Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tiềm năng và một số giải pháp phát triển du lịch Huyện Vân Đồn – Quảng Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Quảng Ninh quê em nơi Thành phố mỏ đẹp giàu, tiếng còi tàu nao nức vào ca. Yêu Quảng Ninh, yêu Hạ Long xanh thắm, Núi Bài Thơ sừng sững đứng ngàn đời”. Từ khi còn là một đứa trẻ bi bô tập nói, em đã được cô giáo dạy cho những lời ca đầy niềm tự hào ấy. Đất nước ưu ái đặt quê em cái tên “ Vàng đen”, em thân thương gọi hai tiếng “ Quê hương”.
Nhắc đến Quảng Ninh, hầu hết du khách đều nghĩ ngay đến Vịnh Hạ Long xinh đẹp với danh hiệu “ Di sản thiên nhiên thế giới” mà ít ai biết đến cách đấy khoảng 50km về phía bắc cũng có một nơi đẹp như thế mang tên Vân Đồn.
Đến với Vân Đồn, du khách không những sẽ được thả hồn vào khung cảnh thơ mộng của biển, mà còn cảm nhận được vẻ đẹp hoang sơ của núi rừng với màu xanh hiền hòa trải khắp trên khoảng 600 hòn đảo trong vịnh Bái Tử Long. Du ngoạn trên thuyền giữa biển nước trong xanh với những hòn đảo, dãy núi liên hoàn cùng màu xanh của cây lá là điều thú vị không hề dễ có. Nếu Vân Đồn cuốn hút bởi cảnh quan thơ mộng do thiên nhiên ưu đãi thì lại cực kì bí ẩn bởi các di tích lịch sử cùng các truyền thuyết hào hùng của dân tộc. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
Chính vì vậy, Vân Đồn rất thích hợp cho các loại hình du lịch nghỉ ngơi, tắm biển, thể thao dưới nước kết hợp với tham quan di tích, lễ hội. Tuy nhiên thực tế hiện nay, do chưa khai thác hợp lí và đầu tư đúng mức nên du lịch chưa phát triển xứng tầm với tiềm năng.
Là một sinh viên theo học ngành văn hoá du lịch lại sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thân yêu này, hơn ai hết em luôn có một mong muốn đóng góp một phần sức lực nhỏ bé của mình vào việc xây dựng quê hương đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch.
Nhân dịp làm khoá luận tốt nghiệp và bằng những kiến thức được trang bị trên ghế nhà trường trong suốt 4 năm qua, em mạnh dạn đưa ra đề tài “ Tiềm năng và một số giải pháp phát triển du lịch huyện Vân Đồn” với mong muốn làm thay đổi diện mạo nơi đây.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu tiềm năng tại Vân Đồn nhằm tìm ra những giải pháp có hiệu quả nhằm thúc đẩy du lịch phát triển xứng với tiềm năng. Từ đó hoà chung với sự phát triển của đất nước.
3/ Đối tượng.
Nghiên cứu các tiềm năng của Vân Đồn để phục vụ cho phát triển du lịch
4/ Nhiệm vụ.
- Tìm hiểu về cơ sở lí luận về du lịch và tài nguyên du lịch
- Tìm hiểu tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch Vân Đồn
- Đề ra một số giải pháp để khai thác có hiệu quả tiềm năng của Vân Đồn phục vụ cho phát triển du lịch.
5/ Phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
Các bờ biển, hang động, vườn quốc gia, khu sinh thái, các di tích văn hoá cũng như các cơ sở hạ tầng và dịch vụ đã được khai thác để phục vụ du lịch.
6/ Phương pháp nghiên cứu.
Em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích.
- Phương pháp quan sát, khảo sát thực địa
- Phương pháp phỏng vấn, thăm dò ý kiển băng phiếu
- Phương pháp thống kê.
