Trong tiến trình phát triển của xã hội, thanh niên luôn được Đảng, Nhà nước để đánh giá đúng vị trí, vai trò là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai. Chính vì vậy mà tác giả lựa chọn Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên làm làm luận văn Thạc sĩ của mình. Qua bài mẫu, tác giả càng khẳng định thêm về vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhận những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo ngay tại Đề tài: Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi”
2.1. Đặc điểm tình hình thanh niên và kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Ngãi
Từ nội dung chủ yếu của QLNN đối với công tác thanh niên đã xác định ở chương 1, trong chương này, luận văn lần lượt tổng quan về đặc điểm tình hình thanh niên và phân tích, đánh giá tổng kết thực trạng việc thực hiện QLNN ở Quảng Ngãi trên một số nội dung sau.
Theo số liệu thống kê của Cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi và số liệu tổng hợp từ Phòng công tác thanh niên – Sở Nội vụ tỉnh Quảng Ngãi, tính đến 31/12/2016, tổng dân số toàn tỉnh là 1.241.400 người, trong đó, số người trong độ tuổi thanh niên theo quy định của Luật Thanh niên (từ 16 tuổi đến 30 tuổi) là 329.851 người. Trong đó: có 159.374 nam, 170.477 nữ; thành thị có
46.498 người, nông thôn có 283.353 người; 315.450 thanh niên là người Kinh; 14.401 người là thanh niên dân tộc thiểu số. Thanh niên chiếm khoảng 27% cơ cấu dân số, là nguồn lực dồi dào, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.
Nền kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi những năm gần đây đã có bước tăng trưởng đạt loại khá trong khu vực miền Trung. Tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân giai đoạn 2011 – 2015 đạt 7,2%, xấp xỉ bằng mức tăng trưởng chung của vùng duyên hải miền Trung (7,5%). Tăng trưởng kinh tế địa phương (RGDP) bình quân đầu người liên tục tăng cao trong giai đoạn 2011- 2014, năm 2015 là 2.485 USD/người, cao gấp 1,91 lần so với năm 2010 [62, tr.2]. Nguyên nhân của sự tăng trưởng kinh tế trên là sự phát triển Khu Kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh, chủ yếu tập trung vào sản phẩm chủ lực là lọc hóa dầu, cơ khí và công nghiệp nặng. Ngoài ra, một số dự án dệt may, da giày, sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử tai nghe có quy mô tương đối lớn đầu tư vào các cụm công nghiệp của tỉnh đang hình thành và phát triển mạnh.
Về xã hội, tỉnh Quảng Ngãi có 14 huyện, thành phố gồm có 06 huyện miền núi, 06 huyện đồng bằng, 01 hải đảo và 01 thành phố. Diện tích và mật độ dân số giữa các địa phương trong tỉnh phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở đồng bằng và nơi có cụm kinh tế phát triển ở vùng đồng bằng, thành thị, còn lại sinh sống thưa thớt ở các huyện miền núi. Ngoài ra, lực lượng thanh niên trong độ tuổi lao động chính là nguồn cung dồi dào cho nền kinh tế của tỉnh trong thời gian tới.
Từ những đặc điểm trên cho thấy tỉnh Quảng Ngãi là mảnh đất giàu tiềm năng tăng trưởng nền kinh tế của tỉnh nói riêng và của khu vực miền Trung nói chung. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: Quy mô nền kinh tế còn nhỏ, chất lượng thấp; tăng trưởng mới chủ yếu theo chiều rộng, chưa bền vững, chất lượng chưa cao; thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa nông nghiệp với công nghiệp, thương mại – dịch vụ trong quá trình phát triển. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu CNH – HĐH. Chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đề ra. Trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ công chức trên một số lĩnh vực vẫn còn hạn chế, nhất là đối với quản lý nhà nước. Nguồn nhân lực xã hội trong độ tuổi thanh niên qua đào tạo thiếu khả năng cạnh tranh, chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ tiến trình phát triển CNH – HĐH của tỉnh, nhất là trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay. Thực trạng những vấn đề trên là một thách thức không nhỏ trong hoạt động quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi hiện nay, đó là khó khăn trong công tác quản lý nhà nước đối với thanh niên do mật độ dân số phân bố không đồng đều giữa miền núi và đồng bằng; áp lực về việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch như thế nào để góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng là thách thức rất lớn đối với tỉnh.
2.2. Phân tích kết quả thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
2.2.1. Việc ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách của nhà nước đối với công tác thanh niên ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở, là công cụ để QLNN hiệu quả. Các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với thực tiễn, phù hợp với quy luật khách quan sẽ tạo điều kiện thúc đẩy và mở đường cho sự phát triển. Ngược lại, nếu văn bản quy phạm pháp luật ban hành không sát hợp với thực tiễn sẽ làm kìm hãm việc phát triển của một địa phương hoặc một lĩnh vực.
Trong thời gian qua, Nhà nước (Trung ương và địa phương) đã lần lượt ban hành luật và các văn bản có liên quan đến công tác thanh niên và QLNN đối với công tác thanh niên, đồng thời huy động nguồn lực, phân cấp cho địa phương chủ động trong quản lý, tập hợp thanh niên, phát huy được vị trí, vai trò của thanh niên trong xã hội.
Tại Trung ương đã ban hành Luật Thanh niên được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2006. Đây là văn bản luật chuyên biệt đầu tiên mà đối tượng thụ hưởng là thanh niên, thể hiện rõ chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước đối với thanh niên trong sự nghiệp phát triển đất nước.
Tiếp đến là Nghị quyết số 25/NQ-TW ngày 25/7/2008 của BCH Trung ương Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 11/9/2009 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nghị định số 120/2007/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh niên năm 2005. Nghị định hướng dẫn về bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của thanh niên được thực hiện thông qua 5 lĩnh vực và 5 đối tượng thanh niên đặt thù; ngoài ra còn quy định trách nhiệm của Nhà nước đối với thanh niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trong QLNN về công tác thanh niên.
Thủ tướng Chính phủ đã thông qua Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 kèm theo Quyết định số 2474/QĐ-TTg ngày 30/12/2011.
Nhằm thực hiện có hiệu quả những nội dung QLNN về công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trên cơ sở những văn bản quy định của Trung ương, chính quyền tỉnh đã thể chế hóa, đồng thời ban hành một số văn bản quy định chế độ, chính sách riêng của địa phương nhằm phát huy vai trò của thanh niên, cụ thể như: ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 13/10/2011 của Tỉnh Ủy và Nghị Quyết 22/2011/NQ- HĐND ngày 27/10/2011 của HĐND tỉnh về đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2020 đã đề ra việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển thanh niên và kế hoạch hàng năm, 05 năm, định hướng đến năm 2020.
Chỉ thị số 33-CT/TU ngày 12/11/2014 của Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Trong đó, tập trung chú trọng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trẻ có chất lượng cao, gắn với ứng dụng khoa học, công nghệ phục vụ sự nghiệp phát triển của tỉnh; ưu tiên dạy nghề cho thanh niên nông thôn, bộ đội xuất ngũ, thanh niên dân tộc thiểu số, nữ thanh niên, thanh niên khuyết tật, tàn tật, thanh niên vùng đô thị hóa; tổ chức hướng nghiệp cho thanh niên; tập trung giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn; tổ chức thực hiện mục tiêu nâng cao sức khỏe, thể lực và tầm vóc cho thanh niên, có năng lực tự học, tự đào tạo, có kỹ năng sống, để thích ứng với môi trường sống và làm việc; tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng mềm cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong độ tuổi thanh niên để bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.
