Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh

Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh đặt ra nhiệm vụ khảo sát các biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong các tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh, thấy được giá trị và hiệu quả biểu đạt của các phép tu từ; góp phần tìm hiểu phong cách ngôn ngữ Hồ Chí Minh trong văn chính luận. Từ đó, rút ra bài học thực tiễn trong dạy học tác phẩm của Hồ Chí Minh và bài học về sử dụng ngôn ngữ nói chung. Những lí do trên là cơ sở để tác giả chọn đề tài “Biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh”.

2.1. Các biện pháp tu từ ngữ âm trong văn chính luận Hồ Chí Minh

2.1.1. Nhịp điệu trong văn chính luận Hồ Chí Minh

Mặc dù thuộc thể loại văn xuôi nhưng những tác phẩm chính luận của Người lại giàu tính nhịp điệu. Nhịp điệu xuất hiện trong lời văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một phẩm chất cần thiết để tăng thêm sự diễn cảm, tính nghệ thuật, phục vụ nhiều hơn vào việc chuyển tải nội dung ý nghĩa của tác phẩm. “Trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự xuất hiện nhịp điệu tổ chức lời văn không phải là một hiện tượng cá biệt mà là một hiện tượng thường xuyên và phổ biến. Tính nhịp điệu đã trở thành một đặc điểm nổi bật trong phong cách ngôn ngữ chính luận của Người ”. [7, 1]

Nhịp là một trong những yếu tố quan trọng để tạo nên sự hài hòa cho lời văn. “Nhịp hiểu theo nghĩa rộng là một biểu hiện hình thức mà bản chất cốt lõi của nó là sự lặp lại theo một khoảng cách nhất định, sự luân phiên cách quãng có tính chất chu kì bền vững của các hiện tượng trong tự nhiên hay trong đời sống xã hội. ” [7, 2] Ví dụ: sự chuyển đổi của các hành tinh, sự chuyển đổi luân phiên của bốn mùa, của ngày đêm, … và những nhịp điệu nhân tạo như: nhịp điệu của âm nhạc, của thơ ca.

Thuật ngữ “nhịp” xuất hiện trong các bộ môn nghệ thuật, về mặt tổ chức hình thức dựa trên cơ chế của sự lặp lại có tính chất chu kì, cách quãng hoặc luân phiên đều đặn các yếu tố cùng loại theo một trình tự nhất định để đem lại vẻ đẹp hài hòa, cân đối, uyển chuyển, sống động cho tác phẩm nghệ thuật. Ví dụ: trong âm nhạc, nhịp có tính thời gian được cảm nhận bằng thính giác. Các âm thanh trong âm nhạc được tổ chức theo thời gian, sự nối tiếp các âm thanh với những phách bằng nhau về thời gian tạo nên trong âm nhạc một sự chuyển động nhịp nhàng.

“Ở cấp độ tổ chức văn bản, đơn vị cơ bản của sự lặp lại trong thơ là dòng thơ với độ dài của nó gồm số tiếng và vần như là điểm ngắt của nó… Trong văn xuôi, nhịp điệu của tổ chức lời văn được hình thành trên cơ sở sự phân tách văn bản thành chương, hồi, đoạn. Câu văn dài ngắn, khúc khuỷu được lặp lại cũng tạo nên nhịp điệu cảm nhận đời sống”. [31, 238]

Tác giả Vũ Thị Sao Chi (trong bài viết “Một số kiểu tổ chức nhịp điệu trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh ” – Tạp chí ngôn ngữ số 9, 2004) đã dựa vào những tiêu chí nhất định để xác định các mô hình nhịp điệu trong văn chính luận của Người. Theo tác giả bài viết này, các kiểu nhịp điệu tiêu biểu trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm: nhịp điệu đối xứng, nhịp điệu trùng điệp và kiểu nhịp điệu tự do. Cứ liệu khảo sát của chúng tôi cũng cho thấy ba kiểu nhịp điệu như vậy.

2.1.1.1. Nhịp điệu đối xứng ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

“Nhịp điệu đối xứng là kiểu tổ chức nhịp điệu có sự cân xứng, ứng đối nhau. Nhịp trước hô ứng với nhịp sau, giống nhau về ngắt nhịp, cân bằng về số tiếng, đối xứng về thanh điệu”. [7, 2]

Ví dụ: Toàn dân đoàn kết./ Tướng sĩ dũng cảm./ Chính trị vững chắc./ Chỉ huy khôn khéo.// [18, 511]

Kiểu tổ chức nhịp điệu này thường dựa trên mô hình đối xứng. Nó thường xuất hiện với phép song song, đối ngữ. Đây cũng là kiểu tố chức nhịp điệu điển hình trong thơ Đường luật, ở các câu thành ngữ, tục ngữ, câu đối, ở các thể văn cổ như phú, tế, biền văn…

Ví dụ:

  • Xanh vỏt(1), đỏ lòngb(2)
  • Đói cho sạcht, rách cho thơmb

Vừa tiếp thu khuôn hình nhịp điệu đối xứng của thơ văn cổ xưa, văn chính luận Hồ Chí Minh vừa có sự cách tân đáng kể trong việc tạo ra những nhịp điệu khác lạ, mang tính tự nhiên mà vẫn rất uyển chuyển nhờ sự cân xứng giữa các vế nhịp.

Ghi chú: (1): Trắc (2): bằng

  • Các cặp nhịp đối xứng một cách triệt để về số tiếng, cách ngắt nhịp, thanh điệu.

Ví dụ:

Việc thiện/ thì dù nhỏ mấy cũng làm.// Việc ác/ thì dù nhỏ mấy cũng tránh. // [18, 645]

  • Các vế nhịp đối xứng có thể có một nhịp hoặc nhiều nhịp ngắn liên kết lại. Ví dụ:
  • Vế loại có một nhịp: (1) Tiền đồ dân tộc ta rất vẻ vang,/ (2) tiền đồ nghệ thuật ta rất rộng rãi.// [19, 369]
  • Vế loại có nhiều nhịp: (1) Siêng học tập thì mau biết./ (2) Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến./(3) Siêng làm thì nhất định thành công. /(4) Siêng hoạt động thì sức khỏe.// [18, 632]

Ngoài các đặc điểm trên, văn chính luận Hồ Chí Minh còn có sự tổ chức nhịp điệu đối xứng mang tính sáng tạo.

  • Nếu văn thơ cổ đòi hỏi tổ chức nhịp điệu đối xứng trên toàn văn bản thì kiểu nhịp điệu đối xứng trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh được vận dụng tự nhiên ở một vài đoạn, câu, thậm chí một bộ phận của câu (đối xứng xen kẽ).

Ví dụ: ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

  • Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra bệnh quan liêu. Kềnh càng./ Kiêu ngạo. /Chậm chạp. //Làm cho qua chuyện./ Ham chuộng hình thức.// [18, 509]
  • Từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nền Dân chủ Cộng hòa, cho đến mấy năm kháng chiến, dân ta nhờ Cần,/ Kiệm,/ Liêm,/ Chính,// mà đánh thắng được giặc lụt,/ giặc dốt,/ giặc thực dân/ giặc đói.// [18, 631]
  • Nếu cặp nhịp đối xứng trong thơ văn cổ gồm hai vế đối xứng nhau thì cặp nhịp đối xứng trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể nhiều hơn 2 vế đối xứng.

Ví dụ: Kết quả cần cộng với kết quả Kiệm là: bộ đội sẽ đầy đủ,/ nhân dân sẽ ấm no,/ kháng chiến sẽ mau thắng lợi,/ kiến quốc sẽ mau thành công,/ nước ta sẽ mau giàu mạnh./ [18, 639]

  • Nếu cặp nhịp đối xứng trong văn thơ cổ được tổ chức liền mạch thì trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện hiện tượng các vế của một cặp đối xứng đứng xa nhau (đối xứng cách quãng).

