Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tiềm Năng Và Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

1. Tiềm năng du lịch Huyện Vân Đồn.

1.1 Vài nét về Huyện Vân Đồn và tỉnh Quảng Ninh.

1.1.1 Vài nét về tỉnh Quảng Ninh.

Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, có tổng diện tích là 8.239,243 km², 80% diện tích Quảng Ninh là địa hình đồi núi, tập trung ở phía Bắc. Một phần năm diện tích ở phía Đông Nam tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng. Quảng Ninh còn có rất nhiều đảo ven biển. Địa hình đáy biển Quảng Ninh không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m, có nhiều lạch sâu làm nơi cư trú của các rạn san hô.

Quảng Ninh có 2 thành phố trực thuộc, 2 thị xã và 10 huyện:

  • Thành phố Hạ Long 20 phường
  • Thành phố Móng Cái 8 phường và 9 xã
  • Thị xã Uông Bí 7 phường và 4 xã
  • Thị xã Cẩm Phả 14 phường và 2 xã
  • Huyện Ba Chẽ 1 thị trấn và 7 xã
  • Huyện Bình Liêu 2 thị trấn và 7 xã
  • Huyện Cô Tô 1 thị trấn và 2 xã
  • Huyện Đầm Hà 1 thị trấn và 7 xã
  • Huyện Đông Triều 2 thị trấn và 19 xã
  • Huyện Hải Hà 1 thị trấn và 15 xã
  • Huyện Hoành Bồ 1 thị trấn và 14 xã
  • Huyện Tiên Yên 1 thị trấn và 11 xã
  • Huyện Vân Đồn 1 thị trấn và 11 xã
  • Huyện Yên Hưng 1 thị trấn và 18 xã

Quảng Ninh có 184 đơn vị hành chính cấp xã gồm 127 xã, 48 phường và 9 thị trấn. Quảng Ninh là tỉnh có nhiều thành phố và thị xã trực thuộc nhất của Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Dân số Quảng Ninh theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 là 1.144.381 người trong đó nữ là 558.793 người có tỉ lệ dân số sống ở thành thị cao thứ 3 Việt Nam (sau Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng), dân số thành thị là 575.939 người( chiếm tỉ lệ 50,3%). Quảng Ninh thuộc diện tỉnh có số dân trung bình trong cả nước. Tỷ lệ tăng dân số bình quân từ năm 1999 đến 2009 là 1,3% (trung bình cả nước là 1,2%).

Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận về giá trị thẩm mĩ và địa chất, địa mạo. Quảng Ninh có 3 Khu kinh tế: Vân Đồn, trung tâm thương mại Hạ Long và Móng Cái là đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam

  • Trung Quốc và các nước trong khu vực.

Quảng Ninh hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản,(Về trữ lượng than trên toàn Việt Nam thì riêng Quảng Ninh đã chiếm tới 90%.) nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp vật tư, nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước và xuất khẩu, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP của tỉnh Quảng Ninh. Quảng Ninh với di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long 2 lần được Tổ chức UNESCO tôn vinh. Với di tích văn hóa Yên Tử, bãi cọc Bạch Đằng, Đền Cửa Ông, Đình Quan Lạn, Đình Trà Cổ, núi Bài Thơ… thuận lợi cho phát triển du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch thể thao, du lịch văn hóa tâm linh. Quảng Ninh được xác định là 1 điểm của vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ, là cửa ngõ quan trọng của hành lang kinh tế Nam Ninh-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh. Có hệ thống cảng biển, cảng nước sâu có năng lực bốc xếp cho tàu hàng vạn tấn,… tạo ra nhiều thuận lợi cho ngành vận tải đường biển giữa nước ta với các nước trên thế giới. Quảng Ninh có hệ thống cửa khẩu phân bố trên dọc tuyến biên giới, đặc biệt cửa khẩu quốc tế Móng Cái là nơi hội tụ giao lưu thương mại, du lịch, dịch vụ và thu hút các nhà đầu tư; Là cửa ngõ giao dịch xuất nhập khẩu với Trung Quốc và các nước trong khu vực.

Quảng Ninh xếp thứ 5 cả nước về thu ngân sách nhà nước (2010). Năm 2010 GDP đầu người ước đạt 1500 USD/năm. (Hạ Long 2882 USD/năm, Móng Cái 2580 USD/năm, Cẩm Phả vượt 2000 USD/năm). 2009 lương bình quân của lao động trên địa bàn tỉnh ước đạt gần 4 triệu đồng. Công nhân mỏ ước đạt trên 5.3triệu. Quảng Ninh phấn đấu 2010 tốc độ tăng trưởng đạt 11%.

Tuy nhiên Quảng Ninh là tỉnh mà hoạt động kinh tế ngầm, buôn lậu, đặc biệt là than thổ phỉ trái phép diễn ra ngang nhiên dù chính quyền địa phương đã có nhiều hình thức ngăn chặn và dẫn đến tình trạng lạm phát giá tiêu dùng tại đây rất cao cùng bất bình đẳng thu nhập. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

1.1.2 Khái quát về huyện đảo Vân Đồn.

Vân Đồn là một quần đảo vòng quanh phía Đông và Đông Bắc vịnh Bái Tử Long, nhưng lại nằm ở phía Đông và Đông Nam của tỉnh Quảng Ninh. Nó gồm 600 hòn đảo lớn nhỏ. Đảo lớn nhất Cái Bầu, diện tích chiếm khoảng non nửa diện tích đất đai của huyện, trước có tên là Kế Bào, ở phía Tây Bắc huyện nằm kề cận đất liền lục địa, cách đất liền bởi lạch biển Cửa Ông và sông Voi Lớn. Trong địa phận xã Vạn Yên còn có đảo Chàng Ngo cũng tương đối lớn. Huyện lỵ là thị trấn Cái Rồng, nằm trên đảo Cái Bầu, cách thành phố Hạ Long khoảng 50 km, cách Cửa Ông 7 km (theo đường 31 qua cầu Vân Đồn và bến phà Tài Xá). Tuyến đảo Vân Hải, nằm ở rìa phía Đông Nam của huyện, gồm các đảo lớn như: Trà Bàn, Cao Lô, Quan Lạn, Đông Chén, Thẻ Vàng, Ngọc Vừng, Cảnh Tước, … và một loạt các đảo nhỏ khác, thành bức bình phong che chắn ngoài khơi vịnh Bái Tử Long. Diện tích đất đai xã Bản Sen chiếm nửa già diện của đảo Trà Bản, đảo lớn thứ hai trong huyện, cùng với đảo Đông Chén và các đảo nhỏ lân cận.

Huyện Vân Đồn có diện tích tự nhiên 551,3 km². Lượng mưa bình quân hàng năm ở đây khoảng trên 2000 mm/năm. Dân số huyện Vân Đồn vào khoảng 45.000 dân, trong đó: người Kinh chiếm 86%, người Sán Dìu 10%, người Hoa 1,5%, người Dao 1,3%, người Sán Chỉ, người Tày, …

Con người đã có mặt trên các đảo của huyện Vân Đồn từ rất sớm. Di chỉ khảo cổ ở đây có mật độ đậm đặc. Hang Soi Nhụ là một di chỉ thuộc trung kỳ đồ đá mới, trước cả văn hóa Hạ Long. Tại thôn Ðá Bạc xã Minh Châu có di chỉ mộ cổ thời Hán. Tên Vân Ðồn có nguồn gốc từ tên núi Vân (núi có mây phủ) ở làng Vân (nay thuộc xã Quan Lạn) nằm trong tuyến đảo ngoài Vân Hải. Do ở cửa ngõ của vùng quần đảo hiểm yếu nên, theo sử sách, năm 980 ở đây đã có đồn Vân, trấn giữ vùng biển Đông Bắc, của quân đội nhà Tiền Lê. Năm 1149 vua Lý Anh Tông của nhà Lý chính thức lập trang Vân Ðồn, đồng thời Vân Đồn thành thương cảng đầu tiên của Đại Việt, trong giao thương với các nước trong khu vực Đông Á và Thế giới như: Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, … Thương cảng Vân Đồn thịnh vượng suốt 3 triều đại là: Lý – Trần – Hậu Lê (Lê sơ) rồi suy thái và bị lãng quên vào thời nhà Mạc. Di tích Thương cảng Vân Đồn lại vừa chứa đựng dấu ấn của nhà Trần về chiến công chống ngoại xâm lại vừa có dấu ấn về giao thương, buôn bán. Trận Vân Đồn năm 1288 trên dòng sông Mang (Quan Lạn) gắn liền với tên tuổi của danh tướng Trần Khánh Dư, dưới sự chỉ huy của ông, quân dân nhà Trần đã đánh tan đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của trận Bạch Đằng năm 1288. Sau khi Thương cảng Vân Đồn được hình thành từ thời Lý (1149), đến thời Trần đã phát triển tới hưng thịnh. Các bến thuyền cổ trung chuyển hàng hoá gồm hương liệu, gốm sứ, lâm thổ sản hình thành dọc ven sông Bạch Đằng, Cửa Lục cho tới các đảo Cống Đông, Quan Lạn. Tại đảo Cống Đông (nay là xã Thắng Lợi), các nhà khảo cổ đã tìm thấy dấu tích của nhiều công trình kiến trúc Phật giáo quy mô thời Trần như chùa, tháp, nhiều di vật bia đá, lan can, chân kê cột… Đây là những minh chứng rõ nhất cho sự phát triển phồn thịnh về thương mại dưới triều nhà Trần. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Trong quá trình lịch sử thì Vân Đồn đã nhiều lần thay tên và có lúc là huyện, lúc là châu… Đến tháng 12 năm 1948 thì chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định thành lập huyện Cẩm Phả (được tách ra khỏi thị xã Cẩm Phả). Đến ngày 23 tháng 3 năm 1994 huyện Cẩm Phả được chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đổi tên là huyện Vân Đồn ngày nay.

