Luận văn: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Nhận thấy được sự quan trọng của môi trường đối với cuộc sống ngày nay. Tác giả đã lựa chọn Luận văn: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt làm bài Luận văn Thạc sĩ của mình. Hiện nay, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng ở Việt Nam và đã đang kéo theo một loạt các vấn đề về môi trường và vấn đề ô nhiễm môi trường tác động đến đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là lượng rác thải phát sinh tại các đô thị và các vùng nông thôn ngày càng trở nên nghiêm trọng gây ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người dân được trình bày chi tiết tại Đề tài: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt thành phố phủ lý –tỉnh hà nam đến năm 2030.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài.

Môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời  Tỉnh Hà Nam nói chung và TP Phủ Lý nói riêng là một địa phương đang có tốc độ phát triển nhanh chóng về vấn đề kinh tế xã hội, nhiều khu vực hiện có tại các phường được cải tạo, chỉnh trang nâng cấp đồng bộ hệ thống hạ tầng xã hội ­ hạ tầng kỹ thuật, nhiều khu đô thị mới được hình thành nhanh chóng theo các quy hoạch, tạo nên sự thay đổi lớn, một diện mạo mới về hình ảnh đô thị của Thành phố. Tuy nhiên, việc mở rộng đô thị về không gian, sự gia tăng dân số, tốc độ đô thị hóa cao, nên hệ thống hạ tầng cơ sở kỹ thuật và xã hội nói chung và hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn nói riêng đang ở trong tình trạng quá tải nặng nề, chưa theo kịp tốc độ phát triển của Thành phố. Mặc dù đã được tỉnh, Thành phố và xã hội đặc biệt quan tâm đầu tư, hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn của Thành phố đang gặp các vấn đề bức xúc như: việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn chưa triệt để, chưa hợp lý, cản trở giao thông, cản trở dòng chảy gây ứ đọng nước, làm giảm mỹ quan đô thị; các khu xử lý chất thải rắn còn thiếu và yếu; công nghệ xử lý chất thải rắn còn tương đối lạc hậu và thủ công. Hiện nay công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn đang là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí cho trước mắt và lâu dài; làm biến đổi các sinh cảnh tự nhiên và vùng sinh thái, gây tác hại đến sức khoẻ cộng đồng. Hiện nay Thành phố Phủ Lý có 6 phường nội thành và 6 xã ngoại thành, với đặc điểm về hạ tầng kinh tế xã hội và hạ tầng kỹ thuật khác nhau. Đặc điểm của Thành phố bao gồm nhiều khu dân cư cũ và đô thị mới xen kẽ lẫn nhau. Do đó nguồn gốc, khối lượng phát sinh và thành phần chất thải rắn thông thường phát sinh của các phường cũng khác nhau dẫn đến khó khăn cho công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý. Chính những nguyên nhân này làm cho công tác quản lý gặp khó khăn dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường.

Mặt khác, do ý thức bảo vệ môi trường của người dân chưa cao, việc phân loại rác thải chưa được thực hiện và hành vi vứt rác bừa bãi không đúng nơi quy định của người dân đã gây rất nhiều khó khăn trong việc thu gom rác thải của đội ngũ nhân viên môi trường.

Chính vì vậy việc chọn đề tài nghiên cứu: “ Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đến năm 2030” là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.

2. Mục đích nghiên cứu. ( Luận văn: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Tổng hợp, phân tích, đánh giá công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn TP Phủ Lý.

Đề xuất các giải pháp về quản lý chất thải rắn trên địa bàn TP Phủ Lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường, góp phần phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hà Nam bền vững.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

  • Đối tượng nghiên cứu .

Đối tượng nghiên cứu là chất thải rắn sinh hoạt phát sinh chủ yếu từ sinh hoạt đô thị và nông thôn.

  • Phạm vi nghiên cứu.

Phạm vi nghiên cứu bao gồm toàn bộ ranh giới hành chính thành phố Phủ Lý với diện tích 3707.3 ha và quy mô dân số là 72.614 người ( số liệu năm 2010).

4. Nội dung nghiên cứu.

Đánh giá thực trạng công tác vệ sinh môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn sinh hoạt nói riêng trên địa bàn TP Phủ Lý.

Xây dựng cơ sở khoa học để công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt đạt hiệu quả.

Đề xuất mô hình và giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt của TP Phủ Lý.

