Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc hiểu, dưới đây là một hiện tượng thực tế được tác giả áp dụng ngay trong bài luận văn thạc sĩ của mình. Hiện nay, một số giáo viên thường có xu hướng coi trọng phần đọc – hiểu văn bản mà xem nhẹ hoặc bỏ qua các bài khái quát, các phần mục tìm hiểu tác giả, tác phẩm, hoặc những kiến thức đó nếu có thì cũng chỉ được nhắc đến một cách qua loa, sơ sài, không liên hệ với phần văn bản và cũng không phục vụ cho việc đọc – hiểu văn bản. Dưới đây là bản đầy đủ của Đề tài: Phương pháp khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc – hiểu văn bản văn học lớp 11 luận văn Thạc sĩ.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Là một trong những môn học quan trọng hàng đầu của chương trình giảng dạy phổ thông, văn học luôn hướng con người đến chân – thiện – mĩ để tâm hồn mỗi chúng ta cảm thấy yêu hơn cuộc sống, nhân loại. Không những thế, văn học còn cho chúng ta thấy rõ từng bước đi, nhịp đập, hơi thở của lịch sử xuyên suốt qua từng chặng đường, từng thời kỳ, từng giai đoạn với những nấc thăng trầm khác nhau. Chính vì vậy mà trong công việc dạy học văn, việc khai thác và truyền thụ các kiến thức, hiện tượng văn học trong mối quan hệ gắn bó với lịch sử, thời đại là một vấn đề mang ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng .
Đọc – hiểu văn bản văn học thực chất là phương pháp tiếp nhận nghệ thuật ngôn từ bằng sự cảm thụ trực tiếp, là sự hiểu thấu ngôn ngữ và là sự phân tích, phát hiện ý nghĩa sâu xa trong văn bản. Mục đích của đọc – hiểu là hình thành và duy trì những ấn tượng nghệ thuật để học sinh tiếp tục đi sâu vào nội dung tư tưởng và hình thức ngôn ngữ tác phẩm. Theo tinh thần này, đọc – hiểu văn ở trung học phổ thông chính là toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã các văn bản văn học tiêu biểu cho các thể loại ở từng giai đoạn lịch sử văn học, qua đó cung cấp và hình thành ở học sinh những kiến thức cơ bản về lịch sử văn học, lí luận văn học, tác giả và tác phẩm văn học, làm nền tảng để từng bước xây dựng văn hóa đọc cho học sinh.
Những tri thức văn học sử sẽ cung cấp cho học sinh những hiểu biết về văn học theo quan điểm đồng đại và lịch đại, giúp các em hiểu hơn quá trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc. Tri thức về văn học sử cùng với tri thức lí luận văn học sẽ nâng tri thức văn học của học sinh lên cấp độ khái quát và góp phần rèn luyện cho học sinh kỹ năng tư duy văn học, khả năng ứng dụng tri thức, tự mình phát triển, hoàn thiện tri thức. Ngoài ra, những kiến thức văn học sử có thể bồi dưỡng và phát triển tình cảm yêu nước, tình yêu nhân loại cho học sinh khi các em được học các bài về các tác gia, tác giả có tên tuổi, tiêu biểu trong chương trình phổ thông, từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến… đến Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh,…
“Giờ giảng văn học sử không thể chỉ quan tâm đến việc truyền thụ kiến thức văn chương mà coi nhẹ nguồn tư tưởng tình cảm cao quí vốn là những tài sản vô giá của dân tộc ta”. [32, tr. 11]
Quan điểm xây dựng chương trình sách giáo khoa Ngữ văn mới hiện nay là : một mặt theo truyền thống (dựa vào tiến trình văn học), mặt khác có điểm mới là theo thể loại. Các giai đoạn văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII có : thơ, phú, nghị luận, sử kí và truyện. Các giai đoạn văn học từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX có : thơ, ngâm khúc, truyện thơ. Cấu trúc chương trình này đã đặt ra cho chúng ta một loạt các câu hỏi liên quan :
- Việc nhấn mạnh vào tiêu chí thể loại có đảm bảo kiến thức và thật sự mở rộng diện đọc, tăng thêm tri thức về văn hiến Việt Nam (như mục tiêu sách giáo khoa đã đặt ra) cho học sinh hay chưa, một khi có khá nhiều thể loại không cần thiết được đưa vào bắt buộc học sinh phải học?
- Nên phân loại dựa trên tiêu chí tiến trình lịch sử như sách giáo khoa trước để phần văn học sử trở thành một siêu kiến thức quan trọng không kém phần đọc – hiểu văn bản hay cần chú trọng nhấn mạnh đến thể loại để thuận lợi cho việc làm văn nghị luận của học sinh ?
- Có chắc rằng, tri thức văn học sử cũng như lí luận văn học một khi nằm trong văn bản, được lồng ghép vào văn bản sẽ có tác dụng và phục vụ đạt hiệu quả như mong muốn ? ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Thiết nghĩ, dù có phân loại dựa theo tiêu chí nào thì người dạy vẫn cần phải biết cân nhắc, kết hợp hài hoà giữa các kiến thức, các nội dung bài giảng, phải biết khai thác các yếu tố lịch sử văn học, khai thác các giá trị của văn bản và phải làm sao lồng ghép các kiến thức văn học sử vào quá trình đọc – hiểu văn bản cho thật hiệu quả. Đồng thời, cần phải thấy được sự hiện diện của bóng dáng văn học sử ở mỗi thời kỳ trong từng tiết học, giờ học đọc – hiểu văn bản.
Dạy văn là cung cấp cho học sinh những tri thức về đọc – hiểu cũng như những tri thức về lí luận văn học và lịch sử văn học. Nhất là khi chương trình buộc phải tích hợp đọc – hiểu với lịch sử văn học thì công việc giảng dạy, cung cấp kiến thức cho các em lại càng khó khăn hơn. Trong khi đó, phương pháp dạy lịch sử văn học hiện nay còn nhiều ngộ nhận, lúng túng, bất cập, chưa được giải đáp…
Kiến thức văn học sử không chỉ tập trung thể hiện ở các dạng bài khái quát mà còn hiện hữu trong các tác phẩm. Vì vậy, phương pháp khai thác kiến thức văn học sử có cả ở hai dạng : một dạng được thể hiện rõ thông qua các bài khái quát về tác gia, tác giả, tác phẩm, thời kỳ, giai đoạn văn học ; một dạng tiềm ẩn trong các văn bản bằng những kí hiệu, hình tượng, ngôn từ nghệ thuật. Với dạng kiến thức còn tiềm ẩn này, chúng ta cần phải có phương pháp khai thác phù hợp, khoa học. Bởi lẽ, bất kỳ một văn bản hay một tác phẩm được viết ra bao giờ cũng dựa theo những lập trường, quan điểm, quan niệm về hoàn cảnh lịch sử, xã hội nhất định. Cho nên, hầu như khi tìm hiểu chúng, ta không thể bỏ qua kiến thức văn học sử và lí luận văn học.
Thử hình dung nếu ta phân tích tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao hay bất kỳ một tác phẩm nào khác chẳng hạn, đôi lúc ta vô tình hay hữu ý bỏ qua quá trình tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ấy cũng như quan điểm lập trường sáng tác của nhà văn thì có lẽ sẽ mất đi nhiều giá trị và không thể hiểu hết những gì thời đại đã qua, những gì mà người nghệ sĩ dụng công gởi gắm đến bạn đọc. Mặt khác, chúng ta sẽ không thấy được hơi thở, nhịp đập, tư duy của thời đại – có thể nó đã xảy ra trong quá khứ đến nay chỉ còn vang bóng hoặc có thể đang tiếp diễn ở hiện tại hoặc dự định xảy ra trong tương lai sắp tới…
Tác phẩm văn chương là sản phẩm của một thời đại lịch sử, của mỗi cá nhân tác giả. Từ những kinh nghiệm thực tế cuộc sống, xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá…, mỗi cá nhân tác giả theo lập trường, quan điểm, lí tưởng của thời đại sáng tạo nên những tác phẩm gởi đến bạn đọc như những bức thông điệp. Người nghệ sĩ sáng tác văn chương từ thời đại mình, cho thời đại mình và cho cả thời đại mai sau.
Cuối cùng, có thể nói việc dạy văn học khi dựa trên những quan niệm, tư tưởng mang tính lịch sử của tác giả cũng như bối cảnh, hoàn cảnh lịch sử ra đời của tác phẩm sẽ đồng thời dạy cho học sinh tinh thần truyền thống của lịch sử dân tộc, lịch sử đất nước hào hùng. Các em sẽ cảm thấy tự hào, yêu hơn lịch sử văn chương nghệ thuật của quê hương, đất nước mình.
Dù đã có nhiều người nghiên cứu, bàn luận về tri thức văn học sử nói chung và nội dung tri thức văn học sử ở trường phổ thông nói riêng nhưng có lẽ vấn đề khai thác chúng trong quá trình đọc – hiểu văn bản cụ thể lại hiếm được đề cập. Do đó, người viết cảm thấy đây chính là một trong những mảng đề tài còn đang mở rộng để chúng ta có thể đi vào khám phá và tìm hiểu.
Trong sự hiểu biết có giới hạn, người viết chỉ dám hy vọng một điều là tất cả những gì tiếp thu, học hỏi được từ kinh nghiệm của các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và từ thực tế, sách vở, kinh nghiệm bản thân sẽ góp phần mang lại hướng nhìn mới, diện mạo mới vào việc khai thác các kiến thức văn học sử trong đọc – hiểu văn bản Ngữ văn 11 – chương trình chuẩn.
2. Lịch sử vấn đề ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Văn chương hình thành, tồn tại và phát triển trong một dòng chảy, như một dòng chảy. Nó là sự kết tinh, kế thừa giữa truyền thống và hiện đại. Văn chương nghệ thuật không bao giờ ngưng đọng. Có khi nó phải trải qua những thác ghềnh, những con sóng lớn dữ dội, nhưng có khi lại trôi đi một cách phẳng lặng, bình yên. “Thầy giáo dạy lịch sử văn chương là người có ý thức về dòng chảy đó, biết nó bắt nguồn từ đâu (…) để biết khi nào dòng chảy văn chương lại đổ dốc, khi nào lại có chiều ngưng đọng, tỏa rộng” [32, tr.9].
