Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Nguồn Lực Và Thực trạng hoạt động du lịch cộng đồng tại khu du Lịch Tam Cốc – Bích Động dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở TAM CỐC – BÍCH ĐỘNG

2.1.1. Vị trí địa lý và tài nguyên du lịch tự nhiên

2.1.1.1. Vị trí địa lý

Tam Cốc – Bích Động là một trong hai danh thắng nổi tiếng của khu vực Hoa Lư. Phạm vi giới hạn khu du lịch Tam Cốc – Bích Động được xác định trong quy hoạch khoảng 400ha, thuộc địa phận xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư; một phần thuộc xã Sơn Hà huyện Nho Quan; xã Yên Sơn thị xã Tam Điệp, Ninh Bình. Tam Cốc cách Hà Nội trung tâm kinh tế văn hóa du lịch của cả nước khoảng 100 km; cách thành phố Ninh Bình 7km, lại gần quốc lộ 1A – trục đường giao thông đường bộ, đường sắt của cả nước, có đường quốc lộ 10, đường 21, lại rất gần với các khu du lịch lớn như: Quảng Ninh, Hải Phòng …Đây là vị trí rất thuận lợi cho phát triển du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng, giúp người dân có thể tham gia vào hoạt động vận chuyển.

2.1.1.2. Địa chất – Địa mạo

Về kiến tạo, khu vực Tam Cốc – Bích Động nằm trong đới Sông Đà. Địa tầng bao gồm các phức hệ đá cacbonat tuổi Cổ sinh chứa hoá thạch San hô, Tay cuộn và Trùng lỗ; các phức hệ trầm tích bở rời tuổi Đệ tứ. Các dãy núi đá vôi ở đây có độ cao vài chục đến vài trăm mét, phân bố dạng vòng cung, được hình thành do quá trình nâng lên và chia cắt trong chu kỳ tân kiến tạo cách đây chừng 5 triệu năm.

Kiểu địa hình độc đáo của Tam Cốc – Bích Động là kiểu địa hình karst, và được mệnh danh là “Hạ Long cạn”của Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của địa hình là các hình thái hùng vĩ, chia cắt mạnh, sườn dốc đứng, lởm chởm tai mèo, nhiều hang động và nhiều ngấn nước biển cổ. Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Vì vậy cảnh quan ở đây thật thi vị, là sự kết hợp hài hoà giữa núi, sông, rừng cùng hệ thống hang động rất phong phú về hình thái và chủng loại. Ngoài ra, địa hình Tam Cốc – Bích Động còn nổi tiếng với sự phổ biến của các thung, nơi có sự đa dạng sinh học cao, nằm xen lẫn với các dãy núi rất thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch sinh thái như: thung Nắng, thung Hải Nham, thung Một, thung Ao Mép, thung Thầy, thung Hang Vạng…

Một phần hệ thống hang động này đã được đưa vào khai thác phục vụ du khách từ nhiều năm trước, gần đây tiếp tục được địa phương quan tâm đầu tư nâng cấp dịch vụ và phạm vi thăm quan, đáng chú ý nhất là hang Cả, hang Hai, hang Ba, động Thiên Hương, động Tiên, hang Thung Nắng là những hang động đạt hiệu quả khai thác tốt.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2.1.1.3. Khí hậu

Khu vực này có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa đông lạnh, phù hợp với chế độ hoàn lưu chung của khu vực. Ở vùng này, gió thổi theo hai hướng chủ yếu của 2 mùa: Đông và Hè. Trong mùa đông (từ tháng 9 – 2), hướng gió thịnh hành ở đây là gió mùa đông bắc với tần suất giao động từ 26% – 42%, sau đó hướng tây bắc trong nửa đầu mùa đông với tần suất 10%, 11% và hướng đông nam với tần suất 10% – 16% trong nửa cuối mùa đông.

Vào mùa hè, hướng gió chính là hướng đông nam và nam với tần suất mỗi hướng giao động khoảng 1,8 – 2,0 m/s. Nhìn chung là ít thay đổi trong năm.

Số liệu thống kê của UBND xã Ninh Hải nhiều năm cho thấy lượng mưa trung bình khoảng 140 – 150 ngày mưa /năm. Các tháng ít mưa nhất là tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Số ngày mưa khoảng 4 – 6 ngày /tháng. Các tháng còn lại mưa trên 10 ngày một tháng. Tháng mưa nhiều nhất là tháng 8, số ngày mưa gấp ba lần số ngày mưa của tháng ít mưa. Ở đây vào mùa mưa, mực nước lớn không gây lụt lội mà ngược lại tạo điều kiện tốt hơn cho chuyên chở khách đi thưởng ngoạn cảnh “sơn thủy hữu tình”. Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Các hiện tượng thời tiết đặc biệt: Ngoại trừ mưa phùn và mưa bão, trong các tháng còn lại trong năm, cơ chế mưa tại đây chủ yếu là mưa rào và mưa giông. Các kiểu mưa này rất mau tạnh, ít gây trở ngại cho hoạt động du lịch. Các kiểu mưa này cũng đóng vai trò tích cực trong việc làm sạch không khí.

Với khí hậu trên, hoạt động du lịch nói chung và hoạt động chở đò của người dân nơi đây diễn ra liên tục trong năm, không bị gián đoạn do tác động của thời tiết. Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho hoạt động du lịch.

2.1.1.4. Thủy văn

Khu vực này được điều tiết bởi các con sông trong vùng như sông Ngô Đồng, sông Sào Khê, sông Văn…Nên chế độ thủy triều có nhiều lúc biến động. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng không nhiều do cấu trúc địa hình của các núi đá, các thung và hang động xen kẽ nên tác động của thủy triều đối với việc đi lại của du khách trên các con sông, lạch là không lớn vào mùa lũ. Nhưng hiện tượng bồi của các hệ thống sông ở khu vực này là rất lớn. Vì vậy cần phải thường xuyên nạo vét luồng lạch mới đảm bảo thuận lợi cho hoạt động vận chuyển khách đi tham quan được nhiều điểm trong khu vực.

2.1.1.5. Sinh vật

Thảm thực vật ở Tam Cốc – Bích Động khá đơn giản, chủ yếu là các kiểu thảm thực vật bị tác động mạnh của con người như trảng cây bụi trên đá vôi, trảng có chịu ngập, các quần xã thủy sinh. Ngoài ra còn có một bộ phận thảm cây trồng như cây trồng ở các quần cư lúa nước.

Các thảm thực vật trên kết hợp với địa hình, thủy văn tạo nên phong cảnh đẹp, góp phần quan trọng vào việc đáp ứng nhu cầu của du khách, cung cấp nông sản, cây cảnh tạo môi trường du lịch xanh sạch.

Vài năm trở lại đây, tại khu vực Thung Nham, công ty TNHH Thương mại dịch vụ Doanh Sinh đã tiến hành ngăn đập nước, phục vụ chăn nuôi và trồng trọt, đã xuất hiện hàng ngàn con chim kéo về cư trú, hình thành nên vườn chim tự nhiên. Một số động vật đã xuất hiện ngay trong khu vực như khỉ đuôi dài, sóc, cá chầu vua…Nhiều loại thực vật quý như: Cây Bo, cây dương xỉ đỏ, cây vạc nước, cây lộc vừng, cây vàng anh…Đây là tiềm năng cần được khai thác và sử dụng hợp lý để phục vụ cho nhu cầu phát triển du lịch và tham quan của du khách. Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Tam Cốc – Bích Động có phông môi trường sinh thái đa dạng, là tiền đề cho một thế giới sinh vật phong phú. Trong số 577 loài thực vật thống kê được, có 311 loài có thể dùng làm thuốc chữa bệnh. Tài nguyên cây cảnh được ghi nhận được 76 loài, giá trị lớn nhất là Vạn tuế, và các loài thuộc họ Lan.

Động vật thủy sinh trong vùng ngập nước hiện còn tồn tại tương đối phong phú, bao gồm 30 loài động vật nổi, 47 loài động vật đáy. Đặc biệt là Rùa sọc cổ (Ocadia sinesis) được coi là quý hiếm.

Đánh giá :

Tam Cốc – Bích Động là một khu du lịch văn hóa lịch sử và thiên nhiên hấp dẫn. Đây là điểm dừng chân của học sinh, sinh viên, nhà nghiên cứu khoa học… Đây cũng là điểm dừng chân để nghỉ ngơi, thư giãn, ngắm những nhũ đá vôi với vẻ trinh nguyên của nó hoặc đi bộ qua các khu rừng trên núi đá vôi, leo núi, chèo thuyền để hít thở không khí trong lành.

2.1.1.6. Các điểm phong cảnh tự nhiên

  • Tam Cốc:

Theo nghĩa Hán Việt, Tam Cốc có nghĩa là ba hang, gồm hang Cả, hang Hai, hang Ba thuộc thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư. Du khách đi tham quan Tam Cốc chỉ có một đường duy nhất vào, ra khoảng 3 giờ đồng hồ đi bằng thuyền chèo tay từ bến Văn Lâm (Đình Các).

Thuyền đưa du khách đi khoảng 2 km là đến hang Cả. Hang Cả dài 127 m rộng 20m nằm dưới một quả núi lớn vắt ngang qua hai dãy núi bên sông Ngô Đồng. Trên vách đá bên tay phải sát cửa hang có khắc bài thơ chữ Hán và bản dịch của Bố chính Nam Định là cử nhân Đỗ Kiêm Thiện.

Thuyền trôi 1km nữa là đến hang Hai. Hang Hai cũng nằm dưới quả núi vắt ngang sông Ngô Đồng. Hang dài 60m rộng 18m. Trần hang có nhiều nhũ đá rủ xuống rất đẹp.

Đi khoảng 100m nữa là tới hang Ba.Hang Ba dài 45m rộng 18m. Đây là hang mát nhất vào mùa hè vì hang thấp hơn. Trần hang có ít nhũ đá chủ yếu là những vòm đá được bào nhẵn đến trơ trụi.

  • Suối tiên: Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Đi qua Tam Cốc khoảng 3 Km nữa là đến Suối Tiên. Đường sông Ngô Đồng tới Suối Tiên uốn lượn ngoằn ngoèo, lách vào các dãy núi đá. Nhìn trước mặt thấy núi chắn ngang, quay lại phía sau cũng thấy núi chắn, hai bên dòng sông đều là các dãy núi trùng trùng điệp điệp khiến ta có cảm giác như không có đường ra mà cũng chẳng có đường vào, xung quanh là đường vòng tròn núi vây hãm.

Trên đường đi suối Tiên, du khách còn được chiêm ngưỡng một ngọn núi cao ngất, đứng độc lập giữa hai dãy núi bên sông Ngô Đồng, đó là núi Bậc Bài. Đi tiếp qua các cánh đồng, thuyền cập bến, du khách đi bộ khoảng vài chục mét nữa là đến suối Tiên. Suối Tiên thực chất là một hang nước hẹp, rộng khoảng 10m2. Nước từ trong núi chảy ra, hang nhỏ này có độ sâu trung bình 1m, nước lúc nào cũng trong vắt. Dưới Suối Tiên là một phiến đá to, bằng phẳng rộng 0,1m2, có thể đứng tắm được, tương truyền nơi đây xưa kia là nơi tắm của Tiên nên được gọi là suối Tiên.