Ví dụ: Cải cách ruộng đất/ để đảm bảo cho/ kháng chiến thắng lợi.// 

2.1.1.2. Nhịp điệu trùng điệp

Nhịp điệu trùng điệp là kiểu tổ chức nhịp điệu có sự lặp, trùng nhiều lần một cách ngắt nhịp, một yếu tố hay một dáng điệu, đường nét âm thanh nào đó. Cụ thể là các nhịp lặp, trùng nhau về độ dài, hoặc cao độ, hoặc điểm nhấn, hoặc thanh điệu, hoặc âm… [7, 5]

Ví dụ: Chúng ta phải hiểu rằng,/có nhiều thứ chiến tranh:// chiến tranh bằng sức người,/ chiến tranh bằng võ khí,/ chiến tranh bằng chính trị,/ chiến tranh bằng tinh thần… /// [17, 187]

Trong văn chính luận Hồ Chí Minh, kiểu nhịp điệu này khá phổ biến, vừa góp phần tạo ra sự gân guốc cho câu văn, vừa có tác dụng nhấn mạnh về mặt ngữ nghĩa. Đây là kiểu nhịp điệu dựa trên mô hình trùng lặp, do vậy, nó thường đi liền với các phép điệp từ, điệp ngữ, điệp kiểu câu, phép liệt kê.

Nhịp điệu trùng điệp có tổ chức âm thanh đặc biệt. Các tổ chức âm thanh được sử dụng nhiều lần, nhấn đi nhấn lại trong các nhịp, tạo nên những phách mạnh tương đương, tạo ra sự cân đối hài hòa ngay cả khi các nhịp có thể dài ngắn, so le, không bằng nhau.

Ví dụ: Mọi người Việt Nam phải hiểu biết/ quyền lợi của mình,/ bổn phận của mình,/ phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà,/ và trước hết phải biết đọc biết viết chữ quốc ngữ. //[17, 36]

Sự nhấn lại về mặt âm thanh ở kiểu nhịp điệu trùng điệp được thể hiện rất linh hoạt, nhiều kiểu loại:

* Thể hiện bằng sự ngắt nhịp tương đương, tạo ra chuỗi nhịp có số tiếng bằng nhau. ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

Ví dụ: Đoàn kết chặt chẽ chung quanh Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam,/ đồng bào miền Nam,/ không phân biệt gái,/ trai,/ già,/ trẻ,// không phân biệ/t sĩ/, nông,/ công,/ thương;// không phân biệt/ người Kinh,/ người Thượng;// đồng tâm nhất trí,/ vượt mọi khó khăn,/ gian khổ,/ kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng./// [24, 61]

* Đường nét âm thanh (lên giọng, dồn giọng, nhấn giọng) được thể hiện liên tiếp trong các nhịp.

+ Lên giọng: Chúng tôi chỉ muốn độc lập và thống nhất. / Chúng tôi chỉ muốn hòa bình. (*) / Chúng tôi không muốn chiến tranh,/ nhưng chúng tôi quyết tự vệ đến giọt máu cuối cùng. / Chúng tôi quyết không chịu mất nước làm nô lệ thực dân lần nữa. // [18, 118]

+ Dồn giọng :(**) Chúng ta sống chết có nhau,/ sướng khổ cùng nhau,/ no đói giúp nhau.// [17, 217]

+ Nhấn giọng : Đồng bào/ Kinh hay Thổ,/ Mường hay Mán,/ Gia Rai hay Ê Đê,/ Xê Đăng hay Ba Na,/ và các dân tộc thiểu số khác,/ đều là con cháu Việt Nam,/ đều là anh em ruột thịt.// [17, 217]

* Sử dụng dày đặc một loại thanh điệu trong các nhịp.

Ví dụ : Ýt nghĩat và mụct đícht củat chiếnt dịcht là:/ tiêu diệtt sinh lựct địcht,/ tranh thủt nhân dân,/ giảit phóngt đấtt đai/ mà nhiệmt vụt chínht là tiêu điệtt sinh lựct địcht.// [19, 559]

* Điệp âm tiết hoặc tổ hợp âm tiết trong các nhịp.

Ví dụ: Người đủ ăn thì khá giàu./ Người khá giàu thì giàu thêm.// Người nào cũng biết chữ./ Người nào cũng biết đoàn kết, / yêu nước.// [18, 65]

* Sử dụng kết hợp các kiểu trên.

Ví dụ : Đối với công việc / phải thấy trước, / lo trước, / tính trước.   // Phải cân nhắc kĩ những điều thuận lợi/ và khó khăn,/ để kiên quyết vượt qua mọi khó khăn, / phát triển mọi thuận lợi. // Bất kì việc to/ việc nhỏ/ đều phải rất cẩn thận, / không hấp tấp,   / không rụt rè. // Bại không nản, / thắng không kiêu. // Tuyệt đối tránh chủ quan,/ nông nổi./// [20, 3]

2.1.1.3. Nhịp điệu tự do ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

Nhịp điệu tự do là kiểu tổ chức nhịp điệu không nhất thiết dựa theo một khuôn hình nhịp điệu nhất định nào, không cô vào các thế đối xứng, không duy trì nòng cốt âm, không ấn định về nhịp, vần, thanh… nhưng vẫn có sự cân đối, nhịp nhàng, hài hòa trong nhịp điệu bởi sự sắp xếp các nhịp theo một hệ thống logic, khoa học (phân dòng, phân mục…), bởi sự hòa thanh hoặc hòa âm của một số âm tiết trong các nhịp… [7, 8]

Ví dụ:

Nông: /Trồng nhiều lúa,/ nhiều màu,/ nhiều bông,/ để quân dân đủ ăn,/ đủ mặc,/ đủ dùng;//

Bảo vệ mùa màng, /cất giấu thóc lúa, /sẵn sàng tiếp tế lương thực cho quân đội và các cơ quan;//

Tổ chức làng kháng chiến;/ chủ ruộng giảm địa tô cho đúng,/ tá điền nộp địa tô cho đều;//

Xây dựng các tổ đổi công để tăng gia sản xuất…/// [18, 591]

Các nhiệm vụ chính trong giai đoạn mới của ngành nông được người viết sắp xếp theo dòng (mỗi nhiệm vụ là một dòng), cách trình bày như thế làm cho vấn đề rõ ràng, khoa học, tạo nên nhịp điệu đều đặn, rành mạch cho đoạn văn.

Cách tổ chức nhịp điệu tự do trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: sắp xếp các nhịp thành hệ thống; phối hợp các nhịp đều đặn, dài – ngắn, lên – xuống, nhanh – chậm nhịp nhàng; kết hợp sự hòa âm hoà thanh của các tiếng trong nhịp và giữa các nhịp.

  • Sắp xếp các nhịp thành hệ thống: các nhịp được sắp xếp theo một trình tự nhất định tạo nên sự hài hòa cho lời văn. Cách sắp xếp ấy có thể được thể hiện qua việc sử dụng hệ thống các câu ghép quan hệ, câu ghép chuỗi, câu ghép tầng bậc; các nhịp có thể được sắp xếp theo cách phân mục, phân dòng hoặc theo cấu trúc tam đoạn luận.
  • Sử dụng hệ thống câu ghép (câu ghép quan hệ, câu ghép chuỗi, câu ghép tầng bậc) để tạo ra nhịp điệu.

Ví dụ:

+ Đảng viên và cán bộ cũng là người./ Ai cũng có tính tốt và tính xấu.// Song đã hiểu biết,/ đã tình nguyện vào một Đảng vì dân,/ vì nước,/ đã là một người cách mạng/ thì phải cố gắng sửa đổi những tính tốt và sửa bỏ tính xấu./// [18, 254]

+ Muốn biết mùi quả cam,/ phải bổ quả cam mà nếm.// Muốn biết tính chất quả cam thế nào/ thì phải dùng vật lí và hóa học mà xét,/ rồi mới có thể thay đổi tính chất của quả cam. // Muốn hiểu biết lí luận và cách mạng,/ phải thực hành tham gia cách mạng./// [19, 251]

  • Phân mục:

Ví dụ : ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

Dân tộc hóa: /

  1. Không dùng một chữ nước ngoài nếu không cần. /
  2. Không viết một câu theo cách đặt chữ của nước ngoài nếu không cần./
  3. Không dùng điển tích của nước ngoài nếu không ích gì./
  4. Không được li dị với truyền thống văn chương quý báu của dân tộc./
  5. Không được miệt thị và hằn ghét cái hay của văn nghệ nước ngoài./
  6. Không miệt thị văn nôm… /[12, 217]
  • Phân dòng:

Ví dụ:

Chúng ta cần nhất bây giờ là:/ Kiến thiết ngoại giao/

Kiến thiết kinh tế/

Kiết thiết quân sự/ Kiến thiết giáo dục./

  • Cấu trúc tam đoạn luận:

Ví dụ: Giao thông là mạch máu của mọi việc./ Giao thông tắc thì việc gì cũng khó./ Giao thông tốt thì việc gì cũng dễ dàng./ [18, 79]

* Phối hợp các nhịp đều đặn, dài – ngắn, lên – xuống, nhanh – chậm một cách nhịp nhàng.

