Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh đặt ra nhiệm vụ khảo sát các biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong các tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh, thấy được giá trị và hiệu quả biểu đạt của các phép tu từ; góp phần tìm hiểu phong cách ngôn ngữ Hồ Chí Minh trong văn chính luận. Từ đó, rút ra bài học thực tiễn trong dạy học tác phẩm của Hồ Chí Minh và bài học về sử dụng ngôn ngữ nói chung. Những lí do trên là cơ sở để tác giả chọn đề tài “Biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh”.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
- Bên cạnh việc nghiên cứu những vấn đề thuộc về từ vựng học, nghiên cứu những vấn đề về ngữ âm và ngữ pháp có vai trò vô cùng to lớn trong việc nghiên cứu ngôn ngữ học hiện nay. Nghiên cứu về ngữ âm và ngữ pháp góp phần hoàn thiện việc nghiên cứu về hệ thống ngôn ngữ một cách toàn diện, tạo ra diện mạo nhiều chiều với nhiều sắc vẻ của các đơn vị ngôn ngữ. Ở những phương diện khác nhau, các đơn vị ngôn ngữ lại hiện lên với những trạng thái sinh động, mới mẻ và chứa đựng nhiều nội dung thú vị.
Trong quá trình nghiên cứu về ngữ âm và ngữ pháp, biện pháp tu từ là một vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm. Thông qua việc nghiên cứu các biện pháp tu từ – được thể hiện qua vỏ âm thanh và cấu trúc ngữ pháp, chúng ta có thể thấy rõ sự linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ, thấy rõ sự đa dạng trong cách diễn đạt, cảm nhận rõ vẻ đẹp của tiếng Việt. Từ đó, người sử dụng ngôn ngữ có thể vận dụng vào việc phân tích và tạo lập văn bản, tiếp nhận văn bản văn học một cách có hệ thống, toàn vẹn và hoàn chỉnh hơn ở nhiều góc độ khác nhau.
Trong sự nghiệp lớn lao của Hồ Chí Minh – có một di sản đặc biệt biệt để lại cho dân tộc, đó là sự nghiệp trước tác. Người đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp trước tác lớn lao về tầm vóc, phong phú đa dạng về thể loại và đặc sắc về phong cách sáng tác. [43, 419]
Từ những năm 20 của thế kỉ XX, các bài văn chính luận với bút danh Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống thợ thuyền đã tác động và ảnh hưởng lớn đến quần chúng Pháp và nhân dân những nước thuộc địa, kêu gọi thức tỉnh nhân dân nô lệ bị áp bức liên hiệp lại trong mặt trận đấu tranh chung. “Văn chương Hồ Chí Minh đã kết hợp được sự sâu sắc tự bên trong mối quan hệ giữa chính trị và văn học, giữa tư tưởng và nghệ thuật, giữa truyền thống và hiện đại. Mỗi loại hình văn học của người đều có phong cách riêng, độc đáo, hấp dẫn và có giá trị bền vững. Hồ Chí Minh là người đầu tiên sử dụng có hiệu quả cao thể văn chính luận hiện đại… Văn chính luận của Hồ Chí Minh mang cốt cách, đặc điểm của văn chính luận hiện đại của giai cấp vô sản”. Vì thế, văn chính luận của Người được độc giả và giới nghiên cứu quan tâm trên nhiều phương diện khác nhau.
Nghiên cứu các biện pháp tu từ trên mặt ngữ âm và ngữ pháp trong văn chính luận của Hồ Chí Minh là vấn đề giúp chúng tôi có thể tiếp cận, tìm hiểu thêm một phương diện mới về phong cách viết văn của Người. Những lí do trên là cơ sở để chúng tôi chọn đề tài “Biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh”.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Về biện pháp tu từ
Lí thuyết về biện pháp tu từ đã được nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu.
Aristote là một trong các nhà khởi xướng, có công trong việc tạo nên các lời văn hoa mĩ, các thuật hùng biện, hình thành môn “Mĩ từ pháp”. Tu từ học đã trở thành một bộ môn bắt buộc trong Tam khoa của nhà trường Trung cổ và nhà trường cận đại ở Châu Âu. Vấn đề tu từ học được tiếp tục phát triển, nâng cao thành hệ thống lí luận ở các tác giả như: Ciceron, Quitilien, Horace, Virgile…
Từ thế kỉ XIX, tu từ học – phong cách học đã trở thành một ngành riêng của ngôn ngữ học.
Ở nước ta, tên gọi “Tu từ học” xuất hiện vào thập niên 50 của thế kỉ XX, những công trình nghiên cứu về tu từ học thời kì này có thể kể đến như: Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ, Việt – Hán văn khảo của Phan Kế Bính, Quốc văn cụ thể của Bùi Kỉ, Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Thơ ca Việt Nam
- Hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức…
Vào khoảng thập niên 60 của thế kỉ XX, tên gọi Phong cách học xuất hiện, Phong cách học chính là Khoa tu từ học được hiện đại hoá có cơ sở lí thuyết nhằm vào đối tượng cơ bản là các phong cách ngôn ngữ. [37, 238]
Cùng với sự ra đời của lí luận về biện pháp tu từ là các công trình nghiên cứu của các tác giả: Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà, Hữu Đạt, Lê Anh Hiền… Có thể kể đến một số công trình có vai trò nền tảng trong việc trình bày về vấn đề biện pháp tu từ. Cụ thể:
- Tác giả Lê Anh Hiền với cuốn Khái luận tu từ học, Đại học Sư phạm Hà Nội,
- Tác giả Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ, Tu từ học tiếng Việt hiện đại (sơ thảo), Đại học Sư phạm Việt Bắc, 1975
- Tác giả Cù Đình Tú với cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, nhà xuất bản Giáo dục,
- Tác giả Hữu Đạt với cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nhà xuất bản Đai học quốc gia Hà Nội,
- Tác giả Đinh Trọng Lạc với cuốn Chín mươi chín phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, nhà xuất bản Giáo dục (tái bản lần thứ bảy),
- Tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà với cuốn Phong cách học tiếng Việt, nhà xuất bản Giáo dục (tái bản lần thứ tám),
Trong những công trình trên, các tác giả đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về lí thuyết biện pháp tu từ như: khái niệm về biện pháp tu từ, đặc điểm tu từ của các loại đơn vị trong tiếng Việt, các phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (tu từ từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp, văn bản, ngữ âm của phong cách học)… Đây là những nhận thức lí luận rất cần thiết, có chức năng dẫn đường cho việc tìm hiểu các vấn đề về biện pháp tu từ.
2.2. Về văn chính luận Hồ Chí Minh
Thơ văn của Hồ Chí Minh luôn là đối tượng hứng thú của nhiều nhà nghiên cứu. Chính vì vậy, từ trước đến nay có không ít công trình nghiên cứu về tác phẩm của Người với những tác giả có tên tuổi như: Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Phong Lê…
Riêng về mặt ngôn ngữ, các tác phẩm văn thơ của Hồ Chí Minh đã có những công trình khảo cứu về các phương diện sau:
- Việc dùng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong văn Hồ Chí Minh ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
- Phép so sánh trong văn thơ Hồ Chí
- “Tập Kiều” trong ngôn ngữ Hồ Chí
- Tên các bài báo của Hồ Chí
- Tiếng cười (phong cách hài hước) trong văn Hồ Chí
- Ý kiến của Hồ Chủ Tịch về việc mượn từ gốc Hán.
Có thể kể ra một số công trình, bài viết như sau:
Trong bài viết Phương pháp nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh [54, 207], Nguyễn Đăng Mạnh chỉ rõ: “Văn chính luận chủ yếu được viết theo tư duy logic. Sức thuyết phục của nó không phải ở chỗ dựng nên những hình tượng, những bức tranh sinh động… mà ở chỗ đưa ra những lí lẽ đanh thép, những lập luận chặt chẽ, những luận cứ hùng hồn… Trên cơ sở những đặc trưng cơ bản của thể loại văn chính luận như thế, nhiều loại văn chính luận ra đời với những sắc thái khác nhau dưới ngòi bút của Hồ Chí Minh, như tuyên ngôn, lời kêu gọi, báo cáo chính trị, thư từ gửi các ngành các giới, văn bút chiến, văn tiểu phẩm và các thể loại văn báo chí khác…” [54, 217].
