Mở cửa hội nhập và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, nhận biết được tầm quan trọng tác giả đã lấy Đề tài Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước làm bài luận văn tốt nghiệp. Để tiếp tục sự nghiệp đổi mới, nước ta cần phải phát huy tối đa các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực… Trong đó, cùng với các yếu tố vốn và khoa học – công nghệ thì nguồn nhân lực giữ vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của sự nghiệp đổi mới và phát triển của đất nước. Dưới đây là Đề tài Thạc sĩ: Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức chính quyền cấp xã tại thành phố Huế mời các bạn đọc giả cảm nhận!
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang tiếp tục thực hiện công cuộc CCHC nhà nước với mục đích xây dựng nền HCNN chuyên nghiệp, trong sạch, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu của người dân và xã hội. Một trong những mục tiêu trọng tâm của chương trình CCHC nhà nước là xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC từ Trung ương đến cơ sở có đủ năng lực trình độ và các phẩm chất đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
CBCC là nhân tố con người trong các cơ quan, tổ chức nhà nước. Nhân tố con người đã và luôn được xem là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Nhiều chủ trương, chính sách về vấn đề CBCC đã được ban hành như: Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26 tháng 02 năm 1998; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 28 tháng 4 năm 2000; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003 và gần đây, ngày 13 tháng 11 năm 2008, tại Kỳ họp thứ 4 (Quốc hội Khóa XII), Luật cán bộ, công chức đã được thông qua nhằm củng cố, đổi mới, phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ này đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước.
ĐTBD CBCC là một trong những yếu tố quyết định để xây dựng đội ngũ CBCC có phẩm chất tốt, chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, trong đó có đội ngũ công chức chính quyền cấp xã.
Đội ngũ công chức chính quyền cấp xã, phường có vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện thành công các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng an ninh. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã, phường được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ công chức cơ sở. Công chức cấp xã, phường có vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân đồng thời trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Với vai trò quan trọng đó, việc xây dựng đội ngũ công chức cấp xã, phường vững vàng về chính trị, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ được giao luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Đảng ta xác định đầu tư xây dựng đội ngũ công chức cơ sở có phẩm chất, đạo đức và năng lực ngang tầm sự nghiệp đổi mới mang ý nghĩa như sự đầu tư cho hạ tầng cơ sở trong công tác cán bộ.
Trong những năm qua chính quyền thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã quan tâm xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn thành phố. Công tác bồi dưỡng công chức, nhất là bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nhà nước cho đội ngũ công chức chính quyền cấp xã đã đạt được những kết quả bước đầu, góp phần xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã có chất lượng. Tuy đã đạt được những kết quả bước đầu, nhưng công tác này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Nội dung chương trình và phương pháp bồi dưỡng chưa phù hợp với đối tượng người học; cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên vừa yếu lại vừa thiếu; việc bố trí, sử dụng công chức cấp xã sau các khóa bồi dưỡng chưa có tác dụng khuyến khích, động viên những người tham gia các khóa học.
Để góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã, phường trên địa bàn Thành phố trong những năm tới, học viên chọn đề tài “Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức chính quyền cấp xã tại thành phố Huế” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
ĐTBD CBCC là chủ đề nghiên cứu của khá nhiều đề tài của các cơ quan trung ương như Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ, Học viện Hành chính Quốc gia,… từ nhiều năm nay. Một số đề tài khoa học, luận án, luận văn đã tập trung vào nghiên cứu công tác ĐTBD cán bộ, công chức.
– Các nghiên cứu về ĐTBD CBCCVC nói chung:
Các nghiên cứu về ĐTBD CBCC nói chung trước hết phân tích bản chất, đặc điểm của ĐTBD CBCC. PGS.TS. Lưu Kiếm Thanh trong bài viết Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức một hình thức giáo dục – đào tạo đặc thù và chuyên biệt, Tạp chí QLNN, số 201 (10/2012) cho rằng ĐTBD CBCC có sự khác biệt về đối tượng, mục tiêu, phương thức ĐTBD.
Tác giả Trần Thị Thanh Thuỷ trong bài viết “Triết lý giáo dục và hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ, số 6/2010 cho rằng ĐTBD cán bộ, công chức có ba mục tiêu cơ bản là nâng cao năng lực, phát triển cá nhân và giảm thời gian học tập.
Một số nghiên cứu đi sâu tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐTBD cán bộ, công chức, như cuốn “Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiện nay” do Nguyễn Văn Chỉnh (chủ biên), Nxb. Đà Nẵng, năm 2000; …
Năm 2005, Bộ Nội vụ nghiên cứu Đề tài “Kế hoạch đổi mới chương trình đào tạo trong nền công vụ Việt Nam” (Bob.Boase, CTA.ADB-MHA). Đề tài đề xuất các nội dung và giải pháp nhằm đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong nền công vụ Việt Nam đáp ứng được yêu cầu mở cửa hội nhập.
Học viện Hành chính quốc gia đã có những công trình nghiên cứu về ĐTBD cán bộ, công chức và nêu ra trách nhiệm nặng nề đối với công tác ĐTBD cán bộ, công chức cho Học viện Hành chính quốc gia. ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
Một số nghiên cứu đi sâu đánh giá thực trạng công tác ĐTBD cán bộ, công chức và đặt ra yêu cầu cần đổi mới công tác này như: “Triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng thực hiện luật cán bộ, công chức” của TS. Ngô Thành Can, Tạp chí Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ, số 4/2009; “Đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng tiêu chuẩn công chức hành chính” của TS. Lại Đức Vượng, Tạp chí Tổ chức nhà nước, Bộ Nội Vụ, số 10/2009; …
Một số nghiên cứu về đổi mới ĐTBD cán bộ, công chức đi sâu nghiên cứu các giải pháp đổi mới phương thức ĐTBD. Đề tài “Đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước đáp ứng yêu cầu hội nhập” do PGS.TS. Bùi Đức Kháng làm chủ nhiệm, năm 2007; “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ góc nhìn thực tiễn” của PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải và ThS. Lê Thị Hương, Tạp chí QLNN, số 115 tháng 11/2008…
Một số nghiên cứu tập trung vào đổi mới phương thức đánh giá kết quả ĐTBD cán bộ, công chức như: “Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức” của TS. Nguyễn Thị Thu Vân, Tạp chí QLNN, số 166 (11/2009); “Đánh giá các khoá đào tạo, bồi dưỡng trách nhiệm của các cơ quan sử dụng lao động” của PGS.TS. Lê Thị Vân Hạnh, Tạp chí QLNN, số 166 (11/2009);
Một số tác giả nghiên cứu kinh nghiệm ĐTBD cán bộ, công chức ở các quốc gia trên thế giới. Tài liệu hội thảo quốc tế “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức – kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” (Dự án ADB, Bộ Nội vụ, Hà Nội – 2005); … Các công trình nghiên cứu này đã khảo cứu kinh nghiệm ĐTBD công chức của một số quốc gia trên thế giới và rút ra những bài học cho công tác ĐTBD cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay.
– Các nghiên cứu về ĐTBD nói chung và bồi dưỡng kiến thức kỹ năng QLNN cho cán bộ, công chức theo vị trí việc làm trong đó có công chức chính quyền cấp xã
ĐTBD cán bộ, công chức theo vị trí việc làm đã bước đầu được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây. Các công trình nghiên cứu đề tài này được thể hiện trong các chương trình, dự án, các đề tài nghiên cứu khoa học và trong các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học.
Dự án ADB về ĐTBD cán bộ, công chức của Bộ Nội vụ đã đưa ra một quy trình đào tạo phù hợp với đào tạo người lớn là CBCC với các bước triển khai ĐTBD như: xác định bản mô tả công việc, xác định những kỹ năng cần thiết cho vị trí công việc, xác định năng lực hiện có của người đang đảm trách công việc, xác định nhu cầu đào tạo và tổ chức đào tạo, đánh giá.
- Nguyễn Thanh Xuân (2006), chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo vị trí chức danh” đã chỉ ra cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đào tạo theo chức danh.
- Nguyễn Ngọc Vân (2008), trong đề tài “Cơ sở khoa học của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính theo nhu cầu công việc” đã đánh giá tầm quan trọng của việc xác định nhu cầu ĐTBD theo yêu cầu công việc và rút ra những nhận xét về sự khác nhau giữa ĐTBD theo tiêu chuẩn ngạch và ĐTBD theo nhu cầu công việc.