Quả thật, văn học sử có đặc điểm và sức mạnh riêng trong môn văn ở trường trung học phổ thông. Kiến thức văn học sử như là kiến thức “giao thoa” giữa khoa học và nghệ thuật, đồng thời văn học sử còn là kiến thức có tính hệ thống đa chiều, tính bao hàm, khái quát về ngoại diên và nội hàm của tri thức,…
Với những đặc điểm trên, tri thức văn học sử ở trường trung học phổ thông xứng đáng để chúng ta khai thác và vận dụng một cách nghiêm túc, hiệu quả.
Liên quan về đề tài này đã có không ít các công trình đề cập đến trên cả hai phương diện nghiên cứu văn học sử và giảng dạy văn học sử. Tuy nhiên trong khuôn khổ cho phép của đề tài người viết chỉ giới thiệu một số công trình nghiên cứu, giảng dạy tiêu biểu để xác định rõ hơn quan điểm cũng như cơ sở lí luận, phương pháp luận cho đề tài.
- Nói về công trình nghiên cứu văn học sử, đầu tiên phải kể đến cuốn Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm. Nội dung cuốn sách gồm hai phần : phần 1 – lược khảo về văn học lịch sử Việt Nam, phần 2 – trích lục những bài thơ văn cổ Mặc dù đã xuất bản cách đây rất lâu nhưng cho đến nay nhiều kiến giải trong đó vẫn được các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu….
Hiện nay một trong những công trình nghiên cứu đề cập khá đầy đủ về phương pháp luận nghiên cứu văn học sử là cuốn Phương pháp luận nghiên cứu văn học (Chương 4 – Phương pháp luận văn học sử ) của Giáo sư Phương Lựu. Công trình đã đề cập đến một số nguyên tắc chung về việc nhận thức lịch sử văn học, từ đó xác định không gian, thời gian văn học sử. Tác giả nêu ra luận điểm khá nổi bật : “Tác phẩm văn học là những tế bào của văn học sử, nó đặt cơ sở cho những mối liên hệ bản chất nhất, cơ bản nhất với nhiều hiện tượng văn học khác như nhà văn, khuynh hướng, trào lưu, loại thể, bạn đọc.” [38, tr. 270].
Tiếp đến phải kể đến công trình nghiên cứu của Viện Thông tin Khoa học Xã hội Văn học sử – Những quan niệm mới – Những tiếp cận mới, giới thiệu một số vấn đề lí luận và kinh nghiệm của các học giả trong nước và nước ngoài, đặc biệt là những quan điểm mang tính phương pháp luận của cố viện sĩ D.S. Likhachev trong quá trình nghiên cứu và biên soạn văn học sử.
D.S. Likhachev đề cập những quan điểm mang tính phương pháp luận trong quá trình nghiên cứu và biên soạn văn học sử. Ông đưa ra sơ đồ chung của công trình nghiên cứu văn học đầy đủ phải được xây dựng theo những giai đoạn :
- Nghiên cứu lịch sử văn bản của tác phẩm và trên cơ sở đó phát hiện ra những ý đồ của tác giả, sự tiến hoá của chúng, mức độ hoàn chỉnh của chúng,…
- Nghiên cứu cá nhân tác giả, sự sáng tác của anh ta và vị trí của tác phẩm trong sự tiến hóa đó về sáng tác.
- Nghiên cứu các kết quả của giai đoạn thứ nhất trong văn cảnh của thời đại (những phong cách thống trị, những thị hiếu, những tiềm năng tư tưởng, môi trường văn học, những cuộc tranh luận,…)
Bên cạnh những công trình vừa nêu, người viết cũng hết sức quan tâm đến việc làm rõ những khái niệm, bình diện cơ bản của phương pháp nghiên cứu văn học sử thông qua một số bài nghiên cứu chuyên sâu. Ví dụ, nói về mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của văn học sử, trong bài viết Những giới hạn của lịch sử văn học của Trương Đăng Dung có nêu : “Lịch sử văn học không nhằm mục đích mô tả, hoàn toàn theo trật tự thời gian, các tác phẩm văn học nằm rải rác đây đó, mà chủ yếu là phát hiện ra những mối quan hệ, những tương đồng và khác biệt giữa các tác phẩm, đưa ra các sự kiện văn học biệt lập vào quá trình chung. Theo đó, chỉ có những tác phẩm văn học tồn tại nối tiếp nhau về mặt thời gian. Công việc của nhà nghiên cứu lịch sử văn học, bề ngoài cũng giống nhà sử học là phục chế lại quá khứ, gợi lại một thời đại đã qua bằng các cứ liệu lịch sử…” [7, tr.58-59]. ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Lâu nay, có người vẫn cho rằng nghiên cứu lịch sử văn học là một công việc nghiêm ngặt, bất biến và theo những nguyên tắc cố định. Nhưng thật ra, Viết sử văn học – một công việc luôn phải đổi mới, Nguyễn Văn Dân có viết : “Thực tế là so với lí luận văn học và phê bình văn học, lịch sử văn học đã đi đến chỗ có tầm hoạt động rộng lớn hơn ; nó có liên qua đến rất nhiều lĩnh vực, bao quát một không gian rộng lớn cả về chiều dọc lẫn chiều ngang và không thể bỏ qua các diễn biến của xã hội. Thậm chí trên một phương diện nhất định lịch sử văn học còn phải thâu tóm cả lý luận và phê bình văn học.” [65, tr.11].
Để bổ sung cho vấn đề vừa nêu trên, Trần Thanh Nam còn đưa ra Cách nhìn mới về những vấn đề văn học sử Việt Nam, nội dung có đoạn viết như sau : “Vào những năm gần đây trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đang diễn ra một sự đổi mới toàn diện, nhằm hiện đại hoá đất nước và nhanh chóng đưa nuớc ta theo kịp các nước phát triển trong khu vực và thế giới. Trong lĩnh vực nghiên cứu văn học nói chung và văn học sử nói riêng chúng ta đã mạnh dạn gạt bỏ những quan điểm lỗi thời, hẹp hòi và đưa ra những nhận định mới, những đánh giá mới phù hợp với xu thế mới của thời đại” như sự đổi mới về nhận thức phân kỳ văn học, đổi mới phương pháp nghiên cứu văn học cổ,…[42, tr.141].
Với tác giả Hoài Nam, khi bàn về vấn đề nghiên cứu văn học sử đã mạnh dạn nêu lên quan điểm mạnh mẽ của mình là cần phải Viết lại văn học sử Việt Nam. ”Đọc các công trình văn học sử Việt Nam đã có, dễ thấy việc nghiên cứu văn học được đóng khung chỉ ở bản thân văn học. Và đây là nguyên nhân chủ yếu đưa đến ấn tượng rằng công việc của người viết văn học sử chỉ khảo tả và bình tán về các trào lưu, khuynh hướng, tác giả, tác phẩm” [65, tr.15]. Rõ ràng, đây là một quan điểm tiến bộ trong nghiên cứu văn học sử. Kiến thức văn học sử được nghiên cứu phải được mở rộng ở nhiều phạm vi, lĩnh vực và đặt trong nhiều mối quan hệ…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu văn học sử bấy lâu nay đã phần nào thể hiện tính thời sự, cấp bách, cần thiết của vấn đề. Việc nghiên cứu văn học sử ở bất kỳ mọi thời đại cần phải xác định được mục đích, nhiệm vụ cũng như cần phải có một thái độ, quan điểm nghiên cứu đúng đắn, khoa học và một tư duy nghiên cứu đổi mới, nhạy bén để viết về lịch sử văn học…
- Về phương diện giảng dạy văn học sử có các công trình tiêu biểu sau :
Trước hết chúng tôi muốn nhắc đến cuốn Phương pháp dạy học văn của Giáo sư Phan Trọng Luận. Tác giả biên soạn khá công phu, rõ ràng, tỉ mỉ về các vấn đề liên quan đến tri thức văn học sử từ những đặc điểm, tác dụng đến những nguyên tắc, phương pháp và các kiểu bài. Đây là cuốn sách có thể xem như một cơ sở, phương pháp luận cho việc giảng dạy các kiến thức văn học sử ở trường trung học phổ thông. Ngay từ phần đầu (Vị trí môn văn học sử trong chương trình văn học ở trường phổ thông ), tác giả đã xác định : “Những tri thức về lịch sử văn học giúp cho học sinh hiểu quá trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc (…). Môn văn học sử cung cấp cho học sinh những hiểu biết về văn học theo quan điểm đồng đại và lịch đại. Chương trình văn học sử ở phổ thông trung học có nhiệm vụ nâng cao, hệ thống hoá kiến thức văn học sử ở phồ thông cơ sở lên một bước” [28, tr.210]. Ở chỗ khác (Phương pháp dạy văn học sử trên quan điểm hiện đại ) lại “chú ý đặc biệt đến chức năng của văn học trong nhà trường và yếu tố học phát triển như một cơ sở tâm lí học của việc dạy văn học sử (…). Yêu cầu cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học văn hiện nay là chuyển từ phương pháp thông tin tiếp thụ sang phương pháp học sáng tạo. Phương pháp mới phê phán lối dạy áp đặt, đưa kết luận có sẵn cho học sinh ở các bài giảng văn học sử” [28, tr.246]. Bên cạnh đó, tác giả còn nêu ra một số phương pháp giảng dạy văn học sử ở trường THPT như : Phương pháp diễn giảng, phương pháp đặt câu hỏi, phương pháp nghiên cứu, phương pháp trực quan, phương pháp sử dụng sách giáo khoa, phương pháp trần thuật và kể chuyện có nghệ thuât…Những vấn đề mà tác giả nêu ra rất hữu ích, cần thiết và chúng ta có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm, đặt biệt về phương pháp dạy học các kiểu bài văn học sử một cách khoa học, hiệu quả. Tuy vậy, giáo sư vẫn có lời nhận xét thêm rằng : “Cho đến nay trên các tư liệu về khoa học phương pháp dạy văn, chưa có một định nghĩa sự phân loại về phương pháp dạy lịch sử văn học” hay như : “Việc phân loại các kiểu bài văn học sử đến nay vẫn chưa thật sự xác định. Bản thân sự sắp xếp trật tự kiểu bài của chương trình sách giáo khoa trong nhiều năm qua luôn luôn có sự thay đổi” [28, tr.252]… ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Dưới góc độ và phạm vi nghiên cứu của đề tài, cuốn Giáo trình phương pháp giảng dạy văn học xuất bản cách đây hơn 30 năm chỉ nói đến “Vấn đề diễn giải trong một bài văn học sử”, “Vấn đề sử dụng sách giáo khoa”, “Cách ghi bảng và hướng dẫn học sinh ghi chép”.