Phong Lê với bài viết Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh con người và thơ văn [54, 244] nhận xét: thơ văn Hồ Chí Minh có sự tổng hoà, kết hợp của nhiều âm điệu – sự kết hợp ấy làm nên phong cách Hồ Chí Minh.
Trong Lời giới thiệu (cho cuốn Văn Hồ Chủ Tịch, Nhà xuất bản Giáo dục, 1971), Huỳnh Lý nêu lên 4 đặc điểm cơ bản về phong cách văn xuôi Hồ Chí Minh: tư tưởng lớn, hình thức diễn đạt ngắn gọn, trong sáng, sinh động, ung dung pha chút hóm hỉnh, “viết sâu ngọt, viết có tình”.
Nguyễn Thuý Khanh với bài viết Một số đặc điểm trong ngôn ngữ báo chí chính luận của Hồ Chủ Tịch (Học tập phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Viện Ngôn ngữ học, NXB Khoa học Hà Nội, 1980) cho rằng “Người đã sử dụng lối diễn đạt quen thuộc của quần chúng, có khả năng tạo ra sức tác động mạnh đến người đọc, có khả năng tạo ra sức tác động trong thông tin, báo chí”.
Trong bài viết Câu văn của Bác Hồ (Tạp chí ngôn ngữ số 4, 1970), Lê Xuân Thại đưa ra nhận định “Trong các bài văn của Bác có nhiều cách biện luận, trong đó có cách dùng câu hỏi, những câu hỏi loại này của Bác mang đầy sức mạnh của logic”.
Bài viết Bước đầu tìm hiểu ngôn ngữ của Hồ Chủ Tịch qua Những lời kêu gọi (Tạp chí văn học số 6/1965), Nguyễn Phan Cảnh đã đưa ra những nhận định về phong cách chính luận của Người ở những điểm chung nhất.
Với bài Tuyên ngôn độc lập một nghệ thuật viết văn nghệ thuật mẫu mực, dân tộc và hiện đại (Tạp chí văn học số 3/1990), Nguyễn Quốc Tuý đã chú trọng phân tích nghệ thuật viết văn của Hồ Chí Minh: một tác phẩm văn xuôi giàu nhịp điệu âm thanh, sử dụng điệp ngữ, điệp từ rất đặc sắc, cách sử dụng từ rất chính xác và tinh tế. Tác giả khẳng định “Tuyên ngôn độc lập là áng văn chính luận mẫu mực”.
Theo khảo sát, cho đến nay chưa có công trình nào dành riêng để nghiên cứu về vấn đề biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận của Hồ Chí Minh (tuy rải rác trong các sách nghiên cứu và giảng dạy về ngôn ngữ có đề cập đến). Vì vậy, luận văn của chúng tôi nghiên cứu đề tài này với hy vọng hiểu rõ hơn về văn chính luận Hồ Chí Minh từ góc nhìn ngôn ngữ học.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
- Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lựa chọn Biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh làm đối tượng nghiên cứu.
- Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về mặt thời gian, chúng tôi giới hạn việc tìm hiểu biện pháp tu từ trong văn chính luận Hồ Chí Minh trong phạm vi ngữ âm và ngữ pháp.
4. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích của đề tài
Mục đích của đề tài này là tìm hiểu các biện pháp tu từ ngữ âm (nhịp điệu, vần, đối, hài hoà thanh điệu…) và biện pháp tu từ cú pháp (những phép tu từ cú pháp: phép lặp, liệt kê, nhấn mạnh thành phần câu, cách dùng câu hỏi tu từ) trong văn chính luận của Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ đặc trưng và yêu cầu của đề tài, trong quá trình triển khai luận văn, chúng tôi kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
– Phương pháp thống kê, phân loại: Vận dụng phương pháp này, chúng tôi có thể khảo sát để tìm ra và phân loại các biện pháp tu từ ngữ âm và ngữ pháp trong văn chính luận của Hồ Chí Minh. Từ đó, xác định hiệu quả sử dụng của các biện pháp tu từ ấy.
– Phương pháp phân tích: Phương pháp này cho phép chúng tôi đi sâu vào nhiều khía cạnh của vấn đề, vừa làm rõ vấn đề vừa tăng sức thuyết phục với những dẫn chứng và cứ liệu, lập luận cụ thể.
– Phương pháp tổng hợp: Phương pháp tổng hợp giúp chúng tôi dễ dàng hơn trong việc nâng cao vấn đề, khái quát phong cách nhà văn.
6. Đóng góp của luận văn
- Về lí luận
Trên cơ sở các lí thuyết ngôn ngữ, luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm lí thuyết về tu từ ngữ âm, tu từ ngữ pháp, về phong cách chính luận bằng những kết quả nghiên cứu cụ thể.
- Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu luận văn nhằm phục vụ cho việc đọc, hiểu các tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh. Những kiến giải của luận văn có thể góp phần định hướng cho người đọc trong quá trình tiếp cận tác phẩm, đặc biệt là các tác phẩm trong chương trình phổ thông hiện nay.
7. Cấu trúc của luận văn ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Chúng tôi triển khai luận văn thành ba phần: phần Mở đầu, phần Nội dung và phần Kết luận.Tương ứng với những nhiệm vụ đặt ra, phần Nội dung của luận văn được chia thành 3 chương, trình bày các vấn đề sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Biện pháp tu từ ngữ âm trong văn chính luận Hồ Chí Minh
Chương 3: Biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh
Có thể bạn quan tâm:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Lí thuyết về biện pháp tu từ
Lí luận về tu từ học và biện pháp tu từ xuất hiện từ rất sớm, việc nghiên cứu về vấn đề này đã đạt được những thành tựu đáng kể. Những thành tựu ấy phần nào cho thấy sự phát triển của ngôn ngữ học nói chung và của tu từ học nói riêng – dù nó chưa phản ánh hết được những gì vốn rất phong phú và phức tạp của ngôn ngữ trong quá trình sử dụng. Lí thuyết về vấn đề này ngày càng được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu, nhờ thế nó dần được hoàn thiện bởi hệ thống lí luận sâu sắc. Hệ thống lí luận xuất hiện sau mang tính kế thừa hệ thống lí luận trước, đồng thời nó bổ sung nhiều hơn những phát hiện mới mẻ, phù hợp với thực tiễn ngôn ngữ trong hoạt động hành chức.
Ở thời kì đầu, nói đến tu từ học người ta thường nhắc đến những khái niệm như nghệ thuật diễn đạt, thuyết phục, tranh biện… Thuật ngữ phương thức tu từ hay tu từ pháp dường như được sử dụng chung cho cả hai khái niệm phương tiện tu từ và biện pháp tu từ. Mặc dù vậy, các nhà nghiên cứu cũng đã xác định và phân loại các phương thức tu từ chủ yếu: ẩn dụ, hoán dụ, phúng dụ, tượng trưng, trùng điệp,… Đây là những kiến thức mang tính tiền đề lí luận, định hướng cho việc nghiên cứu vấn đề biện pháp tu từ ở những khía cạnh khác nhau. Ở giai đoạn sau, các nhà ngôn ngữ học thường dựa vào đặc điểm cấu trúc và đặc điểm ngữ nghĩa của các phương thức tu từ để phân loại. Chẳng hạn, V.V.Odinsov hệ thống hoá các phương thức và biện pháp tu từ thành hai nhóm: các phép tu từ thay thế (gồm hai tiểu nhóm: các phép tu từ số lượng như ngoa dụ, nói giảm và các phép tu từ chất lượng như ẩn dụ, hoán dụ, mỉa mai) và các phép tu từ kết hợp (gồm các phép đồng nhất như so sánh, thế đồng nghĩa; các phép không đồng nhất như đồng nghĩa chính xác hoá, chơi chữ, liên ngữ,… hay các phép đối lập như đối ngữ, nghịch dụ,…)
Ngày nay, nhiều nhà ngôn ngữ dùng phổ biến thuật ngữ Phong cách học thay thế thuật ngữ Tu từ học trước đây. Tu từ học vẫn được sử dụng để chỉ phần nghiên cứu các đặc điểm tu từ của các đơn vị ngôn ngữ, các khái niệm màu sắc tu từ, biện pháp tu từ…
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học của Việt Nam cũng có những kiến giải nhất định về tu từ học và biện pháp tu từ.