  • Động Tiên:

Động Tiên ở thôn Đam Khê, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư và còn có một cái tên khác đó là động Móc. Động nằm cách Bích Động 1km, đến động bằng thuyền hoặc đi đường bộ đều được cả.

Động gồm ba hang lớn, rộng cao vời vợi, đường vào động phải đi qua một khe hang nhỏ, mấp mô. Trần hang là những vân đá nhũ rỏ xuống lấp lánh nhiều màu sắc. Nhiều khối nhũ đá từ trần rủ xuống nền, cao hơn chục mét tựa như những rẽ cây cổ thụ với các tên gọi như: cây tiền, cây thóc, ông tiên, cô tiên, con voi, con hổ…Xung quanh vách động và trên nền động có nhiều măng đá, nhũ đá. Những nhũ đá này được thiên nhiên chạm trổ một cách công phu, vừa phóng khoáng, vừa tinh tế mà rất sống động.

  • Hang Thung Thầy (xuyên thủy động):

Xuyên thủy động nằm dọc theo chiều dài của dãy núi Bích Động. Nơi đây có ba ngôi chùa: Hạ, Trung, Thượng và bên sườn núi lại có xuyên thủy động như một đường ống nước đá khổng lồ uốn lượn từ phía đông sang phía tây, tạo ra thế tụ thủy, âm dương dung hòa là cho chùa Bích Động thêm linh thiêng hơn.

Hang này dài 350m, vào ra khoảng mất 40 phút, bình quân bề rộng của Xuyên thủy động là 6m, chỗ rộng nhất là 15m, chiều cao tính từ mặt nước tới trần hang là 2m. Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Trần và vách hang thường phẳng, nhũ đá trong hang rất ít nhưng chỗ nào có nhũ đá thì đều mang hình dáng rất giống: ông tiên, cô tiên, bầu sữa mẹ, kho thóc, kho kim cương, dơi, cá sấu…Thuyền đưa du khách ra khỏi hang, phía trước mặt là cánh đồng Thong Thầy ngập nước, xung quanh núi bao bọc, du khách có thể leo qua chèn để sang chùa Hạ hoặc du khách ngồi thuyền quay trở ra.

  • Động Thiên Hương:

Động nằm ở chân núi Đồng Võ, cạnh bến Thánh. Để lên thăm động du khách phải bước lên 30 bậc đá. Đến cửa động lại bước lên cao 1m nữa mới tới nền động. Không gian trong động rộng lớn, cao thăm thẳm như hình rỗng bên trong của một quả chuông đá khổng lồ úp lên. Nhìn động bằng phẳng, rộng 800m2, dài 40m, cao 60m. Đứng trên nền động nhìn thấy một khoảng trời… Có lẽ vì vậy mà động có tên là động trời. Trên đỉnh núi có một phiến đá rộng 10m, tương truyền đây là nơi các vị tiên thường chơi cờ.

Nằm trong động là miếu thờ bà Trần thị Dung – vợ vua Lý Huệ Tông dưới triều nhà Lý và sang thời Trần, bà là vợ của Thái sư Trần Thủ Độ. Tương truyền, khi cùng triều đình nhà Trần vào Vũ Lâm lập hành cung, bà đã truyền dạy cho dân cư thôn Văn Lâm nghề thêu ren. Bà được nhân dân ở đây tôn làm bà tổ nghề thêu ren.

  • Đánh giá chung :

Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động là một danh thắng có cảnh quan tự nhiên hùng vĩ, thơ mộng và mang một vẻ đẹp hoang sơ, có sự kết hợp giữa cảnh quan tự nhiên và các di tích lịch sử văn hóa. Đặc biệt là hệ thống hang động độc đáo, có các hệ sinh thái phong phú, núi non trùng điệp xen kẽ với các thung ngập nước, các dòng chảy với các thảm thực vật phủ kín sườn núi và chân núi. Do đó tại đây có thể phát triển nhiều loại hình du lịch dựa vào cộng đồng như: du lịch tham quan, du lịch sinh thái, du lịch leo núi, du lịch văn hóa và các tuyến du khảo đồng quê.

2.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn và điều kiện kinh tế – xã hội:

2.1.2.1. Tài nguyên du lịch nhân văn Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Bao gồm hệ thống các đình, chùa, đền, làng nghề, lễ hội, phong tục tập quán, ẩm thực.

  • Các di tích lịch sử văn hóa :
  • Chùa Bích Động:

Chùa Bích Động được xây dựng bên sườn núi Bích Động, thuộc địa phận thôn Đam Khê, xã Ninh Hải. Tương truyền dưới thời vua Lê lợi có hai vị hòa thượng pháp danh là Chí Kiên và Chí Thế, một người quê ở Vọng Doanh, một người quê ở Đông Xuyên, hai người kết nghĩa làm anh em, cùng nhau đi khắp nơi trong nước để truyền bá đạo. Khi tới đây thấy phong cảnh đẹp, âm dương thuận mọi bề, họ tiến hành sửa sang động phù, quyên giáo làm chùa để tu hành.

Ban đầu chùa xây dựng còn rất sơ sài, nương dựa chính vào hang động nên được gọi là chùa động. Về sau này chùa được tu bổ mở mang thêm mới có hình dáng như ngày nay.

Chùa Bích Động là một công trình kiến trúc cổ, xây dựng bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài, các góc mái có đầu đao đều cong vút, chùa được xây dựng theo kiểu chữ Tam, ba tòa không liền nhau, tam cấp dọc theo sườn núi Bích Động tạo thành ba ngôi chùa: Chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng.

Chùa Hạ được xây dựng theo kiểu chữ Đinh. Mái chùa gồm hai tầng tám mái. Ở giữa Tiền đường có treo bức đại tự bằng chữ Hán “Mạo cổ thần thánh”, có nghĩa là dáng dấp ngôi chùa xưa nay thiêng lắm.

Chùa Trung có kiến trúc bán mái phía ngoài, một nửa lộ thiên. Chùa có kiến trúc theo kiểu chữ Đinh, hai tầng mái. Từ gian bên phải trong Tiền đường chùa Trung theo cửa hậu, leo 21 bậc đá là tới động Tối (Bích Động). Ngay cửa động có treo một quả chuông lớn đúc năm 1707 niên hiệu Vĩnh Thụy thứ hai triều Vua Lê Dụ Tông.

Chùa Thượng hay còn gọi là chùa Đông (vì chùa quay hướng Đông). Chùa có hai gian được xây theo kiểu nhà dọc bằng đá phiến, phía trong dựa vào núi đá. Từ trên chùa Thượng có thể ngắm nhìn được một một phần quang cảnh của khu Tam Cốc – Bích Động.Đó là núi Chồng Sách, núi Voi, năm ngọn núi bao quanh chùa Bích Động là “Ngũ nhạc sơn”.

  • Đền Thái Vi: Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Chức năng chính của đền là để tưởng nhớ đến các vị vua nhà Trần đã lập hành cung Vũ Lâm và sau khi băng hà, nhân dân thôn Văn Lâm đã xây dựng đền Thái Vi trên nền đất cũ mà trước đây vua Trần Thái Tông đã xây am Thái Vi. Gọi là Am Thái Vi vì đó là nơi Hoàng đé nhà Trần xuất gia. Đền Thái Vi được xây dựng theo kiểu “Nội công ngoại quốc”; phía ngoài nghi môn có đặt một đôi ngựa bằng đá xanh nguyên khối; trước đền có giếng ngọc xây bằng đá xanh. Qua nghi môn phía bên phải là gác chuông hai tầng mái song song đăng đối xây theo kiểu “chồng diềm”. Gác chuông có treo một quả chuông đúc từ năm 1689.

Từ sân rồng bước qua theo bậc đá có độ cao 1,2m là tới Ngũ Đại Môn (5 cửa lớn), có 6 cột đá tròn đều được trạm khắc theo lối Long Phượng chầu vào chính điện.

Qua 5 cửa lớn là tới 5 gian Bái Đường, ở đây cũng có 6 cột đá vuông trạm khắc nổi Long, Ly, Quy, Phượng, cá chép hóa Rồng. Gian giữa bái đường có treo bức hoành phi lớn, sơn son thiếp vàng có bốn chữ Hán: “Long đức chính cung”.

Trung đường với 5 gian chính điện cũng có 8 cột đá tròn được trạm khắc nổi chủ đề : Cầm, kỳ, thi, họa.

Trong cung khám của chính điện, ở giữa là tượng vua Trần Thánh Tông, bên phải là hoàng hậu Thuận Thiên – vợ vua Trần Thái Tông. Tại đây còn thờ bài vị của vua Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông. Như vậy đền Thái Vi là nơi thờ 4 vị vua nhà Trần.

  • Chùa Linh Cốc:

Chùa Linh Cốc thuộc địa phận thôn Côi Khê, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, cách chùa Bích Động khoảng 500m về phía Đông nam, nằm gần núi chùa Móc.

Hai bên sân chùa là nhà thờ tổ, ba gian đặt tượng Thánh tăng là đức A Nam Đà và đức Bồ Đề Đạt Ma người Ấn Độ. Nhà trai có 5 gian quay hướng Đông Nam. Điện mẫu quay lưng vào sườn núi hướng Tây Nam. Hậu cung là một gian thờ Tam tòa thánh mẫu. Thiêu hương có 5 gian thờ Công đồng Thánh mẫu.

Lên chùa Linh Cốc, du khách qua hồi hướng Nam của điện Mẫu leo lên chừng 83 bậc đá mới tới, chùa ở lưng chừng núi, có độ cao khoảng 30m so với sân. Đây là một chùa động, buồng ngoài của động cao 20m, nền phẳng rộng dung làm tiền đường của chùa, đặt 2 tượng Hộ pháp. Buồng trong của động là một vòm nhỏ ôm trọn lấy Thượng điện của chùa. Trước Thượng điện ở trên cao có 3 chữ Hán lớn “Cốc Linh tự” – chùa Cốc Linh. Trong thượng điện của chùa có đặt nhiều tượng phật.

  • Đền Nội Lâm: Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Đền nằm trong khu vực suối Tiên, thuộc thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải. Sau khi tham quan Tam Cốc xong du khách tiếp tục chèo thuyền vào sâu bên trong khoảng 3 km nữa, sau đó đi qua “Tòa xi bảy mẫu” là tới đền nội Lâm.

Đền nằm gọn trong một hang núi gồm một gian chính và hai gian nhỏ hai bên. Trước đền dưới chân núi là một đầm nước trong xanh rất sâu. Đền thờ thần Quý Minh – theo truyền thuyết là một vị tướng của Vua Hùng.