Ví dụ:

Vì bổn phận của người dân Việt Nam,/ bất kì/ già,/ trẻ,/ trai,/ gái;// bất kì/ giàu,/ nghèo,/ lớn,/ nhỏ,// đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận:/ Quân sự,/ Kinh tế,/ Chính trị,/ Văn hóa.// Thực hiện khẩu hiệu:/

Toàn dân kháng chiến,/ Toàn diện kháng chiến.//

Trong cuộc thi đua ái quốc, chúng ta:/ Vừa kháng chiến, /

Vừa kiến quốc./// [18, 444]

* Kết hợp sự hòa âm hoà thanh của các tiếng trong nhịp và giữa các nhịp.

Ví dụ: Đểt đạtt đượct mụct đícht ấyt,/ thì công nhân phảit tổt chứct thậtt chặtt chẽt,/ chặtt chẽt và rộngt rãit,// thi đua tăng gia sảnt xuấtt,/ thi đua họct tậpt đểt tiếnt bột mãit,/ tựt cảit thiệnt đời sốngt tinh thần và vậtt chấtt củat mình,/ phát hoạit kinh tết củat địcht.// Đót là nhiệmt vụt chung cho tấtt cảt công nhân ởt vùng tựt do/ và trong vùng tạmt bịt địcht chiếm./// [19, 15].

2.1.2. Vần trong văn chính luận Hồ Chí Minh ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

Thông thường, người ta chỉ nói đến cách hiệp vần trong thơ, bởi hiệp vần là yếu tố ngữ âm quan trọng để tách loại hình nghệ thuật ngôn từ này ra khỏi văn xuôi, vần là yếu tố tạo nên nhạc điệu cho tác phẩm thi ca trong mọi thời đại. Như vậy, vần có vai trò quan trọng trong cấu trúc ngữ âm của chính bài thơ và nó còn góp phần liên kết các dòng thơ lại với nhau làm cho đọc thuận miệng, nghe thuận tai, câu nói trở nên dễ thuộc, dễ nhớ.

Trong văn xuôi, mặc dù không chú trọng đến yếu tố vần như một đặc điểm tất yếu, nhưng ở những trường hợp nhất định, văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh có sử dụng vần ở những chỗ cần thiết, tạo cho văn bản có sự sáng tạo độc đáo, câu văn giàu nhạc điệu, hài hòa, dễ nghe, dễ thuộc.

Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng, văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh có cách hiệp vần linh hoạt, được thể hiện trên những phương diện sau:

  • Về vị trí hiệp vần: bao gồm vần ở đầu, vần lưng và vần chân (trong đó loại vần lưng chiếm ưu thế, khoảng 45 %).
  • Về mức độ hòa âm: có vần chính và vần thông (trong đó vần thông chiếm ưu thế (khoảng 67 %).

Các tiêu chí trên là các yếu tố tạo nên vần điệu trong văn chính luận của Người, mỗi tiêu chí phân loại vần đều có những vai trò nhất định trong việc tạo ra giá trị cho tác phẩm.

2.1.2.1. Vần dựa vào vị trí

Vần xét trên tiêu chí vị trí trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh được chia làm 3 loại: vần đầu, vần lưng và vần chân. Nhìn chung, sự xuất hiện những kiểu vần này không câu nệ vào kiểu cấu trúc câu hay nhịp điệu, vần có thể xuất hiện ở mọi kiểu câu, mọi kiểu nhịp điệu, sự hợp tác giữa nó với các hình thức ngữ âm khác tạo nên sự đồng thanh biểu cảm. Những trường hợp vần xuất hiện trong kiểu cấu trúc sóng đôi (nhịp điệu đối xứng, nhịp điệu trùng điệp) thì tạo ra sự đối xứng về vần, vần xuất hiện trong những câu văn ngắn dài đan xen (kiểu nhịp điệu tự do) thường góp phần tạo nên sự hòa âm để câu văn trở nên trôi chảy, giàu nhạc tính.

* Vần đầu

Các tiếng ở đầu các câu hiệp vần với nhau, tạo ra kiểu đối về vần.

Ví dụ:

  • Đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí đó không bao giờ thay đổi. [17, 246]
  • Non sông gấm vóc, há cam lòng chịu đọa đày. Con cháu Lạc Hồng nào để thực dân khinh miệt. [18, 434]

* Vần lưng (yêu vận)

Đây là loại vần được gieo vào giữa các tiếng trong câu. Như vậy, loại vần này thường xuất hiện trong nội bộ một câu (khác với loại vần đầu và vần chân thường có sự gieo vần giữa nhiều câu khác nhau). Loại vần này có tần số xuất hiện cao trong các văn bản chính luận của Người.

Ví dụ: ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

  • Tránh chỗ rắn, nắn chỗ mềm. [16, 474]
  • Cán bộ xung trước, làng nước theo sau. [25, 204]

Kiểu vần này thường xuất hiện phổ biến trong ca dao, tục ngữ như:

  • mới, nới cũ.
  • Đồng tiền, liền khúc ruột.
  • Bao giờ hết cỏ Tháp Mười.

Thì dân ta mới hết người đánh Tây.

Dựa vào độ cách quãng của các tiếng được gieo vần, có thể chia vần lưng trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm 2 loại: loại vần lưng sát và loại vần lưng cách.

  • Vần lưng sát: (vần được gieo vào hai tiếng liền nhau). Vi dụ :

– Hay thưởng quá, là tướng đã lận quận.

Hay phạt quá, là tướng đã khốn đốn. [16, 533]

Toàn thể đồng bào ta đã hiểu rằng có cách mạng thì sống, không cách mạng thì sẽ chết dần, chết mòn. [16, 9]

  • Vần lưng cách: Các tiếng gieo vần đứng xa nhau, xen giữa các tiếng không mang vần. Khoảng cách vần của các tiếng có thể là cách một tiếng, hai tiếng, ba tiếng, hay nhiều hơn nữa, tùy thuộc vào câu văn ngắn hay dài, câu đơn giản hay câu có cấu trúc tầng bậc, câu có ít vế hay nhiều vế, …

Ví dụ:

Gần ta mà địch lặng lẽ là nó cậy có chỗ hiểm, xa ta mà đich đến khiêu chiến, là nó muốn mồi ta tiến lên. [16, 532]

  • Binh tránh chỗ mạnh đánh vào chỗ hèn. [16, 525]
  • Vây thành đánh là kém nhất [16, 518]
  • Hóa chỉnh vi linh, hóa linh vi chỉnh [16, 474]

Có những trường hợp câu văn chính luận của Người còn có sự gieo vần với khoảng cách xa hơn, nhưng vẫn giữ tạo được sự hài hòa, nhịp nhàng.

Ví dụ: ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

Tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc đang vang dội bên tai chúng ta! Máu nóng anh dũng của các bậc tiên liệt đang sôi sục trong tim chúng ta! [16, 198]

Kiểu vần lưng sát hay kiểu vần lưng cách cũng là cách gieo vần thường gặp trong ca dao, tục ngữ, thơ truyền thống.

Ví dụ :

  • Vụng tay, hay con mắt. (vần liền)
  • Đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại (vần lưng cách một tiếng)
  • Chuông có gõ mới kêu, đèn có khêu mới rạng (vần lưng cách hai tiếng).
  • Ăn một mình đau tức, làm một mình cực thân (vần lưng cách ba tiếng)
  • Số giàu trồng lau ra mía, số khó trồng củ tía ra củ nâu (vần lưng cách bốn tiếng)
  • Số phận lao đao phải sao chịu vậy, tới số ăn mày bị gậy phải mang (vần lưng cách năm tiếng).

* Vần chân

Đây là loại vần được gieo vào các âm tiết cuối các câu, tạo ra sự liên kết giữa các câu về cả hình thức và nội dung.