Trong cuốn Từ điển Hán Việt, ông Phan Văn Các giải thích “tu từ là sửa sang lời văn cho hay cho đẹp”; Tu từ học là “bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu những thuộc tính biểu cảm của các phương tiện ngôn ngữ để sử dụng làm cho lời văn hay hơn đẹp hơn”.
Không chỉ dừng lại ở việc đưa ra những định nghĩa, hiện nay nhiều nhà ngôn ngữ học cố gắng đưa ra những tiêu chí để phân chia hai bình diện phương tiện tu từ và biện pháp tu từ, bởi hai khái niệm này có sự khác biệt nhau. Cần tách bạch rõ ràng để tránh sự lúng túng và khó nắm bắt trong quá trình sử dụng. ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Phong cách học chú ý đến sự phân chia biện pháp tu từ và phương tiện tu từ trên hai bình diện hệ thống (ngôn ngữ) và hoạt động (lời nói).
Nhóm tác giả của Nhập môn ngôn ngữ học nhấn mạnh “cơ sở của sự xác lập hai bình diện phương tiện tu từ và biện pháp tu từ xuất phát từ sự phân chia ngôn ngữ và lời nói trong ngôn ngữ học” [9, 417]. Các tác giả đã đưa ra những tiêu chí chủ yếu để phân định phương tiện tu từ và biện pháp tu từ:
- Thành phần thông tin bổ sung của các phương tiện tu từ manh tính tương đối ổn định, độc lập với ngữ cảnh, là cơ sở cho sự lựa chọn. Thành phần thông tin bổ sung nảy sinh trong các biện pháp tu từ mang bản chất ngữ cảnh.
- Màu sắc tu từ của các phương tiện tu từ được xác định chủ yếu dựa trên mối quan hệ đối đoạn tính của bản thân các phương tiện trong hệ thống ngôn ngữ. Hiệu quả, giá trị phong cách của biện pháp tu từ được xác định chủ yếu dựa trên mối quan hệ của các yếu tố ngôn từ với ngữ cảnh tu từ.
- Phương tiện tu từ thuộc về bình diện hệ thống (ngôn ngữ) còn biện pháp tu từ thuộc về bình diện hoạt động (lời nói).
Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ” cũng đưa ra những nhận định xác đáng để phân biệt phương tiện tu từ và biện pháp tu từ.
Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể trung hoà hay diễn cảm trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ. [40, 5]
Phương tiện tu từ là phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản chúng còn có ý nghĩa bổ sung còn gọi là màu sắc tu từ . [40, 5]
Tác giả cũng đưa ra những tiêu chí nhất định để phân biệt 2 khái niệm phương tiện tu từ và biện pháp tu từ, những tiêu chí ấy có phần đồng nhất với ý kiến của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ – Nguyễn Thị Ngân Hoa – Đỗ Việt Hùng – Bùi Minh Toán.
Tóm lại, có thể nhận diện phương tiện tu từ và biện pháp tu từ qua sự khái quát sau:
Phương tiện tu từ được nhận diện ở những điểm sau:
- Là phương tiện ngôn ngữ, ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật – logic) chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ.
- Là những phương tiện được tu sức về mặt tu từ hoặc đôi khi được đánh dấu về mặt tu từ. [41, 59]
- Phương tiện tu từ là những yếu tố ngôn ngữ thuộc các cấp độ khác nhau, được đánh dấu về tu từ học trong giới hạn của một cấp độ nào đó trong ngôn ngữ [40, 9]
- Ý nghĩa tu từ học của phương tiện tu từ bị quy định bởi những quan hệ hệ hình của các yếu tố cùng bậc. [40, 9]
- Ý nghĩa tu từ học của phương tiện tu từ được củng cố ở ngay phương tiện đó [40, 9].
- Phương tiện tu từ bao giờ cũng nằm trong thế đối lập tu từ học (tiềm tàng trong ý thức của người bản ngữ) với phương tiện tương liên có tính chất trung hoà của hệ thống ngôn ngữ. [40, 11]
- Phương tiện tu từ mang tính khách Các phương tiện tu từ của mỗi ngôn ngữ đều tồn tại trong ý thức và tiềm thức của người dùng, người ta có thể sử dụng trong lời nói hằng ngày và cũng giống như các tín hiệu từ, các câu nói… người quen dùng không hỏi do ai tạo ra, vậy mà cách hiểu đều giống nhau. Các phương tiện tu từ có tính chất khách quan và mỗi phương tiện đều có chung một mã giống nhau, độc lập với chủ quan người sử dụng. [37, 193]
- Các phương tiện tu từ mang tính hữu hạn trong hệ thống. ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Biện pháp tu từ được nhận diện ở những điểm sau:
- Là cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong một hoàn cảnh cụ thể, nhằm mục đích tu từ nhất định.
- Biện pháp tu từ là cách diễn đạt mới mẻ, đặc sắc trong những ngữ cảnh cụ thể để tạo ra cái hay của ngôn ngữ.
- Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng các đơn vị lời nói trong giới hạn của một đơn vị thuộc bậc cao hơn. [40, 9]
- Ý nghĩa tu từ học của biện pháp tu từ bị quy định bởi những quan hệ cú đoạn giữa các đơn vị của một bậc hay của các bậc khác [40, 9]
- Ý nghĩa tu từ học của biện pháp tu từ nảy sinh ra trong ngữ cảnh của một đơn vị lời nói nào đó. [40, 9]
- Biện pháp tu từ đối lập với biện pháp sử dụng ngôn ngữ thông thường trong mọi hoàn cảnh, nhằm mục đích diễn đạt lí trí. [40, 142]
- Biện pháp tu từ mang tính chủ quan thuộc về lựa chọn kĩ năng diễn đạt của người viết.
- Biện pháp tu từ mang tính vô hạn.
Tuy giữa các biện pháp tu từ và các phương tiện tu từ có sự khác biệt rõ rệt như vậy nhưng giữa chúng vẫn có mối quan hệ biện chứng. Một mặt, việc sử dụng các phương tiện tu từ sẽ tạo ra các biện pháp tu từ, mặt khác việc sử dụng một biện pháp tu từ nào đó trong lời nói cũng có thể chuyển hoá nó thành phương tiện tu từ. Hơn nữa, cùng một phương tiện tu từ có thể được dùng để xây dựng những biện pháp tu từ rất khác nhau. Ngược lại, những phương tiện tu từ khác nhau có thể tham gia vào việc xây dựng cùng một biện pháp tu từ.
Sự phân chia hai phạm trù phương tiện tu từ và biện pháp tu từ cũng chỉ mang tính tương đối. Điều quan trọng là người sử dụng ngôn ngữ cần đặt vào hệ thống và tạo được sự nhất quán khi xác định, miêu tả và phân tích các biện pháp tu từ cũng như phương tiện tu từ.
Như vậy, có thể nói biện pháp tu từ là cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nhằm đạt hiệu quả trong cách diễn đạt. Nói cách khác, biện pháp tu từ chú ý đến khả năng lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ, độc đáo trong cách thể hiện, tạo ra sự mới mẻ, lạ hoá. Người sử dụng ngôn ngữ có thể đạt tới sự sáng tạo khéo léo nếu biết sử dụng các biện pháp tu từ một cách linh hoạt để tạo ra hình thức diễn đạt cho những nội dung cụ thể.
Tuỳ theo các phương tiện ngôn ngữ được kết hợp và căn cứ vào các cấp độ ngôn ngữ, các biện pháp tu từ có thể được chia ra: Các biện pháp tu từ từ vựng – ngữ nghĩa (điệp từ, điệp ngữ, liệt kê từ vựng, tăng cấp…); biện pháp tu từ ngữ âm (điệp thanh, điệp phụ âm đầu, hài thanh, biến nhịp…); biện pháp tu từ cú pháp (đảo ngữ, sóng đôi, phản cú, điệp cú, xen kẽ, đề ngữ, giải ngữ…); biện pháp tu từ văn bản (rút gọn, điệp khúc, liên kết, bỏ lửng, nhấn mạnh…).
Dựa vào đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, ở chương này, luận văn chỉ tìm hiểu cụ thể vấn đề lí thuyết biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp – làm cơ sở cho việc triển khai những vấn đề ở chương 2 và chương 3.
