Trong tiến trình phát triển của xã hội, thanh niên luôn được Đảng, Nhà nước để đánh giá đúng vị trí, vai trò là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai. Chính vì vậy mà tác giả lựa chọn Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên làm làm luận văn Thạc sĩ của mình. Qua bài mẫu, tác giả càng khẳng định thêm về vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhận những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo ngay tại Đề tài: Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi”
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bác Hồ nói: “Thanh niên là chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên” [24, tr.84]. Thanh niên là đối tượng quần chúng đặc thù của Đảng, họ có những yêu cầu, những lợi ích chính đáng về mọi mặt trong đời sống xã hội như học tập, việc làm, vui chơi, giải trí lành mạnh, tình yêu, gia đình, hôn nhân… Bác dạy rằng: “Phải quan tâm đến đời sống, công tác và học tập của thanh niên” [26, tr.166] Bác cho đây là cách tốt nhất để củng cố mối quan hệ giữa các thanh niên với đông đảo quần chúng thanh niên. Vì vậy, Người căn dặn “cần đi sâu vào đời sống, hiểu rõ tâm lý của các tầng lớp thanh niên và giúp đỡ họ giải quyết vấn đề một cách thiết thực” [26, tr.290].
Tuy nhiên, trước những biến động phức tạp của tình hình chính trị thế giới, sự tác động nhiều mặt của cơ chế thị trường, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự biến đổi nhanh chóng của tình hình thanh niên, đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với công tác thanh niên nhằm chăm lo, bồi dưỡng và phát huy cao nhất vai trò, sức mạnh của thanh niên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Chính vì vậy quản lý nhà nước (QLNN) đối với công tác thanh niên chính là đòi hỏi của thanh niên, cũng là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN), trong đó thanh niên là đối tượng trung tâm trong chiến lược con người, vừa là mục tiêu, vừa là sản phẩm của xã hội mới, vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển theo con đường XHCN; là yêu cầu của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, trong đó có quá trình hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách, cơ chế quản lý đối với thanh niên. ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Trong giai đoạn hiện nay, QLNN đối với thanh niên có ý nghĩa quan trọng, không chỉ xuất phát từ đòi hỏi phát triển của thanh niên mà còn là yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá (CNH – HĐH) đất nước. Ngày 28 tháng 11 năm 2005, Quốc hội khoá XI đã chính thức thông qua Luật Thanh niên sau hơn 20 năm chuẩn bị. Đây là một bước tiến quan trọng trong QLNN đối với công tác thanh niên. Tuy nhiên, việc ban hành Luật Thanh niên không có nghĩa là quá trình QLNN đối với công tác thanh niên đã hoàn chỉnh và hoàn toàn thuận lợi, mà đây mới chỉ là bước đi đầu tiên, tạo ra một hành lang pháp lý quan trọng và cần thiết phục vụ trong quá trình quản lý. Hiện nay Luật Thanh niên vẫn chưa đi vào cuộc sống mà nguyên nhân chủ yếu là do việc hướng dẫn thi hành Luật Thanh niên còn chung chung, thiếu cụ thể về mặt trách nhiệm của QLNN về ngành, lĩnh vực. Vì vậy, những vấn đề cơ bản về công tác thanh niên và QLNN về thanh niên có thể vẫn còn khá xa lạ với một bộ phận thanh thiếu niên và các cơ quan quản lý.
Đối với tỉnh Quảng Ngãi, từ khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011-2020, chính quyền tỉnh đã quan tâm, chỉ đạo sát sao. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự phối hợp của các ngành, đoàn thể và toàn xã hội, QLNN về công tác thanh niên đã đạt được thành tựu đáng khích lệ, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc ban hành các cơ chế, chính sách bảo đảm việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của thanh niên, phát huy vai trò xung kích, sáng tạo, tiềm năng to lớn của thanh niên trong phát triển kinh tế – xã hội (KT – XH) và bảo vệ Tổ quốc; mở rộng quan hệ hợp tác về thanh niên với các nước, các tổ chức trên thế giới; góp phần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng thanh niên, bảo vệ thanh niên trước tác động của những tiêu cực và tệ nạn xã hội, sự tấn công của các thế lực thù địch; đề cao trách nhiệm của Nhà nước, các cấp, các ngành, gia đình, xã hội đối với thanh niên và công tác thanh niên.
Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn nhiều vấn đề còn phải suy nghĩ và quan tâm đó là: nhận thức của một bộ phận cán bộ công chức (CBCC) về vị trí, vai trò của thanh niên trong giai đoạn hiện nay còn hạn chế nên việc chỉ đạo điều hành ở một số nơi chưa được quan tâm đúng mức hay nói cách khác còn khoán trắng cho tổ chức Đoàn thanh niên, Hội Liên hiệp thanh niên các cấp; công tác phối hợp giữa các ngành liên quan đôi lúc, đôi nơi còn thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ và rõ ràng; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc hiện thực hoá Luật Thanh niên còn hạn chế; CBCC làm công tác thanh niên hiện nay kiêm nhiệm thuộc phòng Nội vụ các huyện, thành phố; thiếu các văn bản chính sách cụ thể trên từng ngành, từng lĩnh vực điều chỉnh trực tiếp đến đối tượng thanh niên, nếu có thì các chính sách hiện hành về công tác thanh niên chủ yếu lồng ghép trong cơ chế chính sách quản lý ngành, quản lý địa bàn.
Từ những phân tích như trên, cần thiết phải có sự nghiên cứu cụ thể về QLNN về công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay. Do đó, người viết chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn Thạc sĩ Quản lý công.
2. Tình hình nghiên cứu
Với vị trí, vai trò là người chủ hiện tại và tương lai của nước nhà, thanh niên Việt Nam chiếm gần 30% dân số, là lực lượng sung mãn về thể lực, giàu khát vọng, hoài bão, có nhu cầu, có khả năng tiếp thu nhanh những thành tựu khoa học công nghệ, kỹ thuật và quản lý hiện đại trên thế giới, năng động sáng tạo, chủ động học hỏi những cái mới, cái tiến bộ của nhân loại.
Do đó, tăng cường vai trò QLNN về thanh niên và công tác thanh niên của các cơ quan nhà nước là một vấn đề cần thiết hiện nay để phát huy hơn nữa vị thế, vai trò của thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo mục tiêu của Đảng. Đây là vấn đề được nhiều nhà lập pháp, các nhà quản lý và cả cán bộ Đoàn quan tâm.
Trong điều kiện giới hạn về thời gian và nguồn tài liệu tiếp cận, người viết nêu tổng quan một số đề tài được thực hiện có liên quan đến lĩnh vực luận văn nghiên cứu:
- Thạc sỹ Đoàn Văn Thái (2006): QLNN đối với công tác thanh niên trong giai đoạn hiện nay, NXB Thanh niên. Cuốn sách này chủ yếu nghiên cứu về QLNN đối với công tác thanh niên trong phạm vi cả nước, ở thời điểm cách đây nhiều năm, đặc biệt trước khi có Nghị quyết 25 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7, khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” và nhiều chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước đối với công tác thanh niên được ban hành. Do đó, nhiều đánh giá về thực trạng thanh niên và QLNN về công tác thanh niên cũng như đề ra những giải pháp không còn phù hợp với thực trạng hiện
- Một số mô hình, giải pháp công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi giai đoạn 2007 – 2010 (2010) của nhiều tác giả, NXB Thanh niên. Qua cuốn sách người viết có cái nhìn tổng quan về công tác thanh niên, QLNN đối với công tác thanh niên, các hoạt động cụ thể liên quan đến thanh niên cũng như công tác thanh niên, vai trò của thanh niên trong giai đoạn 2007 –
- Luận văn Thạc sĩ quản lý Hành chính công của tác giả Đào Ngọc Dung (2005) với đề tài “Sự tham gia của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh vào hoạt động QLNN về công tác thanh niên”. Luận văn viết trên phạm vi cả nước và khi Luật Thanh niên chưa có hiệu lực. Luận văn cung cấp cho người viết cái nhìn bao quát về mối quan hệ tương hỗ giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và chính quyền trong công tác QLNN về thanh niên.
- Luận văn Thạc sĩ quản lý Hành chính công của tác giả Lê Quang Quỳnh (2014) với đề tài “QLNN đối với công tác thanh niên tại tỉnh Quảng Nam”. Đề tài đã tập trung làm rõ những vấn đề như: khái niệm thanh niên, công tác thanh niên; vị trí, vai trò của thanh niên và công tác thanh niên, các vấn đề liên quan đến QLNN về công tác thanh niên. Đồng thời, luận văn nêu lên một số biện pháp tăng cường hiệu quả QLNN về công tác thanh niên. Tuy nhiên, luận văn nghiên cứu các vấn đề về công tác thanh niên, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Đây là vừa là khó khăn, vừa là thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu.
- Vũ Trọng Kim (1999): QLNN về công tác thanh niên trong thời kỳ mới, NXB Chính trị quốc Cuốn sách này tác giả đã đề cập tới sự QLNN đối với công tác thanh niên ở những tầm vĩ mô, với những giải pháp chủ yếu trong thực hiện các chính sách, các định hướng về hội nhập.
- Dương Tự Đam (2005): Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng về công tác thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Thanh niên. Cuốn sách này tác giả đã cung cấp một phần cơ sở lý luận, hệ thống các quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác thanh niên nói chung, xây dựng Đoàn thanh niên nói riêng. ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
- Lâm Quốc Tuấn và Phạm tất Thắng (đồng chủ biên): Đảng cộng sản việt Nam lãnh đạo công tác thanh niên trong giai đoạn hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, 2011. Tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong giai đoạn hiện
- Giáo sư Đặng Cảnh Khanh (2006): Xã hội học thanh niên, NXB chính trị quốc gia. Tác phẩm đã cung cấp những thông tin mới về vị trí, vai trò của thanh niên, văn hóa thanh niên, định hướng giá trị chuẩn mực cho thanh niên, phong trào thanh niên và công tác thanh niên. Những vấn đề được nghiên cứu và phân tích trong mối liên hệ, tương tác đa chiều với các yếu tố kinh tế – văn hóa – xã hội. Công trình đã gợi mở nhiều nội dung quan trọng để tiếp tục hoạch định các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác thanh niên, đặc biệt là xây dựng tổ chức Đoàn Thanh niên vững mạnh.