Có thể bạn quan tâm:

BẢNG GIÁ DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ

5. Phương pháp nghiên cứu.

+ Phương pháp tiếp cận hệ thống trong việc khảo sát, thu thập thông tin, thống kê và xử lý số liệu liên quan đến đề tài.

+ Phương pháp tổng hợp dự báo đánh giá.

+ Phương pháp kế thừa

+ Phương pháp so sánh đối chiếu để đúc rút kinh nghiệm các mô hình tương tự trong và ngoài nước nhằm xây dựng các bài học thực tiễn trong xây dựng và quản lý chất thải rắn sinh hoạt cho TP Phủ Lý . ( Luận văn: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

  • Ý nghĩa khoa học

Đề xuất các giải pháp quản lý, đề xuất tổ chức bộ máy quản lý và các nguyên tắc quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn TP Phủ Lý. Nội dung nghiên cứu đề tài làm căn cứ áp dụng vào thực tiễn trong quá trình quy hoạch và quản lý chất thải rắn.

  • Ý nghĩa thực tiễn

Đưa ra các giải pháp trên cơ sở khoa học để quản lý chất thải rắn sinh hoạt có hiệu quả phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của TP Phủ Lý và cũng là bài học để có thể phổ biến cho các thành phố khác trong toàn quốc tham khảo học tập.

Một số khái niệm.

  • Chất thải rắn:

Theo mục 10, Điều 3 của Luật bảo vệ môi trường ban hành năm 2014, có thể hiểu chất thải rắn (CTR) là vật chất ở thể rắn thải ra từ sản xuất, kinh doanh , dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.

Như vậy, thuật ngữ chất thải rắn bao hàm tất cả các chất rắn hỗn hợp thải ra từ cộng đồng dân cư, cũng như các chất thải rắn đặc thù từ các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, khai khoáng và các ngành dịch vụ khác.

  • Chất thải rắn sinh hoạt:

Chất thải rắn sinh hoạt (viết tắt là: CTRSH), còn gọi là rác thải sinh hoạt, là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt của con người và động vật nuôi. Chất thải dạng rắn phát sinh từ khu vực đô thị ­ gọi là chất thải rắn đô thị bao gồm các loại chất thải rắn phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, các công trình xây dựng, khu xử lý chất thải. Trong đó, CTRSH chiếm tỷ lệ cao nhất.

Các khái niệm về công tác thực hiện trong quá trình quản lý CTRSH: Thu gom CTR: là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời CTR tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

Lưu giữ tạm thời CTR: là việc giữ CTR trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển xử lý.

Vận chuyển CTR: là quá trình vận tải CTR từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp CTR.

Xử lý CTR: là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong CTR; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong CTR.

Chôn lấp CTR hợp vệ sinh: là hoạt động chôn lấp phù hợp với yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp CTR hợp vệ sinh.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, phần phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 03 chương:

CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ.

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ.

CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NĂM CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CTR SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ.

CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ.

1.1. Giới thiệu chung về thành phố Phủ Lý. ( Luận văn: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

1.1.1. Điều kiện tự nhiên.

  • Vị trí địa lý.

Thành phố Phủ Lý nằm trên quốc lộ 1A, bên bờ phải sông Đáy, Phủ Lý cách Hà Nội 60 km về phía Nam, thành phố Nam Định 30 km về Phía Tây Bắc và thành phố Ninh Bình 33 km về phía Bắc. Phủ Lý nằm trên Quốc lộ 1A có tuyến đường sắt Bắc Nam đi qua, là nơi gặp gỡ của 3 con sông: Sông Đáy, sông Châu Giang và sông Nhuệ tiện về giao thông thủy bộ.

  • Khí hậu và tài nguyên thiên nhiên.

Đặc điểm khí hậu.

Phủ Lý nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng và ven núi nên địa hình của thành phố chia làm nhiều khu vực hai bên bờ các con sông, Phủ Lý nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm.

  • Lượng mưa trung bình hàng năm: 800 mm ­ 2000 mm
  • Nhiệt độ trung bình: 23­24 °C
  • Số giờ nắng trong năm: 300­1.500 giờ
  • Độ ẩm tương đối trung bình: 85%

Địa hình.

  • Khu vực Thành Phố cũ ở phía Đông sông Đáy và khu đô thị mới ở phía

Tây sông Đáy nền địa hình đã được tôn đắp có cao độ 3,0m6,8m.