Quyết định số 997/QĐ-UBND ngày 04/7/2012 của UBND tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược Phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho từng nội dung phát triển thanh niên, đề ra các giải pháp triển khai thực hiện sát với tình hình của địa phương như: Phát huy vai trò xung kích của thanh niên trong xây dựng, bảo vệ tổ quốc; Khỏe để lập nghiệp, giữ nước; Phổ biến, giáo dục pháp luật; Đào tạo việc làm, hỗ trợ vay vốn phát triển kinh tế; Đào tạo nguồn nhân lực đến năm 2020; Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020…
Từ năm 2010 đến nay, các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách, chương trình phát triển thanh niên và công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh được tổ chức thực hiện bao gồm những văn bản như sau:
2.2.1.1. Tổ chức thực hiện các chính sách đào tạo và bồi dưỡng thanh niên
Thứ nhất, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và trọng dụng tài năng trẻ
Giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ nói riêng và giáo dục, đào tạo nói chung là một trong những chính sách được chính quyền tỉnh quan tâm, ưu tiên hàng đầu. Đối với tài năng trẻ, cán bộ trẻ, UBND tỉnh chủ trương xây dựng và thực hiện một số chương trình, đề án giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ ở Quảng Ngãi gồm Quyết định số 458/2008/QĐ-UBND ngày 26/12/2008 ban hành Quy định chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp Đại học về công tác ở cấp xã, phường, thị trấn; Quyết định số 89/QĐ-UBND ngày 29/5/2012 về phê duyệt Đề án Đào tạo trình độ thạc sỹ, tiến sỹ và thu hút nhân lực có trình độ cao giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2020 của tỉnh Quảng Ngãi; Quyết định số 27/2013/QĐ-UBND ngày 31/5/2013 của UBND tỉnh ban hành Quy định chính sách thu hút, khuyến khích nguồn nhân lực chất lượng cao và sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy đến công tác, làm việc tại tỉnh Quảng Ngãi với nhiều chính sách ưu đãi như trợ cấp 1 lần (giáo sư 350 triệu đồng, Phó giáo sư 300 triệu đồng, tiến sĩ 250 triệu đồng, tiến sĩ y khoa, bác sĩ chuyên khoa II 300 triệu đồng, bác sĩ chuyên khoa II, dược sĩ chuyên khoa II 250 triệu đồng, Thạc sĩ y khoa, bác sĩ chuyên khoa I 250 triệu đồng, Thạc sĩ 150 triệu đồng, tốt nghiệp đại học chính quy loại giỏi thuộc danh mục các ngành nghề mà tỉnh có nhu cầu thu hút 100 triệu đồng), được giao đất ở theo hạn mức tỉnh và có thu tiền sử dụng đất với giá đất, hỗ trợ tiền thuê nhà. ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Qua số liệu bảng 2.2, từ năm 2011 đến nay, cả tỉnh đã tuyển dụng theo chính sách thu hút được 119 người để bố trí cho các cơ quan, đơn vị, địa phương, trong đó cán bộ, công chức, viên chức trong độ tuổi thanh niên chiếm khoảng 90%. Có thể thấy chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đã từng bước nhận được sự quan tâm của đội ngũ cán bộ có trình độ độ chuyên môn cao về tham gia làm việc tại tỉnh, tuy nhiên, thực tế đây vẫn còn là một con số quá thấp so với nhu cầu lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao như Quảng Ngãi.
Bên cạnh chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, chính quyền tỉnh cũng có những chính sách để hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tạo động lực thúc đẩy phát triển Đề án nguồn nhân lực của tỉnh nhà, ngày 31/12/2008 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 481/2008/QĐ-UBND Quy định chế độ hỗ trợ đối với CBCC trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi được cử đi đào tạo trong và ngoài nước. Theo quy định của quyết định này thì những CBCC thuộc diện quy hoạch được cử đi đào tạo ngoài việc hưởng các chế độ, chính sách đào tạo theo quy định hiện hành của Nhà nước còn được hưởng chế độ hỗ trợ hàng tháng với mức hỗ trợ chung là 0,5 mức lương tối thiểu/người/tháng (học trong tỉnh) và bằng mức lương tối thiểu/người/tháng (học ngoài tỉnh). Ngoài ra, CBCC được cử đi đào tạo còn nhận được các mức hỗ trợ thêm và hỗ trợ bổ sung.
Qua bảng số liệu này cho thấy, phần lớn nguồn hỗ trợ tập trung chủ yếu cho đội ngũ CBCC được cử đi đào tạo trình độ thạc sĩ (chiếm 59%). Nguyên nhân, là do Nghị quyết số 05 của Tỉnh ủy quy định đối tượng CBCC sinh năm 1975 trở về sau khi xét bổ nhiệm phải có bằng Đại học chính quy hoặc có bằng thạc sĩ trở lên, do vậy, đối tượng được cử đi đào tạo trình độ thạc sĩ tập trung vào đội ngũ CBCC tốt nghiệp đại học hệ không chính quy.
Đến cuối năm 2015, xét tình hình thực tiễn và trình độ năng lực của đội ngũ CBCC sau khi đào tạo, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo UBND tỉnh tạm dừng thực hiện quyết định này, xây dựng lại quy định hỗ trợ đối với CBCC được cử đi đào tạo cho phù hợp với các quy định hiện hành của Nhà nước và tình hình thực tế hiện nay của địa phương.
Ngoài chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao và hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ CBCC, tỉnh Quảng Ngãi cũng được Thủ tướng Chính phủ chọn thí điểm trí thức trẻ tình nguyện về các xã tham gia phát triển nông thôn miền núi giai đoạn 2013 – 2020 và tăng cường cán bộ cho các xã thuộc huyện nghèo để thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững. ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Tại tỉnh Quảng Ngãi, sau khi tổ chức tuyển chọn và được Bộ Nội vụ thẩm định kết quả tuyển chọn, có 15 trí thức trẻ tham gia Đề án thí điểm tuyển chọn trí thức trẻ tình nguyện về các xã tham gia phát triển nông thôn – miền núi giai đoạn 2013 – 2020 (gồm 9 huyện: Bình Sơn, Mộ Đức, Đức Phổ, Ba Tơ, Minh Long, Sơn Tây, Tây Trà, Trà Bồng và Lý Sơn). Có 53/67 xã ở 6 huyện miền núi (Sơn Hà, Trà Bồng, Sơn Tây, Minh Long, Tây Trà và Ba Tơ) được tăng cường từ nguồn trí thức trẻ tình nguyện theo Đề án 600 Phó Chủ tịch xã được tăng cường 01 Phó Chủ tịch UBND xã.
Nhìn chung, đội ngũ trí thức trẻ và đội viên theo Đề án 600 được bố trí công việc phù hợp với năng lực chuyên môn, có môi trường làm việc thuận lợi đáp ứng tốt nhiệm vụ chính trị được giao, phát huy năng lực, trình độ chuyên môn, có những sáng kiến, công trình, đề tài khoa học ứng dụng có hiệu quả, góp phần phát triển KT – XH của tỉnh nhà. Kết quả, có 51/53 đội viên được kết nạp Đảng (chiếm 96%), 36 đội viên được quy hoạch, 13 đội viên được trúng cử và các chức danh: Huyện ủy viên, Ủy viên BTV Đảng ủy xã, Ủy viên BCH Đảng ủy xã và Đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) xã, nhiệm kỳ 2016 – 2021. Có 13 đội viên đã được bố trí công tác, trong đó có 8 đội viên được bố trí công chức cấp huyện, 2 Phó Chủ tịch UBND xã, 1 Chủ tịch Hội Nông dân và 2 công chức xã. Hiện còn lại 39 đội viên đang gặp khó khăn trong việc bố trí, sắp xếp công việc, nguyên nhân là do việc thực hiện chủ trương tinh giản biên chế hiện nay, trong khi đó tỷ lệ đội viên đào tạo chuyên ngành xã hội đông, khó khăn trong việc bố trí vào các chức danh công chức.
Thứ hai, tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên được gắn liền với quy hoạch phát triển nguồn nhân lực và cơ cấu hợp lý theo nhu cầu phát triển của nền KT – XH; đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng trên tất cả các yếu tố cơ bản về sức khỏe, kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức. Các chính sách, pháp luật về lao động việc làm của Nhà nước nói chung, của chính quyền tỉnh nói riêng áp dụng cho mọi công dân, nhưng chúng ta hiểu rằng, đối tượng chủ yếu điều chỉnh, chính là thanh niên.
Ở cấp Trung ương, lần đầu tiên, chính sách về hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm được ban hành bằng Quyết định 103/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008 – 2015. Trước khi có Quyết định 103 của Thủ tướng Chính phủ, thực tế chính quyền tỉnh cũng đã thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ thanh niên học nghề, hướng nghiệp và tạo việc làm cho thanh niên, thông qua hoạt động của các cơ quan chức năng như Sở Lao động -Thương binh và Xã hội, các Trường dạy nghề của tỉnh, thông qua hoạt động của tổ chức Đoàn – Hội và Trung tâm dạy nghề thanh niên (đơn vị thuộc Tỉnh đoàn). ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Năm 2011, Đề án 103 – Đề án Hỗ trợ thanh niên học nghề và đào tạo việc làm giai đoạn 2011 – 2015 bắt đầu được triển khai với 3 nội dung chính: truyền thông nâng cao nhận thức của thanh niên và xã hội về học nghề, lập nghiệp; tư vấn, hỗ trợ thanh niên khởi sự doanh nghiệp và lập nghiệp; giám sát, đánh giá việc thực hiện các chính sách của Nhà nước về học nghề và tạo việc làm. Tỉnh Đoàn Quảng Ngãi đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành quyết định phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án Hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm đến năm 2015 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, UBND tỉnh giao Tỉnh Đoàn và Sở Lao động – Thương binh và xã hội phối hợp với các sở, ban ngành liên quan tổ chức triển khai thực hiện Đề án này.
Qua số liệu bảng 2.4, cho thấy nhu cầu hỗ trợ thanh niên và tư vấn, giới thiệu việc làm cho thanh niên tăng dần qua các năm, trong đó nhu cầu khởi sự doanh nghiệp của thanh niên trên địa bàn tỉnh hiện nay là rất lớn, do đó rất cần sự hỗ trợ của các cơ quan QLNN trong việc định hướng nghề cho thanh niên. Các lớp đào tạo nghề ngắn hạn chủ yếu là dệt thổ cẩm, thú y, gỗ mỹ nghệ cho thanh niên nông thôn, lao động nghèo, trẻ khuyết tật. Việc tổ chức hội chợ, ngày hội việc làm, định hướng nghề chủ yếu được thực hiện bởi Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh (trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và xã hội tỉnh) phối hợp với các tổ chức đoàn thể, chính xã hội trong tỉnh triển khai.