Ví dụ:

Ruộng rẫy là chiến trường,

Cuốc cày là vũ khí,

Nhà nông là chiến sĩ,

Hậu phương thi đua với tiền phương.

* Có những trường hợp, các loại vần trên xuất hiện đan xen, tạo nên sự hòa tấu độc đáo:

Ví dụ:

  • Cho nên khéo dùng binh thì thắng được quân địch mà không phải đánh. Lấy được thành của địch mà không phải vây. Hủy được nước địch mà không phải đánh lâu. Vậy nên không hao tốn binh lính mà thắng lợi hoàn toàn. [16, 518]

Tướng vâng mệnh chúa, tập hợp quân đội, cùng địch đối diện mà ở, không gì khó bằng quân tranh. Khó tại nơi biết lấy đường quanh làm đường thẳng, biết đổi sự khó khăn thành sự ích lợi. [16, 527]

2.1.2.2. Vần dựa vào mức độ hòa âm ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

Dựa vào mức độ hòa âm của các âm vị đoạn tính trong câu, chúng ta có thể chia vần ra làm hai loại: vần chính và vần thông.

* Vần chính

Sự hòa phối âm thanh ở mức độ cao giữa các tiếng được gieo vần, trong đó bộ phận vần cái hoàn toàn trùng hợp. [31, 424]

Vần chính trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể được gieo trong một câu hoặc giữa các câu khác nhau (có thể đứng ở vị trí đầu, vị trí giữa câu hoặc cuối các câu.)

Ví dụ:

  • Ta đánh nơi địch không phòng bị, ra nơi nó chú ý. [16, 515]
  • Người khéo dùng binh thì không phải bổ sung binh lính nhiều lần, không phải chở lương thực nhiều bận. [16, 516]
  • Tay siêng làm thì hàm siêng [18, 632]

Cách hiệp vần chính trong tác phẩm chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh tạo ra độ hòa âm cao nhất. Vần chính xuất hiện làm cho câu văn trở nên mượt mà, không khô khan, đơn điệu; do vậy, lời văn trở nên dễ thuộc, dễ nhớ bởi âm điệu êm tai, đây là một đặc điểm cần thiết đối với thể loại chính luận mang tính cổ động cao.

* Vần thông

Một loại vần được tạo nên bởi sự hòa phối âm thanh giữa các tiếng được gieo vần, trong đó bộ phần vần cái không lặp lại hoàn toàn mà có thể khác nhau chút ít. [31, 425].

Cũng như vần chính, vần thông trong văn chính luận Hồ Chí Minh xuất hiện trong câu hoặc giữa các câu khác nhau, vần được lặp lại có âm chính không đồng nhất nhưng các âm chính này đều cùng dòng hoặc cùng độ mở.

Ví dụ:

  • Người siêng năng thì mau tiến bộ. Cả nhà siêng năng thì chắc ấm Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh. Cả nước siêng năng thì nước giàu mạnh. [18, 632]
  • Toàn dân sẽ đủ ăn, đủ mặc. Toàn dân sẽ biết đọc, biết viết. Toàn bộ đội sẽ đầy đủ lương thực khí giới. Để giết giặc ngoại xâm. Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn. [18, 445]

Vần thông là một dạng vần lỏng, do vậy tính chất hòa âm thấp hơn so với vần chính, câu văn chứa vần thông cũng không được êm xuôi như câu văn chứa vần chính nhưng loại vần này cũng mang những thuộc tính ngữ âm đặc trưng để tạo ra ấn tượng nhất định trong vai trò biểu cảm.

Có thể bạn quan tâm:

BẢNG GIÁ DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ

2.1.3. Sự phối thanh trong câu văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

Thanh điệu tiếng Việt là một yếu tố siêu đoạn tính, có sự biến hóa liên tục về đường nét, cao độ để tạo ra những phẩm chất ngữ âm khác nhau.

Là một yếu tố ngữ âm quan trọng của âm tiết tiếng Việt, ngoài việc tham gia cấu tạo từ và tạo nghĩa cho từ, thanh điệu còn tạo cho tiếng Việt tính nhạc, tạo vần điệu cho câu văn, tạo tính trầm bổng nhịp nhàng…

Thông thường, trong thơ người ta chú ý đến việc dùng thanh điệu của các âm tiết ở những vị trí nhất định để đảm bảo sự hài hòa về mặt ngữ âm. Chẳng hạn, các thể loại thơ cổ thường có sự phối hợp thanh điệu theo kiểu: các âm tiết hiệp vần giữa câu thơ trên và câu thơ dưới chỉ có thể có những thanh điệu cùng loại xét về mặt âm điệu (cùng bằng hoặc cùng trắc).

Ví dụ:

Ngoài đâu cầu nước trong như lọc Đường bên cầu cỏ mọc còn non Đưa chàng lòng dằng dặc buồn

Bộ khôn bằng thủy ngựa khôn bằng thuyền

Nước có chảy mà phiền khôn rửa

Cỏ có thơm mà nhớ khó quên

Nếu trong một câu thơ có hai âm tiết được gọi là vần, một âm tiết hiệp vần với câu trên, một âm tiết hiệp vần với câu dưới thì thanh điệu được phân bố trong hai vần đó không nhất thiết phải cùng âm điệu và nếu chúng cùng âm điệu thì lại phải trái nhau về âm vực (ví dụ : mọc – non, khôn – thuyền trong đoạn thơ trên).

Tuy thể loại văn xuôi không xem sự hiệp thanh như một phẩm chất cần thiết nhưng nếu có sự kết hợp hài hòa giữa các thanh hoặc có sự xuất hiện dày đặc các thanh cùng âm vực (hay cùng âm điệu) thì sẽ tạo ra những kiểu biểu hiện mang tính nghệ thuật.

Qua khảo sát ngữ liệu, chúng tôi thấy câu văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh có sự kết hợp khéo léo để phát huy tối đa những ưu điểm của thanh điệu, tạo ra những kiểu âm sắc khác nhau, góp phần vào việc biểu đạt ý nghĩa. Câu văn chính luận của Người thường có sự phối thanh theo các kiểu sau đây:

2.1.3.1. Đối thanh giữa các tiếng cuối nhịp, cuối câu (các thanh có sự luân phiên đối xứng nhau về âm điệu)

Ví dụ:

  • Đồng bào miền Nam nhất định sẽ thắngt. Nam – Bắc nhất định sẽ sum họp một nhàb. [24, 63]
  • Nhân dân Việt Nam nhất định thắng Giặc Mỹ nhất định thuab. [25, 110]
  • Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốct. Kháng chiến có thắng lợi thì kiến quốc mới thành côngb. Kiến quốc có chắc chắn thành côngb, kháng chiến mới mau thắng lợit. [17, 99].
  • Nước nhà cần phải kiến thiếtt. Kiến thiết cần phải có nhân tàib. [17, 451]
  • Mình hơn người thì chớ kiêu căngb. Người hơn mình thì chớ nịnh hótt, Thấy của người thì chớ tham lamb.

2.1.3.2. Các thanh của tiếng cuối nhịp, cuối câu khác về âm vực (các thanh đối xứng có thể khác nhau về âm vực)

Ví dụ:

  • Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh năm mà vẫn đói rácht-c. Làng xóm ta ngày nay bốn mùa nhộn nhịp cảnh làm ăn tập thểt-th. [24, 225]
  • Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảngt-th, cho cách mạngt-th. Đó là điều chủ chốt nhấtt-c. Ra sức làm việc cho Đảngt-th, giữ vững kỉ luật của Đảngt-th, thực hiện tốt đường lốit-c, chính sách của Đảngt-th. [12, 187]
  • Đánh du kích cốt chọn miếng dễ miếng ngon mà ănb-c, không phải hao tổn nhiềub-th. Phải tránh những trận gay gob-c, được thua không chắc mà có thể thiệt hại nhiềub-th, lúc quân thù tiến côngb-c, nếu chống lại không lợi thì phải lùib-th[16, 474]

2.1.3.3. Hòa thanh (không đối thanh mà hòa thanh) ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

Ví dụ:

  • Đời sống mới là:

Hăng háic, kiên quyếtc, không sợ khóc, không sợ khổth.