  • Khu vực dân cư ở khu vực Phù Vân Bắc sông Đáy và Bắc sông Châu nền cũng đã được tôn đắp cao độ 3,0 4,5m
  • Các khu vực ruộng lúa, ruộng màu có cao độ 1,82,2m
  • Khu vực các ao trũng, đầm lầy có cao độ từ 0,8m đến + 0,4m, bao gồm các khu trũng Bắc sông Châu, Đông sông Đáy, hệ thống ao hồ ruộng trũng nối liền nhau, thường xuyên bị ngập nước.

Thủy văn.

Thành Phố nằm ở ngã 3 sông Đáy, sông Nhuệ, sông Châu được bao bọc bởi hệ thống đê bảo vệ.

Sông Đáy là một nhánh của sông Hồng bắt nguồn từ Phú Thọ chảy vào lãnh thổ Hà Nam. Sông Đáy còn là ranh giới giữa Hà Nam và Ninh Bình.

Sông Nhuệ là sông đào dẫn nước sông Hồng từ Thụy Phương , Từ Liêm Hà Nội đi vào Hà Nam với chiều dài 14,5 km sau đó đổ vào sông Đáy ở Phủ Lý.

Sông Châu Giang khởi nguồn trong lãnh thổ Hà Nam. Tại Tiên Phong ( Duy Tiên) sông chia thành hai nhánh, một nhánh làm ranh giới giữa huyện Lý Nhân và huyện Bình Lục và một nhánh là ranh giới giữa huyện Duy Tiên và Bình Lục.

1.1.2 Hiện trạng kinh tế xã hội ( Luận văn: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

a.Hiện trạng dân số

Theo niên giám thống kê năm 2013 của Thành Phố Phủ Lý, tính đến năm 2013: Dân số toàn Thành Phố là 72.619 người, trong đó dân số nội thị là

37.557 người (chiếm 51,6% dân số toàn Thành Phố). Tỷ lệ tăng dân số trung bình toàn Thành Phố là 1,87%, trong đó tăng tự nhiên là 1,08%, tăng cơ học là 0,79%. Tỷ lệ tăng dân số nội thị năm 2008 là 1,8%, trong đó: tăng tự nhiên là 1,08%, tăng cơ học 1,72%.

b. Hiện trạng kinh tế

Tỷ trọng giá trị gia tăng công nghiệp, TTCN và xây dựng trong GDP của thành phố tăng dần và đạt 33,4% năm 2000.

Những năm gần đây, thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước và chủ trương của Thành phố về phát triển kinh tế trên địa bàn, sản xuất công nghiệp và TTCN ở Phủ Lý phát triển nhanh và đa dạng.

Trên địa bàn Thành phố hiện có 1.118 cơ sở sản xuất công nghiệp và TTCN thu hút 4.910 người trong đó có hơn 30 doanh nghiệp Nhà nước, 3 công ty cổ phần, 59 công ty trách nhiệm hữu hạn, 14 doanh nghiệp tư nhân và hơn 1.000 hộ sản xuất cá thể.

Một số sản phẩm công nghiệp mới có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng và sản xuất cạnh tranh được trên thị trường như: sản phẩm may mặc, giầy da, xi măng, nước gải khát, bia rượu…

Tổng diện tích đất công nghiệp, TTCN, của Thành phố hiện nay là 12ha nằm rải rác trong nội thành. Số lượng lao động được thu hút vào ngành công nghiệp ­ xây dựng của Thành phố hiện nay là 4.910 người.

Sản xuất nông nghiệp ở ngoại thành có nhiều kinh nghiệm trong đổi mới giống cây trồng vật nuôi và áp dụng nhiều kỹ thuật tiến tiến trong canh tác. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển đổi theo hướng tăng cây thực phẩm, cây ăn quả và tăng tỷ trọng chăn nuôi là những ngành tạo hiệu quả kinh tế cao, đồng thời góp phần thúc đẩy công nghiệp chế biến phát triển.

c. Hiện trạng công trình hạ tầng xã hội. Công trình y tế

Thành Phố Phủ Lý có một hệ thống y tế khá hoàn chỉnh, gồm 1 bệnh viện tỉnh, 1 trung tâm y tế Thị xã, 5 trung tâm y tế chuyên khoa và 6 trạm y tế phường phục vụ cho khám và chữa bệnh do Tỉnh và Thị xã quản lý. Ngoài ra còn có hơn 10 trạm y tế của các cơ quan xí nghiệp đóng trên địa bàn Thị xã và một số cơ sở y tế tư nhân hoạt động.