Bên cạnh nguồn vốn từ Đề án, UBND tỉnh cũng chỉ đạo Ngân hàng chính sách xã hội hỗ trợ thanh niên vay vốn học nghề, giải quyết việc làm, phát triển sản xuất …, đã có 51 chương trình, dự án cho 14.621 đoàn viên, thanh niên vay vốn phát triển kinh tế với tổng số dư nợ vốn vay là 175 tỷ đồng. Kết quả đã giải quyết việc làm cho khoảng 169.000 lao động, trong đó có khoảng 102.275 lao động là thanh niên.
Ngoài ra, Tỉnh Đoàn Quảng Ngãi đã tổ chức nhiều chương trình đào tạo nghề, tư vấn giới thiệu việc làm cho thanh niên với nhiều hoạt động như: Tổ chức các hoạt động truyền thông nâng cao năng lực cho thanh niên về nghề nghiệp việc làm, tư vấn giới thiệu việc làm cho thanh niên; Liên kết với các trường Đại học, Viện nghiên cứu hợp tác khoa học kỹ thuật Châu Á – Thái Bình Dương, tổ chức lao động quốc tế ILO đào tạo các chuyên ngành theo nhu cầu của người học như: Phối hợp với Dự án Pries tập huấn “Khởi sự doanh nghiệp”, “Ý tưởng kinh doanh”, nghiệp vụ giám sát công trình; Phối hợp với Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức tập huấn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh về Quản trị Marketing thời kinh tế bất ổn và kỹ năng bán hàng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh,…Hỗ trợ, hướng dẫn đoàn viên, thanh niên lập các dự án, thực hiện các sáng kiến, ý tưởng đưa vào sản xuất kinh doanh; tổ chức 109 hội thi nâng cao tay nghề với 3.428 lượt đoàn viên, thanh niên tham gia; thành lập và duy trì 33 nhóm, câu lạc bộ giúp nhau lập nghiệp thu hút 390 đoàn viên, thanh niên tham gia.
Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực, tuy nhiên chính sách dạy nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên của chính quyền tỉnh đang trong quá trình hoàn thiện và triển khai thực hiện. Đề án dạy nghề cho thanh niên nhiều nhưng chưa thật sự tác động đến tất cả thanh niên trên địa bàn tỉnh, các hoạt động hỗ trợ thanh niên về nghề nghiệp và việc làm hiệu quả vẫn còn thấp, nhất là các địa bàn khó khăn; công tác hướng dẫn, hỗ trợ thanh niên vay vốn học nghề và giải quyết việc làm ở một số địa phương chưa đáp ứng được nhu cầu của thanh niên, nguồn vốn ủy thác còn thấp; dạy nghề ngắn hạn nhìn chung chưa mang lại hiệu quả, thanh niên sau khi học nghề không đủ kỹ năng, kiến thức để hành nghề tốt. ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Ngoài ra, đến nay qua tìm hiểu, tác giả cũng chưa ghi nhận được văn bản nào của UBND tỉnh thực hiện chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp theo quy định tại Điều 18, Luật Thanh niên (2005) “Nhà nước có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân giải quyết việc làm cho thanh niên; ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai để phát triển giáo dục nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu đa dạng về học nghề cho thanh niên; phát triển hệ thống các cơ sở dịch vụ tư vấn giúp thanh niên tiếp cận thị trường lao động” .
Thứ ba, chính sách chăm sóc sức khỏe, phát triển thể chất, đời sống văn hóa, tinh thần
Về thực hiện mục tiêu từng bước nâng cao sức khỏe, thể lực và tầm vóc cho thanh niên; có kỹ năng sống, để thích ứng với môi trường sống và làm việc. Trong những năm qua UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức nhiều hoạt động chăm sóc sức khỏe, đặc biệt ưu tiên cho đối tượng thanh niên là nữ. Kết quả từ năm 2011 đến nay tổ chức thăm khám, kiểm tra sức khỏe cho vị thành niên, thanh niên trên địa bàn xã 30 đợt/năm có 5.371 vị thành niên, thanh niên đến khám. Duy trì sinh hoạt tại 120 câu lạc bộ tại 30 xã, mỗi tháng 1 lần nhằm cung cấp thông tin, tư vấn về sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình tiền hôn nhân cho vị thành niên, thanh niên kết quả đã tổ chức 1.440 lần đã cung cấp cho 4.880 vị thành niên, thanh niên từ 15 – 24 tuổi những kiến thức cơ bản về dân số – kế hoạch hóa gia đình, tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình. Cấp phát là 14.200 tờ rơi về sức khỏe sinh sản cho nam, nữ vị thành viên và thanh niên. In, cấp phát 18.000 tờ rơi sức khỏe sinh sản cho nam, nữ vị thành niên, thanh niên và phụ huynh.
Tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí, văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao cho thanh niên sau thời gian làm việc, giải quyết chế độ nghỉ nghép, nghỉ dưỡng sức hợp lý cho người lao động. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống các nhà sinh hoạt văn hóa, điểm tập luyện thể dục thể thao cộng đồng ở thôn, khối phố, khu dân cư phục vụ nhu cầu rèn luyện sức khỏe cho thanh niên. Khuyến khích thành lập mở rộng và tạo điều kiện hoạt động các câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng ở các huyện, thành phố và trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Kết quả, đã tổ chức 5.929 hội thi, hội diễn văn nghệ, gần 6.027 hoạt động thể dục, thể thao có hơn 2.870.900 lượt đoàn viên, thanh niên tham gia; 12 điểm truy cập Internet do Đoàn quản lý với 12.700 lượt đoàn viên, thanh niên tham gia truy cập.
Xây dựng hệ thống các trung tâm huấn luyện, tập luyện thể dục thể thao có chất lượng từ tỉnh đến các huyện, thành phố; đầu tư có trọng điểm, phát huy các môn thể thao có thế mạnh của tỉnh; bên cạnh đó phát huy các nguồn lực xã hội, kêu gọi đầu tư phát triển các loại hình dịch vụ thể dục thể thao.
Tuy nhiên, hiện nay hệ thống cơ sở hạ tầng, thiết chế văn hóa phục vụ cho nhu cầu học tập, rèn luyện của thanh niên chưa được phát triển đồng đều ở các vùng đồng bằng và miền núi. Tính đến nay hiện nay chỉ có thành phố Quảng Ngãi xây dựng Trung tâm hoạt động thanh thiếu nhi, còn lại 13 huyện chưa có địa điểm sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể thao dành cho thanh thiếu nhi; 184/184 xã, phường, thị trấn chưa đầu tư xây dựng sân bãi, tụ điểm sinh hoạt, hoạt động thanh niên.
Có thể bạn quan tâm:
2.2.1.2. Tổ chức thực hiện chính sách đối với thanh niên đặc thù: ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
– Đối với thanh niên là đồng bào dân tộc thiểu số, thanh niên khó khăn: Những năm qua, UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ban ngành liên quan và UBND các huyện thực hiện nhiệm vụ công tác dân tộc và chính sách dân tộc nói chung cũng như chỉ đạo triển khai, thực hiện pháp luật, chính sách đối với
thanh niên dân tộc thiểu số (DTTS) trên địa bàn tỉnh.
Về công tác tuyển dụng, sử dụng công chức, viên chức người DTTS luôn bảo đảm các nguyên tắc, chế độ ưu tiên theo luật quy định, thực hiện tốt công tác xét tuyển CBCC người DTTS nhất là cán bộ công tác ở vùng sâu, vùng xa; Công tác quy hoạch, tuyển dụng, bố trí cán bộ là người DTTS được quan tâm đúng mức, có chế độ, chính sách ưu tiên nhằm thực hiện tốt công tác cán bộ đối với đội ngũ CBCC là người DTTS, như quan tâm ưu tiên tới việc bổ nhiệm các chức danh quản lý ở cấp huyện, các vị trí chủ chốt cấp xã đối với cán bộ người DTTS và từng bước đảm bảo cơ cấu, thành phần, chức danh và tỷ lệ trong cấp ủy, cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh. Trong giai đoạn 2011 – 2015 đã tuyển dụng được 101 sinh viên cử tuyển tốt nghiệp ra trường về công tác tại các cơ quan, đơn vị, địa phương.