Các tư liệu, công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh về công tác thanh niên. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào phân tích một cách có hệ thống các quy định QLNN về công tác thanh niên, nhất là trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, để có cái nhìn toàn diện thực trạng QLNN về công tác thanh niên hiện nay, từ đó có những kiến nghị hoàn thiện việc QLNN về công tác thanh niên trong thời gian tới, phù hợp với xu thế phát triển của thanh niên, thực tại của đất nước và trong tiến trình hội nhập quốc tế. Vì vậy, việc triển khai nghiên cứu vấn đề này sẽ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc và không trùng lắp với các đề tài đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về QLNN đối với công tác thanh niên; luận văn phân tích, đánh giá thực trạng QLNN đối với công tác thanh niên của chính quyền tỉnh Quảng Ngãi, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với công tác thanh niên tại tỉnh Quảng Ngãi.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về QLNN đối với công tác thanh niên; luận văn phân tích, đánh giá thực trạng QLNN đối với công tác thanh niên của chính quyền tỉnh Quảng Ngãi, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với công tác thanh niên tại tỉnh Quảng Ngãi.
Làm rõ cơ sở lý luận, sự cần thiết, các khái niệm, nội dung QLNN và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả QLNN đối với công tác thanh niên.
Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN đối với công tác thanh niên của chính quyền tỉnh Quảng Ngãi.
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với công tác thanh niên tại tỉnh Quảng Ngãi.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
4.1. Đối tượng nghiên cứu
QLNN đối với công tác thanh niên, QLNN đối với hoạt động của các tổ chức thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: do QLNN đối với công tác thanh niên rất rộng; do vậy, tác giả giới hạn đối tượng nghiên cứu gồm 6 nội dung QLNN như ở khung lý thuyết ở chương 1 của luận văn này.
- Giới hạn về không gian nghiên cứu: Hoạt động QLNN đối với công tác thanh niên của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại tỉnh Quảng Ngãi.
- Giới hạn về thời gian nghiên cứu: Hoạt động QLNN đối với công tác thanh niên của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại tỉnh Quảng Ngãi, trong thời gian từ năm 2010 đến nay và định hướng giải pháp đến năm
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước; quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác thanh niên, chính sách, pháp luật của Nhà nước về QLNN đối với công tác thanh niên. Tác giả đã vận dụng thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng của Triết học Mác Lênin, với các quan điểm khách quan, khoa học để giải quyết các vấn đề đặt ra.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp phân tích tài liệu lý luận
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá
- Phương pháp thống kê, so sánh
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về lý luận
Luận văn đã hệ thống hóa và xác định được một số vấn đề lý luận cơ bản về QLNN đối với công tác thanh niên. Đặc biệt luận văn xây dựng một số khái niệm, khái niệm công cụ về QLNN đối với công tác thanh niên, những nội dung chủ yếu và những yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với thanh niên. Các kết quả này góp phần làm phong phú thêm lý luận về quản lý công về công tác này ở nước ta hiện nay.
6.2. Về thực tiễn
Trên cơ sở làm rõ thực trạng QLNN đối với công tác thanh niên, QLNN đối với hoạt động của các tổ chức thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; luận văn đưa ra những giải pháp, kết luận sẽ giúp cho các cơ quan QLNN tỉnh Quảng Ngãi xem xét, nghiên cứu và áp dụng trong công tác QLNN đối với thanh niên.
Đồng thời, luận văn là một tài liệu tốt để cho học viên, sinh viên chuyên ngành quản lý công và những nhà nghiên cứu thực tiễn quan tâm đến lĩnh vực này tham khảo và áp dụng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng chữ cái viết tắt, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3. Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Có thể bạn quan tâm:
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC THANH NIÊN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm quản lý và quản lý nhà nước
Thuật ngữ “quản lý” có nhiều nghĩa khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt “quản lý” được hiểu dưới hai khía cạnh: một là, trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; hai là, tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [37, tr.72]. Theo sách gốc và nghĩa từ Việt thông dụng quản lý được hiểu là “trông nom, sửa sang, sắp đặt công việc” [37, tr.95].
Như vậy, thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách diễn đạt khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận. Các nhà điều khiển học đưa ra quan niệm chung: “Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy định nhất định” [19, tr.83]. Tác giả cho rằng, “Quản lý là sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu thông qua các công cụ và phương pháp quản lý”.
Bản chất của hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiện thông qua hoạt động lập quy và hành chính. Hoạt động lập quy thể hiện ở việc cụ thể hóa luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội. Hành chính là hoạt động chỉ đạo, quản lý của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý. Trong hoạt động này, chủ thể quản lý áp dụng các biện pháp tổ chức – pháp lý bằng việc ban hành các văn bản pháp quy và văn bản cá biệt. Hoạt động lập quy và hành chính xuất phát từ đặc thù của hoạt động quản lý hành pháp nhằm thực hiện quyền lực nhà nước trong quản lý xã hội.
Mỗi Nhà nước luôn gắn với một thiết chế xã hội nhất định theo phạm vi không gian và thời gian, do vậy đặc tính QLNN sẽ thay đổi tùy theo bản chất của chế độ chính trị và trình độ phát triển KT – XH ở mỗi quốc gia trong từng thời kỳ. So với hoạt động của các chủ thể khác trong xã hội, QLNN có những điểm khác biệt cơ bản sau đây:
- Chủ thể QLNN là các cơ quan nhà nước và CBCC có thẩm quyền trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao. Những chủ thể này tham gia vào quá trình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước về lập pháp và hành pháp theo luật định.
- Đối tượng của QLNN bao gồm tất cả các tổ chức, cá nhân sinh sống và hoạt động sản xuất kinh tế, văn hóa, xã hội trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; các nguồn tài nguyên thiên nhiên và xã hội được khai thác sử dụng vào quá trình cung cấp các sản phẩm theo nhu cầu xã hội.
- Mục tiêu QLNN là bảo đảm, bảo vệ sự ổn định và phát triển xã hội bền vững, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do. hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
- QLNN có tính toàn diện, bao gồm các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và ngoại giao, v..
- QLNN mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật, chính sách, kế hoạch để quản lý xã hội.
Từ phân tích lý luận ở trên, tác giả đưa ra khái niệm: Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt và chủ yếu nhất, là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, các hành vi của cá nhân, tổ chức, có sức mạnh và hiệu lực do các cơ quan nhà nước, công chức trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ công, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững xã hội.
1.1.2. Khái niệm về thanh niên ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Thanh niên là người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành” [37, tr.8]. Khái niệm này xác định thanh niên dưới 02 góc độ: sinh học (độ tuổi) và tâm lý, giáo dục (sự trưởng thành), không phân biệt thành phần dân tộc, tôn giáo, vùng miền. Theo Luật Thanh niên “Thanh niên Việt Nam là những người đủ 16 đến 30 tuổi” [31, tr.1].
Dưới góc độ nhà nghiên cứu, tác giả Vũ Trọng Kim cho rằng “Thanh niên là một nhóm nhân khẩu – xã hội đặc thù, bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định, có quan hệ gắn bó mật thiết với mọi giai cấp, tầng lớp xã hội, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, có vai trò to lớn trong hiện tại và giữ vai trò quyết định sự phát triển trong tương lai của xã hội” [23, tr.14]. Khái niệm này tác giả đã chỉ ra vai trò của thanh niên đối với xã hội, khẳng định mặt xã hội của thanh niên khi có “quan hệ mật thiết với mọi giai cấp, tầng lớp xã hội”.
Dưới góc độ tâm lý học, thanh niên là một độ tuổi, ở giữa lứa tuổi trẻ em và tuổi trưởng thành. Ở giai đoạn này, sự phát triển về thể chất đạt đến đỉnh cao, các yếu tố tâm lý mới được định hình và ổn định một cách tương đối. Thanh niên có sự khác biệt lớn về nhiều mặt (tuổi, nơi sinh sống, nghề nghiệp…), các đặc điểm tâm lý của thanh niên rất phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, chúng có một tính rất chung, đó là tính trẻ. Tính trẻ được thể hiện ở sự năng động, nhiệt huyết, chấp nhận mạo hiểm, giàu ước mơ và hoài bão lớn, thích cái mới, thích giao lưu, học hỏi và mong muốn có những đóng góp cho xã hội để khẳng định bản thân.
Dưới góc độ chính trị, thanh niên được hiểu là lực lượng hậu bị của các đảng phái chính trị. Tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi công tác đoàn kết, tập hợp, giáo dục thanh niên đi theo lý tưởng của Đảng, là công tác có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Đảng ta xác định việc xây dựng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh – tổ chức đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của thanh niên, là đội dự bị tin cậy của Đảng là một trong các nhân tố đảm bảo sự phát triển của Đảng và cách mạng Việt Nam.
Từ phân tích lý luận ở trên, tác giả cho rằng: Thanh niên là một nhóm nhân khẩu, xã hội đặc thù, ở độ tuổi nhất định; có mặt trong tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội; có những đặc điểm đặc trưng chung về tâm lý, sinh lý, nhận thức xã hội và đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc trong cả hiện tại và tương lai.