Rõ ràng, kiến thức văn học sử còn nhiều vấn đề để chúng ta khai thác. Không chỉ ở việc nghiên cứu, giảng dạy hay phân loại mà thực tế lâu nay việc khai thác, vận dụng chúng trong quá trình đọc hiểu văn bản nhìn chung chưa có phương pháp dạy học cụ thể, cho dù công việc nghiên cứu về nó lại có khá nhiều công trình được đề cập. Từ đây có một vấn đề đặt ra là công việc nghiên cứu và giảng dạy văn học sử chưa thật sự thống nhất đồng bộ và chưa có sự liên hệ gắn kết…Liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình, đồng thời đề xác định hướng đi đúng trong cách viết và hy vọng góp phần làm sáng tỏ quan điểm, cũng như phương pháp giảng dạy, người viết khác có liê quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề. Chẳng hạn :
Trong bài viết Phương pháp nghiên cứu tiểu sử nhà văn trong giảng dạy văn học nước ngoài của TS. Trần Thanh Bình có nêu rằng : “Mặc dù tiểu sử nhà văn chưa phải là một đối tượng nghiên cứu độc lập nhưng không vì thế mà chúng ta có thể bỏ qua hay xem nhẹ vấn đề” [2, tr. 404]. Ở đây tác giả đã nêu lên những đặc điểm cơ bản nhất của phương pháp nghiên cứu tiểu sử nhà văn trong chương trình giảng dạy văn học nước ngoài ở trường phổ thông như giới thiệu khái quát những đặc điểm cơ bản của thời đại, lựa chọn tư liệu tiểu sử để xây dựng bài giảng.,… “Tiểu sử nhà văn không được trình bày thành một phần độc lập mà được hoà vào quá trình phân tích tác phẩm ; và đến lượt mình, tác phẩm không chỉ được khảo sát như một thành tựu nghệ thuật mà còn được xem xét như một sự kiện trong tiểu sử nhà văn” [2, tr. 415].
Bài viết của Nguyễn Phương Mai (Tạp chí Khoa học Giáo dục số 28, 2008) khi nhìn nhận về vấn đề Giảng dạy tác gia văn học ở trường THPT đã phân biệt giữa tác gia văn học và tác giả văn học, đồng thời đưa ra những kiến thức cơ bản cần cung cấp cho học sinh khi dạy bài tác gia văn học ở trường phổ thông và phương pháp thực hiện bài dạy tác gia văn học (phương pháp dạy học tích hợp và phương pháp dạy học tích cực)…Hai phương pháp dạy học này đang được phổ biến ở một số trường trung học phổ thông hiện nay, không chỉ áp dụng cho kiến thức văn học sử mà cho cả những kiến thức khác (lí luận văn học, văn học nước ngoài, tiếng Việt,…). ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Ngoài ra trong một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài tiêu biểu như : giáo trình Phương pháp luận dạy văn học, Z. Ia Rez (chủ biên), Phương pháp giảng dạy ở trường phổ thông của V. A. Nhicônxki cũng có nhiều ý kiến đáng chú ý liên quan đến phương pháp giảng dạy văn học sử. Đây là những tài liệu dịch nhưng lại có một vị trí hết sức quan trọng trong lịch sử xây dựng và phát triển phương pháp dạy học văn.
Giáo trình của Z. Ia Rez hướng dẫn các biện pháp để dạy “Phần mở đầu của việc đọc tác phẩm” hoặc để dạy “Tiểu sử nhà văn”… Rez cho rằng : “Một trong những nhiệm vụ của việc nghiên cứu tiểu sử nhà văn trong nhà trường là chỉ ra cho được người nghệ sĩ đã đưa vào tác phẩm của mình những ấn tượng nào về cuộc sống và nghệ thuật và đưa chúng vào như thế nào” [51, tr.171-172]. “Nghiên cứu tiểu sử nhà văn phải gây cho học sinh mối quan tâm đến nhân cách của nhà văn, đến những tìm tòi về mặt tư tưởng được phản ánh trong sáng tác. Tiểu sử và quá trình sáng tác của nhà văn chính là chìa khoá để giải quyết những vấn đề phức tạp của việc phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường” [51, tr.175]. Bên cạnh đó, ông còn nêu ra các hình thức có ý nghĩa phương pháp trong vịêc nghiên cứu tiểu sử nhà văn (giáo viên phải thường xuyên đặt các em trước một nhiệm vụ nào đó cần giải quyết, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc vói nhà văn, tự mình tranh luận và nói chuyện với ông ta,…)
Trong khi đó, cuốn Phương pháp giảng dạy ở trường phổ thông của
- A. Nhicônxki nhắc đến các nguyên tắc và phương pháp giảng văn chương và giảng dạy lịch sử văn học, tác giả đề cập riêng một số biện pháp để dạy các đề tài tổng quát (tương tự như dạy giai đoạn văn học sử)…
Tuy nhiên, vấn đề khai thác các kiến thức văn học sử ứng dụng vào phần đọc – hiểu văn bản cụ thể trong từng khối lớp dường như chưa được nhiều công trình nghiên cứu khoa học cũng như các khóa luận, luận văn tốt nghiệp và các bài báo đề cập, hoặc có đề cập thì cũng chỉ mang nội dung khái quát, đa phần nghiêng về mặt lí thuyết và có tính luận đề. Nhìn chung, nó thường làm cơ sở, nền tảng cho người giảng dạy tham khảo, nghiên cứu để góp phần mở rộng nội dung bài giảng của mình.
Từ những vấn đề vừa nêu ở phần trên, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu về kiến thức văn học sử mặc dù đã chú ý cách đây rất lâu nhưng về mặt phương pháp giảng dạy chúng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là việc vận dụng khai thác các yếu tố văn học sử trong quá trình đọc – hiểu văn bản rất hiếm được chú ý.
Qua thực tế nghiên cứu và giảng dạy, chúng tôi hy vọng những công trình nghiên cứu, giảng dạy văn học sử về sau sẽ ngày càng nhiều và luôn luôn được đổi mới cập nhật, luôn luôn có sự gắn kết trong mối liên hệ biện chứng, bổ sung cho nhau. Nghĩa là giữa việc nghiên cứu và giảng dạy văn học sử nói riêng, kiến thức văn học nói chung cần phải đảm bảo tính liên kết, khoa học và hệ thống.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
– Nghiên cứu các kiến thức văn học sử trong quá trình đọc hiểu văn bản, chú ý khai thác các kiến thức văn học sử để phục vụ, minh họa các nhận định, quan điểm, thuật ngữ, khái niệm, đặc điểm,… trong các bài học khái quát. Đồng thời, làm sáng tỏ, khắc sâu nội dung kiến thức của những văn bản được học.
- Góp phần tìm hiểu tác phẩm trong dòng chảy của lịch sử văn học dân tộc, qua đó, cảm thấy tự hào hơn về lịch sử văn học nước nhà.
- Thấy được tác dụng và hiệu quả của phương pháp khai thác các kiến thức văn học sử trong quá trình đọc hiểu các dạng văn bản hiện
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : SGK Ngữ văn 11; SGV Ngữ văn 11 và các tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài…
– Nghiên cứu những kiến thức văn học sử trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành.
– Nghiên cứu tình hình và đề xuất giải pháp cải tiến, đổi mới phương pháp khai thác các yếu tố văn học sử trong đọc – hiểu văn bản cụ thể ở trường THPT…
5. Phương pháp nghiên cứu
– Phương pháp phân tích, tổng hợp : được sử dụng để nghiên cứu lịch sử vấn đề và phát hiện rút ra những kết luận cần thiết về cơ sở lí luận thông qua việc tìm hiểu các tư liệu, giáo trình, tạp chí, các bài nghiên cứu thuộc các lĩnh vực Lí luận văn học, Tâm lí học, Giáo dục học, Phương pháp dạy học văn,…có liên quan trực tiếp đến phạm vi đề tài.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu : được sử dụng trong quá trình triển khai nội dung đề tài ; dùng để so sánh, đối chiếu các sự vật – hiện tượng một cách khách quan, đạt hiệu quả.
- Phương pháp điều tra, khảo sát : được sử dụng để thu thập những tư liệu thực tế về tình hình dạy học văn đang diễn ra ở trường THPT Dân Lập An Đông và một số trường THPT khác trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
- Phương pháp thống kê : được sử dụng để xử lí các số liệu thu thập trong quá trình khảo sát, bổ sung cho phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm đạt tới những kết luận chính xác, khách
- Phương pháp thực nghiệm : dùng thực nghiệm các giáo án đề xuất để kiểm nghiệm khả năng ứng dụng của đề tài vào quá trình dạy học đọc hiểu văn bản văn học.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Thấy được tầm quan trọng của việc khai thác các kiến thức văn học sử trong quá trình dạy đọc hiểu văn bản cụ thể.
Một số đề xuất có tính định hướng đổi mới trong phương pháp khai thác kiến thức văn học sử khi dạy đọc – hiểu văn bản.
Xây dựng thử nghiệm một số mô hình cho phép khai thác các yếu tố văn học sử một cách hiệu quả nhất
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần chính văn của Luận văn gồm 104 trang, chia làm ba chương.
- Chương thứ nhất : Kiến thức văn học sử trong chương trình Ngữ văn THPT
Nội dung chương một chủ yếu giới thiệu những vấn đề chung về kiến
thức văn học sử trong chương trình Ngữ văn THPT. Đó là những kiến thức khái quát về vị trí, vai trò, đặc điểm, cấu tạo của kiến thức văn học sử cũng như các nguyên tắc dạy học văn học sử trong chương trình Ngữ văn THPT. Bên cạnh đó, người viết còn nêu ra hệ thống kiến thức văn học sử cơ bản trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành.