Về kết quả thực hiện chính sách đối với CBCC, viên chức là người DTTS và sinh viên hệ cử tuyển. Trên cơ sở các Nghị quyết của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành và các địa phương thuộc tỉnh xây dựng các đề án, kế hoạch cho việc đào tạo, bồi dưỡng CBCC, viên chức thuộc tỉnh. Số CBCC, viên chức cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã là người DTTS tham gia đào tạo, bồi dưỡng ngày một tăng lên, trong đó đào tạo học vấn (bổ túc văn hóa Trung học phổ thông) hơn 262 người là CBCC cấp xã người DTTS; thực hiện chính sách đào tạo theo hình thức cử tuyển tại tỉnh Quảng Ngãi. Hiện số lượng CBCC, viên chức là người DTTS trên toàn tỉnh đã hoàn thành trình độ chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên có 1.808 người, chiếm 84,05%. Ngoài ra số CBCC là người DTTS đang đào tạo trình độ trung cấp là 76 người và đang đào tạo trình độ đại học là 224 người; trình độ lí luận chính trị từ sơ cấp trở lên là 1.552 người và có 934 CBCC đã được bồi dưỡng về QLNN theo chức danh, nhiệm vụ; ngoài ra phần lớn được bồi dưỡng về kỹ năng nghiệp vụ, kiến thức tin học và sử dụng vi tính trong công tác, các khóa bồi dưỡng, tập huấn hằng năm theo quy định.
Bên cạnh đó, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành Giáo dục và Đào tạo thực hiện các chính sách về hỗ trợ, miễn giảm học phí cho các đối tượng học sinh nghèo, DTTS ở các xã đặc biệt khó khăn, trợ giúp miễn giảm học phí và hỗ trợ cho học sinh nghèo, mua sách vở, đồ dùng học tập và các chi phí học tập khác, tạo sự động viên, khích lệ lớn, góp phần quan trọng nâng cao tỷ lệ học sinh đến trường, giảm bớt khó khăn cho các hộ nghèo. Hệ thống trường dân tộc nội trú có bước phát triển sâu rộng, trên địa bàn tỉnh hiện tại có 04 trường dân tộc nội trú, hầu hết các trường đều được đầu tư, xây dựng kiên cố, trang bị phương tiện dạy, học và ở nội trú, từng bước đáp ứng yêu cầu cho giáo viên và học sinh cấp trung học cơ sở và nâng dần số lượng học sinh trung học phổ thông. Đặc biệt, chính sách nội trú dân nuôi cho học sinh các xã vùng sâu, vùng xa đã tạo điều kiện cho con em là người DTTS được đến trường, yên tâm học tập.
– Đối với lực lượng thanh niên xung phong: ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Thực hiện Quyết định số 40/2011/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 2348/KH-UBND ngày 18/7/2012 triển khai thực hiện Quyết định số 40 của Thủ tướng Chính phủ; Công văn số 776/UBND-NC ngày 25/10/2012 về việc giải quyết chế độ đối với thanh niên xung phong tập trung đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến. Tính đến cuối năm 2016, UBND tỉnh đã quyết định giải quyết chế độ trợ cấp một lần đối với thanh niên xung phong tập trung tham gia kháng chiến hoàn thành nhiệm vụ trở về địa phương và thân nhân thanh niên xung phong với tổng số tiền 1.288.400.000 đồng cho 418 đối tượng (trong đó: Trợ cấp một lần cho cựu thanh niên xung phong: 902.900.000 đồng cho 310 đối tượng; Trợ cấp một lần cho thân nhân cựu thanh niên xung phong đã từ trần: 685.500.000 đồng cho 108 đối tượng); đồng thời quyết định trợ cấp hàng tháng mức 360.000 đồng/tháng cho 17 đối tượng.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn một số khó khăn, đó là Quyết định số 40 quy định hồ sơ khai đề nghị giải quyết chế độ theo hướng mở, tạo điều kiện thuận lợi trong giải quyết chế độ cho thanh niên xung phong (không cần hồ sơ gốc), thủ tục hồ sơ đơn giản (chỉ có Bản khai cá nhân), không có quy định về niêm yết công khai danh sách đối tượng đề nghị hưởng trợ cấp tại trụ sở UBND cấp xã và khu dân cư, điều này làm cho việc xét duyệt hồ sơ gặp rất nhiều khó khăn, đối tượng dễ lợi dụng làm giả hồ sơ. Một số thanh niên xung phong thường trú ở địa phương hiện đang sinh sống tại tỉnh khác hoặc thanh niên xung phong ở địa phương khác chuyền về tỉnh sinh sống gây khó khăn trong quá trình thẩm định, xác minh.
Việc xác định phiên hiệu các đơn vị thanh niên xung phong tập trung tham gia kháng chiến trong thời gian từ ngày 15/7/1950 đến ngày 30/4/1975 gặp rất nhiều khó khăn.
– Đối với thanh niên khác: thanh niên tái hội nhập cộng đồng, thanh niên nhiễm HIV/AIDS… chủ yếu được quan tâm thông qua các hoạt động của Đoàn thanh niên nên chưa phát huy hiệu quả.
Nhìn chung, các chính sách về nữ thanh niên, thanh niên dân tộc chưa được tỉnh xây dựng thành một hệ thống chính sách riêng, hoàn chỉnh mà thực hiện lồng ghép trong nhiều chính sách lớn, ví dụ như chính sách nữ thanh niên trong Kế hoạch thực hiện chiến lược vì sự tiến bộ phụ nữ, chính sách thanh niên dân tộc trong tổng thể chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước…
2.2.1.3. Các chính sách liên quan đến công tác thanh niên, tổ chức thanh niên ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Các nội dung QLNN đối với công tác thanh niên, qua thực trạng đã
phân tích trên đây, cho thấy phần lớn được chính quyền tỉnh giao cho Tỉnh Đoàn, hoặc các nội dung do các Sở ngành tỉnh chủ trì, đều có sự phối hợp với Tỉnh Đoàn. Hầu hết các chủ trương của Tỉnh ủy, chinh sách của chính quyền tỉnh đối với thanh niên hoặc công tác thanh niên, đều có sự tham gia ý kiến, góp ý, tham mưu của Tỉnh Đoàn và các tổ chức thanh niên do Tỉnh Đoàn làm nòng cốt, nhiều chính sách của Nhà nước do chính tổ chức Đoàn tham mưu và dự thảo văn bản cho chính quyền tỉnh thông qua; vai trò giám sát và phản biện xã hội của Đoàn, Hội đối với việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về thanh niên và công tác thanh niên tỉnh cơ bản được đảm bảo. Tỉnh Đoàn cũng là môi trường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý trẻ bổ sung cho nguồn cán bộ của tỉnh cũng như các Sở, ngành, huyện – thành phố. Nhiều lãnh đạo chủ chốt của tỉnh và các Sở, ngành, huyện – thành phố đương nhiệm xuất thân và có quá trình công tác tại Tỉnh Đoàn.
UBND tỉnh cũng xác định chiến lược “Xây dựng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh vững mạnh, thực sự là trường học XHCN của thanh niên, đội dự bị tin cậy của Đảng” với nhiều chính sách cụ thể, như: Định kỳ hàng năm, Thường trực UBND các cấp tổ chức đối thoại với thanh niên. Định kỳ 6 tháng/lần, Thường trực UBND các cấp làm việc với đại diện các tổ chức chính trị – xã hội của thanh niên để lắng nghe, tháo gỡ những khó khăn trong công tác. Việc này đến nay đối với cấp tỉnh thực hiện tốt, nhân dịp Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh lần thứ 13 (tháng 10/2012), 86 năm thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (tháng 3/2017), lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và các Sở ngành đã gặp gỡ, đối thoại với đại diện đoàn viên, thanh niên; thường trực UBND tỉnh cũng định kỳ làm việc với Thường trực Tỉnh Đoàn để sơ kết các nội dung công tác đã xác định đối với thanh niên và công tác thanh niên, kiểm tra các nội dung, chương trình dự án và kịp thời giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong quá trình triển khai nhiệm vụ của Tỉnh đoàn. Nhiều huyện, thành phố cũng thực hiện gặp gỡ, đối thoại giữa lãnh đạo với đại diện thanh niên theo định kỳ.
Đánh giá chung về thực trạng xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách, chương trình phát triển thanh niên và công tác thanh niên tại tỉnh Quảng Ngãi đang còn trong quá trình hoàn thiện, chưa đồng bộ, nên nhiều nội dung chính sách chưa có kết quả cụ thể. Một số cơ quan QLNN chưa quan tâm giải quyết kịp thời những yêu cầu bức xúc của thanh niên như: đào tạo, giải quyết việc làm (nhất là thanh niên nông thôn); đầu tư các thiết chế văn hóa cho thanh niên ở các khu công nghiệp; công tác chăm lo, tư vấn sức khỏe cho thanh niên công nhân chưa được chú trọng; thiết chế, sân chơi cho thanh thiếu nhi còn hạn chế.
- Mối quan hệ giữa Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Nhà nước trong QLNN đối với công tác thanh niên
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là thành viên của hệ thống chính trị. Trước những đổi mới trong tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý thanh niên, mối quan hệ giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Nhà nước trong QLNN về công tác thanh niên đã ngày càng được thể hiện rõ rệt hơn. Tại tỉnh Quảng Ngãi, mối quan hệ này trong những năm gần đây đã có những chuyển biến với nhiều kết quả bước đầu đáng ghi nhận. ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Thực tế cho thấy trước khi hệ thống tổ chức bộ máy về công tác thanh niên chính thức được được thành lập từ Trung ương đến địa phương, công tác phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với chính quyền các cấp trong công tác phát triển thanh niên vẫn còn gặp khó khăn:
Thứ nhất, về nhận thức, do chưa xác định rõ cơ quan QLNN chịu trách nhiệm quản lý công tác thanh niên nên nhiệm vụ phát triển thanh niên hầu như giao phó hoàn toàn cho Đoàn, thậm chí có thể nói là “khoán trắng” cho Đoàn.
