Trong điều kiện kinh tế phát triển, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ, nhận thức được điều tầm quan trọng tác giả đã lấy Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp làm luận văn tốt nghiệp. Đồng thời, qua bài luận văn tác giả cũng khẳng định Du lịch đang dần trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Du lịch không chỉ để con người nghỉ ngơi giải trí, mà con nhằm thoả mãn nhu cầu to lớn về mặt tinh thần. Tất cả đều được triển khai chi tiết kết hợp với bố cục khoa học thông qua Đề tài luận văn: Giải pháp phát triển du lịch nông nghiệp ở huyện Mù Cang Chải – Yên Bái.
2.1 Giới thiệu chung về huyện Mù Cang Chải
2.1.1 Vị trí địa lý, diện tích
a, Vị trí địa lý
Huyện Mù Cang Chải là một huyện vùng cao nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Yên Bái, cách trung tâm tỉnh 185km theo quốc lộ 37 và 32. Huyện có diện tích là 1.199 km2, nằm dưới chân dãy níu Hoàng Liên Sơn, ở độ cao 1000m so với nước biển.Có tọa độ địa lý từ 210 39’ -25050’ vĩ độ Bắc , từ 103056’ -104028’ kinh độ Đông. Phía BắcMù Cang Chải giáp với huyện Văn Bàn – tỉnh Lào Cai; Phía Nam giáp với huyện Mường La – tỉnh Sơn La; Phía Đông giáp với huyện Văn Chấn , Văn Yên tỉnh Yên Bái; Phía Tây giáp với huyện Than Uyên – tỉnh Lai Châu.
Huyện có 1 thị trấn là thị trấn Mù Cang Chải và 13 xã : Kim Nọi, Hồ Bốn, Chế Tạo, Khang Mang, Dế Su Phình, Chế Cu Nha, Cao Phạ, Púng Luông, Nậm Khắt, Mồ Dề , Nậm Có, La Pán Tẩn và Lao Chải.
Huyện Mù Cang Chải nếu so sánh với các huyện miền núi khác trong tỉnh Yên Bái nói riêng hay các huyện miền núi phía Bắc nói chung thì Mù Cang Chải là một huyện có vị trí địa lý rất khó khăn cho việc giao lưu hàng hóa với các huyện trong tỉnh cũng như trong vùng. Việc trao đổi tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật từ các viện nghiên cứu khoa học , các cơ quan nông nghiệp và các huyện ở vùng núi phía Bắc là rất hạn chế.
Mù Cang Chải theo tiếng Mông có nghĩa là vùng cây khô. Được gọi như thế bởi từ xa xưa, “Làng Cây Khô” là một huyện nằm ở phía tây tỉnh Yên Bái với 6 tháng mùa khô đất đai, cây cỏ xơ xác; còn khi đông đến, nơi đây lại chịu giá lạnh nên không thể trồng bất cứ loại hoa màu nào. Cứ vậy, nơi đây đã phải chua xót gọi trú xứ của mình là “Làng Cây Khô”. Trải qua hàng trăm năm, dưới bàn tay “nhào nặn” cần cù của những người mệnh danh là “người khai hoang”, Mù Cang Chải được gieo mầm sống để biến thành xứ sở của những ruộng bậc thang của miền sơn cước Tây Bắc. Những ruộng bậc thang uốn lượn trên lưng núi, những bông lúa chín trổ bông còn đượm sương đêm đã kéo chân người lữ khách hòa mình vào cảnh đẹp nơi đây ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
b, Địa hình
Huyện có địa hình đồi núi cao xen lẫn các thung lũng xâm thực có trên 95% diện tích là đồi núi cao, độ dốc lớn và bị chia cắt mạnh do đó gặp rất nhiều về khó khăn về điều kiện giao thong trở ngại đối với phát triển kinh tế nhất là trong sản xuất nông nghiệp.
Độ dốc trung bình 400 – 700, sườn núi bị chia cắt dữ dội.
Do địa hình bị chia cắt mạnh nên đã tạo ra thung lũng nhỏ như: Nậm Co, Nậm Khắt, Kim Nọi, Púng Luông là những nơi tập trung đông dân cư sinh sống và sản xuất nông nghiệp
Tổng diện tích đất tự nhiên là 119.908ha thì trong đó diện tích đất ở độ cao trên 1.000m chiếm 84% và dưới 1000m chiếm 16% diện tích đất tự nhiên . Với vị trí địa lý và địa hình khó khăn chỉ thích hợp với việc phát triển nghề rừng, chăn nuôi đại gia súc, nhưng rất hạn chế việc phát triển nông nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng và giao lưu với bên ngoài.
c, Lịch sử hình thành và phát triển
Là một đơn vị hành chính thuộc tỉnh Yên Bái, trải qua các thời kỳ lịch sử, miền đất Mù Cang Chải có nhiều biến động về địa giới hành chính.
Thời nhà Lý, Mù Cang Chải thuộc châu Đăng. Thời hậu Lê thuộc châu Chiêu Tấn, phủ An Tây trong Thừa tuyên Hưng Hoá.
Năm 1900, thực dân Pháp thành lập tỉnh Yên Bái, đơn vị hành chính Mù Cang Chải ngày nay gồm động Kim Nọi thuộc châu Than Uyên; một phần tổng Sơn A thuộc huyện Văn Chấn, một phần thuộc tổng Nghĩa Lộ (khi đó thuộc Sơn La). Năm 1909, tổng Nghĩa Lộ được nhập vào tỉnh Yên Bái.
Ngày 7 tháng 5 năm 1955, Chính phủ thành lập Khu tự trị Thái – Mèo (sau đổi tên là khu tự trị Tây Bắc). Ngày 18 tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 606-TTg lập Châu Mù Cang Chải trong khu tự trị Thái – Mèo. Châu Mù Cang Chải gồm 13 xã của 3 châu Than Uyên, Văn Chấn, Mường La.
Ngày 12 tháng 1 năm 1959, Uỷ ban hành chính khu tự trị Thái – Mèo ra quyết định số 11/QĐTC chia xã Cao Phạ thuộc châu Mù Cang Chải thành 2 xã là Cao Phạ và Nậm Có. Xã Hiếu Trai đổi tên là xã Chế Tạo.
Tháng 10/1962, Trung ương Đảng và Quốc hội đã quyết định thành lập các tỉnh ở khu Tây Bắc trực thuộc Trung ương. Các châu trong khu tự trị đổi thành các huyện trực thuộc các tỉnh. Châu Mù Cang Chải trở thành một huyện của tỉnh Nghĩa Lộ. Châu uỷ Mù Cang Chải đổi thành Huyện ủy Mù Cang Chải.
Tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa V (12/1975) đã ra Nghị quyết hợp nhất một số tỉnh, trong đó các tỉnh Yên Bái, Lào Cai và Nghĩa Lộ (trừ huyện Bắc Yên và huyện Phù Yên của tỉnh Nghĩa Lộ) thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh Hoàng Liên Sơn, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 16/2/1976. Huyện Mù Cang Chải là 1 trong 16 huyện thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn.
Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khỏa VIII, diễn ra từ ngày 27/7 đến ngày 12/8/1991 đã ra Nghị quyết chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành 2 tỉnh Lào Cai và Yên Bái. Huyện Mù Cang Chải thuộc tỉnh Yên Bái cho đến nay.
2.1.2. Điều kiện về tự nhiên ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
- Khí hậu
Khí hậu Mù Cang Chải mang tính chất tiểu vùng rõ rệt, nhiệt độ trung bình là 190C, mát mẻ về mùa hạ và lạnh về mùa đông. Do vùng này có độ cao trung bình từ 900m, có nhiều nắng nhất tỉnh và chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam. Do độ cao địa hình lớn nên nhiệt độ thấp, nhiệt độ trung bình 18-230C, về mùa đông lạnh có khi xuống tới 00C.Tổng nhiệt độ năm 6.500-7.0000C, lượng mưa: 1.800- 2.500 mm/năm
Độ ẩm của Mù Cang Chải tương đối thấp so với các vùng khác, trung bình là 84%/năm, trên các núi cao tăng lên 82-86%/năm% thích hợp phát triển cây trồng, vật nuôi vùng ôn đới. . Hàng năm hình thành một kỳ khô từ giữa mùa đông đến đầu mùa hạ và một thời kỳ ẩm trong suốt mùa hạ đến đầu mùa đông, độ ẩm chênh lệch từ 8 – 10%.
- Thuỷ văn
Nước mặt : Tuy huyện Mù Cang Chải không có sông lớn, nhưng có hệ thống khe suối nhiều với tổng chiều dài trên 360km đều bắt nguồn từ dãy núi Hoàng Liên Sơn. Trong đó đáng kể nhất là suối Nậm Kim dài hơn 75km chảy xuyên suốt dài huyện theo hướng Đông Nam – Tây Bắc và đổ ra sông Đà. Ngoài ra còn có các con suối khác như suối Mang Khú ( xã Chế Tạo) dài 35km, suối Tusan (xã Nậm Có) dài 35km, suối Lao Chải ( xã Lao Chải) dài 27km, suối Nậm Khắt dài 20km, suối Đình Hồ ( xã Zế Xu Phình) dài 12km và đạt mật độ trung bình 1km2 .
Chất lượng nước mặt nhìn chung tốt cho sản xuất nông lâm nghiệp và đời sống nhân dân trong huyện. Ngoài ra thì với các khe suối có độ dốc lớn nên có tiềm năng về thuỷ điện nhỏ.
Do thời tiết khô nóng địa hình có độ dốc lớn và hậu quả của phá rừng nên đã làm thay đổi thuỷ văn của các hệ thống khe suối. Từ đó làm ảnh hưởng đến sự chênh lệch lớn về lượng nước mặt giữa hai mùa. Vào mùa mưa thì mực nước và lưu lượng nước ở các con suối tăng rất nhanh thường gây ra lũ quét tàn phá ruộng nương, nhà cửa đặc biệt là phá huỷ các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện, đường giao thông….
Mùa khô thì nhiều con suối bị cạn kiệt tạo ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân.
Nước ngầm: Do đặc điểm thời tiết, khí hậu và cấu tạo địa chất địa hình đã tạo ra khả năng về nguồn nước ngầm có chất lượng tốt cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp.
Như vậy, huyện có điều kiện khí hậu ( nhiệt độ, lượng mưa…) cho phép phát triển đa dạng các loại cây trồng, từ cây nhiệt đới cho đến cây á nhiệt đới, từ các loại cây ngắn ngày đến các loại cây dài ngày. Đối với cây trồng hằng năm có thể thâm canh 2 vụ/ năm.
2.1.3 Điều kiện kinh tế văn hóa xã hội ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
a, Dân số
Mù Cang Chải có dân số không đông, mật độ thưa. Khi mới thành lập huyện, dân số Mù Cang Chải là 12.000 người. Đến năm 2016 là 58.988 người, mật độ trung bình là 47 người/km2.
Toàn huyện có 4 tộc người là: Mông, Kinh, Thái và Tày, trong đó người Mông chiếm đa số (91%) sống rải rác chủ yếu ở 16 thôn, bản của các xã và 10 tổ dân phố của thị trấn Mù Cang Chải.
Người Mông ở Mù Cang Chải chia thành 4 nhóm: Mông Đơ (Mông Trắng); Mông Đu (Mông Đen); Mông Lình (Mông Hoa); Mông Si (Mông Đỏ).
Mông Hoa là nhóm đông nhất, chiếm trên 60% dân số. Mông Đỏ chiếm 30% dân số.
Nhóm Mông Đen sống ở các xã: Nậm Có, Khau Mang, Lao Chải. Nhóm Mông Trắng có số lượng ít nhất.