Không chỉ được biết đến là một địa điểm du lịch biển, đảo đặc sắc với hơn 600 hòn đảo lớn nhỏ và những danh lam thắng cảnh kỳ thú, huyện đảo Vân Ðồn còn được nhiều du khách thích thú đến tìm hiểu về du lịch văn hóa tâm linh với những dấu ấn của một thương cảng sầm uất bậc nhất một thời, hay những đền thờ các vị tướng tài của dân tộc.

1.2. Tài nguyên du lịch của Vân Đồn.

1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên.

1.2.1.1 Địa hình

Vân Ðồn là huyện đảo ôm trọn vịnh Bái Tử Long – một quần thể biển đảo mà vẻ kỳ thú, giá trị địa chất, địa mạo, tính đa dạng sinh học không hề thua kém Hạ Long vốn lừng lẫy xưa nay. Nó gồm 600 hòn đảo lớn nhỏ. Các đảo đều có địa hình núi đá vôi, thường chỉ cao 200 ÷ 300 m so với mặt biển, có nhiều hang động Karst. Cũng giống như tất cả các đảo trong vịnh Bắc Bộ các đảo của huyện Vân Đồn vốn trước kia là các đỉnh núi của phần thềm lục địa, ở vị trí Tây Bắc vịnh Bắc bộ, phần kéo dài của dãy núi Đông Triều. Sau thời kỳ biển tiến, hình thành vịnh Bắc Bộ, các đỉnh núi này còn sót lại, nằm nổi trên mặt biển thành các đảo độc lập thuộc hai vùng của vịnh Bắc Bộ là vịnh Bái Tử Long và vịnh Hạ Long. Các đảo thuộc huyện Vân Đồn chỉ là một phần trong quần đảo Tây Bắc vịnh Bắc Bộ. Các ngọn núi trên các đảo của huyện tiêu biểu có:

Núi Nàng Tiên, ở đảo Trà Bản, trên địa phận xã Bản Sen, cao 450 m; Núi Vạn Hoa ở đảo Cái Bầu cao 397 m.

Do địa hình là quần đảo chủ yếu là các đảo nhỏ, lại là núi đá vôi, nên trong toàn bộ diện tích tự nhiên của huyện, diện tích đất liền không lớn, chủ yếu là diện tích mặt biển. Huyện đảo Vân Đồn có 68% diện tích đất tự nhiên trên các đảo là rừng và đất rừng. Trên các đảo không có sông ngòi lớn mà chỉ có vài con suối trên những đảo lớn. Người dân địa phương thường gọi các eo biển giữa các đảo với nhau và với đất liền là sông như: sông Voi Lớn nằm giữa đảo Cái Bầu với đất liền, sông Mang ở đảo Quan Lạn. Trên địa bàn huyện có hai hồ nhỏ là hồ Vồng Tre và hồ Mắt Rồng.

1.2.1.2. Khí hậu. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Mang nét đặc trưng của nền khí hậu đại dương nên Vân Đồn có khí hậu mát mẻ trong lành, không gian yên tĩnh. Ảnh hưởng bởi hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á nên khí hậu bị phân hoá thành hai mùa: mùa hạ nóng ẩm với mùa mưa, mùa đông lạnh với mùa khô.

Về nhiệt độ: được xác định có mùa đông lạnh, nhiệt độ không khí trung bình ổn định dưới 20oC. Mùa nóng có nhiệt độ trung bình ổn định trên 25oC. Lượng mưa bình quân hàng năm ở đây khoảng trên 2000 mm/năm. Theo số liệu quan trắc, mùa lạnh bắt đầu từ hạ tuần tháng 11 và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10.

Mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10.

Giữa hai mùa lạnh và mùa nóng, hai mùa khô và mùa mưa là hai thời kỳ chuyển tiếp khí hậu, mỗi thời kỳ khoảng một tháng (tháng 4 và tháng 10).

Chính vì vậy, mà mùa du lịch của huyện thường rơi vào khoảng cuối tháng 4 đến giữa tháng 8, thích hợp với loại hình du lịch nghỉ ngơi, tắm biển, thể thao dưới nước kết hợp tham quan.

1.2.1.3. Tài nguyên sinh vật – Vườn Quốc gia Bái Tử Long.

Nói đến nguồn tài nguyên sinh vật của huyện Vân Đồn không thể không nhắc đến Vườn Quốc Gia Bái Tử Long với nhiều giá trị đặc sắc.

Vườn quốc gia Bái Tử Long nằm trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, được thành lập ngày 01/06/2001 theo Quyết định số 85/2001/QĐ-TTg, trên cơ sở mở rộng và chuyển hạng từ Khu bảo tồn thiên nhiên Ba Mùn. Đây là một trong bảy vườn quốc gia của Việt Nam vừa có diện tích trên cạn vừa có diện tích biển. Đây là nơi còn lưu giữ được nhiều mẫu gene động thực vật quý hiếm, nhiều loài đã được ghi vào trong sách đỏ. Một số loài cây, con một thời được coi là biến mất nay lại thấy xuất hiện trở lại. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

VQG Bái Tử Long có hệ thực vật khá phong phú và đa dạng. Hệ thực vật ở đây bao gồm 780 loài, 468 chi, 135 họ thuộc 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó ngành Mộc lan (Magnoliphyta) chiếm đa số với 729 loài, 438 chi, 114 họ. Ngành Dương xỉ (Podipidiophyta) với 16 họ, 24chi, 45 loài. Hai ngành ít loài nhất là Lá thông (Psiliophyta) và ngành Thông đất (Lycopodiophyta), mỗi ngành chỉ gặp mỗi một họ, 1 chi, 1loài. Ngành thông (Polyphyta) có 3 họ 4 chi 4 loài. Còn ngành Tháp bút (Equiseptophyta) chưa gặp đại diện nào trong khu vực VQG Bái Tử Long.

Trong tổng số 135 họ thực vật có ở Vườn, số loài gặp trong mỗi họ có khác nhau. Có 31 họ mới gặp 1loài, 32 họ có 3-4 loài, 28 họ có 5-9 loài và 24 họ có trên 10 loài. Hai họ có số lượng trên 40 loài là Rubiaceae(47loài ) và Euphorbiaceae(41 loài). Đây cũng là những họ có số chi và loài đa dạng nhất trong hệ thực vật Việt Nam. Có 18 chi có số loài nhiều hơn, 5 trong đó 2 chi Fiecus (18 loài), Symplocos (11loài) có số loài lớn nhất.

VQG Bái Tử Long có 21 loài thực vật quý hiếm được ghi nhận trong sách đỏ Việt Nam (1996) và 10 loài có tên trong các phụ lục IA, IIA của Nghị định 32/2006/CP-NĐ của Chính phủ quy định danh sách các loài động thực vật quý hiếm cần bảo vệ.

Nguồn tài nguyên cây có ích bao gồm: 431 loài cây thuốc ,126 loài cây cho gỗ, 44 loài cây cho quả và hạt ăn được, 33 loài cây làm rau ăn ,27 loài cây cho tinh dầu và dầu béo , 14 loài cây làm thức ăn cho gia súc.

Hơn nữa, nơi đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã trên đảo cụ thể như sau:

  • Lớp thú có 24 loài thuộc 13 họ, 6 bộ.
  • Lớp chim có 71 loài thuộc 28 họ, 9 bộ
  • Lớp lưỡng cư có 15 loài thuộc 1 họ, 1 bộ.
  • Lớp bò sát có 33 loài thuộc 12 họ, 2 bộ.
  • Côn trùng bộ Cánh phấn ( Lepidoptera) có 120 loài, thuộc 8 họ.

Nằm trong danh sách được đưa vào sách đỏ về động vật rừng có: Bồ câu nâu, Báo gấm (Neofelis nebulosa), Báo lửa , Sơn dương (Capricornis sumatraensis), Rùa hộp ba vạch (Cuora trifasciata), Tắc kè (Gekko gekko), Kỳ đà hoa (Varanus salvator), Trăn đất ( Python molurus), Rắn ráo thường (Ptyas korros), rắn cạp nong (Bungaus fasciatus), rắn Hổ mang (Naja naja), rắn Hổ mang chúa (Ophiophagus hannah)… Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Ngoài ra, Vườn Quốc gia Bái Tử Long còn nổi tiếng với Hệ sinh thái thung áng trong núi đá vôi, được hình thành trong các thung lũng đá vôi, có nước biển xâm thực , điển hình như thung áng Cái Đé. Nước trong thung chỉ lưu thông với vùng biển bên ngoài qua những khe rãnh nhỏ hoặc các hang ngầm. Vì vậy tại đây còn tồn tại nhiều loài sinh vật được hình thành từ xa xưa, và do đó hệ sinh thái này được coi như bảo tàng sống thể hiện lịch sử tiến hóa của sinh vật. Hệ sinh thái thung áng không những là nhân tố hợp thành giá trị đa dạng sinh học, mà còn góp phần tạo nên các giá trị cảnh quan phong phú và hấp dẫn của Vườn quốc gia Bái Tử Long.

1.2.1.4. Khu du lịch sinh thái Bái Tử Long.

Trải dài trên diện tích 100 ha với thế mạnh 10 km bờ biển, Khu Du lịch sinh thái ATI – Bái Tử Long là sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống Á Ðông và phong cách hiện đại Phương Tây.

Hệ thống nhà sàn khép kín được bố trí sát biển tạo cho du khách cảm giác gần gũi với thiên nhiên, xoá nhoà ranh giới giữa cuộc sống hiện đại ồn ào, náo nhiệt để hoà mình vào biển cả mênh mông. Khu nhà biệt thự với những trang thiết bị đạt tiêu chuẩn quốc tế sẽ thích hợp với quí khách có nhu cầu nghỉ dưỡng, tham quan kết hợp du lịch, hội nghị, hội thảo….

Đến với Khu Du lịch ATI – Bái Tử Long, du khách có cơ hội thưởng thức những món ăn truyền thống Á – Âu, những đặc sản chỉ có duy nhất ở vùng biển nhiệt đới với sự chế biến của các đầu bếp tài ba trong một nhà hàng sang trọng với sức chứa từ 50 – 200 thực khách. Ngoài ra, còn có hệ thông quầy bar sang trọng, thoáng mát phục vụ 24/24h với nhiều loại đồ uống đa dạng đặc sắc.