Trong thời gian gần đây, ngày càng có nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn ĐTBD cán bộ, công chức theo chức danh và vị trí việc làm. Một số tác giả đã có những bài viết về đào tạo, bồi dưỡng công chức theo vị trí việc làm như: PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải, PGS.TS. Đặng Khắc Ánh, PGS.TS. Văn Tất Thu… đăng trên các tạp chí QLNN, Tổ chức nhà nước…
Một số nghiên cứu đáng chú ý như: ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
- Những vấn đề đặt ra về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo nhu cầu của PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải, Tạp chí Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ, số 11/2008. Sau khi nêu lên các hạn chế và những vấn đề đặt ra trong ĐTBD theo nhu cầu, tác giả bài viết đã đề xuất các giải pháp khắc phục những nhược điểm trong ĐTBD cán bộ, công chức.
- Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm – những khó khăn và kiến nghị của TS. Đặng Khắc Ánh, Tạp chí QLNN, số 193 (2/2012). Trong bài nghiên cứu, tác giả đã trình bày sự cần thiết phải ĐTBD theo vị trí việc làm; ưu điểm và những khó khăn trong ĐTBD theo vị trí việc làm ở Việt
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ góc nhìn chuỗi kết quả và chỉ số đánh giá của ThS. Đoàn Văn Dũng, Tạp chí Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ, số 7/2012. Bài viết chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong đánh giá kết quả ĐTBD cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay và nhấn mạnh cần chuyển hướng mạnh sang ĐTBD theo chuỗi kết quả và chỉ số đánh giá.
- Một số giải pháp bồi dưỡng công chức theo vị trí việc làm của ThS. Nguyễn Tiến Đạo, Tạp chí Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ, số 7/2012. Theo bài viết, để thực hiện tốt công tác bồi dưỡng công chức theo vị trí việc làm cần tiến hành đồng bộ các giải pháp: Xác định đúng đối tượng, xây dựng nội dung chương trình và lựa chọn phương pháp ĐTBD phù hợp; Xây dựng hệ thống tài liệu hỗ trợ, hướng dẫn học viên tự học, tự nghiên cứu; Đa dạng hóa chương trình và nội dung ĐTBD theo hướng chuyên sâu và đổi mới phương pháp giảng dạy, đánh giá kết quả học tập theo hướng thực chất, hiện đại.
Một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ của Học viện Hành chính Quốc gia nghiên cứu về ĐTBD cán bộ, công chức theo hai hướng. Thứ nhất, nghiên cứu lý thuyết về ĐTBD như đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính; ĐTBD cán bộ, công chức trong các ngành khác nhau. Thứ hai, nghiên cứu tập trung vào ĐTBD từng loại công chức khác nhau. Kết quả các nghiên cứu này chưa thật sâu, nhưng đã từng bước đi đến gần với ĐTBD dựa trên năng lực thực thi công vụ theo vị trí việc làm.
Các công trình, đề tài nghiên cứu nêu trên đề cập đến những vấn đề lý luận về ĐTBD cán bộ, công chức cấp xã, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh và nâng cao chất lượng ĐTBD cán bộ công chức cấp xã đáp ứng đòi hỏi của thời kỳ CNH – HĐH đất nước. Tuy nhiên, những công trình, bài viết này đề cập những vấn đề chung về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã; Phạm vi, đối tượng đề cập của các công trình, bài viết nghiên cứu đối với đội ngũ cán bộ, công chức hoặc chung, hoặc cụ thể một tỉnh, huyện. Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước cho công chức chính quyền cấp xã riêng cho thành phố Huế. Đề tài “Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng quản lý nhà nước cho công chức chính quyền cấp xã tại thành phố Huế” không trùng lắp với các công trình đã được công bố.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
3.1. Mục tiêu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức, đánh giá thực trạng công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức cấp xã trên địa bàn Thành phố Huế, từ đó tác giả đề xuất định hướng và các giải pháp nâng cao chất lượng của công tác này trên địa bàn Thành phố trong những năm tới.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức cấp xã, phường trên địa bàn Thành phố Huế, những kết quả đã đạt được, những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém.
- Đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN công chức cấp xã trên địa bàn Thành phố Huế trong những năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN công chức chính quyền phường trên địa bàn Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài được thực hiện nghiên cứu trên địa bàn Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Về thời gian: Các dữ liệu, thông tin thu thập trong thời gian từ năm 2015 đến năm Một số số liệu khảo sát mới được điều tra trong năm 2019.
- Về Nội dung: Bồi dưỡng công chức phường, không tập trung vào công an phường
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phối hợp hệ thống các phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:
– Phương pháp khảo cứu tài liệu: Hệ thống hóa các khái niệm, luận điểm làm cơ sở cho việc nghiên cứu trong thực tiễn được hình thành thông qua quá trình thu thập kiến thức từ các công trình nghiên cứu và các tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước. Tiến hành nghiên cứu các tài liệu tham khảo bao gồm: Báo cáo số lượng chất lượng cán bộ, công chức các phường từ năm 2015 đến 2018 và một số báo cáo khác có liên quan thông qua Phòng Nội vụ và UBND thành phố Huế. Từ đó có số liệu cần thiết phục vụ việc phân tích, đánh giá thực trạng công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN của công chức phường trên địa bàn thành phố Huế.
– Phương pháp điều tra xã hội học: Thông qua bảng hỏi được sử dụng nhằm làm rõ đánh giá của bản thân công chức chuyên môn đối với hoạt động bồi dưỡng, giúp học viên có thể đánh giá được hoạt động và hiệu quả công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho các chức danh công chức phường làm cơ sở kết luận và đề xuất các giải pháp trong Chương 3 của luận văn này.
Học viên tiến hành phát 150 phiếu điều tra xã hội học về đánh giá hiệu quả, khả năng đáp ứng của công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN công chức phường trên địa bàn thành phố Huế; tổng số phiếu phát ra 150, số phiếu thu về 146 (Mẫu phiếu điều tra ở phần phụ lục).
Thông qua phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê, dữ liệu thứ cấp được chọn lọc, kẻ bảng để rút ra kết luận nghiên cứu. Dữ liệu sơ cấp: Xử lý dữ liệu bằng chương trình Excel đối với phiếu khảo sát và kết quả phỏng vấn được ghi chép, tổng hợp, rút ra các kết luận nghiên cứu.. làm cơ làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức UBND các phường trên địa bàn thành phố Huế.
Bên cạnh các phương pháp chủ yếu trình bày ở trên, luận văn còn sử dụng các phương pháp như hệ thống hóa, tổng hợp, so sánh, suy luận.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, luận văn có sử dụng và kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đã thực hiện trong nước có liên quan để làm sáng tỏ vấn đề mà mục đích nghiên cứu đã đề ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã hệ thống hóa, phân tích và làm rõ một số vấn đề lý luận về bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức chính quyền cấp xã như: đưa ra những yếu tố tác động đến hoạt động bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức chính quyền cấp xã, những yêu cầu khách quan phải nâng cao chất lượng của công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức chính quyền cấp xã trong giai đoạn hiện nay, xây dựng quy trình bồi dưỡng cho công chức chính quyền cấp xã.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
– Luận văn đề xuất một số nhiệm vụ, giải pháp có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý, lãnh đạo ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế trong xây dựng chính sách, kế hoạch chương trình, phân bổ kinh phí nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức chính quyền cấp xã, từ đó nâng cao năng lực và hiệu quả thực thi công vụ của những đối tượng này.
- Những số liệu và kết luận của đề tài góp phần làm rõ thực trạng, những thành và hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức UBND các trên địa bàn thành phố Huế. Từ đó, luận văn đề xuất những giải pháp cụ thể làm cơ sở cho các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền nghiên cứu thực hiện trong thực tế, góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức chính quyền cấp xã trong thời gian tới.
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà lãnh đạo, quản lý, nhà hoạch định chính sách nâng cao chất lượng công chức, đánh giá năng lực, sắp xếp vị trí việc làm tại UBND các phường.
- Kết quả của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn Thành phố Huế và các huyện khác của tỉnh Thừa Thiên Huế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước công chức chính quyền cấp xã.
Chương 2: Thực trạng công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước đối với công chức chính quyền cấp xã tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN cho công chức phường tại thành phố Huế.