* Khái quát về lịch sử tộc người.
Người Mông vào Mù Cang Chải cách ngày nay khoảng hơn 200 năm và di cư làm nhiều đợt. Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, người Mông ở Quý Châu (Trung Quốc) nổi dậy chống sự cai trị của nhà Thanh nhưng tất cả các cuộc khởi nghĩa đều bị dìm trong bể máu. Người Mông phải di cư xuống Vân Nam và Việt Nam, vào Bắc Hà (Lào Cai), từ đó di cư sang Mù Cang Chải.
Tiếng Mông thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao trong ngữ hệ Nam Á.
* Khái quát về văn hóa tộc người
Một trong những đặc điểm nổi bật về vấn đề cư trú của người Mông là họ thường cư trú ở những sườn đồi và sườn núi cao, địa hình hiểm trở. Người Mông ở Mù Cang Chải có kinh nghiệm làm ruộng bậc thang rất giỏi.
Người Mông trú trọng chăn nuôi gia đình ngoài ra hái lượm lâm sản như: sơn tra (táo mèo), hoàn liên, hà thủ ô,…lấy mật ong và săn bắt chim.
Dệt vải bằng sợi lanh là một nghề phổ biến của cộng đồng người Mông ở Mù Cang Chải.
Nguồn lương thực chủ yếu của đồng bào là lúa (lúa nương, lúa nước), ngoài ra là ngô.
Người Mông ở nhà đất, nguyên liệu làm nhà là gỗ, mái lợp truyền thống là gỗ pơmu chẻ mỏng, nhà phải có ít nhất ba gian, gian giữa thờ cúng tổ tiên.
Trang phục của người Mông khá phong phú, mỗi loại trang phục của mỗi nhóm lại thể hiện thị hiếu thẩm mỹ và phản ánh thế giới quan của mình một cách khác nhau.
Tín ngưỡng truyền thống của người Mông là thờ đa thần. Họ thờ cũng tổ tiên và thờ cũng ông, bà, cha mẹ.
Người Mông thường ăn tết sớm hơn tết cổ truyền của người Kinh, đó là vào đầu tháng 12 âm lịch. Đây là dịp để anh hem họ hàng, bạn bè gặp mặt thăm hỏi, chúc tụng nhau nên đồng bào chuẩn bị rất chu đáo cho ngày tết năm mới.
Hình thái chủ đạo của gia đình người Mông là gia đình phụ hệ với 2, 3 thế hệ cùng chung sống. – Xã hội người Mông được điều hành theo dòng họ khép kín, có luật lệ, quy định riêng của mỗi dòng họ, nó mang tính quy ước, được cộng đồng thừa nhận và phải tuân thủ nghiêm ngặt.
Người Thái ở thì chủ yếu sống ở nhà sàn. Trong đó Thái Đen nhà chỉ có một cầu thang, hai đầu hồi nhà có hai khau cút. Thái Đen mặc vải nhuộm chàm, vải đen, vải láng. Nhà sàn người Thái Trắng mái hình chữ nhật với những lan can chạy trước nhà, nơi thờ cúng thường được đặt ở góc nhà. Trang phục của người phụ nữ Thái thường mặc áo sửa cỏm, nẹp áo cài hai hàng khuy bạc hình bướm, ve sầu, nhện gọi là mắc pém rất đẹp, khoảng giữa cạp váy và gấu áo được cuốn thắt lưng vải màu, đeo xà tích từ 1 đến 8 tua. ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
b, Tình hình phát triển kinh tế của huyện Mù Cang Chải
Mù Cang Chải là một tỉnh nghèo, sản xuất nông nghiệp là chính, 90% dân số sống ở nông thôn. Là một tỉnh có lợi thế phát triển nông nghiệp, lại có vị trí gần các trung tâm công nghiệp lên Mù Cang Chải có cơ hội chuyển đổi cơ cấu kinh tế phát triển mạnh nông nghiệp hàng hóa.
Kinh tế tiếp tục phát triển khá, tốc độ tăng trưởng tăng khá cao, bình quân hàng năm tăng 11,5% (giai đoạn 2006-2010), tăng 15,1% (giai đoạn 201 1- 2015). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông – lâm nghiệp, tăng dần giá trị công nghiệp – xây dựng và dịch vụ – thương mại (Nông – lâm nghiệp đạt 61,1% năm 2006, đạt 45,5% năm 2015; Công nghiệp – xây dựng đạt 14,7% năm 2006, đạt 25,0% năm 2015; Thương mại – dịch vụ đạt 24,2% năm 2006, đạt 29,5% năm 2015). Thu nhập bình quân đầu người từ 2,12 triệu đồng năm 2006 tăng lên 16 triệu đồng năm 2016.
Trong phát triển nông, lâm nghiệp, huyện đã từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị, hiệu quả và khả năng tiêu thụ sản phẩm, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững. Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; xây dựng và hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 11.247,5 ha, tăng 3.918 ha so với năm 2006, trong đó chuyển đổi 1.460 ha lúa nương sang trồng ngô. Diện tích cây lương thực có hạt đạt 10.610 ha, tăng 4.007,5 ha so với năm 2006. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 39.580 tấn, tăng 24.713 tấn so với năm 2006. Xác định phát triển chăn nuôi đại gia súc, gia cầm theo hướng sản xuất hàng hoá là một trong những khâu đột phá nhằm khai thác thế mạnh góp phần xoá đói, giảm nghèo, trong 10 năm qua, huyện đã thu hút được nhiều dự án phát triển chăn nuôi như: Dự án giảm nghèo, Dự án bò cái sinh sản, Dự án Ngân hàng bò… Tổng đàn gia súc chính toàn huyện năm 2016 (tại thời điểm 1/10/2016) là 55.534 con, tăng 19.869 con so với năm 2006. Đàn gia cầm 134,64 nghìn con, tăng 56.797 con so với năm 2006.
Bên cạnh đó, huyện đẩy mạnh trồng rừng, quản lý tài nguyên rừng kết hợp với giao rừng cho thuê rừng gắn với giao đất, cho thuê và cấp chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp. Trong đó huyện thực hiện tốt chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc nâng độ che phủ của rừng năm 2016 đạt 67%, tăng 25% so với năm 2006. Chỉ đạo nhân dân làm tốt công tác quản lý bảo vệ, trồng mới diện tích cây Sơn tra, duy trì diện tích cây Thảo qủa hiện có; phát triển một số loại cây trồng có giá trị khác mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân.
Công tác xây dựng nông thôn mới được triển khai sâu rộng trên toàn huyện bắt đầu từ năm 2012. Đã thực hiện đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng, bộ mặt nông thôn đã có những chuyển biến tích cực, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Đã thực hiện mở mới 581,3km đường đất kiên cố; xây dựng 22 cầu treo, 5 cầu bê tông cốt thép. Đến nay, đã có 02 xã đạt 11 tiêu chí; 02 xã đạt 10 tiêu chí; 04 xã đạt 9 tiêu chí; 02 xã đạt 8 tiêu chí; 01 xã đạt 07 tiêu chí; 01 xã đạt 5 tiêu chí.
Giai đoạn 2006 – 2016, sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn được tập trung đẩy mạnh, góp phần tích cực làm chuyển dịch cơ cấu phát triển kinh tế huyện. Hiện nay trên địa bàn huyện có trên 200 cơ sở sản xuất chế biến công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tập trung chủ yếu là chế biến lương thực thực phẩm, đồ uống, khai thác vật liệu xây dựng, đồ dân dụng, sản xuất gạch, điện thương phẩm, khai thác các tiềm năng thế mạnh của huyện để phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp. Triển khai thực hiện hỗ trợ từ Chương trình khuyến công cho nhân dân phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống như: nghề rèn đúc, thổ cẩm và các ngành khác như sản xuất gạch không nung, khai thác vật liệu xây dựng. Trong giai đoạn này đã thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, tạo điều kiện thu hút và giải quyết việc làm cho lao động địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
Riêng trong năm 2017, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện đã cung ứng trên 100 tấn giống hỗ trợ cho các xã; trong đó, giống lúa là gần 70 tấn, giống ngô trên 43 tấn. Chỉ đạo thực hiện ngâm ủ giống tập trung tại các xã theo đúng quy trình kỹ thuật; tuyên truyền, vận động, chỉ đạo, hướng dẫn nhân dân sản xuất đạt hết diện tích; chăm sóc, phòng bệnh theo từng thời điểm sinh trưởng, phát triển của cây trồng. ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Do vậy, diện tích gieo trồng ở từng vụ đều bảo đảm đạt và vượt chỉ tiêu. Trong đó, vụ đông xuân toàn huyện gieo cấy 1.608 ha lúa xuân, bằng 100,5% chỉ tiêu kế hoạch giao, tăng 108 ha so với cùng kỳ, năng suất đạt 48,8 tạ/ha, sản lượng đạt 7.849,1 tấn, vượt 7,7 % so với cùng kỳ và tăng 1% so với kế hoạch; gieo trồng trên 424 ha cải dầu, 20 ha lúa mì và 14 ha khoai tây cho năng suất ổn định.
Vụ lúa mùa, huyện gieo cấy đạt diện tích 4.400 ha, diện tích thu hoạch giảm 119 ha do ảnh hưởng thời tiết. Năm 2017, huyện Mù Cang Chải còn gieo trồng được 4.200 ha ngô vụ xuân hè và 551 ha ngô vụ đông. Sản lượng lương thực có hạt ước đạt 40.520 tấn vượt 2,1% kế hoạch giao, trong đó sản lượng lúa đạt 24.159,7 tấn, sản lượng ngô đạt 16.360,3 tấn.
Trong chăn nuôi, huyện chú trọng đẩy mạnh thực hiện Đề án Phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa giai đoạn 2016 – 2020 với những giải pháp cụ thể, phù hợp với phong tục, tập quán sinh hoạt của đồng bào vùng cao. Trong đó, tăng cường hướng dẫn nhân dân làm tốt công tác phòng chống đói rét, dịch bệnh cho đàn vật nuôi.
Năm 2017, mặc dù bị ảnh hưởng của thiên tai, lũ quét nhưng tổng đàn gia súc chính của huyện vẫn đạt trên 60 nghìn con, bảo đảm 100% kế hoạch, tăng 4,3% so với cùng kỳ; sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt trên 2.600 tấn, bằng 108,7% kế hoạch và tăng 5,3% so với cùng kỳ.
Ở các địa phương, người dân chủ động dự trữ thức ăn và củng cố chuồng trại cho gia súc trong mùa đông; thực hiện tiêm phòng đầy đủ các loại vắc-xin cho vật nuôi nên trên địa bàn huyện không để xảy ra dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm.
Có thể bạn quan tâm:
2.2 Điều kiện phát triển du lịch nông nghiệp ở huyện Mù Cang Chải
2.2.1 Tài nguyên du lịch a, Tài nguyên tự nhiên ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Với tổng diện tích tự nhiên của huyện là 1.119,08ha diện tích đất nông nghiệp là 8.920ha, chiếm 7,44% tổng diện tích tự nhiên. Đất đai Mù Cang Chải chủ yếu là đất Feralit, màu vàng đỏ, vàng nhạt. Đây là quá trình tích lũy tuyệt đối hoặc tương đối sắt, nhôm. Tuy nhiên cũng có các loại đất đen nhiệt đới, đất mùn do ảnh hưởng của quá trình tham gia của vi sinh vật, động vật oxy, không khí và mưa. Thực ra các thành phần thổ nhưỡng ở Mù Cang Chải còn phức tạp hơn nhiều song cơ bản đều thuộc loại đất khá giàu dinh dưỡng thuận lợi cho sự sinh trưởng của thực vật nhất là các loài cây ôn đới hay cận nhiệt đới.