Nếu bạn là người ưa hoạt động thì khu vui chơi giải trí với các loại hình độc đáo như các chương trình văn nghệ dân tộc, các trò chơi thể thao, các dịch vụ bãi biển( thuyền yacht, kayaking..), dịch vụ tàu ca nô cao tốc hay đốt lửa trại hấp dẫn sẽ tạo cho kỳ nghỉ của bạn những ấn tượng thực sự khó quên.

Và nếu bạn muốn thoả mãn trí tưởng tượng bay bổng và mong ước khám phá tận cùng những kỳ thú của thiên nhiên, những chiếc cano của ATI sẽ đưa bạn tới những hòn đảo nguyên sơ với những câu chuyện đậm màu huyền thoại. Phút ghé thăm làng nghề truyền thống ven biển sẽ góp phần làm nên ý nghĩa cho cuộc hành trình thú vị.

Khu Du lịch sinh thái ATI – Bái Tử Long sẽ thực sự trở thành điểm dừng chân lý thú trong hành trình khám phá thiên nhiên của bạn. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

1.2.1.5. Quan Lạn – Vùng biển đảo huyền thoại.

Nằm trong quần thể đảo lớn trên Vịnh Bái Tử Long thơ mộng , Đảo Quan Lạn rộng 115km2 với chiều dài 25km. Cả đảo chỉ có 1.000 nóc nhà với 7.000 dân. Đây là một vùng đất hội tụ đầy đủ những giá trị về cảnh quan thiên nhiên và giá trị lịch sử truyền thống lâu đời. Đến nơi đây, bạn sẽ được tìm hiểu phong tục tập quán lâu đời của cư dân vùng biển đảo, được thăm những ngôi đình cổ kính thâm nghiêm, thăm thương cảng Vân Đồn – thương cảng cổ có từ thời Lý và đặc biệt được thưởng thức những món hải sản tươi sống như Sá Sùng, Bào Ngư, Ngán, Sứa xanh, rong biển … mà chỉ Quan Lạn mới có.

Nắng thì vàng rực rỡ, gió biển mát rượi, còn biển thì xanh đến vô bờ… còn gì sung sướng bằng được đắm mình trong làn nước biển trong xanh có thể nhìn thấy đáy, thấy cát trắng dưới chân êm ái như nhung… Sóng biển ở đây không ồn ào, dữ dội mà chỉ đủ để bạn cảm nhận về biển, để bạn được cùng đùa giỡn với sóng, với gió cho đến khi mệt nhoài, ngả mình trên dải cát trắng tinh khôi, thấy biết bao nhiêu ưu phiền của cuộc sống thường ngày bỗng chốc tan biến, tâm hồn nhẹ lâng lâng…

Đến với Quan Lạn là đến với bãi biển Minh Châu – viên ngọc tỏa sáng, bãi cát phẳng mịn, trắng muốt, đi không dính chân. Được sống trong một không gian yên bình mà không phải nơi đâu người ta cũng tìm thấy. Bởi người Quan Lạn nghèo nhưng sống hiền hoà, đùm bọc, cưu mang nhau, mang tiếng là sống cùng gió biển, nhưng chẳng bao giờ thấy họ nói to hay xích mích. Nhà nhà sống bằng nghề đi biển, bắt được mớ tôm, mớ cá thường đem biếu hàng xóm tắt lửa tối đèn. Từ ngày du lịch “manh nha” phát triển, nhà nghỉ sinh thái, khách sạn mini đặt mua hải sản, người Quan Lạn mới biết đến từ “mua bán”. ở Quan Lạn chưa có điện lưới Quốc gia, nguồn điện sinh hoạt chủ yếu chạy bằng máy phát điện chạy dầu diesel, cứ vài nhà lại chung tiền mua một máy phát điện, hàng tháng chung tiền dầu. Chẳng thế mà hải sản ở Quan Lạn không có đồ đông lạnh, lúc nào cũng tươi roi rói. Phương tiện đi lại trên đảo chủ yếu là xe máy và xe túc túc, bạn sẽ thự sự thích thú với chiếc xe túc túc khi cả đoàn làm vài vòng dạo chơi khắp đảo, hoà mình vào cuộc sống nơi đây!

Đến Quan Lạn, bạn đừng quên đến Khu du lịch sinh thái Vân Hải – khu nghỉ dưỡng đẹp nhất trên hòn đảo này. Vân Hải có dải cát trắng thuỷ tinh chạy dài 3km bên bãi tắm Sơn Hào. Khu nghỉ dưỡng này có tới 8 biệt thự và 5 nhà sàn nằm dưới cánh rừng phi lao cổ thụ rợp bóng hướng ra biển. Bãi Sơn Hào ở Quan Lạn được coi là Đệ nhất bãi tắm với bờ biển thoai thoải, nước xanh trong vắt. ở bãi tắm này, bạn có thể tham gia cá hoạt động thể thao bãi biển như bóng đá, bóng chuyền, kéo co, trượt trên đồi cát trắng… Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Bạn sẽ được đặt chân lên cánh rừng trâm còn nguyên dấu cổ xưa để đến Đệ nhị bãi tắm trên đảo Quan Lạn – bãi biển Minh Châu và đi thăm những bãi cát trắng bạt ngàn của vùng Vân Hải vốn nổi tiếng từ thời Pháp thuộc, nay được sàng tuyển để làm nguyên liệu chính cho ngành công nghiệp thủy tinh, pha lê và cơ khí chế tạo máy.

Bạn có thể dạo biển khi hoàng hôn xuống, đi soi tôm, cá, cua … với ngư dân trên đảo, hoặc cùng ngư dân đảo Quan Lạn hoà chung tiếng hát trong đêm giao lưu lửa trại tại bãi biển trong suốt đêm thâu, thưởng thức đặc sản dê đảo, bê đảo nướng, nhâm nhi bầu rượu “ngán” để tạm quên đi những lo âu bộn về cuộc sống mưu sinh, để hoà mình vào thiên nhiên và cảnh vật bên bờ biển Thái Bình Dương thơ mộng, để rồi chợt giật mình với lảnh lót tiếng chim chào buổi sáng và ngắm cảnh bình minh từ mặt biển…

Trong hành trình đến Quan Lạn, bạn sẽ có những buổi tối lãng mạn thả hồn thư thái chiêm ngưỡng ánh trăng lung linh trên mặt biển, hay lắng nghe sóng hát, tận hưởng hương rừng hoặc dạo chơi trên những con đường mềm mại, len lỏi giữa bạt ngàn phi lao vi vu trong gió.

Quan lạn – Vùng biển đảo huyền thoại không thể chối từ!

1.2.2. Tài nguyên nhân văn.

1.2.2.1. Di tích lịch sử văn hóa.

1.2.2.1.1. Đền Cặp Tiên.

Đền Cặp Tiên (hay còn gọi là đền Cô bé Cửa suốt) là công trình tín ngưỡng dân gian hình thành từ thời Nguyễn, toạ lạc trên sườn núi tiên thuộc địa phận thôn Cặp Tiên, xã Đông Xá, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Ngày 18/8/2006 đền được Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định số: 2423/QĐ-UBND công nhận là “Di tích kiến trúc nghệ thuật và Danh thắng đền Cặp Tiên”. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Tương truyền đền Cặp Tiên thờ vị tiểu thư là con Trần Quốc Tảng nên có tên gọi là “Đền Cô bé cửa suốt”. Sau này, vào thời Nguyễn một ông quan chánh đã được nhân dân địa phương tôn làm hậu thần và thờ tại đền nên tên gọi là đền Quán Chánh. Sở dĩ đền có cái tên là “Cặp Tiên” như ngày nay là vì có cảnh đẹp sơn thuỷ hữu tình, xưa kia đây là nơi có hai vị Tiên ông thường xuống ngắm cảnh và chơi cờ, đi theo phục vụ là hai nàng tiên cô rất xinh đẹp, hai nàng tiên thường xuống giếng ở chân núi lấy nước về đun pha trà cho các tiên ông.

Hiện nay khu vực đền Cặp Tiên gồm có ba công trình: Đền chính, Giếng Tiên và động Sơn Trang.

Đền chính quay hướng Đông Bắc, kiến trúc chữ Đinh, gồm bái đường và hậu cung với tổng diện tích là 102m2. Kiến trúc vì kèo ở bái đường theo kiển chồng rường con nhị, cột cửa được làm bằng gỗ táu, trên các vì có treo các hoành phi, ở các cột có treo các câu đối, sân đền xây dựng phương đình, mái lợp ngói mũi hài, hai tầng tám mái, điểm mái ghép ngói lá đề, trong phương đình đặt bát hương công đồng lớn bằng đồng.

Động Sơn Trang(căn cứ vào đồ thờ tự thì đây là nơi thờ mẫu theo tín ngưỡng dân gian) được chia làm hai phần như kiến trúc của đền. Phía ngoài bằng phẳng là nơi hành lễ, còn phía trong được đắp thành các dãy núi đá và đặt các pho tượng, phía trên bức tường ngăn giữa nơi làm lễ và động thờ treo bức hoành phi cuốn thư gồm bốn đại tự bằng chữ Hán Công đồng sơn trang”. Tượng thờ bài trí khắp không gian hậu cung trong động, gồm tượng Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn, tượng nhị vị vương bà và 12 cô Sơn trang, hai bên pho tượng cậu. Chính giữa động là bức hoành phi được tạo hình kiểu cuốn thư đề bốn chữ Nữ động sơn trang’ .

Giếng tiên trong khuôn viên của đền, đây là một giếng nước ngọt nằm ngay bên bờ biển, khi nước triều lên dù giếng có bị ngập thì ngay khi triều xuống nước lại ngọt trở lại, quanh năm giếng không bao giờ hết nước. Giếng tiên còn liên quan đến câu truyện truyền thuyết về hai vị tiên ông đã xuống đây chơi cờ và hai nàng tiên nữ .