7/ Cấu trúc của khoá luận
PHẦN MỜ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch và tài nguyên du lịch
- Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch Vân Đồn
- Chương 3: Một số giải pháp phát triển hiệu quả và bền vững du lịch Vân Đồn
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
1. Khái niệm về Du lịch. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
Ngày nay, cùng với tốc độ phát triển nhanh của hoạt động du lịch trong đời sống xã hội của các quốc gia, kinh doanh lữ hành thực sự đã có những bước tiến lớn và thu được những thành công đáng kể. Nó không chỉ giới hạn ở phạm vi từng quốc gia mà được mở rộng ra các châu lục. Ngành du lịch ngày càng khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế thế giới. Chính vì thế, Du lịch trước hết phải được hiểu là một ngành kinh tế, Du lịch ra đời khi nhu cầu của con người xuất hiện.
Có vô vàn những khái niệm về du lịch, ngay cả ở Việt Nam nhận thức về nội dung du lịch cũng chưa thực sự thống nhất. Tuỳ vào mỗi hoàn cảnh, thời điểm, khu vực và góc độ nghiên cứu mà mỗi người có cái nhìn khác nhau về Du lịch.
Tuy nhiên, dù nhìn ở bất kì khía cạnh nào thì du lịch hàm chứa các yếu tố cơ bản sau:
Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội.
Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của họ.
Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ.
Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hoà bình.
Theo Luật Du Lịch Việt Nam: “ Du lịch là các hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”
2. Vai trò của du lịch.
2.1 Đối với kinh tế Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
Trong khái niệm về du lịch ở trên, ta luôn đề cập, Du lịch là một ngành kinh tế, cho nên chúng ta không thể phủ nhận vai trò cực kì quan trọng của nó trong nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Trước hết, Du lịch có vai trò phục hồi nền kinh tế.
Nói về vai trò này của Du lịch, ngày 3 và 5 tháng 11 năm 1994 tại Hội nghị Bộ trưởng du lịch thế giới ở Osaka( Nhật Bản), tại điểm 2 khoản 1 tuyên bố này khẳng định “ Du lịch là nguồn lớn nhất tạo ra GDP và việc làm của thế giới, chiếm 1/10 mỗi loại, đồng thời đầu tư cho du lịch và các khoản thuế từ du lịch tương ứng cũng tăng cao. Những sự gia tăng này cùng với các chỉ tiêu khác của du lịch sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách vững chắc và là đầu tầu kéo nền kinh tế thế giới ở thế kỉ 21”.
Du lịch làm tăng thu nhập kinh tế quốc dân của một vùng lãnh thổ, quốc gia. Kinh tế du lịch gây biến đổi lớn trong cơ cấu của cán cân thu chi của đất nước, của vùng du lịch. Đối với du lịch quốc tế, việc khách mang ngoại tệ đến đổi và tiêu thụ khu du lịch làm tăng tổ số ngoại tệ trong cán cân thu chi của đất nước. Đối với du lịch nội địa thì việc tiêu tiền của dân vùng du lịch cũng gây biến động trong cán cân thu chi của vùng.
Với đặc tính là một ngành kinh tế phụ thuộc rất lớn vào các ngành kinh tế khác như giao thông vận tải, kinh doanh khách sạn, nhà hàng, công nghiệp chế biến thực phẩm, thông tin liên lạc…, Du lịch phát triển có vai trò như một chiếc đòn bẩy thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Trong quá trình hoạt động, du lịch đòi hỏi lượng lớn vật tư và hàng hoá đa dạng. Ngoài ra việc khách mang tiền từ nơi khác đến tiêu dùng ở điểm du lịch góp phần làm sống động nền kinh tế ở vùng du lịch và đất nước du lịch. Du lịch góp phần huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân vào vòng chu chuyển vì chi phí cho cuộc hành trình chính là từ tiền tiết kiệm của nhân dân. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
Hơn nữa, sự phát triển của du lịch còn có tác dụng đánh thức các ngành nghề thủ công cổ truyền, ko những làm tăng thu nhập cho người dân địa phương mà còn góp phần vào công cuộc khôi phục và bảo tồn các làng nghề truyền thống.Mặt khác, xét về khía cạnh ngoại thương, du lịch quốc tế được coi là hoạt động xuất khẩu tại chỗ với nhiều ưu thế nổi trội hơn. Chính vì vậy hiện nay nước ta coi Du lịch như một “nền kinh tế mũi nhọn”.