1.2. Lí thuyết về biện pháp tu từ ngữ âm
1.2.1. Biện pháp tu từ ngữ âm ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Các phương tiện ngữ âm (âm vị, âm tiết) được xem là những đơn vị mang tính một mặt (khác với những đơn vị mang tính hai mặt như hình vị, từ, câu,…), là vỏ âm thanh – cơ sở vật chất để biểu đạt ý nghĩa nào đó của ngôn ngữ. Vì đặc điểm ấy mà bản thân các ngữ âm phương tiện ngữ âm chưa thể hiện rõ màu sắc tu từ. Tuy nhiên, hình thức âm thanh và nội dung ý nghĩa luôn là hai mặt song song có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nương tựa vào nhau để tồn tại, hình thức âm thanh là cái biểu đạt – phản ánh bản chất của cái được biểu đạt (nội dung ý nghĩa). Vì thế, trong một chừng mực nhất định, các phương tiện ngữ âm vẫn có thể được sử dụng làm chất liệu để biểu đạt hình tượng, cảm xúc mang tính biểu cảm. Khảo sát đặc điểm ngữ âm của các phương tiện ngôn ngữ để tạo ra những cách phối hợp hợp lí, có giá trị nghệ thuật là một trong những việc làm cần thiết để khai thác tối đa những ưu thế của âm thanh ngôn ngữ. Nếu biết sử dụng những phương tiện ngữ âm một cách hợp lí sẽ mang lại hiệu quả tu từ không nhỏ.
Biện pháp tu từ ngữ âm là những cách phối hợp sử dụng khéo léo các âm thanh, đem đến cho phát ngôn (thông thường hơn cả là văn bản thơ) một cơ cấu âm thanh nhất định, nhằm tạo ra những màu sắc biểu cảm – cảm xúc nhất định. [40, 221]
Ví dụ: Sử dụng khéo léo các phụ âm có thể tạo ra những giá trị biểu cảm nhất định.
Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên
Làm cho động địa kinh thiên đùng đùng Đại quân đồn đóng cõi Đông (Nguyễn Du)
Sự lặp lại âm “đ” ở những âm tiết: động địa, đùng đùng, đại, đồn, đóng, đông tạo ra sự cộng hưởng ở những âm tiết có phụ âm đầu hữu thanh, góp phần gia tăng ấn tượng mạnh mẽ về thân thế của một đại quân.
Nói đến sự tinh tế trong việc phối hợp các yếu tố ngữ âm, người ta cũng thường nhắc đến hai câu thơ của Tản Đà:
Tài cao phận thấp chí khí uất Giang hồ mê chơi quên quê hương
Sự phối hợp của các thanh bằng – trắc: câu trên chủ yếu là các âm tiết mang thanh trắc, câu dưới chủ yếu là các âm tiết mang thanh bằng tạo nên sự đối lập trong tâm trạng của một con người. Bên cạnh đó, còn phải kể đến việc sử dụng các phụ âm cuối một cách hiệu quả: các phụ âm cuối tắc vô thanh /p/ trong “thấp” và /t/ trong “uất” tạo nên biểu tượng của sự nghẹn ngào trước cái trớ trêu của số phận ; các phụ âm vang mũi /n/ trong các âm tiết “giang”, “quên”, “hương” tạo nên sự dàn trải, phiêu du ; các âm tiết mở có độ vang lớn “hồ, mê, quê” kết hợp với các âm tiết nửa mở “chơi” cùng với 7 thanh bằng (đối lập với 5 thanh trắc ở trên) góp phần miêu tả một tư tưởng thoát li, một tâm hồn ngao du, thoát tục.
1.2.2. Các biện pháp tu từ ngữ âm thông dụng ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Vỏ âm thanh ngôn ngữ thường được xem là các tín hiệu chỉ có một mặt nhưng trong những hoàn cảnh nhất định hoặc trong những cách diễn đạt có chủ đích người ta có thể sử dụng nó như một phương tiện mang màu sắc tu từ, có tính biểu trưng cao, giúp cho sự cộng hưởng ý nghĩa thêm phần sinh động và sâu sắc. Sử dụng các biện pháp tu từ ngữ âm để chuyển hoá âm thanh ngôn ngữ một cách khéo léo có thể tạo ra những hiệu quả biểu cảm có giá trị. Chúng ta thường gặp các biện pháp tu từ ngữ âm như: hài thanh, hài âm, điệp âm, biến nhịp, điệp khúc…
1.2.2.1. Biện pháp hài thanh
Hài thanh là biện pháp tu từ ngữ âm nhằm hài hoà các mặt đối lập về thanh điệu: cao/thấp; gãy /không gãy, tức là đối lập âm vực và đường nét thanh điệu. [37, 93]
Biện pháp hài thanh chủ yếu phát huy tác dụng trong những tác phẩm thơ bởi thơ ca tiếng Việt luôn chú ý đến tính nhạc, có thể xem đây là một trong những tiêu chí quan trọng để góp phần làm nên một bài thơ hay, nhất là những bài thơ được quy định bởi tính chất niêm luật chặt chẽ về cả vần và điệu.
Ví dụ: Gió sao là lạ. Mây khang khác Không hiểu hay là nhịp cuối năm Hôm qua thì tiếc. Mai thì sợ
Tuột cương. Trăng cũ lại trăng rằm ! (Cuối năm – Hữu Thỉnh)
Các vế của câu thơ và giữa các câu thơ với nhau có sự hài hoà về thanh: âm vực thấp với âm vực cao (là lạ – khang khác – năm – tiếc – sợ – cương – rằm), các âm tiết đi từ âm tiết mở đến đóng đến nửa đóng, từ âm có độ vang ít đến âm có độ vang nhiều kết hợp với các dấu chấm câu bất thường ở giữa câu và mỗi chỗ xuống dòng đều góp phần diễn tả tâm trạng hồi hộp, lo âu, giật mình trước tốc độ của nhịp sống. Trong văn xuôi, sự hài hoà thanh điệu không yêu cầu chặt chẽ như trong thơ , nhưng nếu có sự hài hoà ấy thì câu văn thêm phần sinh động.
Ví dụ: Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người. [18, 631]
Với ngắt nhịp đều đặn của các cấu trúc sóng đôi kết hợp với sự phối hợp các thanh của mỗi âm tiết cuối ngữ đoạn đã tạo nên hài hoà, cân đối cho các câu văn. Có khi các âm tiết đi liền nhau có sự nhịp nhàng với nhau (Xuân, Hạ, Thu, Đông, Đông, Tây, Nam, Bắc, Cần – Kiệm – Liêm – Chính), có khi các âm tiết đứng xa nhau nhưng vẫn có cân xứng nhờ sự luân phiên các thanh bằng trắc của các âm tiết (mùa
- phương – Bắc – đức – trời – đất – người), các âm tiết mở kết hợp với âm tiết đóng (mùa – trời – người – phương- bắc – đức – đất), các âm tiết kết thúc bằng phụ âm vang hữu thanh đi liền nhau (Cần, Kiệm, Liêm, Chính) tạo sự vang vọng, các âm tiết đóng đứng cạnh nhau (bắc – đức – đất) tạo sự gân guốc, dứt khoát trong lời nói.
1.2.2.2. Biện pháp hài âm ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Hài âm là biện pháp tu từ ngữ âm, trong đó người ta cố ý sử dụng một cách tổng hợp các biện pháp tu từ ngữ âm nhằm tạo nên một sự phù hợp giữa hiệu quả biểu cảm – cảm xúc của hình tượng âm thanh với nội dung biểu cảm của câu thơ. [40, 226]
Biện pháp hài âm chú ý đến sự hài hoà các mặt đối lập của âm tiết như : mở /đóng, cao /thấp, ngắn/dài, mạnh /yếu, trầm/bổng,… ở những vị trí nhất định để tạo âm hưởng (điểm nhấn thường là những âm tiết đứng ở cuối câu). Tính chất hài hoà này không chỉ thể hiện ở những câu thơ, lời văn riêng lẻ mà nó còn góp phần tạo ra đặc trưng về giọng điệu cho cả đoạn, cả bài.
Ví dụ:
Đời Trần, quân Nguyên đánh đâu được đấy, đánh được nước Tàu và nửa châu Âu, thế mà ba lần bị ông Trần Hưng Đạo đánh tan. Bình dân như ông Lê Lợi và ông Nguyễn Huệ đã đánh đuổi quân Tàu làm cho nước ta độc lập.