  • Công trình thể thao

Hệ thống các sân tập, nhà văn hoá thể thao ở Thành Phố Phủ Lý hiện nay không nhiều, chủ yếu tập trung ở khu vực nội thị, còn vùng ven và nông thôn chưa có.

+ Hiện nay trên địa bàn Thành Phố Phủ Lý có khu văn hoá thể thao: diện tích 0,3 ha

+ Một nhà luyện tập cầu lông có diện tích 0,4 ha:

+ Nhà văn hoá thể thao: diện tích 1,5 ha Công trình văn hóa thông tin ( Luận văn: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Thành phố Phủ Lý có 1 nhà thư viện Thành phố, thư viện của các ngành và trường học, Bảo tàng Thành phố và một số câu lạc bộ.

  • Công trình thương mại và dịch vụ

Mạng lưới nhà hàng, khách sạn: Hệ thống nhà hàng, khách sạn tại Thành phố còn ít và cơ sở vật chất chưa được nâng cao.

Về mạng lưới chợ trên địa bàn: Thành phố Phủ Lý hiện có 3 chợ chính và các chợ nhỏ nằm rải rác trong các khu dân cư.

Cơ sở vật chất của ngành thương mại dịch vụ cơ bản đã đáp ứng đủ nhu cầu người dân với 2 siêu thị và 1 trung tâm thương mại.

  • Công trình giáo dục

Thành phố Phủ Lý có: 4 trường mầm non với 45 lớp và 1.379 học sinh; 7 trường tiểu học ­ trung học cơ sở với 150 lớp và 5.850 học sinh; 3 trường PTTH với 70 lớp và 3.503 học sinh và 01 trường bổ túc văn hoá 13 lớp với 675 học sinh. Nhìn Chung cơ sở vật chất của ngành giáo dục thị xã Phủ Lý tương đối tốt, các phòng học được xây dựng kiên cố và bán kiên cố , nhóm nhà trẻ mẫu giáo có tổng giá trị đồ dùng, đồ chơi khoảng 500 triệu đồng.

Tổng giá trị thiết bị, đồ dùng dậy học và các loại sách dùng cho giáo viên khối tiểu học và THCS khoảng 525 triệu đồng.

Thành phố Phủ Lý có 2 trường cao đẳng , 1 trường Chính trị và 4 trường trung học chuyên nghiệp, 1 trường đại học ngoài ra còn có một số cơ sở dạy nghề tư nhân, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy nghề của các tổ chức xã hội.

Hiện trạng các cơ sở đào tạo dạy nghề đã được quan tâm và đầu tư, có xu hướng phát triển trong thời gian tới.

1.1.3. Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật ( Luận văn: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

  • Hiện trạng thoát nước mưa

Thành phố hình thành từ bãi bồi ven các sông, địa hình thấp trũng bị chia cắt nên hướng thoát nước phụ thuộc vào địa hình tự nhiên hình thành nhiều lưu vực.

Đông sông Đáy: Lưu vực từ đường sắt ra sông Đáy tiêu ra cống qua đê đã có sau nhà máy bia

Đông đường sắt tiêu ra hồ Chùa Bầu và tiêu ra các ao hồ trũng là trạm bơm Phủ Lý

Tây sông Đáy các dân cư ở ven đê và Quốc lộ 21 tiêu ra cánh đồng sau đó ra trạm bơm Ngòi Ruột và ra trạm bơm Thịnh Châu.

Bắc sông Đáy tiêu ra trạm bơm Phù Đan

Bắc Châu Giang ra trạm Lạc Tràng

  • Hiện trạng giao thông Giao thông đối ngoại:

Quốc lộ 1A (Đường Lê Hoàn): là tuyến đường chạy xuyên Quốc gia với lưu lượng xe qua tuyến là 6357 xe/ngày đêm (số liệu thống kê của JICA – quý 1năm 1999). Đoạn tuyến qua Thành phố dài 6,5km, mặt đường bê tông nhựa rộng 12m, nền đường rộng 22m .