Các xà ngang, bậc cửa và 12 cột đều được làm bằng đá. Các cột đá đều được làm vuông có kích thước 15cmx15cm, cao gần 2m, đều được chạm nổi tứ linh, rồng, hoa sen. Đường nét trạm khắc rất tinh tế uyển chuyển mềm mại mà sống động.

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 7 tháng Giêng, người dân ở đây lại vào đền thắp hương lễ thần để cầu mong cho một năm đi bắt cá trồng cây trong núi được bình an may mắn gọi là lễ Phát Lát. Ngày lễ giỗ thần hàng năm vào ngày 18-3 âm lịch.

  • Các lễ hội:
  • Lễ hội đền Thái Vi:

Từ xa xưa, cứ đến ngày 14-3 âm lịch, lễ hội đền Thái Vi lại được tổ chức. Đây được liệt vào hàng “quốc gia tế lễ”. Lúc đó nhà vua ra lệnh cho các quan trong triều từ Kinh đô về đền Thái Vi tế lễ. Ban tế là các quan trong triều, chủ tế là một vị hoàng thân trong triều do vua chỉ định.

Ngày nay, lễ hội đền Thái Vi trở hội làng được mở từ ngày 14-3 đến 17-3 âm lịch hàng năm. Hình thức tổ chức lễ hội Thái Vi cũng như các lễ hội truyền thống khác. Bao gồm 2 phần : phần Lễ và phần Hội.

Phần Lễ được tiến hành dưới hai hình thức: Rước kiệu và tế. Rước kiệu ở đền Thái Vi không phải chỉ có một đoàn mà nhiều đoàn từ các xã trong huyện Hoa Lư và trong tỉnh.

Ban tế gồm 15- 20 người, gồm một ông chủ tế (thường là người cao tuổi và có uy tín trong làng). Ông chủ tế đọc văn tế ca ngợi công đức của vua Trần. Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Phần hội là các trò chơi: múa lân, múa rồng, đánh cờ người, đấu vật, bơi thuyền ngoạn mục…

Đây là lễ hội truyền thống đặc sắc, quy mô lớn. Tuy nhiên, lễ hội đền Thái Vi hiện nay quy mô đã không còn đươc như xưa. Việc khai thác những giá trị của lễ hội vào hoạt động du lịch hầu như là chưa có. Việc kết hợp tham quan phong cảnh tự nhiên với tham dự lễ hội văn hóa truyền thống sẽ tạo ra một sản phẩm du lịch hấp dẫn được du khách.

  • Con người:

Con người nơi đây vốn là những con người thuần nông hiền lành và chất phác luôn mang trong mình tinh thần hiếu khách, giàu truyền thống cách mạng, lại khéo tay hay làm, và đã được ví von như:

“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”.

  • Ẩm thực:

Tái dê:

Tái dê đã trở thành món ăn đặc sản ở nơi đây. Tam Cốc – Bích Động có nhiều dãy núi đá vôi nên dê thường sinh sống tập trung rất nhiều. Người ra bắt dê về làm lông, thui vàng, mổ ra ướp với lá hương nhu hoặc lá cúc tần khoảng hơn chục phút rồi lọc lấy thịt (để cả da) đem nhúng vào nước sôi cho tái chín, sau đó thái mỏng đều.

Lấy vừng đã rang giã dập, xả thái nhỏ, lá chanh, gừng, ớt tươi thái nhỏ, nước chanh, bột ngọt đổ vào thịt dê đã thái sẵn, tất cả trộn lên tạo thành một hương vị quyến rũ. Đó chính là món tái dê nổi tiếng của địa phương.

Ngoài ra còn có rất nhiều món được chế biến từ thịt dê như: Dê áp chảo, dê nướng, dê quay, dê hấp, tiết canh dê, rượu Ngọc dương …v.v.

Thịt dê phải ăn kèm với lá sung, quả chuối xanh, khế, lá mơ, và điều quan trọng là phải có tương gừng để chấm. Thịt dê ăn rất mát và bổ dưỡng.

  • Làng nghề truyền thống: Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Nơi đây có nhiều làng nghề truyền thống, nhưng nổi bật nhất và có ý nghĩa nhất đối với việc phát triển du lịch đó là nghề thêu ở thôn Văn Lâm xã Ninh Hải. Tương truyền nghề thêu ren truyền thống ở nơi đây là do Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung khi cùng triều đình nhà Trần vào Vũ Lâm xây dựng hành cung Vũ Lâm vào năm 1258 đã truyền dạy cho nhân dân của thôn. Bà được nhân dân ở đây tôn làm bà tổ của nghề thêu ren. Hiện nay bà được thờ ở động Thiên Hương.

Các sản phẩm thêu ren rất phong phú: Ga trải giường, rèm cửa, gối, khăn bàn, khăn ăn, tranh ảnh v.v… Các mặt hàng này đã có mặt tại các thị trường Nga, Đức, Thụy Sỹ… và rất được ưa chuộng. Đây cũng là những mặt hàng phục vụ cho du khách tham quan du lịch tại các danh lam thắng cảnh của huyện, làm cho các sản phẩm du lịch thêm hấp dẫn.

Văn Lâm có hơn 1200 hộ và 3000 nhân khẩu. Hiện nay, Văn Lâm có tới 100% số hộ là nhân khẩu làm nghề thêu. Từ các cháu nhỏ 7 – 8 tuổi đến các cụ già 70 – 80 tuổi đều có thể cầm kim thêu được.

Theo ông Lê Văn Thiêm – Trưởng thôn Văn Lâm cho biết: Các sản phẩm của nghề thêu ở thôn có tới hàng nghìn mẫu mã các loại. Đối với các hộ gia đình làm nghề đơn lẻ, họ làm ra sản phẩm đem bán cho du khách hoặc mở ki ốt bày bán. Đối với các doanh nghiệp, sản phẩm làm ra chủ yếu đem đi xuất khẩu theo các hợp đồng đã được kí kết với các đối tác nước ngoài. Hiện tại thôn có 7 doanh nghiệp hoạt động nghề thêu. Các doanh nghiệp không chỉ mở xưởng sản xuất tại địa phương mà còn thông qua các hình thức hợp tác: gia công, tổ chức nhiều điểm sản xuất ở địa phương trong và ngoài huyện. Hướng đi này không chỉ nhằm đảm bảo tiến độ thời gian số lượng hàng cho khách mà còn giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân các địa phương trong thời điểm nông nhàn.

Trong năm 2007 và năm 2008 nhiều doanh nghiệp thêu ăn nên làm ra, đạt doanh thu cao như doanh nghiệp Pataco đạt trên 3 tỷ đồng… Với các gia đình làm hàng đơn lẻ thu từ nghề thêu cũng đạt 20 – 30000 đồng/người/ngày.

Tổng giá trị từ nghề thêu ước tính đạt trên 14 tỷ đồng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Làng nghề thêu truyền thống Văn Lâm được tỉnh công nhận vào năm 2006. Tháng 11 năm 2007, Hiệp hội làng nghề Việt Nam cũng đã công nhận Văn Lâm là một trong 12 làng nghề tiêu biểu của cả nước. Thôn tổ chức đón nhận danh hiệu cao quý này từ Hà nội và đã làm lễ công nhận nghệ nhân cho cụ Chu Văn Lượng 84 tuổi và cụ Đinh Văn Uynh 78 tuổi, đồng thời tuyên dương 3 doanh nghiệp hoạt động tiêu biểu trong nghề thêu: Minh Trang, Pataco, An lộc.

Văn Lâm hiện đang thực hiện phương châm: “ ly nông bất ly hương”. Người dân ở đây đã phát triển nghề thêu kết hợp với phục vụ du lịch ngay trên chính mảnh đất quê hương mình. Nằm ngay trong khu du lịch nổi tiếng với hàng vạn lượt khách đến thăm quan, Văn Lâm có thể phát triển thành một làng nghề du lịch, tạo ra một loại hình du lịch làng nghề lý tưởng với các khu sản xuất, bán hàng có quy mô lớn. Bên cạnh đó, việc tổ chức các ngày giỗ tổ, lễ hội đình làng, tôn vinh các nghệ nhân, doanh nghiệp hoạt động nghề thêu…Đây cũng là một trong các hoạt động giúp duy trì và phát triển nghề, thu hút khách du lịch.

Đánh giá chung:

Qua việc kiểm kê, đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn ở Tam Cốc – Bích Động có thể thấy:

Tài nguyên du lịch nhân văn chủ yếu là đền chùa, chỉ có một lễ hội và một làng nghề.

Các tài nguyên này có giá trị độc đáo về kiến trúc, lịch sử … có khả năng khai thác kết hợp với cảnh quan tự nhiên tạo thành những sản phẩm du lịch hấp dẫn.

Khả năng khai thác các tài nguyên này là khá thuận lợi vì chúng nằm trên tuyến tham quan phong cảnh tự nhiên của khu vực, giao thong cũng thuận tiện.

Với các nguồn tài nguyên trên, dân cư địa phương có rất nhiều điều kiện tham gia vào hoạt động du lịch, từ việc vận chuyển tới cung ứng các sản phẩm du lịch cũng tạo ra các dịch vụ phục vụ khách du lịch. Và hoạt động du lịch này diễn ra liên tục, quanh năm.

2.1.2.2. Điều kiện về kinh tế – xã hội:

  • Đặc điểm về kinh tế: Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính của xã Ninh Hải. Diện tích gieo cấy toàn xã Ninh Hải năm 2006 là 494,36 ha. Tổng sản lượng lương thực cả năm đạt 2529,2 tấn, tăng so với năm 2005 là 315,3 tấn. Năng suất lúa đạt 61tạ/ha.

Năm 2006, cả xã có 10 doanh nghiệp đóng trên địa bàn. Trong đó có 6 doanh nghiệp thêu ren xuất khẩu, 3 doanh nghiệp dịch vụ du lịch, một ban quản lý du lịch và trên 20 hộ làm nghề thêu ren vừa và nhỏ,cùng các hộ làm dịch vụ chở đò, bán hàng ăn, đồ lưu niệm…

Ngoài nghề thêu ren, ở đây là vùng núi đá vôi nên nghề làm đá, chế biến đá, làm gạch nên rất phổ biến. Do đó, thu hút được một lực lượng lớn lao động của toàn huyện là việc trong các nhà máy chế biến đá như: Nhà máy phân lân Cầu Yên, nhà máy xi măng Hệ Dưỡng… Bên cạnh đó, có các làng nghề tác đá nghệ thuật phục vụ chủ yếu cho các công trình như: đình, chùa, miếu, mạo… cùng các sản phẩm đáp ứng cho nhu cầu thú vui chơi non bộ với các chậu cảnh, bể các cảnh.

Như vậy nguồn thu nhập chủ yếu của địa phương hiện nay là nông nghiệp và các nghề phụ. Hoạt động du lịch ở đây tuy phát triển, đóng ngân sách lớn cho huyện,cho tỉnh nhưng mới chỉ hoạt động sôi nổi ở Tam Cốc Bích Động giúp người dân trong xã có thêm công ăn việc làm, thu nhập, nâng cao đời sống cho nhân dân… Còn lại cuộc sống của người dân ở các làng, xã khác vẫn còn nghèo khó, lam lũ.