Khác với một số đối tượng xã hội khác, thanh niên cần được hỗ trợ, định hướng, giáo dục để tự làm chủ bản thân, tham gia quản lý và đóng góp cho xã hội. Từ những khái niệm này có thể rút ra thanh niên Việt Nam có một số đặc điểm sau: ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Một là, thanh niên không phải là một giai cấp mà là một nhóm nhân khẩu, xã hội, một tầng lớp xã hội đặc thù; có độ tuổi nhất định từ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi; có những đặc điểm đặc trưng khác với các lứa tuổi khác về tâm lý, sinh lý; có tâm tư, nguyện vọng, có nhu cầu và hoài bão, khát vọng phù hợp với lứa tuổi và giới.
Hai là, thanh niên có mặt trong tất cả các giai cấp và tầng lớp xã hội: Thanh niên nông thôn, thanh niên đô thị, thanh niên công nhân, thanh niên công chức – viên chức, thanh niên các lực lượng vũ trang, thanh niên trường học (học sinh, sinh viên); có mặt trong tất cả 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam.
Ba là, thanh niên có mặt và giữ vai trò quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước.
1.1.3. Khái niệm về công tác thanh niên
Theo Từ điển Tiếng Việt, thì công tác là “công việc của nhà nước, của đoàn thể” hoặc “thực hiện công việc của nhà nước, của đoàn thể” [37, tr.458]. Suy ra, công tác thanh niên là công việc của nhà nước, của đoàn thể liên quan đến thanh niên hoặc thực hiện công việc của nhà nước, của đoàn thể liên quan đến thanh niên. Tuy nhiên, cách hiểu như vậy đúng nhưng chưa phản ánh đầy đủ tính mục đích của công tác thanh niên.
Tại Khoản 2, Điều 4 Nghị định 120/2007/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh niên (2005) giải thích: “Công tác thanh niên là những hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội nhằm giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên phấn đấu và trưởng thành, đồng thời phát huy vai trò xung kích, sức sáng tạo và tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Như vậy, công tác thanh niên là một bộ phận quan trọng trong công tác quần chúng của Đảng, bao gồm toàn bộ những hoạt động của Đảng, nhà nước và các chủ thể xã hội khác, trong đó có Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam và Hội Sinh viên Việt Nam nhằm tác động một cách đồng bộ để bồi dưỡng, tổ chức, động viên thanh niên phát huy mọi tiềm năng và thế mạnh, tạo điều kiện cho thanh niên phát triển, cống hiến, trưởng thành vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Công tác thanh niên là một loại hoạt động xã hội, trong đó có QLNN hàm chứa sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các chủ thể xã hội và thanh niên, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu phát triển của thanh niên và yêu cầu phát triển của xã hội. Công tác thanh niên đồng thời là quá trình tạo ra môi trường kinh tế, văn hoá, xã hội và là trường học cộng sản cho thanh niên học tập, rèn luyện và trưởng thành; là quá trình đưa thanh niên vào hoạt động thực tiễn cách mạng, đồng thời là quá trình định hướng giúp thanh niên tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách của mình.
Công tác thanh niên là một bộ phận quan trọng trong công tác quần chúng, bao gồm toàn bộ những hoạt động của Đảng, Nhà nước, Đoàn Thanh niên và xã hội nhằm giáo dục, bồi dưỡng và tạo điều kiện cho thanh niên phát triển, trưởng thành, phát huy mọi tiềm năng của lực lượng thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, công tác thanh niên có thể hiểu là sự tác động tổng hợp của các chủ thể xã hội vào một đối tượng cụ thể là thanh niên theo những mục tiêu xác định của Đảng cầm quyền; công tác thanh niên là hoạt động có mục đích của tổ chức tác động vào đối tượng thanh niên nhằm giáo dục, bồi dưỡng, định hướng và phát huy thanh niên, đáp ứng những đòi hỏi vốn có của thanh niên và yêu cầu phát triển của xã hội.
Từ phân tích lý luận ở trên, tác giả đưa ra khái niệm: Công tác thanh niên là một bộ phận trong công tác quần chúng bao gồm toàn bộ những hoạt động của Đảng, Nhà nước, Đoàn thanh niên và xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng vì mục tiêu giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện và môi trường cho thanh niên phát triển, trưởng thành và phát huy lực lượng thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Công tác thanh niên có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, công tác thanh niên mang tính chính trị.
Công tác thanh niên là công tác thanh vận của Đảng – công tác vận động, tập hợp và đoàn kết thanh niên đi theo Đảng, phấn đấu vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu: “Xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Ở Việt Nam, công tác thanh niên là hoạt động chính trị – xã hội, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng luôn coi công tác thanh niên là một bộ phận trong hoạt động của mình; là quá trình giáo dục, thuyết phục và vận động thanh niên tham gia thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng; Đảng luôn đề cao vai trò, vị trí của thanh niên, xác định thanh niên là lực lượng xung kích cách mạng, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng. Công tác thanh niên bao gồm toàn bộ các hoạt động của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội.
Thứ hai, công tác thanh niên là hoạt động tự giác, có nhiều chủ thể và nội dung hoạt động phong phú.
Do đặc thù của hệ thống chính trị ở Việt Nam, Đảng Cộng sản lãnh đạo công tác thanh niên, cũng có nghĩa là lãnh đạo các chủ thể xã hội tiến hành công tác thanh niên. Đặt công tác thanh niên dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước càng khẳng định, công tác thanh niên là một loại hoạt động tự giác, có mục đích chính trị và mục tiêu xã hội rõ ràng, không phải ai, tổ chức nào muốn làm gì và làm như thế nào đối với thanh niên cũng được. Để đạt được mục tiêu của công tác thanh niên, mỗi chủ thể khác nhau đều xác định cho mình những nội dung hoạt động cụ thể, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình và tuân thủ đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các cơ quan nhà nước tiến hành công tác thanh niên thông qua việc hoạch định, ban hành, tổ chức thực hiện và giám sát việc thực hiện các chính sách, pháp luật về thanh niên; tổ chức các nghiên cứu cơ bản về thanh niên; xây dựng bộ máy tổ chức và cán bộ làm công tác thanh niên; đầu tư ngân sách cho công tác thanh niên; điều phối và phối hợp với các tổ chức khác trong công tác thanh niên. Các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp và các tổ chức hợp pháp khác tiến hành công tác thanh niên thông qua các hoạt động tuyên truyền, vận động thanh niên thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia quá trình xây dựng và thực hiện các chính sách, luật pháp thanh niên, tham gia giáo dục thanh niên về đức, trí, thể, mỹ, góp phần định hướng, hỗ trợ thanh niên lập thân, lập nghiệp, trở thành những công dân tốt. Do đó, công tác thanh niên đồng thời là quá trình tạo ra môi trường kinh tế, văn hoá, xã hội và là trường học cộng sản cho thanh niên học tập, rèn luyện và trưởng thành; là quá trình đưa thanh niên vào hoạt động thực tiễn cách mạng, đồng thời là quá trình định hướng giúp thanh niên tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách của mình.
1.1.4. Khái niệm quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
QLNN về công tác thanh niên là hoạt động điều hành của nhà nước về sự phối hợp tất cả các cơ quan, bộ máy hoặc đoàn thể có liên quan đến công tác thanh niên; đặt công tác thanh niên trong sự thống nhất có sự quan tâm toàn diện và sự chi phối pháp luật của Nhà nước [13, tr 105-106].
Theo TS Nguyễn Vĩnh Oánh thì “QLNN về công tác thanh niên là hoạt động lập pháp và lập quy của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để chế định ra những quy định về công tác thanh niên; hoạt động QLNN trong phạm vi những công việc về hành chính của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước có liên quan đến thanh niên; là hoạt động điều hành của Nhà nước về sự phối hợp tất cả cơ quan,bộ máy hoặc đoàn thể có liên quan đến công tác thanh niên,đặt công tác thanh niên trong sự thống nhất có sự quan tâm toàn diện của Nhà nước…’’ [30, tr.143]. Theo tác giả Vũ Trọng Kim thì “QLNN về công tác thanh niên là hoạt động xây dựng thể chế có liên quan đến thanh niên, là sự quản lý của các cơ quan Nhà nước theo các chế định pháp luật, chính sách để điều chỉnh, phối hợp thống nhất việc triển khai nhiệm vụ công tác thanh niên của các tổ chức, lực lượng trong xã hội nhằm đạt được các mục đích của Đảng về công tác giáo dục, bồi dưỡng và phát huy lực lượng thanh niên” [23, tr.87-88].
Các khái niệm này về căn bản đúng, tuy nhiên theo tác giả chưa phản ảnh được đầy đủ tính đặc thù của hệ thống chính trị ở Việt Nam, đó là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Trong vế “nhân dân làm chủ” bao hàm cả sự tham gia QLNN và xã hội của nhân dân một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức đại diện.
QLNN đối với công tác thanh niên là một dạng quản lý xã hội tổng hợp, mang tính quyền lực nhà nước đối với một đối tượng đặc trưng là thanh niên; là hoạt động lập pháp, lập quy của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm đề ra các chính sách, pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, các hoạt động của tổ chức và hành vi của công dân liên quan đến thanh niên; là hoạt động điều hành của Nhà nước trong việc tổ chức và phối hợp các cơ quan, các tổ chức trong công tác thanh niên. QLNN đối với công tác thanh niên bao gồm cả các hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cơ quan, tổ chức trong công tác thanh niên, đồng thời bằng các chính sách, luật pháp, Nhà nước huy động mọi tổ chức, mọi nguồn lực xã hội tham gia thực hiện các nhiệm vụ công tác thanh niên.
