹp chưa đủ tiềm lực kinh tế để cung cấp và phát triển các dịch vụ kỹ thuật cao. Chủ trương XHH đã giúp người dân tiếp cận các loại hình này ngay trong các bệnh viện công lập.
- Sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đầu vào; phát triển kỹ thuật mới, nâng cao năng lực đào tạo, cải thiện đáng kể đời sống người lao động…
1.3.2.Thực hiện cơ chế quản lý tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông
Trước ngày 01 tháng 08 năm 2008 là BVĐK tỉnh Hà Tây – BVĐK hạng II với quy mô 400 giường bệnh, tuyến điều trị cao nhất của tỉnh trên 2,6 triệu dân, từ ngày 01 tháng 08 năm 2008 đến nay chính thức đổi tên là BVĐK Hà Đông là bệnh viện hạng I, tuyến thành phố trực thuộc Sở y tế Hà Nội. Năm 2010 được quyết định là bệnh viện vệ tinh của bệnh viện Bạch Mai bệnh viện hiện có quy mô 550 giường kế hoạch, thực kê 600 giường.
Bệnh viện có 35 khoa, phòng, Ban Cán bộ công nhân viên; 577 (Theo định biên Bộ y tế; 660 cán bộ) trong đó cán bộ có trình độ đại học và sau đại học 130. Đội ngũ cán bộ chuyên môn còn thiếu, đặc biệt là đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên sâu.
Cơ sở vật chất còn khó khăn: Bệnh viện nằm sát các cơ sở y tế lớn nên chịu nhiều sức ép lớn về sự lựa chọn của người bệnh.
Nghị Định số 16/2015/NĐ-CP đã làm thay đổi cơ bản về chất, tháo gỡ nhiều khó khăn cho các Bệnh viện trong đó có BVĐK Hà Đông, tuy nhiên sau hơn 10 năm thực hiện, cũng bộc lộ những hạn chế cần khắc phục, thực tế cho thấy muốn phát triển bệnh viện cần có đủ 3 yếu tố chính: Nguồn nhân lực – Cơ sở vật chất – Một cơ chế chính sách phù hợp.
Trước khi có Nghị định 16/2015/NĐ-CP nguồn nhân lực thiếu và mất cân đối (thiếu đội ngũ cán bộ chuyên môn, lao động đơn giản nhiều và kém hiệu quả).
Khi triển khai tự chủ, cơ cấu cán bộ đã được điều chỉnh các dịch vụ chuyên môn được đa dạng hoá, XHH mang lại hiệu quả tốt hơn, đội ngũ cán bộ chuyên môn được chú trọng phát triển về số lượng và chất lượng:
Số lượng: tuyển dụng mới, hợp đồng với cán bộ hưu
Chất lượng: Nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ qua nhiều hình thức như; Đào tạo nâng cao bằng cấp, đào tạo nâng cao kỹ thuật, Tập huấn các lớp ngắn ngày, chuyển giao kỹ thuật tại bệnh viện (Hội chẩn trực tiếp, hội chẩn trực tuyến, phẫu thuật thủ thuật cầm tay chỉ việc)
Kết quả hàng năm trên 50 cán bộ đi học nâng cao trình độ chuyên môn và học vị, cán bộ trước chỉ có 8 Bác sỹ chuyên II và tiến sĩ nay gần 40 bác sỹ CKII và tiến sĩ, 22 bác sỹ đào tạo nâng cao, 112 cán bộ tham dự tập huấn…
Đã triển khai nhiều kỹ thuật mang tính chuyên sâu như: phẫu thuật về tiêu hoá, tiết niệu, thần kinh lồng ngực, chấn thương chỉnh hình .
1.3.3. Bài học kinh nghiệm về thực hiện cơ chế quản lý tài chính cho các bệnh viện công lập trên địa bàn tỉnh Hòa Bình ( Luận văn: Cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện )
Hòa Bình là một tỉnh miền núi phía bắc, tiếp giáp với thủ đô, nằm trên vị trí chiến lược quan trọng về phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội.