Hàng năm, du khách thường đến đây để cầu an vào dịp đầu xuân, tìm lại được khoảnh khắc thanh tịnh trong chốn đô thị ồn ào.

1.2.2.1.2. Đền thờ vua Lý Anh Tông và Động Đông Trong. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Nằm ngay ở cầu cảng, thị trấn Cái Rồng là Di tích lịch sử Đền thờ vua Lý Anh Tông. Mặc dù về kiến trúc còn đơn sơ và chưa thật sự điển hình nhưng nơi đây mang những giá trị văn hóa sâu sắc. Đền thờ một vị hoàng đế chính thức khai sinh ra trang Vân Đồn ở thể kỷ XII – tiền nhân huyện đảo Vân Đồn ngày nay, đích thân hành xem sự thiếu đủ, đói khổ của dân, trực tiếp xuống dân và ra đảo “ghi chép phong vật”, lại cũng chính tay hoàng đế đã ghi chép bản đồ tổ quốc. Thiết nghĩ mỗi bước chân Vua Lý Anh Tông trên Hải đảo Đông Bắc đều cần cắm biển chữ vàng ghi lại sự tích. Chính vì thế, nơi đây chính là biểu trưng truyền thống “ uống nước nhớ nguồn” của nhân dân huyện đảo này.

Cách đó không xa, nếu đi đò máy chỉ mất khoảng từ 3-5 phút là du khách đã đặt chân lên hòn đảo Đông Trong, một trong những hòn đảo đẹp thuộc Vịnh Bái Tử Long. Toàn bộ đảo Đông Trong là núi đá nhô lên từ đáy biển. Xung quanh đảo là các doi cát tự nhiên và nhân tạo. Đứng ở cầu cảng nhìn ra, đảo Đông Trong giống như hình một con sư tử phục vị, dáng vẻ oai phong, hoành tráng, án ngữ trước cảng. Hòn đảo Đông Trong được xác định là có diện tích khu vực bảo vệ 5 ha, trong đó phần núi đá và doi cát nổi là 2,4 ha, phần bề mặt biển xung quanh đảo là 2,6 ha.

Nét đặc biệt của đảo là có hang động trong núi (Vọng Hải đài Sơn động) chạy suốt dọc từ phía tây nam sang đông bắc, dài 130m và chia làm nhiều ngách, gồm 3 cửa động chính: Cửa động phía đông là cửa động rộng nhất. Từ doi cát nổi tự nhiên, Công ty TNHH Vân Tiến đã xây kè đá và tôn cát, tạo thành bãi cát nổi có diện tích lớn, khoảng không gian rộng và được trồng nhiều cây cảnh. Theo đường đá ven núi, du khách có thể lên cửa động; đường đi thông thoáng, không dốc, thoải mái và an toàn…

Cửa động phía nam không lớn, bắt đầu từ doi cát rộng khoảng hơn 100m2, men theo vách đá có đường hẹp dẫn vào động. Cửa động phía tây là cửa động đón khách từ cảng ra đảo vào. Ở đây, hang động có độ rộng trung bình là 1,6m, có chỗ rộng tới 3m nhưng nhiều chỗ chỉ vừa chui lọt người. Chiều cao của động từ 2,4 – 3,5m. Mặt nền rộng, phẳng, đi lại rất dễ dàng. Động ở phía bắc có độ cao dốc, hơi khó đi. Hai bên thành động, nhũ đá buông rủ xuống tầng tầng, lớp lớp như mành đá. Những lớp nhũ đá tạo ra muôn hình phong phú, sinh động. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Khi bước vào cửa động phía đông, du khách bắt gặp một không gian hoành tráng, chiều rộng và chiều cao của động, mỗi chiều khoảng hơn 30m. Đỉnh vòm cao rộng, bốn mặt thành vách động có nhiều thạch nhũ buông rủ xuống tạo thành nhiều hình ảnh kỳ thú, màu sắc huyền ảo, lung linh thu hút khách tham quan. Đây là một không gian rộng như một sảnh lớn. Từ đây tiến lên phía bắc chia thành hai tầng hang động.

Phía trên hang động có hai thành vách đá, những khối đá, thạch nhũ buông rủ tạo thành nhiều hình kỳ thú, có chỗ giống như hình con rùa mẹ đang bơi, có chỗ lại giống hình người mẹ bế con, hay hình ông cụ già râu tóc bạc trắng, rồi từa tựa như Tôn Ngộ Không múa gậy bay lượn trong không trung v.v… Ấn tượng hơn cả là hình những chiếc khánh đá buông xuống dựng đứng, du khách gõ vào tạo ra âm thanh vang rền trong động. Càng tiến lên phía bắc, du khách gặp càng nhiều ngách đi về nhiều phía, đường nhỏ hẹp khó đi và nối thông nhau…

Điều đặc biệt hơn cả là hiện nay qua các lần thăm dò và khai quật tại di tích Động Đông Trong có phát hiện thấy dấu tích khảo cổ của nền Văn hoá Hạ Long cách ngày nay khoảng 4000 năm (có nhiều hiện vật đặc trưng như công cụ sản xuất, đồ dùng sinh hoạt, đồ trang sức …), qua kết quả nghiên cứu cho thấy di tích Động Đông Trong vừa là nơi cư trú, vừa là nơi mộ táng. Căn cứ vào các di tích còn để lại ở tầng văn hoá có thể thấy rằng Người cổ Động Đông Trong đã duy trì nền kinh tế hỗn hợp giữa kinh tế biển và kinh tế săn bắt, hái lượm ở dải đất ven bờ, là cơ sở để phát triển loại hình du lịch nghiên cứu khảo cổ.

Di tích lịch sử và danh thắng Đền Lý Anh Tông và Động Đông Trong có giá trị rất cao về lịch sử và văn hoá cho nên được công nhận là di tích cấp tỉnh theo quyết định 4426/QĐ – UBND ngày 28/11/2007 của UBND tỉnh Quảng Ninh./.

1.2.2.1.3. Cụm kiến trúc nghệ thuật Quan Lạn.

Quan Lạn không chỉ biết là một hòn đảo có phong cảnh nên thơ, hữu tình mà còn là một nơi tập trung một hệ thống kiến trúc Tín ngưỡng- Tôn giáo rất phong phú, gồm 4 loại hình, với những kiến trúc và mục đích rất khác nhau, đó là hệ thống Đình – Chùa – Miếu – Nghè.

  • Đình Quan Lạn: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Đình Quan Lạn là điểm tham quan không thể thiếu trên hòn đảo nhỏ xinh xắn này. Có xuất xứ từ ngôi đình được xây dựng ở thương cảng cổ Cái Làng dưới thời hậu Lê (khoảng thế kỷ 17), đình Quan Lạn là một trong hai ngôi đình cổ nhất ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay và là ngôi đình duy nhất ở VN thờ vua Lý Anh Tông – người đã có công lập ra thương cảng Vân Đồn năm 1149.

Thời nhà Nguyễn, đình được di chuyển về Quan Lạn, được trùng tu nhiều lần để thờ thành hoàng làng, các vị tiên công đã có công lập ra xã Quan Lạn và thờ tướng Trần Khánh Dư – người trấn ải Vân Đồn đã tổ chức trận chiến đấu tại sông Mang – Vân Đồn, tiêu diệt 500 chiếc thuyền lương, diệt tướng giặc Nguyên là Trương Văn Hổ.

Hiện ngôi đình tọa lạc trên khu đất rộng ngay trung tâm đảo trong vị trí “tiền tam thai, hậu ngũ nhạc”. Đình nhìn ra vịnh Vân Đồn, trước mặt có đảo Phượng Hoàng và đảo Ngọc làm bình phong, xa trông là dãy núi Ba Sao với các ngọn Sao Trong, Sao Ngoài và Sao Ỏn. Lưng đình tựa thế năm ngọn núi cao bề thế có hình ngũ nhạc.

Đình Quan Lạn có kết cấu mặt bằng hình chữ “công” gồm năm gian, hai chái, ba gian ống muống và một gian hai chái hậu phía sau. Một nét đặc sắc nữa của ngôi đình là được làm bằng gỗ mần lái – loài cây chỉ có trên đảo đá Ba Mùn (gần thương cảng Cái Làng). Trải qua mấy trăm năm, những cây cột gỗ mần lái vẫn còn nguyên vẹn và không hề bị mối mọt. Du khách đặc biệt ấn tượng với những cây cột cái cao 5,2m có đường kính 70cm.

Mặc dù được dựng thời hậu Lê nhưng đình mang kiến trúc thời Lý. Nghệ thuật chạm khắc tỉ mỉ, công phu, hình thức chọn phong phú, đường nét tinh tế và chau chuốt. Hình ảnh con rồng được tái hiện nhiều và sinh động như rồng chầu mặt nguyệt, rồng ngậm chữ Thọ, rồng cuốn nước, cúc hóa rồng… Bên cạnh đó là hình ảnh con ngài tằm, con tôm thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn bởi mảnh đất này vốn rất thịnh vượng với nghề trồng dâu nuôi tằm và đánh bắt hải sản.

Cho đến giờ người ta vẫn không biết xưa kia các nghệ nhân đã dùng chất liệu sơn gì trên các cột gỗ mà đến nay màu sắc vẫn còn là nguyên bản… Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Đình Quan Lạn thờ Thành Hoàng Làng, các vị tiên công có công lập ấp dựng làng, sau đó thờ Trần Khánh Dư, vị tướng đã có công lớn trong trận đành đoàn thuyền lương giặc Nguyên – Mông và rất gắn bó với vùng đảo này. Tượng Trần Khánh Dư là pho tương lớn nhất trong đinh cao 157cm, trong thế ngồi ngai, hai tay đặt trên đùi. Ngoài ra, đình còn thờ cả Dương Khổng Lộ và “tứ vị thánh nương” là những vị thần được truyền tụng thường che chở cho những người đi biển.