Người già như ông Lí Thường Kiệt quá 70 tuổi mà vẫn đánh đông dẹp bắc, bao nhiêu lần đuổi giặc cứu dân.
Thiếu niên như Đổng Thiên Vương, chưa đến 10 tuổi, mà đã ra tay cứu nước, cứu nòi, Trần Quốc Toản mới 15, 16 tuổi đã giúp ông Trần Hưng Đạo đánh phá giặc Nguyên.
Phụ nữ thì có bà Trưng, bà Triệu ra tay khôi phục giang sơn.
Những vị anh hùng ấy vì nước, vì dân mà làm nên sự nghiệp kinh thiên động địa. Nhờ những vị dân tộc anh hùng ấy mà nước ta được tự do độc lập, lừng lẫy ở Á Đông. [16, 216]
Trong ví dụ trên, người viết đã sử dụng tổng hợp các mặt biểu đạt âm thanh của ngôn từ để tạo ra sự hài hoà về âm thanh cho văn bản.
1.2.2.3. Biện pháp điệp âm ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Điệp âm là biện pháp cố ý lặp lại một số yếu tố ngữ âm nào đó (phụ âm đầu, vần hoặc thanh) để tạo ra sự cộng hưởng ý nghĩa, có tác dụng tô đậm thêm hình tượng hoặc xúc cảm, gợi liên tưởng, đồng thời giúp cho lời văn, lời thơ thêm nhạc tính.
a. Điệp phụ âm đầu
Đây là biện pháp tu từ ngữ âm lặp lại phụ âm đầu để tạo ra sự trùng điệp về âm hưởng, tăng tính tạo hình và diễn cảm cho câu thơ. Tuỳ theo đặc điểm của phụ âm đầu được chọn làm phương tiện mà nó có thể gợi những liên tưởng tinh tế khác nhau.
Ví dụ:
Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên
Sự lặp lại các cặp phụ âm đầu n-n (nỗi niềm), m-m(mà mưa), x-x (xối xả), tr-tr (trắng trời), th – th (Thừa Thiên) một cách liên tiếp, gối đầu lên nhau tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về những cơn mưa triền miên, dai dẳng, khắc sâu thêm tâm trạng đau đáu của tác giả về Huế.
b. Điệp vần
Điệp vần là biện pháp tu từ ngữ âm, trong đó người ta cố ý tạo ra sự trùng điệp về âm hưởng bằng cách lặp lại những âm tiết có phần giống nhau, nhằm mục đích tăng sức biểu cảm, tăng nhạc tính cho câu thơ [40, 223].
Ví dụ: Cách điệp vần “ang” trong câu thơ: Lá bàng đang đỏ ngọn cây/ Sếu mang giang lạnh đang bay ngang trời đã thêm sức cộng hưởng cho hình ảnh khung cảnh trời đất bao la, khoáng đạt đến vô cùng trong cảnh xuân sang.
c. Điệp thanh
Điệp thanh là biện pháp tu từ ngữ âm, trong đó người ta sử dụng lặp lại các thanh điệu cùng nhóm (bằng/trắc) để tạo ra sự cộng hưởng về ý nghĩa, tăng tính nhạc cho câu thơ.
Ví dụ: Mục đích thi đua ái quốc là gì ?
Diệt giặc đói khổ, Diệt giặc dốt nát, Diệt giặc ngoại xâm…
Sự xuất hiện liên tục các thanh trắc trong một ngữ đoạn lớn: Diệt giặc đói khổ/Diệt giặc dốt nát/Diệt giặc ngoại xâm,… đã tạo ra hơi văn đặc biệt, góp phần nhấn mạnh mục đích của việc “thi đua ái quốc” đặt ra đồng thời thể hiện ý chí mạnh mẽ của người phát ngôn.
1.2.2.4. Biện pháp tạo nhịp điệu ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Tạo nhịp điệu là biện pháp tu từ ngữ âm được dùng chủ yếu trong văn xuôi chính luận, trong đó người ta cốt tạo nên một âm hưởng hấp dẫn bằng những hình thức cân đối, nhịp nhàng của lời văn, nhằm làm cho lí luận có sức thuyết phục mạnh mẽ. [40, 228]
Ví dụ:
Trong Việt Minh, đồng bào ta bắt tay nhau chặt chẽ, không phân biệt gái, trai, già, trẻ, lương, giáo, giàu, nghèo… [16, 553]: nhịp điệu của những từ đơn tiết phản nghĩa đối nhau đã tạo nên âm hưởng cho câu văn.
Nhịp điệu của những cụm từ, những vế, những đoạn câu đối nhau cũng tạo nên âm hưởng riêng cho lời văn: Bất kì đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước. [17, 480]
1.2.2.5. Biện pháp tạo âm hưởng
Biện pháp tạo âm hưởng là biện pháp tu từ ngữ âm được dùng chủ yếu trong văn xuôi nghệ thuật, trong đó người ta phối hợp âm thanh, nhịp điệu của câu văn không phải chỉ cốt tạo ra một sự cân đối, nhịp nhàng, uyển chuyển, êm ái, du dương, mà cao hơn thế, phải tạo ra một âm hưởng hoà quyện với nội dung hình tượng của câu văn. [40, 230]
Ví dụ:
Mỗi người dân Việt Nam, bất kì già, trẻ, trai, gái; bất kì giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều phải trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên một mặt trận : Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hoá. Thực hiện khẩu hiệu:
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến.
Trong cuộc thi đua ái quốc, chúng ta vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Kết quả đầu tiên của cuộc thi đua ái quốc là:
Toàn dân sẽ đủ ăn đủ mặc, Toàn dân sẽ biết đọc biết viết
Toàn bộ đội sẽ đầy đủ lương thực khí giới, Để giết giặc ngoại xâm.
Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn. Thế là chúng ta thực hiện:
Dân tộc độc lập Dân quyền tự do Dân sinh hạnh phúc
Âm hưởng của đoạn văn trên được tạo ra từ nhiều yếu tố: cách liệt kê các thành phần đẳng lập, cách ngắt dòng, cách tách câu, sử dụng cấu trúc lặp và cách sử dụng các câu dài ngắn khác nhau, nhịp điệu có khi dàn trải, khi tăng tốc, khi mau khi chậm,… tạo ra sự hoà quyện giữa hình thức trình bày và nội dung thể hiện của văn bản, toát lên giọng điệu hùng biện thuyết phục.
Tóm lại, dựa vào giá trị biểu đạt của âm thanh ngôn ngữ với những phương thức nhất định, người ta có thể tạo ra nhiều cách diễn đạt có hình ảnh cho câu văn; người đọc cũng qua đó mà cảm nhận được cái hay, cái tinh tế của ngôn ngữ văn học. Như vậy, tính biểu trưng của tín hiệu âm thanh cũng là một đặc trưng tiêu biểu – nếu biết khai thác một cách hợp lí thì có thể tạo ra những nội dung bất ngờ, có sức tác động mạnh mẽ tới tâm hồn con người.
1.3. Lí thuyết về biện pháp tu từ cú pháp
1.3.1. Biện pháp tu từ cú pháp ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Theo tác giả Đinh Trọng Lạc Biện pháp tu từ cú pháp là cách phối hợp sử dụng các kiểu câu trong một ngữ cảnh rộng (trong chỉnh thể trên câu, trong đoạn văn và trong văn bản trọn vẹn) nhằm đem lại ý nghĩa biểu cảm và cảm xúc cho những mảnh đoạn của lời nói do chúng cấu tạo nên. [40, 83].
1.3.2. Các biện pháp tu từ cú pháp thông dụng
1.3.2.1. Biện pháp điệp cú pháp
Việc sử dụng nhiều câu có cấu trúc cú pháp giống nhau để tạo âm hưởng nhịp nhàng cho lời thơ, lời văn, được gọi là biện pháp điệp cú pháp hay còn gọi là biện pháp sóng đôi cú pháp.