Ngay từ khi có Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho ĐVSN có thu ngành y tế Hòa Bình đã được chọn một số đơn vị thí điểm và đã đạt được những thành tựu nhất định, cho tới khi có Nghị định 43/2006/NĐ-CP thì các cơ sở y tế trong ngành đủ điều kiện đã thực hiện tự chủ Tài chính,tiếp theo là nghị định 16/2015/NĐ-CP với thời gian hơn 10 năm thực hiện cơ chế quản lý tài chính mới đến nay đã chứng tỏ được tính đúng đắn của chủ trương và các đơn vị ngày càng phát huy được vai trò của mình trong cơ chế tự chủ. Để hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, ngành Y tế Hòa Bình cần phải:
- Nâng cao năng lực của đội ngũ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ làm công tác tài chính trong Bệnh viện.
- Tham mưu xây dựng cơ chế chính sách, xây dựng khung giá viện phí sao cho phù hợp với tình hình thực tế
- Có phương án xây dựng khung quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế dân chủ sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của từng địa phương.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đánh giá thực trạng thực hiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viên công trên địa bàn tỉnh từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính phù hợp đối với từng đơn vị.
Tóm tắt chương 1
Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập là một bộ phận của nền kinh tế và có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế. Trong thời gian qua, các đơn vị sự nghiệp công đã có nhiều đóng góp cho sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Quản lý tài chính Bệnh viện công là một nội dung của chính sách kinh tế- tài chính công. Chính sách quản lý tài chính ở Bệnh viện do Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trương với trọng tâm là sử dụng các nguồn lực đầu tư cho ngành y tế một cách hiệu quả nhất để cung cấp các dịch vụ y tế một cách chất lượng và công bằng. Nó được thể hiện qua hai mặt: Tính hiệu quả, và tính công bằng.
Bệnh viện công thực hiện hầu hết các dịch vụ y tế đối với dân cư trên các địa bàn. Bệnh viện công giữ vai trò chủ đạo trong công tác khám chữa bệnh, đáp ứng phần lớn dịch vụ y tế cho người dân, đảm bảo sức khỏe cơ bản cho người dân. Góp phần đảm bảo mục tiêu phát triển quốc gia về con người.
Bệnh viện công luôn là một tổ chức đứng đầu trong hệ thống ngành y tế về cung cấp dịch vụ y tế mang tính chất phúc lợi xã hội. Đảm bảo cho người dân đều được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe tốt nhất với chi phí hợp lý, và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đặc biệt, cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay, sự phân hóa giữa các tầng lớp thu nhập ngày càng tăng. Các tổ chức y tế ngoài công lập đều hoạt động vì mục đích lợi nhuận, thì vai trò của tuyến công lập càng được coi trọng để đảm bảo tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe với nhiều đối tượng người dân trong xã hội.
Quản lý tài chính tại các Bệnh viện công cần được thực hiện đầy đủ, chính xác. Bất kể là các nước trên thế giới hay ở nước ta, hệ thống lý thuyết về quản lý tài chính tại các bệnh viện công không còn xa lạ nữa. Tuy nhiên, hiện nay, mỗi quốc gia lại có những cách áp dụng vào thực tế khác nhau để phù hợp với tình hình thực tế cũng như trình độ quản lý của mình. Do vậy, các phương pháp và hình thức quản lý tài chính cũng rất phong phú và đa dạng.
Để cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước, trong thời gian qua, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm đưa hoạt động quản lý tài chính tại các bệnh viện công được thực hiện một cách chuyên nghiệp, hiện đại. Ở chương này, luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị sự nghiệp công lập có thu; về bệnh viện công lập; vai trò, nhiệm vụ, cơ chế quản lý tài chính đối với bệnh viện công lập các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính bệnh viện, các công cụ quản lý tài chính bệnh viện, những thay đổi trong cơ chế quản lý tài chính bệnh viện; cơ sở thực tiễn và kinh nghiệm trong quản lý tài chính đối với bệnh viện công ở nước ta.
Nội dung nghiên cứu chương 1 là cơ sở cho quá trình phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện cơ chế quản lý tài chính trong các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Hòa Bình hiện nay sẽ được nghiên cứu ở chương 2.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Thực trạng cơ chế hoạt động quản lý tài chính tại bệnh viện

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