Ngoài ra, Du lịch phát triển sẽ giải quyết việc làm cho 1 lượng lao động không nhỏ cho đất nước, đặc biệt là tại những điểm du lịch. Hiện tại toàn bộ lao động du lịch có khoảng 1.224.096 người, trong đó lao động trực tiếp hơn 234.000 người (chiếm 19%). Theo xu hướng du lịch hiện nay, con người thường có nhu cầu đến những vùng xa xôi, hẻo lánh, vùng ven biển có tài nguyên du lịch phong phú. Điều này đòi hỏi đất nước phải có những chính sách đầu tư hợp lí về mọi mặt: giao thông vận tải, kinh tế, văn hoá… Do đó sẽ kéo theo sự thay đổi diện mạo của địa phương.
Nhìn chung qua những phân tích trên ta có thể nói, Du lịch ngày càng có những đóng góp to lớn vào nền kinh tế của mỗi quốc gia và trở thành nhu cầu không thể thiếu của người dân trong môi trường làm việc căng thẳng hiện nay. Tuy nhiên, ta cũng không thể phủ nhận những mặt tiêu cực mà Du lịch mang lại trên khía cạnh kinh tế. Tại những điểm Du lịch khi vào mùa, lượng khách tăng mạnh kéo theo mức độ tiêu dùng cao, giá cả theo đó mà cũng tăng vùn vụt gây ra tình trạng làm phát cục bộ gây khó khăn cho việc chi tiêu của người dân tại địa phương đó mà không kinh doanh dịch vụ du lịch. Đây là một câu hỏi lớn đặt ra cho các nhà chức trách.
2.2 Đối với xã hội.
Du lịch có vai trò hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động. Theo các công trình nghiên cứu sinh học khẳng định rằng, nhờ chế độ nghỉ ngơi và du lịch tối ưu, bệnh tật của cư dân giảm trung bình 30%, bệnh đường hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh tiêu hoá giảm 20% (Crirosep, Dorin, 1981). Ngoài ra, Nước suối khoáng nóng ở một số điểm du lịch là một dung dịch hỗn hợp chứa nhiều chất ion hóa mạnh, các chất men và hầu hết các nguyên tố hóa học cấu thành vỏ trái đất. Việc dùng nước suối khoáng từ lòng đất phun lên để tắm và uống có thể chữa một số bệnh và tăng cường sức khỏe! Tác dụng điều trị của suối khoáng được tạo nên bởi nhiệt độ của nước, các ion, tính phóng xạ, các muối hòa tan, các kim loại và á kim, các nguyên tố vi lượng, các khí hiếm… Các loại nấm, rong li ti trong bùn suối khi đắp lên người cũng có công dụng điều trị. Tắm suối khoáng và ngâm bùn khoáng có tác dụng làm mịn da và giảm các bệnh về tim mạch, hệ thần kinh, bệnh ngoài da, phong thấp, đổ mồ hôi tay, chân. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
Đi du lịch thường xuyên ngoài việc tạo ra 1 khoảng thời gian nghỉ ngơi thư giãn, hoạt động này còn giúp du khách mở mang tầm hiểu biết, nâng cao tri thức. Sau mỗi chuyến đi, ở một mức độ nào đó cũng cung cấp 1 lượng kiến thức nhất định cũng như khả năng giao tiếp và ứng xử qua quá trình giao lưu trong khi thực hiện tour du lịch. Mặt khác, khi Du lịch phát triển, đặc biệt là du lịch quốc tế ngày tăng, đòi hỏi những người dân địa phương ở các điểm du lịch phải có một vốn ngoại ngữ đủ dùng để phục vụ cho việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Từ đó mà nâng cao trình độ ngoại ngữ cho người dân.