Rừng là thế mạnh của Mù Cang Chải với diện tích 80.000ha, trong đó có 20.293ha rừng già và rừng nguyên sinh, 12.863ha rừng thông, hơn 2000ha rừng sơn trà, ngoài ra mận, các loại dược liệu quý như: đẳng sâm, hà thủ ô, sa nhân… cùng nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ, Mù Cang Chải có khu bảo tồn các loài sinh vật cảnh với trung tâm là xã Chế Tạo và vùng ngoại vi phía Bắc, phía Đông các xã Dế Xu Phình, Púng Luông, Nậm Khắt.
Nơi đây có tính đa dạng cao về thực vật và một số loài động vật thuộc diện quí hiếm được ghi vào sách Đỏ Việt Nam và thế giới, trong đó đặc biệt có loài vượn đen tuyền. Bên cạnh đó rừng ở đây còn là nơi lưu giữ nguồn gen các
loài cây dược liệu quý như đẳng sâm, hà thủ ô, sa nhân… khí hậu ở đây khá đặc biệt mùa hè rất mát còn mùa đông thì rất lạnh. Đây cũng là một trong những yếu tố hấp dẫn đối với du khách.
Mù Cang Chải có 700ha ruộng bậc thang trong đó hơn 47% tập trung ở 3 xã La Pán Tẩn, Chế Cu Nha, Dế Xu Phình. Năm 2007, ruộng bậc thang ở 3 xã này đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích danh thắng cấp Quốc gia. Không chỉ ở 3 xã này, dừng chân ở bất kỳ nơi đâu vào mùa lúa chín, du khách cũng được chiêm ngưỡng những thửa ruộng bậc thang xếp tầng, xếp lớp trải rộng khắp các sườn đồi. Những ruộng bậc thang ấy không chỉ mang lại sự no đủ cho người dân bản địa mà giờ đây còn là cảnh quan làm mê đắm các du khách, điểm nhấn chủ đạo về du lịch cảnh quan, du lịch cộng đồng mang đặc thù rất riêng của Mù Cang Chải.
Với ý tưởng đa dạng hoá các sản phẩm du lịch, bên cạnh việc vận động bà con gieo trồng đúng thời vụ, bảo đảm kỹ thuật để lúa chín vàng đều đúng thời điểm lễ hội, năm nay, sau khi trồng thử nghiệm thành công, huyện Mù Cang Chải đã vận động bà con trồng cải dầu vào tháng 12. Đây là loại cây trồng được đánh giá sẽ mang lại giá trị kinh tế cao khi vừa có thể cho thu hoạch hạt để ép dầu, vừa có thể kết hợp tạo ra các dịch vụ để thúc đẩy phát triển du lịch trong thời điểm cải ra hoa.
Ngoài ra đến với Mù Cang Chải dù chỉ một lần du khách cũng cảm nhận được sự giàu có của thiên nhiên, sự đặc sắc của văn hóa, sự ấm áp của tình người. Đường lên Mù Cang Chải tuy xa và khó khăn song lại rất thú vị, quang cảnh thay đổi liên tục trên đường, du khách chưa kịp ngắm hết những ngôi nhà sàn Thái trên cánh đồng Mường Lò rộng lớn với bạt ngàn hoa ban trắng đã được đến với những con đường quanh co, uốn khúc trên các sườn đồi dốc đứng. Qua đèo Khau Phạ (cao 2100m) mờ trong sương trắng là tới đất Mù Cang Chải (nơi mà người dân Yên Bái vẫn gọi là “biển mây Khau Phạ”). Từ đây, cứ từ đèo này qua đèo khác, núi này qua núi khác, du khách sẽ cảm nhận rõ nét sự thay đổi của độ cao, hai bên đường là những triền ruộng bậc thang làm choáng ngợp lòng người.
Mảnh đất vùng Tây Bắc – Mù Cang Chải (Yên Bái) mang trong mình nét quyến rũ khó cưỡng của một trong những địa điểm săn lúa chín đẹp nhất Việt Nam. Trong tiết Thu dịu mát, sắc vàng óng ả trải ngút mây trời càng tôn lên vẻ đẹp thơ mộng và kéo du khách về với Mù Cang Chải.
Dưới đây là 5 địa điểm ở Mù Cang Chải với những cung ruộng bậc thang mùa lúa chín như những tấm thảm vàng ươm dệt lên khung cảnh hoang dã, yên bình của mảnh đất nơi này. ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
- Đèo Khau Phạ
Điểm đến không thể bỏ qua khi đến Mù Cang Chải vào mùa lúa chín là đèo Khau Phạ – một trong tứ đại đỉnh đèo của núi rừng Tây Bắc. Là một trong những cung đường đèo “cua tay áo”, dốc đứng và cũng đẹp bậc nhất Việt Nam. Đèo Khau Phạ luôn được các dân phượt truyền tai nhau chinh phục nhất là dịp mùa lúa chín hay mùa săn mây.
Là một trong những cung đường đèo quanh co và dốc đứng thuộc hàng bậc nhất Việt Nam vượt qua đỉnh núi Khau Phạ, ngọn núi cao nhất vùng Mù Cang Chải. Đèo Khau Phạ có điểm khởi đầu là đoạn cắt Quốc lộ 32 với Quốc lộ 279 liền mạch liên tiếp với đèo Chấu phía trước nó và đèo Vách Kim phía sau trên đường 32.
Từ thành phố Yên Bái, ngược theo Quốc lộ 32 chừng 5 giờ đồng hồ, qua xã Tú Lệ, đèo Khau Phạ huyện Mù Cang Chải hiện ra giữa một vùng cao nguyên được bao quanh bởi những dãy núi điệp trùng. Những cung đường đèo quanh co giữa những cánh rừng già còn mang đậm nét nguyên sơ và những triền ruộng bậc thang của các dân tộc Mông, Thái.
- Thung Lũng Tú Lệ
Thung lũng Tú Lệ thuộc huyện Văn Chấn, là một trong những điểm dừng chân yêu thích của nhiều du khách yêu vẻ đẹp thiên nhiên. Tú Lệ giữa mùa Thu, lúa chín vàng ươm rạt rào như sóng núi. Mùa gặt náo nức rộn ràng, mùi cơm mới theo gió bảng lảng trên chái nhà… Tú Lệ có thể ví như một cô gái miền sơn cước vô cùng xinh đẹp.
Không chỉ thu hút du khách bởi những thửa ruộng bậc thang Mù Cang Chải tháng 9, Tú Lệ còn hấp dẫn cả những tay săn ảnh khi người Thái nơi đây vẫn lưu giữ được nét sinh hoạt truyền thống là “tắm tiên” bên suối.
- Xã La Pán Tẩn
Nổi tiếng nhất ở Mù Cang Chải là ruộng bậc thang trên địa bàn xã La Pán Tẩn, nhất là thửa ruộng mâm xôi. Để đến được mâm xôi – Kiệt tác nghệ thuật Mù Cang Chải thì không hề dễ dàng chút nào vì đường đến lầy lội, khó đi. Nhưng bạn sẽ không hề cảm thấy hối hận đâu, mỏi mệt sẽ tan biến hết khi mọi giác quan được đánh thức bởi hương lúa chín và sắc vàng óng của thửa mâm xôi.
- Xã Chế Cu Nha
Chế Cu Nha là một xã cảu huyện Mù Cang Chải, nằm cách trung tâm huyện khoảng 7km về hướng hà Nội. Dường và Chế Cu Nha dốc và khó đi, thách thức những tín đồ xê dịch đam mê những cung đường mạo hiểm. Những thửa ruộng bậc thang ở xã Chế Cu nha là cũng điểm dừng chân thú vị mang lại nhwunxg cảm xcus thăng hoa, tươi mới.
- Bản Lìm Mông
Bản Lìm Mông thấp thoáng ẩn mình giữa mây trời, rừng núi. Đường đến bản Lìm Mông xa xôi, cách trở, nhưng sự hấp dẫn bởi vẻ đẹp quyến rũ cau những đồng lúa chín vàng vẫn không ngăn được bước chân du khách yêu vẻ đẹp thiên nhiên. Ở đó có những ngôi nhà sàn xinh xắn chênh vênh bên triền đồi; những bé em má đỏ hây hây tung tăng, hồn nhiên chơi đùa bên những vạt cỏ xanh.
- Điểm khác biệt giữ ruộng bậc thang ở huyện Mù Cang Chải
Được coi như một thành quả giá trị của những nét truyền thống văn hóa của đồng bào người Mông ở vùng cao, hình ảnh những khu ruộng bậc thang nằm ở phía tây nam của dãy Hoàng Liên Sơn ở Mù Cang Chải đã là điểm nhấn cuốn hút trong những điểm dừng chân của du khách. ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Ruộng bậc thang của Mù Cang Chải nói riêng và của những tỉnh phía Bắc nói chung có sự khác biệt hoàn toàn so với những khu ruộng ở đồng bằng. Ngay từ cái tên gọi nó đã phần nào cho du khách hình dung ra được hình ảnh những thửa ruộng này.
Chính sự khác biệt về địa hình đã tạo nên những dấu ấn ấn tượng. Địa hình dốc, các thửa ruộng bậc thang Mù Cang Chải có chiều ngang hẹp chứ không vuông vắn như những thửa ruộng ở đồng bằng, chiều cao khác nhau. Nếu như du khách có dịp đến với Mù Cang Chải mà thấy hình ảnh những bà con dân tộc san ruộng thì thấy những dòng nước chảy nhẹ nhàng xuống các bậc khác nhau, như đổ về nguồn.
Cũng chính vì sự khác lạ này mà nguồn nước sử dụng để tưới tiêu cho những ruộng bậc thang. Những mâm xôi đầy ắp đến tận ngọn từ màu xanh ( lúc mới cấy) đến màu vàng ( lúc chuẩn bị thu hoạch) làm cho cảnh vật nơi đây hiện lên kỳ vĩ giữa bạt ngàn của núi rừng Tây Bắc
Mỗi năm huyện tổ chức lễ hội ruộng bậc thang gắn với một chủ đề khác nhau để đem lại nhiều điều mới mẻ thú vị cho khách du lịch như :
Năm 2015 : Với chủ đề “ Mùa vàng trên non” Năm 2016 : “ Sóng lúa nhịp nhàng”
Năm 2017 : “ Sóng vàng trên non” Năm 2018 : “ Đậm đà bản sắc dân tộc”
Tuy những chủ đề với tên gọi khác nhau nhưng lễ hội Ruộng bậc thang Mù Cang Chải đều nhằm tôn vinh danh thắng quốc gia Ruộng bậc thang và các giá trị văn hóa dân tộc Mông. Đồng thời quảng bá về tiềm năng thế mạnh và bản sắc văn hóa của nhân dân các dân tộc huyện Mù Cang Chải đến du khách trong và ngoài nước; nâng cao ý thức bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử gắn với phát triển du lịch…
b, Tài nguyên nhân văn
Huyện vùng Mù Cang Chải Yên Bái không chỉ đẹp và nổi bật bởi những mùa vàng chải dài trên những thửa ruộng bậc thang hay những ẩm thực đặc sản địa phương hấp dẫn du khách mà những văn hóa các dân tộc nơi đây cũng tạo cho du lịch Mù Cang Chải thật nhiều các lễ hội đặc sắc góp phần cho sự phát triển du lịch nơi đây.