Thứ hai, công tác ban hành văn bản để thể chế hóa vai trò của Đoàn trong mối quan hệ phối hợp với Nhà nước không được quan tâm, phần lớn các văn bản chỉ thể hiện mối quan hệ phối hợp với cơ quan đứng đầu như Chính phủ, UBND tỉnh, chưa đi sâu và cụ thể trong phối hợp với các ngành chuyên môn trực tiếp ban hành, triển khai thực hiện chính sách liên quan đến thanh niên.
Thứ ba là nguồn lực, kinh phí đầu tư cho phát triển thanh niên chưa được quan tâm đúng mức, rơi vào cơ chế “xin – cho” giữa Đoàn và Nhà nước, trong khi Nhà nước có nhiệm vụ ban hành cơ chế, chính sách và đảm bảo các điều kiện để thanh niên thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình.
Những vướng mắc này là tình trạng chung và cũng không thể tránh khỏi trong công tác phối hợp giữa chính quyền và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh các cấp tại tỉnh Quảng Ngãi.
Thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 của Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương khoá X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Đề án tổ chức bộ máy QLNN về công tác thanh niên của Bộ Chính trị (tại Thông báo số 327-TB/TW ngày 14/6/2010 của Bộ Chính trị), Quyết định số 1471/QĐ-TTg ngày 13/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Vụ Công tác thanh niên thuộc Bộ Nội vụ, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 04/2011/TT-BNV ngày 10/02/2011 hướng dẫn bổ sung nhiệm vụ, tổ chức và biên chế cho Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ thuộc UBND tỉnh, huyện về công tác thanh niên. Đây được xem là sự thể chế hóa mạnh mẽ để thiết lập hệ thống cơ quan QLNN về công tác thanh niên từ Trung ương đến địa phương, đánh dấu bước ngoặc trong cơ chế phối hợp giữa cơ quan QLNN và tổ chức chính trị – xã hội trong thực hiện nhiệm vụ phát triển thanh niên.
Tại tỉnh Quảng Ngãi, từ năm 2011, sau khi hệ thống tổ chức bộ máy, nhân sự thực hiện nhiệm vụ QLNN về công tác thanh niên được củng cố, sự phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và chính quyền các cấp ở tỉnh đã có nhiều chuyển biến đáng kể:
– Sự chuyển biến trong nhận thức về QLNN đối với công tác thanh niên và phân định rõ vai trò của mỗi bên trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển thanh niên. Giai đoạn đầu bố trí nhân sự phụ trách công tác thanh niên và triển khai thực hiện Chương trình thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2012-2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, có tình trạng các cơ quan chuyên môn, các cấp chính quyền giao việc tham mưu, đề xuất cho Bí thư Đoàn và tổ chức Đoàn. Nhận thức này dần dần đã có những thay đổi thể hiện qua công tác bố trí nhân sự, các văn bản chỉ đạo, kết quả triển khai thực hiện các đề án, chương trình phát triển thanh niên được lồng ghép trong nhiệm vụ chuyên môn trên từng lĩnh vực quản lý. ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
– Sự chuyển biến trong việc thể chế hóa cơ chế phối hợp giữa hai bên. Sau khi Chính phủ và Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ký kết Nghị quyết liên tịch số 01/2012/NQLT/CP-BCHTWĐTN ngày 14/12/2012 ban hành Quy chế phối hợp giữa hai bên, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ký kết các văn bản liên tịch với các bộ, ngành Trung ương như Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch,…thì nội dung, phương thức phối hợp giữa cơ quan QLNN và Đoàn Thanh niên các cấp mới được định hình rõ nét. Trên cơ sở sự thể chế hóa này, tại tỉnh Quảng Ngãi, Sở Nội vụ tỉnh đã tham mưu UBND tỉnh xây dựng quy chế phối hợp với Ban Chấp hành Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh trong thực hiện nhiệm vụ QLNN về thanh niên và công tác thanh niên. Để đảm bảo thực hiện các chương trình, đề án phát triển thanh niên trên các lĩnh vực chuyên môn, các sở, ngành cũng đã chủ động ký kết các chương trình liên tịch, phối hợp hoạt động với Tỉnh Đoàn trên các lĩnh vực (như lĩnh vực Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tư pháp, Giáo dục – Đào tạo). Tại cấp huyện, hiện đã có UBND các huyện, thành phố như: TP Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn, huyện Đức Phổ… xây dựng quy chế phối hợp với Huyện – Thành Đoàn.
Sự chuyển biến trong cơ cấu tổ chức và nhân sự lãnh đạo, quản lý phụ trách công tác thanh niên ở cả hai bên. Đại diện lãnh đạo Đoàn Thanh niên các cấp được mời tham gia các tổ chức phối hợp liên ngành giải quyết các vấn đề liên quan đến thanh niên, đáng chú ý là tham gia làm thành viên của Hội đồng Công tác thanh niên các cấp để trực tiếp tham gia ý kiến trong thực hiện các cơ chế, chính sách liên quan đến thanh niên.
Nghị quyết số 25-NQ/TW đã xác định rõ thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc, do đó, cơ quan QLNN và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cần phối hợp chặt chẽ và quyết liệt hơn nữa để phát huy vai trò của mỗi bên trong phát triển thanh niên. Đó cũng chính là góp phần giúp mỗi bên thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong hệ thống chính trị.
2.2.2. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác thanh niên
Thực hiện Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC giai đoạn 2011-2015 và Quyết định số 1923/QĐ-BNV ngày 28/11/2011 của Bộ Nội vụ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ QLNN về công tác thanh niên cho đội ngũ CBCC làm công tác thanh niên các cấp, các ngành giai đoạn 2011
- UBND tỉnh đã ban hành các quyết định phê duyệt Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng CBCC và phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 – 2015, giao Sở Nội vụ phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng mềm cho CBCC cấp tỉnh, huyện, xã, trong đó tập trung chủ yếu cho đối tượng CBCC trẻ.
Từ năm 2011 đến nay, đã tổ chức 5 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ QLNN về thanh niên (cấp tỉnh 4 lớp, cấp huyện 01 lớp) cho 600 công chức trực tiếp tham mưu thực hiện nhiệm vụ QLNN về thanh niên của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, huyện và công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã và Bí thư, Phó Bí thư huyện Đoàn, Đoàn trực thuộc. Đồng thời phối hợp với UBND huyện Bình Sơn tập huấn cho 90 công chức trực tiếp tham mưu thực hiện nhiệm vụ QLNN về thanh niên của các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND huyện và Chủ tịch UBND xã, Phó Chủ tịch UBND xã và công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã, nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ công chức trực tiếp tham mưu thực hiện nhiệm vụ QLNN về thanh niên. Bên cạnh đó, Tỉnh đoàn cũng đã thường xuyên mở các lớp huấn luyện kỹ năng, nghiệp vụ công tác Đoàn và phong trào thanh niên cho đội ngũ ban chấp hành Đoàn cấp huyện, thành Đoàn và Đoàn trực thuộc.
Qua hoạt động tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ CBCC làm công tác thanh niên, bước đầu đã góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác thanh niên cũng như hoạt động QLNN về công tác thanh niên. CBCC làm công tác thanh niên, đặc biệt là cán bộ Đoàn, Hội các cấp đã thể hiện vai trò thủ lĩnh trong công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên; tích cực vận động đoàn viên, thanh niên xung kích đi đầu, đảm nhận thực hiện những việc khó việc mới, đã có nhiều công trình, phần việc thanh niên được triển khai thực hiện có hiệu quả, mang lại lợi ích dân sinh thiết thực.
2.2.3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác thanh niên ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Hệ thống cơ quan QLNN tổng hợp về thanh niên, có vị trí trực thuộc ngành Nội vụ; từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ QLNN chuyên trách về công tác thanh niên, am hiểu kiến thức và kỹ năng quản lý hành chính; có khả năng hoạch định cơ chế, chính sách tổng hợp về công tác thanh niên, có khả năng phát hiện, quy hoạch phát triển các nhân tài quản lý trong đội ngũ thanh niên tiên tiến của Việt Nam.
Nghị định 48/2008/NĐ-CP ngày 17 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ quy định Bộ Nội vụ có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong QLNN về công tác thanh niên, tuy nhiên chưa quy định cơ quan chuyên trách của Bộ thực hiện chức năng này. Ngày 02/02/2009, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 116/QĐ-BNV quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Tổng hợp, theo đó, Vụ Tổng hợp là cơ quan tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Nội vụ về QLNN đối với công tác thanh niên. Ngày 13/8/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1471/QĐ-TTg thành lập Vụ Công tác thanh niên trực thuộc Bộ Nội vụ để giúp Bộ trưởng Bộ Nội vụ thực hiện chức năng QLNN về công tác thanh niên. Quyết định số 1386/QĐ-BNV ngày 01/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Công tác thanh niên, quy định cụ thể 7 nhiệm vụ của Vụ Công tác thanh niên và các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ
Nội vụ phân công. Ngày 10/02/2011, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư 04/2011/TT-BNV hướng dẫn bổ sung nhiệm vụ, tổ chức và biên chế của Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện về công tác thanh niên.