  • Đặc điểm về văn hóa xã hội:

Các hoạt động văn hóa tuyên truyền đã tới tận thôn xóm. Sinh hoạt văn hóa cộng đồng thường xuyên được duy trì. Trật tự an toàn xã hội được giữ vững và tăng cường, các tệ nạn xã hội giảm, công tác đền ơn đáp nghĩa luôn luôn được coi trọng. Ngoài ra còn chăm lo cho các gia đình nghèo, gia đình chính sách.

Dân cư – lao động:

Theo điều tra năm 1993 thì:

  • 87% dân số toàn huyện được phổ cập cấp 1
  • 56% dân số được phổ cập cấp 2
  • 18,5 % được phổ cập cấp 3
  • Toàn huyện có 0.35% dân số có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học. Đến năm 2003 toàn huyện phổ cập hết trung học cơ sở. Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Riêng xã Ninh Hải, dân số trong khu khoảng 3400 người, đông nhất là thôn Đam Khê và Hải Nham.

  • Tỷ lệ tăng dân số là 0,84%
  • Số người trong độ tuổi lao động khoảng 1300 người
  • 30% có trình độ văn hóa tốt nghiệp PTTH
  • 90% sống bằng nghề nông
  • Tổng thu nhập 4,7 triệu đồng/người/ năm.
  • Đời sống còn gặp nhiều khó khăn.

2.2. THỰC TRẠNG KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở KHU DU LỊCH TAM CỐC – BÍCH ĐỘNG

2.2.1. Tổ chức quản lý nhà nước về du lịch

Trước đây, Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động thuộc Sở Du lịch Ninh Bình quản lý. Hiện nay, do Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Ninh Bình quản lý.

Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động được ngành du lịch quản lý và khai thác từ năm 1992 và giao cho Công ty Du lịch Ninh Bình quản lý. Từ năm 2004, nhiều đơn vị cùng tham gia quản lý du lịch như :

  • Công ty cổ phần du lịch Ninh Bình khai thác tuyến du lịch Tam Cốc, đền Thái vi, chùa Bích Động.
  • Công ty TNHH Dịch vụ Bích Động quản lý và khai thác tuyến du lịch Thạch Bích, Thung Nắng, Linh Cốc – Hải Nham.
  • UBND xã Ninh Hải phụ trách công tác vệ sinh môi trường, an ninh trật tự và chở đò. Bên cạnh đó là sự tham gia của nhiều doanh nghiệp khác trong lĩnh vực kinh doanh lưu trú, ăn uống…

Tuy có sự tham gia quản lý, khai thác kinh doanh của nhiều đơn vị. Nhưng trong giai đoạn này, khu du lịch không có một doanh nghiệp nào nắm vai trò chỉ đạo điều hành. Điều này đem đến cho khu du lịch tình hình kinh doanh phức tạp, mạnh ai người ấy làm, còn nhiều hạn chế và tồn tại trong công tác phục vụ khách du lịch.

Trước tình hình đó, để phát triển du lịch một cách bền vững, UBND tỉnh đã quyết định thành lập Ban Quản lý (BQL) Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động thuộc Sở Du lịch theo quyết định 1969/2006/QĐ ngày 19/9/2006, Ban quản lý chính thức đi vào hoạt động vào ngày 13/10/2006.

Chức năng : Là đơn vị thuộc Sở Du lịch Ninh Bình giúp Giám đốc Sở thực hiện công tác quy hoạch và đầu tư phát triển du lịch, quản lý các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch bảo vệ môi trường, trật tự an toàn xã hội và trực tiếp thực hiện việc bán vé danh lam, vé đò tại khu du lịch Tam Cốc – Bích Động.

2.2.2. Vốn đầu tư cho du lịch Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động là một trong 20 khu du lịch chuyên đề được tổng cục du lịch Việt Nam phê duyệt nhằm tập trung nâng cao và hoàn thiện. Cho nên khu du lịch Tam Cốc – Bích Động hiện nay đang trong giai đoạn tiến hành thi công dự án quy hoạch từ năm 1997 – 2010 dự án được chia làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: 1997 – 2005

Giai đoạn 2: 2005 – 2010

Tính đến năm 2006, cả khu du lịch đã thu hút được 353,86 tỷ đồng vốn đầu tư. Trong đó, vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng chiếm số lượng lớn nhất, khoảng 208,5 tỷ đồng, chiếm 66,8%. Nguồn vốn này chủ yếu do ngân sách nhà nước đầu tư. Vốn đầu tư cho cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là 145,71 tỷ đồng chiếm 33,32%. Không có dự án đầu tư FDI hay liên doanh nào.

2.2.3. Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch

  • Giao thông vận tải: 
  • Đường bộ: Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Đoạn đường từ quốc lộ 1A vào trung tâm khu du lịch dài khoảng 3km đã được đầu tư xây dựng với hai làn đường trải nhựa, hai bên đường trồng cây xanh, có cổng vào khu du lịch rất đẹp.

Đoạn đường nhánh từ khu trung tâm tới chùa Bích Động dài 3km và tới đền Thái Vi đang được đầu tư nâng cấp.

  • Đường thủy:

Khu bến thuyền Đình Các (Cây Đa) đi tham quan 3 hang (Tam Cốc) đã được nạo vét và kè đá xung quanh.

Các tuyến đường thủy vào tham quan 3 điểm du lịch mới là Thung Nắng, Thung Nham và quần thể hang Chùa, hang Ghé, hang Bụt, hang Hiểu đang được xây dựng.

  • Thông tin liên lạc:

Thông tin liên lạc giữa các khu du lịch với các vùng khác trong nước và trên thế giới rất thuận tiện. ngay tại khu trung tâm (bến xe Đồng Gừng ) đã có một chi nhánh bưu điện của huyện Hoa Lư được trang bị hiện đại, đáp ứng yêu cầu liên lạc trong nước và quốc tế, bao gồm 1 tổng đài tự động và 5 máy điện thoại. Tổng đài đã hòa mạng thông tin di động Vinaphone, mobiphone, Viettel, đã nối mạng Internet.

  • Điện:

Hiện tại 100% số thôn trong khu du lịch đã có điện, 78% số hộ dùng điện. Mạng lưới cung cấp điện ở trạng thái tốt. Tuy nhiên, khu du lịch Tam Cốc – Bích Động vẫn chưa có trạm biến áp riêng và vẫn sử dụng chung nguồn điện lưới của các địa phương, dẫn đến việc sử dụng điện cho các hoạt động du lịch là thiếu ổn định

  • Nước:

Tại khu vực, hiện tại có 8 bể chứa nước mưa với tổng dung tích khoảng 100m3 và 3 giếng khoan có khả năng cung cấp 200m3/ ngày đêm. Ngoài ra còn có 2 trạm cấp nước trung tâm lấy nước ngầm nhưng cũng chỉ hoạt động được 60% công suất. Người dân trong vùng chủ yếu sử dụng nước giếng và nước mưa, dẫn tới chất lượng nước chưa đảm bảo vệ sinh.

  • Hệ thống thoát nước thải và vệ sinh môi trường: Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Nước thải của khu vực thải qua 8 hệ thống cống nhưng chưa qua xử lý. Hầu hết nước thải sinh hoạt, nước thải từ các nhà hàng, khách sạn đều thải một cách tự nhiên ra ngoài môi trường.

Tại khu trung tâm điều hành của Khu du lịch có hoạt động thu gom xử lý rác thải, đạt khoảng 80%, chủ yếu xử lý bằng cách chôn lấp.

2.2.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

Số lượng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch tại Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động được thể hiện trong Bảng sau:

  • Cơ sở lưu trú:

Do khoảng cách từ khu du lịch Tam Cốc – Bích Động đến thành phố Ninh Bình là rất gần, khoảng 7km, các tuyến tham quan trong khu du lịch chỉ đi về trong ngày. Cho nên khách du lịch thường đến tham quan rồi quay về thành phố Ninh Bình nghỉ qua đêm. Bởi vậy tỉ lệ khách tham quan trong ngày của khu du lịch là rất cao, gần 99%. Thực tế trên khiến các doanh nghiệp không mặn mà với việc xây dựng các cơ sở lưu trú tại khu du lịch.

Tính đến năm 2006, Khu du lịch Tam cốc – Bích Động chưa có khách sạn mà chỉ có 4 nhà nghỉ phục vụ khách du lịch với khoảng 48 phòng chất lượng phục vụ không cao, chưa đáp ứng được nhu cầu phục vụ khách du lịch, đặc biệt là những đối tượng khách du lịch có thu nhâp cao, khách du lịch quốc tê, khách du lịch công vụ.

Hiện nay, tại khu du lịch đã có 5 khách sạn với hơn 90 phòng đủ tiêu chuẩn đón tiếp khách và 3 khách sạn đang trong quá trình xây dựng. Khu du lịch cũng dự kiến xây dựng hệ thống khách sạn cấp 3 sao để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch.

  • Cơ sở ăn uống: Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Hiện nay có gần 20 nhà hàng, số lượng này phần nào cũng đã đáp ứng được nhu cầu của du khách. Tuy vậy, quy mô của các nhà hàng còn nhỏ, thực đơn chưa phong phú, chất lượng phục vụ chưa cao, chưa mang tính chuyên nghiệp.

Thực tế, vào những dịp cao điểm hoặc đơn giản chỉ là cuối tuần, hầu như các nhà hàng đều quá tải. Thậm chí nhiều nhà hàng không nằm trong khu du lịch cũng trong tình trạng quá tải tương tự.

  • Các khu vui chơi giải trí và bán hàng lưu niệm:

Hiện tại, khu vực này chưa có một cơ sở vui chơi giải trí nào phục vụ cho du khách. Nguyên nhân là khu du lịch còn nhiều hạn chế trong việc thu hút vốn đầu tư vào các dự án vui chơi giải trí. Và nguyên nhân sâu xa nhất vẫn là do đặc diểm tính chất tham quan của du khách: đi về trong ngày, số lượng khách lưu lại qua đêm tại đây là rất ít.

Về cơ sở hàng lưu niệm: tại khu du lịch có khoảng 35 cơ sở với quy mô nhỏ, các mặt hàng chủ yếu là thủ công mỹ nghệ truyền thống của địa phương như: các mặt hàng thêu ren, các sản phẩm từ cói, gỗ trạm khắc, bưu ảnh …

  • Phương tiện vận chuyển khách du lịch:

Phương tiện vận chuyển khách chủ yếu của Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động là thuyền, hiện cả khu du lịch có 1650 thuyền phục vụ khách du lịch. Đầu năm 2007, một số công ty lữ hành với mục đích tạo ra sức hấp dẫn của chuyến đi cho du khách, đặc biệt là du khách quốc tế, đã sử dụng phương tiện vận chuyển của địa phương là xe bò để vận chuyển khách du lịch từ trung tâm vào chùa Bích Động, số lượng khoảng hơn 10 chiếc, chủ yếu huy động người dân địa phương tham gia.