Thông qua hoạt động du lịch, đông đảo nhân dân có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu văn hoá lâu đời của dân tộc, từ đó tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành những phẩm chất tốt đẹp như yêu lao động, tình bạn..Điều đó quyết định đến việc hình thành nhân cách sau này.
Du lịch còn góp phần mở rộng quan hệ giao lưu giữa trong nước và quốc tế. giữa các vùng miền khác nhau. Là cơ hội để quảng bá đất nước với thế giới, giúp các nước bạn hiểu hơn về phong tục tập quán của nước mình và ngược lại. Từ đó tăng tình đoàn kết quốc tế và tinh thần dân tộc. Đôi khi du lịch còn là sợi dây kết nối hoà bình.
Bên cạnh những tích cực mà Du lịch mang lại còn có mặt tiêu cực như việc tập trung khách quá đông vào mùa du lịch gây cản trở cho việc quản lí của các cơ quan chức năng. Theo đó mà các tệ nạn xã hội tăng cao như các trò mê tín dị đoan, cờ bạc trá hình, nghiện út, mại dâm…gây mất mĩ quan tại các điểm du lịch cũng như làm mất đi thuần phong mĩ tục, ảnh hưởng xấu tới hình ảnh du lịch của đất nước.
Có giải quyết được những vấn đề này hay không phụ thuộc vào phần lớn vào ý thức của người dân cũng như thái độ của các nhà quản lí.
2.3 Đối với môi trường sinh thái.
Sinh thái là môi trường của hoạt động du lịch, không có môi trường sinh thái thì không có du lịch. Chính vì vậy khi du lịch phát triển, khi nhu cầu nghỉ ngơi tại các khu vực có nhiều cảnh quan thiên nhiên của du khách tăng cao đòi hỏi phải tôn tạo và bảo vệ môi trường, có những chính sách tu bổ bảo vệ tự nhiên để tăng sức hấp dẫn đối với du khách, làm tăng ý thức bảo vệ môi trường của người dân, vấn đề hàng đầu của nhân loại.
Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ. Một mặt xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch nhưng mặt khác lại phải bảo vệ môi trường tự nhiên trước sự phá hoại của dòng khách và việc xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du lịch. Như vậy du lịch và bảo vệ môi trường là những hoạt động gần gũi và liên quan đến nhau. Điều này đặt ra cần có một chính sách quy hoạch du lich hợp lí.
3. Tài nguyên Du lịch. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
3.1 Khái niệm về tài nguyên Du lịch
Tài nguyên Du lịch được coi như là tiền đề của phát triển du lịch,. Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng đặc sắc càng phong phú bao nhiêu thì càng đem lại hiệu quả kinh doanh du lịch bấy nhiêu.
Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm toàn bộ các nguồn nguyên liệu, năng lượng, thông tin trên trái đất và không gian trong vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.
Trong cuốn địa lí du lịch có định nghĩa về tài nguyên du lịch như sau: “ Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hoá lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ những tài nguyên này được sử dụng cho trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch.”
Tại điều 4 Luật du lịch của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam(2005): “Tài nguyên Du lịch được hiểu là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, công trình sáng tạo của con người và các giá trị nhan băn khác có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch của con người; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.”
3.2 Đặc điểm của tài nguyên du lịch.(5 đặc điểm)
- Khối lượng các tài nguyên và diện tích phân bổ các tài nguyên là cơ sở cần thiết để xác định khả năng khai thác và tiềm năng của hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch.
- Thời gian khai thác xác định tính mùa của du lịch và nhịp điệu của dòng khách.
- Tính bất biến và lãnh thổ của đa số tài nguyên tạo ra lực hút cơ sở hạ tầng và dòng du lịch tới nơi tập trung các loại tài nguyên đó.
- Vốn đầu tư tương đối thấp và giá thành chi phí sản xuất không cao, cho phép xây dựng tương đối nhanh chóng cơ sỏ hạ tầng và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cũng như khả năng sử dụng độc lập các loại tài nguyên.
- Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu như tuân theo các quy định về sử dụng tài nguyên một cách hợp lí và thực hiện các biện pháp để bảo vệ chung.
3.3 Vai trò của tài nguyên du lịch. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
Du lịch là một ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ bản, điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển du lịch của một địa phương. Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên cùng địa bàn có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển du lịch. Vì vậy, sức hấp dẫn du lịch của một địa phương phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài nguyên du lịch của địa phương đó.
Tài nguyên du lịch (TNDL) là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm du lịch.Theo Điều 4 chương I Luật Du lịch giải thích : “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”. Khách đi du lịch để thoả mãn nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi và mở mang tầm hiểu biết, mà các TNDL chính là cơ sở để hình thành lên các dịch vụ cần thiết ấy. TNDL là yếu tố quan trọng mang lại tính quyết định để tạo nên quy mô, số lượng và chất lượng sản phẩm du lịch . Ngoài ra, TNDL chính là sức hấp dẫn của sản phẩm du lịch, khi du khách bị thu hút bởi các TNDL thì mới hình thành nhu cầu đi tới để khám phá và từ đó sản phẩm du lịch mới được tạo ra.
Hiệu quả kinh doanh của ngành Du lịch phù thuộc rất lớn vào TNDL. Một nơi có TNDL phong phú và đa dạng bao giờ cũng thu hút một lượng khách lớn hơn hẳn so với những nơi mà tài nguyên du lịch còn nghèo nàn và chưa được khai thác triệt để. Du khách có quyết định thực hiện các chuyến đi du lịch hay không phụ thuộc vào các giá trị của TNDL tại điểm đến có đủ sức hấp dẫn hay không? Việc tập trung tiêu dùng của du khách tại điểm đến, đặc biệt là vào mùa vụ sẽ tạo ra khối lượng doanh thu lớn, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
Loại hình du lịch là tập hợp các sản phẩm du lịch giống nhau, mà như ta phân tích ở trên thì TNDL là yếu tố quyết định đến sự hình thành của sản phẩm du lịch. Chính vì vậy, có thể nói TNDL là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch. Ví dụ loại hình Du lịch sinh thái gắn với các tài nguyên tự nhiên, còn Du lịch văn hoá thì phải gắn với tài nguyên nhân văn. Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách thì các doanh nghiệp du lịch, các địa phương, các quốc gia cần có chính sách làm đa dạng hoá các loại hình du lịch.
TNDL là một bộ phận cấu thành lên các điểm du lịch, khu du lịch và vùng du lịch. Thực tế cho thấy, nơi nào tập trung nhiều tài nguyên du lịch sẽ hình thành lên hệ thống lãnh thổ du lịch. TNDL cũng chính là yếu tố thu hút các dự án đầu tư của nhà nước và các nhà kinh doanh, từ đó hình thành lên một phân vị về lãnh thổ du lịch phụ thuộc vào mức độ tập trung của TNDL và cấp độ đầu tư của cơ sở vật chất.
Hiệu quả phát triển du lịch của hệ thống lãnh thổ du lịch phụ thuộc rất lớn vào TNDL. Điều này đòi hỏi cần có những chính sách quy hoạch hợp lí của từng địa phương, từng quốc gia trong việc khai thác tối ưu TNDL nhưng cũng phải đảm bảo được công tác tôn tạo và bảo tồn, tránh hiện tượng lãng phí và làm ô nhiễm tài nguyên du lịch.
3.4 Phân loại của tài nguyên du lịch.
3.4.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên.
Theo khoản 1 điều 13 của Luật Du lịch: “Tài nguyên du lịch tự nhiên (TNDLTN) gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.”
Theo Th.S Bùi Thị Hải Yến: “Tài nguyên du lịch tự nhiên là các thành phần và các tổng thể tài nguyên trực tiếp hoặc gián tiếp được khai thác sử dụng để tạo ra sản phẩm du lịch, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch”
Có thể hiểu một cách đơn giản là TNDLTN là tổng thể tự nhiên các thành phần của nó có thể góp phẩn khôi phục và phát triển thể lực và trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ và được lôi cuốn vào phục vụ cho nhu cầu cũng như sản xuất dịch vụ du lịch.