Nhìn chung, nội dung chương một chỉ là những vấn đề mang tính chất lí thuyết nhưng là cơ sở lí luận để chúng tôi vận dụng triển khai trong chương hai một cách rõ ràng, cụ thể hơn…
- Chương thứ hai : Phương pháp khai thác các kiến thức văn học sử trong chương trình Ngữ văn THPT
Nội dung chương hai được xác định là phần cơ bản, trọng tâm nhất của luận văn, chủ yếu đi sâu vào cách thức khai thác, vận dụng kiến thức văn học sử như thế nào trong quá trình đọc – hiểu các văn bản cụ thể thật hiệu quả. Bên cạnh cách thức khai thác, người viết còn nhận xét tình hình giảng dạy văn học sử nói chung ở trường THPT bấy lâu nay – có khá nhiều vấn đề để chúng ta nhìn nhận lại một cách khách quan và thực tế hơn.
Thực chất, nội chung chương hai sẽ minh hoạ cho những lí thuyết, những quan điểm lí luận mà chương một đã đề cập.
- Chương thứ ba : Thực nghiệm sư phạm ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Là chương mang tính chất kiểm nghiệm, đánh giá tính khả thi của đề tài. Trong chương ba có đưa ra một mô hình giáo án mẫu thuộc văn bản thơ trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 2 cho phép khai thác các yếu tố văn học sử một cách hiệu quả nhất. Tuy nhiên đây chỉ là một mô hình thử nghiệm, tuỳ vào mỗi thể loại văn bản ở từng khối lớp mà chúng ta sẽ định hướng, tổ chức cho học sinh khai thác những kiến thức văn học sử khác nhau. Không nhất thiết phải tuân theo những công thức cố định, sẵn có mà đòi hỏi phải biết phối hợp giữa tất cả các kiến thức có trong văn bản…
Có thể bạn quan tâm:
CHƯƠNG 1 – KIẾN THỨC VĂN HỌC SỬ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT
1.1. Những vấn đề chung
1.1.1. Vị trí, vai trò của kiến thức văn học sử trong chương trình Ngữ văn THPT
Kiến thức văn học sử trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn THPT hết sức phong phú, đa dạng, có khả năng cung cấp cho học sinh một vốn hiểu biết về lịch sử phát triển văn học dân tộc, bao gồm những tác giả, tác phẩm tiêu biểu cho từng thời kỳ, giai đoạn phát triển của nền văn học dân tộc cùng với các đề tài, thể loại, ngôn ngữ, quan điểm sáng tác,…
Trong chương trình, học sinh chỉ được học trực tiếp một số tác giả tiêu biểu, chọn lọc. Nhưng qua sự hướng dẫn của giáo viên, qua bài giảng, sách vở, giáo trình, các em sẽ làm quen với hàng trăm tên tuổi nhà văn, nhà thơ nổi tiếng trong và ngoài nước. Vốn tri thức văn học này là hành trang cơ bản, tối thiểu cần thiết cho đời sống văn hoá một công dân.
Từ những sự kiện, hiện tượng văn học sử cụ thể trong từng thời kỳ giai đoạn khác nhau, học sinh sẽ ý thức được sự phát triển không ngừng vươn lên của nền văn học dân tộc, sự phát triển của ngôn ngữ tiếng Việt và sự giàu đẹp của nền văn hoá giàu truyền thống yêu nước, tinh thần nhân văn cao cả trong mấy ngàn năm lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Cũng qua các kiến thức văn học sử được học ở trường, học sinh sẽ cảm nhận và ý thức được những đóng góp quý giá của dân tộc vào kho tàng văn học chung của nhân loại. Các em sẽ cảm thấy tự hào hơn về nền văn học nước nhà với bản sắc hết sức đặc trưng, riêng biệt của nó. Đó là kết quả của quá trình đấu tranh, phát triển và tiếp thu có chọn lọc mọi thành tựu của nền văn hoá nhân loại.
Bên cạnh đó, văn học sử còn góp phần bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho học sinh. Văn học là một dòng chảy không ngừng, là tấm gương phản chiếu đời sống muôn màu muôn vẻ. Nó là sự kết tinh, kế thừa những giá trị tinh thần quý báu có từ ngàn đời. Chính vì vậy, giờ dạy văn không thể là những giờ dạy khô khan, nhàm chán, mà là những giờ học giúp các em cảm thấy yêu hơn tiếng mẹ đẻ, tự hào hơn về những truyền thống dựng nước, giữ nước của ông cha để tiếp bước làm giàu thêm di sản văn hoá dân tộc, đưa xã hội tiến lên và hướng tới hội nhập quốc tế.
Văn học nâng cao phẩm giá dân tộc và phẩm giá con người. Muốn biết dân tộc đó phát triển, trưởng thành như thế nào, ta không chỉ dựa vào nền kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội để đánh giá mà phải dựa vào những giá trị tinh thần vô giá có được của dân tộc đó.
Trong dòng chảy của lịch sử văn học Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo như hai truyền thống gắn chặt với nhau, đã trở thành tư tưởng – nghệ thuật bao trùm. Dạy văn học sử Việt Nam ở trường phổ thông không thể không đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giáo dục. Chúng ta phải ý thức thường xuyên cho học sinh lòng yêu nước và lòng nhân ái – hai nét cốt lõi và gắn chặt với nhau của tâm hồn, tình cảm Việt Nam. ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Kiến thức văn học sử ở trường phổ thông còn có khả năng rèn luyện tư duy logic và tư duy hình tượng cho học sinh. Tư duy logic và tư duy hình tượng rất cần thiết cho việc tiếp nhận tri thức văn chương, đặc biệt đối với tri thức văn học sử nói riêng. Trong các tiết học của từng kiểu bài văn học sử, học sinh sẽ được rèn luyện các kỹ năng như : phân tích, tổng hợp, cụ thể hoá, khái quát hoá, ghi nhớ, suy luận, đối chiếu, so sánh, hệ thống hoá, trích dẫn, minh hoạ,… để từ đó, vận dụng vào quá trình đọc – hiểu các dạng văn bản. Ngoài ra, giờ học lịch sử văn chương trong nhà trường còn hình thành ở học sinh thói quen tự nghiên cứu và “làm việc với sách giáo khoa” như : xác định các luận điểm chính của bài học, hệ thống hoá các luận cứ, luận chứng, các thuật ngữ, phạm trù, định nghĩa, khái niệm cơ bản của bài học, nhận biết mối liên hệ trước sau và tầm quan trọng của bài học.
Hầu như các kỹ năng trên hiện rất ít giáo viên quan tâm khi dạy các kiểu bài văn học sử. Chúng ta phải tập cho các em tìm hiểu các sự kiện của thời đại, phân loại các sự kiện đó, để mà rút ra các nhận định về thời đại làm cơ sở cho việc phân tích văn học. Ngược lại, yêu cầu các em dẫn chứng về mặt nhận định văn học sử là tập cho các em kỹ năng cụ thể hoá. Từ các chi tiết được phân tích về mặt tác phẩm, ta cũng có thể dùng phần khái quát hoá làm nhận định chung về tác phẩm cho học sinh…Ví dụ :
- Vì sao văn học trung đại từ thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX xuất hiện trào lưu nhân đạo chủ nghĩa? Hãy chỉ ra những biểu hiện phong phú, đa dạng của nội dung nhân đạo trong giai đoạn này?
- Vì sao văn học hiện đại từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 lại diễn ra quá trình hiện đại hóa? và xuất hiện nhiều trào lưu, xu hướng văn học (lãng mạn, hiện thực)?
Ngoài ra, kiến thức văn học sử trong chương trình góp phần giúp học sinh hình thành quan điểm và phương pháp phân tích, đánh giá các hiện tượng văn học một cách khoa học
Bất kỳ một vấn đề nào, khi đánh giá, phân tích phải đặt chúng trong mối quan hệ biện chứng của nó. Để đánh giá một thời kỳ, giai đoạn văn học nhất thiết phải đặt nó trong hoàn cảnh, môi trường đã sản sinh ra nó. Chẳng hạn, khi nói về tác giả, không chỉ nói đến cuộc đời, sự nghiệp, quan điểm một cách chung chung mà điều quan trọng hơn là phải biết phân tích chúng như một tổng thể về đề tài, chủ đề, thi pháp, ngôn ngữ, phong cách,… và tác dụng của nó đối với xã hội đương thời như thế nào, có ý nghĩa giáo dục ra sao? Cần phân tích sao cho nhà văn ấy thật sự nổi bật, tiêu biểu về cá tính, phong cách, sự nghiệp sáng tạo trong giai đoạn mà các em sẽ tìm hiểu. ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Cũng như khi phân tích tác phẩm, đòi hỏi trước hết là tìm hiểu nguồn gốc, mục đích, quan điểm, hoàn cảnh sáng tác. Sau đó mới đi vào việc phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Cuối cùng là đánh giá tác dụng của nó đối với xã hội đương thời và hiện nay như thế nào.
Phân tích, đánh giá các hiện tượng văn học sử đòi hỏi không chỉ có cái nhìn lịch đại, mà cần có cái nhìn đồng đại, gắn liền lịch sử văn chương dân tộc với lịch sử văn chương thế giới, làm cho học sinh nâng cao tầm hiểu biết của mình.
Nhìn chung, kiến thức văn học sử trong chương trình THPT có vị trí và vai trò hết sức quan trọng. Các kiến thức văn học đó không chỉ gói gọn dăm ba câu chữ trong sách hay vài dòng, vài trang mà chúng là những kiến thức mang tính hệ thống, xuyên suốt cả một quá trình lịch sử lâu dài, không ngừng kế thừa, phát huy và chọn lọc. Chính vì vậy, người giáo viên đứng lớp phải luôn trao dồi, cập nhật đầy đủ những kiến thức văn học sử để kịp thời đưa đến những thông tin cần thiết, bổ ích cho học sinh.