Quốc lộ 21A (Đường Đinh Tiên Hoàng, Trần Bình Trọng, Đinh Công Tráng, Lý Thường Kiệt): Đoạn tuyến qua Thành phố có chiều dài là 9,5km, đường bê tông nhựa, mặt đường rộng 9m, nền đường

Quốc lộ 21B: Đoạn tuyến qua Thành phố có chiều dài 0,5km, mặt đường nhựa thấm nhập rộng 4m, nền đường

Tỉnh lộ 971 (Đường Trần Hưng Đạo) đi Lý Nhân, đoạn qua Thành phố dài 2,5km, mặt đường nhựa rộng 5m, nền đường rộng

Giao thông nội thị

Mạng lưới đường nội thị có dạng ô cờ với khoảng cách 150 – 200m, phần lớn đã được rải nhựa. Mạng lưới đường ở phía Đông, các tuyến đường cũ xuống cấp, mạng lưới đường ở phía Tây mới xây dựng, chất lượng tốt.

  • Hiện trạng cấp nước.

Hiện nay Thành phố Phủ Lý có 1 nhà máy nước (gọi là nhà máy nước số 1) sản xuất và cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân. Nhà máy có công suất 10.000m3/ngđ, lấy nước sông Đáy xử lý. Chất lượng nước sau xử lý đảm bảo tiêu chuẩn cấp nước cho đô thị.

Trạm bơm I: Đặt tại Phù Vân bên tả ngạn sông Đáy, có 2 họng hút 400mm.

Trạm được xây dựng bằng bê tông cốt thép, diện tích 7,5m x 3,5m. Cốt xây dựng trạm ­2,3m và +5,2m. Trong trạm bố trí 2 máy bơm ( 1 công tác, 1 dự phòng) Qb= 520m3/h, Hb= 25m.

Nhà máy nước đặt sau Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Nam. Cốt xây dựng nhà máy 5,1m. Nước thô được dẫn đến nhà máy qua cầu Phù Vân bằng 2250mm ­ L800m. Diện tích nhà máy là 4.900m2, trong đó diện tích trạm bơm II là 81m2. Trong trạm đặt 4 máy bơm công tác, mỗi máy có Qb= 210m3/h, Hb= 36m, 1 máy sục rửa Qb= 720m3/h, Hb= 25m. ( Luận văn: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

  • Hiện trạng cấp điện.

Nguồn điện: Thành phố Phủ Lý ­tỉnh Hà Nam đang được cấp điện từ lưới điện quốc gia 110KV khu vực đồng bằng Bắc Bộ, trực tiếp bằng các công trình đầu mối sau:

Trạm 110KV Phủ Lý: 110/35/10KV­ (25+40)MVA; Trạm 110KV Thạch Tổ: 110/35/6KV­ 15MVA;

  • Thoát nước bẩn và vệ sinh môi trường.

Hiện trạng thoát nước bẩn

Mạng lưới thoát nước Thành phố đang là hệ thống cống chung, nước thải và nước mưa cùng đổ vào một đường ống. Hệ thống cống chung tại khu vực đô thị cũ đã được hình thành tương đối ổn dịnh, trong khi đó tại các khu vực đô thị mới hệ thống mương cống đang trong quá trình xây dựng.

Nước thải sinh hoạt, nước thải các xí nghiệp, nước thải bệnh viện cũng như nước thải chăn nuôi đều xả trực tiếp vào hệ thống mương, cống thoát nước mưa rồi đổ ra các vực nước trên địa bàn Thành phố.

Hiện trạng thu gom và quản lý chất thải rắn.

Việc quản lý thu gom chất thải rắn hiện nay do công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, tuy nhiên do lực lượng và phương tiện còn thiếu nên lượng chất thải rắn còn tồn đọng nhiều. Hơn nữa hiện tại Thành phố chưa có một bãi xử lý chất thải rắn hợp vệ sinh do đó gây ra ô nhiễm tại các khu vực đổ chất thải rắn tạm thời.

Chất thải rắn chưa được phân loại tại khâu thu gom. Chất thải rắn công nghiệp độc hại, chất thải y tế chưa được xử lý riêng.

1.2. Thực trạng thu gom, vận chuyển và xử lý CTR sinh hoạt trên địa bàn thành phố Phủ Lý.

1.2.1. Hiện trạng khối lượng CTR phát sinh và thành phần các loại CTR. ( Luận văn: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Tổng hợp chất thải rắn thành phố Phủ Lý vào năm 2014 có 6 phường nội thị và 6 xã ngoại thị trong đó có khu vực nội thị đựoc thu gom với thị lệ 85% và 6 xã ngoại thị được thu gom với tỷ lệ 45%. Còn lại các xã khác của khu vực thành phố chưa được thu gom.