2.2.5. Lao động, việc làm

Qua số liệu thống kê của Sở Du lịch Ninh Bình cho thấy:

Giai đoạn từ năm 2000 – 2005, cùng với sự tham gia về lượng khách, số lao động tham gia vào lĩnh vực du lịch tại khu du lịch Tam Cốc – Bích Động cũng được tăng lên gấp đôi, tăng trưởng bình quân năm là 13,36%. Số lao động địa phương tính đến quý I năm 2009 như sau :

Số lao động làm việc trong ban quản lý khu du lịch hiện tại là 55 người được chia thành các bộ phận: Văn phòng, an ninh, hướng dẫn, bán vé. Nhìn chung lao động việc làm trong ban quản lý là lao động được đào tạo, có trình độ chuyên môn ngoại ngữ.

2.2.6. Khách du lịch Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

2.2.6.1. Đặc điểm thị trường khách:

Khách du lịch đến với khu du lịch chủ yếu là khách tham quan, khách lưu trú qua đêm chiếm tỷ lệ rất nhỏ, mức chỉ tiêu trung bình thấp. Do khu du lịch Tam Cốc – Bích Động rất gần về địa lý so với Hà Nội, thành phố Ninh Bình – là trung tâm của khách nên các đoàn thường được bố trí đi về trong ngày. Hơn nữa, do đặc điểm khoảng cách các điểm tham quan tại khu du lịch ngắn và rất ngắn nên hầu hết các công ty lữ hành tổ chức đoàn tham quan không lưu trú qua đêm. Thị trường khách đến đây gồm cả khách du lịch quốc tế và du lịch nội địa:

  • Khách du lịch quốc tế:

Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động nằm trong vùng châu thổ sông Hồng, thị trường khách du lịch quốc tế chịu ảnh hưởng lớn của trung tâm du lịch Hà Nội nên đối tượng khách chủ yếu là khách du lịch các nước ASEAN, khách du lịch Tây Âu, khách du lịch Đông Á – Thái Bình Dương…

  • Khách du lịch nội địa:

Khách du lịch nội địa đến đây rất đa dạng, thuộc nhiều lứa tuổi, nhiều thành phần nghề nghiệp khác nhau, đến từ nhiều địa phương khác nhau. Họ thường đi theo đoàn, nhóm, cũng có một số khách đi lẻ.

  • Khách du lịch thương mại, du lịch công vụ: Chủ yếu từ Hà Nội và các thành phố lớn như Hải Phòng, Quảng Ninh…
  • Khách du lịch lễ hội, tín ngưỡng: Trong những năm gần đây, lượng khách này tăng rất nhanh.
  • Khách du lịch tham quan thắng cảnh.
  • Khách du lịch đi tour trên tuyến du lịch Bắc – Nam.
  • Khách du lịch cuối tuần

2.2.6.2. Lượng khách du lịch đến Tam Cốc – Bích Động: Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Lượng khách du lịch đến với Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động trong giai đoạn 2002 – 2008 được trình bày trong Bảng sau:

Theo bảng số liệu trên ta thấy: Lượng khách đến khu du lịch Tam Cốc – Bích Động, có mức tăng trưởng không đều và có xu hướng giảm trong những năm gần đây.

Giai đoạn 2002 – 2004 lượng khách tới Tam Cốc – Bích Động có tăng nhưng nhịp độ tăng không đều giữa các năm. Nếu như năm 2003, mức tăng trưởng chỉ là 4,44 % thì năm 2004 lại tăng lên tới 20,66%. Yếu tố làm cho khách du lịch tăng đột biến ở thời điểm năm 2004 là do cuối năm 2003 đầu năm 2004 Việt Nam có tổ chức Seagame, Ninh Bình đăng cai thi đấu môn bóng chuyền nên có một lượng lớn cổ động viên của các đoàn thể thao tới Ninh Bình tham gia thi đấu. Sau khi kết thúc giải họ kết hợp đi tham quan một số điểm du lịch trong tỉnh, trong đó có khu du lịch Tam Cốc – Bích Động.

Giai đoạn 2004 – 2008, khách du lịch tới Tam Cốc – Bích Động có xu hướng giảm.

Cũng qua bảng thống kê có thể thấy, trong tổng số khách đến Ninh Bình thì lượng khách đến Tam Cốc chiếm tỷ lệ khá cao. Năm 2002 chiếm 28,95%. Tuy nhiên tỷ lê này đang có xu hướng giảm dần, tới năm 2008 tỷ lệ này chỉ còn 14,96%. Nguyên nhân là do nhiều khu du lịch khác của Ninh Bình đã đưa vào khai thác như : khu Vân Long, khu Tràng An, Khu Kênh Gà, Bái Đính…dẫn tới nguồn khách tới Tam Cốc – Bích Động bị chia sẻ ít nhiều.

Theo Bảng trên, trong tổng số khách đến Tam Cốc – Bích Động thì khách du lịch quốc tế luôn chiếm tỷ lệ cao và có xu hướng tăng lên qua các năm. Tuy nhiên giai đoạn 2006 đến 2008, mức tăng trưởng khách quốc tế có xu hướng giảm, năm 2007 giảm còn 14,5 % so vơi năm 2006, năm 2008 giảm 6,5 % so với năm 2007.

Khách quốc tế đến Tam Cốc – Bích Động chiếm tỷ lệ cao trong tổng số khách du lịch quốc tế đến Ninh Bình. Năm 2006 tỷ lệ này là 43,44% chiếm gần một nửa lượng khách quốc tế đến Ninh Bình. Tuy nhiên tỷ trọng này đang có xu hướng giảm dần, năm 2008 chỉ còn 27,05%. Nguyên nhân là Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động phải chia sẻ nguồn khách với các khu du lịch khác trong tỉnh mới được đưa vào khai thác, và cũng tại Khu du lịch còn nhiều hạn chế trong việc phát triển, sản phẩm du lịch thì đơn điệu, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa hoàn thiện. Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Đánh giá chung:

Qua việc phân tích hiện trạng khách du lịch tới Tam Cốc – Bích Động trong các giai đoạn có thể rút ra nhận xét:

Khách du lịch tới Tam Cốc – Bích Động chủ yếu là khách du lịch theo đoàn, thông qua các công ty lữ hành trong nước, khách đi lẻ rất ít.

Tỷ trọng khách tham quan du lịch rất cao, khoảng 90% trong tổng số khách.

Lượng khách du lịch tới Tam Cốc – Bích Động đang có xu hướng giảm dần. Thị trường khách chính của khu du lịch là khách quốc tế, thể hiện ở tỷ trọng khách du lịch trong tổng số khách du lịch tới Tam Cốc – Bích Động liên tục tăng, năm 2008 chiếm 57,11% tổng số khách tới Tam Cốc – Bích Động.

2.2.7. Doanh thu

Doanh thu du lịch của Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động trong thời gian 2005 – 2008 được trình bày trong bảng sau:

Tuy khách du lịch đến Tam Cốc – Bích Động có xu hướng giảm nhưng doanh thu của khu có xu hướng tăng lên qua các năm.Năm 2006, tổng doanh thu là 7,979 tỷ đồng, đến năm 2008 là 8,3 tỷ đồng, tăng 8,3% so với năm 2007. Nguyên nhân là do mức chỉ tiêu của khách du lịch cũng tăng so với trước.

Nếu so sánh doanh thu du lịch của khu du lịch này với tổng doanh thu du lịch của vả tỉnh Ninh Bình thì tỷ trọng tổng doanh thu của khu du lịch so với tổng doanh thu của cả tỉnh thì đang có xu hướng giảm dần. Năm 2006, tổng doanh thu của cả khu du lịch chiếm 15,2% tổng doanh thu du lịch của cả tỉnh, đến năm 2008 con số này chỉ còn 9,5%.

Nhìn chung, so sánh giữa tổng lượt khách và tổng doanh thu của khu du lịch thì doanh thu tương đối thấp. Năm 2007 toàn khu đạt doanh thu là 10,808 tỷ đồng.

Theo Bảng trên, ngoài doanh thu từ danh lam thì doanh thu từ dịch vụ chở đò chiếm phần lớn trong tổng doanh thu. Điều này cũng có nghĩa là vai trò và sự tham gia của người dân địa phương là rất lớn.

Mặt khác, doanh thu từ dịch vụ lưu trú chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong khi kinh doanh du lịch hiện tại ở Việt Nam thì doanh thu từ lưu trú chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó mới đến ăn uống và đi lại… Do đó có thể thấy, cơ cấu doanh thu ở đây còn nhiều hạn chế.

2.2.8. Các tuyến du lịch Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

  • Tuyến Tam Cốc:

Hành trình đi bằng thuyền, điểm xuất phát từ bến thuyền Đình Các đi trên sông Ngô Đồng qua hang Cả, hang Hai, hang Ba, sau đó quay lại bến Thánh lên thăm đền Thái Vi, động Thiên Hương. Thời gian tham quan khoảng từ 2-3 giờ.

  • Tuyến Bích Động:

Hành trình đi từ trung tâm bến Đình Các bằng đường bộ theo hướng Tây Nam vào thăm chùa Bích Động gồm chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng nằm dọc theo sườn núi Bích Động, cung đường đi 3km thời gian khoảng 2 giờ.

Đây là 2 tuyến chính, ngoài ra còn có một số tuyến du lịch khác như :

  • Tuyến Bích Động – Chùa Linh Cốc – Động Tiên – Xuyên thủy động.
  • Thạch Bích – Thung Nắng.

2.3 THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỊA PHƯƠNG TẠI KHU DU LỊCH TAM CỐC – BÍCH ĐỘNG

2.3.1 Thành phần tham gia hoạt động du lịch

Không phải toàn bộ số dân toàn huyện trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch, mà chỉ diễn ra ở một số xã, thôn có khu du lịch hoặc nằm trong vùng phụ cận giáp ranh với khu du lịch.

Tại trung tâm Khu du lịch Tam Cốc, người dân tham gia một cách đầy đủ nhất với gần 2000 hộ dân, gần 100% số hộ gia đình tham gia vào dịch vụ du lịch như: chèo thuyền đưa đón khách, thêu ren, bán hàng… Số hộ thuần nông ở đây chỉ chiếm khoảng 4%. Như vậy dịch vụ du lịch đã trở thành nghành kinh tế chủ yếu của địa phương mà vốn trước đây là một xã thuần nông.

2.3.2 Hình thức tham gia của người dân

2.3.2.. Hoạt động vận chuyển: Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Chở đò: Người dân tham gia chủ yếu vào hoạt động chở đò đưa khách đi tham quan. Người dân tự bỏ tiền ra mua sắm phương tiện (3.000.000đ/thuyền) và bỏ sức lao động ra chuyên chở.