Có thể bạn quan tâm:
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC, KỸ NĂNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CHO CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
1.1. Khái quát về chính quyền cấp xã, và công chức chính quyền cấp xã
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm chính quyền cấp xã
- Khái niệm chính quyền cấp xã
Chính quyền cấp xã là bộ máy mang tính quyền lực nhà nước điều hành, quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn cơ sở. Chính quyền cấp xã chỉ bao gồm HĐND và UBND, trong đó “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên”; “UBND do HĐND bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên”.
Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền cuối cùng trong hệ thống hành chính nhà nước 4 cấp ở nước ta, là nền tảng của hệ thống chính trị, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
Chính quyền cấp xã có vai trò rất quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cấp xã là gần dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”. Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã được thể hiện ở những nội dung sau đây:
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tổ chức và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống. Thực tiễn cho thấy ở đâu có hệ thống đường lối, chính sách pháp luật đúng đắn, khoa học nhưng ở đó chính quyền cấp xã hoạt động yếu kém thì đường lối, chính sách, pháp luật chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa phát huy được sức mạnh của mình; ở đâu chính quyền cấp xã hoạt động có hiệu quả thì ở đó đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được thực thi nghiêm minh, chính trị ổn định, kinh tế – xã hội phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng
- Chính quyền cấp xã là cấp quản lý các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn cơ sở. Hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động trong cả bộ máy nhà nước.
- Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền trực tiếp với dân, gần dân, sát dân nhất, là cấp chính quyền giải quyết và chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân, trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân.
- Chính quyền cấp xã là cấp hướng dẫn, giám sát các hoạt động tự quản của nhân dân nhằm tạo điều kiện cho nhân dân phát huy mọi khả năng phát triển kinh tế – xã hội. Đây là nét đặc thù của chính quyền cấp xã, so với các cấp chính quyền khác.
- Chính quyền cấp xã là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; là cấp trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cho nhân dân hiểu và thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật đó và là cấp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân để phản ánh với cấp liên
Thực tế cho thấy, chính quyền nhà nước các cấp Trung ương, tỉnh, Thành phố đều thông qua chính quyền cấp xã để phát huy vai trò quản lý, phát triển xã hội; nếu chính quyền xã không trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả quản lý phát triển xã hội hạn chế, các chính quyền cấp trên khó có thể thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của mình. Với tư cách là “nền tảng của hành chính nhà nước”, chính quyền xã có vững mạnh thì hệ thống chính quyền quốc gia mới thực sự vững mạnh và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.
Qua phân tích ở trên có thể khái niệm: Chính quyền cấp xã bao gồm HĐND và UBND thực hiện quyền lực nhà nước và đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, quyết định và thực hiện những chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng an ninh trên địa bàn theo quy định của Hiến pháp, pháp luật; là tổ chức phát huy tính tự quản của nhân dân.
- Đặc điểm chính quyền cấp xã
Thứ nhất, chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền các cấp của Nhà nước ta (Trung ương, tỉnh, Thành phố, xã); là cấp quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, an ninh quốc phòng ở địa bàn cơ sở.
Thứ hai, chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức và thực hiện đường lối chính trị, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong cuộc sống, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là cấp gần gũi dân nhất, là nơi trực tiếp đáp ứng và giải quyết các yêu cầu chính đáng của nhân dân.
Thứ ba, chính quyền cấp xã gồm HĐND và UBND, mà không có Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước và đại diện cho ý chí, nguyện vọng quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở. UBND là cơ quan chấp hành, cơ quan quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn cơ sở.
Thứ tư, chính quyền cấp xã là nơi phát huy tính tự quản của cộng động dân cư, là nơi trực tiếp vận động và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của công chức chính quyền cấp xã ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
Khái niệm công chức được sử dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Song do có sự khác nhau về lịch sử hình thành, về thể chế chính trị, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước giữa các quốc gia, vì vậy cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm công chức thống nhất. Phạm vi công chức được mỗi quốc gia nhìn nhận, xác định rộng, hẹp khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm của mình.
Khái niệm công chức được quy định tại Điều 4 của Luật cán bộ, công chức năm 2008: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp Thành phố; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
“Công chức cấp xã, là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Như vậy có thế khái niệm công chức phường là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân phường trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Theo Khoản 3 Điều 61 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức cấp xã gồm 07 chức danh sau:
- Trưởng Công an;
- Chỉ huy trưởng Quân sự;
- Văn phòng – thống kê;
- Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã);
- Tài chính – kế toán;
- Tư pháp – hộ tịch;
- Văn hóa – xã hội.
Tham chiếu Nghị định 34/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/01/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, Trưởng công an phường là công an chính quy, không thuộc biên chế công chức phường của thành phố Huế.
Trong đề tài này, học viên chỉ tập trung nghiên cứu các đối tượng công chức phường tại Thành phố Huế, gồm 06 chức danh công chức của 27 phường.
1.2. Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước cho công chức cấp chính quyền cấp xã
1.2.1. Khái niệm, vai trò, mục tiêu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước cho công chức cấp xã
- Khái niệm bồi dưỡng ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
Bồi dưỡng: Là quá trình tác động đến con người làm cho người đó “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”, là quá trình nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách thường xuyên, tăng cường năng lực nói chung trên cơ sở kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo. Bồi dưỡng đảm đương nhiệm vụ cập nhật, trang bị thêm những kiến thức, kỹ năng, thái độ cho công chức để họ thực hiện tốt, hiệu quả hơn nhiệm vụ được giao.
Từ khái niệm trên có thể hiểu: Bồi dưỡng là quá trình trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động, giúp họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định, đáp ứng với yêu cầu phát triển của tổ chức nói riêng và của xã hội nói chung.
Kiến thức: Là sự hiểu biết, nhận thức về lý thuyết, thực tế đối với vấn đề nào đó mà bản thân tiếp nhận được thông qua việc học tập, nghiên cứu
Kiến thức về QLNN: Các kiến thức hiện đại về QLNN như cách tiếp cận mới, thành tựu mới của khoa học quản lý; các văn bản của Đảng và Nhà nước về đường lối, chính sách; các văn bản, chỉ thị mới về QLNN của các cơ quan QLNN từ Trung ương đến cấp cơ sở; các kiến thức về quản lý như tư tưởng quản lý, chức năng, nguyên tắc, nội dung, phương pháp quản lý…
Kỹ năng: Là khả năng vận dụng kiến thức đã có để thực hiện những hoạt động mang tính chuyên môn, nghiệp vụ. Kỹ năng thường được phân ra thành hai loại: Kỹ năng cứng và kỹ năng mềm
Kỹ năng cứng (Kỹ năng nghề nghiệp) là việc vận dụng kiến thức được đúc kết và thực hành mang tính nghiệp vụ, phát triển thành các mức độ cao hơn thông qua việc học tập, điều chỉnh, tự học và thực hành một cách có thệ thống trong thời gian dài.
Kỹ năng mềm (Kỹ năng cơ bản) là những kỹ năng liên quan đến sử dụng ngôn ngữ, tương tác xã hội, không mang tính chuyên môn nhưng là công cụ để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
QLNN Là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội
Kỹ năng QLNN của CBCC chính quyền cấp xã là khả năng vận dụng thành thục, khéo léo những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm vào việc thực thi nhiệm vụ, chức trách được giao trên các lĩnh vực ở địa phương.
- Sự cần thiết của Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN
Đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân
QLNN và là hoạt động khoa học, vừa là hoạt động nghệ thuật, yêu cầu CBCC am hiểu sâu sắc về kiến thức QLNN, vừa vận dụng khéo léo kiến thức đó vào xử lý những công việc cụ thể.
Trong những năm qua, đội ngũ công chức cấp xã đã có nhiều chuyển biến tích cực, hiện đại và chuyên nghiệp hơn. Tuy nhiên, trong điều kiện dân trí, dân chủ hóa ngày một cao, kinh doanh cá thể phát triển đòi hỏi chất lượng dịch vụ công ngày càng cao, yêu cầu minh bạch, nhanh gọn, tiết giảm chi phí… được đặt ra để đơn vị cung ứng dịch vụ công phải đáp ứng. Điều này đặt ra yêu cầu phải bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ công chức thừa hành nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công. ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
Đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại, hiệu quả
Với đặc điểm là cầu nối thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong tiến trình đổi mới của đất nước; trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền cấp xã ngày một tăng, đòi hỏi chính quyền cấp xã phải phải chuyên nghệp, hiện đại và hiệu quả.