[Nguồn: Báo cáo tình hình quản lý CTR các huyện , TP, tỉnh Hà Nam năm 2014] Thành phần chất thải rắn sinh hoạt không cố định mà thay đổi theo thời gian, khí hậu… song vẫn có các thành phần cơ bản như đất đá xây dựng, giấy, kim loại, phế thải độc hại.

Mời bạn tham khảo thêm:

→  Danh mục tài liệu Luận văn Thạc Sĩ

1.2.2. Hiện trạng công tác phân loại, thu gom, vận chuyển CTRSH

Hiện tại việc thu gom CTR tại thành phố Phủ Lý chỉ thu gom đựoc trong nội thị 85%. Chất thải rắn thu gom từ xe đẩy tảy cẩu lên xe nén ép tới bãi chôn lấp xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm cách trung tâm thành phố 5km là bãi chôn lấp chưa hợp vệ sinh hoạt động từ năm 1998, diện tích 3,5ha. Trong cả một thời gian dài lượng CTR thải vẫn chưa được thu gom và phân loại. CTR sau khi được thu sẽ dược đưa tới bãi chôn lấp được đổ tự nhiên ko có lớp chống thấm hay các biện pháp bảo vệ, sau đó vài tuần được phun chất hóa chất.

  • Quy trình chung:

CTR trong dân cư được công nhân thu gom và vận chuyển bằng xe đẩy tay và chổi, sau đó về các điểm cẩu, trung bình 500m­1000m có một điểm cẩu, mỗi tuyến có 6­10 điểm cẩu. sau đó rác được cho lên xe nén ép tới bãi chôn lấp.

Rác tại các cơ quan, nhà hàng, trường học thu gom với tần số 2 ngày/lần, các hộ gia đình và chợ thu gom 1ngày/lần.

Hiện nay thành phố có 3 tuyến thu gom chính. Thời gian thu gom:

Buổi sáng từ 5h30 – 9h.

Buổi chiều tử 14h ­ 16h.(chỉ thu gom dọc các tuyến phố chính, chủ yếu là vệ sinh đưồng phố)

Buổi tối từ 19h30 – 21h.

  • Phương án lập tuyến xe vận chuyển:

Căn cứ tình hình thực tế Công ty đưa ra phương án lập tuyến xe vận chuyển có sự phối hợp với các đội, tổ và địa phương nơi công ty tổ chức thu gom rác.

Quy chế quản lý các dụng cụ thu chứa, quản lý cơ sở hạ tầng:

Các công nhân sẽ được Công ty phân các dụng cụ về các đội, các đội phân công công nhân bảo dưỡng vệ sinh các dụng cụ đó.

1.2.3. Thực trạng về công tác xử lý, tái chế và tái sử dụng CTRSH ( Luận văn: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

  • Hiện trạng xử lý

Bãi rác xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm cách trung tâm TP Phủ Lý khoảng 5km. Đây là bãi rác lộ thiên, có diện tích 11ha, nằm gọn trong một thung lũng, bao quanh là núi đá cao ngất, do Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Hà Nam tiếp nhận và đưa vào khai thác từ năm 1999. Hiện nay, Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị mới sử dụng hơn 3.5ha.

CTR sinh hoạt đổ vào bãi không được xử lý.Sau vài tuần được phun hóa chất, công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị chỉ dùng máy san gạt rác rồi vùi lấp đất lên.

Trời mưa kéo theo nước bẩn từ bãi rác gây ô nhiễm môi trường nước, đất. Vào những ngày nắng to, gió lớn, bụi rác, túi nilong bay khắp nơi cuốn theo mùi hôi thối từ bãi rác. 

  • Hiện trạng tái chế, tái sử dụng CTRSH

– Hoạt động tái chế, tái sử dụng CTR sinh hoạt trên địa bàn diễn ra tự phát không được tổ chức . Chưa động viên và phát huy hết tiềm năng của các thành phần kinh tế tham gia hoạt động giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải rắn. Khối lượng chất thải rắn tái chế, tái sử dụng còn nhỏ, do vậy lượng chất thải rắn phải chôn lấp lớn, gây ô nhiễm môi trường và chiếm nhiều diện tích đất. Người dân địa phương gần bãi chôn lấp thi nhau bới cào và nhặt rác tại bãi rác.