Trong thực tế luôn tồn tại vấn đề QLNN đối với công tác thanh niên hay QLNN đối với thanh niên. Về căn bản, đây là hai khái niệm có hai nội hàm khác nhau. QLNN đối với thanh niên và đối với công tác thanh niên cùng có chung chủ thể quản lý là nhà nước, nhưng khác nhau về đối tượng quản lý và phương pháp quản lý. Điều đó được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Khi nói đến QLNN đối với thanh niên là nói đến QLNN thông qua hệ thống luật pháp, chính sách tác động trực tiếp tới những thanh niên cụ thể với tư cách là những công dân. Những chính sách này thực tế đan xen trong chính sách chung của Nhà nước đối với công dân. Còn khi nói đến QLNN đối với công tác thanh niên là quản lý của nhà nước thông qua hệ thống luật pháp, chính sách, cơ chế, tổ chức bộ máy tác động tới thanh niên với tư cách là một lực lượng xã hội là chính, được tập hợp trong các tổ chức và thông qua tổ chức và các chủ thể xã hội có vai trò trong hoạt động vận động, bồi dưỡng, giáo dục và phát huy thanh niên.
Trong QLNN đối với thanh niên, đối tượng quản lý là thanh niên, còn trong QLNN đối với công tác thanh niên, đối tượng quản lý là những tổ chức, những cơ chế, chính sách, quan hệ phối hợp trong công tác thanh niên. QLNN đối với thanh niên là quản lý trực tiếp của nhà nước đối với thanh niên, còn QLNN đối với công tác thanh niên là quản lý của nhà nước đối với thanh niên một cách gián tiếp thông qua tổ chức hay các chủ thể xã hội tác động tới thanh niên. ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Về phương pháp quản lý, nếu trong QLNN đối với thanh niên, phương pháp chính là mệnh lệnh mang tính quyền lực bắt buộc của chủ thể quản lý đối với khách thể của quản lý là thanh niên như những công dân, thì trong QLNN đối với công tác thanh niên, bên cạnh phương pháp mệnh lệnh, chủ thể quản lý hoặc là trực tiếp, hoặc là thông qua các chủ thể xã hội khác sẽ chú trọng đến phương pháp vận động, thuyết phục, tư vấn, hỗ trợ, giúp cho thanh niên hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình và tự giác tuân thủ pháp luật và các chính sách liên quan. Bên cạnh đó, chủ thể quản lý còn thông qua các cơ chế, chính sách để điều phối và huy động các chủ thể xã hội khác tham gia vào quá trình vận động, giáo dục, định hướng, hướng dẫn và hỗ trợ thanh niên trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Từ những phân tích ở trên, tác giả đưa ra khái niệm: Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên là sự tác động qua lại của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với thanh niên thông qua việc ban hành pháp luật, chính sách và tổ chức thực hiện chúng nhằm giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên phấn đấu và trưởng thành;đồng thời phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo và tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
1.2. Vai trò của thanh niên và sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên
1.2.1. Vai trò của thanh niên
Thanh niên trong các giai đoạn lịch sử luôn giữ vai trò quan trọng, luôn thể hiện tinh thần xả thân trong các cuộc chiến tranh giữ nước và là lực lượng quan trọng trong thời kỳ kiến thiết đất nước. Thanh niên được xem là chủ hiện tại và tương lai của đất nước, là đội quân xung kích cách mạng trong sự nghiệp CNH – HĐH. Vai trò của thanh niên được thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:
Một là, thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc, là lực lượng xung kích.
Thanh niên là một bộ phận rất quan trọng của xã hội, giữ vị trí và vai trò hàng đầu trong dựng nước và giữ nước. C. Mác, Ph. Ăngghen và V. I. Lênin đều coi thanh niên là lực lượng cách mạng hùng hậu, có vai trò quan trọng trong cách mạng và xem xét vấn đề thanh niên luôn gắn bó với giai cấp công nhân và đảng tiên phong.
Kế thừa những di sản tư tưởng của C. Mác, Ph. Ăngghen và V. I. Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển sáng tạo các luận điểm mác-xít về vai trò thanh niên, phong trào thanh niên và xây dựng Đoàn TNCS ở Việt Nam. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh tương lai của đất nước, của dân tộc nằm ngay trong tay các thế hệ thanh niên. Ngay từ những buổi ban đầu của cách mạng nước ta, Bác đã rất chú trọng đến vai trò của thanh niên, Bác Hồ coi “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc” [27, tr.398]. Người khẳng định, thanh niên là lực lượng cách mạng hùng hậu, bộ phận quan trọng của dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh. Khi đất nước ta còn nằm dưới ách thống trị của thực dân, phong kiến, ngay từ năm 1925 trong Thư gửi thanh niên Việt Nam Người đã chỉ rõ, đất nước sẽ không còn nếu thanh niên không được “hồi sinh”, thức tỉnh. Để hồi sinh bộ phận quan trọng này của dân tộc, Bác Hồ đã mở trường huấn luyện chính trị, xuất bản sách báo, sáng lập ra Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội để thức tỉnh một thế hệ thanh niên yêu nước trong những thập niên đầu thế kỷ XX. ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Trong chiến tranh, thanh niên có thể “dời núi và lấp biển”, là đại biểu cho tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta. Trong công cuộc xây dựng đất nước, thanh niên là lực lượng tiên phong đi đầu trong mọi phong trào thi đua yêu nước. Thanh niên có khả năng tiếp thu nhanh kiến thức, học kỹ thuật – chìa khóa để làm cho dân giàu, nước mạnh.
Hai là, thanh niên là người kết nối quá khứ với tương lai.
“Thanh niên là người tiếp sức mạnh cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai” [25, tr.315]. Thanh niên là cầu nối giữa thế hệ đi trước và thế hệ mới lớn, đảm bảo tính kế thừa, thanh niên cũng là người tiếp sức cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai.
Ba là, thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà.
Thanh niên là một bộ phận rất quan trọng của xã hội, tiêu biểu cho sức mạnh của dân tộc. Trong lịch sử dân tộc ta đã từng có nhiều lãnh tụ thiên tài, anh hùng lỗi lạc, lập nhiều chiến công xuất sắc lúc đang còn ở tuổi thanh niên. Để có thể đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp, hóa hiện đại hóa, thời kỳ kinh tế tri thức, thời kỳ hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng và phát triển KT – XH của đất nước, thanh niên hiện nay cần có 3 nhóm phẩm chất là: Trình độ chuyên môn và tay nghề cao, đạo đức và lối sống trong sáng, sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần cường tráng mới. Và muốn đạt được tiêu chí và phẩm chất trên đòi hỏi bản thân thanh niên phải tự học, tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự tin, tự chịu trách nhiệm để trở thành nguồn lao động chất lượng cao, trở thành người thừa kế trung thành sự nghiệp của Đảng và dân tộc:
Thứ nhất, thanh niên phải tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, bồi đắp lý tưởng cách mạng trong sáng. Bối cảnh trong nước và quốc tế đang tác động lên tất cả các đối tượng thanh niên, tác động một cách toàn diện lên tư tưởng, tình cảm, lối sống, nhu cầu của từng thanh niên. Do đó, thanh niên phải rèn luyện để có lập trường tư tưởng vững vàng, có lòng yêu nước, có niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng và lối sống lành mạnh; tích cực tham gia vào các cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh chống lại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và các tiêu cực, tệ nạn xã hội, tham nhũng…
Thứ hai, thanh niên cần tích cực học tập và tự học tập để nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học, kỹ thuật và tay nghề. Trong thời kỳ phát triển KT – XH trong nước và hội nhập quốc tế, thanh niên cần nâng cao trình độ học vấn, tay nghề khả năng thực tế, kỹ năng lao động để thích ứng với thị trường lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế. Thanh niên phải tích cực tham gia xây dựng xã hội học tập với phương châm: người thanh niên nào cũng phải học ở đâu, làm gì, thời gian nào cũng phải học, người thanh niên nào cũng phải xác định tham gia họ tập thường xuyên, suốt đời là quyền và nghĩa vụ của bản thân. ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Thứ ba, thanh niên phải tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Thanh niên phải tích cực tham gia bảo vệ và xây dựng hệ thống chính trị ở các cấp vững mạnh và tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc. Các đối tượng thanh niên tự nguyện, tự giác tham gia vào các hội của thanh niên, phấn đấu trở thành đoàn viên, đảng viên của Đảng và hội viên của các quần chúng nhân dân.
Thứ tư, thanh niên phải tích cực tham gia vào việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh và môi trường sinh thái trong lành, sạch đẹp. Tích cực tham gia phòng chống ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.
Thứ năm, thanh niên phải xung kích đi đầu trong sự nghiệp phát triển KT – XH, bảo đảm quốc phòng an ninh. Tích cực tham gia các chương trình, dự án của địa phương; tự nguyện, tự giác tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự, tham gia các hoạt động bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội.
Thứ sáu, thanh niên cần chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế; tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu; tham gia vào công tác ngoại giao nhân dân để nâng tầm ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế; chủ động và tham gia có hiệu quả vào giải quyết các vấn đề toàn cầu như: giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, hạn chế sự bùng nổ dân số, phòng ngừa và đẩy lùi các dịch bệnh hiểm nghèo…
1.2.2. Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên
Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc. Từ những ngày đầu cách mạng, Ðảng và Bác Hồ đã đề cao vai trò, vị trí quan trọng của thanh niên. Trong mấy chục năm qua, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác thanh niên. Trong các văn bản này, Đảng ta không chỉ khẳng định vai trò to lớn của thanh niên, mà còn khẳng định sự cần thiết phải tăng cường QLNN đối với thanh niên, ban hành Luật Thanh niên, tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi để các cấp, các ngành và mỗi công dân chăm lo bồi dưỡng, giáo dục thanh niên, phát huy những tiềm năng to lớn của thanh niên.