Chiếm 90% dân số toàn huyện, người Mông ở Mù Cang Chải sống trên các sườn đồi núi cao, đoàn kết thành cộng đồng thôn bản. Họ có nền văn hóa dân gian phong phú, các nghi thức lễ hội gầu tào, lễ cúng cơm mới, lễ cưới hỏi, các lời ru, tiếng hát, điệu khèn, điệu múa, tiếng sao, tiếng khèn… mang nhiều ý nghĩa, chứa đựng tình tứ, ẩn hiện hoà quyện với thiên nhiên đất trời làm say đắm lòng người và thoả chí tò mò, khám phá cho du khách mỗi khi hoà nhập vào văn hoá của người Mông Mù Cang Chải.
Nhắc đến dân tộc Mông, Thái người ta hay nhớ đến những lễ hội truyền thống độc đáo với những điệu múa xòe của người Thái, hát đối đáp trong đám cưới của người Mông cùng với những trang phục và những sinh hoạt cộng đồng khác lạ.
Người Mông thích sống ở khu vực có địa hình từ 800-1700m, đây là địa hình của những sườn núi cao, cùng với địa hình này đã hình thành nên rất nhiều những truyền thống văn hóa đặc sắc. Cùng với sự phân chia theo bốn nhóm Mông Đen, Mông Trắng, Mông Hoa và Mông Đỏ đã làm nên sự hòa quyện về bản sắc văn hóa của các dân tộc khác nhau
Dân tộc Mông là một trong những dân tộc có những nét văn hóa truyền thống độc đáo. Người Mông là một thành phần không thể thiếu để làm nên những nét đẹp văn hóa nàyLen lỏi trong những lễ hội, len lỏi trong những làng nghề truyền thống đó là những nét đẹp trong những cuộc sống của người Mông. Đến với Mù Cang Chải, bạn có dịp giao lưu và tiếp xúc với văn hóa người Mông, ghé thăm Tết nguyên đán trước một tháng so với những người dân ở đồng bằng, cùng hòa quyện mình vào những lễ hội gầu Tào, ném pao, đua ngựa, trải nghiệm cảm giác dệt vải…
Nơi đây cũng chính là điểm đến của một kho tàng về những câu chuyện, lịch sử của dân tộc người, văn hóa tộc người. Một phần của cuộc sống người
Mông đó là chìm ngập trong những điệu múa, lễ hội và rực rỡ trong những trang phục truyền thống. Mông và Thái là hai dân tộc tiêu biểu cho những nét văn hóa ở Mù Cang Chải. Người Thái Đen là mang nhiều điểm nổi bật hơn. Kho tàng văn hóa của dân tộc Thái ở Mù Cang Chải rất phong phú và đa dạng. Từ ngôn ngữ sử dụng đến những trang phục, đặc biệt trang phục sử dụng màu vải chàm, vải đen và vải láng là những màu đặc trưng nhất. ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Điểm đặc sắc trong nét văn hóa của người Mông và người Thái ở Mù Cang Chải.
- Dân tộc Mông
Những Văn hóa của người Mông đặc sắc ngay từ cách mà người Mông xây dựng nên, khi dựng nhà, người Mông đều làm lễ “ Dựng thần cửa” với ý nghĩa bảo vệ con người và những tài sản trong gia đình.
Tín ngưỡng thờ cúng của người Mông cũng độc đáo, đó là đa thần ngoài thờ cúng tổ tiên và ông bà, cha mẹ.
Chính vì ăn Tết sớm hơn so với Tết nguyên đán 1 tháng nên những phong tục thờ cúng của người Mông cũng phần nào có một chút gì đó khác lạ. Hàng năm vào ngày 30 Tết, người Mông đóng một tập giấy bản vào vách và sau đó dùng tiết gà quệt lên đó. Người Mông quan niệm thờ thần là thể hiện cho sự giàu sang.
- Dân tộc Thái
Phong tục dựng Nhà sàn của người Thái Trắng có mái hình chữ nhật với những lan can chạy trước nhà.
Những điệu Múa xòe với điệu xòe vòng đã trở thành những nét đặc trưng, mọi người cầm tay nhau nhảy theo những lời ca tiếng hát, xòe tay, kéo tay du dương. Tiếng trống tiếng khèn hòa quyện, vòng xòe càng ngày càng mở rộng hơn mang một ý nghĩa đoàn kết.Với tất cả những nét đẹp văn hóa của dân tộc Mông và dân tộc Thái ở Mù Cang Chải đã góp phần làm nên bức tranh đầy màu sắc khi du khách có dịp đến với núi rừng nơi đây.
2.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng
Cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định khai thác tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Chính vì vậy nên sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kĩ thuật và cơ sở hạ tầng. Du lịch là ngành “sản xuất” nhiều và đa dạng về thể loại dịch vụ, hàng hóa, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Do vậy cơ sở vật chất kĩ thuật và cơ sở hạ tầng du lịch gồm nhiều thành phần khác nhau. Việc tiêu dùng dịch vụ, hàng hóa du lịch đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở công trình đặc biệt, trong đó tài nguyên du lịch chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tiêu dùng của khách du lịch.
Những năm gần đây nhà cửa của người dân được nâng cấp, tu sửa lại khang trang hơn, nhiều ngôi nhà mới được mọc lên san sát, nhiều nhất vẫn là hệ thống nhà nghỉ, khách sạn phục vụ khách du lịch. Theo số liệu thống kê, tốc độ phát triển hệ thống dịch vụ lưu trú trên địa bàn Huyện tăng khá nhanh. Đặc biệt huyện Mù Cang Chải đang tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội. Tổng vốn đầu tư phát triển đã huy động trên địa bàn trong 2 năm 2016 – 2017 dạt trên 1.195 triệu đồng , đạt 33.6 % kế hoạch 2016 – 2020. Huyện đã thực hiện cải tạo xây mới hàng trăm công trình cầu, cống, thủy lợi kiên cố hóa hàng trăm km kênh mương, xây dựng sửa chữa trường học công trình cấp nước sinh hoạt. ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Hệ thống giao thông được nâng cấp, các tuyến đường đã được mở rộng phục vụ đi lại và giao lưu hàng hóa.
Nhờ những thành tựu của bưu chính viễn thông, thời gian gần đây mạng lưới bưu chính viễn thông của huyện Mù Cang Chải đã được quan tâm phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cải tạo và hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc (cả thông tin nổi tỉnh và thông tin quốc tế) theo hướng tự động hóa, vi tính hóa, đảm bảo thông tin nhanh giữa các vùng trong tỉnh, trong nước, và với quốc tế.
Một số cơ sở lưu trú trên địa bàn huyện: Homestay Mù Cang Chải là loại hình ngủ tại nhà dân, nơi mà du khách đặt chân đến. Phù hợp với các du khách thích khám phá, trải nghiệm và tìm hiểu phong tục, tập quán của nhiều nền văn hóa trên mỗi vùng miền. Hình thức du lịch này chủ yếu dành cho các du khách tham gia loại hình du lịch “phượt”, các du khách nước ngoài và gần đây là khách du lịch nội địa.
Đến với Homestay Mù Cang Chải du khách sẽ được ở chung và sinh hoạt chung với người dân địa phương như thành viên trong gia đình, giúp du khách hiểu hơn về cuộc sống và con người vùng đất đó bởi họ được cùng ăn, cùng ở, cùng tham gia sinh hoạt với gia đình chủ nhà với không khí thân thiện, ấm cúng,… hơn nữa hình thức lưu trú này khá mềm về giá cả, phù hợp với mọi đối tượng
Đến Mù Cang Chải, bạn cũng đừng quên thưởng thức những món ăn tưởng trừng dân dã nhưng lại rất ngon và mang hương vị riêng đó là các món: gà ở đồi, gà đen, canh cua suối và cà pháo muối; muốn trung hoà vị giác có thể gọi thêm món rau rớn; cá suối nướng, thịt trâu gác bếp, thịt cá kho măng… cũng là những món ăn lạ miệng đối với miền xuôi.
Nơi đây còn nổi tiếng với các món chế biến từ nhộng ong đất được người dân bản địa lấy trong rừng sâu. Những chú nhộng ong trắng nõn, mũm mĩm còn nguyên trong tổ được hấp lên, ăn có vị béo và thoảng hương thơm hoa rừng rất lạ miệng, rất hợp với vị cay nồng của rượu táo mèo bản địa.
2.2.3 Nhân lực du lịch ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Đối với một huyện vùng cao mà cộng đồng các dân tộc, trong đó nổi bật là người Mông chiếm số đông, sống nhiều đời như ở Mù Cang Chải thì nguồn nhân lực ỏ đây chủ yếu là người dân bản địa. Đây được xem là điểm nổi bật trong du lịch của huyện với không gian văn hóa rộng lớn và phong phú.
Nhiều dân tộc còn lưu giữ nguyên vẹn bản sắc văn hóa truyền thống trong phong tục, tập quán, lễ hội, trang phục, nhạc cụ, các vũ điệu dân gian được bảo tồn như: múa sạp, múa xòe, hát then, hát giao duyên…, hấp dẫn du khách ưa thích khám phá, tìm hiểu văn hóa và trải nghiệm.
Cùng với đó, lợi thế nguồn nhân lực phục vụ du lịch là người dân bản địa, am hiểu về văn hóa bản địa và được đào tạo bài bản, bảo đảm cho du khách vừa được phục vụ tốt nhất vừa có trải nghiệm nguyên bản về văn hóa địa phương, cũng được xem là nguồn lực tiềm năng để Mù Cang Chải đầu tư hợp lý phát triển lĩnh vực kinh tế mũi nhọn này.
Bên cạnh đó, để giúp cho nhân dân hiểu được về kỹ năng phục vụ khách du lịch khi tham gia vào chương trình du lịch cộng đồng, Huyện đã cử các cán bộ của Huyện, cán bộ, nhân viên của công ty lữ hành tới từng hộ gia đình tuyên truyền, hướng dẫn cho người dân các kỹ năng phục vụ như việc giao tiếp, nấu ăn, vệ sinh, xây dựng đội văn nghệ…
Hiện nay số lượng gia đình làm dịch vụ du lich trên địa bàn huyện ngày càng tăng về số lượng và chất lượng. Đến nay số lượng các hộ gia đình làm du lịch đã tăng lên 37 hộ ( tăng so với đầu năm 35 hộ) va và trên 20 nhà nghỉ. Chủ yếu tập trung khu vực trung tâm thị trấn và những khu vực thị trấn Ngã Ba Kim và những nơi đông dân cư.
Cơ cấu lao động: Tỷ lệ lao động ngành nông, lâm ngư nghiệp chiếm 87%, ngành công nghiệp, xây dựng chiếm 2% ngành dịch vụ chiếm 11%
Đối với huyện Mù Cang Chải ngành công nghiệp và dịch vụ của huyện đang trong quá trình phát triển vì thế nguồn nhân lực cần phải nhiều và đáp ứng được nhu cầu phục vụ du khách, tuy nhiên hiện nay nguồn nhân lực phục vụ các hoạt động phát triển du lịch ở Mù Cang Chải hiện thiếu toàn diện hoặc chưa đáp ứng được cho yêu cầu hiện tại.
Việc thiếu nhân lực cho ngành du lịch huyện một mặt cho thấy hoạt động du lịch tại đây trong những năm qua chưa được quan tâm phát triển, mặt khác đó là một thách thức lớn cho sự nghiệp phát triển du lịch ở Mù Cang Chải trong tương lai. Vì vậy vấn đề đào tạo nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ và ngoại ngữ cho nguồn nhân lực du lịch, đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch Mù Cang Chải đang là một trong những vấn đề cấp bách.
2.2.4 Chính sách phát triển du lịch nông nghiệp ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Bất cứ một nơi nào trên thế giới dưới hình thức này hay hình thức khác đều tồn tại một bộ máy quản lý xã hội nhất định. Có thể nói bộ máy này có vai trò quyết định đến hoạt động của cả cộng đồng và du lịch cũng không nằm ngoài quy luật chung đó. Một đất nước một khu vực có tài nguyên du lịch phong phú, mức sống của người dân không thấp nhưng chính quyền địa phương không hỗ trợ cho các hoạt động du lịch thì hoạt động này cũng không thể phát triển được.