Nếu như năm 1997, phương tiện vận chuyển đò là 1525 thuyền nan, gỗ để vận chuyển khách tham quan các hang động (trong đó 1500 chiếc là của dân và 25 chiếc là của trung tâm du lịch) thì hiện nay, các thuyền nan đều được thay bằng thuyền tôn với gần 2000 thuyền, riêng thôn Văn Lâm khoảng 1200 thuyền. Hầu hết là thuyền của người dân địa phương còn thuyền của công ty du lịch khoảng 8 chiếc thuyền máy, chủ yếu là để chuyên chở các nhà quản lý, cán bộ đi khảo sát hoặc đoàn khách có thời gian đi quá ngắn.

Tất cả việc chuyên chở đò được giao cho những người dân thôn Văn Lâm. Trong thôn trực tiếp có bến bãi ở Tam Cốc – Bích Động. Số đò được tính trên hộ gia đình. Cứ mỗi hộ gia đình là một con thuyền nhỏ (hộ gia đình đây được tính theo thế hệ). Nếu gia đình nào có 3 thế hệ sống chung một nhà thì có 3 thuyền chở đò. Người dân ở đây không dám trở đò lậu vé nữa bởi nếu Ban quản lý phát hiện sẽ bị ngừng chở đò trong vòng một năm.

Hiện nay tại bến Đình Các (Tam Cốc) có khoảng 1200 đò, tại bến xuyên thủy động có khoảng 600 thuyền, ngoài ra còn có các thuyền chuyên chở ở Thung Nắng … Những thuyền này chủ yếu là của người dân, bên cạnh đó là của các hội tập thể như : Hội phụ nữ, đoàn Thanh niên, hội cựu chiến binh… Việc cấp số thuyền cho các hội này để giúp đóng góp vào ngân sách quỹ của các hội, chi phí cho các đoàn thể trong qua trình hoạt động.Khi họ không chở thuyền thì bán lại hoặc điều lại số đò cho các hộ dân.

Các số đò được đánh theo số thứ tự, chuyên chở quay vòng:

  • Nếu chuyên chở khách Việt Nam thì được tính từ 1 đên 1200
  • Nếu chuyên chở khách quốc tế được tính quay vòng lại từ 1200 – 1 .

Cứ đến lượt gia đình nào thì gia đình đó chuyên chở. Nếu các đò không ra bến hay đến chậm sẽ bị mất lượt. Chính vì thế, hàng ngày, mọi lúc, mọi nơi đều có bà con trong thôn ngồi đợi để chuyên chở khách khi đến lượt. Vì số hộ gia đình đông như vậy nên số lần chuyên chở trung bình của mỗi hộ gia đình là: Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

  • 5->6 lần/khách quốc tế/tháng/hộ gia đình.
  • 3->4 lần/khách ViệtNam/tháng/hộ gia đình.

Trung bình, tổng 8-10 lần chuyên chở khách/tháng/hộ gia đình, chủ yếu vào mùa đông. Còn vào những tháng hè(cuối tháng 5 đến tháng 7), khách đi biển là chủ yếu nên đến đây ít hơn. Do vậy số lượt đò giảm đi.

  • Hoạt động chở xe ôm
  • Vận chuyển bằng xe bò, xe trâu

2.3.2.2 Hoạt động khác:

  • Bán hàng lưu niệm
  • Cung cấp một số sản phẩm du lịch cho khách du lịch và các nhà cung ứng dịch vụ

Như vậy, người dân ở đây vẫn chỉ là những người làm thuê, chưa thực sự được tham gia vào quá trình quy hoạch, quản lý.

2.3.3 Thu nhập của người dân địa phương từ hoạt động du lịch

  • Giá vé:

Theo Quyết định số 1561/QĐ – UBND ngày 20 tháng 8 năm 2008 của UBND tỉnh Ninh Bình về việc ban hành các khoản phí và lệ phí: Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Có 2 loại vé :

Phí tham quan danh lam thắng cảnhTam Cốc – Bích Động:

  • Người lớn(Khách quốc tế và trong nước): 30.000 đồng/người/lượt
  • Trẻ em, học sinh(6-15 tuổi): 10.000 đồng/người/lượt

Phí chở đò tuyến Tam Cốc : 60.000 đồng/thuyền

  • Tối đa 02 người/đò đối với khách quốc tế/ thuyền
  • Tối đa 04 người/đò đối với khách trong nước/ thuyền. Vé chỉ có giá trị trong ngày.
  • Như vậy, giá vé so với thời điểm năm 2002: 55.000 đồng/ người đối với khách quốc tế; 13.000 đồng/ người đối với khách Việt nam.

Giá vé và cách thức bán vé hiện nay có sự khác biệt. Giá vé không có sự phân biệt khách Việt Nam hay khách quốc tế. Đây là sự điều chỉnh hết sức hợp lý.

Ngoài ra, giá vé tại các điểm du lịch khác như sau :

Giá vé Xuyên thủy động : 25.000 đồng/ người .Giá vé Thung Nắng: 45.000 đồng/người Thu nhập:

Khi nhận chở mỗi chuyến đò người dân sẽ được phát một “vé trắng”. Đây chính là phiếu thanh toán công chở đò của người dân với Ban quản lý. Phiếu thanh toán này cũng có giá trị trong ngày, ngày nào thanh toán luôn ngày đó.

Cứ 01 thuyền (01 vé) với tổng phí chở là 60.000 đồng thì người dân được giữ lại 45.000 đồng

  • Thu nhập 1 tháng sẽ là: 360.000 – 450.000 đồng / tháng.

Tuy nhiên trong quá trình chuyên chở khách, người chở đò còn có các khoản thu khác như bán hàng thủ công, tiền thưởng của khách…nên số thu nhập có thể cao hơn nhưng không ổn định.

Đối với dân thôn Đam Khê, cứ mỗi vé 25.000 đồng thì người chở đò được giữ lại 19.000 đồng. Song lượng khách ở Xuyên thủy động là rất ít cho nên nguồn thu nhập của người dân không ổn định.

Nhân lực chở thuyền phần lớn là phụ nữ, còn đàn ông thường đi làm các công việc khác; họ chỉ đi làm khi có khách quốc tế vì một người chèo đò, còn một người bán hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

  • Thu nhập từ hàng lưu niệm:

Mấy năm gần đây, do nhu cầu tham quan du lịch ngày càng lớn nên các dịch vụ phục vụ du lịch trên địa bàn rất phát triển. Ngoài việc chuyên chở đò ra, nếu gia đình nào có vốn thì kinh doanh thêm các mặt hàng lưu niệm phục vụ khách du lịch trên bến bãi. Lượng mặt hàng đa dạng hay phong phú phụ thuộc vào lượng tiền vốn ít hay nhiều. Hiên nay trên địa bàn, số lượng các ki-ốt bán hàng, các hàng quán cố định của các hộ dân khoảng 50-60 quầy hàng.

Vào các ngày nghỉ, thứ bảy hoặc chủ nhật, số lượng hàng quán có thể nhiều hơn do có sự tham gia của các hộ bán buôn nhỏ, bán hàng lưu động. Các mặt hàng chủ yếu là các sản phẩm thêu ren, ngoài ra còn có một số mặt hàng lưu niệm như: sản phẩm cói của huyện Kim Sơn, các đồ chơi, túi xách, cây xanh (chủ yếu là các loại phong lan)…

Qua Bảng số liệu trên có thể thấy, nhờ hoạt động du lịch mà thu nhập của người dân nơi đây ít nhiều được cải thiện và nâng cao hơn trước.

Chỉ có 2,5 % người được điều tra có mức thu nhập từ du lịch dưới 100.000 đồng, đó là do đối tượng này chủ yếu là người cao tuổi, không còn đủ sức khỏe để tham gia việc chở khách hoặc nếu còn sức khỏe thì cũng có lương hưu hoặc được con cháu phụng dưỡng nên không tham gia lao động. Có một số nhỏ thì tham gia thêu ren nhưng chỉ ở giai đoạn xử lý thô, gia công cho các doanh nghiệp thêu lớn.Trung bình mỗi ngày cũng được 5000 đồng.

Đặc biệt 75% số người được điều tra có thu nhập trên 200.000 – 500.000 đồng. Đây là một điều hết sức đáng mừng. Nếu như trước đây thu nhập chính của người dân vẫn dựa vào nông nghiệp, lại phụ thuộc lớn vào thời tiết thì từ khi có hoạt động du lịch, đời sống của nhân dân đã được đảm bảo và tương đối ổn định. Những người này phần lớn tham gia trực tiếp vào hoạt động chở đò, chuyên chở khách du lịch.

Có 17,5 % số người có thu nhập trên 500.000 đồng, phần lớn là các hộ kinh doanh các mặt hàng lưu niệm, kinh doanh ăn uống nghỉ ngơi…

Như vậy, du lịch đã mang lại cho người dân cuộc sống ổn định hơn, đỡ lam lũ hơn. Thực tế đã chứng minh xã Ninh Hải là một trong 7 xã miền núi nhưng cuộc sống của người dân khá hơn so với các xã miền núi khác của huyện.

2.3.4 Tính chất công việc của người dân địa phương trong hoạt động du lịch Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Hiện nay, công việc của người dân địa phương khi tham gia hoạt động du lịch chủ yếu là chuyên chở đò, đưa khách đi tham quan. Trong suốt hành trình dài 7km (tuyến Tam Cốc), người dân sẽ kiêm luôn hướng dẫn viên (nếu đoàn khách không có hướng dẫn viên).

Tuy công việc có vẻ đơn giản là bỏ sức lao động chân tay cho công việc nhưng thực chất là vất vả nặng nhọc. Những ngày yên gió, không khí mát mẻ thì công việc thuận lợi, nhưng vào những ngày mưa gió, nắng hè oi bức thì công việc vất vả hơn rất nhiều.

Bên cạnh đó, người lái đò phải thường xuyên chuyên chở khách qua lại khúc sông, quanh cảnh cứ lặp đi lặp lại, dễ gây nhàm chán, họ chuyên chở khách chủ yếu là muốn kiếm thêm thu nhập để đỡ đi phần nào sự nghèo khó của mình.

2.3.5 Các chế độ phân chia quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia

Hiện nay, ở Khu du lịch có các thành phần như: Công ty Du lịch Ninh Bình, Ban quản lý, UBND xã và người dân địa phương trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch trên địa bàn.

Theo Quyết định 1961/QĐ – UBND của UBND tỉnh Ninh Bình ban hành ngày 19/09/2006, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của ban quản lý khu Tam Cốc – Bích Động như sau:

  • Nhiệm vụ và quyền hạn:

Chủ trì việc phối hợp với chính quyền địa phương, các nghành có liên quan quản lý tốt các quy hoạch đã được phê duyệt, lập kế hoạch cụ thể cho các khu chức năng trong khu du lịch, báo cáo sở du lịch dể trình UBND tỉnh phê duyệt, tổ chức hướng dẫn và kiểm tra quy hoạch. Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Phối hợp với chính quyền địa phương và các nghành chức năng bảo vệ và giữ gìn tài nguyên, phát triển bền vững.

Quản lý và sử dụng cơ sở hạ tầng du lịch đã được nhà nước đầu tư trong khu du lịch, hướng dẫn các chủ đầu tư xây dựng đúng ranh giới đã được giao. Phối hợp với chính quyền địa phương đôn đốc, tổ chức thực hiện việc giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư du lịch vào khu du lịch.