Ví dụ: Đế quốc Mĩ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. [25, 511]
Điệp cú pháp thường có lặp từ vựng đi kèm. Ý nghĩa từ vựng có thể là đối chọi nhau hoặc đối chiếu nhau
Ví dụ:
- Việc gì có lợi cho dân thì ta phải hết sức làm. việc gì có hại cho dân thì ta phải hết sức tránh. [17, 47]
- Vì lợi nước, quên lợi nhà ; vì lợi chung, quên lợi riêng. [17, 145]
1.3.2.2. Biện pháp nhấn mạnh thành phần câu
Ngoài cách lặp cú pháp, người ta có thể nhấn mạnh nội dung ý nghĩa của câu nói bằng cách dùng các tiểu từ thì, mà, là hoặc đảo vị trí các thành phần hay tách thành phần câu…
a. Dùng tiểu từ
Dùng các tiểu từ thì, mà, là “là biện pháp để gia tăng ngữ điệu nhấn mạnh một nét nghĩa bắt buộc hoặc tương phản,… từ đó có thể hàm ý khẳng định hoặc phủ nhận, trách móc, mỉa mai,… Trong lời nói, thì, mà, là có thể xuất hiện như một từ ngữ khí có màu sắc biểu cảm gia tăng cho ngữ điệu nói, nhấn mạnh một bộ phận nào đó ” [41, 240].
Như vậy, ngoài chức năng liên kết, các hư từ còn được dùng với chức năng tu từ, dùng hư từ đúng lúc đúng, chỗ sẽ tạo ra giá trị biểu đạt nhất định. Với các từ thì, mà, là, người nói có thể tạo ra những sắc thái nghĩa khác nhau, mức độ bắt buộc của là thì nhẹ hơn thì, là tỏ ý tự giác, phục tùng tuyệt đối còn thì lại hàm ý miễn cưỡng, trong khi đó mà lại thường có màu sắc biểu cảm tăng ngữ điệu đồng thời nhấn mạnh và gây sự chú ý đến một bộ phận nào đó. ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Ví dụ:
Chữ Cần chẳng những có nghĩa hẹp, như : tay siêng làm thì hàm siêng nhai.
Nó lại có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần, cả nước đều phải Cần.
Người siêng năng thì mau tiến bộ. Cả nhà siêng thì chắc ấm no.
Cả làng siêng thì làng phồn thịnh.
Cả nước siêng năng thì nước giàu mạnh.
Muốn cho chữ Cần có nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc…
Những chữ thì xuất hiện liên tục với hàm ý nhấn mạnh cao, nhấn mạnh đến kết quả sẽ đạt được ở vế sau nếu điều kiện nhắc tới trước đó xảy ra.
b. Phép đảo ngữ
Đảo ngữ là thay đổi vị trí các thành phần cú pháp mà không làm thay đổi nội dung thông báo cơ sở của câu. Đảo ngữ có tác dụng nhấn mạnh vào thành phần được đảo, nhằm tạo ấn tượng sâu sắc, đậm nét về sự vật, hiện tượng. Bộ phận được đảo có thể là vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ.
Ví dụ: Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào! [25, 425]
1.3.2.3 Biện pháp tách thành phần câu ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Đây là biện pháp tách bất cứ thành phần nào đó của câu thành câu riêng nhằm nhấn mạnh ý của thành phần được tách ra, tăng cường giá trị biểu cảm của câu văn.
Ví dụ: Những người Pháp muốn thật thà cộng tác với ta thì ta thật thà cộng tác với họ, ích lợi cho cả đôi bên. Để cho thế giới biết ta là một dân tộc văn minh. Để cho người Pháp ủng hộ ta càng thêm đông, sức ủng hộ càng thêm mạnh. Để có những kẻ khiêu khích muốn chia rẽ không có thể và không có cớ mà chia rẽ. Để cho công cuộc độc lập và thống nhất của chúng ta nhanh chóng thành công. [17, 418]
1.3.2.4. Biện pháp dùng giải ngữ, phụ ngữ tình thái
Trong lời nói giải thích ngữ và phụ ngữ tình thái nhiều khi được sử dụng làm phương tiện tu từ để cụ thể hoá hay để nhấn mạnh một nét nghĩa nào đó mà người nói muốn truyền đạt.
Ví dụ: Bởi thế cho nên, chúng tôi – Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:… [17, 3]
Giải thích ngữ, nhất là phụ ngữ tình thái thường có tác dụng làm cho người đọc người nghe như cùng tác giả nhập thân vào thế giới hình tượng.
1.3.2.5. Biện pháp dùng kết từ trong câu ghép
Dùng quan hệ từ trong câu ghép có thể làm cho các bộ phận được nối kết với nhau rõ ràng và đạt những giá trị tu từ nhất định. Ta có thể chia phương thức này ra làm các kiểu:
- Kiểu không dùng quan hệ từ:
Ví dụ: Đồng bào yêu mến nghe lời tôi. [17, 165]
Mối quan hệ logic giữa các vế trong câu ghép trở nên mờ nhạt, sâu sắc tình cảm được nổi bật hơn. Nếu dùng từ nối nếu … thì thì quan hệ giữa lãnh tụ và quần chúng sẽ trở thành một điều kiện, một giả thiết vì thế câu nói nghiêng về lí trí hơn là tình cảm.
- Kiểu dùng quan hệ từ:
Dùng từ nối có thể làm cho mối quan hệ giữa các bộ phận của câu ghép được nhấn mạnh
Ví dụ: Vì vâng lệnh chính phủ, mà nhân dân Việt Nam sẵn sàng cộng tác thật thà với nhân dân Pháp. Vì hiểu rõ đại nghĩa, mà nhân dân Pháp mong muốn cộng tác thật thà với nhân dân Việt Nam. [17, 457]
1.3.2.6. Biện pháp dùng câu hỏi tu từ
Dùng câu hỏi tu từ để mang lại sức nặng cho lời khẳng định, để thay đổi mạch văn hoặc bày tỏ một băn khoăn, một nỗi niềm,… cũng là một biện pháp thường gặp.
Ví dụ: Này, Tổng thống Giônxơn, ngươi hãy công khai trả trước trước nhân dân Mĩ và nhân dân thế giới: Ai đã phá hoại hiệp định Giơnevơ, là hiệp nghị bảo đảm chủ quyền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam? Phải chăng quân đội Việt Nam sang xâm lược nước Hoa Kì và giết hại người Hoa Kì? [25, 108]
Các câu hỏi liên tiếp xuất hiện dồn đối phương vào bế tắc không trả lời được và phải chấp nhận về mặt lí lẽ.
1.3.2.7. Biện pháp tỉnh lược cú pháp ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Là biện pháp tu từ nhằm giảm bớt một số thành phần trong câu mà ý nghĩa vẫn có thể khôi phục được nhờ ngữ cảnh hoặc hàm ngôn đối thoại [41, 232].
Ví dụ: Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. [19, 172]
1.3.2.8. Biện pháp liệt kê
Là biện pháp tu từ chỉ sự sắp xếp đặt các đơn vị lời nói cùng loại kế tiếp nhau để gây một ấn tượng mạnh mẽ về hình ảnh, cảm xúc. [35, 125]
Ví dụ :
Đời sống mới là:
- Hăng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ
- Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm.
1.3.2.9. Biện pháp lặp
a. Biện pháp lặp đầu
Là biện pháp tu từ thể hiện ở việc lặp lại một vài yếu tố ở đầu câu trong những câu tiếp theo.
Trong văn chính luận, biện pháp lặp đầu được sử dụng khá phổ biến nhằm nhấn mạnh một sắc thái ý nghĩa hay sắc thái biểu cảm nào đó, thu hút sự chú ý của mọi người, câu văn trở nên có sức thuyết phục.
Ví dụ:
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. [17, 2]
b. Biện pháp lặp cuối
Là biện pháp tu từ thể hiện ở việc lặp lại một vài yếu tố ở cuối câu trong những câu tiếp theo. Biện pháp này đem lại cho lời văn tính diễn cảm, nhịp nhàng, hài hoà, vì thế nó cũng được sử dụng rộng rãi trong thể loại văn chính luận.
Ví dụ:
Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân.
Thiện nghĩa là tốt đẹp, vẻ vang. Trong xã hội không gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân. [21, 278]
Nhìn chung, hệ thống biện pháp tu từ cú pháp mang tính chất đa dạng, nhiều kiểu loại, nhiều tiểu nhóm. Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tập trung khảo sát và phân tích các biện pháp tu từ cú pháp: biện pháp lặp (lặp về vị trí và lặp về cấu tạo), biện pháp liệt kê, biện pháp nhấn mạnh thành phần câu (gồm hai tiểu loại: nhấn mạnh bằng các tiểu từ và nhấn mạnh bằng đảo ngữ) và biện pháp dùng câu hỏi tu từ. Đây là những biện pháp tu từ tiêu biểu, được tác giả sử dụng nhiều trong tác phẩm của mình, các biện pháp này góp phần hình thành nên phong cách chính luận Hồ Chí Minh.