Công chức chính quyền cấp xã hàng ngày cọ xát với thực tiễn rất phức tạp, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nên họ cần có tri thức, bản lĩnh và kinh nghiệm. Song họ lại ít được bồi dưỡng về nghiệp vụ và thông tin về chính sách, pháp luật. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm hạn chế năng lực, hiệu quả trong thực thi công vụ của công chức.
Để bù đắp thếu hụt đó, bồi dưỡng thường xuyên là giải pháp tối ưu nhất
Đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính nhà nước
Một trong những nội dung quan trọng trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của chính phủ là nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức, tinh thần, thái độ, hiệu quả công việc; tiến tới xây dựng một nền công vụ chuyên nghệp, minh bạch, trách nhệm, hiệu quả.
Đội ngũ công chức cấp xã phần lớn được tuyển dụng khi kiến thức, kỹ năng QLNN chưa được trang bị đầy đủ. Việc đào tạo trước và sau khi tuyển dụng chủ yếu nhằm đạt chuẩn công chức, tăng lương, chuyển ngạch, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra, do đó cần phải được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN nhằm thực hiện tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ cải cách hành chính mà Đảng và nhà nước đặt ra
- Mục tiêu bồi dưỡng
Từ những nhu cầu bức thiết trong thực thi công vụ của công chức, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến công tác bồi dưỡng công chức nói chung và công chức cấp xã nói riêng. ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ (Nghị quyết số 26-NQ/TW) đã đề ra mục tiêu của công tác bồi dưỡng công chức cấp xã: “Đối với cán bộ chuyên trách cấp xã: 100% có trình độ cao đẳng, đại học và được chuẩn hóa về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công tác”
Theo Nghị định 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, mục tiêu của Bồi dưỡng nhằm “Trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức và hoạt động nghề nghiệp của viên chức, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nước.”
Bồi dưỡng công chức cấp xã là một phần của công tác cán bộ. Bồi dưỡng giúp đội ngũ công chức cấp xã trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng trong thực thi công vụ một cách có trọng tâm.
Như vậy, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung và công chức cấp xã nói riêng chính là việc tổ chức những cơ hội cho công chức học tập, nhằm trang bị kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Qua quá trình bồi dưỡng, công chức chủ động thích nghi nhanh chóng với yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trong bối cảnh mới của đất nước góp phần xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại nhằm phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn. Mặt khác, thông qua bồi dưỡng, công chức sẽ có cơ hội thăng tiến, phát triển, điều này đã giúp tổ chức củng cố đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp có đủ năng lực thực hiện tốt mục tiêu mà tổ chức đề ra.
1.2.2. Các hình thức bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước cho cán bộ công chức
Hình thức bồi dưỡng xuất phát từ đặc điểm của công chức hiện nay, các cơ sở lựa chọn hình thức thích hợp đối với từng ngạch công chức. Hiện nay loại hình đào tạo tổng hợp đang được áp dụng phổ biến, bao gồm các chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo ngạch và vị trí việc làm như:
- Bồi dưỡng ngạch chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp. Nội dung được cụ thể hóa theo từng lĩnh vực, từng vấn đề kinh tế, xã hội, đây là hình thức bồi dưỡng nhằm trang bị, củng cố, cập nhật, nâng cao kiến thức về QLNN, kỹ năng tương ứng, góp phần nâng cao năng lực trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao, nâng cao chỉ số hài lòng của nhân dân đối với công chức và công sở
- Bồi dưỡng theo chức danh và vị trí việc làm. Đây là các lớp bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu, thời gian bồi dưỡng ngắn, dành cho những chức danh công chức như nhau hoặc gần nhau. Các lớp như: QLNN về kinh tế cho các cán bộ thuộc các lĩnh vực quản lý; Quản lý Hành chính nhà nước cho CBCC chính quyền các cấp; …. Chuyên sâu về nội dung và chú trọng vào yêu cầu về kiến thức, kỹ năng mang tính đặc trưng cụ thể, tránh tình trạng đại trà chung Những khóa bồi dưỡng này giúp học viên có điều kiện nâng cao kiến thức và kỹ năng chuyên môn mà thực tế công việc của công chức đòi hỏi nhấn mạnh vào tính thực tiễn và kỹ năng thực thi công vụ, đồng thời có thể giảm bớt thời lượng bài giảng những kiến thức chưa thật cần thiết.
- Bồi dưỡng kỹ năng hành chính. Đây là các loại hình bồi dưỡng kỹ năng cần có của công chức, tập trung vào việc nâng cao hiệu quả công việc như: Kỹ năng giao tiếp và lễ tân hành chính, kỹ năng soạn thảo văn bản, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng về công nghệ thông tin, kỹ năng xử lý xung đột…. ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
Các hình thức bồi dưỡng này có thể tập trung hoặc bán tập trung, tùy theo tính chất và đặc điểm của lọai hình bồi dưỡng. Nội dung bồi dưỡng được cụ thể hoá với vị trí chuyên môn của công chức, phù hợp với đối tượng, thời gian bồi dưỡng.
Ngoài ra, còn nhều hình thức bồi dưỡng khác như:
- Bồi dưỡng tại chổ theo phương thức người có nhiều kinh nghiệm truyền đạt lại cho người chưa có hoặc ít kinh nghiệm tại vị trí việc làm vừa mới bổ nhiệm, luân chuyển hoặc quy hoạch bổ nhiệm, luân chuyển. Đây là phương thức bồi dưỡng phổ biến tại nhiều đơn vị, mang tính thực tế, ít tốn kém mà hiệu quả cao, tính ứng dụng lớn.
- Tự chủ động bồi dưỡng là quá trình công chức tự tìm tòi, học tập, nghiên cứu, đúc rút qua thực tiễn để nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng của bản thân.
- Nhiều hội thảo, tọa đàm theo chuyên đề về cả lý thuyết lẫn trao đổi kinh nghiệm tại đơn vị, từ kiến thức tổng hợp đến kinh nghiệm, kỹ năng chuyên sâu. Từ đó, nhiều kinh nghiệm có ích được trao đổi và áp dụng vào thực tiễn trong thực thi công vụ của công chức.
1.2.3. Quy trình bồi dưỡng bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước cho công chức
- Xác định nhu cầu bồi dưỡng
Xác định nhu cầu là công việc đầu tiên khi tiến hành xây dựng một chương trình bồi dưỡng thích hợp. Để các chương trình bồi dưỡng đem lại hiệu quả thiết thực thì xác định đúng nhu cầu bồi dưỡng là yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng bồi dưỡng.
Xác định nhu cầu bồi dưỡng là xác định khi nào, ở bộ phận nào cần phải bồi dưỡng; bồi dưỡng những kiến thức, kỹ năng gì; cơ cấu, số lượng là bao nhiêu để trên cơ sở đó xây dựng các chương trình bồi dưỡng cho phù hợp. Nhu cầu bồi dưỡng được xác định trên cơ sở so sánh năng lực hiện tại với năng lực cần có của mỗi công chức. Năng lực cần có được quyết định bởi những đòi hỏi của công việc mà CBCC đang đảm nhiệm và sẽ được đảm nhiệm trong tương lai.
Mỗi một cơ quan, tổ chức khi xác định nhu cầu bồi dưỡng cần phải phân tích và tổng hợp các loại nhu cầu sau:
Thứ nhất, nhu cầu của tổ chức. Với mỗi một giai đoạn, thời kỳ, các tổ chức đều đặt ra các mục tiêu phát triển cụ thể và để có thể thực hiện các mục tiêu đó đòi hỏi tổ chức phải chuẩn bị các nguồn lực cần thiết, trong đó nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu. Vì thế, trong từng giai đoạn, mỗi tổ chức đều phải tăng cường hoàn thiện đội ngũ CBCC cả về số lượng và chất lượng đáp ứng được các yêu cầu phát triển của tổ chức. ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
Thứ hai, nhu cầu của công việc. Thông qua đánh giá kết quả thực hiện công việc của công chức, tìm ra sai lệch giữa mục tiêu đã định trước và các kết quả công việc thực tế đạt được, các nguyên nhân dẫn đến sai lệch đó để tìm ra sự chênh lệch về kiến thức, kỹ năng của từng CBCC với yêu cầu của công việc, từ đó xác định nhu cầu bồi dưỡng.