Được sử dụng một phần từ nguồn thu phí danh lam để chi cho hoạt động của Ban quản lý như: Tuyên truyền, quảng bá, bảo dưỡng, sữa chữa những cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc.

Tổ chức quản lý và thực hiện hoạt động du lịch như: Quản lý và bán vé danh lam, vé đò, tuyên truyền quảng bá, hướng dẫn khách tham quan, điều hành vận chuyển khách du lịch, đảm bảo anh ninh trật tự, an toàn, vệ sinh môi trường trong khu du lịch.

Đảm bảo quyền lợi hợp pháp của khách du lịch theo quy định của pháp luật.

Phối hợp với các cơ quan nhà nước có liên quan thực hiện thanh tra, kiểm tra các hoạt động kinh doanh du lịch trong khu du lịch.

Phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư du lịch và các hoạt động kinh doanh du lịch của các thành phần kinh tế tại khu du lịch.  Quản lý tổ chức bộ máy lao động, tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý báo cáo định kỳ theo quy định của pháp luật và yêu cầu đột xuất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

  • Đối với UBND xã Ninh Hải:

Thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn. Chịu trách nhiệm chính trong việc bảo đảm an ninh trật tự và vệ sinh môi trường khu du lịch cũng như trên các tuyến sông, điều tiết nước trong sông, đảm bảo chở đò được thuận lợi, tổ chức trông coi xe đạp, xe máy của khách tham quan du lịch.

Thành lập tổ chức vận chuyển khách du lịch trực thuộc UBND xã để ký hợp đồng kinh tế với Ban quản lý và các Công ty du lịch.

2.3.6. Nhận xét chung về hoạt động du lịch tại khu du lịch Tam Cốc – Bích Động

  • Những mặt tích cực : Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Tuyến sông Ngô Đồng hình thành một cách tự nhiên và là con đường thủy duy nhất để du khách đi tham quan toàn bộ khu Tam cốc – Bích Động. Tổng chiều dài của toàn tuyến đường thủy khoảng 5,8km (hiện nay đã khai thác được hơn 4km).

Cũng như các khu du lịch khác trong tỉnh, phương tiện chở khách tại tuyến này đều có vỏ bằng tôn, hình thức, mẫu mã được đóng theo kiểu dáng truyền thống với kích thước nhỏ và sức chở lớn nhất (trừ người lái đò)cũng chỉ có từ 2 người (đối với khách nước ngoài) đến 4 người(nếu là khách trong nước).

Trước đây, thuyền du lịch đi lại hết sức khó khăn và thường bị mắc cạn do phù sa bồi lắng. Nhưng những năm gần đây, tỉnh Ninh Bình đã đầu tư nạo vét, cải tạo luồng tuyến, mở mang du lịch để phục vụ du khách, từ đó không chỉ làm số lượng du khách tăng lên năm sau cao hơn năm trước mà việc đi lại cũng rất thuận lợi và an toàn.

Theo Ban quản lý Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động, để phục vụ du khách được an toàn thuận lợi theo đúng phương châm: “Vui lòng khách đến – Vừa lòng khách đi – Ấn tương lưu mãi”, từ năm 2006 Ban quản lý Khu du lịch đã tiến hành một cuộc “cách mạng” tổng thể các lĩnh vực hoạt động dịch vụ từ việc đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, bán hàng lưu niệm đến những người bán hàng rong và đội ngũ chụp ảnh…Nhưng thành công lớn nhất đó là việc lập lại trật tự kỷ cương trong việc vân chuyển khách du lịch bằng thuyền.

Với quan điểm: “Người dân là chủ thể của khu du lịch”, Ban quản lý Khu du lịch đã phối hợp với chính quyền địa phương áp dụng biện pháp quản lý “ba bên cùng có lợi”: nhà nước – doanh nghiệp và người lao động để đưa đón khách đi tham quan.

Trước tiên Ban quản lý tiến hành chấn chỉnh lại toàn bộ đội thuyền chèo và người lái. Toàn bộ thuyền du lịch được đóng thống nhất một kiểu dáng, kích cỡ và sức chở; gắn biển số kiểm soát cố định lên mạn thuyền; mở hội nghị chuyên đề về vận tải khách du lịch để tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công tác đảm bảo trật tự an toàn cho các du khách.

Tất cả những người tham gia vận chuyển đều phải ký vào bản cam kết thực hiện đúng nội quy của Khu du lịch. Được sự hỗ trợ tích cực của Sở GTVT Ninh Bình và chính quyền xã Ninh Hải, hiện nay đội thuyền trên 500 chiếc của nhân dân đã được đưa vào danh sách quản lý, điều hành trực tiếp của Ban quản lý – việc mà trước đây không thể làm được.

Để đề phòng bất trắc xảy ra, trên dọc tuyến du lịch, Ban quản lý đã trang bị đầy đủ các phao tròn cứu sinh đặt tại các vị trí cố định với một khoảng cách hợp lý để khi xảy ra tai nạn, có thể phát huy ngay tác dụng.

Chỉ tính riêng việc thống nhất đội thuyền đã mang lại thành công to lớn trên mọi phương diện cho khu du lịch như : Đảm bảo được sắc thái riêng của khu Tam Cốc – Bích Động; tạo cảm giác thoải mái cho khách du lịch; giữ gìn cảnh quan môi trường; người dân có công ăn việc làm và thu nhập ổn định; an ninh trật tự được thiết lập và giữ vững, chấm dứt toàn bộ cảnh tranh giành, chèn ép khách trước đây. Nhưng có lẽ thành công hơn cả là việc người dân đã tự giác chấp hành quy định của Luật giao thông, đảm bảo sự an toàn tuyệt đối cho du khách.

  • Về kinh tế – xã hội: Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Từ khi có sự phát triển du lịch, vùng đất này đã có sự thay đổi đáng kể. Cơ sở hạ tầng được cải thiện, cuộc sống của người dân được thay đổi cả về nhận thức lẫn chất lượng cuộc sống. Người dân có thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập, được giao lưu, tiếp xúc với nền kinh tế công nghiệp nhiều hơn.

  • Về tài nguyên môi trường du lịch:

Chính hoạt động du lịch đã giúp cho việc khai thác tài nguyên được hiệu quả hơn, những giá trị của tài nguyên được nâng lên, được mọi người biết đến và trân trọng, đồng thời giúp tôn tạo, trùng tu, lưu giữ các di sản, các lễ hội được mở ra đem đến cuộc sống tinh thần cho nhân dân, phát huy tính tự hào dân tộc hơn nữa.

Ngày 16 tháng 4 năm 2009 tại Ban Quản lý Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động, Ban Dân vận Tỉnh ủy tổ chức đánh giá kết quả 2 năm thực hiên chương trình phối hợp vận động quần chúng thực hiện nếp sống văn minh, văn hóa du lịch ở Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động. Sau 2 năm thực hiện đã mang lại hiệu quả rõ rệt, tạo được sự chuyển biến tích cực về nhận thức, trách nhiệm của cán bộ công nhân viên Ban Quản lý, UBND xã Ninh Hải và nhân dân địa phương, đặc biệt là những người tham gia là dich vụ du lịch.

Công tác vệ sinh môi trường khu du lịch được đảm bảo, cảnh quan ngày càng xanh sạch đẹp, an ninh trật tự được giữ vững, không còn hiên tượng chèo kéo hoặc nài ép khách du lịch mua hàng hoặc chụp ảnh…không những thế phong cách phục vụ ngày càng chuyên nghiệp hơn, tạo được niềm tin với du khách. Đời sống của người dân ở khu du lịch ngày càng được nâng cao hơn.

Tại Hội nghị, nhiều đại biểu, lao động làm dịch vụ trên địa bàn đã bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, ý kiến, kiến nghị, sự vui mừng, phấn khởi để làm rõ hơn những kết qua phối hợp đã đạt được, những khó khăn cần khắc phục và trình bày những biện pháp nhằm tiếp tục duy trì nếp sống văn minh, giữ vững thương hiệu tại đây.

  • Những mặt hạn chế:

Bên cạnh những mặt đã đạt được, trong quá trình thực hiện vẫn còn những mặt hạn chế cần phải khắc phục. Đó là :

  • Về tổ chức quản lý: Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Mặc dù việc điều hành của UBND xã ở đây không quá phức tạp, nhưng trong quá trình tiến hành công việc, họ cũng gặp một số khó khăn trong việc xử lý các vụ việc giữa người dân chở đò và du khách.

Người dân phải tuân thủ theo quy định chung của Ban Quản lý nhưng không tránh khỏi xô sát giữa những người đến sớm, người đến muộn, những thành phần được ưu đãi, ưu tiên…làm ảnh hưởng đến công việc điều đò, tốc độ và thời gian của khách.

Người dân nơi đây trước khi làm du lịch thì thu nhập chủ yếu là dựa vào nông nghiệp, đến nay tuy có thêm việc chở đò phục vụ khách du lịch nhưng chưa hoàn toàn thay thế nông nghiệp, chính vì lý do đó mà việc thu đất để xây dựng các công trình rất khó khăn. Trên thực tế số đất được nhà nước thu hồi để xây dựng đường giao thông đã được các nhà quản lý bồi thường cho dân với số tiền là 17.000 đồng/m2. Ruộng đất cấy lúa bị thu hẹp, đặc biệt là phục vụ cho viêc trồng sen tại khu du lịch Tam Cốc – Bích Động, phải lấy khoảng 3000 ha . Như vậy sẽ rất khó khăn cho việc kiếm công ăn việc làm cho người dân.

  • Về môi trường cảnh quan:

Quyết định số 432/UBND ngày 29 tháng 3 năm 1996, của UBND tỉnh Ninh Bình về việc: “Nghiêm cấm chặt phá cây tự nhiên và cây rừng trên đồi núi, ven đường và quanh các khu du lịch” đã nghiêm cấm săn bắn, mua bán vận chuyển động vật hoang dã trong rừng. Trên thực tế hiện tượng lấy gỗ, chặt cây của người dân đã giảm nhưng việc săn bắn các loài động vật trên núi như: Khỉ, Rùa đá …vẫn còn. Các loài cây phong lan quanh khu du lịch gần như là cạn kiệt vì đã bị lấy đi để bán cho khách du lịch. Các loại phong lan người dân đang bán hiện nay chủ yều là nhập từ nơi khác về.

Hiện nay, người dân ở khu vực Tam Cốc – Bích Động đã có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường. Tuy vậy rất ít người biết đến như thế nào là “du lịch sinh thái”. Bởi đối với người dân, khi cuộc sống còn khó khăn thì những vấn đề đó rất xa vời. Họ đã có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường bởi đơn giản họ thấy rằng làm như thế thì sạch sẽ và những người trong thôn cũng làm theo như vậy.

Tuy nhiên ở khu vực chùa Bích Động vẫn còn một số đoạn chưa được sạch sẽ. Như đoạn chân cầu Thạch Kiều dẫn vào cổng Tam quan có rất nhiều rác bẩn và nước ứ đọng ở phía dưới.