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thanh niên có nhiều chuyển biến, tiếp tục phát triển về số lượng, năng lực sáng tạo, trình độ học vấn có bước trưởng thành mới; thanh niên tiếp tục có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp chung của đất nước. Những ưu điểm này phải tiếp tục phát huy để đáp tăng yêu cầu của thời kỳ CNH – HĐH đất nước và theo đó, công tác thanh niên của Đảng và nhà nước cũng phải được đổi mới và nâng cao chất lượng. Mặt khác, bước vào thời kỳ phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, bước vào thời kỳ hội nhập trực tiếp, ngày càng sâu rộng về kinh tế, về giao lưu, hợp tác quốc tế nên rất nhiều lĩnh vực, bên cạnh mặt tích cực là chính, thì mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, của toàn cầu hoá cũng tác động vào thanh niên nhanh nhất, nhiều nhất, với tư cách như là bộ phận nhạy cảm nhất trong cộng đồng dân tộc. Cho nên, về mặt tư tưởng, tình cảm, nhận thức, hoạt động xã hội, bên cạnh những mặt rất tích cực, những thành tựu quan trọng mà thanh niên đóng góp, trong đời sống của cộng đồng thanh niên cũng xuất hiện nhiều vấn đề toàn xã hội phải quan tâm, trước hết Đảng và Nhà nước phải quan tâm. Nhiều vấn đề về công tác thanh niên đang đặt ra cần phải xem xét thấu đáo và xử lý kịp thời: ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Công tác thanh niên không chỉ mang tính dân tộc, quốc gia mà hiện nay nó còn mang tính khu vực và quốc tế sâu sắc do sự lan tỏa và ảnh hưởng của hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, đòi hỏi phải có chiến lược cụ thể hơn đối với công tác thanh niên trong thời gian tới để định hướng cho sự hội nhập. Thực tiễn cho thấy, định hướng chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Đảng trong thời gian qua trong công tác thanh niên chưa được thực hiện tốt, thanh niên Việt Nam còn bỡ ngỡ, bị động và chưa đủ bản lĩnh để hội nhập.
Hiện nay, thanh niên đã tham gia hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và an ninh – quốc phòng. Trong nhiều lĩnh vực, thanh niên giữ vai trò chủ chốt. Điều này cho thấy, vai trò, nhiệm vụ của thanh niên đã ngày càng được tăng cường, song công tác thanh niên lại chưa đáp ứng được. Thực tế hiện nay có rất nhiều tổ chức xã hội mới thành lập có sự tham gia của thanh thiếu niên nhưng lại thiếu vắng hẳn sự có mặt của tổ chức thanh niên.
Nhu cầu hội nhập quốc tế để được học hỏi, trao đổi nâng cao trình độ, năng lực của thanh niên là chính đáng, nhưng việc hội nhập, giao lưu, học hỏi của thanh niên đang còn thiếu sự định hướng, quản lý của các cơ quan, tổ chức. Điều này làm cho những ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài rất dễ nảy sinh và lây lan trong thanh niên Việt Nam, đặc biệt là về đạo đức, lối sống. Đây là một thách thức không nhỏ đối với việc đào tạo và rèn luyện thanh thiếu niên.
Đội ngũ cán bộ, bộ máy làm công tác thanh niên có xu hướng công chức hóa, hành chính hóa và hầu hết là kiêm nhiệm, rất hiếm cán bộ chuyên trách hiểu và có chuyên môn về công tác thanh niên. Thiếu cán bộ được đào tạo, rèn luyện, chuẩn hóa chuyên về công tác thanh niên là một thách thức lớn, khó khăn lớn đối với công tác thanh niên trong bối cảnh hội nhập.
Điều kiện vật chất phục vụ công tác thanh niên bị thu hẹp trong mối tương quan với các mặt công tác khác, đặc biệt là các hoạt động của cơ quan nhà nước.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, việc di cư tìm kiếm việc làm diễn ra phổ biến, nhiều nơi có tình trạng “chi đoàn không có thanh niên”, do thanh niên thường xuyên di chuyển nên không có điều kiện để tham gia hoạt động trong các tổ chức của mình. Mặt khác, công tác thanh niên hiện cũng chưa “phủ khắp” các đối tượng, vùng miền, thành phần kinh tế.
QLNN đối với công tác thanh niên là một dạng quản lý xã hội đặc thù, mang tính quyền lực nhà nước đối với một đối tượng đặc biệt là thanh niên, mà những vấn đề của nó liên quan trực tiếp đến tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, tăng cường QLNN đối với công tác thanh niên là sự cần thiết khách quan.
1.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Đảng, Nhà nước xác định QLNN về công tác thanh niên là nội dung quan trọng, do vậy ở các bộ, ngành Trung ương và Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố cần có bộ phận chuyên trách theo dõi công tác thanh niên để làm chức năng QLNN về thanh niên tại các lĩnh vực, địa bàn và theo sự phân công, phân cấp của Chính phủ. Thành lập Hội đồng công tác thanh niên ở tỉnh, thành phố làm nhiệm vụ tham mưu cho chủ tịch UBND cấp tỉnh thực hiện QLNN về công tác thanh niên ở địa phương. Giao cho Chính phủ cụ thể hoá và tổ chức thực hiện mô hình tổ chức này.
Sau khi tổng hợp lý luận về QLNN về công tác thanh niên, tác giả đưa ra một số nội dung QLNN đối với công tác thanh niên bao gồm:
1.3.1. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách, chương trình phát triển thanh niên và công tác thanh niên trong các lĩnh vực
Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng đối với thanh niên và các mục tiêu của Đảng đề ra trong Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách, chương trình phát triển thanh niên và công tác thanh niên là quá trình thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng đã đề ra, đồng thời quy định trách nhiệm, nhiệm vụ của các cấp, các ngành trong hoạt động QLNN về công tác thanh niên. Cụ thể, như: Quốc hội ban hành các văn bản luật liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên quyết định ngân sách hằng năm cho công tác thanh niên, đồng thời giám sát việc thực hiện chính sách, luật pháp liên quan đến thanh niên ở các cấp; Chính phủ ban hành, chỉ đạo thực hiện và giám sát việc thực hiện các chính sách liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên; các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách thanh niên liên quan đến ngành, lĩnh vực mình; UBND các cấp thực hiện QLNN đối với thanh niên trong địa phương mình cụ thể hóa các chính sách thanh niên phù hợp với đặc điểm, tình hình của địa phương để trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. UBND các cấp có trách nhiệm phối hợp với Đoàn Thanh niên và chỉ đạo các ngành chức năng trực thuộc phối hợp với Đoàn Thanh niên cùng cấp trong việc triển khai các chương trình công tác thanh niên.
1.3.2. Đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác thanh niên. ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Thanh niên không phải là một giai cấp xã hội mà là một tầng lớp xã hội đặc thù, có những tâm sinh lý khác nhau theo từng lứa tuổi, thanh niên có mặt ở hầu hết các giai cấp, tầng lớp của xã hội và tất cả các dân tộc trên đất nước ta. Chính vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác thanh niên là nội dung hết sức quan trọng. Để có được những chủ trương, chính sách phù hợp với từng đối tượng thanh niên đòi hỏi đội ngũ công chức làm công tác thanh niên phải thật sự am hiểu tường tận các vấn đề của thanh niên. Do vậy, đội ngũ công chức làm công tác thanh niên phải được đào tạo, bồi dưỡng một cách chuyên sâu, kỹ lưỡng về công tác thanh niên, phải thường xuyên nắm bắt những vấn đề thay đổi của thanh niên. Đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác thanh niên là việc làm thường xuyên và mang tính lâu dài.
1.3.3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác thanh niên
Trong bộ máy QLNN về công tác thanh niên thì Bộ Nội vụ là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất QLNN về công tác thanh niên và Bộ Nội vụ được thành lập Vụ Công tác thanh niên và Sở Nội vụ được thành lập Phòng Công tác thanh niên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ QLNN về công tác thanh niên trên địa bàn. Trong Chiến lược phát triển thanh niên giai đoạn 2011 – 2020 của Chính phủ đã xác định cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện bộ máy QLNN về thanh niên đủ năng lực để tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, trong đó hoàn thiện thể chế QLNN về công tác thanh niên; kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác thanh niên, xây dựng và phát triển đội ngũ CBCC làm công tác thanh niên, đội ngũ cán bộ đoàn các cấp có phẩm chất đạo đức, trình độ và năng lực ngang tầm với nhiệm vụ được giao.
Do đặc điểm của hệ thống chính trị cũng như do đặc thù, tầm quan trọng đặc biệt của đối tượng thanh niên và công tác thanh niên nên Nhà nước không thể thực hiện chức năng quản lý thanh niên một cách độc lập mà phải tiến hành trong sự phối hợp chặt chẽ với các chủ thể xã hội khác, đặc biệt là với các tổ chức thanh niên, các đoàn thể nhân dân dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam.
1.3.4. Phối hợp các bộ, ngành địa phương về quản lý nhà nước đối với thanh niên
Bên cạnh việc tiến hành quản lý trực tiếp, Nhà nước còn xác lập cơ chế phối hợp đối với công tác thanh niên. Cụ thể:
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và các tổ chức thanh niên do Đoàn Thanh niên làm nòng cốt chính trị trong công tác thanh niên như: tham gia xây dựng chính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên; vận động và tổ chức cho thanh niên tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; cử đại diện tham gia Hội đồng nhân dân các cấp, tham dự các kỳ họp của các cơ quan lãnh đạo nhà nước bàn về thanh niên và công tác thanh niên; tham gia giám sát thực hiện các chủ trương, chính sách thanh niên…
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong công tác thanh niên như: tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện và giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên; xây dựng và thực hiện chương trình công tác thanh niên phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình; vận động thanh niên thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước…
Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam – cơ quan tư vấn giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, phối hợp giải quyết những vấn đề liên ngành liên quan đến thanh niên.