Phải siêng họcth, phải siêng làmth, phải tiết kiệmth. [17, 167]

Ghi chú:             t-c : Trắc cao; c: cao

t-th : trắc thấp; th : thấp

Tinh thần yêu nước cũng giống như các thứ của quýc. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấyc. Nhưng cũng có khi được cất giấu kín đáo trong rương, trong hòmth. Bổn phận của chúng ta là làm cho những thứ của quý ấy được đưa ra trưng bàyth. [19, 172]

  • Mỗi người dân yếu ớtc, tức là cả nước yếu ớtc. Mỗi người dân mạnh khỏeth, tức là cả nước mạnh khỏeth. [17, 212]

2.1.3.4. Sự phối thanh cân bằng không phụ thuộc vào vị trí đối

Ví dụ:

  • Đảng Cộng sản Việt Nam không sợt kẻ địch nàob dù cho chúng hung tợn đến mấyt, không sợt nhiệm vụ nặng nềb, nguy hiểm đến mấyt, nhưng Đảng Lao động Việt Namb sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựat, làm tôi tớ trung thành của nhân dânb [19, 185] (sự phối thanh rơi vào các chữ nhấn mạnh).
  • Mỹ phải chấm dứtt chiến tranh xâm lược ở Việt Namb, phải rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi Việt Namb thì hòa bình sẽ trở lại ngay lập tứct. Lập trường của Việt Nam đã rõ ràngb: đó là bốn điểm của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòab và năm điểm của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Namb, ngoài ra không có cách nào kháct! [25, 108].

2.1.3.5. Điệp thanh (các thanh cùng âm điệu đi liền nhau)

Ngoài việc sử dụng các thanh bằng – trắc, cao – thấp luân phiên đều đặn để tạo ra sự hài hòa cho lời văn, câu văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sử dụng các thanh điệu cùng loại đi liền nhau hoặc gần nhau trong cùng một ngữ đoạn tạo ra âm hưởng đặc biệt, gây ấn tượng nào đó ở người nghe.

Thông thường, câu văn chính luận của Người có nhiều thanh trắc đi liền nhau: loại này chiếm ưu thế, nó góp phần tạo nên sự gân guốc, đanh thép cho lời văn chính luận.

2.2. Giá trị thẩm mĩ của việc sử dụng các biện pháp tu từ ngữ âm trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh

2.2.1. Sự tương xứng về cấu trúc ngữ âm trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

Tính tương xứng là một đặc điểm cần có của tác phẩm văn chương. Tính tương xứng về âm thanh có tác dụng làm cho sự liên kết trong ngữ đoạn trở nên gắn bó, ràng buộc. Sự thể hiện về tính tương xứng càng cao thì tác phẩm càng có tính chặt chặt về tổ chức hình thức. Sự tương xứng về mặt ngữ âm tạo ra sự tương xứng đều đặn giữa các từ, các chữ, các câu, …

Tương xứng ngữ âm là phẩm chất cốt yếu của thơ ca cổ, thể hiện tính dân tộc đậm đà. Trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự tương xứng về ngữ âm trước hết là sự tương xứng về thanh điệu, ngoài ra là sự tương xứng về vần, về nhịp hoặc là sự phù hợp của tất cả các yếu tố đó.

2.2.1.1. Sự tương xứng về thanh điệu

Sự tương xứng về thanh điệu trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện phong phú và đa dạng. Có khi, đó là sự hài hòa giữa các thanh khác nhau về đường nét (bằng – trắc), có khi đó là sự tương xứng giữa các thanh đi sóng đôi với nhau, tạo thành các cặp thanh cùng bằng hoặc cùng trắc (các thanh này khác nhau về âm vực: cao – thấp).

Ví dụ: Chúng ta đồng tâm nhất trít-c. Chúng ta nhất định sẽ thắng lợit-th. Chúng ta phải mạnh mẽ tiến lên đánh tan thực dân phản động Phápt-c. [18, 152]

Ở ví dụ trên, sự đối xứng của các âm tiết cuối mỗi nhịp (luân phiên hai âm vực cao – thấp của thanh điệu) đã tạo ra sự hòa hợp về mặt âm thanh, tạo cho lời văn chất giọng đanh thép, hùng hồn.

Sự đối xứng ấy thường tạo cho lời văn những điểm nhấn có sức cuốn hút mạnh mẽ.

Ví dụ: Thế địch như lửat-th, thế ta như nướct-c. Nướct-c nhất định thắng lửat-th.

Sự tương ứng đều đặn của các âm tiết kết thúc các vế nhịp trong cùng một câu (Thế địch như lửat-th, thế ta như nướct-c), cũng như các âm tiết có vai trò làm điểm nhấn cho giọng điệu (Nướct-c nhất   định thắng lửat-th), đã làm tăng thêm tính nhạc cho âm thanh lời nói, làm nổi bật sự vật hiện tượng với bản chất đối lập về trạng thái tồn tại của nó, miêu tả rõ nét khí thế xung trận của quân và dân ta.

Sự tương xứng đó tạo ra tính hài hòa, cân đối, nhờ đó lời văn có âm hưởng đặc biệt. Ở những trường hợp này, sự hòa phối về mặt ngữ âm đã tạo ra độ vang vọng sâu xa cho chất chính luận của Người, đồng thời, nó làm tăng thêm vẻ đẹp hình thức của nội dung được biểu hiện, do vậy, nó là yếu tố quan trọng góp phần vào việc thể hiện nội dung và cảm xúc. Có nghĩa rằng, nó đã hoàn thành công việc biểu hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa nội dung và ngôn ngữ, tạo được hiệu lực ngôn ngữ trong giao tiếp.

2.2.1.2. Sự tương xứng về vần điệu ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

Ví dụ : (1) – Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh năm mà vẫn đói rách. Làng xóm ta ngày nay bốn mùa nhộn nhịp cảnh làm ăn tập thể. Đời sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần ngày càng tiến bộ. – (2) Kháng chiến toàn quốc đến hôm nay vừa được 6 tháng, mà sức kháng chiến của ta càng thêm mạnh, sự thắng lợi càng rõ ràng. [18, 150]

Sự tương xứng về vần điệu của các âm tiết mang vần không chỉ thể hiện ở sự tương ứng về thanh điệu mà còn ở cả phần âm vị đoạn tính. Trong ví dụ (1), sự luân phiên về thanh điệu của các âm tiết kết thúc nhịp (các âm tiết cao kết hợp với các âm tiết thấp theo từng cặp : rách – thể ; no – bộ) cùng với cấu tạo của các âm vị đoạn tính: mở đầu là một âm tiết khép (rách : kết thúc bằng phụ âm tắc vô thanh /k/ tạo ra sự đóng chặt âm tiết) kế đến là các âm tiết có tính mở tuyệt đối (các âm tiết kết thúc bằng âm chính : thể – no – bộ tạo ra độ vang lớn cho âm tiết chứa nó). Sự hô ứng về âm thanh góp phần miêu tả cuộc sống đối lập giữa làng xóm ta xưa – làng xóm ta nay, lời văn vận động từ tối đến sáng, từ vang ít đến vang nhiều, do vậy tạo ra ấn tượng mạnh mẽ.

Ở ví dụ (2), sự kết hợp của các âm tiết mang vần giống nhau (kháng – tháng- càng – mạnh – ràng) tạo ra sự hòa âm cao. Các tiếng hòa âm trong lời văn chính luận của Người thường không có vị trí ổn định, chúng có thể đi liền nhau hoặc cách quãng nhau, xuất hiện trong cùng một nhịp hoặc giữa các nhịp khác nhau. Điều đặc biệt là các âm tiết mang vần ở trên có sự phối hợp ở mức độ tuyệt đối (vần chính), cùng có kết thúc là các phụ âm vang hữu thanh /–ng/ (trong tiếng Việt, phụ âm này có phẩm chất đặc biệt vì nó có độ vang rất lớn, dư âm rất xa). Điều đó tạo nên sức vang vọng cho câu văn nhờ tính độ vang và trường độ được kéo dài hơn mức bình thường trong những âm tiết có kiểu cấu tạo như thế.

2.2.1.3. Sự tương xứng về nhịp điệu

Đặc điểm nổi trội trong cách ngắt nhịp của câu văn chính luận của Người không chỉ thể hiện ở sự tương xứng về độ dài của các nhịp (cân bằng về số lượng âm tiết), có khi giữa các nhịp không có sự tương ứng về số lượng âm tiết nhưng vẫn giữ được tính hài hòa.