- Ở Trung ương
Chính phủ đã giao Bộ Nội vụ là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất QLNN về công tác thanh niên quy định tại Nghị định số 48/2008/NĐ-CP. Trong đó, cơ quan tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Nội vụ thực hiện QLNN về công tác thanh niên là Vụ Công tác Thanh niên (trong cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ). Tuy nhiên, để xác định rõ hơn đầu mối làm nhiệm vụ QLNN về công tác thanh niên tại Bộ Nội vụ, cần đổi tên Vụ Tổng hợp hiện nay thành “Vụ Tổng hợp – Công tác thanh niên”; đồng thời thành lập các phòng nghiệp vụ trong Vụ này để thực hiện đầy đủ và toàn diện các nhiệm vụ được giao, trong đó có công tác thanh niên.
Đối với các bộ có lực lượng thanh niên nhiều như: Bộ Quốc phòng (chiếm gần 50% tổng quân số), Bộ Công an (chiếm 39,7% biên chế toàn lực lượng) đã có “Ban Công tác thanh niên” trong cơ cấu tổ chức của Bộ để tham mưu giúp Bộ trưởng thực hiện nhiệm vụ QLNN về công tác thanh niên.
Đối với các bộ, ngành khác, căn cứ vào nhu cầu và khối lượng công việc cụ thể, bố trí đủ CBCC trong Vụ Tổ chức cán bộ để thực hiện nhiệm vụ QLNN về công tác thanh niên cho phù hợp.
- Ở địa phương
Đối với cấp tỉnh
- Về chức năng, nhiệm vụ: bổ sung nhiệm vụ QLNN về công tác thanh niên trên địa bàn và giao cho Sở Nội vụ thực hiện.
- Về tổ chức bộ máy: thành lập “Phòng công tác thanh niên” trực thuộc Sở Nội vụ để thực hiện đầy đủ, toàn diện nhiệm vụ tham mưu QLNN về công tác thanh niên trên địa bàn; đồng thời thực hiện các nhiệm vụ phối hợp với các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội khác trên địa bàn.
Đối với cấp huyện: ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
UBND tỉnh đã ban hành Công văn số 766/UBND-NC ngày 08/3/2013 về bổ sung nhiệm vụ, biên chế của Phòng Nội vụ huyện, thành phố về công tác thanh niên. Không thành lập tổ chức chuyên trách, song bổ sung và quy định nhiệm vụ QLNN về công tác thanh niên trên địa bàn và giao cho Phòng Nội vụ trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện thực hiện.
Đối với cấp xã:
Bộ Nội vụ đã ban hành Công văn số 221/BNV-CTTN ngày 24/01/2013 về thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm thuộc lĩnh vực QLNN về thanh niên năm 2013. Theo đó, cấp xã bổ sung chức năng, nhiệm vụ QLNN về thanh niên, đồng thời phân công cho công chức giữ chức danh Văn phòng – Thống kê thuộc UBND xã, phường, thị trấn thực hiện.
Như vậy mô hình, cơ cấu, tổ chức bộ máy QLNN về công tác thanh niên được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương như sau:
QLNN đối với công tác thanh niên đã được Nhà nước từng bước xác lập và thể chế hóa (hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách, hình thành cơ quan quản lý công tác thanh niên…). Tuy nhiên trên thực tế, QLNN đối với công tác thanh niên vẫn còn lúng túng, chưa thật cụ thể, chưa hệ thống và đồng bộ cả về nội dung, phương thức và tổ chức bộ máy quản lý từ Trung uơng đến địa phương. Luật Thanh niên được Quốc hội ban hành từ năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa thật sự trở thành công cụ hữu hiệu để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên hiện nay. Hơn nữa, hoạt động QLNN về công tác thanh niên còn nhiều bất cập, cơ chế phối hợp liên ngành thực hiện công tác thanh niên chưa đủ rõ; vấn đề trách nhiệm QLNN chưa được quan tâm, chú trọng, do đó điều kiện hoạt động, sáng tạo của thanh niên gặp không ít khó khăn.
Muốn QLNN đối với công tác thanh niên hiệu quả thì phải tổ chức cơ quan chuyên môn QLNN đối với công tác thanh niên là sự cần thiết. Nghị định số 48/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định Bộ Nội vụ là cơ quan có chức năng QLNN về công tác thanh niên. Từ đó, chức năng QLNN về công tác thanh niên được quy định cho Sở Nội vụ ở cấp tỉnh với Phòng công tác thanh niên là cơ quan tham mưu. Ở cấp huyện là Phòng Nội vụ với một số định biên được bổ sung hoặc kiêm nhiệm phụ trách theo dõi QLNN đối với công tác thanh niên. Ở cấp xã, bố trí công chức Văn phòng – Thống kê theo dõi, tham mưu cho UBND xã. Tuy nhiên, mãi đến 3 năm sau, tức là đến năm 2011, nhiều tỉnh thành mới vừa thành lập xong Phòng công tác thanh niên thuộc Sở Nội vụ với số biên chế chưa đầy đủ. Ở cấp huyện, việc phân công lãnh đạo Phòng, bố trí chuyên viên phụ trách công tác này còn chậm hơn. Ở cấp xã, đến năm 2013 mới có văn bản hướng dẫn theo dõi về công tác thanh niên. Dẫn đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan này không hiệu quả. Tính đến nay tại Quảng Ngãi, Phòng công tác thanh niên đã được kiện toàn, bố trí Trưởng phòng, 01 Phó phòng và 03 chuyên viên. Các huyện, thành phố đều phân công 01 chuyên viên kiêm nhiệm phụ trách QLNN về công tác thanh niên. Các xã, phường, thị trấn phân công 01 công chức kiêm nhiệm theo dõi.
Như vậy, cơ quan nhà nước có chức năng QLNN đối với công tác thanh niên tại Quảng Ngãi đã chính thức được giao cho Sở Nội vụ với Phòng công tác thanh niên là cơ quan tham mưu cho Giám đốc Sở Nội vụ thực hiện chức năng QLNN đối với công tác thanh niên trên địa bàn. Đội ngũ CBCC thực hiện nhiệm vụ này đã tham mưu, thực hiện khá tốt hiệu quả công việc, nhất là việc tham mưu UBND tỉnh ban hành Chương trình phát triển thanh niên Quảng Ngãi giai đoạn 2012-2020.
Đồng thời, theo quy định tại Điều 4, Luật CBCC năm 2008, cán bộ trong biên chế của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh từ cấp huyện trở lên và Bí thư Đoàn phường, xã, thị trấn được coi là CBCC Nhà nước. Đội ngũ này được đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, vừa được quản lý theo quy định của Đảng, của Tỉnh ủy theo phân cấp, quy định của Đoàn nhưng cũng chịu sự điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật về CBCC của Nhà nước, hưởng lương và các chế độ từ ngân sách của tỉnh. Hiện nay, cơ quan chuyên trách Tỉnh Đoàn có 48 cán bộ, bao gồm biên chế và hợp đồng; 4 người đạt trình độ sau đại học; 30 người đạt trình độ đại học; 13 người đạt trình độ Cao cấp chính trị. Tại các huyện, thành phố và các khối khác tương đương cấp huyện có cơ sở Đoàn, cán bộ Đoàn chuyên trách là 107 người, 100% có trình độ đại học. Số cán bộ Đoàn cấp xã phường, thị trấn là 563 người, trong đó 490 người dưới 30 tuổi, tỷ lệ 87%.
Nhìn chung, cán bộ Đoàn – Hội – Đội các cấp của tỉnh hầu hết là trẻ, năng động, nhiệt tình trong công tác, có trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, nhận thức chính trị tốt; cán bộ cấp tỉnh có trình độ chuyên môn cao. Tuy nhiên, đội ngũ này ít có quá trình rèn luyện và trưởng thành từ thực tế cơ sở.
Trong công tác cán bộ Đoàn, mặc dù công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ ngày càng được quan tâm nhưng vẫn còn thiếu những giải pháp tổng thể cho công tác quy hoạch tạo nguồn cán bộ lâu dài cho tổ chức Đoàn các cấp, có lúc còn bị động trong công tác cán bộ. Chất lượng cán bộ Đoàn, nhất là tại xã, phường thị trấn còn hạn chế. Các chính sách thu hút cán bộ trẻ có năng lực phục vụ trong tổ chức Đoàn chưa tốt, do hiện nay cơ chế, chính sách đãi ngộ cho cán bộ Đoàn chưa được quan tâm đúng mức. Việc triển khai các quy định, kế hoạch, quy trình về công tác cán bộ chưa được thực hiện một cách đồng bộ và có sự đầu tư quyết liệt, kiểm tra thường xuyên, liên tục.