1.3.5. Quản lý hoạt động hợp tác quốc tế về công tác thanh niên ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Nhà nước tạo cơ chế cho thanh niên được tham gia vào các hoạt động quốc tế thông qua các cơ quan QLNN có thẩm quyền và tổ chức thanh niên, trong đó Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức của thanh niên, thực hiện nhiều hoạt động quốc tế về thanh niên. Nội dung QLNN trong hợp tác quốc tế về công tác thanh niên gồm những nội dung sau:
Bồi dưỡng và nâng cao nhận thức của thanh niên về công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước theo tinh thần độc lập, tự chủ, hợp tác, phát triển, đa phương hóa, góp phần bảo vệ hòa bình, tiến bộ xã hội.
Đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế về QLNN đối với công tác thanh niên, trao đổi kinh nghiệm xây dựng, thực hiện chính sách đối với thanh niên. Tranh thủ nguồn lực của các tổ chức quốc tế cho phát triển thanh niên và công tác thanh niên.
Tạo điều kiện để Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, các tổ chức thanh niên do Đoàn Thanh niên làm nòng cốt mở rộng quan hệ giao lưu, hợp tác với các tổ chức thanh niên trong khu vực và thế giới. Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn trong công tác thông tin, tuyên truyền vận động thanh niên và người Việt Nam ở nước ngoài hướng về xây dựng đất nước.
Tạo điều kiện để học sinh, sinh viên và người lao động Việt Nam ở nước ngoài trong độ tuổi thanh niên thường xuyên được học tập, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước.
1.3.6. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên.
Cụ thể hoá về trách nhiệm thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về thanh niên và công tác thanh niên không chỉ ở một cấp và một cơ quan cụ thể mà được thực hiện ở tất cả các cơ quan nhà nước có thực hiện các nội dung liên quan đến công tác QLNN về thanh niên và theo hệ thống từ trung ương đến địa phương.
Nội dung của công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong việc thưc hiện chính sách pháp luật về công tác thanh niên tập trung vào các vấn đề sau:
Nghiên cứu, đề xuất với cơ quan có thẩm quyền ở trung ương phương hướng giải quyết những vấn đề quan trọng, liên ngành đối với thanh niên và công tác thanh niên; phối hợp với các các cơ quan, tổ chức liên quan hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, ngành và địa phương triển khai thực hiện pháp luật, chính sách thanh niên và công tác thanh niên.
Cơ quan hành chính nhà nước cấp trên kiểm tra cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới trong việc bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của thanh niên; kiểm tra, giám sát các chương trình, dự án phát triển KT – XH do thanh niên đảm nhiệm; kiểm tra sự phối hợp thực hiện nhiệm vụ QLNN về công tác thanh niên với tổ chức Đoàn thanh niên các cấp.
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên
1.4.1. Yếu tố khách quan ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
- Môi trường chính trị
Nhà nước là bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống chính trị của một quốc gia với vị trí được xác định thông qua mối quan hệ với chính đảng và xã hội. Vì vậy, hoạt động QLNN là trục chính cho hệ thống chính trị của mỗi quốc gia. Môi trường chính trị trong nước và quốc tế tác động và xác định trạng thái tồn tại của hệ thống chính trị như là cái toàn thể, thì đồng thời cũng ảnh hưởng đến nhà nước và hoạt động quản lý của nó như là cái bộ phận. Hơn thế nữa, môi trường chính trị còn xác lập vị thế của công dân – đối tượng chính của hoạt động QLNN thông qua các quyền hiến định và truyền thống văn hóa chính trị của mỗi quốc gia. Đây là những yếu tố rất quan trọng có thể hạn chế hoặc tăng cường hiệu lực hoạt động QLNN.
Ở khía cạnh phân chia phạm vi của hoạt động QLNN thành hai khu vực đối nội và đối ngoại thì rõ ràng, môi trường chính trị trong nước sẽ đặt ra những vấn đề cho quản lý đối nội và môi trường chính trị quốc tế sẽ đặt ra các vấn đề trong hoạt động đối ngoại của nhà nước. Sự phức tạp hay đơn giản, ổn định hay bất ổn định của môi trường chính trị trong nước và quốc tế đều ảnh hưởng to lớn đến hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý của nhà nước.
Như vậy, môi trường chính trị trong nước và quốc tế có ảnh hưởng đến hoạt động QLNN nói chung và QLNN về công tác thanh niên nói riêng trên tất cả các phương diện, từ chủ thể quản lý – nhà nước đến đối tượng quản lý – công tác thanh niên, từ phương thức quản lý – quyền lực nhà nước đến mục tiêu quản lý – tăng cường hiệu lực, hiệu quả QLNN về công tác thanh niên, tạo điều kiện cho thanh niên phát huy vai trò và khả năng của mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.
- Yếu tố kinh tế
Sự phát triển hay tụt hậu về kinh tế của một quốc gia quyết định sự độc lập hay phụ thuộc (ít hoặc nhiều) của quốc gia đó vào một (hoặc nhiều) quốc gia khác. Điều đó sẽ dẫn đến hệ quả tất nhiên là việc ban hành các chính sách, pháp luật đến đối tượng quản lý của nhà nước sẽ bị ảnh hưởng (tốt hoặc xấu), trong đó có QLNN về công tác thanh niên.
Hiện nay đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình đó đã, đang đưa lại cho đất nước ta những thời cơ xen lẫn những thách thức lớn:
Những thời cơ: Thứ nhất, trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam có nhiều cơ hội để mở rộng và tiếp cận thị trường hàng hóa, dịch vụ trên thế giới, có điều kiện để mở rộng thị trường xuất nhập khẩu ra ngoài biên giới quốc gia. Thứ hai, đẩy mạnh quá trình hội nhập, đất nước ta có vị thế bình đẳng trên trường quốc tế, có điều kiện để đảm bảo lợi ích của đất nước, của dân tộc, đồng thời thúc đẩy nhanh quá trình cải cách của đất nước có hiệu quả hơn. Thứ ba, là thành viên của tổ chức WTO nên môi trường kinh doanh của chúng ta ngày càng được cải thiện. ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Bên cạnh những thuận lợi đó, Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn: Thứ nhất, so với các nước trong khu vực và trên thế giới về trình độ phát triển, nước ta đang có khoảng cách tụt hậu khá xa, vì vậy còn phải chịu nhiều thiệt thòi trong quá trình cạnh tranh trên thị trường. Thứ hai, cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều đối thủ hơn. Sự cạnh tranh ở đây thể hiện ở chất lượng sản phẩm, ở chính sách quản lý, chiến lược phát huy nội lực và thu hút đầu tư nước ngoài. Thứ ba, sự hội nhập sâu rộng dẫn đến sự phụ thuộc vào nhau giữa các nước tăng lên. Sự biến động của nền kinh tế các nước có thể tác động mạnh đến nước ta. Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải có năng lực dự báo, phân tích tình hình và có phản ứng chính xác để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tác động từ bên ngoài.
Như vậy, những thời cơ và thách thức của nền kinh tế của một quốc gia sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý, ban hành và thực thi các chính sách, pháp luật đến các đối tượng quản lý, trong đó có công tác thanh niên. Xác định những vấn đề trọng tâm, then chốt để phát huy vai trò của nguồn nhân lực trẻ trong tham gia xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về công tác thanh niên sẽ được đặt trong những thời cơ và thách thức như đã nói như trên.
- Yếu tố đời sống văn hoá
Thanh niên là lớp người trẻ, có sức khoẻ, năng động; là nơi các giá trị chưa định hình và đang được kiểm nghiệm; là nơi thể nghiệm những gì họ nhận được từ thế hệ đi trước, tiếp thu từ thế giới bên ngoài. Những giá trị này cọ xát lẫn nhau để tạo ra giá trị mới, mô thức ứng xử mới, với những lựa chon sống luôn luôn mới. Đời sống văn hoá đề cập ở đây thể hiện qua: mục đích sống, lý tưởng sống (quyết định cách sống); lối ứng xử, hành vi ứng xử; cách ăn mặc, đi đứng, phong thái…; giáo dục (có trí thức hay không)…Với đặc thù của thanh niên và đặc trưng của đời sống văn hoá như trên, các nhà quản lý về công tác thanh niên phải có tìm hiểu, nắm bắt để đưa ra các chương trình, kế hoạch, chính sách phù hợp với đời sống văn hoá của thanh niên, tạo ra môi trường lành mạnh để thanh niên được rèn luyện, trưởng thành, giáo dục cho thanh niên các giá trị Chân-Thiện-Mỹ, tạo nên một thế hệ công dân có nhân cách tốt đẹp, sống và làm việc theo pháp luật và theo đúng mục đích quản lý của nhà nước.
- Yếu tố địa lý, vùng miền
Yếu tố địa lý, vùng miền được chia thành khu vực miền núi, đồng bằng, thành thị, nông thôn. Mỗi vùng mang một đặc điểm khác nhau về cấu tạo địa lý, cơ cấu dân cư, nền tảng văn hoá…dẫn đến sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế-xã hội, chất lượng đời sống người dân. Thông thường, theo sự phát triển chung, người dân sống ở đồng bằng, các khu vực thành thị có mức sống và chất lượng sống cao hơn người dân khu vực miền núi, vùng nông thôn. Điều đó cũng ảnh hưởng đến công tác QLNN trên các mặt của đời sống xã hội; tác động đến công tác hoạch định chính sách, quyết định đầu tư và phương thức quản lý của nhà nước. Minh chứng: các vùng không thuận lợi (miền núi, nông thôn) ưu tiên ban hành các chính sách liên quan đến ổn định đời sống của người dân, đảm bảo các chính sách an sinh xã hội, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng…; các chính sách liên quan đến công tác thanh niên có chú trọng nhưng không được chuyên biệt, rõ ràng và cụ thể như các vùng thuận lợi vốn đã ổn định về cơ sở hạ tầng, kinh tế-xã hội phát triển. Rõ ràng, yếu tố địa lý, vùng miền dù không mang tính quyết định nhưng phần nào cũng có ảnh hưởng đến QLNN về công tác thanh niên, và được thể hiện rõ nhất qua sự so sánh, đối chiếu giữa khu vực thành phố, thị xã với các huyện miền núi, huyện biên giới, huyện đặc biệt khó khăn.