  • Chùa Quan Lạn:

Chùa nằm bên cạnh đình Quan Lạn (hay còn gọi Linh Quang Tự), theo hướng Đông Nam. Chùa có kiến trúc giản dị với 3 gian. Ngoài cùng là tam quan, sau đến bái đường và hậu cung.

Chùa Quan Lạn thờ Phật và công chúa Liễu Hạnh và cụ Hậu. Tương truyền cụ Hậu là một bà lão ở Quan Lạn không chồng con, sinh thời hiền lành, phúc đức, chăm chỉ làm ăn để dành một số tiền của., cụ Hậu đã dâng toàn bộ tài sản của mình cho nhà chùa. Dân làng đã tạc tượng cụ Hậu – là bức tượng dân gian khá đặc sắc còn lưu giữ và thờ trong chùa.

  • Nghè Quan Lạn:

Nghè nằm về phía đông bắc của đảo Quan Lạn trên trục đường chính Quan Lạn đi Minh Châu cách đình khoảng 1,2km. Nghè cũ sau khi bị hỏng đến năm 1986 được xây dựng lại khang trang, dân làng long trọng rước Bài vị, sắc phong đức thánh về an toạ tại nghè. Hàng năm đúng vào ngày 16/6 âm lịch, dân làng làm lễ rước bài vị, sắc phong của ngài từ nghè về đình tổ chức hội chèo bơi truyền thống và ngày 19/6 âm lịch làm lễ xa giá hoàn cung rước bài vị, sắc phong của ngài về nghè.

Nghè và đình Quan Lạn có mối quan hệ gắn bó, mật thiết trong đời sống tinh thần của cộng đồng dân cư địa phương. Đám rước từ nghè về đình và hội đua thuyền Quan Lạn là biểu hiện sinh động cho mối quan hệ nói trên.

1.2.2.1.4. Di tích Thương cảng Vân Đồn. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Vân Đồn là cảng ngoại thương đầu tiên ở nước ta.. Quy mô lớn của thương cảng Vân Đồn một thời sầm uất đã được các nhà khào cổ ghi nhận qua việc phát hiện nhiều bến bãi với đồ gốm và tiền đồng nhiều triều đại, trên suốt một dải đảo từ Cống Đông, Cống Hẹp, Cống Yên, Ngọc Vừng đến Minh Châu, Quan Lạn…..

Qua các dấu tích nền nhà cổ thường bắt gặp những hũ sành đựng tiền đồng cổ thuộc các thời đại phong kiến Trung Quốc từ nhà Đường tới nhà Thanh; tiền Việt Nam từ nhà Lý tới nhà Nguyễn. Tại khu cảng cổ còn có một khẩu giếng có tên gọi nôm na là giếng Hiệu, hay còn gọi là giếng Nàng tiên nằm sát bên bờ vụng, quanh năm đầy nước. Đó là một trong những yếu tố góp phần khẳng định thêm rằng Cái Làng là một bến thuyền buôn cổ của bến thuyền cổ của cảng Vân Đồn.

Nói đến quá trình hưng thịnh của Thương cảng Vân Đồn, sách Đại việt sử ký toàn thư đã viết: “Kỷ tị năm thứ 10 (đời vua Lý Anh Tông – Tống thiệu hưng đời thứ 19) mùa xuân, tháng hai, thuyền buôn ba nước Trà Oa, Lộ Hạc, Xiêm La vào Hải Đông xin ở lại buôn bán, bèn cho tập trung ở nơi đảo gọi là Vân Đồn để mua bán hàng quý dâng hiến sản vật địa phương”.

Năm Trịnh Phú thứ 9 đời nhà Lý Cao Tông, thương nhân các nước Xiêm La, Tam Phật Tề vào trấn Vân Đồn dâng vật quý xin buôn bán”.

Năm Thiệu phong thứ 8 đời Trần Dụ Tông (1348), mùa đông, tháng 10 thuyền buôn người nước Chà Bồ (Chà Và) đến Hải Trang Vân Đồn ngầm mua ngọc trai”.

Năm đại trị thứ ba đời Trần Dụ Tông (1360), mùa đông, tháng 10 thuyền buôn của các nước Lộ Hạc, Trà Oa, Xiêm La đến Vân Đồn buôn bán, tiến các vật lạ”.

Thời Lê Thánh Tông (1667) thuyền buôn của nước Xiêm La đến trang Vân Đồn dâng biểu bằng lá vàng và dâng sản vật địa phương”.

Đồng thời trong cuốn Nguyễn Trãi toàn tập có ghi “khách thương đến buôn bán, lớp này đến lớp khác đem đồ dâng cống”.

Những cứ liệu của sử sách và giới khảo cổ học cho thấy thương cảng Vân Đồn tồn tại hưng thịnh suốt 5 thế kỷ từ thời nhà Lý đến thời nhà Lê, là trung tâm giao thương cảng biển quốc tế ở khu vực đàng ngoài từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVII. Với những giá trị to lớn về lịch sử, thương cảng Vân Đồn đã được Bộ Văn hoá và Thông tin (nay là Bộ Văn hoá thể thao và Du lịch cấp bằng xếp hạng Di tích lịch sử tại Quyết định số: 59/2003/QĐ-BVHTT ngày 29/10/2003./.

1.2.2.1.5. Chùa Cái Bầu. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Du lịch kết hợp với việc tham quan các đình chùa, nơi sinh hoạt tâm linh là một xu hướng được nhiều người quan tâm. Một địa chỉ mới khá phổ biến trong sổ tay của du khách trong dịp đầu xuân năm 2010 là Chùa Cái Bầu ở thôn 1 xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, nằm sát bờ vịnh Bái Tử Long, cách trung tâm thị xã Cái Rồng khoảng 4km về hướng Đông Nam. Chùa Cái Bầu hiệu là Phúc Linh Tự, nằm bên cạnh đền Cái Bầu, đã được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa. Nằm ở một vị trí tuyệt đẹp ngay trên bờ biển, mặt hướng ra vịnh Bái Tử Long, lưng tự vào sườn núi. Phía Nam liền kề bãi cát dài là nơi du lịch sinh thái và bãi tắm Việt Mỹ – một điểm du lịch được đánh giá là giàu tiềm năng.

Được sự quan tâm giúp đỡ của chính quyền tỉnh và sở tại, tạo điều kiện thuận lợi cho thiền phái Trúc Lâm trùng tu kiến thiết lại ngôi chùa để hướng dẫn tâm linh và chánh pháp cho nhân dân vùng biển này, tuy được khánh thành chưa được bao lâu vào ngày 29/10 Kỷ Sửu (nhằm ngày 15/12/2009), ngôi chùa đã thu hút khách thập phương từ khắp mọi miền của tổ quốc.

Chùa được xây dựng trên nền chùa Phúc Linh Tự (có từ thời Trần cách đây trên 700 năm). Ngày 07/12/2007, chùa được khởi công xây dựng trên tổng diện tích 20 ha, với tổng mức đầu tư trên 24 tỷ đồng bằng nguồn vốn huy động xã hội hóa và khánh thành giai đoạn I vào cuối năm 2009. Chùa ở gần khu du lịch Bãi Dài nổi tiếng với vẻ đẹp hoang sơ bên bờ Vịnh Bái Tử Long. Với vị trí lưng tựa núi, mặt hướng ra biển, đây có lẽ là một trong những ngôi chùa có vị trí đẹp nhất trong hệ thống chùa của Việt Nam. Đây còn là Thiền viện Giác Tâm, một trong hai thiền viện phật giáo của Quảng Ninh.

Chùa Cái Bầu – Thiền viện Trúc Lâm Giác là công trình văn hóa tâm linh có kiến trúc và cảnh quan đẹp tọa lạc bên bờ Vịnh Bái Tử Long, nơi gắn liền với bao chiến công hiển hách của những anh hùng hào kiệt đã giữ vững cửa ải địa đầu của vùng Đông Bắc. Đây cũng là nơi còn ghi dấu những chiến công trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược của nhà Trần. Trải qua thời gian và những thăng trầm lịch sử, chùa đã bị hư hỏng nặng. Vào thập kỷ 90 của thế kỷ trước chùa đã được tôn tạo lại nhưng còn đơn sơ, thiếu quy hoạch. Từ năm 2007 chùa đã được quy hoạch đầu tư xây dựng lại khang trang, xứng với những giá trị lịch sử, văn hoá to lớn của nơi đây. Chùa Cái Bầu mang dấu ấn, dấu tích giống các ngôi chùa cổ về cả kiến trúc, trang trí, phù điêu, hoa văn trang trí, bậc thang… Hiện tại Chùa đã hoàn thành các hạng mục: thiền viện – Chánh điện cao 2 tầng rộng 6.000 m2, cổng tam quan, nhà tổ, lầu chuông, thất ở hòa thượng, nhà khách chư tăng- chư ni, bến bãi đỗ xe… Giai đoạn II chùa Cái Bầu sẽ được tiếp tục đầu tư gồm: Thất đường trụ trì, thất chuyên tu, thiền đường, nhà trưng bày trai đường và dựng 1 tượng Phật cao 50 m trên đỉnh núi sau Thiền Viện. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Trụ trì nhà chùa – Ni sư Hạnh Nhã cho biết: “Để giữ gìn sự tôn nghiêm nơi cửa Phật, công tác an ninh trật tự trong khu vực chùa được các tăng ni, phật tử triển khai thực hiện rất tốt. Trong khuôn viên nhà chùa không cho phép bán hàng, không có những hoạt động chèo kéo du khách. Du khách đến chùa muốn dùng cơm chay hay tá túc tại đây sẽ không phải trả tiền. Nhà chùa chỉ đặt hòm công đức để cho du khách tuỳ tâm công đức. Chính vì thế, khi đặt chân lên chốn cửa Phật này du khách sẽ cảm nhận được sự yên bình, thanh thản, một không khí trong lành và cảnh đẹp làm say đắm lòng người..” Và Chùa Cái Bầu đang dần trở thành một điểm du lịch tâm linh đối với du khách mỗi lần về với Quảng Ninh, về với vùng đất vàng đen của Tổ quốc.