2.2.4. Công tác phối hợp về quản lý nhà nước đối với thanh niên ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Chính phủ luôn quan tâm tạo cơ chế phối hợp giải quyết các vấn đề liên quan đến thanh niên thông qua việc định kỳ hàng năm làm việc với Trung ương Đoàn. Ngày 14/12/2012, Chính phủ đã ký kết với Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh quy chế phối hợp công tác giữa hai bên, trong đó giao cho các bộ, ngành liên quan phối hợp với Trung ương Đoàn trong công tác chăm lo, bồi dưỡng và phát huy thanh niên; phối hợp xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật đối với thanh niên; quy định chế độ hội họp, cung cấp trao đổi thông tin về thanh niên và công tác thanh niên. Các bộ, ngành (từ Trung ương đến địa phương) đã ký kết nhiều nghị quyết liên tịch, chương trình phối hợp với Trung ương Đoàn và Đoàn thanh niên các cấp thực hiện chăm lo, bồi dưỡng và phát huy thanh niên. Trong quá trình thực hiện, Bộ Nội vụ phối hợp với các bộ, ngành hữu quan tổ chức các hoạt động giám sát, đánh giá kết quả việc thực hiện tại các địa phương, từ đó đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản chính sách, pháp luật cho đối tượng trên.
Tuy nhiên, sự phối hợp giữa các cơ quan QLNN còn chưa chặt chẽ. Cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin giữa Bộ Nội vụ với Ủy ban quốc gia về thanh niên Việt Nam, Trung ương Đoàn và các bộ, ngành hữu quan với chính quyền các địa phương trong thực hiện QLNN về thanh niên chưa được quy định rõ dẫn đến một số hoạt động còn trùng lắp hoặc bỏ trống.
2.2.5. Hoạt động hợp tác quốc tế về công tác thanh niên
UBND tỉnh đã chỉ đạo Đoàn thanh niên, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam tỉnh tiếp nhận, triển khai, thực hiện 09 Chương trình Hè quốc tế do tổ chức Madision Quaker và tổ chức Putney Student Travel tài trợ để xây dựng nhà tình nghĩa, trường mầm non và nhà sinh hoạt tại các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh.
Nhận đào tạo lưu học sinh của tỉnh Champasak với thỏa thuận: phía tỉnh Quảng Ngãi hỗ trợ kinh phí học tập, ký túc xá; phía bạn chịu trách nhiệm về kinh phí ăn, uống, bảo hiểm y tế và đi lại. Tính đến đầu năm 2017, có tổng cộng 97 lưu học sinh của Lào đang học tại Trường đại học Phạm Văn Đồng và Trường Đại học Tài chính – Kế toán tỉnh Quảng Ngãi. Ngoài ra, các sở, ban ngành, hội đoàn thể của tỉnh cũng đã có những chương trình hợp tác, hỗ trợ thiết thực đối với các địa phương của Lào như: Tỉnh Đoàn Quảng Ngãi đã tổ chức khám chữa bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho hơn 1.600 người dân tại hai huyện Bua La Pha và huyện Thà Khẹt, tỉnh Khăm Muộn; trao học bổng cho học sinh nghèo hiếu học, tặng Nhà nhân ái, Hội đàm trao đổi kinh nghiệm với Tỉnh Đoàn Khăm Muộn; tặng máy tính cho Đoàn thanh niên các huyện khó khăn của tỉnh Khăm Muộn,….
Các cấp, các ngành trong tỉnh trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được phân công đã thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục cho thanh niên về đường lối đối ngoại, chủ trương hội nhập kinh tế – quốc tế của Đảng và Nhà nước. Đồng thời phối hợp với các ngành chức năng trang bị kiến thức hiểu biết về tình hình trong nước và thế giới, hình thành bản lĩnh chính trị vững vàng cho thanh niên trong quan hệ đối ngoại và hội nhập.
2.2.6. Việc thực hiện thanh tra, kiểm tra các chính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Theo tìm hiểu tại Thanh tra tỉnh Quảng Ngãi, Thanh tra Sở Nội vụ và tại các huyện – thành phố, đến nay chưa ghi nhận một vụ việc khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm nào trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về thanh niên và công tác thanh niên của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh. Nếu có, chỉ là những vụ việc trong nội bộ tổ chức Đoàn được xử lý theo quy định của Điều lệ Đoàn liên quan đến những vi phạm, sai phạm của tổ chức, cá nhân trong công tác Đoàn.
Với thực trạng này, không phải không có những vi phạm diễn ra trong công tác thanh niên mà có thể do nội dung QLNN đối với công tác thanh niên chưa thật cụ thể, cơ quan QLNN có chức năng QLNN đối với công tác thanh niên mới được thành lập, các văn bản pháp luật như Luật Thanh niên và Nghị định hướng dẫn thi hành Luật thanh niên cũng không quy định cơ quan có chức năng giải quyết khiếu nại tố cáo liên quan đến công tác thanh niên nên không có cơ sở pháp lý để giải quyết.
Ngoài ra, thanh niên tỉnh cũng chưa nhận thức đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình trong công tác thanh niên để có thể đề nghị cơ quan nhà nước bảo vệ khi thấy quyền và nghĩa vụ của mình bị xâm hại; các tổ chức thanh niên trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước cũng chưa thể hiện là cơ quan đại diện quyền và lợi ích hợp pháp của thanh niên để đứng ra khiếu nại vì những lý do tế nhị (quan hệ, phụ thuộc ngân sách)…Vấn đề này trong việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về công tác thanh niên phải được xem xét một cách nghiêm túc, kỹ lưỡng.
2.3. Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
2.3.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân
- Những kết quả đạt được
Công tác QLNN về thanh niên đã được UBND tỉnh tập trung chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, chính quyền địa phương góp phần tạo điều kiện cho thanh niên phát triển, trưởng thành và phát huy vai trò, vị trí của mình trong từng cơ quan, đơn vị.
Về thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020 và thực hiện Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 11/9/2009 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 25-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH trong thời gian qua đã được lãnh đạo các cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện với nhiều nội dung sáng tạo, kịp thời, qua đó phát huy vai trò thanh niên trong tham gia phát triển KT – XH và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời phối hợp với các tổ chức đoàn thể để tạo điều kiện thuận lợi trong việc huy động các nguồn lực của xã hội, sự quan tâm của các ngành, các cấp trong việc chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ. Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên được quan tâm; công tác định hướng nghề, dạy nghề và giới thiệu việc làm được tổ chức hàng năm, đảm bảo yêu cầu của người lao động, hỗ trợ tạo việc làm và tự tạo việc làm cho người lao động trẻ tại địa phương sau khi học nghề. Các thiết chế văn hóa, thể thao đối với thanh niên đã từng bước được quan tâm, đầu tư xây dựng phù hợp với điều kiện KT – XH của từng đơn vị, địa phương, góp phần xây dựng xã hội lành mạnh, tạo điều kiện cho thanh niên rèn luyện, nâng cao thể chất, văn hóa, tinh thần để phát triển toàn diện. ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Về thực hiện Luật Thanh niên 2005, sau hơn 10 năm thực hiện, với sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh, sự phối hợp chặt chẽ của các đoàn thể và Ủy ban mặt trận tổ quốc Việc Nam các cấp cùng với sự nỗ lực thực hiện của các sở, ngành và địa phương, công tác thanh niên của tỉnh Quảng Ngãi trong hơn 10 năm triển khai Luật Thanh niên đã đạt được những kết quả nhất định, cho thấy sự nhận thức của cả hệ thống chính trị được nâng lên, có nhiều chuyển biến trong công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Vai trò thanh niên ðýợc khẳng định trong việc tham gia phát triển KT – XH và bảo vệ tổ quốc; Đoàn thanh niên các cấp đã chủ động hơn trong việc tham mưu cho cấp ủy và phối hợp với chính quyền để tạo cơ chế, chính sách đáp ứng yêu cầu nguyện vọng chính đáng của thanh niên; tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi trong việc huy động các nguồn lực của xã hội, sự quan tâm của các ngành, các cấp trong việc chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ.
Về thực hiện Quyết định số 40/2011/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời, đảm bảo bước đầu tạo được niềm tin cho đối tượng.
Công tác tổ chức bộ máy làm công tác QLNN về thanh niên được cũng cố kịp thời, công tác bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ QLNN về thanh niên cho đội ngũ công chức trực tiếp làm nhiệm vụ QLNN về thanh niên và công tác thanh niên được quan tâm đúng mức.
Về công tác kiểm tra và công tác phối hợp giữa Sở Nội vụ với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp tỉnh và các sở, ngành có liên quan trong việc thực hiện chức năng QLNN về thanh niên từng bước đã được quan tâm thực hiện. Qua công tác kiểm tra đã giúp các cơ quan, đơn vị, địa phương hiểu đúng hơn về thực hiện nhiệm vụ QLNN về công tác thanh niên, góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, mục tiêu trong kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam trên địa bàn tỉnh.