3.4.1.1. Địa hình Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
Địa hình là một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh và sự đa dạng của phong cảnh nơi đó. Đối với du lịch, các đấu hiệu bên ngoài của địa hình càng đa dạng và phức tạp bao nhiêu thì lại càng tăng thêm sức lôi cuốn bấy nhiêu.
Có thể phân chia Địa hình thành 3 loại chính : đồng bằng, đồi, núi. Thực tế cho thấy các khu du lịch nào mà có sự kết hợp của cả 3 dạng địa hình thì càng có sức hấp dẫn, có khả năng thu hút du khách tỉ lệ cao hơn hẳn.
Địa hình đồng bằng tương đối đơn điệu về mặt ngoại hình, gây cảm giác nhàm chán cho du khách. Tuy nhiên, với đặc tính là vùng đất bằng phẳng là điều kiện để xây dựng các cơ sở hạ tầng, sơ sở dịch vụ phục vụ du lịch trở nên dễ dàng và ít tốn kém hơn. Hơn nưa, đồng bằng cũng là nơi hình thành, bảo tồn và lưu giữ các giá trị văn hoá của loài người, giúp các du khách có thể tìm hiểu được các nền văn minh của nhân loại.
Địa hình đồi núi thường tạo ra được những không gian bao la, kì vĩ, tạo cho du khách tâm lí tò mò và muốn khám phá. Hơn nữa lại có khí hậu trong lành mát mẻ, là nơi cư trú của cộng đồng dân tộc thiểu số. Hoàn toàn thích hợp cho nhiều loại hình du lịch như tham quan nghỉ dưỡng, khám phá, du lịch mạo hiểm, du lịch tìm hiểu văn hoá…Nhưng loại địa hình này cũng có những bất lợi nhất định trong việc khai thác các tài nguyên du lịch.
Ngoài các dạng địa hình cơ bản trên, dạng địa hình Karst và địa hình ven bờ cũng có ý nghĩa lớn trong phát triển du lịch.
Địa hình Karst: Là kiểu địa hình được tạo thành do quá trình kiến tạo của vỏ trái đất( đứt gãy, tạo sơn, sụt lún) kết hợp với các quá trình ngoại lực chủ yếu là sự lưu thông của nước trong các loại đá dễ bị hoà tan. Ở Việt Nam thì nó được hình thành chủ yếu là trong địa hình đá vôi dưới dạng các hang động và Karst ngập nước mà đặc trưng là Vịnh Hạ Long và động Phong Nha. Do có sự ưu ái của tự nhiên mà các hang động Karst thường có vẻ đẹp tráng lệ, lộng lẫy, rất kì ảo và hùng vĩ. Ngoài ra, nhiều hang đông còn có các di tích khảo cổ học, di tích lịch sử văn hoá…. Đây là yếu tố quan trọng để phát triển loại hình du lịch kết hợp.
Địa hình ven bờ: Đây là loại địa hình được khai thác khá phổ biến trong du lịch dưới dạng các bãi biển, được du khách đón nhận dễ dàng và thích hợp với nhiều tầng lớp. Nước ta có bờ biển dài 3.620km với nhiều bãi cát dài, phong cảnh hoang sơ, thơ mộng hữu tình là tiềm năng cần được chú trọng khai thác. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
3.4.1.2. Khí hậu
Sở dĩ khí hậu được coi là tài nguyên du lịch vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định lựa chọn loại hình sản phẩm du lịch của du khách và tạo ra tính mùa vụ trong du lịch. Ví dụ như khách đi du lịch vào mùa hè thì cần đến nơi có khí hậu ít mưa, nắng nhiều nhưng không qua gắt để có thể thực hiện những trò chơi ngoài trời hoặc đi du lịch dã ngoại, tránh những nơi thường xuyên xảy ra bão lũ, còn nếu đi du lịch vào mùa đông, khi thời tiết trở nên lạnh thì du khách có xu hướng du lịch trên núi và thể thao mùa đông.