Thứ ba, nhu cầu cá nhân. Mỗi công chức đều có nhu cầu cá nhân về bồi dưỡng để có thể nâng cao trình độ, năng lực bản thân nhằm hoàn thành tốt công việc được giao. Do vậy, khi phân tích để xác định nhu cầu ĐTBD cần phải phân tích nhu cầu của cá nhân.
- Xác định mục tiêu bồi dưỡng
Mục tiêu bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực thi công vụ, góp phần xây dựng đội ngũ công chức thừa hành chuyên nghệp, tận tụy phục vụ nhân dân, đủ năng lực xây dựng nền hành chính hiện đại, nâng cao hiệu quả của bộ máy QLNN.
Để thực hiện việc bồi dưỡng cho công chức chính quyền cấp xã, vai trò của chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, tổ chức thực hiện của cơ quan chủ quản rất quan trọng. Phải luôn đặt ra các mục tiêu cho các chương trình bồi dưỡng của, đó là việc xác định cần bồi dưỡng các nội dung, kiến thức gì và trình độ, kỹ năng học viên phải có được sau các khóa bồi dưỡng. Mục tiêu bồi dưỡng cũng cần phải xác định số lượng học viên, cơ cấu học viên và thời gian cụ thể cho mỗi khóa bồi dưỡng.
- Lựa chọn đối tượng bồi dưỡng
Lựa chọn đối tượng bồi dưỡng là lựa chọn các cán bộ, công chức cụ thể để tham gia các khóa bồi dưỡng. Xác định chính xác đối tượng bồi dưỡng là cơ sở xác định nội dung chương trình và phương pháp bồi dưỡng, nâng cao chất lượng cho mỗi khóa bồi dưỡng. Việc lựa chọn đối tượng bồi dưỡng dựa trên các cơ sở sau:
Thứ nhất, đối tượng được cử đi bồi dưỡng xuất phát từ đòi hỏi của công việc mà người đó đang đảm nhiệm và sẽ đảm nhiệm trong tương lai.
Thứ hai, đối tượng được cử đi bồi dưỡng phải có đủ điều kiện về trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm nhất định để có thể tiếp thu được nội dung của chương trình học đề ra.
Thứ ba, lựa chọn đối tượng đi bồi dưỡng phải dựa trên việc xác định nhu cầu và động cơ của công chức. Đây là động lực quan trọng để học viên đạt được kết quả cao trong quá trình học. ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
Thứ tư, lựa chọn đối tượng bồi dưỡng còn phải căn cứ vào các điều kiện khác của cơ quan như việc bố trí thời gian cho các khóa học phù hợp với các học viên và các chính sách sử dụng sau bồi dưỡng.
- Xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng và lựa chọn phương pháp bồi dưỡng
Nội dung chương trình bồi dưỡng là một hệ thống các môn học, các chuyên đề được đưa vào giảng dạy nhằm cung cấp các kỹ năng, kiến thức, phẩm chất cho các học viên. Việc lựa chọn nội dung chương trình bồi dưỡng phải phù hợp với mục tiêu cụ thể được tổ chức đặt ra cho mỗi khoá học. Đối với các chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước, nội dung bồi dưỡng cơ bản được xác định gồm:
– Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN theo vị trí việc làm: Những kiến thức, kỹ năng về bộ máy hành chính, hệ thống pháp luật, kỹ năng cập nhật và áp dụng pháp luật vào công tác, kỹ năng tuyên truyền, phổ biến pháp luật… nhằm trang bị kiến thức cơ bản về nền kinh tế thị trường và vai trò của Nhà nước trong cơ chế mới. Đối với mỗi chức danh chuyên trách, bên cạnh những bồi dưỡng chung, sẽ có những khoá dưỡng chuyên sâu cho từng vị trí việc làm của công chức. Cụ thể:
+ Công chức là chỉ huy trưởng quân sự xã bồi dưỡng chuyên sâu các nội dung như vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân quân tự vệ làm công tác dân vận…Nội dung, chương trình do Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh quy định. Thời gian bồi dưỡng tối thiểu 05 ngày trong 01 năm.
+ Công chức Văn phòng – Thống kê: Bồi dưỡng về nghiệp vụ văn phòng, nghiệp vụ lưu trữ, kỹ năng giao tiếp, văn hoá công sở, kỹ năng lập kế hoạch…
+ Công chức Tài chính – kế toán: Bồi dưỡng về quản lý tài chính, quản lý ngân sách, chế độ, tiền lương tại xã, phường, thị trấn; Bồi dưỡng nghiệp vụ thuế, nghiệp vụ kế toán…
+ Công chức Tư pháp hộ tịch: Bồi dưỡng các kiến thức chuyên sâu về nhà nước, pháp luật; công tác tư pháp xã, phường, thị trấn; xử lý vi phạm hành chính; Bồi dưỡng về giáo dục pháp luật….
+Công chức Địa chính – Xây dựng – Đô thị và Môi trường: Bồi dưỡng về ngành xây dựng, nông nghiệp, quy hoạch xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng; giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, xây dựng; hội nhâp quốc tế trong nông nghiêp, nông thôn…
+Công chức Văn hoá – Xã hội: Bồi dưỡng kiến thức về quản lý và bảo tồn văn hoá, hoạt động văn hoá, thể thao, lịch; Bồi dưỡng, tập huấn các hoạt động việc làm, dạy nghề, người có công, bảo trợ xã hội, chăm sóc bà mẹ trẻ em, chống tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình, bình đẳng giới…
- Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ nhằm xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi, có khả năng xây dựng, hoạch định, triển khai và tổ chức thực hiện các chính sách của Nhà nước hiệu quả
- Bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học và các kiến thức bổ trợ khác nhằm tăng cường năng lực cho đội ngũ CBCC nhà nước trong quá trình thực hiện công việc.
Trên cơ sở xây dựng nội dung chương trình và đối tượng người học, các cơ sở bồi dưỡng lựa chọn phương pháp đào tạo phù hợp.
- Lựa chọn và đào tạo giảng viên ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
Giảng viên là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự thành công của chương trình bồi dưỡng. Dựa vào yêu cầu của nội dung chương trình bồi dưỡng, đối tượng người học và phương pháp bồi dưỡng đã lựa chọn, các cơ sở thực hiện bồi dưỡng huy động các giảng viên trong hoặc bên ngoài tổ chức. Có thể kết hợp giảng viên thỉnh giảng và những cán bộ công chức có kinh nghiệm lâu năm trong tổ chức. Với cách lựa chọn giảng viên này cho phép học viên tiếp cận được những kiến thức mới đồng thời nội dung chương trình không xa rời thực tiễn tại tổ chức.
Sau khi lựa chọn giảng viên thì đào tạo giảng viên là việc làm cần thiết. Đối với những giảng viên thỉnh giảng cần phải cung cấp cho họ các thông tin để họ có thể nắm vững mục tiêu, cơ cấu, tiến độ của chương trình bồi dưỡng nhằm đảm bảo tính định hướng của chương trình mà tổ chức đã đặt ra. Đối với giảng viên là những CBCC giàu kinh nghiệm trong tổ chức cần đào tạo cho họ về phương pháp sư phạm để có thể truyền đạt kiến thức, kỹ năng cho học viên sao cho hiệu quả.
- Huy động, bố trí kinh phí bồi dưỡng
Chi phí bồi dưỡng quyết định việc lựa chọn các phương án bồi dưỡng. Hoạt động bồi dưỡng đòi hỏi một lượng chi phí không nhỏ, vì vậy cần phải xác định đầy đủ các loại chi phí để có thể đánh giá chính xác về hiệu quả của chương trình bồi dưỡng. Dự trù chi phí bồi dưỡng chính xác là cơ sở để chuẩn bị đầy đủ, kịp thời về tài chính cho chương trình bồi dưỡng được tiến hành thuận lợi. Chi phí bồi dưỡng bao gồm:
Thứ nhất, các chi phí cho việc học: Là các khoản chi phí thực hiện các chính sách cho học viên tham gia khoá học.
Thứ hai, chi phí cho việc giảng dạy: Là các khoản chi trả cho giảng viên, các phương tiện vật chất, kỹ thuật phục vụ cho quá trình giảng dạy.