Ví dụ : – Đối với gan vàng,/ dạ sắt/ của đồng bào,/ toàn thể quốc dân không bao giờ quên./ Tổ quốc không bao giờ quên./ Chính phủ không bao giờ quên…/// [17, 419]

– Vì kháng chiến của ta là chính nghĩa./ Vì đồng bào ta đại đoàn kết. /Vì tướng sĩ ta dũng cảm. /Vì chiến lược ta đúng. /Vì ta bầu bạn nhiều./ [18, 150]

Cách ngắt nhịp trùng điệp giữa các vế nhịp trong hai ví dụ trên đã tạo cho lời văn hơi thở mới, lời khẳng định của người viết càng được nhấn mạnh qua sự tổ chức nhịp điệu, tạo ra sự tăng cấp trong lời nói.

2.2.1.4. Sự tương xứng giữa thanh điệu, vần điệu và nhịp điệu ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

Có những trường hợp lời văn của Người có sự phối hợp của cả 3 yếu tố : vần, nhịp, thanh, tạo ra sự hài hòa cao độ, tạo tính nhạc cho lời văn xuôi, đưa nó gần gũi với thể thơ, nhưng vẫn có sự góc cạnh của ngôn ngữ văn xuôi chính luận được viết bằng ngôn từ sắc sảo.

Ví dụ : Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng… [24, 350]

Sự tương xứng về ngữ âm trong các kiểu trên có những đặc trưng nhất định : sự đối xứng về thanh thường có biểu hiện đa dạng nhưng ưu thế vẫn là sự đối xứng giữa hai nhóm bằng trắc, sự tương xứng về nhịp thường là sự tương xứng của các nhịp đối xứng, sự tương xứng về vần thì tùy theo ngữ cảnh mà biểu hiện khác nhau, có khi ưu tiên dùng vần ở giữa câu hoặc cuối câu, có khi là vần được lặp lại hoàn toàn hoặc bộ phận. Điều này vừa thể hiện “thói quen của việc sử dụng ngôn ngữ, vừa do tính tự lựa chọn của bản thân mỗi yếu tố ngôn ngữ trong nội bộ hệ thống” [10, 137]. Những kiểu tương xứng điển hình thường tạo ra cho câu văn tính nhạc, dễ đi sâu vào lòng người, dễ nhớ, dễ thuộc.

2.2.2. Cấu trúc âm thanh và việc biện biểu hiện ý nghĩa

Mối quan hệ giữa âm và ý là mối quan hệ có thật. Lợi dụng mối quan hệ này, nhiều nhà văn, nhà thơ đã kết hợp khéo léo các yếu tố ngữ âm như vần, nhịp và thanh,… để triển khai triệt để nội dung ý nghĩa ẩn sau mã ngôn từ.

Sự ngắt nhịp đều đặn hay đứt quãng, nhanh hay chậm, gấp gáp hay kéo dài; sự gieo vần bằng phẳng hay trúc trắc; sự đối lập hay tương đồng của thanh điệu, sự kết hợp của các âm tiết với tính chất đóng mở khác nhau,… có thể được xem là những dấu hiệu vật chất để biểu thị nội dung.

Sự kết hợp của các yếu tố ngữ âm kể trên có vai trò rất quan trọng trong tác phẩm văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi, nó không những là “phụ gia” giúp nhà văn nâng cao khả năng biểu cảm, cảm xúc mà còn là những chất liệu giúp tăng thêm lượng nghĩa cho thông tin được truyền tải, nó góp phần vào việc thực hiện tốt chức năng tuyên truyền cổ động của tác phẩm chính luận trong thời kì cách mạng.

Ví dụ: Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! [17, 3]

  • Hai vế đầu dài, nhịp điệu dàn trải, phù hợp với việc biểu hiện cuộc đấu tranh trường kì của dân tộc: Một dân tộc / đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc / đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm .. Hai vế sau ngắn, nhịp điệu dồn dập, mạnh mẽ, phù hợp với sự khẳng định hùng hồn về quyền độc lập, tự do của dân tộc: Dân tộc đó/ phải được tự do! Dân tộc đó / phải được độc lập!
  • Sự thay đổi thanh bằng, thanh trắc cuỗi mỗi nhịp hay tinh chất đóng mở của âm tiết cũng góp phần thể hiện nội dung ý nghĩa văn bản: Vế thứ nhất, thứ hai và thứ ba đều kết thúc bằng các âm tiết mang thanh bằng (nay, nay, do) , vế thứ tư lại kết thúc bằng một âm tiết mang thanh trắc (lập) ; ba vế đầu kết thúc bằng một âm tiết mở tạo sự ngân vang, nhưng vế thứ 4 kết thúc bằng âm tiết đóng có âm hưởng mạnh mẽ, dứt khoát, phù hợp lời khẳng định quyền độc lập của dân tộc. ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

Trong tác phẩm chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với các dấu câu thì cách ngắt nhịp hay sử dụng vần ở những vị trí mang điểm nhấn, sự kết hợp của thanh điệu trong những âm tiết mang vần hoặc không mang vần,… thể hiện rõ hơn cung bậc tình cảm của người viết: những khi căm thù tột đỉnh, khi thể hiện lòng quyết tâm cao độ, khi tha thiết, chân thành với niềm xúc động trào dâng… Những cung bậc tình cảm ấy nhiều khi không thể mô tả trực tiếp bằng chữ nghĩa. Sự kết hợp ăn ý của các yếu tố ngữ âm lúc này là phương tiện hữu hiệu để thể hiện trạng thái tâm lí bên trong, nó có thể diễn đạt đầy đủ những điều không nói ra bằng lời.

Ví dụ: Kháng chiến / phải đi đôi/ với kiến quốc. Kháng chiến có thắng lợi /thì kiến quốc mới thành công. Kháng chiến có chắc thành công, / kháng chiến mới mau thắng lợi. [17, 99]

+ Ở nhịp đầu, hai nhiệm vụ của cách mạng được đặt ở hai đầu câu văn. Cách ngắt nhịp tạo sự rõ ràng cho câu văn, mỗi một nhịp gồm hai vế nêu rõ luận cứ và kết luận, mỗi nhiệm vụ và tính cần thiêt của nó được gói gọn trong một nhịp (Kháng chiến có thắng lợi /thì kiến quốc mới thành công. Kháng chiến có chắc thành công, / kháng chiến mới mau thắng lợi.). Cách ngắt nhịp nhờ vào biện pháp tiểu đối tạo ra sự cân xứng cho câu văn.

+ Thanh điệu vừa có sự tương ứng giữa các âm tiết mang điểm nhấn (kháng chiến – kiến quốc), vừa có sự đối xứng về âm vực giữa các âm tiết kết thúc nhịp (quốc – lợi – công – công – lợi), các âm tiết có sự tương xứng về vần (có sự tương ứng về nguyên âm : ô – ơ là các nguyên âm có độ mở hơi hẹp).

Chúng ta không thể phủ nhận được vai trò của nhịp điệu, vần và thanh cũng như mối quan hệ hợp tác giữa chúng trong việc biểu hiện ý nghĩa. Trong đó, vần có thể là cơ sở để phân nhịp, nhịp lại có tác dụng làm cho các dòng, các đoạn gắn bó hài hòa về âm thanh, thống nhất thành dòng cảm xúc, phát triển nội dung một cách sâu rộng hơn. Đồng thời, sự phối hợp ấy còn là sự thể hiện thái độ của tác giả, đồng thời nhằm tạo ra ấn tượng đặc biệt cho người nghe, người đọc.

Ví dụ : Bất kỳ/ đàn ông/, đàn bà//, bất kỳ /người già,/ người trẻ,// không phân chia/ tôn giáo,/ đảng phái,/ dân tộc.// Hễ là người Việt Nam/ thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc.// Ai có súng dùng súng./ Ai có gươm dùng gươm,/ không có gươm thì dùng cuốc,/ thuổng, /gậy gộc.// Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp/ cứu nước./// [17, 480]

Kết hợp với điệp từ ngữ và cấu trúc câu, điệp nhịp điệu đã tạo nên âm hưởng hào hùng cho lời kêu gọi. Cách phối hợp vần bằng – trắc đã tạo ra sự hài hòa về thanh điệu cuối mỗi nhịp; nhịp điệu nhanh – chậm, ngắn – dài đan xen, sự phối hợp của những từ phản nghĩa (đàn ông – đàn bà, người già – người trẻ, súng – gươm),… đã làm tăng thêm sức thuyết phục cho lời văn.