1.1.2. Đặc điểm của kiến thức văn học sử trong chương trình Ngữ văn THPT
Kiến thức văn học sử trong chương trình Ngữ văn THPT là những kiến thức có tính giao thoa giữa khoa học và nghệ thuật, có quan hệ tương tác ở nhiều bình diện và là những kiến thức bao hàm, nhiều cấp độ, vận động trong dòng chảy tiến bộ của văn học.
Khái niệm giao thoa được hiểu là trong kiến thức khoa học có yếu tố nghệ thuật, trong tư duy lí luận có tư duy nghệ thuật, trong cảm nhận lí tính có cảm tính. Các yếu tố này có tác dụng hỗ trợ, bổ sung cho nhau để tạo nên hiệu quả thẩm mĩ khi tiếp nhận.
Nói đến tri thức mang tính khoa học là nói đến hệ thống các định nghĩa, khái niệm, nhận định văn học sử về giai đoạn, thời kỳ, thể loại, tác gia, tác phẩm, có khi bao gồm cả tri thức lịch sử, địa lý, văn hoá, xã hội, nghệ thuật,…Bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 – SGK Ngữ văn 11, tập 1 đã đưa ra hàng loạt các khái niệm, thuật ngữ mà giai đoạn văn học trước chưa từng xuất hiện như hiện đại hoá văn học, cách mạng hóa văn học, văn học giao thời, văn học công khai, văn học không công khai, văn học lãng mạn, văn học hiện thực, phong trào Thơ mới, … ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Chính những thuật ngữ vừa nêu đã thể hiện tính văn học sử rất rõ, bởi nó chỉ có thể xuất hiện ở giai đoạn này mà không thể xuất hiện ở những giai đoạn khác. Ví như khái niệm hiện đại hoá chỉ có thể xuất hiện trong giai đoạn đầu thế kỷ XX đến 1945 là do bối cảnh lịch sử. Từ đầu thế kỷ XX, văn hoá Việt Nam dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa phong kiến Trung Hoa, bắt đầu mở rộng tiếp xúc với văn hoá phương Tây mà chủ yếu là văn hoá Pháp. Luồng văn hoá mới thông qua tầng lớp trí thức Tây học ngày càng thấm sâu vào ý thức và tâm hồn người cầm bút cũng như người đọc sách. Đến đầu thế kỷ XX, chữ quốc ngữ đã thay thế chữ Hán, chữ Nôm trong nhiều lĩnh vực tạo điều kiện thuận lợi cho dân chúng tiếp xúc,…Những nhân tố vừa nêu đã tạo điều kiện cho nền văn học Việt Nam đổi mới, phát triển theo hướng hiện đại hoá và có thể hội nhập với nền văn học hiện đại thế giới…
Nói đến tri thức mang tính nghệ thuật là nói đến nghệ thuật minh họa cho văn học sử bằng tác phẩm. Chẳng hạn, để nói về “cái tôi” cá nhân trong giai đoạn văn học 1930 – 1945, chương trình SGK Ngữ văn 11, tập 2 dẫn ra một số tác phẩm thuộc thể loại thơ tiêu biểu như : Hầu Trời (Tản Đà), Vội vàng (Xuân Diệu), Tràng giang (Huy Cận), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử),…“Cái tôi” cá nhân thời kỳ này thức tỉnh, trỗi dậy mạnh mẽ ở bộ phận thanh niên trí thức sau hàng trăm năm bị kìm hãm. Chính “cái tôi” cá nhâ này là một trong những động lực tạo nên sự phát triển với một tốc độ hết sức nhanh chóng và những thành tựu rực rỡ của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX theo hướng hiện đại hoá…
Dạy văn học sử không chỉ suy lí mà đòi hỏi có cả sự cảm thụ nghệ thuật một cách toàn diện, phải toát lên được cái “hồn” của tác phẩm, phải tạo sự rung động ở học sinh. Có như vậy mới đảm bảo tính đặc trưng của môn học thiên về nghệ thuật hơn các môn khoa học xã hội khác.
Khái niệm tính hệ thống đa chiều của kiến thức văn học sử được thể hiện ở mối quan hệ tương tác nhiều bình diện. ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Ở phương diện lịch đại, chú ý sự phát triển theo thời gian của các sự vật, hiện tượng, chú ý đến động lực vận động của quá trình, các niên đại của hiện tượng, tính chất biên niên của sự phát triển, tính kế thừa và cách tân của lịch sử văn học.
Ở phương diện đồng đại, đó là mối quan hệ với các hiện tượng kinh tế, văn hoá, xã hội trong cùng thời gian và cả với các hiện tượng văn học sử của các nước khác cũng trong cùng thời gian đó. Ngoài ra, đó còn là mối quan hệ tương quan của các hiện tượng văn học khác nhau trong cùng thời điểm, kể cả hiện tượng ý thức xã hội. Xã hội chi phối văn học và văn học có tác động trở lại đối với xã hội. Tuy nhiên, không phải xã hội nào thì có nền văn học ấy, nghĩa là có sự phát triển không tương xứng. Chẳng hạn xã hội Việt Nam trong giai đoạn thế kỷ XVIII, XIX với chế độ phong kiến suy tàn, thối nát, kinh tế trì trệ nhưng văn học thời kỳ này lại phát triển vượt bật với sự xuất hiện nhiều gương mặt nhà văn, nhà thơ nổi tiếng : Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu,…Có thể xem, giai đoạn văn học thế kỷ này là một giai đoạn văn học phát triển “hoàng kim” trong dòng chảy tiến bộ chung của nền văn học trung đại – kéo dài ngót mười thế kỷ.
Về phương diện đồng đại, ngoài mối quan hệ với các tác gia, tác giả, và mối quan hệ giữa các tác phẩm văn học cùng thời, còn có mối quan hệ giữa tác phẩm văn học trong nước với các tác phẩm văn học nước ngoài. Vì thế, khi học sử thi Vệt Nam ta cần so sánh, đối chiếu với sử thi Ấn Độ. Dạy thần thoại Việt Nam cũng cần so sánh với thần thoại Hy Lạp,…
Bên cạnh tính giao thoa, tính hệ thống đa chiều, kiến thức văn học sử còn thể hiện tính bao hàm (tích hợp) và cấp độ. Tri thức văn học sử ở trường phổ thông nhìn chung, có 3 cấp độ : Khái quát các giai đoạn 🠪 các tác gia tiêu biểu
🠪 các tác phẩm tiêu biểu.
Chương trình trước đây, mối quan hệ giữa kiến thức khái quát và cụ thể phần lớn được xây dựng thành mô hình 1 với nhiều cấp độ : cấp độ khái quát toàn bộ – cấp độ khái quát thời kỳ – cấp độ khái quát thể loại (hoặc xu hướng, giai đoạn, chặng đường nhỏ) – cấp độ khái quát tác giả – cấp độ khái quát tác phẩm – cấp độ đoạn trích. ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Đối với chương trình Ngữ văn được cải cách, kiến thức khái quát và cụ thể được rút ngắn thành mô hình 2 : khái quát giai đoạn – khái quát tác giả – khái quát tác phẩm. Ví dụ: Giai đoạn văn học XX – 1945 – tác giả Nam Cao – tác phẩm Chí Phèo,…
Phổ biến nhất là mô hình 3 : khái quát giai đoạn – các tác phẩm (đoạn trích). Ví dụ: Giai đoạn văn học XX – 1945 với một số tác phẩm tiêu biểu : Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù, Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ), Chí Phèo,…
Rõ ràng, mô hình trong chương trình trước đây mặc dù cụ thể, chi tiết nhưng do nhiều cấp độ khá phức tạp, học sinh khó hình dung, khó nắm bắt các vấn đề. Có lẽ, mô hình 2, 3 hợp lí hơn khi giảm đi những cấp độ không cần thiết.
“Nghiên cứu tính sư phạm của kiến thức văn học sử về mặt cấp độ, ta còn thấy văn học sử ở cấp độ trung học cơ sở khác với cấp độ trung học phổ thông. Ở cấp độ trung học cơ sở, đó là đi từ cụ thể đến khái quát thấp. Ở cấp độ trung học phổ thông, khái quát thấp được nâng lên khái quát cao rồi lại đi đến cụ thể” [32, tr.20].
Đối với các lớp phổ thông cơ sở, do chương trình giảng dạy chưa đặt ra các yêu cầu về những kiến thức lịch sử, lí luận văn học, cũng như chưa đòi hỏi học sinh phải phân tích, vận dụng các kiến thức ấy vào quá trình đọc hiểu một cách đầy đủ và phức tạp nên mức độ nghiên cứu ở mức khái quát thấp. Còn đối với các lớp, nhất là các lớp cuối cấp phổ thông trung học, do yêu cầu đặt ra là : học sinh phải được trang bị những kiến thức cơ bản về lí luận và lịch sử văn học, phải có những hiểu biết nhất định về tác giả, tác phẩm, thể loại, thời kỳ văn học, phải hình thành được thế giới quan, nhân sinh quan và xác định được vị trí của mình trong xã hội,…vấn đề nghiên cứu, vận dụng những kiến thức văn học sử sẽ mang cấp độ khái quát cao, chứa đựng dung lượng lớn hơn và mang tính chất hoàn chỉnh hơn.