Đối với Mù Cang Chải huyện đang dần xây dựng địa điểm trở thành điểm đến an toàn thân thiện và hấp dẫn du khách
Để khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế, thúc đẩy phát triển du lịch, những năm qua, huyện đã chủ động xây dựng các đề án về phát triển du lịch và triển khai thực hiện; tập trung quy hoạch và tranh thủ các nguồn lực đầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch; đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá, tăng cường quản lý Nhà nước về du lịch; xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch; bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa truyền thống phục vụ du lịch…
Trong đó, xây dựng, quy hoạch về phát triển du lịch, năm 2014, huyện đã xây dựng 1 nhà lắp ghép 5 gian tại xã La Pán Tẩn tổng kinh phí 500 triệu đồng và tuyên truyền, vận động nhân dân bày bán các sản vật sẵn có của địa phương. Năm 2015, huyện tiếp tục xây dựng các điểm dừng chân, điểm dù lượn khu vực đỉnh đèo xã Cao Phạ với tổng kinh phí trên 2,4 tỷ đồng. Năm 2016, xây dựng xong Đề án điều chỉnh quy hoạch thị trấn, quy hoạch bản Thái Kim Nọi, làm đường vành đai tránh xâm lấn ruộng tại khu vực tổ 9-10 thị trấn.
Huyện còn tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Mù Cang Chải trên các kênh thông tin đại chúng từ trung ương đến địa phương, tuyên truyền bằng các cụm panô, áp phích, tờ rơi. Xây dựng, nâng cấp Trang Thông tin điện tử huyện, dành riêng 1 chuyên mục giới thiệu, quảng bá về du lịch của huyện. Ngoài ra, huyện Mù Cang Chải còn đẩy mạnh các chương trình hợp tác, quảng bá và xúc tiến du lịch với các địa phương khác nhằm khai thác các tiềm năng, lợi thế của huyện trong phát triển du lịch.
Bên cạnh đó huyện cũng tích cực tổ chức các đợt tập huấn, hội thảo về hoạt động du lịch và mô hình du lịch ở địa phương, bộ, ngành tổ chức; tăng cường tổ chức tập huấn, hội thảo tại địa phương (kể cả quy mô cấp tỉnh, cấp huyện), nhằm trao đổi các kinh nghiệm, tổng hợp các ý kiến đóng góp của các địa phương, của các nhà khoa học, các nhà xã hội học và các chuyên gia về văn hóa, lịch sử, du lịch để xây dựng, củng cố và phát triển mô hình du lịch, tổ chức hoạt động du lịch gắn với nông nghiệp, nông thôn hiệu quả và bền vững
Huyện cũng đang tiến hành khảo sát, xác định các điểm du lịch cộng đồng có tiềm năng của huyện, xác định các thế mạnh đặc trưng của từng bản du lịch cộng đồng; khảo sát xác định những sản phẩm du lịch đặc thù nổi trội của từng xã nhằm khuyến khích người dân, doanh nghiệp đầu tư phát triển thu hút khách du lịch tham quan, trải nghiệm; khảo sát các mặt hàng, sản phẩm đặc trưng có khả năng thu hút khách du lịch…
Huyện chủ trương mời gọi các doanh nghiệp vào đầu tư, xây dựng các dịch vụ du lịch, như: Công ty Nghệ thuật Tân Hà Nội với dự án không gian văn hóa – bản sắc đồi thông tổ 8, trung tâm thị trấn Mù Cang Chải; Công ty Phát triển du lịch xanh Thịnh Đạt với 2 dự án: xây dựng khu nghỉ dưỡng resort Mù Cang Chải tại xã Chế Cu Nha và hang động Pú Cang, xã Nậm Khắt; Công ty cổ phần Đầu tư thương mại MCC với dự án tổ hợp kinh tế miền núi tỉnh Yên Bái tại huyện Mù Cang Chải (địa điểm tại xã Nậm Khắt). ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Trong xây dựng, hình thành các sản phẩm du lịch, ngoài ruộng bậc thang, Festival dù lượn, du lịch cộng đồng đã và đang được khai thác tốt, Mù Cang Chải còn tập trung khai thác quần thể di tích lịch sử đèo Khau Phạ; khôi phục và tái hiện lễ hội truyền thống của người dân tộc thiểu số như lễ hội múa khèn Mông, đám cưới Mông để phục vụ du lịch và nghiên cứu để kết hợp các lễ hội này với sản phẩm du lịch cộng đồng nhằm khai thác đạt hiệu quả cao.
Hiện, sơn tra Mù Cang Chải đã được Cục Sở hữu trí tuệ chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Huyện đang tiếp tục xây dựng thương hiệu mật ong và cơ sở thêu dệt thổ cẩm tại xã Chế Cu Nha.
Du lịch theo mùa cũng đang từng bước hình thành trên địa bàn với 3 mùa trong năm: mùa hoa cải tháng 3, mùa nước đổ tháng 4 – 5 và mùa lúa chín tháng 9 – 10… Các sự kiện văn hóa, du lịch được huyện tích cực triển khai tạo điểm nhấn thu hút du khách, nhất là tuần văn hóa, du lịch, khám phá Danh thắng quốc gia Ruộng bậc thang.
Những điều này đã cho thấy nỗ lực của huyện để xây dựng Mù Cang Chải thành điểm đến an toàn, thân thiện, hấp dẫn và đa dạng của du khách, thể hiện một quyết tâm đưa du lịch trở thành kinh tế mũi nhọn của Mù Cang Chải.
2.3 Thực trạng khai thác du lịch nông nghiệp ở huyện Mù Cang Chải
2.3.1 Các hoạt động du lịch nông nghiệp ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Hàng năm cứ vào mùa lúa chín, lễ hội ruộng bậc thang tại Mù Cang Chải được tổ chức để đón du khách ghé thăm, đây cũng là dịp để tôn vinh vẻ đẹp của danh thắng ruộng bậc thang nơi đây. Dọc đoạn đường quốc lộ 32 từ Đèo Khau Phạ về thị trấn huyện lỵ, ở đâu du khách cũng có thể chiêm ngưỡng những thửa ruộng bậc thang xếp tầng, xếp lớp như những dải sóng vàng uốn lượn trên lưng chừng đồi núi cao. Đặc biệt hơn, vào những ngày mây mù bao phủ, sóng lúa, biển mây hòa quyện vào nhau tạo nên khung cảnh không gian kỳ ảo đẹp đến mê hồn, nó không chỉ đơn thuần là những thửa ruộng để sản xuất mà còn là những tác phẩm văn hóa kiệt tác mang bản sắc của đồng bào dân tộc Mông Yên Bái.
Khách du lịch lên Mù Cang Chải không chỉ đơn thuần nhìn ngắm cảnh vật rồi chụp ảnh. Các lễ hội ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải đặc biệt chú trọng vào các hoạt động trải nghiệm. Bà Lê Thị Thanh Bình, Giám đốc Sở Văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Yên Bái nhấn mạnh, du khách đến địa phương sẽ được chào đón và hòa mình vào cuộc sống, hoạt động sản xuất của người dân bản địa, vào các sự kiện đặc sắc, phong phú, hấp dẫn của các lễ hội với các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, ẩm thực như: phiên chợ vùng cao, hành trình với danh thắng ruộng bậc thang Mù Cang Chải ( Trong chương trình Hành trình với danh thắng ruộng bậc thang là những cuộc thi gặt nhanh, cày giỏi, tạo nên không khí thi đua sôi nổi và hấp dẫn, đồng thời còn trưng bày một số hiện vật là công cụ sản xuất nông nghiệp trên ruộng bậc thang của người Mông, hướng dẫn và giới thiệu du khách về lịch sử hình thành những nét văn hoá độc đáo của sản xuất nông nghiệp tại ruộng bậc thang, khảo sát thông tin bãi đá cổ, hội thi khèn Mông, hội thi chọi dê và các môn thể thao dân tộc và độc đáo hơn nữa triển lãm mây pha lê, cảnh chơi dù lượn. Ngoài ra, du khách có thể trải nghiệm hoạt động du lịch cộng đồng tại các xã: Chế Cu Nha, La Pán Tẩn, Nậm Khắt và thị trấn Mù Cang Chải. Trong đó, du khách có thể trực tiếp tham gia gặt lúa, tuốt lúa và sàng, sẩy, se lanh, dệt vải, ngủ đêm ở nhà sàn… cùng người dân hiền hòa, mến khách. ; từ đó thêm yêu và hiểu nền văn hóa nơi mảnh đất mình đặt chân đến, rồi sẽ muốn quay lại để tiếp tục khám phá.
Hiện nay, du lịch trải nghiệm đang được giới trẻ đam mê, đặc biệt là người nước ngoài. Nói một cách đơn giản, du lịch trải nghiệm là loại hình du lịch dành cho những du khách thích khám phá, trải nghiệm, và tìm hiểu phong tục, tập quán của nhiều nền văn hoá của mọi dân tộc khác nhau tại nơi họ đến.
Trong chuyến đi của mình, khách du lịch thay vì ở khách sạn thì lưu trú ngay tại nhà dân. Trong qúa trình ở, du khách sẽ hiểu hơn về cuộc sống và con người ở vùng đất đó bởi họ được. Cùng ăn ở, cùng làm với gia đình chủ nhà trong không khí ấm cúng và thân thiện. Mới đây, trên mạng xã hội có đăng tải một video với tiêu đề: “Du lịch trải nghiệm: cho khách nước ngoài đi bừa – Hướng đi mới cho du lịch Mù Cang Chải’.
Theo đó, người nước ngoài sẽ được trải nghiệm bằng việc cuốc đất, cho trâu đi cày ruộng cấy lúa. Đó đều là những việc làm quen thuộc của người nông dân Việt Nam nhưng đối với người nước ngoài đó lại là việc làm đầy thu hút, mới. ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Một trong những hoạt động du lịch trải nghiệm thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến huyện Mù Cang Chải đo là hoạt động Festival dù lượn: “Bay trên mùa vàng” do CLB Vietwings Hà Nội phối hợp cùng UBND huyện Mù Cang Chải (tỉnh Yên Bái) thực hiện .Trong đó Đèo Khau Phạ được đánh giá là điểm bay mới đẹp nhất, không chỉ ở Việt Nam mà còn là điểm bay đẹp, có điều kiện thuận lợi nhất trong khu vực Đông Nam Á.
Từ năm 2013, huyện Mù Cang Chải lần đầu tiên tổ chức sự kiện “Bay trên mùa vàng”. Đây cũng là sự kiện văn hóa – thể thao đối với bộ môn dù lượn chính thức đầu tiên ở Việt Nam.
Điều đặc biệt thành công của sự kiện là sau 5 năm tổ chức, số du khách đến với sự kiện đã tăng từ hơn 1.000 người (năm 2013) lên con số hơn 14.000 (năm 2017). Đây thực sự là một con số ấn tượng, nói lên giá trị của bộ môn dù lượn với việc quảng bá, thu hút du khách đến với di sản Quốc gia ruộng bậc thang huyện Mù Cang Chải, đến với di tích đèo Khau Phạ.
Sự kiện bay dù lượn “Bay trên mùa vàng” được tổ chức hàng năm vào mùa lúa chín tại Mù Cang Chải. “Bay trên mùa vàng 2018” có sự tham gia của 150 khách bay đôi cùng 200 phi công trong và ngoài nước tham gia. Bay hoá trang là một hoạt động được các phi công dù lượn duy trì nhiều năm và được tổ chức thành chủ đề chính thức của “Bay trên mùa vàng” từ năm 2017. Với mục đích đem lại màu sắc vui vẻ cho lễ hội, mang lại tiếng cười cho bà con, tạo không gian hòa đồng, thân thiện cho du khách khi đến tham gia lễ hội.