Các yếu tố ngữ âm có chế độ hoạt động trong hệ thống theo kiểu hợp tác để cùng biểu nghĩa. Có khi, các yếu tố ấy như một phương tiện biểu thị ý nghĩa bổ sung (có thể là ý nghĩa tình thái hoặc nhấn mạnh nội dung biểu đạt) nhưng cũng có khi nó được xem là yếu tố biểu thị ý nghĩa cơ sở (nghĩa chính của nội dung văn bản). Lúc này, chúng đóng vai trò như một công thức miêu tả cho nhịp điệu cuộc sống của đối tượng.

Ví dụ: Toàn dân sẽ đủ ăn, đủ mặc.( 1) Toàn dân sẽ biết đọc, biết viết.(2) Toàn bộ độ sẽ đầy đủ lương thực, khí giới.(3) Để giết giặc ngoại xâm.(4) Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn.(5) [18, 444]

Cách ngắt nhịp trùng điệp giữa các câu ( 1), (2), (3), (5) và cách tách câu giữa câu (3) và (4) với dụng ý nhấn mạnh nội dung ý nghĩa, nhịp điệu của các câu đầu ngắn và nhịp ấy được nới rộng hơn ở những câu sau tạo ra sự dàn trải đều đặn của từng sự việc, tính chất của từng sự việc được tăng cấp dần, tính mục đích của sự việc sau cao hơn những sự việc được liệt kê ở trước. Hai nhịp đầu kết thúc bằng các âm tiết khép với các phụ âm tắc vô thanh /k/ và /t/ tạo sự dứt khoát, gãy gọn; hai nhịp sau lại kết thúc bằng các âm tiết nửa khép với các phụ âm vang hữu thanh /m/, /n/ (là các âm vang mũi) tạo ra âm vang nối tiếp, có tác dụng miêu tả sự kéo dài vô tận của nền độc lập thống nhất nước nhà. ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

Trong các yếu tố ngữ âm trên thì vai trò của nhịp điệu trong việc biểu thị ý nghĩa là vô cùng to lớn. Nhịp điệu có thể thay đổi theo cường độ cảm xúc và mục đích bộc lộ nội dung giao tiếp, do vậy, có thể coi nó là yếu tố thuộc về bản thể nghệ thuật. Nhịp trong tác phẩm chính luận của Người vừa biểu thị bản chất của thể loại chính luận vừa là nhịp với cách dùng riêng của phong cách nhà văn. Tính trùng lặp thể loại bộc lộ ở sự ổn định (nhịp câu văn chính luận thường dứt khoát, rõ ràng), tính riêng là sự biến thiên theo độ cảm xúc và cá tính sáng tạo. Nếu câu văn chính luận của Người có sự ngắt nhịp đều đặn, kết hợp với sự đều đặn của các vần bằng trắc thì thường là dấu hiệu biểu thị sự trải nghiệm hoặc là sự suy lí sâu sắc. Nếu câu văn có nhịp điệu gấp gáp, kết hợp với sự biến thiên bất thường về thanh điệu của các âm tiết thì có thể đó là dấu hiệu về một sự việc khẩn trương, cần kíp trước tình thế gay cấn hay biểu thị khí thế hào sảng của cuộc cách mạng… Có khi, nhịp điệu dàn trải kết hợp với cách sử dụng nhiều âm tiết bằng – trắc đan xen tạo ra sự thiết tha, ấm áp trong lời nói có sức nặng của tình cảm bao la.

Ví dụ: Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, dân ta ai cũng được học hành. [17, 161]

Tính chất đối xứng của các phụ âm cuối trong các âm tiết kết thúc nhịp đã tạo ra cấu trúc đặc biệt cho lời văn: sự xuất hiện luân phiên hay liên tiếp nhóm phụ âm cuối tắc vô thanh /k/, /p/ và nhóm phụ âm cuối vang mũi /m/, /n/ (trong các âm tiết như : muốn – bậc – lập – mặc – hành). Sự hòa phối âm thanh của các âm tiết trên có được do tính chất đối lập về phương thức cấu âm của hai nhóm tắc vô thanh và nhóm vang mũi, do vậy, nó cũng mang những sắc điệu khác nhau khi tham gia tạo lập văn bản, một mặt các âm tiết đóng tạo nên sự dứt khoát, sự hùng tráng của lí lẽ – cái mà ta thường gọi là “chất thép” trong ý chí của người nói, mặt khác, tính chất mở của những âm tiết mở và âm tiết vang tạo nên dư âm có sức vang vọng như chính sức nặng của tình cảm, cái mà ta thường gọi là “tình”.

Sử dụng câu văn ngắn – dài, nhịp điệu nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào “hơi thở điệu hồn người sáng tạo” vì thế nó phản ánh tình cảm, khí chất của con người. Tình cảm – cũng vì thế – tự tìm cho mình hình thức biểu hiện phù hợp. Nhịp thơ tồn tại cùng ngữ điệu, giọng điệu, vì thế khi giọng chậm rãi, buồn bã thì nhịp bị rời rạc, khi giọng hào hùng thì nhịp gọn chắc.

Ví dụ :

  • Kiểu nhịp của các câu dài: Giữ gìn dân chủ,/ xây dựng nước nhà,/ gây đời sống mới,/ việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công.// Mỗi một người dân yếu ớt,/ tức là cả nước yếu ớt,/ mỗi một người dân khỏe mạnh tức là cả nước khỏe mạnh./// [17, 212]: Các luận cứ đi liền nhau theo sự ngắt nhịp đều đặn, nối tiếp; chúng tạo thành một nhịp dài chứa các vế nhịp ngắn hơn nhưng vẫn giữ được tính logic và sự gọn chắc của lời nói chính luận.
  • Kiểu nhịp của các câu ngắn: Canh gác nghiêm ngặt,/ Giữ gìn bí mật,/ Bảo vệ làng xã,/ Phòng gian trừ gian,/Thấy giặc đến làng,/ là du kích phải đánh phá,/quấy rối chúng./// [18, 687] : Nhịp ngắn, gọn gàng, có tính khẩu ngữ, làm cho lời văn trở nên dễ thuộc.

Nhịp có thể tạo ra lượng nghĩa bổ sung khá lớn so với ý nghĩa từ vựng. Nhịp thể hiện kĩ thuật tổ chức các đơn vị ngôn ngữ trong văn bản. Nhịp cùng với vần và thanh tạo ra sức vang vọng về âm điệu và ý nghĩa.

Ví dụ: Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. [17, 246]

Như vậy, có thể khẳng định rằng, những yếu tố ngữ âm kể trên không chỉ là đặc trưng của thơ mà trong văn xuôi nó cũng tồn tại như hệ thống xương sống của tác phẩm. Tuy vậy, do đặc trưng thể loại, sự kết hợp các yếu tố ngữ âm ấy không quá gò bó như trong thơ mà có sự tự do nhất định. Thực tiễn cho thấy, nhiều tác phẩm văn xuôi khi đưa được nhịp điệu vào thì sức lan tỏa trở nên rộng lớn hơn và có sự biểu cảm mạnh hơn.

Sự kết hợp nhuần nhuyễn của các yếu tố nhịp điệu, vần điệu và thanh điệu đã tạo ra sức mạnh và năng lượng cho câu văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

2.2.3. Cấu trúc âm thanh với vai trò trong kết cấu, tổ chức văn bản ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

Các yếu tố nhịp, vần và thanh là những yếu tố then chốt của tổ chức lời văn, gắn bó mật thiết với phương diện âm thanh và cấu trúc văn bản, tạo thành những dấu hiệu nhất định để giải mã nội dung tư tưởng của tác phẩm. Các yếu tố này vừa mang tính tự thân, vừa đảm trách vai trò kết cấu, tổ chức văn bản, tạo thành khâu trung chuyển giữa lời và ý, ngữ âm và giọng điệu.

Trong tác phẩm văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các yếu tố ngữ âm nhịp, vần và thanh kết hợp thành chỉnh thể về hình thức, tạo ra sự kết hợp đăng đối giữa các phần, các đoạn trong văn bản.