Kiến thức văn học sử còn là kiến thức mang tính tích hợp. Bởi lẽ, thông qua đó, chúng ta có thể kết hợp dạy lí luận văn học. “Văn học sử là trữ liệu cho những khái quát lí luận văn học. Còn những khái niệm lí luận văn học là những kiến thức văn học sử đã đựơc nâng lên tầm khái quát hoá cao hơn, lí luận văn học trở lại định hướng cho văn học sử” [28, tr.222]. Tính chất này đòi hỏi từng bài dạy văn học sử phải hướng đến những khái quát nhỏ về lí luận văn học được phân phối trong từng bài trên cơ sở các mục tiêu lí luận văn học đã quy định trong chương trình. Trong chương trình đổi mới lần này, các kiến thức lí luận văn học được hình thành rải rác qua từng văn bản cụ thể. Trước đó, kiến thức này được khái quát cao hơn qua các giờ lí luận văn học dành riêng được phân phối ở cuối năm học. ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Những thuật ngữ, khái niệm văn học như : bi kịch, thể loại, ngôn ngữ, đề tài,…đứng ở một góc độ nào đó là thuộc lĩnh vực lí luận nhưng xét trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học thì chúng lại thể hiện tính văn học sử rất rõ nét. Có những thể loại từng xuất hiện trong giai đoạn văn học trung đại : hịch,cáo, chiếu, biểu,…nhưng đến giai đoạn văn học hiện đại hầu như không được vận dụng và đến nay không còn nữa mà thay vào đó là những thể loại khác. Cùng là nội dung kêu gọi kháng chiến cứu quốc n nhưng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh sẽ khác với lời kêu gọi trong Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn. Cùng là thể kí nhưng Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác khác với Kí sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng, Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ khác với tuỳ bút của Nguyễn Tuân…
Lí luận vừa là công cụ giúp cho giáo viên phân tích văn học sử, vừa là mục đích cần đạt của bài dạy văn học sử. Lí luận văn học được vận dụng đồng thời cũng là đích khái quát về mặt lí luận văn học của bài văn học sử. Không nắm vững tác phẩm ở mức độ chỉnh thể hoặc ở mức độ phân tích thì không thể khắc sâu các nhận định văn học sử. Đồng thời, các kết luận văn học sử thường là các chủ đề làm văn nghị luận văn học. Trong quá trình đó, các em sẽ được rèn luyện cách dùng từ, đặt câu, dựng đoạn,…
Tính chất tích hợp của văn học sử còn thể hiện thông qua mối quan hệ mật thiết với tiếng Việt. Quan hệ mật thiết giữa môn văn học và môn tiếng Việt cần được thể hiện trong việc giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh THPT. Quan hệ giữa văn học sử và tiếng Việt là quan hệ hỗ trợ, bổ sung : khi tìm hiểu phân tích một tác phẩm sự đóng góp của một xu hướng, bộ phận văn học không thể không nói đến sự đóng góp của nó vào sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc, sự ra đời và phát triển của các đề tài và loại thể. Chẳng hạn, xu hướng văn học lãng mạn giai đoạn 30 – 45 thường tìm đến các đề tài về tình yêu, về thiên nhiên và quá khứ, thể hiện khát vọng vượt lên trên cuộc sống hiện tại chật chội tù túng, dung tục, tầm thường, chú trọng diễn tả những cảm xúc mạnh mẽ, những tương phản gay gắt trong tâm hồn con người,…
Tính chất tích hợp giúp cho việc dạy học văn học sử có ý nghĩa quan trọng trong việc dạy học văn nói chung. Dạy văn học sử quán triệt tính tích hợp đòi hỏi sự nghiên cứu công phu, sáng tạo nội dung và phương pháp dạy học.
Giới văn học sử Trung Quốc cũng đều thống nhất nêu cao khẩu hiệu “sử luận kết hợp”. Theo giáo sư Phương Lựu, cụ thể là “Dĩ luận đái sử” (lấy lí luận để dẫn dắt lịch sử), “Luận tòng sử xuất” ( lí luận toát ra từ lịch sử) ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Ngoài ra kiến thức văn học sử trong chương trình còn thể hiện tính liên cấp. Văn học sử ở cấp THPT với văn học sử ở cấp THCS là mối quan hệ vừa đồng tâm vừa đường thẳng. Quan hệ đồng tâm là tiếp tục khẳng định lại giá trị các tri thức cơ bản về văn học sử ở cấp cơ sở vừa nâng cao mở rộng và hệ thống hoá lại, nâng cao về tính khái quát, mở rộng về diện hiểu biết,…Quan hệ đường thẳng là nó cần phải cung cấp thêm các tri thức cơ bản mới, nằm trong các cấu trúc mới mà học sinh cấp THCS chưa được học.
Ví dụ : Ở cấp THCS, sau khi học xong về văn học dân gian, học sinh đã biết các đặc điểm của văn học dân gian (tính truyền miệng, tính diễn xướng, tính dị bản) và một số thể loại (ca dao, tục ngữ, thần thoại, truyền thuyết,…). Sang cấp THPT – cụ thể lớp 10, nhiệm vụ dạy văn học sử ở bài này phải là :
- Khẳng định lại bản chất xã hội và các đặc trưng của văn học dân gian, thể loại.
- Mở rộng sự hiểu biết về văn học dân gian của các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam
- Nâng cao tính khái quát về đặc trưng : Văn học dân gian còn là loại văn học nghệ thuật tổng hợp, đồng thời còn là loại nghệ thuật ngôn từ, là những sáng tác tập thể của nhân dân,…
– Hệ thống hoá kiến thức : Đặc trưng kết cấu, thể loại, vai trò và giá trị trong nền văn học, kỹ năng và cách tiếp cận một tác phẩm văn học dân gian,…
Nhìn chung đặc điểm chương trình văn học sử ở THPT khá đa dạng. Có ý thức được đặc điểm của chương trình, giáo viên mới có kế hoạch chủ động trong từng tiết học…
1.1.3. Mục tiêu, nội dung của kiến thức văn học sử trong chương trình Ngữ văn THPT ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Bộ SGK Ngữ văn THPT hiện hành được “xây dựng như một chỉnh thể văn hoá mở trong nhiều quan hệ…” [34, tr.4]. Theo tinh thần đổi mới của chương trình giáo dục phổ thông “hệ thống tri thức văn học được cấu trúc một cách hợp lí trên các phương diện lịch sử và loại thể. Trình tự lịch sử văn học dân tộc vẫn được chú ý trong sự đối sánh với văn học nước ngoài. Song tiêu chí loại thể được chú trọng hơn so với chương trình cũ” [34, tr.4]. Tiếp tục quan tâm đến sự phát triển của loại thể, SGV Ngữ văn 11 có bổ sung thêm: “…Khi tiếp cận các văn bản văn học, chúng ta tiếp tục quan tâm đến sự phát triển của loại thể. Nhưng không nên chỉ chú trong loại thể mà coi nhẹ phát triển về lịch sử. Ở THPT cần cung cấp cho học sinh những tri thức khái quát và hệ thống về văn học. Kiến thức có tính lịch sử rất cần thiết cho sự hình thành thói quen và khả năng tư duy tổng hợp ở học sinh. Mỗi văn bản được nhìn từ góc độ loại thể lại cần được đặt vào hệ thống lịch sử…” [35, tr.4].
Rõ ràng, cấu trúc chương trình cải cách lần này có sự thay đổi, lịch sử văn học không còn là cơ sở độc tôn. Vì vậy chúng ta cần phải khai thác các kiến thức văn học sử một cách hệ thống, khoa học, cụ thể trong quá trình đọc hiểu văn bản để bù đắp cho sự không độc tôn đó. Những kiến thức trong bài khái quát về thời kỳ, giai đoạn, tác gia, tác phẩm là tiền đề tạo cơ sở cho việc đọc hiểu các văn bản. Ngược lại, khi đọc hiểu các văn bản trên tinh thần khắc sâu các kiến thức văn học sử sẽ góp phần làm sáng tỏ các nhận định, luận điểm…
Mặc dù, chương trình cải cách lần này không xem nhẹ tri thức văn học sử, nhưng so với chương trình cải cách lần trước (Văn học chỉnh lí hợp nhất 2000) thì nó có phần “giảm tải” hơn. “Chương trình Ngữ văn THPT hướng chủ yếu vào đọc văn chứ không phải văn học sử, tri thức văn học sử chủ yếu chỉ giúp cho đọc văn có căn cứ về ngữ cảnh lịch sử” [34, tr.9].
- Kiến thức khái quát và kiến thức cụ thể trong chương trình văn học sử THPT :
Số tiết khái quát về thời kỳ, giai đoạn văn học, về tác giả, tác phẩm so với chương trình trước giảm đi đáng kể. Cụ thể, lớp 11 chỉ còn 2 tác gia : Nam Cao, Nguyễn Đình Chiểu (bớt đi Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu)…Tuy nhiên, phần tri thức về các tác gia có phần cô đọng, ngắn gọn hơn – hầu như không có bài học riêng về tác gia mà chúng là một phần của tác phẩm. Ví dụ học tác gia Nam Cao gộp chung với giảng dạy tác phẩm Chí Phèo…
Các bài khái quát về tác phẩm (giới thiệu tác phẩm) cũng giới hạn. Ví dụ, trước đây, SGK Văn học lớp 11 có giới thiệu tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, SGK Ngữ văn hiện nay không có, các em chỉ tiếp xúc với một trích đoạn ngắn (Lẽ ghét thương)…Số tác giả và số lượng tác phẩm văn học nước ngoài thay đổi, được chọn cũng không nhiều. Số tiết dành cho văn học nước ngoài (lớp 11 chỉ có 10 tiết)…
- Kiến thức văn học sử được phân kỳ theo những giai đoạn lớn, mang nhiều ý nghĩa lịch sử văn học: ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Chương trình Ngữ văn THPT hiện hành quan niệm : lịch sử chính trị và lịch sử văn học có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không nên đồng nhất hai vấn đề đó. “Nên chú ý nêu lên những đặc điểm về quan hệ giữa ngôn ngữ với dân tộc, về tư tưởng nghệ thuật, về phong cách, về thi pháp,…mang tính chất thời đại và cá nhân ở mỗi thời kỳ, khiến cho thời kỳ trước được phân biệt với thời kỳ sau” [28, tr.216]. Theo đó, văn học sử Việt Nam được chia thành hai dòng : văn học dân gian và văn học viết. Văn học viết được chia thành ba thời kỳ lớn, đó là:
- Văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ
- Văn học từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám năm
- Văn học từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỷ
Văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX được gọi là “văn học trung đại”. Hai thời kỳ tiếp theo, tuy mỗi thời kỳ có một số đặc điểm riêng, song đều nằm trong xu hướng hiện đại hoá chung nên được gọi là “văn học hiện đại”.
Cũng phải nói là sự phân loại trên có tính tương đối, nhất là ở bước chuyển tiếp từ văn học trung đại sang văn học hiện đại, trên thực tế có giai đoạn giao thời khoảng ba mươi năm đầu thế kỷ XX. Trong giai đoạn đó cái cũ và cái mới giao tranh, nhưng xu thế chung là cái mới thắng lợi. Do vậy, có thể coi giai đoạn giao thời này thuộc về văn học hiện đại.