- Nguyên nhân
Thứ nhất, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của cấp ủy Đảng trong việc ban hành các Nghị quyết về công tác thanh niên. Sự chỉ đạo quyết liệt của UBND tỉnh đối với các cấp, ngành, địa phương bằng việc kiểm tra giám sát chặt chẽ các hoạt động trong đó có hoạt động về công tác thanh niên theo từng ngành, lĩnh vực phụ trách.
Thứ hai, các cấp, các ngành đã từng bước nhận thức được trách nhiệm của ngành, lĩnh vực mình phụ trách để tham gia hoạt động QLNN về thanh niên theo lĩnh vực, ngành mình quản lý.
Thứ ba, thanh niên hiện nay đã ý thức được trách nhiệm và tầm quan trong của mình trong việc tham gia các hoạt động phát triển KT – XH tại địa phương cũng như chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân trong quản lý nhà nước về thanh niên ở tỉnh Quảng Ngãi ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Những hạn chế trong QLNN về thanh niên ở tỉnh Quảng Ngãi
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác QLNN về thanh niên vẫn còn những tồn tại và hạn chế sau:
- Một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa quan tâm đúng mức và chưa thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình trong công tác QLNN về thanh niên. Việc triển khai thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2012-2020 tại cơ quan, đơn vị, địa phương chưa đảm bảo các chỉ tiêu, mục tiêu đã đề ra. Hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam ở các huyện, thành phố chưa hiệu quả.
- Công tác phối hợp giữa các ngành liên quan chưa chặt chẽ, việc lồng ghép mục tiêu, chỉ tiêu phát triển thanh niên trong chương trình, kế hoạch của một số sở, ngành, địa phương còn hạn chế. Vai trò chủ đạo của một số cơ quan chuyên ngành chưa trở thành động lực, tạo điều kiện cho công tác thanh niên phát triển.
- Công chức được phân công trực tiếp tham mưu giúp thủ trưởng cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ QLNN về thanh niên có thời gian công tác còn ít, chưa tiếp cận, còn thụ động với công việc mới, nên công tác tham mưu cho lãnh đạo còn chậm.
- Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về QLNN đối với công tác thanh niên chưa được thực hiện thường xuyên.
- Vai trò của tổ chức Đoàn trong công tác giám sát, phản biện xã hội đến các vấn đề liên quan về thanh niên chưa thực sự rõ ràng; việc phối hợp giữa tổ chức Đoàn với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể trong công tác giám sát, phản biện xã hội chưa hiệu quả; cơ chế bảo đảm cho Đoàn TNCS Hồ Chí Minh các cấp tham gia hoạt động phản biện xã hội chưa được quan tâm thực hiện đồng bộ; công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ giám sát, phản biện xã hội cho đội ngũ cán bộ Đoàn chưa được thường xuyên…
- Việc tiến hành kiểm tra và thẩm định hồ sơ thanh niên xung phong còn chậm, một số huyện, thành phố chưa quan tâm đúng mức đến công tác chỉ đạo triển khai thực hiện chế độ trợ cấp cho thanh niên xung phong, công tác hướng dẫn của các Bộ, ngành Trung ương chưa kịp thời.
Nguyên nhân của những hạn chế
- Sự chỉ đạo, hướng dẫn của các Bộ, ngành ở Trung ương trong công tác QLNN về thanh niên còn chậm, chưa kịp thời; nhiều cơ chế, chính sách có liên quan đến QLNN về công tác thanh niên chưa được bổ sung, điều chỉnh và chậm được ban hành.
- Nhận thức về nhiệm vụ QLNN về thanh niên nói chung và nhiệm vụ triển khai thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam nói riêng ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thật sự sâu sắc (chủ yếu là giao, khoán trắng cho Đoàn thanh niên) việc đưa các chỉ tiêu, mô hình, hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục thanh niên vào chương trình, kế hoạch phát triển KT – XH ở địa phương và chỉ tiêu phát triển ngành, lĩnh vực chưa được chú trọng.
- Sự phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước trong các hoạt động liên quan đến công tác thanh niên chưa được đề cao, chưa có hình thức xử phạt, chế tài đối với những cơ quan thiếu trách nhiệm trong quá trình phối hợp, gây ảnh hưởng đến hoạt động QLNN đối với công tác thanh niên.
- Việc bố trí nhân sự trực tiếp làm nhiệm vụ QLNN về thanh niên, đồng thời kiêm nhiệm rất nhiều nhiệm vụ khác, dẫn đến công tác tham mưu cho Thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong việc ban hành và thực hiện cơ chế, chính sách đối với thanh niên thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình không hiệu quả, bị động. ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
- Công tác kiểm tra, giám sát về QLNN đối với công tác thanh niên ít được chú trọng; nội dung thanh tra, kiểm tra chưa rõ ràng dẫn đến việc thực hiện chức năng này còn hạn chế.
- Nhận thức về vai trò của tổ chức Đoàn trong tham gia kiểm tra, giám sát và phản biện xã hội về các vấn đề liên quan đến thanh niên của một số tổ chức cơ sở Đoàn chưa cao; kỹ năng kiểm tra, giám sát và phản biện xã hội, đặc biệt tổ chức Đoàn khối, xã, phường còn hạn chế nên gặp một số khó khăn khi triển khai ở cơ sở; việc nắm bắt các chủ trương, chính sách mới chưa kịp thời, hiểu chưa cặn kẽ nên việc tham gia giám sát, phản biện xã hội còn gặp khó khăn
- Điều kiện KT – XH của một số địa phương còn nhiều khó khăn nên việc đầu tư, chăm lo cho thanh niên và công tác thanh niên có nhiều hạn chế. Do thiếu việc làm hoặc việc làm không ổn định, thu nhập thấp nên thanh niên thường xuyên phải đi làm ăn xa đã ảnh hưởng đến việc quản lý, duy trì sinh hoạt, hoạt động và tập hợp thanh niên.
- Việc thực hiện chế độ trợ cấp cho thanh niên xung phong vẫn còn những khó khăn, bất cập nhất định, công tác hướng dẫn của các Bộ, ngành trung ương chưa kịp thời.
2.3.3. Bài học kinh nghiệm
- Phải tranh thủ được sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm, tạo điều kiện của chính quyền các cấp, sự phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể thì sẽ mang lại kết quả trong việc thực hiện các chương trình phát triển thanh niên.
- Phát huy tính chủ động, sáng tạo của Đoàn thanh niên trong công tác tham mưu, phối hợp và triển khai thực hiện. Chú trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong thanh niên, xây dựng cơ chế, chính sách tạo điều kiện để thanh niên tích cực tham gia các hoạt động của Đoàn Thanh niên.
- Việc xây dựng kế hoạch hành động phải đảm bảo tính khả thi, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, đáp ứng nhu cầu chính đáng của đông đảo đoàn viên thanh niên; thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức hoạt động nhằm thu hút, tập hợp được sức mạnh to lớn của thanh niên.
Tiểu kết chương 2 ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Trong chương 2, luận văn tập trung phân tích làm rõ thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2010 đến nay. Qua 6 nội dung đã phân tích, có thể nhận thấy, chính quyền tỉnh Quảng Ngãi trong những năm qua đã thực hiện tốt việc ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và trọng dụng tài năng trẻ, kết quả đã thu hút được 119 người có trình độ cao về làm việc tại tỉnh, hỗ trợ đào tạo cho 298 cán bộ công chức; chính sách đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho hơn 52.000 thanh niên; các chính sách chăm sóc sức khỏe, phát triển thể chất, đời sống văn hóa, tinh thần cho thanh niên và các chính sách đối với thanh niên đặc thù được tỉnh quan tâm.
Ngoài ra, trong chương 2 cũng phân tích mối quan hệ giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Nhà nước trong quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên; công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác thanh niên; tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác thanh niên; công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước; hoạt động hợp tác quốc tế và việc thanh tra, kiểm tra các chính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được trong thời gian qua, hoạt động QLNN về công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần phải tập trung khắc phục trong thời gian đến, đó là việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước thiếu chặt chẽ, chủ yếu thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cấp, các ngành, các lĩnh vực và tổ chức Đoàn thanh niên. Các văn bản chính sách cụ thể trên từng ngành lĩnh vực điều chỉnh trực tiếp đến đối tượng thanh niên còn thiếu, nhiều chính sách cho thanh niên chưa đáp ứng nhu cầu thực tế và tình hình phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay. Công tác thanh tra, kiểm tra ít được quan tâm, không quy định cơ quan có chức năng giải quyết khiếu nại tố cáo liên quan đến công tác thanh niên nên không có cơ sở pháp lý để giải quyết. Ngoài ra, công chức được phân công trực tiếp tham mưu giúp thủ trưởng cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ QLNN về công tác thanh niên có thời gian công tác còn ít, chưa tiếp cận, còn thụ động với công việc mới, nên công tác tham mưu cho lãnh đạo còn chậm.
Những nội dung được phân tích, trình bày tại Chương 2 làm cơ sở cho việc dự báo tình hình và đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong Chương 3. ( Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên )
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Giải pháp quản lý nhà nước với công tác thanh niên

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