- Đánh giá chương trình và kết quả bồi dưỡng
Sau khi thực hiện chương trình bồi dưỡng cần phải tiến hành đánh giá hiệu quả của chương trình đó. Việc đánh giá chương trình bồi dưỡng là việc làm cần thiết nhưng thường bị các cơ quan chức năng bỏ qua. Nếu không đánh giá chương trình bồi dưỡng thì không thể xác định được mục tiêu bồi dưỡng có đạt được hay không, đạt được ở mức độ nào, những gì làm được và chưa làm được trong chương trình bồi dưỡng. Đánh giá chương trình bồi dưỡng là cơ sở để đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục hạn chế và xây dựng các chương trình bồi dưỡng sau đó đạt được kết quả tốt hơn.
Chương trình bồi dưỡng có thể được đánh giá qua một số các tiêu chí như: sự thỏa mãn của học viên đối với nội dung chương trình bồi dưỡng, phương pháp dạy của giảng viên, về thời gian, chất lượng cơ sở hạ tầng, tài liệu, về kết quả học tập, kết quả thực hiện công việc của học viên sau các khóa bồi dưỡng…; so sánh chi phí và lợi ích của chương trình bồi dưỡng.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước cho công chức cấp xã
1.3.1. Cơ chế chính sách của Nhà nước ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
Đây là yếu tố quan trọng, tạo nền móng và định hướng cho công tác xây dựng kế hoạch, triển khai đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức.
Thứ nhất, chính sách là phương tiện để thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
Thứ hai, dựa vào văn bản quy phạm pháp luật quy định chính sách đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức để xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng ngành, từng cấp, từng cơ quan về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức.
Thứ ba, dựa vào các văn bản quy định chính sách để xây dựng chiến lược, kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng phù hợp với đặc thù của ngành, địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của ngành đủ về số lượng, nâng cao chất lượng và hợp lý về cơ cấu.
Thứ tư, dựa vào văn bản quy định để kiểm tra, kiểm soát công tác đào tạo và bồi dưỡng, chất lượng và nội dung chương trình cũng như kết quả đạt được của công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức.
1.3.2. Hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cần bảo đảm các tiêu chuẩn tối thiểu của một trường/viện/ trung tâm đào tạo công chức hiện đại, như: khuôn viên rộng rãi, có hội trường, các phòng học, ký túc xá, khu vui chơi giải trí thể thao; trang thiết bị giảng dạy hiện đại; cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm quản lý, phần mềm đào tạo hiện đại và chất lượng; đội ngũ giảng viên đảm bảo về số lượng và đủ năng lực giảng dạy; đội ngũ quản lý đào tạo chuyên nghiệp. ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức là nơi tổ chức thực hiện các khóa đào tạo, bổi dưỡng trang bị, cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng hoạt động công vụ cho công chức Hệ thống các cơ sở ĐTBD có vai trò quan trọng đối với công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức. Điều này được thể hiện thông qua 2 yếu tố sau:
Một là, Năng lực của các cơ sở ĐTBD: Hiệu quả của công tác bồi dưỡng phụ thuộc vào năng lực của các cơ sở ĐTBD. Năng lực của các cơ sở ĐTBD được thể hiện thông qua năng lực của đội ngũ giảng viên, điều kiện hệ thống cơ sở vật chất và các công cụ, phương tiện cần thiết phục vụ cho việc giảng dạy, hệ thống các chương trình, giáo trình… Năng lực của các cơ sở ĐTBD là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng ĐTBD. Vì vậy, để đảm bảo chất lượng bồi dưỡng, các cơ quan, đơn vị cần phải so sánh, lựa chọn những cơ sở ĐTBD có chất lượng, có uy tín, phù hợp với yêu cầu của chương trình bồi dưỡng.
Hai là, Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật: Khoa học kỹ thuật là những phát minh do con người nghiên cứu, sáng tạo ra nhằm phục vụ cho sự phát triển của chính xã hội loài người; là một trong những nguồn lực quan trọng quyết định đến sự phát triển của mọi quốc gia, địa phương; đồng thời cũng là nhân tố đem đến sự thành công của các tổ chức, đơn vị. Chính vì vậy, ngày nay, mọi quốc gia, mọi tổ chức, đơn vị luôn quan tâm đầu tư cho việc nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào mọi mặt của xã hội loài người, trong đó có lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật tác động đến các chương trình bồi dưỡng theo hai hướng:
Một mặt, các cơ sở ĐTBD ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ cho công tác giảng dạy, như đầu tư trang bị hệ thống cơ sở vật chất, phương tiện, công cụ hiện đại phục vụ cho việc giảng dạy, đồng thời trang bị những kiến thức mới, những phương pháp giảng dạy tiến tiến.
Mặt khác, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong thời đại ngày nay cũng là một thách thức lớn đòi hỏi các cơ sở ĐTBD phải xây dựng nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy phù hợp với trình độ phát triển của khoa học công nghệ.
1.3.3. Nguồn tuyển dụng và chất lượng đầu vào của công chức
Nguồn tuyển dụng và chất lượng đầu vào ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ công chức. Nếu tuyển dụng được người đào tạo đúng chuyên ngành sẽ làm cho việc bố trí công chức dễ dàng hơn, việc đánh giá công chức cũng sát với thực tế hơn. Nếu công chức là đối tượng được tuyển mới hoặc luân chuyển từ đơn vị khác về không sát với yêu cầu của vị trí việc làm sẽ là một thách thức cho tổ chức trong công tác bồi dưỡng hay là đào tạo lại.
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, việc tuyển dụng công chức một cách khách quan, đúng tiêu chuẩn có ảnh hưởng đến viêc xây dựng đội ngũ công chức chất lượng cao. Chất lượng tuyển dụng công chức chịu tác động bởi nhiều yếu tố:
- Mặt bằng dân trí: Địa phương nào có mặt bằng dân trí cao thì ở đó có nguồn tuyển dụng công chức có trình độ cao và ngược lại.
- Quy trình tuyển dụng: Chất lượng công chức chịu ảnh hưởng từ quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm công chức. Nếu công tác tuyển dụng, bổ nhiệm đúng quy định, lựa chọn được những công chức đủ tiêu chuẩn chức danh thì sẽ có một đội ngũ công chức có trình độ chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được
Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của tổ chức, đơn vị bị ảnh hưởng bởi chất lượng của nguồn tuyển dụng. Đồng thời, nội dung, chương trình, số lượng, thời gian, kinh phí bồi dưỡng cũng bị ảnh hưởng bởi chất lượng của nguồn tuyển dụng đầu vào.
1.3.4. Nhân tố thuộc về đối tượng được bồi dưỡng ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
- Người học là đối tượng thụ hưởng của công tác bồi dưỡng, các hoạt động bồi dưỡng phải lấy người học làm trung tâm. Đồng thời người học cũng là nhân tố tác động trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng. Do đó, khi xây dựng chương trình bồi dưỡng cần quan tâm đến trình độ chuyên môn, vị trí việc làm, độ tuổi, giới tính, nhu cầu của người học
- Trình độ của đối tượng được bồi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp thu các nội dung, kiến thức, kỹ năng của chương trình bồi dưỡng. Nếu công chức có trình độ chuyên môn cao sẽ dễ dàng tiếp cận, vận dụng những kiến thức, kỹ năng được bồi dưỡng vào công việc chuyên môn của bản thân, vị trí mà mình đang công tác. Nếu công chức là những người lớn tuổi, có trình độ chuyên môn thấp sẽ khó khăn trong việc vận dụng những kiến thức kỹ năng được bồi dưỡng đó vào thực tế công việc
- Ý chí của người học tác động lớn đến hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng. Khi công chức có nhu cầu được nâng cao kiến thức, kỹ năng, năng lực của bản thân và hiệu quả xử lý công việc thì bồi dưỡng chính là giải pháp cho nhu cầu của họ, lúc đó họ có ý thức tự giác, tích cực và chủ động trong học tập, từ đó hoạt động bồi dưỡng được tiến hành thuận lợi và hiệu quả sẽ cao hơn. Nếu công chức làm việc thụ động, có tâm lý chán nản, không tích cực trong học tập và nghiên cứu thì hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng bị giảm.