- Yếu tố bản thân thanh niên ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Trong tiến trình phát triển của xã hội, thanh niên luôn được xem là rường cột, là chủ nhân tương lai của đất nước. Thanh niên là một lực lượng to lớn, chiếm tỷ lệ đông đảo trong dân cư, là chủ thể xây dựng xã hội, lớp người sáng tạo ra tương lai, lực lượng có vai trò quan trọng thúc đẩy lịch sử phát triển. Đối với công tác quản lý nhà nước về công tác thanh niên, chính đối tượng được quản lý là thanh niên có sự tác động trực tiếp, to lớn, quyết định kết quả hoạt động quản lý. Trong những năm qua, nhận thức chính trị, tính tích cực xã hội, lối sống của thanh niên có chuyển biến tích cực, những thành tựu to lớn, toàn diện của đất nước trong công cuộc đổi mới và đẩy mạnh CNH – HĐH làm cho thanh niên thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Lối sống của thanh niên tiếp tục được cải thiện theo hướng hiện đại và phù hợp với tác phong lao động công nghiệp, văn minh đô thị. Phần đông thanh niên vẫn giữ được những nét tốt đẹp trong lối sống, nếp sống, quan tâm và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp, bản sắc dân tộc. Thanh niên hiện nay có nhu cầu cao về thông tin, giao lưu, hội nhập, du lịch, vui chơi giải trí. Thanh niên hướng tới và đòi hỏi cao về dân chủ và công bằng xã hội, việc làm, các chính sách xã hội, ý thức công dân và việc thực hiện pháp luật của thanh niên được nâng cao hơn. Thanh niên có tư duy mới, phù hợp và thích nghi hơn với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, còn một bộ phận thanh niên không cưỡng lại được sức cám dỗ của đồng tiền, chạy theo hưởng thụ vật chất, bị tác động của lối sống thực dụng, ít quan tâm đến các vấn đề chính trị – xã hội, dễ mắc phải những sai phạm về đạo đức, tiêu cực và tệ nạn xã hội, có thể bị lợi dụng, kích động, lôi kéo vào các hành vi gây rối, vi phạm pháp luật.
- Yếu tố hội nhập quốc tế
Công tác thanh niên không chỉ mang tính dân tộc, quốc gia mà hiện nay nó còn mang tính khu vực và quốc tế sâu sắc do sự lan tỏa và ảnh hưởng của hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện đã tạo ra những cơ hội để cho mọi công dân có thể mở rộng sự giao lưu và tìm kiếm cơ hội phát triển. Đối với thanh niên thì điều này càng trở nên quan trọng hơn bởi tuổi trẻ luôn năng động, sáng tạo, nhiệt huyết, nhanh nhạy nên có nhiều hơn các cơ hội để giao lưu, học tập. Tạo ra nhiều cơ hội, song hội nhập quốc tế cũng đã và đang đặt ra cho thanh niên Việt Nam nhiều thách thức lớn: đó là sự tương thích giữa trình độ học vấn với các cơ hội tìm kiếm việc làm có thu nhập cao; đó là sự tác động của lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền; đó là việc làm thế nào để dung hòa được giữa truyền thống và hiện đại trong lối sống, nếp sống,…, sự tụt hậu về trình độ học vấn đã làm cho cơ hội tìm kiếm việc làm của thanh niên trong bối cảnh hội nhập quốc tế trở nên bấp bênh hơn ngay ở trong nước.
Nhu cầu hội nhập quốc tế để được học hỏi, trao đổi nâng cao trình độ, năng lực của thanh niên là chính đáng, nhưng việc hội nhập, giao lưu, học hỏi của thanh niên đang còn thiếu sự định hướng, quản lý của các cơ quan, tổ chức. Điều này làm cho những ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài rất dễ nảy sinh và lây lan trong thanh niên Việt Nam, đặc biệt là về đạo đức, lối sống. Đây là một thách thức không nhỏ đối với việc đào tạo và rèn luyện thanh thiếu niên.
1.4.2. Yếu tố chủ quan ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
- Thể chế quản lý nhà nước về công tác thanh niên
Luật Thanh niên ra đời và việc tổ chức triển khai vào cuộc sống có ý nghĩa chính trị, pháp lý sâu sắc, tạo cơ sở cho việc thực hiện QLNN về công tác thanh niên, xác lập hành lang pháp lý bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp và phát huy vai trò, trách nhiệm của thanh niên đối với đất nước và xã hội. Nhiều quy định cụ thể về cơ chế, chính sách của Nhà nước cả ở Trung ương và địa phương đảm bảo cho thanh niên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, tạo điều kiện cho thanh niên phát triển đã được ban hành và ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về QLNN về thanh niên còn mang tính định hướng, chưa đầy đủ, đồng bộ và chậm được hướng dẫn, triển khai. Luật Thanh niên có hiệu lực từ tháng 7/2006, nhưng đến nay Chính phủ mới ban hành được 03 nghị định hướng dẫn thi hành; nhiều bộ, ngành vẫn chưa ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể, đầy đủ để các địa phương thực hiện. Nghị định số 120/2007/NĐ- CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức các bộ, cơ quan ngang bộ về công tác thanh niên, nhưng chưa xác định rõ trách nhiệm phối hợp QLNN về công tác thanh niên theo ngành, lĩnh vực được Chính phủ phân công.
Nhà nước ta đã có nhiều chính sách cho thanh niên, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước đối với việc chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục và phát huy thanh niên. Tuy nhiên, QLNN về công tác thanh niên còn gặp nhiều thách thức, nhiều vấn đề về thanh niên còn chậm được giải quyết như: chất lượng giáo dục – đào tạo cho thanh niên còn nhiều bất cập; công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên chưa gắn với nhu cầu thực tế, tỷ lệ thanh niên thất nghiệp, thiếu việc làm còn cao; nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa tinh thần, vui chơi giải trí cho thanh niên chưa được đáp ứng đầy đủ; tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật trong thanh thiếu niên còn diễn biến phức tạp… Bên cạnh đó, một số chính sách còn thiếu tính cụ thể, chưa sát với nhu cầu chính đáng của thanh niên và chưa được điều chỉnh kịp thời hoặc chưa được quan tâm thực hiện. Nhiều địa phương chưa có hình thức phát huy thanh niên một cách hiệu quả; chưa gắn các hoạt động của thanh niên với chương trình, kế hoạch phát triển KT – XH của địa phương. Ngân sách dành cho công tác thanh niên còn hạn chế và thực hiện theo cơ chế lồng ghép, xã hội hóa nên còn bị động. Công tác kiểm tra, đôn đốc, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách cho thanh niên ở một số nơi chưa được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc. ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
- Tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước và đội ngũ công chức thực hiện công tác thanh niên
Trước đây, Chính phủ chưa giao cho một cơ quan nào thực hiện QLNN về công tác thanh niên; chỉ giao cho Ủy ban quốc gia về thanh niên Việt Nam làm nhiệm vụ tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về công tác thanh niên; vì vậy, vấn đề QLNN về công tác thanh niên chưa được cụ thể hóa và bị buông lỏng. Từ năm 2008, Chính phủ giao Bộ Nội vụ là cơ quan thực hiện chức năng QLNN về công tác thanh niên; ngành Nội vụ đã tích cực triển khai kiện toàn bộ máy, tổ chức.
Tuy nhiên, bộ máy QLNN về công tác thanh niên mới được thành lập, đang trong quá trình hoàn thiện. Số lượng, chất lượng cán bộ đảm đương nhiệmvụ QLNN về công tác thanh niên ở các cấp chưa đáp ứng yêu cầu. Có nơi bộ máy QLNN về công tác thanh niên chưa được đặt đúng vị trí, chức năng hoặc giao hẳn cho tổ chức Đoàn thanh niên đảm nhiệm. Ở một số bộ, ngành QLNN về công tác thanh niên được giao theo ngành, lĩnh vực lại chỉ quan tâm đến hoạt động trong phạm vi cơ quan bộ, ngành, chưa có sự chỉ đạo theo ngành dọc để triển khai tới cơ sở. Đội ngũ CBCC làm QLNN về công tác thanh niên được tuyển chọn từ nhiều nguồn khác nhau, do mới tiếp cận công việc nên gặp nhiều khó khăn, hạn chế, lúng túng trong việc tham mưu đề xuất hoặc không xác định được công việc cụ thể để triển khai thực hiện.
1.5. Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên ở một số địa phương và bài học cho tỉnh Quảng Ngãi
1.5.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước ở một số địa phương
- Thành phố Hồ Chí Minh
Ngay từ rất sớm, Thành ủy, UBND Thành phố đã xây dựng và ban hành Chương trình phát triển thanh niên Thành phố giai đoạn 2011 – 2020, Kế hoạch 5 năm triển khai thực hiện Chương trình phát triển thanh niên giai đoạn 2011 – 2015 và theo từng năm phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, trong đó lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu về phát triển thanh niên, kế hoạch phát triển KT – XH tại địa phương. Ngoài ra, giữa các sở, ban ngành có sự phối hợp chặt chẽ với nhau như Sở Giáo dục và Đào tạo với 5 nội dung liên tịch góp phần nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp cho thanh niên; Sở Lao động – Thương binh và Xã hội với 12 nội dung liên tịch góp phần vào việc giảm thiểu tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm trong thanh niên, tạo điều kiện cho thanh niên lập nghiệp, nâng cao thu nhập cho thanh niên; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch với 9 nội dung liên tịch trong đó chú trọng xây dựng các thiết chế văn hóa và chính sách bảo đảm cho thanh niên vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật; Sở Y tế với 6 nội dung liên tịch góp phần nâng cao công tác giáo dục sức khỏe sinh sản, phòng chống HIV/AIDS trong thanh niên; Sở Nội vụ với 7 nội dung liên tịch góp phần xây dựng các cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích cán bộ, công chức trẻ của thành phố, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức trẻ có trình độ và chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;… ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Nhằm tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ kế thừa để bổ sung cán bộ lãnh đạo, quản lý, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng và triển khai thực hiện 3 chương trình tạo nguồn quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ trẻ: Chương trình tạo nguồn quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ tuổi; Chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ; Chương trình tạo nguồn quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý xuất thân từ công nhân; qua đó bổ sung, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của hệ thống chính trị Thành phố.