Sự phân kỳ ở đây đã kết hợp được căn cứ xã hội của văn học và các quy luật phát triển nội tại của văn hóa. Văn học từ 1945 trở về sau rõ ràng là nền văn học hoàn toàn mới, nền văn học đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, phục vụ cho cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Lịch sử văn học ở đây gần như trùng khít hoàn toàn với chế độ chính trị xã hội, với nhu cầu thẩm mĩ của quần chúng, với những biến đổi trong quan điển nghệ thuật cũng như hoạt động sáng tác.
- Phân kỳ văn học sử chú ý đến thể loại trong từng thời kỳ văn học
Chương trình và SGK Ngữ văn được cải cách lần này không chỉ tuyển chọn những áng văn chương nghệ thuật mà còn có thêm những bản văn nhật dụng, nghị luận xã hội,…Đây là một khuynh hướng xây dựng chương trình Ngữ văn hiện nay của nhiều nước tiên tiến. Có nước còn đặt vấn đề tuyển chọn cả những văn bản truyền hình, báo chí hằng ngày (dĩ nhiên mức độ như thế nào vẫn là chuyện cần bàn thêm). Tri thức văn học không phải là những tri thức lý thuyết biệt lập mà gắn bó một cách tuần tự, có hệ thống với tiếng Việt và kĩ năng làm văn. Hạn chế của chương trình cũ chỉ quan tâm đến khối lượng thông tin văn học mà ít quan tâm đến hệ thống kỹ năng cần hình thành cho học sinh sau ba năm học phổ thông. Chương trình lần này đã coi trọng hai kỹ năng Đọc và Làm văn như hai trục chính Đó là một bước tiến trong nhận thức về kỹ năng văn học cho học sinh. Những phần đồng tâm đã học ở THCS được cân nhắc kĩ để không trùng lặp mà còn liền mạch theo một hệ thống hoàn chỉnh.
Mời bạn tham khảo thêm:
1.1.4. Nguyên tắc dạy học văn học sử trong chương trình Ngữ văn THPT ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Bất kỳ một môn học nào cũng cần có nguyên tắc dạy học đặc trưng của môn học ấy. Dạy học bộ môn Văn ngoài các nguyên tắc dạy học chung cũng cần có những nguyên tắc của nó : phải gắn với đời sống, phải biết phát huy vai trò chủ thể của học sinh, phải chú ý đến mối liên hệ giữa các phân môn khác,…Trên cơ sở đó, dạy học kiến thức văn học sử có những nguyên tắc nhất định sau:
- Dạy học văn học sử phải giúp học sinh nhận biết được quá trình lịch sử phát triển văn học dân tộc
Đây là một trong những nguyên tắc đặc trưng, không thể bỏ qua trong quá trình dạy học các kiến thức văn học sử, nguyên tắc này sẽ giúp chúng ta phân biệt được với việc dạy lí luận văn học và tác phẩm văn học.
Muốn học sinh nắm vững nguyên tắc này, đòi hỏi phải biết liên kết các sự kiện, hiện tượng trong hệ thống, đồng thời phải biết kết hợp chặt chẽ với nguyên tắc đồng đại thường được vận dụng khi phân tích tình hình văn học giai đoạn, sự nghiệp nhà văn, giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Ví dụ : Quá trình phát triển của văn học Việt Nam gắn chặt với lịch sử, văn hoá, xã hội của đất nước. Trong hơn mười thế kỷ phát triển, văn học Việt Nam không ngừng kế thừa, tiếp thu những tinh hoa của văn học nhân loại và đạt được thành tựu to lớn với những tác gia có tên tuổi như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí minh,…
Từ văn học trung đại (thế kỷ X đến thế kỷ XIX) sang văn học hiện đại (đầu thế kỷ XX đến nay) có sự đổi mới đáng kể. Ví dụ : Về tác giả : xuất hiện đội ngũ nhà văn, nhà thơ chuyên nghiệp, lấy việc viết văn, sáng tác thơ làm nghề nghiệp. Về thể loại : thơ mới, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch nói,…dần dần thay thế hệ thống thể loại cũ, tuy một vài thể loại cũ của văn học trung đại vẫn còn tồn tại, song không còn đóng vai trò chủ đạo. Về thi pháp : hệ thống thi pháp mới thay thế hệ thống thi pháp cũ. Lối viết ước lệ, sùng cổ, phi ngã của văn học trung đại không còn phù hợp; lối viết hiện thực, đề cao cá tính sáng tạo, đề cao “cái tôi” cá nhân dần được khẳng định. Tiêu biểu lối viết này có Tản Đà, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử và hàng loạt các nhà văn nhà thơ khác…
- Dạy học văn học sử phải kết hợp thường xuyên việc rèn luyện các năng lực, kỹ năng, thao tác cho học sinh ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Đó là sự giải thích, phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá, đối chiếu,…khi tiếp nhận các kiến thức văn học sử. Thực hiện nguyên tắc này có tác dụng rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu của học sinh, giúp các em biết cách tiếp nhận luận điểm của văn học sử và hiểu bài, nhớ bài một cách có hệ thống. Ví dụ :
Sau khi học xong giai đoạn văn học từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945, chúng ta có thể yêu cầu học sinh đánh giá lại giai đoạn văn học này có đặc điểm gì mới và nổi bật so với giai đoạn trước đó ? (rèn kỹ năng so sánh, đánh giá).
Hoặc cũng có thể đặt những câu hỏi : Vì sao có thể gọi văn học Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX (từ 1900 đế 1930) là văn học giai đoạn giao thời ? (rèn kỹ năng giải thích, phân tích vấn đề).
- Dạy học văn học sử phải biết kết hợp với các tri thức văn học khác
Thực hiện nguyên tắc trên sẽ tạo nên sức mạnh của bộ môn, cũng chính là quán triệt dạy văn học sử mang tính hệ thống, tính liên môn.
Lí luận văn học là công cụ để phân tích giai đoạn văn học (nội dung, hình thức, tác động,..), tác gia văn học (phong cách sáng tạo, thể loại, trường phái,..). Một khi nắm vững kiến thức lí luận ta dễ dàng phân tích các nhận định, khái niệm văn học sử và ngược lại kiến thức văn học sử sẽ khắc sâu sự nhận thức lí luận.
Ví dụ : Dùng kiến thức lí luận, sự hiểu biết về giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm để có thể phân tích một tác phẩm văn học cụ thể trong chương trình. Tiêu biểu là, khi phân tích các tác phẩm của Nam Cao, luôn hiện rõ giá trị nhân đạo và hiện thực ; tác phẩm của Vũ Trọng Phụng nổi bật giá trị hiện thực ; tác phẩm của Thạch Lam thiên về xu hương lãng mạn có pha lẫn chất hiện thực,…
Các luận điểm, các tổng kết văn học sử thường là các đề tài ứng dụng văn học sử trong tập làm văn…Chẳng hạn : Tìm hiểu về chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo được thể hện thông qua một số tác phẩm được học…
- Dạy học văn học sử phải đạt được yêu cầu giáo dục truyền thống văn học và truyền thống dân tộc ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Truyền thống văn học Việt Nam nổi bật hai chủ đề : yêu nước và nhân đạo gắn chặt với nhau qua từng thời kỳ lịch sử với truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Dạy văn học sử theo đúng yêu cầu tiếp nhận, đúng nguyên tắc sẽ mang lại hiệu quả giáo dục ở học sinh. Cần tận dụng quá trình văn học từ thế kỷ X đến thế kỷ XV để giảng dạy truyền thống yêu nước chống phong kiến xâm lược. Văn học từ sau thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX là cơ sở giáo dục truyền thống nhân văn. Văn hoc từ đầu thế kỷ XX đến 1945 phát huy truyền thống nhân văn trong văn học. Đành rằng tư tư tưởng yêu nước và nhân văn ở mỗi giai đoạn không tách rời nhau.
Dạy văn học sử biết kết hợp các nguyên tắc trên sẽ giúp các em hiểu sâu hơn giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm…
1.2. Hệ thống kiến thức văn học sử cơ bản trong chương trình Ngữ văn THPT (kiểu bài văn học sử)
Kiến thức văn học sử trong chương trình THPT là những kiến thức được sắp xếp có hệ thống và chọn lọc. Đó là kiến thức chung về lịch sử phát triển của văn học Việt Nam, kiến thức về các thời kỳ, giai đoạn văn học, kiến thức về các tác gia, tác giả văn học, kiến thức về các tác phẩm văn học và kiến thức về thể loại văn học…
1.2.1. Kiến thức chung về lịch sử phát triển của văn học Việt Nam
- Kiến thức chung về lịch sử phát triển của văn học Việt Nam trong chương trình THPT là những kiến thức văn học sử mang tính khái quát cao nhất. Đó là các kiến thức khái quát về : các bộ phận hợp thành, quá trình phát triển, con người Việt Nam qua văn học. Trước đây, phần con người Việt Nam qua văn học được thay bằng phần đặc điểm lịch sử của sự phát triển.
Văn học Việt Nam có hai bộ phận hợp thành : văn học dân gian và văn học viết. Trong bộ phận văn học viết có hai thời kỳ văn học lớn : văn học trung đại và văn học hiện đại. ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Kiến thức này đã đưa ra nhiều luận điểm khái quát: “Văn học Việt Nam là sản phẩm tinh thần của tất cả các dân tộc cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. Đó là một nền văn học thống nhất trong sự đa dạng. Bên cạnh những đặc trưng chung, văn học của mỗi vùng, miền, mỗi tộc người lại có những bản sắc riêng làm phong phú cho nền văn học của toàn dân tộc”…[34, tr.6].
Sự khái quát về quá trình phát triển của nền văn học đã xác định lại một cách tổng quan các thời kỳ phát triển quá trình phát triển của văn học Việt Nam gắn chặt với lịch sử chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước. Nhìn tổng quát văn học Việt Nam trải qua ba thời kỳ lớn :
- Văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ
- Văn học từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám năm
- Văn học từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỷ Đồng thời, cái nhìn tổng quan ấy cho phép nêu bật các đặc điểm cơ bản
về nguồn gốc của văn học từng thời kỳ : “Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX hình thành và phát triển trong bối cảnh văn hoá, văn học vùng Đông Á, Đông Nam Á ; có quan hệ giao lưu với nhiều nền văn học khu vực, đặc biệt là văn học Trung Quốc”. “Hai thời kỳ sau tuy có một số đặc điểm riêng biệt nhưng đều nằm trong một xu hướng phát triển chung của quá trình hiện đại hoá văn học nên có thể gọi chung là văn học hiện đại”…[34, tr.7].