Rác thải có thể sử dụng được những người thu mua phế liệu thu gom bao gồm các chất thải như: nhựa, giấy, các thiết bị điện, nhôm đồng hoặc các kim loại khác có thể tái chế, tái sử dụng. Nguồn rác này có từ các hộ gia đình, cơ quan, công trường và từ bãi chôn lấp chất thải rắn.

1.2.4. Những hạn chế của công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH

  • Hiện trạng công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý CTR sinh hoạt tại thành phố Phủ Lý còn nhiều thiếu sót.
  • Nhận thức về bảo vệ môi trường của cộng đồng còn yếu, mọi người chưa có trách nhiệm trong giữ gìn vệ sinh chung. Hiện tượng vứt rác ra đường, phố chợ và ven hồ
  • Chưa triển khai các hình thức phân loại rác thải tại nguồn
  • Các hoạt động thu gom rác diễn ra vào buổi sáng sớm hoặc chiều muộn, là thời gian các gia đình ăn tối hoặc bận các công việc khác nên không mang rác ra để thu gom tỷ lệ thu gom còn thấp.
  • Còn để lại chất thải trên đường phố và vương vãi trên vỉa hè
  • Việc bố trí mộ số trạm trung chuyển, điểm cẩu rác chưa hợp lý.
  • Phối hợp giữa các cơ quan chức năng về CTR chưa thực sự tốt.
  • TP Phủ Lý chưa có bãi chôn lấp hợp vệ sinh. Tại bãi chôn lấp tạm thời lượng nước rỉ rác vào mùa mưa lớn gây ảnh hưởng đến đời sống nhân dân và ảnh hưởng môi trường xung
  • Ít có sự tham gia của cộng đồng vào công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn
  • Bãi chôn lấp chất thải rắn gần với khu dân cư và chưa được chôn lấp hợp vệ sinh nên ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống dân cư quanh bãi chôn lấp.
  • Không phải tất cả các hộ dân đều tự giác đóng phí thu gom rác, việc thu phí vệ sinh môi trường từ nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.

1.3. Thực trạng công tác tổ chức quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố Phủ Lý

1.3.1. Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố ( Luận văn: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Hà Nam chịu trách nhiệm việc quản lý CTR thành phố.

a.Chức năng, nhiệm vụ:

  • Thu gom vận chuyển và xử lý rác thải đô thị;
  • Quản lý, duy tu bảo dưỡng hệ thống thoát nước đô thị;
  • Quản lý, duy tu bảo dưỡng hệ thống đường giao thông nội thị và các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị;
  • Quản lý vườn hoa, công viên và cây xanh đô thị;
  • Thu gom vận chuyển và xử lý chất thải công nghiệp, thương mại, y tế và xây dựng;
  • Quản lý vận hành hệ thống đèn chiếu sáng, trang trí đô thị;
  • Quản lý dịch vụ quảng cáo đô thị; thực hiện các dịch vụ đô thị khác;
  • Quản lý nghĩa địa, xe tang và làm các dịch vụ tang lễ;
  • Thi công xây lắp các công trình: giao thông, thuỷ lợi, dân dụng, hạ tầng kỹ thuật đô thị, điện chiếu sáng, trang trí quảng cáo đô thị, vườn hoa công viên và cây xanh đô thị;
  • Thi công xây lắp các công trình điện gồm: đường dây và các trạm biến áp có cấp điện áp từ 0,4 đến 35Kv;
  • Thi công san nền cải tạo mặt bằng, kinh doanh nhà đất;
  • Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng;
  • Dịch vụ vệ sinh làm đẹp nhà cửa, công trình công cộng, cải tạo môi trường sinh thái;
  • Sản xuất kinh doanh phân vi sinh, các sản phẩm hàng hoá từ nguồn phế thải, tái chế, tái sử dụng phế thải

b.Tổng số CBCNV toàn công ty: ( Tính tại thời điểm T6/2010) là: 227 người. c.Trình độ văn hoá:

Đại học: 37 người, chiếm 16%

Trung cấp: 46 người, chiếm 20% Công nhân KT: 46 người chiếm 20% Lao động PT: 98 người, chiếm 44%.

  • Năng lực tài chính:

Tóm tắt tài sản trên cơ sở tình hình tài chính của đơn vị 3 năm gần đây như sau:

  • Trang thiết bị thu gom CTR.