1.3.5. Khung năng lực vị trí việc làm của chính quyền cấp xã
Khung năng lực là công cụ mô tả xác định các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành vi, khả năng và các đặc điểm cá nhân khác để thực hiện các nhiệm vụ trong một vị trí, một công việc hay một ngành nghề. Điều 7 của Thông tư số 05/2013/TT-BNV ngày 25/6/2013 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính phủ về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức ghi rõ: “Khung năng lực của từng vị trí việc làm được xây dựng gồm các năng lực và kỹ năng phải có để hoàn thành các công việc, các hoạt động nêu tại Bản mô tả công việc ứng với từng vị trí việc làm”.
Theo Pastor và Bresard, “khung năng lực phản ánh toàn bộ năng lực mà một cá nhân cần có để đảm nhiệm một vị trí việc làm hay một công cụ nào đó”. Như vậy, khung năng lực là công cụ hiệu quả trong quản lý và phát triển nguồn nhân lực. Đặc biệt, nó được sử dụng nhiều trong việc tuyển dụng, bố trí, đánh giá chất lượng nguồn nhân lực để định hướng, xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức chính xác, đảm bảo đúng đối tượng, đúng nội dung chương trình, đáp ứng yêu cầu công việc, yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính và cải cách công vụ.
1.3.6. Chất lượng của đội ngũ giảng viên ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
Giảng viên là đối tượng trực tiếp thực hiện hoạt động bồi dưỡng, thông qua các bài giảng, giảng viên đưa nội dung chương trình bồi dưỡng, kiến thức, kỹ năng đến đối tượng thụ hưởng là người học. Do đó chất lượng bồi dưỡng phụ thuộc rất lớn đến chất lượng đội ngũ giảng viên.
Bên cạnh trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm đạt chuẩn, giảng viên phải có kinh nghiệm thực tiễn đối với lĩnh vực mà mình tham gia giảng dạy mới có thể truyền thụ, hướng dẫn, rèn luyện người học, chỉ có vậy công tác bồi dưỡng mới thu được kết quả mong muốn.
1.3.7. Kinh phí cho hoạt động bồi dưỡng
- Việc tổ chức các khoá bồi dưỡng phụ thuộc lớn vào ngân sách của địa phương. Nếu địa phương có nguồn ngân sách cho công tác bồi dưỡng lớn thì hoạt động bồi dưỡng cho công chức của địa phương diễn ra thường xuyên, liên tục, chất lượng và số lượng bồi dưỡng tăng lên. Nếu địa phương có nguồn ngân sách dành cho công tác bồi dưỡng hạn chế, thì nhu cầu bồi dưỡng công chức của địa phương không được đảm bảo
- Sử dụng và quản lý ngân sách dành cho đào tạo, bồi dưỡng tốt sẽ có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưõng. Nguồn kinh phí được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng cần đào tạo, bồi dưỡng sẽ đem lại kết quả cho tổ chức cũng như cá nhân cống chức. Ngược lại, nếu nguồn ngân sách được sử dụng sai mục đích, lãng phí không những vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý đào tạo, bồi dưỡng công chức mà còn ảnh hưởng tới quyền lợi chính đáng của công chức về nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng.
1.3.8. Công tác quản lý công chức
Công tác quản lý công chức cấp xã tác động nhiều đến hoạt động bồi dưỡng cho đối tượng này.
Thực tế ở nhiều nơi cho thấy, năng lực quản lý kém dẫn đến việc sử dụng nguồn nhân lực không hợp lý, kém hệu quả. Việc bổ nhiệm, luân chuyển công chức không phù hợp với vị trí đảm nhận dẫn đến công chức phải đào tạo, bồi dưỡng nhiều lần nhưng hiệu quả không cao.
Công tác quản lý yếu kém, đẫn đến động lực phấn đấu, rèn luyện nâng cao năng lực của công chức không được khơi gợi, không có nỗ lực phát huy năng lực bản thân, không có hứng thú học tập nâng cao hiệu quả công việc.
Chế độ chính sách về hoạt động bồi dưỡng nắm bắt hạn chế, thiếu kiên quyết ảnh hưởng đến quyền lợi của công chức, hoạt động bồi dưỡng khó được triển khai sâu rộng.
1.3.9. Truyền thống văn hoá địa phương ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
Truyền thống văn hoá địa phương được kết tinh từ nhiều yếu tố, đó là những phong tục, tập quán, giá trị, nềm tin …. trở thành truyền thống tốt đẹp của cộng đồng, địa phương, đặc biệt là truyền thống hiếu học.
Thực tế cho thấy, ở đâu cố truyền thống hiếu học, nơi đó có mặt bằng dân trí và nguồn nhân lực có trình độ cao. Ngược lại, nơi đâu có truyền thống văn hoá lạc hậu, chậm đổi mới, không chủ động tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại thì chất lượng nguồn nhân lực ở đó bị thụt lùi so với những địa phương khác..
Những điều này tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động bồi dưỡng công chức của mỗi địa phương.
1.3.10. Tình hình trong nước và bối cảnh quốc tế
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế xã hội của đất nước đòi hỏi công chức phải có kiến thức về hội nhập quốc tế, trang bị kiến thức, kỹ năng về tin học, ngoai ngữ, công nghệ đáp ứng yêu cầu của tổ chức và vị trí việc làm của công chức.
Trên cơ sở chuyển biến về nhu cầu của xã hội, nhu cầu của công chức, xu thế hội nhập và phát trển của đất nước, hoạt động bồi dưỡng phải có sự điều chỉnh, tiếp cận với chiến lược, kế hoạch bồi dưỡng và phát triển công chức của các nước tiên tiến, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa tri thức của nhân loại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành chính công. Qua đó, đội ngũ công chức trưởng thành nhanh chóng, hội nhập với khu vực và thế giới, nâng cao chất lượng công tác hoạch định, xây dựng chính sách phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, nhà nước và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
1.4. Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của một số địa phương ở Việt Nam
1.4.1. Kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
- Tỉnh Quảng Ninh
Tổng số CBCC cấp xã của tỉnh Quảng Ninh là: 4.320 người. Trong những năm qua, công tác ĐTBD cán bộ, công chức luôn được cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp quan tâm, tạo mọi điều kiện nhằm từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã. Trong 5 năm qua, tỉnh Quảng Ninh đã mở được 1.235 lớp ĐTBD cho 78.387 lượt CBCC trong hệ thống chính trị ở cơ sở. Chính quyền tỉnh rất chú trọng đến hình thức ĐTBD theo chức danh và vị trí việc làm nên sau các khóa ĐTBD, trình độ, năng lực của đội ngũ CBCC cấp xã trong tỉnh đều được nâng lên. Kết quả ĐTBD cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Quảng Ninh đạt được tính đến nay như sau:
- Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Đại học 349 người, chiếm 8,07%; Cao đẳng 221 người, chiếm 5,11%; Trung cấp 1.919 người, chiếm 44,42%; Sơ cấp 642 người, chiếm 14,86%; chưa qua đào tạo 188 người, chiếm 27,5%.
- Về trình độ lý luận chính trị: Cao cấp 12 người, chiếm 0,27%; Trung cấp 1.591 người, chiếm 36,82%; Sơ cấp 565 người, chiếm 13,07%; chưa qua đào tạo 152 người, chiếm 49,81%.
Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận CBCC cấp xã hạn chế, yếu kém về trình độ, năng lực, tỷ lệ CBCC cấp xã chưa đạt tiêu chuẩn theo chức danh, chức vụ còn cao. Còn 3.581 người (chiếm 82,89%) chưa qua đào tạo về quản lý Hành chính nhà nước; 1.188 người (chiếm 27,5%) chưa qua đào tạo về chuyên môn. Tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ tham gia các khóa ĐTBD còn thấp.
Để tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã trong thời gian tới, ngày 13 tháng 2 năm 2012, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã ban hành Nghị quyết số 37-NQ/TU về xây dựng đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Theo đó phải nâng cao chất lượng ĐTBD cán bộ, công chức theo hướng chuẩn hoá gắn với quy hoạch; ĐTBD theo vị trí việc làm, thực hiện tốt công tác tạo nguồn, bồi dưỡng cán bộ tại chỗ, đào tạo theo chức danh.