Lịch sử phát triển của văn học Việt Nam khẳng định lại những truyền thống lớn của văn học dân tộc, đó là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo.
Nhìn chung văn học Việt Nam là một nền văn học không chỉ luôn thay đổi, luôn vận động, tiến triển mà còn là một nền văn học tiến bộ không ngừng, đậm đà bản sắc, không lẫn với bất kỳ nền văn học nào khác.
Con người Việt Nam qua văn học cũng có thay đổi trong lịch sử. Không hề có con người trừu tượng mà chỉ có con người tồn tại trong bốn mối qua hệ cơ bản: quan hệ với thế giới tự nhiên, quan hệ với quốc gia dân tộc, quan hệ với xã hội, quan hệ với bản thân). Mối quan hệ này chi phối các nội dung chính văn học, ảnh hưởng đến việc xây dựng hình tượng văn học. ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
– Là kiểu kiến thức không thiên về minh họa, chú ý xác định khái niệm, thuật ngữ, luận điểm cơ bản mang tính khái quát. Chúng ta dễ dàng bắt gặp các khái niệm như: văn học dân tộc, văn học viết, văn học dân gian, văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm,…các thuật ngữ : nhân đạo, nhân văn, hiện đại hóa, dân tộc hóa, tinh hoa văn học, ước lệ, phi ngã,…
Hầu hết các khái niệm, thuật ngữ trên đều được trình bày theo hướng diễn dịch một cách sáng tỏ, nên học sinh dễ dàng tiếp thu nếu giáo viên biết gợi mở tốt.
1.2.2. Kiến thức về các thời kỳ, giai đoạn văn học
- Là kiến thức có phạm vi bao quát rộng (ít nhất là 30 năm) với các kiến thức khái quát cao, đặc biệt rất phong phú về kiến thức cụ thể, cách trình bày kết hợp giữa đồng đại và lịch đại.
Phạm vi bao quát thời kỳ văn học sử chứa đựng một lượng tư liệu khá phong phú về quá trình phát triển của văn học cũng như về giá trị nội dung và nghệ thuật đạt được ở mỗi thời kỳ văn học.
Tính khái quát tuy không cao như ở bài Tổng quan nhưng tư liệu minh họa rất đa dạng. Ví dụ : Bài khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX, được chia bốn giai đoạn, ở mỗi giai đoạn được minh họa bằng nhiều tác phẩm, tác giả tiêu biểu, có khi minh họa ở cấp xu hướng, trào lưu, có khi minh họa cấp tác giả, tác phẩm.
Hầu hết các kiến thức khái quát về thời kỳ trong chương trình đều có phần giới thiệu khái quát hoàn cảnh lịch sử, tình hình văn học bao gồm cả nội dung và hình thức văn học nhưng cách viết ở mỗi thời kỳ lại khác nhau. Có bài kết hợp phần hoàn cảnh lịch sử với phần tình hình văn học từng giai đoạn (bài Khái quát văn học từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX). Có bài phân tích diện mạo văn học theo tiến trình thời gian,…Nhìn chung, cách trình bày hết sức linh hoạt. ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
-Kiến thức về thời kỳ văn học sử có khả năng giáo dục cho học sinh. Kiến thức văn học sử về thời kỳ đặt trong nhiều mối quan hệ, cho nên tình hình văn học Việt Nam được phân tích ở nhiều mối quan hệ khác nhau. Qua đó, ta có thể giáo dục cho học sinh quan điểm về mối quan hệ qua lại trong văn học cũng như ngoài xã hội. Mặt khác, ta còn giáo dục các em truyền thống yêu nước, niềm tựhào dâ n tộc và tinh thần nhân đạo, nhân văn cao cả trải dài qua từng thời kỳ, giai đoạn văn học…
– Kiến thức về thời kỳ văn học sử có quan hệ logic với kiến thức khái quát tác giả, tác phẩm. Những kiến thức khái quát về thời kỳ dù ở bất cứ thời kỳ nào cũng đều phải thông qua kiến thức khái quát về tác giả để đi đến kiến thức khái quát về tác phẩm. Chúng ta có thể hình dung mô hình sau:
Kiến thức khái quát về thời kỳ
Kiến thức khái quát về tác giả
Kiến thức khái quát về tác phẩm
Đọc – hiểu văn bản
1.2.3. Kiến thức về tác gia, tác giả văn học
- Nhắc đến kiến thức về tác gia thông thường hay đề cập đến phần cuộc đời, sự nghiệp, quan điểm sáng tác, phong cách, và giá trị đóng góp của tác gia đó trong tiến trình phát triển lịch sử văn học Việt Nam. Nội dung bài dạy tác gia văn học bao giờ cũng được tiến hành gồm hai phần chính : cuộc đời và sự nghiệp văn học. Đây là hai nội dung quan trọng, không thể thiếu trong mỗi bài dạy tác gia văn học.
- Kiến thức khái quát về tác gia trong chương trình THPT chiếm ưu thế so với kiến thức văn học sử khác về số lượng bài học. Các tác gia được giảng dạy ở trường phổ thông hiện nay là : Nguyễn Trãi, Nguyễn Du (lớp 10), Nguyễn Đình Chiểu, Nam Cao (lớp 11), Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Tố Hữu (lớp 12). ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
- Một số tác gia trong chương trình thuộc hai thời kỳ văn học khác nhau nhưng được xếp vào một thời kỳ nhất định. Đó là tác gia Nam Cao, tác gia Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, tác gia Tố Hữu. Chẳng hạn, sự nghiệp sáng tác của Nam Cao thật sự được bắt đầu từ năm 1941 với truyện ngắn có tầm vóc lớn
- Chí Phèo. Con đường sáng tác của ông chia làm hai thời kỳ rõ rệt trước và sau Cách mạng tháng Tám. Ở mỗi thời kỳ, Nam Cao đều có những cống hiến xuất sắc. Tác gia Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh được xếp vào giai đoạn văn học 1930 – 1945 là một dụng ý, dù sau Cách mạng tháng Tám, Bác vẫn sáng tác,…
- Kiến thức về tác gia trong chương trình là những kiến thức quan trọng, có tác dụng giáo dục đối với học sinh. Giáo dục các em những nhân cách, quan điểm sống tốt đẹp vì mỗi tác gia là những tấm gương giàu trí tuệ, tâm hồn.
- Kiến thức về tác gia trong chương trình mang tinh cụ thể – khái quát. Cụ thể là vì tác gia đó có ý nghĩa minh họa cho các nhận định khái quát về thời kỳ… Còn khái quát bài học về tác gia lại cần được minh họa qua bài học về tác phẩm hay đoạn trích. Kiến thức về tác gia cho phép chúng ta tiếp cận gần với đọc – hiểu văn bản. Ngược lại, khi tiếp cận kỹ lưỡng văn bản ta càng hiểu thêm về cuộc đời, sự nghiệp, quan điểm của họ hơn.
Tóm lại, những yếu tố chứa đựng trong bài khái quát về tác gia là hết sức đa dạng và phong phú. Các bài học về tác gia cung cấp một khối lượng lớn thông tin văn học. Yêu cầu và tác dụng đào tạo của nó đòi hỏi giáo viên phải học hỏi, tích luỹ nhiều kiến thức về tác gia ngoài chương trình SGK. “Bài học về tiểu sử (tác gia) chính là bài học của cuộc sống theo ý nghĩa đầy đủ nhất của nó” ( Nikolski).
1.2.4. Kiến thức về các tác phẩm văn học ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
– So với các kiến thức văn học sử khác, kiến thức về tác phẩm văn học ở cấp độ thấp nhất, gần với giảng văn. Kiểu bài học coi tác phẩm như một hiện tượng văn học sử trong chương trình Ngữ văn THPT là kiểu bài nghiên cứu, giới
thiệu các tác phẩm lớn, tiêu biểu cho tác gia, cho thời đại. Chẳng hạn, tác phẩm
Truyện Kiều (Nguyễn Du) trong chương trình Ngữ văn 10…
Học tác phẩm có tính văn học sử là sự tiếp nhận toàn bộ tác phẩm, không phải đi sâu vào chi tiết, không phải theo quy luật cảm thụ như giảng văn mà là phân tích có tính khái quát từ cốt truyện đến giá trị nội dung, nghệ thuât và cuối cùng là các kết luận chung về giá trị, vị trí tác phẩm.
– Số lượng về tác phẩm được học như văn học sử trong chương trình hiện nay rất ít. Trong chương trình hiện nay, chỉ có hai tác phẩm học như văn học sử gắn liền với tác gia. Đó là tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du và tác phẩm Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh. Lẽ ra phải cho học sinh tiếp cận nhiều tác phẩm hơn vì đây là một kiểu bài quan trọng, mang nhiều tính chất giáo dục.
- Kết luận :
Nội dung của chương một nhìn chung mang tính chất lý thuyết, khái quát. Nó sẽ được triển khai vận dụng cụ thể trong chương hai. Các hệ thống kiến thức văn học sử về thời kỳ, giai đoạn, tác gia, tác phẩm văn học,…tạm gọi các kiểu bài văn học sử đã có khá nhiều công trình nghiên cứu bàn luận. Do đó, trong luận văn của mình người viết không đi sâu tìm hiểu nội dung của kiến thức này mà chủ yếu khai thác chúng trong quá trình đọc hiểu văn bản để thấy được sự phát triển không ngừng đi lên của lịch sử văn học dân tộc, thấy được hơi thở, nhịp đập, bước đi của thời đại và góp phần hiểu hơn giá trị tác phẩm ; đồng thời xem những văn bản được lựa chọn để học trong chương trình đã đảm bảo nội dung kiến thức, thể hiện rõ những đặc điểm, minh họa những luận điểm …như trong phần bài khái quát đã nêu. ( Luận văn: Phương pháp khai thác kiến thức văn học sử đọc – hiểu )
Các bạn có thể tham khảo thêm:

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