1.4. Khái niệm và đặc điểm phong cách ngôn ngữ chính luận
1.4.1. Khái niệm
Phong cách ngôn ngữ chính luận là loại phong cách chức năng ngôn ngữ thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực thông tin các vấn đề có ý nghĩa về thời sự chính trị, xã hội, được trình bày theo kiểu dạng văn bản chính luận. [1, 284]
Ví dụ: Các tác phẩm như Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh hoặc các bài xã luận trên báo đều thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận.
1.4.2. Đặc điểm phong cách ngôn ngữ chính luận
Phong cách chính luận được sử dụng rộng rãi trên báo chí (lời kêu gọi, báo cáo chính trị, lược thuật, điều tra, phóng sự…), trong các bài phát biểu ở các cuộc mittinh, các cuộc họp (diễn thuyết, báo cáo, nói chuyện thời sự,…). Đặc điểm của phong cách chính luận được giải thích bằng bản chất đa chức năng của nó. Phong cách chính luận có những nét giống như phong cách nghệ thuật (tác động vào tình cảm, ý chí của đông đảo quần chúng), phong cách khoa học (giải quyết những vấn đề trừu tượng) phong cách hành chính (hướng tới số đông quần chúng), phong cách khẩu ngữ (dùng khẩu ngữ, có thể thực hiện bằng hình thức nói miệng). Tuy vậy, phong cách chính luận vẫn có những đặc điểm riêng về phong cách và ngôn ngữ.
1.4.2.1. Đặc điểm phong cách
Với mục đích thông báo những thông tin có ý nghĩa chính trị – xã hội, phong cách ngôn ngữ chính luận có chức năng tác động vào nhận thức, tình cảm của người tiếp nhận. Trong văn bản chính luận, người ta thường gặp những cách nói thể hiện rõ ràng quan điểm lập trường của người viết như: chúng ta muốn, chúng ta cần, chúng ta thà, chúng ta phản đối, …
Phong cách chính luận có tính bình giá công khai, thể hiện rõ ràng thái độ của tác giả đối với sự kiện.
Phong cách chính luận có tính lập luận chặt chẽ, muốn thuyết phục người đọc thì cần phải giải thích, thuyết minh một cách có lí lẽ, có căn cứ vững chắc, nghĩa là phải dựa trên cơ sở những luận điểm, luận cứ khoa học. ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Phong cách chính luận có tính truyền cảm mạnh mẽ, tức sự diễn đạt hùng hồn, sinh động, có sức hấp dẫn và đạt hiệu quả cao, thuyết phục bằng cả lí trí, tình cảm, đạo đức…
Ví dụ:
Vì việc tàu bay Pháp tàn sát đồng bào ta ở Châu Đốc, và việc treo cờ Pháp ở Nhà hát lớn Hà Nội, lòng công phẫn của đồng bào ta lên rất cao. Nhưng chúng ta không nên vì việc đó mà đi sai con đường chính trị của chúng ta. Đối với người Pháp ở đây chúng ta phải tỏ rằng:
- Chúng ta là một dân tộc yêu chuộng hoà bình, công lý, nhân đạo. Chúng ta phải khoan hồng và bảo vệ tính mệnh, tài sản cho họ.
- Gặp hoàn cảnh nào, chúng ta cũng phải bình tĩnh, giữ trật tự, giữ kỷ luật.
- Về cách đối đãi với người Pháp – cũng như về các việc khác – nhân dân phải tuyệt đối nghe theo mệnh lệnh của Chính phủ, không được tự ý làm bừa. [17, 136].
Tháng 12 – 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi sau việc tàu bay địch tàn sát đồng bào Nam Bộ. Người nhắc nhở tất cả người Việt và người Pháp đều phải đề phòng bọn khiêu khích, tránh sự hiểu lầm và xung đột giữa người Pháp và người Việt. Lời kêu gọi ấy được viết bằng văn phong chính luận với lập luận chặt chẽ, luận cứ vững chắc, thể hiện rõ thái độ và lập trường của người viết: biểu hiện qua cách dùng câu ghép chỉ nguyên nhân kết quả (Vì việc tàu bay Pháp tàn sát đồng bào ta ở Châu Đốc, và việc treo cờ Pháp ở Nhà hát lớn Hà Nội, lòng công phẫn của đồng bào ta lên rất cao), cách dùng các từ ngữ thể hiện quan điểm lập trường của người viết (chúng ta phải tỏ rằng, chúng ta là, chúng ta phải, chúng ta cũng phải, phải tuyệt đối…), phép điệp cấu trúc giúp nhấn mạnh hơn về nội dung mệnh lệnh,… Tất cả góp phần tạo nên sức thuyết phục trong lời kêu gọi của Người.
1.4.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ
- Về ngữ âm: Ngôn ngữ chính luận sử dụng hệ thống ngữ âm chuẩn mực. Ở dạng nói, ngữ điệu truyền cảm, hùng hồn được chú ý khai thác.
- Về từ ngữ: Bên cạnh những từ ngữ Hán Việt biểu thị các đối tượng thuộc lĩnh vực chính trị, xã hội có màu sắc khái quát, trang trọng như độc lập, tự do, hạnh phúc, quyền lợi, ý thức, trách nhiệm,… là những từ ngữ hội thoại giàu màu sắc tu từ như đè đầu cưỡi cổ, dìm, sát cánh, móc ngoặc, khốn cùng,… Ngôn ngữ chính luận có tính rõ ràng, chuẩn xác, bộc lộ thái độ khen chê một cách công
- Về cú pháp: Trong văn bản chính luận, người ta thường gặp sự phối hợp hài hoà giữa những kiểu cấu trúc câu nhiều tầng nhiều bậc bên cạnh những kiểu câu có tính chất hội thoại, quen thuộc.
Ví dụ:
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hi sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hi sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc tộc!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm!
Về phương diện tu từ: các phương tiện giàu màu sắc tu từ và các biện pháp tu từ thường được sử dụng trong phong cách chính luận để tăng thêm sức mạnh thuyết phục.
Ví dụ: Trước tình cảnh đau đớn, xót xa ấy, ta có chịu khoanh tay chờ chết không? Không, quyết không! Hơn 20 triệu con Lạc cháu Hồng quyết không chịu làm vong quốc nô lệ mãi! [16, 197]
1.5. Văn chính luận trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Từ những năm 20 của thế kỉ XX, các bài văn chính luận với bút danh Nguyễn Ái Quốc đăng trên các báo “Người cùng khổ ” (Leparia), “ Nhân đạo ” (LHumanité), “Đời sống thợ thuyền ” (La vie ouvnire) đã tác động và ảnh hưởng lớn đến quần chúng Pháp và nhân dân những nước thuộc địa, kêu gọi thức tỉnh những người nô lệ bị áp bức liên hiệp lại trong mặt trận đấu tranh chung.
Những tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh được viết ra chủ yếu với mục đích đấu tranh chính trị nhằm tiến công trực diện kẻ thù hoặc thể hiện những nhiệm vụ cách mạng qua những chặng đường lịch sử. Trong số những tác phẩm chính luận của Người, chúng ta thường nhắc đến những áng chính luận nổi tiếng như: Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Di chúc, Bản án chế độ thực dân pháp. Bởi đây không chỉ là những tác phẩm mang tính chính trị nóng hổi của thời đại, những tác phẩm thể hiện tư tưởng mang tầm vóc nhân loại mà nó còn nổi bật với nghệ thuật viết văn điêu luyện, xuất sắc.
Bản án chế độ thực dân Pháp (Le Procès de la colonisation francaise) là một tác phẩm chính luận được viết bằng tiếng Pháp, xuất bản năm 1925 trên một tờ báo của Quốc tế Cộng sản có tên Imprékor. Nội dung tác phẩm tố cáo thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn khốc liệt bắt “dân bản xứ ” phải đóng “thuế máu” cho chính quốc để “phơi thây trên chiến trường Châu Âu”; đày đoạ phụ nữ, trẻ em thuộc địa; các thống sứ, quan lại thực dân độc ác như một bầy thú dữ,… Tác phẩm hướng các dân tộc bị áp bức đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, tiêu diệt hai cái vòi của con đỉa quốc tế. Tác phẩm đề ra cho nhân dân Việt Nam con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo chủ nghĩa Mác – Lênin.
Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện chính trị có giá trị lịch sử lớn lao, phản ánh khát vọng độc lập, tự do và cuộc đấu tranh kiên cường bền bỉ của dân tộc đã giành được thắng lợi. Đây là áng văn chính luận hùng hồn tuyên bố quyền độc lập của dân tộc Việt Nam trước nhân dân trong nước và thế giới. Tuyên ngôn độc lập là tác phẩm có giá trị pháp lí, giá trị lịch sử, giá trị nhân bản và giá trị nghệ thuật cao.
“Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (1946) và “Không có gì quí hơn độc lập tự do” (1966) là những áng văn chính luận hào hùng, tha thiết làm rung động hàng triệu trái tim yêu nước. Những tác phẩm ấy nói lên các vấn đề thời sự cấp bách của dân tộc, thể hiện sâu sắc tiếng gọi của non sông, đất nước trong những giờ phút thử thách đặc biệt.
Trong những năm tháng cuối đời, Người viết bản “Di chúc” thiêng liêng và chan chứa tình cảm. Bản “Di chúc” là lời căn dặn thiết tha, chân tình với đồng bào, đồng chí, vừa mang tính chiến lược trong hướng phát triển của đất nước, vừa thấm đượm tình yêu thương con người. ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Có thể nói, học tập phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết, là học tập cách viết và cách lập luận chặt chẽ qua từng câu chữ, mỗi trang văn chính luận. Những văn bản: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Tuyên truyền”, “Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Tuyên ngôn Độc lập” luôn là những áng văn mẫu mực về phong cách ngôn ngữ ngắn gọn, chắc chắn, dễ hiểu, chính xác và giàu cảm xúc.
Dù viết trong hoàn cảnh nào, và bằng thứ tiếng nào, văn chính luận Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn dựa hẳn trên hai nguyên lí: nguyên lí nhân đạo chủ nghĩa và triết lí ái quốc chủ nghĩa. Trong cách trình bày, người viết thiên về sự khẳng định chân lý theo sát với hai nguyên lí trên. Sự khẳng định thường được trình bày hết sức rạch ròi giữa cái thiện và cái ác, cái tốt và cái xấu, cái cao thượng và cái thấp hèn, điều chính nghĩa và điều phi nghĩa.
Đặc trưng nổi bật trong phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh là tính phù hợp một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn giữa ngôn từ, cách diễn đạt trong bài nói, bài viết của Người với tầm mức văn hóa, trình độ nhận thức, sự hiểu biết và cách suy nghĩ của từng đối tượng người nghe, người đọc và hợp với từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Hồ Chí Minh ý thức rất rõ rằng, hiệu quả cuối cùng và cao nhất của bài nói, bài viết chính là ở mức cảm thụ được ở người nghe, người đọc từ bài nói, bài viết đó.
Đặc điểm nổi bật thứ hai trong văn phong của Hồ Chí Minh là tính xác đáng về nghĩa của từ được sử dụng. Một từ Người đã dùng cho ý nào, trong tình huống nào là từ đó có ấn tượng mạnh và rất khó thay thế bằng từ khác.
Đặc điểm nổi bật thứ ba trong cách nói, cách viết của Hồ Chí Minh là việc sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật ngôn từ cho một mục đích diễn đạt. Những thủ pháp nghệ thuật ngôn từ tiêu biểu là: dùng câu hỏi để gây sự chú ý, đặt người nghe vào cuộc thoại; lặp từ để tạo ấn tượng; thay đổi hình thức từ, cấu trúc từ theo lối chơi chữ để tạo tính hài hước, dí dỏm, vui tươi, xóa nhòa sự ngăn cách về địa vị xã hội, gây sự thân mật giữa người nói và người nghe…
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi đặt mục tiêu tìm hiểu phong cách chính luận của Người (các tác phẩm được viết bằng tiếng Việt) từ góc nhìn ngôn ngữ. Từ việc khảo sát để tìm ra các biện pháp tu từ ngữ âm và các biện pháp tu từ cú pháp được thể hiện trong những văn bản chính luận, chúng tôi muốn thấy được giá trị của việc dùng những biện pháp tu từ ấy trong việc thể hiện nội dung, tư tưởng của tác phẩm.
Tiểu kết chương 1 ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Ở chương 1, chúng tôi đã trình bày về cơ sở lí thuyết biện pháp tu từ (biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp) và một số nét khái quát về phong cách chính luận. Đây là những kiến thức lí luận cơ bản được coi là tiền đề cho việc tiến hành nghiên cứu đề tài luận văn.
Tu từ học là bộ môn xuất hiện từ lâu, những thành tựu to lớn của nó góp phần đáng kể vào việc phát triển ngôn ngữ. Biện pháp tu từ là cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nhằm đạt hiệu quả trong cách diễn đạt. Biện pháp tu từ chú ý đến khả năng lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ, độc đáo trong cách thể hiện, tạo ra sự mới mẻ, lạ hoá.
Biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp là những biện pháp tu từ được sử dụng nhiều trong sáng tạo văn chương. Qua sự biểu hiện hình thức ngôn ngữ một cách điêu luyện, sự gia công cầu kì và có mục đích nghệ thuật, các tác giả văn chương đã thể hiện được đặc trưng phong cách của mình trong sáng tạo nghệ thuật, ở đó họ đã kết hợp hài hoà giữa hình thức và nội dung, lấy hình thức diễn đạt làm điểm tựa cho nội dung. Có thể nói, nội dung của tác phẩm văn học được tạo ra dựa vào hình thức thể hiện mà biện pháp tu từ là một trong những phương thức được chú ý nhiều hơn cả, bởi “Thời trang là thuật của phái đẹp. Tu từ là thuật của nhà thơ, một phái đẹp khác” (Lê Đạt). Điều đó cũng phù hợp với cả văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Mặc dù, biện pháp tu từ ngữ âm thường được nhắc đến nhiều trong thơ, đó là sự hài hoà về mặt âm thanh, về vần và nhịp; nhưng không có nghĩa là trong văn xuôi người ta không cần đến sự có mặt của nó. Ngược lại, tìm hiểu biện pháp tu từ ngữ âm trong văn xuôi (cụ thể là văn chính luận) ta có thể thấy rõ hơn sự tài tình của nhà văn ở cách phối hợp sử dụng khéo léo các âm thanh, làm cho câu văn không bị khô khan hay gần gũi với phong cách nói, hơn hết là góp phần cộng hưởng để tạo ra giá trị nội dung cho văn bản cũng như truyền tải rõ hơn tư tưởng, tình cảm của tác giả.
Sử dụng các biện pháp tu từ cú pháp để gia tăng tính thẩm mĩ cho câu văn là việc làm thường thấy ở các tác phẩm văn xuôi. Chính vì vậy, người cầm bút phải có sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo, thoát khỏi những quy tắc ràng buộc quen thuộc, đem lại hơi thở mới cho sự diễn đạt mới (bởi bình diện ngữ pháp thường ít có sự biến đổi, ít có sự biến hoá trong lời nói cá nhân, vì vậy, đòi hỏi người nghệ sĩ phải có khả năng sáng tạo cao). ( Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Việc khám phá, bình giá các biện pháp tu từ ngữ âm và cú pháp trong tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh sẽ cho thấy được tài năng, phong cách tác giả. Dựa trên nền tảng lí thuyết đã được trình bày, trong những chương tiếp theo, chúng tôi tiến hành khảo sát các biện pháp tu từ ngữ âm (nhịp điệu, vần điệu và thanh điệu) và biện pháp tu từ cú pháp (biện pháp lặp, biện pháp liệt kê, biện pháp nhấn mạnh các thành phần câu và biện pháp dùng câu hỏi tu từ) được sử dụng trong tác phẩm văn chính luận của Người (chúng tôi chỉ khảo sát những tác phẩm được viết bằng tiếng Việt), từ đó, tìm ra cái hay cái đẹp trong việc sử dụng các biện pháp tu từ ấy.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