Tiếp tục đào tạo và đào tạo lại cán bộ ở trong tỉnh đảm bảo chuẩn hoá chức danh, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, QLNN; Cán bộ nguồn được tuyển chọn phải là người còn trẻ, trong độ tuổi để có thể cử đi bồi dưỡng chuẩn bị thay thế các chức vụ lãnh đạo, quản lý trong tương lai. Bồi dưỡng công chức cấp xã theo hướng kết hợp lý luận gắn với thực tiễn, tăng cường bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn cho từng chức danh công chức theo hướng thiết thực, hiệu quả chất lượng.
- Thành phố Đà Nẵng
Đội ngũ CBCC của Thành phố Đà Nẵng ngày càng được tăng cường, bổ sung, nhất là đội ngũ CBCC trẻ được đào tạo căn bản, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC và đạt được một số kết quả quan trọng như sau:
- Hàng năm CBCCVC trong thành phố được cử đi ĐTBD từ 500 – 4.000 lượt người, chiếm 25 – 30% so với tổng số CBCCVC hiện có, tăng 5-10% so với quy định. Đối tượng được cử đi ĐTBD ngày càng mở rộng cho cả những người hoạt động không chuyên trách ở phường, tổ dân phố.
- Cùng với việc tăng dần số lượng, chất lượng ĐTBD cũng được nâng lên; nội dung, chương trình ĐTBD được triển khai sát với thực tế, trong đó chú trọng bồi dưỡng kỹ năng thực thi công vụ và theo vị trí việc làm. ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
- Nội dung, chương trình bồi dưỡng tổ chức theo tiêu chuẩn nghiệp vụ công chức và tập trung theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu. Điều này thể hiện ở chỗ là mỗi chức danh, vị trí việc làm được bồi dưỡng những kiến thức và kỹ năng phù hợp, thiết thực với công việc đang đảm nhận.
- Giảng viên được mời tham gia giảng dạy là những người có kiến thức sâu, rộng, có nhiều kinh nghiệm trong thực tế; cung cấp cho người học những thông tin, kiến thức thiết thực. Ngoài ra, các cơ sở ĐTBD còn mời lãnh đạo các cơ quan, đơn vị hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành cho CBCC theo từng vị trí việc làm.
Hình thức ĐTBD luôn kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, chia tổ nhóm thảo luận, làm bài tập tình huống; minh họa quy trình, thao tác thực thi nhiệm vụ bằng hình ảnh trình chiếu video clip, hướng dẫn nghiệp vụ theo hình thức “cầm tay, chỉ việc”. Đối với các lớp tập huấn lập hồ sơ công việc, kỹ năng soạn thảo văn bản, sau khi nghiên cứu lý thuyết, cần tổ chức thực hành thông qua hội thi, đợt
- Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị, trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, công tác ĐTBD cán bộ, công chức đã được Thành ủy, chính quyền Thành phố quan tâm đầu tư phát triển, đạt được nhiều kết quả cao.
Ngày 10/7/2002, Thành ủy ban hành Quyết định số 375-QĐ/TU quy định chính sách đối với cán bộ được luân chuyển theo quy hoạch. Trong đó đã tạo điều kiện về nhà ở công vụ, bảo lưu lương khi công chức được chuyển đến nơi có mức lương thấp hơn; được hưởng nguyên lương trong thời gian được cử đi đào tạo ở trong và ngoài nước, đài thọ 100% kinh phí đào tạo, trợ cấp thêm từ 500.000 đồng – 700.000 đồng/tháng nếu đào tạo tập trung tại Hà Nội và từ 50 USD đến 60 USD nếu đào tạo ở nước ngoài, được hưởng 5.000.000 đồng sau khi bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ và 10.000.000 đồng sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sỹ.
Thành ủy có Thông báo số 525-TB/TU ngày 03/12/2003 về biên chế, tiền lương của cán bộ, công chức được cử đi học tập trung dài hạn, theo đó công chức được cử đi học tập trung dài hạn được chuyển biên chế dự trữ không làm ảnh hưởng đến biên chế và tiền lương của công chức đang làm việc, thời gian công chức đi học vẫn được xét nâng lương và thành tích học tập được coi là một nhiệm vụ công tác.
Ngày 05/8/2005, UBND Thành phố đã ban hành Quyết định số 140/2005/QĐ-UBND về chính sách khuyến khích người có trình độ đại học đang công tác tại xã, phường, thị trấn. Theo đó ưu tiên tuyển dụng nếu đủ điều kiện thích ứng với công việc, hỗ trợ thêm 400.000 đồng đến 800.000 đồng/tháng theo hình thức đào tạo chính quy, tại chức ở phường, xã, thị trấn.
Có thể nói rằng, cùng với chính sách khuyến khích trong ĐTBD cán bộ công chức cấp xã, Thành phố Hồ Chí Minh đã khuyến khích đội ngũ CBCC cấp xã tích cực học tập, nâng cao trình độ công tác, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong tình hình mới.
1.4.2. Bài học cho công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước cho công chức chính quyền cấp xã của Thành phố Huế ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
Từ thực tiễn ĐTBD cán bộ, công chức của một số địa phương nêu trên, có thể rút ra một số kinh nghiệm cho công tác bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã của Thành phố Huế như sau:
Một là, các địa phương đều áp dụng hình thức ĐTBD theo yêu cầu công việc. Xuất phát điểm của hoạt động ĐTBD vẫn là công việc. Các địa phương căn cứ vào chương trình khung do Bộ Nội vụ ban hành để xây dựng chương trình ĐTBD cho từng đối tượng, từng chức danh cụ thể, kể cả vị trí lãnh đạo.
Hai là, hoạt động xác định nhu cầu ĐTBD được các địa phương rất quan tâm và được thực hiện trên cơ sở kết hợp 2 phương pháp: dựa trên đánh giá của người công chức và dựa trên hệ thống các kỹ năng đã được xác định cho từng vị trí công việc.
Ba là, xây dựng nội dung chương trình ĐTBD gắn với nhiệm vụ cụ thể của từng chức danh công chức cấp xã và bảo đảm đầy đủ các nghiệp vụ chuyên môn theo chức trách, nhiệm vụ của mỗi chức danh công chức cấp xã; chú trọng bồi dưỡng kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn để nâng cao trình độ, năng lực công tác cho công chức chính quyền cấp xã.
Bốn là, các địa phương rất coi trọng bồi dưỡng các kiến thức kỹ năng và phổ biến kiến thức, kinh nghiệm. Vì vậy, các địa phương đều kết hợp mời giảng viên kiêm chức với giảng viên cơ hữu của các cơ sở ĐTBD. Sự kết hợp này đảm bảo tính thực tiễn của bài giảng, tránh được tình trạng học viên chỉ được học những kiến thức lý thuyết chung chung, ít có tác dụng trong công việc.
Năm là, để không ngừng nâng cao chất lượng ĐTBD công chức cấp xã, các địa phương đều xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá kết quả ĐTBD. Hệ thống các tiêu chí này vừa có tác dụng để các cơ sở ĐTBD tự đánh giá kết quả ĐTBD của mình, những gì đã làm được, những hạn chế nào cần khắc phục, làm căn cứ lựa chọn cơ sở cung cấp dịch vụ ĐTBD tốt nhất.
Sáu là, cần có chính sách khen thưởng động viên kịp thời đối với những CBCC tích cực học tập đạt kết quả tốt, từ đó tạo động lực cho CBCC ra sức phấn đấu, rèn luyện trong quá trình học tập; phê bình những CBCC không chấp hành nội quy, quy chế học tập, đạt kết quả thấp làm lãng phí thời gian, kinh phí và công sức để tổ chức các lớp học, làm ảnh hưởng đến kế hoạch ĐTBD cán bộ, công chức của địa phương.
Tiểu kết chương 1 ( Luận văn: Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Quản lý Nhà nước )
Đội ngũ CBCC có vai trò rất quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp nói chung và chính quyền cấp cơ sở nói riêng. ĐTBD cán bộ, công chức được xác định là một nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC.
Trong chương 1, tác giả đã trình bày khái quát về chính quyền cấp xã, khái niệm, đặc điểm của công chức chính quyền cấp xã; Mục tiêu, hình thức, quy trình ĐTBD cán bộ, công chức; Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ĐTBD cán bộ, công chức cấp xã.
Trong chương này Luận văn đã trình bày kinh nghiệm trong công tác ĐTBD cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Quảng Ninh, Thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Thành phố Huế để nâng cao chất lượng ĐTBD cán bộ, công chức trong những năm tới.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn Thực trạng kiến thức kỹ năng quản lý Nhà nước hiện nay

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