Hơn thế, thông qua sự kiện, những thông điệp về di sản và bảo vệ di sản để phát triển văn hóa du lịch bền vững cũng được tiếp cận rộng rãi tới người dân và du khách trong – ngoài nước.
Từ việc nhận thức được giá trị của sự kiện bay của dù lượn đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, di sản, phát triển du lịch bền vững, từ năm 2017, huyện Mù Cang Chải đã tổ chức thêm sự kiện “Bay trên mùa nước đổ” vào tháng 5, cũng là 1 trong 2 mùa đẹp nhất ở Mù Cang Chải và rất được du khách quan tâm.
Khi đến huyện Mù Cang Chải ngoài được tham gia vào các hoạt động du khách sẽ được ăn những món ăn đặc sản ở nơi đây nhu:
Thịt lợn quay, lợn treo gác bếp: Trong các bản làng lợn đen được chăn thả tự do nên thịt chắc, thơm. Từ nguyên liệu đó kết hợp với các cách chế biến lâu đời đã cho ra các món ăn say lòng du khách. Bên cạnh các món nướng, luộc lợn được kẹp cây rừng nướng tẩm ướp với gia vị rừng đặc trưng của vùng như hạt mắc khén, hành tươi… cho vào lá rong tươi bọc vài lớp, kép tre nướng trên bếp than hoa. Khi thưởng thức, món ăn ngon lạ kỳ với mùi thơm quyến rũ của những gia vị quyện với vị ngọt của thịt khiến người ăn khó thể cưỡng lại. Hay như thịt nạc được xơ chế rồi đem khác lên bếp chín bằng hơi nóng của bếp củi hằng ngày cho ra món thịt thơm dai ngon không kém gì thịt trâu.
Châu chấu rang: Châu chấu có quanh năm nhưng nhiều nhất vào mùa gặt, khoảng tháng 5 và tháng 9. Vào mùa, châu chấu rang với lá chanh và ớt thơm ngậy, giòn béo là món ăn hấp dẫn khi đến Mù Cang Chải..
Cua suối rang: Cua suối sống trong các hốc đá trên suối ở vùng cao. Thịt cua suối thơm, chắc và có thể chế biến được nhiều món. Một tring những món ngon nhất của cua suối là cua suối rang muối. Cua sau khi bắt về bóc mai, rửa sạch để cho ráo nước. Cho dầu vào chảo đun sôi, bỏ tỏi vào xào thơm sau đó cho cua vào đảo cho đều, rắc muối lên rang cho đến khi cua chín vàng đem ra thưởng thức với vi vừa thơm vừa giòn và ngọt. ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Xôi ngũ sắc: Xôi ngũ sắc là món ăn phổ biến trong các dịp lễ tết của đồng bào Tây Bắc, đặc biệt với người Thái tại Yên Bái. Xôi được nầu từ gạo nếp nương hạt dài chắc mẩy thơm ngon kết hợp cùng các nguyên liệu tự nhiên nhuộm màu cho xôi. Mỗi màu xôi là một loại lá cây rừng mang một hương vị khác nhau như: Màu xanh, đỏ được làm từ cây cơm xôi xanh, cơm xôi đỏ. Với loại màu đen hay tím, người nấu dùng lá cây gùn.. Tất cả tạo nên một đĩa xôi thơm dẻo mang hương vị núi rừng đầy màu sắc.
Bánh chưng đen: Bánh chưng đen là món ăn độc đáo của người Thái Mường Lò tại tỉnh Yên Bái. Bạn có thể bắt gặp món ăn này trong các phiên chợ Điều đặc biệt của bánh chưng đen là hình dáng của bánh và màu sắc. Người Thái gói bánh chưng hình trụ. Gạo nếp nương được ngâm với lá cây núc nác để có màu đen đặc trưng. Các nguyên liệu bao gồm lá dong rừng, thịt lợn rừng hoặc lợn cắp nách. Khi ăn, bánh sẽ được cắt thành từng khoanh nhỏ hoặc ăn nguyên cả chiếc sẽ thấy vị dẻo và thơm bùi từ vỏ tới nhân bánh.
Cá nướng pa pỉnh tộp: Tên gọi độc đáo này nghĩa là “cá gập nướng” trong tiếng Thái. Họ thường chỉ sử dụng cá chép suối để nướng. Cá được chế biến theo công thức truyền đời của người Thái, đó là dùng quả mắc khen, gừng, tỏi, rau thơm để ướp vào thịt cá sau đó đặt lên than hoa nướng trực tiếp. Thịt cá suối mềm, ngọt thơm hòa quyện với các loại gia vị khiến cho món ăn trở nên đặc biệt.
Thịt gà được nướng cùng là mắc mật: Với các món nướng của người Thái, lá mắc mật là nguyên liệu quan trọng. Vì thế gà được mổ moi và nhồi lá móc mật vapf bên trong sau đó đem nướng trên than hoa. Khi ăn kèm thịt gà nướng, thực khách có thể cảm nhận được cả vị chua ngọt của lá mắc mật, vị thanh nhẹ của mắc khen và chút cay của ớt.
Dưới đây là lịch trình các hoạt động diễn ra lễ hội Ruộng bậc thang năm 2018
– Chương trình Khai mạc lễ hội khám phá danh thắng quốc gia ruộng bậc thang Mù Cang Chải
Thời gian: 20 giờ ngày 22/9/2018.
Địa điểm: Sân vận động Trung tâm huyện Mù Cang Chải.
Nội dung: Với chủ đề “Mù Cang Chải – Đậm đà bản sắc dân tộc” tôn vinh các giá trị văn các dân tộcđang sinh sống trên mảnh đất Mù Cang Chải, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, gắn với phát triển và hội nhập theo xu thế chung. ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
– Các hoạt động
+ Festival dù lượn “Bay trên mùa vàng”
Thời gian: Từ 8 giờ ngày 22/9 – 23/9/2018.
Địa điểm: Khu vực đèo Khau Phạ, xã Cao Phạ huyện Mù Cang Chải.
Nội dung: Trình diễn dù lượn bay đôi hóa trang trên những thửa ruộng bậc thang do các phi công Câu lạc bộ dù lượn VietWings Yên Bái và du khách đăng ký tham gia dù lượn thực hiện; Trưng bày hai gian sách tại nhà sàn nhà nghỉ đèo Khu Phạ (Nhà hàng Dù lượn) với chủ đề “Bản sắc và hiện đại (kết hợp giữa biểu tượng ruộng bậc thang và dù bay).
+ Hội thi khèn Mông huyện Mù Cang Chải lần thứ II năm 2018
Thời gian: Từ 8h00 ngày 21/9 đến 22/9/2018.
Địa điểm:Sân khấu sân vận động trung tâm huyện Mù Cang Chải.
Nội dung: Chủ đề ca ngợi Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, ca ngợi quê hương đất nước, những điệu khèn được diễn ra trong các nghi thức truyền thống trong lễ hội, đám cưới của đồng bào Mông; các tiết mục mang đậm bản sắc truyền thống của dân tộc Mông; đối tượng tham gia: Là nghệ nhân, diễn viên của 14 xã, thị trấn trên địa bàn huyện.
+ Hội thi chọi Dê Mù Cang Chải năm 2018
Thời gian: Từ 08 giờ ngày 23/9 đến 24/9/2018.
Địa điểm: Sân vận động trung tâm huyện Mù Cang Chải.
+ Tổ chức các hoạt động du lịch cộng đồng. Thời gian: Từ ngày 20/9 đến 30/9/2018.
Địa điểm: Tại các xã Chế Cu Nha, La Pán Tẩn, Dế Xu Phình, Nậm Khắt, Lao Chải và Thị trấn.
Nội dung: Hướng dẫn du khách tham quan một số địa điểm du lịch đẹp trên địa bàn xã như: Đồi sơn tra, thảo quả, Danh thắng ruộng bậc thang, thác Hấu Đề La Pán Tẩn; đồi sơn tra, ruộng bậc thang, hang động Pú Cang, thác 9 tầng Pú Cang, thác Sua Lông xã Nậm Khắt, tham quan điểm du lịch “Mù Cang Chải Ecolodge” tại bản Hua Khắt xã Nậm Khắt; bãi đá cổ xã Lao Chải; Thác Tràng Đề Giàng, đồi thông bản Háng Cuốn Rùa xã Dế Xu Phình.
+ Trưng bày ảnh.
Thời gian: Từ ngày 20/9 đến 30/9/2018.
Địa điểm: Đầu cầu cứng trung tâm huyện Mù Cang Chải.
Nội dung: Trưng bày 30 ảnh ruộng bậc thang của các nghệ sỹ nhiếp ảnh nổi tiếng trong nước.
+ Phiên chợ vùng cao
Thời gian: Tổ chức từ 07 giờ ngày 20/9 đến 30/9/2018. Địa điểm: Sân vận động trung tâm huyện Mù Cang Chải.
Nội dung: Chợ phiên gồm 20 gian hàng bố trí cho 13 xã, thị trấn. Các sản phẩm nông sảnmật ong, táo mèo, rượu thóc, rượu lúa mì, măng ớt, rau cải, gạo nếp, thảo quả, bí, su su, khoai tây, bánh dầy; Trang phục các dân tộc Mông, Thái, túi đeo, túi điện thoại.Nhạc cụ dân tộc người Mông, Thái: Khèn Mông, sáo ngang, sáo dọc, pí dân tộc Thái, đàn tính tẩu, đàn môi; Các sản phẩm đan lát, sản phẩm truyền thống: Ghế mây, mẹt, cở, nỏ, thuốc nam, thuốc bắc…Tổ chức hoạt động trình diễn giã bánh dày và thi giã cốm tại phiên chợ.
2.2.2 Nguồn khách, số lượng khách ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Hiện nay, loại hình du lịch nông nghiệp trên phạm vi trên thế giới và trong nước đang có xu hướng phát triển và đã trở thành một trào lưu trên thế giới.
Trong điều kiện của nền kinh tế mở, hoạt động du lịch của con ngƣời không chỉ dừng lại ở việc nghỉ ngơi, giải trí mà còn nhằm thỏa mạn những nhu cầu to lớn về mặt tinh thần. Những nét riêng biệt về tự nhiên, lịch sử, văn hóa, tập quán sinh hoạt và phong tục truyền thống của từng địa điểm… là những yếu tố mới lại, hấp dẫn để thu hút khách du lịch.
Là nước có môi trường chính trị ổn định, kinh tế xã hội đang có nhiều khởi sắc trên nhiều lĩnh vực là điều kiện rất thuận lợi thúc đẩy người dân đi du lịch và khách quốc tế đến Việt Nam. Hơn nữa, nhà nước đưa ra chính sách làm việc 40h/ tuần và thời gian nghỉ là 2 ngày, do đó người dân có nhiều thời gian nghỉ ngơi vào cuối tuần sau những ngày làm việc căng thẳng, tại những vùng quê bình yên trù phú, với không gian thoáng đãng và được tham gia vào các hoạt đông sản xuất nông nghiệp như: cấy lúa, tát nước, đi câu cá, úp lơm, nướng cá…
Số lượng khách và đặc điểm của thị trường khách là các chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá mức độ phát triển của một điểm, cụm, tuyến du lịch của một địa bàn cụ thể, các chỉ tiêu về nguồn khách còn phản ánh mức độ hấp dẫn, tiềm năng thu hút khách của điểm du lịch đồng thời thể hiện xu hướng phát triển cũng như có thể kiểm nghiệm được việc phát triển thị trường khách hiện tại đã đúng hướng chưa và phù hợp với điểm du lịch chưa.