Ví dụ: Trong “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” sự xuất hiện liên tục cấu trúc nhịp điệu: “Ngày mai, /… ” :

Ngày mai mồng 6 tháng Giêng năm 1946. Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta đến con đường mới mẻ.

Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu được hưởng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ miền Nam rằng: về mặt quân sự thì các chiến sỹ dùng súng đạn mà chống quân thù, về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu củng cố sức lực.

Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam ta đã: Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ

Kiên quyết chống bọn thực dân Kiên quyết tranh quyền độc lập

Ngày mai, dân ta tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình và gánh vác việc nước. [17, 145]

Lặp lại cấu trúc câu kéo theo việc lặp lại nhịp điệu, từ vựng, ngữ âm, … vừa tạo được sự liên kết về nội dung ý nghĩa của văn bản vừa có sự liên kết về hình thức, sự lặp lại ấy tạo ra sự đăng đối giữa các dòng, các đoạn, các phần, các ý trong hệ thống cấu trúc văn bản.

Vai trò kiến thiết của các yếu tố ấy trong văn bản vô cùng quan trọng, có khi nó tạo nên những điểm nhấn, tạo ra âm hưởng chủ đạo cho tác phẩm.

Ví dụ: Hễ dùng binh, thì nghìn chiếc xe ngựa, nghìn chiếc xe bọc da, 10 vạn binh, lương thực chở rất xa, nào tiêu dùng về việc khách khứa, nào xe ngựa, phí tổn này khác, ngày hơn nghìn vàng. [16, 516]

Lặp nhịp điệu cùng với việc sử dụng vần ở một số âm tiết cuối nhịp (da – xa – khác – vàng), kết hợp được sự hài hòa về thanh điệu thuộc hai âm vực cao – thấp (binh – ngựa – da – khứa – ngựa – khác – vàng) đã tạo ra âm hưởng của lời văn chính luận luận về việc dùng binh, lời văn vừa có hơi thở của thời hiện tại vừa như là lời người xưa (Tôn Tử) vang vọng, có sự đồng điệu giữa những tâm hồn cùng chí hướng. ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

Với thể loại chính luận, những vấn đề được phản ánh trong tác phẩm là những vấn đề lớn lao của thời đại, thuộc về lẽ sống còn của một dân tộc, gắn với lí luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, sự trình bày của chính người viết đã làm cho những vấn đề được phản ánh trở nên gần gũi, thiết thực, thu hút sự chú ý của người đọc bởi sự dễ hiểu, dễ tiếp thu. Góp phần vào việc dễ hiểu, dễ tiếp thu ấy có sự đóp góp không nhỏ của các yếu tố âm thanh ngôn từ. Những yếu tố ấy có vai trò tạo ra sự mạch lạc cho tác phẩm, liên kết chặt chẽ hình thức và làm nổi bật cấu trúc nội dung của văn bản, tạo ra giá trị tu từ với hiệu quả sử dụng cao.

Ví dụ: Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp. [17, 3]

Cũng với cách lặp lại nhịp điệu kèm theo cấu trúc câu và lặp từ vựng, đoạn văn đã tạo cho người nghe một ấn tượng mạnh, giúp hình dung rõ ràng hơn về bản chất của bọn thực dân Pháp, có thể xem đây là kết luận cho những sự việc đã trình bày chi tiết ở những đoạn văn ở trước đó.

Cách tổ chức các kiểu nhịp, sử dụng các loại vần cùng với sự phối thanh hợp lí không những mang lại sự liên kết về mặt hình thức tác phẩm mà còn góp phần làm rõ các ý được biểu hiện, đó là sự tổ chức các ý tưởng một cách khách quan, khoa học và hợp lí, tạo ra sự uyển chuyển, chặt chẽ giữa câu – câu, câu – đoạn văn và toàn văn bản.

Ví dụ : Về nông nghiệp, chúng ta đã làm nhiều công trình thủy lợi lớn nhỏ, tưới cho hơn nửa triệu mẫu tây ruộng đất […]

Về công nghiệp, chúng ta đã xây dựng thêm nhiều xí nghiệp mới. […]

Về văn hóa xã hội, dưới thời thực dân Pháp thống trị, 95 % dân ta mù chữ, ngày nay 95 % dân ta đều biết đọc biết viết. […] [24, 223]

Cách lặp lại cấu trúc nhịp điệu đều đặn vừa góp phần làm rõ những mảng nội dung khác nhau vừa tạo được sự uyển chuyển trong liệt kê sự việc.

Sự phối hợp các yếu tố nhịp, vần, thanh trong câu văn cho thấy giá trị của nó trong việc liên kết các câu, các đoạn và các ý để tạo nên mạch cảm xúc thống nhất và tạo sự liên kết về chủ đề.

Ví dụ: Cần không phải làm xổi. Nếu cố gắng làm cố chết cố chết trong một ngày, một tuần, hoặc một tháng, đến nỗi sinh ốm đau phải bỏ việc. Như vậy, không phải là cần.

Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. [18, 634]

Với các cấu trúc lặp tạo nên nhịp điệu trùng điệp cùng cách phối hợp âm thanh hài hòa, người viết nhấn mạnh chủ đề một cách trọn vẹn, cách viết ấy thu hút được sự chú ý của người đọc.

Tiểu kết chương 2 ( Luận văn: Biện pháp tu từ ngữ âm văn chính luận Hồ Chí Minh ) 

Trong chương 2, chúng tôi đã trình bày về những biện pháp tu từ ngữ âm được sử dụng trong tác phẩm văn xuôi chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bao gồm: nhịp điệu, vần điệu và thanh điệu.

Thứ nhất, về nhịp điệu, nhịp điệu trong văn chính luận của Người được thể hiện đa dạng. Sự đa dạng về kiểu câu, cách nói đã tạo ra sự phong phú về kiểu loại nhịp điệu, trong đó, mỗi kiểu câu sẽ tạo nên một loại nhịp đặc trưng. Ở đây, chúng tôi chỉ trình bày những kiểu nhịp điển hình với vai trò là một biện pháp tu từ, xuất hiện với tần số cao, có khả năng thể hiện nội dung ý nghĩa tác phẩm, gồm: kiểu nhịp điệu đối xứng, kiểu nhịp điệu trùng điệp và kiểu nhịp điệu tự do. Kiểu nhịp điệu đối xứng thường dựa trên cơ sở phép đối, kiểu nhịp điệu này có những loại như: đối xứng hoàn toàn, đối xứng xen kẽ và đối xứng cách quãng. Nhịp điệu đối xứng hoàn toàn thường có sự tương ứng triệt để về số tiếng, về vần và thanh điệu; với những trường hợp đối xứng xen kẽ hay cách quãng thì sức bao chứa của nhịp điệu rất lớn, tạo ra tính nhịp điệu cho toàn đoạn hay toàn văn bản. Kiểu nhịp điệu trùng điệp thường đi liền với các phép điệp từ ngữ, kiểu câu, liệt kê. Kiểu nhịp điệu này thường xuất hiện trong những lời kêu gọi, tuyên bố, do nó thể hiện được tính luận chiến sôi nổi, hùng hồn với âm hưởng sử thi hùng tráng. Kiểu nhịp tự do thể hiện đặc trưng cho nhịp điệu của câu văn hiện đại, dù không có một cấu trúc nhất định nhưng nó vẫn tạo được ấn tượng rõ nét.

Thứ hai, về vần điệu, vần có tác dụng gắn chặt các câu văn xuôi với nhau, tạo ra tính nhịp nhàng và tăng tính nhạc cho lời văn. Trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vần xuất hiện và thống nhất với nhịp điệu và thanh điệu để cùng tạo ra sự hòa âm cho văn bản.

Thứ ba, về thanh điệu, sự phối thanh trong cùng một nhịp hoặc giữa các nhịp khác nhau trong văn chính luận của Người có sự sáng tạo để tạo ra sự hài hòa cho câu văn hiện đại. Có khi, đó là sự luân phiên các thanh có sự đối xứng xuất hiện trong kiểu nhịp điệu đối xứng (các thanh của các âm tiết mang tính điểm nhấn hoặc ở cuối mỗi nhịp). Có khi, hòa âm là sự cân bằng nhất định về phối thanh mà không nhất thiết phải tuân thủ vị trí đối.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537