Ủy ban nhân dân Thành phố đã chỉ đạo Thành Đoàn, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng kế hoạch liên tịch thực hiện các chương trình văn hóa, văn nghệ tại các ký túc xá, khu công nghiệp, khu chế xuất, Nhà văn hóa Thanh niên, Nhà văn hóa Sinh viên (trung bình tổ chức 10 chương trình/đợt Lễ). Hoạt động xung kích hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục được Thành phố tìm kiếm giải pháp thực hiện phù hợp, chủ yếu là các hoạt động tuyên truyền, giới thiệu các chủ trương, đường lối ngoại giao của Đảng, Nhà nước đến thanh niên, vận động, hỗ trợ thanh niên học tập ngoại ngữ, tin học, chủ động trong tiếp cận thông tin, tìm kiếm tri thức, kỹ năng để hội nhập kinh tế quốc tế. Thành phố đã tổ chức tốt việc đón tiếpcác đoàn khách quốc tế đến tìm hiểu, giao lưu với thanh niên Thành phố; phối hợp tổ chức cho các đoàn thanh thiếu nhi Thành phố tham gia giao lưu quốc tế tại các nước Ấn Độ, Nga, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật, Campuchia và Lào. Qua đó, giới thiệu các phong trào thanh niên sôi nổi, văn hóa, hình ảnh đất nước, con người và sự phát triển của Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh với bạn bè thế giới.
Nhằm phục vụ nhu cầu hoạt động, vui chơi giải trí lành mạnh cho thanh thiếu nhi Thành phố giai đoạn đến năm 2020, Thành phố đã triển khai thực hiện các công trình văn hóa, thể dục, thể thao, tăng cường các thiết chế văn hóa; tiến hành quy hoạch mạng lưới nhà văn hóa thanh niên, nhà thiếu nhi, đầu tư các thiết chế văn hóa, thể thao, phát triển các loại hình giải trí lành mạnh cho thanh niên. Hiện nay, đã có 21/24 quận, huyện có Nhà thiếu nhi.
Công tác đào tạo nghề tiếp tục thực hiện theo hướng xã hội hóa, tăng cường số lượng và hiệu quả ở các cấp đào tạo. Thành phố đã hỗ trợ đầu tư thiết bị cho các trường nghề trọng điểm, tổ chức đào tạo bồi dưỡng giáo viên dạy nghề ở nước ngoài. Về dự án đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn, Thành phố đã hỗ trợ đầu tư thiết bị, hỗ trợ lao động nông thôn; đồng thời tổ chức khảo sát bổ sung nhu cầu học nghề của lao động nông thôn tại 5 huyện làm cơ sở dữ liệu cho kế hoạch dạy nghề lao động nông thôn hàng năm.
- Tỉnh Quảng Nam ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Song song việc triển khai thực hiện chính sách đối với thanh niên theo quy định của Luật thanh niên, công tác xây dựng bộ máy, tổ chức QLNN đối với công tác thanh niên đã được tỉnh Quảng Nam triển khai thực hiện tốt, đến nay có 18/18 Phòng Nội vụ huyện, thành phố bố trí cán bộ chuyên trách về công tác thanh niên, kịp thời tham mưu cho UBND các cấp về QLNN đối với thanh niên. Bên cạnh đó, thành lập Hội đồng Công tác thanh niên tỉnh với nhiệm vụ tư vấn cho UBND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh về các nhiệm QLNN đối với công tác thanh niên và làm đầu mối lồng ghép các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển thanh niên vào các chương trình, đề án phát triển KT – XH, an ninh quốc phòng của tỉnh.
Công tác ngoại giao trên lĩnh vực thanh niên được triển khai thực hiện tốt, với đặc điểm có đường biên giới giáp với Lào, hàng năm thông qua chương trình ký kết hợp tác với tỉnh Sê Kông – Lào, UBND tỉnh đã giao các sở, ban ngành phối hợp với Đoàn thanh niên thực hiện các chuyến công tác giao lưu, hợp tác quốc tế giúp nước bạn trong công tác khám chữa bệnh, hỗ trợ kỹ thuật sản xuất,…
UBND tỉnh đã kịp thời ban hành các chính sách đối với thanh niên như chú trọng phát triển trường dạy nghề thanh niên dân tộc miền núi, khuyến khích việc đào tạo nghề nông, lâm nghiệp và hỗ trợ kỹ thuật nhằm giải quyết việc làm tại chỗ, hạn chế thấp nhất tình trạng ly hương. Đối với đội ngũ cán bộ trẻ, đặc biệt là nhân lực lãnh đạo, quản lý, hành chính công được chú trọng đào tạo và bồi dưỡng, tăng cường đào tạo chính quy (chủ yếu là đào tạo sau đại học) cho đội ngũ cán bộ tham mưu và chuyên gia tại các cơ quan QLNN, trong đó chú trọng đào tạo sau đại học tại nước ngoài.
- Tỉnh Bình Định
Căn cứ nội dung của Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 của Chính phủ, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bình Định đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ thanh niên như trong công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên, đã tổ chức 155 phiên giao dịch việc làm, tư vấn nghề cho trên 164 ngàn lượt thanh niên, đào tạo khởi sự doanh nghiệp và lập nghiệp cho hơn 2.500 thanh niên; đầu tư nhà thi đấu đa năng, hiện nay có 11/11 huyện, thị xã, thành phố có trung tâm hoạt động thanh thiếu niên; tổ chức hơn 15 ngàn hoạt động VHVN –TDTT. Trong tham gia QLNN và xã hội, UBND tỉnh đã tổ chức triển khai nhiều đề án như thí điểm tuyển chọn trí thức trẻ tình nguyện về các xã tham gia phát triển nông thôn, miền núi giai đoạn 2013 – 2020; thí điểm tuyển chọn 20 trí thức trẻ ưu tú có trình độ đại học về làm Phó Chủ tịch xã 3 huyện nghèo của tỉnh; bổ nhiệm 09 Phó Giám đốc sở có tuổi đời dưới 40,…
1.5.2. Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Ngãi ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Qua nghiên cứu, tìm hiểu việc thực hiện chức năng QLNN đối với công tác thanh niên của một số địa phương; trên cơ sở quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có thể rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác QLNN đối với công tác thanh niên của tỉnh Quảng Ngãi như sau:
Thứ nhất, cấp ủy, chính quyền phải chỉ đạo thực hiện, cụ thể hóa các thể chế, chính sách, các vấn đề liên quan đến thanh niên bằng các quyết định đề án, kế hoạch triển khai; có sự kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kỳ, đưa vào tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chính trị hàng năm của mỗi cấp, mỗi ngành, địa phương, đơn vị.
Thứ hai, cần có sự phối hợp giữa các sở, ban ngành liên quan, cần lồng ghép chỉ tiêu phát triển thanh niên trong chương trình, mục tiêu của tỉnh; một số sở, ban, ngành chủ động phối hợp với Đoàn thanh niên để triển khai thực hiện theo trách nhiệm được phân công, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo, bồi dưỡng và phát huy năng lực của thanh niên.
Thứ ba, quan tâm xây dựng các thiết chế văn hóa cho thanh niên, tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, đầu tư cơ sở vật chất tạo sân chơi lành mạnh cho thanh niên.
Thứ tư, xây dựng cơ sở dữ liệu về thanh niên để thuận lợi trong việc quản lý và đề xuất, kiến nghị với cấp có thẩm quyền xây dựng chính sách cho thanh niên.
Thứ năm, đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ công chức phụ trách công tác thanh niên tại các sở, ban, ngành và UBND phường, xã, thị trấn. Từ đó, việc xây dựng cơ chế, chính sách cho thanh niên sẽ đi vào chiều sâu và chất lượng hơn.
Sáu là, xây dựng cơ chế đảm bảo quyền của thanh niên trong việc tham gia xây dựng, thực hiện và giám sát các chính sách liên quan đến thanh niên, đến phát triển KT-XH
Tiểu kết Chương 1 ( Luận văn: Hoạt động Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên là một trong những vấn đề cấp bách, mang tính chiến lược, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển KT – XH của mỗi địa phương. Để có cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác QLNN đối với công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới, trong Chương 1 luận văn đi sâu phân tích làm rõ các khái niệm thanh niên, công tác thanh niên, quản lý, QLNN và QLNN đối với công tác thanh niên. Trong đó tập trung làm rõ khái niệm QLNN đối với công tác thanh niên, đây là sự tác động qua lại của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với thanh niên nhằm đề ra các chính sách, pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, các hoạt động của tổ chức và hành vi của công dân liên quan đến thanh niên; là hoạt động điều hành của Nhà nước trong việc tổ chức và phối hợp các cơ quan, các tổ chức trong công tác thanh niên; các hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến công tác thanh niên.
Trong chương 1 cũng xác định vai trò, sự cần thiết và 6 nội dung của QLNN đối với công tác thanh niên; phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với công tác thanh niên và học hỏi kinh nghiệm ở một số địa phương là vấn đề cần thiết góp phần nâng cao hiệu quả công tác QLNN đối với công tác thanh niên trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới. Những nghiên cứu ở Chương 1 là cơ sở lý luận cho việc khảo sát thực trạng QLNN đối với công tác thanh niên tỉnh Quảng Ngãi trong Chương 2 và đưa ra các giải pháp ở Chương 3.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