Thùng chứa rác (0.8m3): 30 chiếc (đang sử dụng) Thùng chứa rác (4m3): 05 chiếc (đã cũ)

Xe thu gom rác đẩy tay (0.5m3): 135 chiếc (đang sử dụng)

Xe vận chuyển rác cẩu thùng loại 4m3: 02 chiếc (đang sử dụng) Xe ép rác loại 6m3: 05 chiếc ( đang sử dụng)

Xe ben vận chuyển bùn đất (2,5m): 02 (đang sử dụng)

1.3.2. Thực trạng công tác xã hội hóa trong quản lý chất thải rắn ( Luận văn: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

TP Phủ Lý chưa triển khai công tác xã hội hóa trong công tác vệ quản lý chất thải rắn: ngoài bộ phận vệ sinh môi trường đô thị là đơn vị duy nhất chịu trách nhiệm thu gom, vận chuyển và chôn lấp chất thải rắn, hiện nay chưa có tổ chức nào khác tham gia công tác phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn . Người phát sinh chất thải rắn chưa tự nguyện đóng phí cho nên viêc lấy thu bù đắp cho chi phí trong công tác quản lý chất thải rắn gặp nhiều khó khăn.

1.4. Đánh giá chung

Hiện nay, theo kết quả điều tra khảo sát toàn thành phố hàng ngày phát sinh khoảng   33.4 tấn / ngày chất thải rắn sinh hoạt đô thị và nông thôn. Lượng rác phát sinh lớn nhưng tỷ lệ thu gom thấp khu nội thị đạt 85% và khu vực ngoại thị có những khu tỷ lệ thu gom đạt 0% và những khu đạt 45%.

Bãi chôn lấp rác xã Liêm Châu không hợp vệ sinh và chưa được đầu tư hạ tầng, gần khu dân cư dẫn đến gây ô nhiễm cho các khu dân cư gần bãi chôn lấp.

Nhiều nơi chưa tổ chức được lực lượng thu gom rác, chưa bố trí được bãi tập kết rác và chưa đủ kinh phí để trả cho hợp đồng vận chuyển và xử lý rác. Nên hiện tượng rác thải đổ bừa bãi vẫn xảy ra, gây ô nhiễm môi trường và làm mất mĩ quan đô thị.

Khả năng phân loại chất thải rắn chưa triệt để, chưa phân loại được chất thải rắn vô cơ và chất thải rắn hữu cơ nên chưa kiểm soát được nguy cơ gây ô nhiễm.

Về vấn đề chất thải rắn tái chế diễn ra nhỏ lẻ không có quy hoạch hoặc định. Phân loại chất thải rắn tại nguồn chưa được triển khai dẫn đến chất lượng xử lý và chôn lấp thấp.

Về tài chính quản lý chất thải rắn, do chi phí quản lý chất thải rắn là chi phí công ích nên luôn được đảm bảo từ nguồn chi ngân sách nhà nước. Tuy nhiên do tỉnh Hà Nam còn gặp nhiều khó khăn nên chi phí dành cho hạng mục này còn thấp. Việc đầu tư cho công tác quản lý chất thải rắn như mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho công tác thu gom và xử lý chất thải, chi phí công nghệ xử lý chất thải rắn thông thường chưa đáp ứng được nhu cầu hiện nay.

Quy trình hướng dẫn thực hiện sự tham gia của cộng đồng dân cư với công tác quản lý CTRSH từ cấp chính quyền các phường đến cộng đồng dân cư còn thiếu chưa nâng cao được vai trò thực hiện giám sát. ( Luận văn: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt )

  • Hiệu quả các dự án về quản lý CTR đã và đang thực hiện

Năm 2012, UBND tỉnh Hà Nam đã triển khai dự án xây dựng khu xử lý chất thải rắn TP Phủ Lý tại xã Liêm Chung. Khu xử lý rác này có công xuất 80 tấn rác/ngày. Thời hạn sử dụng là 30 năm. Dự án được đầu tư bằng nguồn vốn ODA của Chính phủ Na Uy và vốn đối ứng với tổng nguồn vốn 15 triệu USD. Theo đề án, khu xử lý rác này được đưa vào khai thác trong năm 2015, riêng hạng mục Nhà máy xử lý phân vi sinh, bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh dự kiến đưa vào sử dụng cuối năm 2014. Tuy nhiên, hiện nay dự án đang gặp khó khăn về vốn đối ứng nên khó hoàn thành theo đúng tiến độ, có thể bị dừng rải ngân.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Luận văn: Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537