1.2.2.2. Lễ hội truyền thống: Lễ hội Quan Lạn.

Từ xa xưa, người dân Vân Đồn đã có những sinh hoạt văn hóa đặc sắc và đậm nét văn hóa cổ truyền của người dân Bắc Bộ. Hoạt động tiêu biểu nhất chính là lễ hội Quan Lạn – được tổ chức từ ngày 10 tới 20 tháng 6 âm lịch hàng năm. Lễ hội mang sắc thái địa phương độc đáo, đã in đậm vào đời sống của một vùng biển đảo và gắn chặt với đời sống lao động sản xuất, với truyền thống giữ nước của nhân dân ta.

Lệ làng quy định: Ngày 10/6 là ngày khoá làng. Từ ngày này không ai được ra khỏi đảo, chỉ những người đi làm ăn xa và du khách được phép kéo về dự lễ. Ngày 16/6 người dân tổ chức lễ rước thần, kiệu rước từ đình sang nghè thờ Trần Khánh Dư. Tại nghè, lễ cúng được làm một tuần lễ, thời cổ cúng có xôi nếp, gà luộc cùng các loại cá đặc trưng của vùng hải đảo; sau đó hòm sắc phong được rước về đình đặt lên bàn thờ để tế chung một tuần lễ lớn. Lễ rước sắc phong này nhằm mời đức thánh Trần Khánh Dư về duyệt quân ngày hội. Ngày 17/6, binh khí và tế khí được rước sang miếu Đức Ông (miếu thờ Phạm Công Chính) và tế lễ suốt đêm. Sau lễ rước sắc phong, binh khí và tế khí, làng tổ chức phần hội mang đậm bản sắc của địa phương. Đầu tiên là nghi lễ diễu binh có hề trò đi trước mở đường, có cồng, thanh la và đội bát âm đi theo, có kiệu xí, kiệu thần, đi tới mỗi xóm lại có thêm nhiều người già trẻ nhập cuộc. Sau, đoàn diễu binh quay về miếu Đức Ông và bắt đầu hội đua thuyền, phần hội sôi động nhất và được chuẩn bị rất công phu. Cuộc đua diễn ra trên dòng sông mang lịch sử ( nay là một lạch biển) đoạn chảy qua xã. Trai tráng trong làng (nay là xã) được chia ngẫu nhiên và công bằng thành 2 đội: Đông Nam Văn tượng trưng cho nhóm quan văn và Đài Bắc Võ tượng trưng cho nhóm quan võ, và được tập luyện từ nhiều ngày trước. Cuộc đua diễn ra rất quyết liệt, nhưng phần thắng thường thuộc về Đài Bắc Võ. Mặc dù khí thế và tinh thần thi đấu rất cao và thượng võ, nhưng số trận thắng của Đông Nam Văn chỉ chiếm khoảng 2 /10 qua các năm. Dân làng có niềm tin rằng nếu đội Đài Bắc Võ Thắng thì năm đó làm ăn thuận lợi, mùa màng bội thu, biển nhiều tôm cá và ngược lại. Ngày 19/6, người dân nghỉ ngơi, ôn lại bài học về lịch sử quê hương. Ngày 20/6 diễn ra lễ rước sắc thần trả về nghè Trần Khánh Dư và lễ đóng cửa đình.

Điều đặc biệt của lễ hội này là thời điểm tổ chức lại diễn ra vào mùa hè trong khi các lễ hội khác thì thường diễn ra vào đầu xuân. Sở dĩ có điều này, theo các cao niên trong làng cho biết vì Lễ hội này vừa kỉ niệm chiến thắng giặc Nguyên Mông năm 1288, chiến thắng của Trần Khánh Dư, vừa là ngày hội cầu được mùa của cư dân vùng biển.

Lễ hội là dịp để người dân địa phương tưởng nhớ công ơn và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến các vị thần linh, các vị tướng có công chống giặc ngoại xâm. Cũng là dịp để cầu mạnh khỏe, bình an và một mùa màng bội thu. Lễ hội cũng giúp thắt chặt tình làng nghĩa xóm, mở rộng giao lưu giữa các vùng miền khác nhau, trao đổi kinh nghiệm làm ăn, củng cố tính cộng đồng và là cơ hội giới thiệu những nét đệp tự nhiên và nhân văn tới mọi miền tổ quốc.

Lễ hội Quan Lạn mang dấu ấn của một hội làng truyền thống nhưng rất hoành tráng thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc chống giặc ngoại xâm bảo vệ chủ quyền đất nước của những người dân vùng biển.

1.2.2.3. Văn hóa ẩm thực Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Đối với khách du lịch biển, ngoài việc tắm biển, thưởng ngoạn cảnh quan thiên nhiên, hít thở không khí trong lành thì việc thưởng thức các món ăn chế biến từ hải sản cũng là nhu cầu và mục tiêu của chuyến đi.

Vân Đồn có nhiều món ăn ngon nổi tiếng được chế biến từ các loài hải sản như:

Tu hài, Sá sùng, Ngán, Sò huyết, Điệp, Ốc hương, Hải sâm. Nhà hàng Tuyết Phấn thị trấn Cái Rồng luôn tấp lập thực khách quanh năm, bởi ở đây có nhiều món ăn đặc sản mang hương vị của biển như nộm sứa, súp Sá sùng, Sá sùng rang, Tu Hài nướng và rượu Ngán. Cảnh câu mực đêm thường mang lại cho du khách khoái cảm mỗi khi câu được con mực ống dài và trong suốt. Đáng nhớ và khó quên vẫn là cảnh ngồi trên thuyền mà nhâm nhi rượu Bào Ngư với món mực hấp lá gừng chấm với nước mắm Cái Rồng hay nước mắm “Cốt” Minh Châu thì không khoảnh khắc nào sánh được.

Nếu đã một lần đến Vân Đồn mà không được thưởng thức món Tu hài thì thật là một điều đáng tiếc. Nó không quen thuộc và có nhiều như ngao, tôm, sò… nhưng nếu ai đã một lần thưởng thức, chắc hẳn sẽ không thể quên được hương vị rất đặc trưng của loại hải sản này. Dưới đây là cách chế biến và thưởng thức đặc sản tu hài món ăn nổi tiếng của huyện đảo Vân Đồn.

Tu hài là loài hải sản quý hiếm, có giá trị dinh dưỡng cao, đã được nghiên cứu sản xuất giống và nuôi thương phẩm thành công từ năm 2005 ở khu vực bờ vịnh Bái Tử Long, huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Sản phẩm tu hài nuôi hiện đã có mặt ở các nhà hàng hải sản tươi sống tại Quảng Ninh và một số thành phố lớn.

Xin được giới thiệu cách chế biến và thưởng thức món tu hài:

  • Chọn những con tu hài có kích thước tương đối đều. Thông thường người ta ngâm tu hài từ 2 đến 3 phút trong chậu nước nóng khoảng 80- 90 độ C. Sau đó rửa sạch vỏ bên ngoài. Làm nên hương vị riêng biệt của tu hài hấp phụ thuộc rất nhiều vào gia vị được bỏ vào từng con tu hài.
  • Tỏi và hành khô được băm nhỏ ra sau đó cho dầu lên chiên, hành hoa thái nhỏ trộn đều, sau đó cho nước mắm, mì chính, hạt tiêu vào tu hài và cho lên hấp.
  • Sau khi hấp khoảng 12 đến 15 phút vớt tu hài ra đĩa. Mùi thơm của tu hài hấp quyện với mùi gia vị thật quyến rũ. Hãy trang trí khéo léo để có món tu hài khai vị bắt mắt và hấp dẫn hơn.

Món tu hài hấp khai vị ăn vừa mát vừa thanh, vừa có có dư vị ngọt rất riêng. Thịt tu hài hấp dòn, quyện với mùi gia vị thơm nức. Có thể nói khó có một món khai vị nào ngon, bổ dưỡng và an toàn vệ sinh như món tu hài hấp. Đó cũng là lý do để nhiều nhà hàng ở huyện Vân Đồn chọn món Tu hài hấp khai vị là món không thể thiếu trong thực đơn nhà hàng của mình và giờ đây, tu hài đã trở thành món được nhiều người biết đến trong cả nước.

2. Thực trạng của hoạt động kinh doanh du lịch. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

2.1 Đánh giá kết quả hoạt động du lịch.

Năm 2009 ngành Du lịch huyện Vân Đòn nhìn chung đã đạt được một số kết quả nhất định: số lượng khách qua các năm tăng, chất lượng dịch vụ du lịch có chuyển biến rõ rệt; Các dịch vụ ăn uống, phương tiện vận chuyển ngày càng được nâng cao, đáp ứng tương đối nhu cầu của khách. Số lượng khách đến Vân Đồn theo những tour, tuyến ngày càng tăng, có thời gian lưu trú và khả năng thanh toán cao hơn so với năm trước.

Năm 2009 đã khai thác các sản phẩm du lịch: du lịch văn hóa, du lịch tâm linh, du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giả trí, mua sắm, tham quan cảnh quan, hang động nghiên cứu các giá trị hệ sinh thái biển rừng kết hợp với vui chơi giải trí, thể thao, tắm biển, lễ hội, di tích lịch sử .

Tổng số khách năm 2009 ước đạt là 350.000 lượt, đạt 100% kế hoạch, trong đó khách quốc tế là 3487 lượt, đạt 99% KH, so với cùng kì năm 2008 tổng số lượt khách tăng 22% và khách quốc tế 26%. Mặc dù với nhiều biến động của nền kinh tế suy thoái nhưng nhìn chung du khách đến Vân Đồn trong những tháng gần đây không ảnh hưởng nhiều, còn có chiều hướng tăng lên, đặc biệt là khách nội địa. Năm nay khách đa số tập trung đi theo đoàn, khả năng chi tiêu và thời gian lưu trú của khách tăng lên. Thời gian lưu trú của khách trung bình là 1,5 ngày.