Lượng khách du lịch đến Mù Cang Chải còn rất khiêm tốn và mới chỉ tăng lên trong vài năm trở lại đây, du khách trong và ngoài nước hết sức quan tâm đến Mù Cang Chải. Vào các đợt cao điểm, lượng khách đến với huyện từ 3.000-4.000 lượt. Cụ thể
Năm 2010, ước đạt 3.500 lượt người, năm 2013 ước đạt 8.000 lượt người, năm 2015 ước đạt 15.000 lượt người, 2016 khoảng 60.000 lượt người và đến 2017 ước đạt 110.000 lượt người…
Khách du lịch đến tham quan với Mù Cang Chải gồm nhiều đối tượng khách khác nhau nhau: Các nhiếp ảnh gia, những người thích đi phượt khách quốc tế, các nhà nghiên cứu …
Số lượng khách đến tham quan Mù Cang Chải với những mục đích sau:
- Nhu cầu thư giãn, gần gũi thiên nhiên, hoạt động ngoài trời
- Nhu cầu tìm hiểu các lễ hội truyền thống, các sản vật địa phương…
- Nhu cầu tìm hiểu đời sống cư dân nông thôn
- Nhu cầu khám phá kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian
- Nhu cầu trải nghiệm thực tế
- Nhu cầu từ thiện
- Nhu cầu nghiên cứu, học tập
2.3.3 Hiện trạng sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật , cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch nông nghiệp. ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng kỹ thuật của huyện Mù Cang Chải
- Giao thông vận tải
Mặc dù ở vị trí địa lý xa xôi các trung tâm đô thị lớn, địa hình chia cắt phức tạp, song vấn đề giao thông vận tải của huyện phần nào đã được cải thiện. Trước đây việc đi lại chủ yếu dựa vào hệ thống đường mòn. Được sự quan tâm, đầu tư của Chính phủ và của tỉnh, quốc lộ 32 Nghĩa Lộ – Mù Cang Chải – Than Uyên (Lai Châu) có chiều dài 70 km chạy trên địa bàn huyện đã được cải tạo, nâng cấp bước đầu đáp ứng được nhu cầu đi lại trao đổi thương mại giữa địa phương và các vùng lân cận. Tuyến đường tỉnh lộ 175b, nối quốc lộ 32 (khu vực Ngã Ba Kim với xã Ngọc Chiến, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, thuộc đường cấp 4 miền núi. Tuyến đường từ huyện đi Chế Tạo dài 35,2 km được bê tông hoá thuận tiện cho việc đi lại và vận chuyển nông lâm sản tới các xã xa trung tâm nhất huyện. Ngoài tuyến đường quốc lộ, các đường mòn dân sinh cũng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội. Hiện tại, toàn huyện có 14/14 xã, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm xã.
Về hệ thống cơ sở hạ tầng nội huyện, tại khu vực trung tâm thị trấn hệ thống đường xá rất đẹp. Ngoài ra, các đường thứ cấp từ trung tâm huyện lỵ đến tất cả các trung tâm xã của huyện đều đã được bê tông hóa, thuận tiện cho việc tiếp cận.
Hiện trên địa bàn huyện có 30 hộ kinh doanh loại hình dịch vụ homestay, trong đó tập trung tại tổ 9, 10 thị trấn Mù Cang Chải khoảng 20 hộ, mỗi hộ có khoảng 30 chỗ nghỉ cho khách. Ngoài phục vụ ăn nghỉ cho khách, còn tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ đáp ứng nhu cầu của du khách.
- Về cơ sở y tế
Hiện có 16 cơ sở với 1.182 giường bệnh, 100% số xã có trạm y tế và cán bộ y tế. Bệnh viện đa khoa, phòng y tế, trung tâm y học dự phòng và các trạm y tế xã, thị trấn đã cơ bản hoàn thành các chương trình y tế quốc gia, y tế dự phòng, đảm bảo duy trì công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ ban đầu, khám chữa bệnh cho nhân dân các dân tộc.
- Thông tin – liên lạc
Trước đây, thông tin liên lạc ở Mù Cang Chải chủ yếu dựa vào đôi bàn chân con người. Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, tại đây có thể liên lạc trong nước, quốc tế, thuận tiện, dễ dàng qua hệ thống điện thoại, fax. Internet. Mạng lưới bưu chính viễn thông được mở rộng. Tại trung tâm huyện lỵ và các xã, thôn bản đã có báo đọc trong ngày.
- Điện
Về vấn đề điện năng, hiện nay huyện có hai trạm thuỷ điện nhỏ là Nậm Mơ ở xã Hồ Dề công suất xây dựng 20KW, công suất thực phát là 12KW và thuỷ điện Nậm Kim (xã Kim Nọi) công suất xây dựng 140KW. Hiện đường điện đã đến được tất cả các xã trong huyện phục vụ nhu cầu sinh hoạt ngay càng cao của người dân trong huyện.
- Nước
Nước sinh hoạt cũng đã được cung cấp đầy đủ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân cũng như nhu cầu sản xuất công và nông nghiệp của người dân các xã trong toàn huyện. Hệ thống nước máy đã có mặt ở hầu hết ở các làng, xã. Huyện đã quan tâm đầu tư công trình nước sạch và đã đi vào hoạt động, 90% dân trong huyện đã được dùng nước sạch. Đây là một thuận lợi cho việc đảm bảo nguồn nước sạch cho khách du lịch. ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
- Cơ sở lưu trú
Số lượng các cơ sở lưu trú khu vực Mù Cang Chải còn rất ít và chủ yếu tập trung tại thị trấn huyện lỵ, chất lượng phục vụ còn thấp. Ngoài các cơ sở lưu trú như nhà nghỉ, nhà khách tại khu vực trung tâm thị trấn và tại Ngã Ba Kim, tại Bản Kim Nọi thuộc xã Kim Nọi cũng cung cấp các cơ sở lưu trú homestay tại nhà dân. Theo Phó Chủ Tịch ông Giàng A Vừ “hiện có nhiều rào cản giúp bà con chuyển đổi sang làm làm kinh tế du lịch. Như, nếp sống, sinh hoạt của người Mông hơi đặc biệt, họ ở nhà đất thấp, đun nấu trong nhà mất vệ sinh, hoặc họ kiêng kỵ những đôi vợ chồng đến ngủ trong gia đình… Nhận thức về làm du lịch, dịch vụ của người Mông chưa có, dù huyện có cơ chế cho vay vốn ưu đãi và không lấy lãi với gia đình nào có nhu cầu làm du lịch. Nhưng đến nay, chưa xã nào báo cáo thống kê hộ dân có nhu cầu vay vốn làm du lịch, đa số bà con đều ngập ngừng, e ngại.
Nhìn chung, số lượng cơ sở lưu trú trên địa bàn huyện không ngừng tăng lên qua các năm nhưng số cơ sở lưu trú chất lượng cao chưa nhiều, do du lịch ngắm ruộng bậc thang mùa lúa chín có tính mùa vụ nên vào đầu xuân công suất phòng đạt rất thấp trong khi đó vào mùa hè và mùa thu, những đợt cao điểm hầu như không đủ cơ số phòng để phục vụ khách du lịch lưu trú nhất là các dịp lễ ruộng bậc thang, mùa nước đổ.
- Cơ sở phục vụ ăn uống
Cùng với sự gia tăng của các cơ sở kinh doanh lưu trú thì hệ thống cơ sở phục vụ ăn uống cũng gia tăng nhanh chóng về số lượng. Tất cả các nhà nghỉ đều có quầy Bar, phòng ăn. Nhìn chung các cơ sở ăn uống hiện nay còn nhỏ lẻ, chưa đủ khả năng phục vụ cho lượng lớn du khách; chất lượng phục vụ và khả năng chế biến món ăn phần lớn chưa đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật và thẩm mỹ, chưa được quản lý chặt chẽ về chất lượng phục vụ, giá cả và vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Cơ sở vui chơi giải trí
Dịch vụ giải trí trên địa bàn huyên hiện nay mới chỉ có vài quán café và Karaoke, chưa có dự án đầu tư nào vào các lĩnh vực này. Việc thiếu các dịch vụ vui chơi giải trí tại đây khiến cho du khách cảm thấy tẻ nhạt vào buổi tối. Với nhu cầu du lịch tại đây rất lớn, cần thiết phải phát triển các loại hình dịch vụ vui chơi giải trí, để tạo sức hấp dẫn cho các Tuor du lịch và kéo theo thời gian lưu trú, tăng chi phí chi trả của du khách.
2.3.4 Hiện trạng về công tác xúc tiến ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Xúc tiến du lịch được xem là một trong những công tác quan trọng được ưu tiên, quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển du lịch tỉnh. Hoạt động xúc tiến du lịch đã triển khai một số hoạt động quảng bá đó là “Phối hợp Đài Truyền hình Việt Nam cùng với phương tiện thông tin đại chúng từ Trung ương đến địa phương; tổ chức thành công Festival dù lượn “bay trên mùa nước đổ” trong khuôn khổ chương trình khai mạc năm Du lịch tỉnh Yên Bái; Tổ chức thành công Festival dù lượn “bay trên mùa vàng” vào trung tuần tháng 9/2017 trong khuôn khổ Tổ chức Tuần Văn hóa, du lịch Mường Lò và Lễ hội khám phá Danh thắng Quốc gia ruộng bậc thang Mù Cang Chải với trên 250 phi công bay (trong đó có 09 phi công là người nước ngoài), thu hút trên 30.000 du khách trong, ngoài tỉnh và nước ngoài, góp phần quảng bá sâu rộng về vùng đất, con người, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử của huyện đến với bạn bè trong và ngoài nước.
Thông tin tuyên truyền thường xuyên, sâu rộng về nguồn nhân lực, điều kiện tự nhiên, xã hội thuận lợi của huyện đến các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Ngoài ra huyện cũng tăng cường quảng bá hình ảnh quê hương, con người và nét văn hóa đặc sắc của Mù Cang Chải đến bạn bè trong và ngoài nước qua các phương tiện thông tin đại chúng và các sản phẩm thông tin đối ngoại. Tăng cường tổ chức và tuyên truyền qua các sự kiện, hội nghị giao lưu văn hóa, nghệ thuật, thể thao, hợp tác quốc tế, xúc tiến đầu tư thương mại, du lịch, giới thiệu sản phẩm hàng hóa. Tăng cường hoạt động thông tin đối ngoại của địa phương trên Trang thông tin điện tử huyện Mù Cang Chải.
Tích cực tham gia Hội nghị kết nối cung cầu, tham gia triển lãm các thành tựu phát triển kinh tế – xã hội; giới thiệu các sản phẩm đặc trưng về nông nghiệp, công nghiệp …và các bản sắc đặc sắc văn hoá của địa phương tại Hội chợ Công thương do tỉnh, huyện tổ chức, nhằm mục đích giao lưu kinh tế thương mại, góp phần tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của địa phương, tạo ra cơ hội xúc tiến thương mại và đầu tư.