  • Về ý thức tham gia của người dân: Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Quan hệ làng xã của cộng đồng địa phương khi tham gia du lịch: Nhìn chung sự tác động của du lịch phần lớn đem lại những thay đổi tốt đẹp song cũng không tránh khỏi những tác động xấu tới đời sống của người dân như: Sự ô nhiễm môi trường, phá vỡ cảnh quan …và đặc biệt là vấn đề văn hóa làng đã bị thay đổi theo chiều hướng không tốt. Chính sự tiếp xúc với khách du lịch (đa phần là những người có thu nhập khá, văn hóa đa dạng, phong phú…) những vị khách này, bên cạnh việc giúp cho người dân nơi đây biết làm kinh tế, nhanh nhậy trong giao tiếp, biết buôn bán hàng hóa, trao đổi, có trình độ nhận thức cao hơn song bên cạnh đó nó cũng làm cho quan hệ làng xóm thay đổi, vì mục đích kiếm tiền mà tình làng nghĩa xóm trở lên phai nhạt hơn, người dân coi trọng đồng tiền hơn. Do đó cạnh tranh nhiều hơn… Không những vậy, những giá trị truyền thống bị phai nhạt theo thời gian. Tầng lớp thanh niên cũng kiếm được tiền từ việc bán bưu ảnh, bưu thiếp cho khách du lịch, tiếp xúc nhiều với các nền văn hóa ngoại lai mà trong đó không thiếu những thói hư, tật xấu, dẫn đến các tệ nạn xã hội như: nghiện hút, cờ bạc, bỏ học, trộm cắp… làm mất trật tự an ninh thôn xóm và khu du lịch.

  • Thái độ tham gia hoạt động du lịch của người dân:

Có lẽ cũng từ những suy nghĩ vật chất này mà sinh ra thái độ phân biệt giữa khách nội địa và khách quốc tế, giữa khách “thường” với khách “đệm”…Bởi lẽ khách này có nhiều tiền hơn khách kia, khách là người Châu Âu thường hào phóng hay mua nhiều hàng hơn khách châu Á. Ngay trong khách châu Âu cũng được phân ra làm 2 loại: “Khách Tây đỏ” (tức là những người có thu nhập cao) và “Khách Tây đen” (Tây Ba Lô/khách có thu nhập thấp) dẫn đến tình trạng người thì thân thiết quá mức, người thì thờ ơ lạnh nhạt…

Có những mặt hạn chế trên, một phần là do tính chất công việc luôn có sự lặp đi lặp lại gây lên sự nhàm chán. Tuy chỉ có đối tượng khách là thay đổi. Và một phần cũng vì mục đích làm thế nào để có thu nhập cao nên người dân sẽ có thái độ hướng vào đối tượng khách.

  • Mức độ chuyên nghiệp :

Để đáp ứng nhu cầu du lịch buôn bán, người dân cũng học nói tiếng Anh, Pháp, Trung, Nhật…Nhưng chủ yếu là “ngoại ngữ bồi” do học hỏi nhau chứ không qua trường lớp nào. Tuy có nhiều lớp tiếng Anh được mở do một số tư nhân mở ra với mức học phí 5.000 đồng một buổi, nhưng chỉ thu hút tầng lớp trẻ em và thanh niên. Còn đa số từ thành phần trung niên rất ít đi học. Sở dĩ có tình trạng trên là do người dân trong độ tuổi này rất bận rộn. Ngoài việc chở đò, họ còn công việc đồng áng, làm nghề phụ, không có thời gian cho việc học hành, hơn nữa đối với lứa tuổi của họ, việc tập trung rất khó cho nên đạt chất lượng không cao. Vì vậy muốn để những người dân nơi đây tham gia vào hoạt động du lịch như những thành viên thực thụ, có trình độ, nghiệp vụ, thể hiện đúng phong cách là người làm du lịch thì việc đầu tư vào thế hệ trẻ của địa phương là phương thức đúng đắn cho phát triển du lịch. Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Bên cạnh đó, cũng còn nhiều hiện tượng gây phiền lòng khách du lịch. Trên con đường nhỏ dẫn vào chùa Bích Động có nhiều hàng quán nhỏ, người bán phong lan, người bán những mặt hàng lưu niệm. Họ chào mời khách, không ít những trường hợp vừa mới mời chào ngọt nhạt xong, sẵn sàng quay lại nói tục, chửi bậy vì khách không mua hàng hoặc không trả lời vì vừa leo núi còn mệt…Với khách nước ngoài họ không phản ứng gì bởi họ không hiểu. Nhưng đối với khách trong nước: những người không chịu được thì quay lại đôi co, còn những người im lặng cho qua thì thấy buồn lòng và có ấn tượng không mấy tốt đẹp về khu du lịch này.

Mặt khác người dân muốn có thêm số tiền đó để tăng thu nhập mà nhiều gia đình đã cho con cái “lập gia đình sớm” để trở thành một hộ khẩu mới, đăng ký số đò với Ban Quản lý. Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt, không chỉ riêng những thanh thiếu niên học hành còn dang dở, công việc không cố định, chưa có kinh nghiệm lại sớm phải lam lũ…mà còn gây lên vấn đề gia tăng dân số làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, trật tự an toàn xã hội .

  • Về sản phẩm du lịch:

Tuy lượng khách đến khu du lịch đông nhưng không phải là cố định, liên tục. Nhất là nơi đây có tiềm năng du lịch lớn nhưng chưa phát huy hết khả năng, chưa hoàn toàn là ngành kinh tế mũi nhọn của vùng để có thể giúp người dân nơi đây thay thế nghề nông bằng việc tham gia vào phục vụ khách du lịch như một số nơi có hoạt động du lịch sôi động, phát triển như Hội An, Huế…

Hiện nay ngoài các tour tuyến có sẵn thì sản phẩm du lịch ở đây còn nghèo nàn, đơn điệu. Có hệ quả trên một phần là do ngành du lịch chưa có biện pháp làm đa dạng hoá sản phẩm nhưng quan trọng hơn cả là do những người dân ở đây vốn ít, dám nghĩ mà chưa dám làm, chưa dám sáng tạo, phát huy những gì mình có để kinh doanh các dịch vụ, vừa đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch vừa có thể tăng thêm thu nhập. Trong khi đó lại trông chờ vào những chính sách trợ cấp, nặng nề tư tưởng làm ăn kiểu tiểu nông, manh mún. Hơn nữa, người dân nơi đây hiểu biết còn hạn chế, học vấn chưa cao nên nhiều khi có tiền nhưng lại không biết đầu tư, làm ăn kiếm lời. Chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt mà chưa nghĩ đến lâu dài.

Văn Lâm vốn là mảnh đất có nghề truyền thống là nghề thêu ren, từ trẻ nhỏ tới các cụ già đều biết làm nghề. Nhưng trên thực tế trong tình trạng thiếu công ăn việc làm như hiện nay thì số người là nghề này vẫn còn hạn chế. Theo một số nghệ nhân trong làng nhận xét: Lớp trẻ, thanh niên hiện nay rất năng động, có nhiều người thành đạt từ nghề thêu, họ phát triển mở rộng nghề thêu cả về chiều rộng và chiều sâu. Song bên cạnh đó số người làm ra những sản phẩm tinh xảo, độc đáo ngày càng mai một. Mẫu mã hàng hóa phần lớn mang tính chất đơn điệu chưa có sự sáng tạo, lặp đi lặp lại rất nhiều. Do vậy Văn Lâm rất cần sự quan tâm giúp đỡ của các cấp chính quyền địa phương trong việc nâng cấp làng thành làng nghề du lịch, duy trì và phát triển cả về quy mô và chất lượng sản phẩm…để làng nghề Văn Lâm luôn hấp dẫn khách du lịch, phục vụ khách hiệu quả hơn nữa.

Tiểu kết chương 2 Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Nhìn chung Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch. Đặc biệt rất thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch tham quan, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, văn hóa. Việc bảo tồn và duy trì tính đa dạng của tự nhiên và văn hóa xã hội của khu vực luôn được chính quyền địa phương và Ban Quản lý Khu du lịch quan tâm,chỉ đạo thực hiện tốt. Vì vậy mà cảnh quan tự nhiên và các di tích lịch sử văn hóa xã hội của khu vực chưa chịu nhiều tác động của con người, có giá trị lớn đối với du lịch.

Trong những năm qua, khu du lịch Tam Cốc – Bích Động đã hình thành nhiều tour, tuyến với mong muốn tạo ra sự đa dạng trong chuyến đi của du khách. Tuy nhiên việc phát triển du lịch ở Tam Cốc – Bích Động vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Việc đầu tư cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật đã được thực hiên khá tốt theo đúng Quy hoạch năm 1997 – 2010. Điều này đã góp phần thúc đẩy việc quản lý, khai thác và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên du lịch của khu vực. Nhưng bên cạnh đó, việc dầu tư cho cơ sở hạ tầng đã thực hiện từ năm 2001 đến nay nhưng việc tiển khai còn chậm, mới đạt được 75% khối lượng công việc. Việc triển khai chậm các dự án cơ sở hạ tầng cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường du lịch, gây khó khăn cho hoạt động du lịch.

Nhìn chung cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch như: nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí… hầu hết là quy mô nhỏ, chất lượng phục vụ thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách.

Mặt khác, công tác tuyên truyền quảng bá du lịch, nhất là nước ngoài còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin cho du khách và các nhà đầu tư .

Môi trường xã hội cũng chưa thực sự lành mạnh, vẫn còn các hiện tương đeo bám, chèo kéo khách, ép khách mua hàng trên thuyền gây ra nhũng ấn tượng không tốt đối với khu du lịch.

Công tác đầu tư cho bảo vệ môi trường còn chưa được quan tâm đúng mức, hiện tại ở khu du lịch chưa có hệ thống xử lý rác thải, nước thải. hầu hết là được thải ra môi trường theo con đường tự nhiên. Nếu tình trạng này vẫn cứ tiếp diễn sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới sụ phát triển bền vững của khu du lịch.

Tuy nhiên trong thời gian qua, sụ phát triển của Khu du lịch cũng đã đem lại nhiều hiệu qua kinh tế – xã hội cho cộng đồng địa phương. Hàng năm, 15% nguồn thu từ dich vụ du lịch được đóng góp cho ngân sách địa phương. Người dân được tham gia vào các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch như: Lưu trú, ăn uống, bán hàng lưu niệm, chở đò phục vụ khách du lịch. Qua đó cũng đã một phần nào cải thiện cuộc sống cho người dân địa phương. Khóa luận: Thực trạng hoạt động du lịch tại KDL Tam Cốc.

Để khắc phục những hạn chế và đưa Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động phát triển cho tương xứng với tiềm năng thì việc nghiên cứu và xây dựng các định hướng và giải pháp phát triển bền vững cho khu du lịch là một yêu cầu cấp thiết.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại KDL Tam Cốc

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537