Bảng 4: Số liệu thống kê Du lịch huyện Vân Đồn Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Qua những con số trên ta có thể nhận thấy rõ: lượng khách đến không phải là nhỏ nhưng doanh thu đem lại không nhiều. Sở dĩ có điều này một phần cũng là do lượng khách quốc tế trong cơ cấu khách còn quá thấp chỉ chiếm khoảng 1%, mà hầu hết lại là khách Trung Quốc, khách đến từ Châu Âu hầu như là không có. Điều này đặt ra câu hỏi cho các nhà quản lí trong công tác quảng bá, xúc tiến quảng cáo đồng thời đầu tư nâng cấp các khu du lịch để tăng tính hấp dẫn, và cũng là bài toán cho các nhà kinh doanh dịch vụ du lịch làm sao có phương pháp hiệu quả để tăng doanh thu, để Du lịch Vân Đồn phát triển xứng tầm với tiềm năng.

2.2 Đánh giá về khai thác các tài nguyên du lịch.

Nhìn chung, việc khai thác tiềm năng du lịch của Huyện chưa thực sự triệt để và còn rất nhiều hạn chế. Cụ thể như sau:

2.2.1 Tài nguyên tự nhiên.

Bãi biển ở Vân Đồn là nơi có phong cảnh hữu tình, khí hậu lại trong lành, mặt biển tương đối êm ả, lại kết hợp với loại địa hình núi thích hợp cho rất nhiều loại hình du lịch như nghỉ dưỡng, du lịch thể thao dưới nước….Tuy nhiên, hiện nay khách đến đây chủ yếu để tắm biển chứ chưa khai thác được các nhu cầu tiêu dùng khác. Có quá ít các quán hàng giải khát, ô che nắng và bàn ghế cho khách nghỉ ngơi, tắm biển. Thêm vào đó là việc thu phí một cách tràn lan, gây tâm lí phản cảm cho du khách. Cũng chưa xuất hiện những cửa hàng bán đồ lưu niệm để kích thích nhu cầu mua bán của khách. Các phương tiện phục vụ cho các trò chơi thể thao dưới nước thì đơn điệu, chưa thỏa mãn được nhu cầu vui chơi giải trí của đại đa số khách có độ tuổi là thanh thiếu niên. Nếu ta phát triển các dịch vụ nhưng theo đúng quy hoạch và đúng quy cách sẽ vừa không ảnh hưởng đến môi trường và cảnh quan, vừa có thể tăng tính hấp dẫn, kéo dài thời gian lưu trú, kích thích nhu cầu tiêu dùng cùa du khách để từ đó tăng hiệu quả kinh doanh. Buổi tối trên bờ biển có rất ít hệ thống đèn điện mà nếu có thì cũng hoạt động thất thường, khách muốn đi dạo chơi tối cũng ngại. Đây là một hạn chế rất lớn trong công tác quản lí.

Ở gần khu vực các bãi biển có các làng chài lưới. Mỗi khi bè cá về, khách có thể trực tiếp mua của người dân, điều này sẽ trở thành một nét mới thú vị và cũng là cơ hội để tăng thu nhập cho người dân vì bao giờ giá bán lẻ cũng được giá hơn giá bán buôn. Cũng nên mở dịch vụ hệ thống các nhà bè xung quanh bãi biển, khách có thể vừa chế biến và thưởng thức những sản phẩm tươi xanh vừa mua, vừa có thể hít thở không gian rất đặc trưng của biển. Điều này thực sự là một trải nghiệm thú vị.

Vì đây là du lịch biển, nên cũng không thể tránh khỏi tính mùa vụ mà thậm chí du lịch ở đây còn mang tính thời vụ lớn. Khách du lịch chỉ đến đây tập trung vào mùa hè từ cuối tháng 4 – giữa tháng 8, các tháng còn lại hầu như vắng khách. Điều này là một khó khăn lớn gây cản trở cho việc phát triển du lịch nhưng cũng là một bài toán hóc bùa mà bất cứ nhà quản lí nào cũng phải đau đầu.

Tại các bờ biển, cũng đã có các ban quản lí du lịch, tuy hoạt động chưa thật sự sát sao nhưng cũng không thể phủ nhận hiệu quả của nó.

2.2.2 Tài nguyên nhân văn. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Nhìn tổng thể, kiển trúc của các di tích lịch sử còn quá sơ sài, tiêu biểu là Đền thờ Vua Lý Anh Tông, nằm ở ngay cầu cảng, một vị trí khá thuận lợi nhưng lượng khách đến đây tương đối ít. Sở dĩ có điều này là vì cảnh quan nơi đây còn quá hoang sơ, tạo cảm giác tiêu điều, thiếu tính hấp dẫn. Chỗ để xe thì vô cùng hạn chế. Đối tượng khách đến Đền chủ yếu là người dân địa phương đi lễ vào các ngày rằm mùng một. Vấn đề đặt ra là cần có một dự án cho việc trùng tu các di tích. Việc này cần được tiến hành một cách khẩn trương và nghiêm túc. Chùa Cái bầu sau dự án đầu tư và khánh thành vào cuối năm 2009 thì đầu năm 2010 lượng khách đã tăng lên một cách đáng kể. Điều này cho thấy tính khẩn thiết và tác dụng to lớn của việc trùng tu.

Di tích lịch sử là một tài nguyên có thể khai thác mà không bị ảnh hưởng nhiều của tính mùa vụ, tuy nhiên, ở Vân Đồn loại tài nguyên này vẫn chưa trở thành điểm khai thác chính, mà chỉ kết hợp với du lịch biển hoặc là điểm thêm của các tour tuyến vùng lân cận. Thêm vào nữa là việc hạn chế đối tượng tham gia của các lễ hội, chủ yếu là dân địa phương và các vùng lân cận. Cũng có thể là công tác quảng bá chưa thực sự hiệu quả hoặc công tác tổ chức chưa tốt. Điểm mạnh của loại hình này là việc bảo tồn và trông coi tương đối tốt. Nhờ vào ý thức trách nhiệm của người dân mà di tích lúc nào cũng giữ được vẻ trang nghiêm và cổ kính.

Về nét văn hóa ẩm thực, bên cạnh những ưu điểm đạt được như thực phẩm tươi sống được chế biến ngon, mà giá cả lại phải chăng cùng thái độ phục vụ niểm nở cùng không gian ăn thoáng đãng, đậm chất biển như thưởng thức trên ghe, trên bè giữa mênh mông biển trời thì cũng có một bộ phận nhỏ không biết có phải vì do chạy theo lợi nhuận mà chất lượng sản phẩm ngày càng đi xuống lại chặt chém với giá cắt cổ khiến du khách tâm lí khó chịu và không muốn quay lại thêm lần nào nữa.

2.3 Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch.

2.3.1 Cơ sở hạ tầng.

Đường giao thông. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Vân Đồn cách Hà Nội 200km, khách du lịch có thể đến với Vân Đồn theo 2 con đường: đường bộ và đường thủy. Đường bộ thì đi theo quốc lộ 18 đến Cửa Ông thì rẽ phải đi qua cầu Vân Đồn dài cụm cầu vượt biển dài 7km đã chính thức nối thông huyện đảo Vân Đồn với đất liền. Đây là một dự án trọng điểm của tỉnh Quảng Ninh nhằm hoàn thiện mạng lưới giao thông đường bộ với một huyện đảo đầy tiềm năng về kinh tế, du lịch, quốc phòng và đã mới được khánh thành vào ngày 1-1-2005. Đường thủy thì men theo biển Hải Phòng ra đến Vịnh Bái Tử Long.

Đường giao thông là một yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm du lịch của khách. Nắm được điều này các cơ quan ban ngành đã có những kế hoách đầu tư hợp lí:

  • Đường giao thông trong nội bộ huyện bao gồm:
  • Đường tỉnh lộ 334 đoạn Tài Xá – Vạn Hoa dài 41,7 km;
  • Đoạn Cái Rồng – Đài Xuyên 17 km;
  • Đường trên đảo Quan Lạn – Minh Châu dài 12 km;
  • Đường trên đảo Trà Bản (bao gồm: Minh Châu, Bản Sen, Quan Lạn) dài 12,8km;
  • Đường trên đảo Ngọc Vừng dài 8,5 km;
  • Đường trên đảo Thắng Lợi dài 4km.
  • Năm 2007 Tuyến xe buýt Bãi Cháy – Vân đồn đã được đưa vào hoạt động tạo điều kiện cho du khách đến tham quan Bái Tử Long sau khi tham quan vịnh Hạ Long và ngược lại.
  • Hệ thống giao thông đường thuỷ phục vụ công tác vận tải thuỷ, nhu cầu dân sinh, khách du lịch tuyến giao thông thuỷ nối liền 05 xã đảo với thị trấn Cái Rồng: Quan Lạn; Minh Châu; Ngọc Vừng; Thắng Lợi; Bản Sen.
  • Năm 2009 tuyến tầu cao tốc Cái Rồng đi Quan Lạn của Công ty cổ phần du lịch quốc tế Phúc Thịnh đã đi vào hoạt động với lịch trình 4 chuyến cả đi lẫn về, thời gian chạy tàu là 45phút/1chuyến. so với tàu khách thông thường giảm được 2/3 thời gian chạy tàu.
  • Cảng Cái Rồng có thể cho xà lan, tàu thuyền tải trọng hàng trăm tấn ra vào dễ dàng, đồng thời là đầu mối giao thông qua lại giữa các đảo.
  • Cảng Vạn Hoa đây là cảng quân sự tới đây sẽ được đầu tư xây dựng nâng cấp phục vụ cho hoạt động an ninh quốc phòng và bảo vệ bờ biển khu vực Vân Đồn và vùng biển tỉnh Quảng Ninh.