Lồng ghép ngoại giao văn hóa với các hoạt động ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, đối ngoại nhân dân nhằm xây dựng và quảng bá văn hóa, lịch sử nét đẹp của vùng đất, con người Mù Cang Chải tới bạn bè quốc tế; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc trên địa bàn huyện; tăng cường giới thiệu, đổi mới phương thức quảng bá lịch sử, văn hóa, thành tựu phát triển kinh tế, xã hội, tiềm năng, thế mạnh của huyện vói các địa phương trong nước và bạn bè quốc tế, như: Tổ chức Festival dù lượn “bay trên mùa nước đổ” vào tháng 4 – 5/2018; Festival dù lượn “bay trên mùa vàng” vào trung tuần tháng 9/2018…
Nhìn chung, công tác quảng bá xúc tiến du lịch Mù Cang Chải trong năm 2017 đã đạt được những thành công nhất định. Số lượng khách du lịch và doanh thu du lịch tăng lên một cách nhanh chóng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động xúc tiến du lịch cũng còn nhiều hạn chế nhất định:
Công tác nghiên cứu thị trường chưa thật sự hiệu quả việc nắm bắt thông tin về nhu cầu thị trường khách du lịch về loại hình, sản phẩm và thời gian tham gia du lịch cả trong nước và quốc tế còn rất hạn chế.
Công tác thông tin xúc tiến du lịch trên mọi phương diện, duy trì với tần suất thấp, diện xúc tiến chưa rộng, dẫn đến hiệu quả đem lại chưa cao. Mặc dù Trung tâm xúc tiến Du lịch Yên Bái có tổ chức quầy giới thiệu về Du lịch Mù Cang Chải, tặng tờ gấp, nhưng còn thiếu đội ngũ hướng dẫn viên, chưa xây dựng được những tour hấp dẫn nhất về những điểm đến khám phá, nơi sẽ chụp ảnh đẹp về ruộng bậc thang và hoạt động tham gia cùng người dân trải nghiệm các hoạt động về du lịch nông nghiệp.
Các doanh nghiệp du lịch, dịch vụ chưa ý thức được vai trò, tác dụng của công tác xúc tiến quảng bá, nên họ không chú ý đầu tư hoặc đầu tư rất ít về nhân lực cũng như kinh phí cho công tác quảng bá xúc tiến.
2.4 Một số nhận xét đánh giá
2.4.1 Lợi thế, tích cực ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Huyện có tài nguyên du lịch nông nghiệp phục vụ phong phú, đa dạng và hấp dẫn, được hình thành bởi đặc điểm tổng hoà của các yếu tố địa chất, địa hình, khí hậu, thực động vật. Với sự phong phú về tài nguyên này huyện có khả năng phát triển nhiều loại hình du lịch trong đó có du lịch nông nghiệp.
Trong thời gian qua, Huyện đã ban hành nhiều chính sách riêng về phát triển du lịch, tăng cường quản lý môi trường kinh doanh du lịch. Ngoài ra huyện đã tập trung cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng điều hành, cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn quy trình xử lý, giảm số lượng và đơn giản hóa hồ sơ, giảm thời gian và chi phí thực hiện các thủ tục hành chính nhằm tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp, chủ đầu tư…
Lượng khách đến với Mù Cang Chải tăng đều qua từng năm, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân.Trong năm 2016, huyện đã xây dựng kế hoạch gắn phát triển du lịch với phát triển nông nghiệp bằng những cây trồng vừa mang lại lợi ích kinh tế cho bà con vùng cao, vừa mang lại cảnh sắc tươi đẹp để phục vụ phát triển du lịch. Địa phương cũng xác định đây là một bước đi mới để người dân vùng cao nâng cao đời sống từ phát triển du lịch. Từ việc lần đầu trồng cây cải dầu, trồng hoa tam giác mạch, trồng cây lúa mì mang lại khung cảnh ấn tượng khi hoa nở trên khắp triền ruộng bậc thang và lúa mì trổ bông, thu hút hàng ngàn du khách đến với Mù Cang Chải đã tạo nguồn thu nhập đáng kể cho bà con.
Bên cạnh đó nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng kinh tế, văn hoá xã hội được đầu tư trên địa bàn Huyện đảo đã phát huy tác dụng, thúc đẩy kinh tế xã hội của Huyện phát triển.
Mù Cang Chải không có sông lớn nhưng lại có hàng chục khe suối lớn bắt nguồn từ dãy Hoàng Liên với chiều dài 360 km, trong đó, suối Nậm Kim chảy xuyên chiều dài của huyện với 75 km; suối Nang Khủ, xã Chế Tạo dài 35 km… Đây là lợi thế để huyện thu hút đầu tư, phát triển các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ.
Nhờ cách làm đúng hướng, cởi mở, thời gian qua, Mù Cang Chải đã thu hút nhiều doanh nghiệp đến đầu tư, xây dựng nhà máy thủy điện. Qua đó, tạo việc làm cho lao động địa phương, đóng góp không nhỏ cho ngân sách huyện.
Tiêu biểu trong số này phải kể đến các thủy điện đã khởi công và đi vào hoạt đông như: Nhà máy Thủy điện Khao Mang, khởi công tháng 3/2013 với tổng vốn đầu tư 900 tỷ đồng; công suất 30 MW, hoàn thành đưa vào sử dụng tháng 1/2017, doanh thu dự kiến 150 tỷ đồng/năm. Nhà máy Thủy điện Khao Mang thượng, công suất 24,5 MW, tổng vốn đầu tư 1.200 tỷ đồng, hoàn thành đưa vào sử dụng tháng 9/2015 với doanh thu 120 tỷ đồng/năm.
Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng được sự quan tâm của tỉnh và của nhà nước nên bước đầu huyện đã tạo ra nền móng về mọi mặt ( văn hoá, giáo dục, cơ sở hạ tầng…) để phát triển tương lai. Bên cạnh thuận lợi thì Mù Cang Chải còn gặp nhiều khó khăn cần được khắc phục.
2.4.2 Khó khăn hạn chế ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Cơ sở hạ tầng mặc dù được quan tâm đầu tư, tuy nhiên do khó khăn về kinh tế nên còn yếu kém, chưa có điều kiện đề kiên cố hoá. Điều này hạn chế đến tốc độ phát triển mọi mặt của các ngành kinh tế xã hội.
Trình độ dân trí thấp, không có ứng dụng khoa học đất thì nhiều nhưng lại thiếu đất sản xuất. Thêm vào đó tỉ lệ tăng dân số quá nhanh và tệ nạn cũng góp phần tăng nghèo đói ở huyện Mù Cang Chải.
Kết quả xóa đói, giảm nghèo chưa thật sự bền vững, nguy cơ tái nghèo cao, một bộ phận đồng bào còn thiếu đất sản xuất; chất lượng giáo dục, dạy nghề, dịch vụ y tế còn thấp. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nhiều xã yếu về năng lực; chưa phát huy tốt vai tṛò của cả hệ thống chính trị để đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội. An ninh vùng dân tộc thiểu số, vùng giáp ranh tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, còn xảy ra tình trạng di dịch cư tự do, xâm canh, xâm cư, mua bán vận chuyển lâm sản trái phép.
Sản phẩm du lịch chưa đa dạng, thiếu những cơ sở vui chơi, giải trì, các dịch vụ bổ xung.
Về nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp trong ngành du lịch của huyện số lượng còn quá ít trình độ và chuyên môn còn thấp kinh nghiệm trong tổ chức du lịch chưa tích lũy được nhiều điều này đã không tạo ra được sự hấp dẫn với du khách nhất là đội ngũ hướng dẫn viên thông thạo ngoại ngữ để giới thiệu cho khách quốc tế càng thiếu trầm trọng.
Hiện nay toàn huyện có trên 10 nhà khách có thể đón trên 200 người, kèm theo có một số nhà nghỉ của đồng bào dân tộc tổ chức đón khách cũng chỉ đáp ứng đủ nhu cầu của khách. Ở các điểm vui chơi, khu du lịch còn thiếu các nhà vệ sinh, tình trạng xả rác bừa bãi chưa được dọn dẹp kịp. Mặc dù Trung tâm xúc tiến Du lịch Yên Bái có tổ chức quầy giới thiệu về Du lịch Mù Cang Chải, tặng tờ gấp, nhưng chưa xây dựng được những tour hấp dẫn nhất về những điểm đến khám phá, nơi sẽ chụp ảnh đẹp về ruộng bậc thang. Còn thiếu các quầy dịch vụ bán các sản phẩm đặc trưng của Mù Cang Chải dành cho khách.
Mù Cang Chải đã xây dựng được một số trang web giới thiệu, quảng bá về thương hiệu cũng như hình ảnh của huyện tới du khách trong và ngoài nước. Huyện đã có biểu tượng, logo riêng, xây dựng được thương hiệu trong lòng bạn bè trong nước cũng như quốc tế. Nhưng các trang web về Mù Cang Chải nội dung chưa phong phú, đa dạng. Hầu hết đây mới chỉ là những trang web của các cơ sở kinh doanh tư nhân lập ra để quảng cáo cho công ty mình, cho các sản phẩm của mình chứ gần như ít quảng bá giới thiệu du lịch sản phẩm của huyện.
Đặc biệt trong hai năm gần đây, trước sự tác động của biến đổi khí hậu, ngoài mưa lũ, còn xảy ra đợt mưa tuyết và băng giá vừa qua đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân.
Tài nguyên du lịch của huyện vẫn còn ở dạng tiềm năng chưa được khai thác vì thế vấn đề đặt ra là phải đánh giá được đúng tài nguyên của huyện. Trên cơ sở đó các cấp, các ngành có liên quan cần có quy hoạch để đầu tư, tôn tạo, bảo vệ và khai thác một cách tốt nhất, đưa du lịch trở thành một ngành kinh tế quan trọng và góp phần phát triển kinh tế-xã hội của huyện. ( Khóa luận: Thực trạng quản lý phát triển du lịch nông nghiệp )
Nguyên nhân:
Về khách quan: Đồng bào dân tộc Mông sinh sống chủ yếu ở vùng đặc biệt khó khăn nên kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, điện, thông tin, giáo dục, y tế… còn yếu kém; đa số đồng bào sản xuất thuần nông, tình trạng thiếu đất canh tác, đất bạc màu, thiếu nước sản xuất, nước sinh hoạt, chịu tác động nhiều của thiên tai, biến đổi khí hậu xảy ra ở nhiều nơi… Ngoài ra, một bộ phận đồng bào dân tộc Mông còn bảo thủ trì trệ, tư tưởng cam chịu cuộc sống khó khăn, phong tục tập quán lạc hậu chậm được khắc phục, nhất là vấn đề hôn nhân cận huyết thống, tảo hôn, sinh nhiều con… Bên cạnh đó, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, sự cả tin, phong tục tập quán lạc hậu để kích động đồng bào di cư, chia rẽ dân tộc gây hoang mang trong tư tưởng, ảnh hưởng đến đời sống của một bộ phận đồng bào.
Về chủ quan: Nhiều chủ trương, chính sách đúng được ban hành kịp thời, nhưng thực hiện chưa thật hiệu quả. Nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu đề ra, nhiều chính sách hết thời hạn thực hiện và chưa đủ mạnh để giải quyết căn bản những khó khăn, bức xúc trong sản xuất và đời sống của người dân, để tạo điều kiện để vùng này phát triển. Chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị còn nhiều hạn chế, công tác vận động quần chúng, đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu.
Tiểu kết chương 2
Chương 2 đã giới thiệu khái quát về huyện Mù Cang Chải, các nguồn tài nguyên khai thác cho phát triển du lịch tại đây. Đặc biệt, đánh giá được tiềm năng và thực trạng khai thác loại hình du lịch nông nghiệp tại huyện Mù Cang Chải. Tuy có nhiều điều kiện để phát triển loại hình du lịch nông nghiệp mới này nhưng chưa thu hút được nhiều sự quan tâm của cộng đồng. Vì vậy, cần đề xuất những giải pháp để phát triển loại hình du lịch này được nêu ra ở chương tiếp theo.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Khóa luận: Giải pháp nâng cao phát triển du lịch nông nghiệp

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