Hạn chế của giao thông là có một số đoạn đường còn chưa được nâng cấp, đường hẹp, gồ ghề lại rất bụi tiêu biểu là đoạn đường từ khu Đoàn Kết vào Chùa Cái Bầu, và đường vào khu sinh thái Bái Tử Long. Đây cũng là lý do chủ yếu làm giảm đi tinh hấp dẫn và chưa thực sự trở thành lựa chọn yêu thích của khách.

  • Cơ sở y tế. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

Sự nghiệp y tế huyện Vân Đồn ngày càng phát triển, công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân và du khách.

Với hệ thống cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại gồm 1 Bệnh viện Đa khoa với quy mô hơn 100 giường, 6 khoa. Những cơ sở khác bao gồm trung tâm y tế dự phòng và 1 bệnh viện (phân viện Quan Lạn) 15 giường tại xã Quan Lạn.

Bên cạnh đó, có một số hệ thống trạm y tế ở khắp các xã với tổng số là 12 trạm (3 giường/1 trạm), 8 trong tổng số các trạm y tế có bác sỹ, tổng số 15 bác sỹ trong toàn bộ huyện với tỷ lệ 1 bác sỹ trên 2.000 dân. Tất cả các trạm y tế xã đều có y sĩ sản nhi.

  • Hệ thống thông tin liên lạc.

Mạng lưới chuyển phát thư tín và bưu cục trên địa bàn huyện được thiết lập tới các xã trên toàn huyện. Các dịch vụ báo chí, điện thoại, internet phát triển mạnh.

Đến đầu năm 2009, tổng số trạm BTS hoạt động trên địa bàn huyện là 51 trạm, trong đó Vinaphone 13 trạm; Viettel 22 trạm; EVN Telecom 2 trạm; Mobiphone 14 trạm (Mobiphone sử dụng chung cơ sở hạ tầng 07 trạm BTS với các doanh nghiệp khác). việc phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông đã góp phần phục vụ tốt nhu cầu liên lạc trên toàn huyện đặc biệt các xã đảo và các xã vùng sâu của huyện.

Đến nay 12/12 xã, thị trấn đã được phủ sóng điện thoại không dây đảm bảo thông tin liên lạc.

Tổng số thuê bao trên toàn huyện tính đến hết năm 2008 đạt khoảng 16.915 thuê bao, đưa mật độ điện thoại cố định, cố định không dây và điện thoại di động trả sau đạt 26,9 thuê bao/100 người.

Hệ thống Internet tính đến năm 2008 phát triển 834 thuê bao (trong đó 24 thuê bao là đại lý hoạt động dịch vụ Internet)./.

Điều này làm tăng tính công nghệ cho ngành du lịch, xúc tiến quảng bá và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cấp cơ sở hạ tầng thêm tính hiện đại, tăng tính tiện nghi, tạo tâm lí thoải mái cho du khách khi đi nghỉ.

2.3.2 Cơ sở dịch vụ du lịch. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

  • Cơ sở lưu trú.

Theo số liệu thống kê năm 2009, cả huyện đã có 53 cơ sở lưu trú với 713 phòng nghỉ tăng 11% so với năm 2008( 50 CSLT và 641 phòng nghỉ), công suất sử dụng phòng đạt 47%, số lượng và chất lượng phòng nghỉ trong địa bàn đã có chuyển biển rõ rệt, quan tâm và chuyên môn hóa hơn, điển hình là các đơn vị kinh doanh có quy mô lớn: 3 khách sạn 2 sao là khách sạn Đảo Cống Tây, Khách sạn xí nghiệp Hải Minh, Khách sạn Việt Linh, Khu biệt thự Việt Mĩ và đặc biệt hơn cả là khu resort Minh Châu – khách sạn 3 sao đầu tiên của Vân Đồn với đủ các loại phòng đầy đủ tiện nghi làm hài lòng những khách khó tính nhất.

Tuy nhiên, tại các đơn vị kinh doanh với quy mô nhỏ chất lượng dịch vụ còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách, các trang thiết bị trong phòng đầu tư không đầy đủ đặc biệt ở các xã Quan Lạn, Ngọc Vừng, Minh Châu hệ thống cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế., chưa có điện lưới quốc gia và nước ngọt chưa đủ dùng. Thêm vào đó là tình trạng phá giá nhà nghỉ vào những ngày mùa vụ đông khách điển hình như ở Quan Lạn có tình trạng khách nghỉ 100.000vnd/1đêm/ 1 người. Hạn chế hơn cả là tình hình an ninh ở đây còn kém, đã có nhiều trường hợp khách bị mất điện thoại hay tiền trong khi nghỉ đêm. Hiện tượng này gây tâm lí lo âu cho khách.

  • Cơ sở ăn uống.

Đây là loại hình kinh doanh mang lại doanh thu lớn và giới thiệu nét đặc trưng của văn hóa ẩm thực của huyện nhà. Nhưng thực tế cho thấy hầu hết các đơn vị kinh doanh dịch vụ ăn uống còn thiếu tính chuyên nghiệp, chưa tạo được hình ảnh riêng cho đơn vị mình: nhân viên không có đồng phục riêng, tính chuyên nghiệp của người lao động chưa cao, việc xử lí chất thải ở các nhà bè còn quá nhiều hạn chế gây tác động xấu đến môi trường du lịch.

  • Hoạt động kinh doanh phương tiện vận chuyển khách.

Vân Đồn có trên 30 phương tiện vận tải hành khách đường bộ phục vụ khách đi nội tỉnh và liên tỉnh, 4 hãng taxi và hệ thống tàu cao tốc, tàu gỗ phục vụ khách du lịch thăm quan, nghỉ dưỡng đi về trong ngày trên các đảo. Đây là một trong những dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân địa phương. Hệ thống vận chuyển khách đi trên các tuyến đảo đã được đầu tư nâng cấp tăng cả về số lượng lẫn chất lượng, tuy nhiên một số đơn vị vẫn chưa làm tốt công tác giữ vệ sinh trên biển, còn xả rác trực tiếp xuống biển, hệ thống xe lam thì không ổn định trật tự, hiện tượng tranh giành khách, gây mất mĩ quan. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

2.4 Đánh giá về môi trường.

Cảnh sắc thiên nhiên của Vân Đồn rất hùng vĩ. Môi trường du lịch tại đây vì cách xa các trung tâm đô thị nên còn khá trong lành. Biển, núi và rừng ở Vân Đồn cứ như hòa quyện với nhau, tạo nên bức tranh sinh thái sống động. Vân Đồn có một quần thể biển đảo với vẻ đẹp kỳ thú mang với những giá trị địa chất, địa mạo, tính đa dạng sinh học cao. Chính vì vậy mà Vân Đồn đang là điểm đến của các du khách ưa thích với nhiều loại hình: mạo hiểm, sinh thái, văn hóa. Mặt hạn chế là ở đây vẫn yếu về khâu xử lí rác thải, nước thải, hay các chỉ dẫn, khẩu hiệu bảo vệ môi trường để nhắc nhở khách du lịch có ý thức cao trong việc vứt rác thải bảo vệ môi trường.

Đã có bộ phận chuyên nghiệp thu gom rác thải ở các bãi biển làm trong lành nguồn nước và làm đẹp cảnh quan.

2.5 Đánh giá về lao động trong ngành.

Theo số liệu thống kê của ban văn hóa và thông tin, hiện trên toàn địa bàn có 1.200 lao động(2009), tăng 20% so với năm 2008(1000). Lượng tăng này không đáng kể. Mặt khác hầu hết chưa có nghiệp vụ, số lượng qua đào tạo lại thấp, trình độ ngoại ngữ kém và khả năng sử dụng cũng như hiểu biết về máy tính, thương mại, điện tử, internet còn yếu. Điều này cũng xuất phát từ thực tế đây là vùng kinh tế sinh sau đẻ muộn, trước sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, trình độ dân trí thấp, tỉ lệ học sinh đỗ vào đại học tương đối ít.

Thêm nữa là tình trạng không có đội ngũ hướng dẫn viên tuyến, thuyết minh viên tại điểm du lịch mà nếu có thì cũng hời hợt, thiếu trách nhiệm và chưa thực sự lành nghề. Có thể cả về chất lượng và số lượng đều chưa xứng tầm với tiềm năng.

2.6 Đánh giá về tổ chức kinh doanh du lịch.

Tổ chức kinh doanh du lịch chính là phương tiện, là cầu nối trực tiếp giữa các điểm du lịch và khách du lịch. Là nơi tổ chức và xây dựng và thực hiện các chuyến đi du lịch, là tổ chức quyết định đến sự phát triển của du lịch. Ở bất kì điểm du lịch nào cũng đều có các doanh nghiệp lữ hành hoạt động. Quảng Ninh là một nơi hội tụ đầy đủ các tiềm lực để phát triển các tổ chức kinh doanh du lịch như có nguồn tài nguyên du lịch dồi dào cả về tự nhiên lẫn nhân văn mà tiêu biểu là di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long. Lại là một trong 3 điểm đầu của khu tam giác kinh tế khu vực miền bắc. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các doanh nghiệp lữ hành có phát triển mạnh nhưng lại không đều. Hầu hết chỉ phân bố ở hai thành phố lớn: Hạ Long và Móng Cái. Các khu khác, mặc dù có tiềm năng nhưng không hề có bất cứ một doanh nghiệp nào trong đó có Vân Đồn.

Tại đây, việc tổ chức kinh doanh còn chưa chủ động, chưa có chính sách và hình thức thu hút khách du lịch, kích cầu mà mới dừng lại ở việc đón khách du lịch một cách thụ động. Sự liên doanh giữa các đơn vị kinh doanh còn hạn chế.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Trên đây là một số những tiềm năng và một số đánh giá về thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch của huyện đảo Vân Đồn. Đây là một mảnh đất có sự ưu ái của thiên nhiên,có di tích lịch sử, văn hóa lâu đời, có tiềm năng phát triển du lịch dồi dào. Tuy nhiên do những tác động chủ quan và khách quan mà du lịch nơi đâu còn khá nhiều hạn chế, chưa thực sự phát triển xứng tầm với tiềm năng. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch huyện Vân Đồn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537