Trong các chỉ tiêu về khí hậu đáng lưu ý nhất là 2 chỉ tiêu: nhiệt độ và độ ẩm không khí. Ngoài ra còn có các yếu tố khác như gió, áp suất khí quyển, ánh nắng mặt trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt.
Bảng 1 :
Việt Nam nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu bắc, thiên về chí tuyến hơn là phía xích đạo. Vị trí đó đã tạo cho Việt Nam có một nền nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung bình năm từ 22ºC đến 27ºC. Hàng năm, có khoảng 100 ngày mưa với lượng mưa trung bình từ 1.500 đến 2.000mm. Độ ẩm không khí trên dưới 80%. Số giờ nắng khoảng 1.500 – 2.000 giờ, nhiệt bức xạ trung bình năm 100kcal/cm². Chế độ gió mùa cũng làm cho tính chất nhiệt đới ẩm của thiên nhiên Việt Nam thay đổi. Nhìn chung, Việt Nam có một mùa nóng mưa nhiều và một mùa tương đối lạnh, ít mưa. Trên nền nhiệt độ chung đó, khí hậu của các tỉnh phía bắc (từ đèo Hải Vân trở ra Bắc) thay đổi theo bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Như vậy so với bảng chỉ tiêu ở trên, khí hậu Việt Nam hoàn toàn thích nghi với phát triển du lịch. Vấn đề nằm ở khâu định hướng và giải pháp khai thác sao cho có hiệu quả.
3.4.1.3. Tài nguyên nước
Tài nguyên nước bao gồm tài nguyên nước mặt và tài nguyên nước ngầm.
- Nước mặt bao gồm nước đại dương, biển, sông, hồ( tự nhiên, nhân tạo), suối, thác nước…Nguồn tài nguyên này không chỉ có vai trò quan trọng trong việc hình thành các loại hình du lịch như thể thao dưới nước, tắm biển, tạo ra cảnh quan thiên nhiên mà còn có tác dụng phục hồi và ảnh hưởng trực tiếp đến các yểu tố khác của môi trường sống, đặc biệt nó làm dịu đi khí hậu ven bờ. Giới hạn về nhiệt độ của lớp nước trên mặt tối thiểu có thể chấp nhận được là 180c với người lớn, 200c với trẻ em. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
- Nước ngầm cần chú trọng tài nguyên nước khoáng. Đây là nguồn nước có ý nghĩa lớn đối với du lịch. Các thành phần có trong nước khoáng có khả năng chữa các bệnh về đường tiêu hoá, thần kinh, thấp khớp, phụ khoa và các bệnh ngoài da… Nguồn tài nguyên này thích hợp với du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh.
3.4.1.4. Tài nguyên sinh vật.
Tài nguyên sinh vật bao gồm toàn bộ các loài thực vật, động vật sống trên lục địa và dưới nước vốn có sẵn trong tự nhiên và do con người thuần dưỡng, chăm sóc lai tạo.
Rừng là dạng tài nguyên sinh vật vô cùng quan trọng, đặc biệt là rừng nguyên sinh và thuần chủng. Loại tài nguyên này không chỉ là yếu tố tạo nên cảnh quan thiên nhiên hẫp dẫn mà nó còn có ý nghĩa bảo vệ môi trường.
Với thảm thực vật phong phú, độc đáo và điển hình cùng một số loài động vật đặc hữu, không khí trong lành, thoáng mát là điều kiện để phát triển loại hình tham quan nghỉ dưỡng. Tài nguyên sinh vật cũng là nguồn cung cấp dược liệu cho việc phát triển loại hình du lịch chữa bệnh và an dưỡng. Hơn nữa, Vườn quốc gia và các khu bảo tồn là không gian nuôi dưỡng và bảo tồn các loài sinh vật trong sách đỏ, góp phần to lớn cho công cuộc bảo vệ môi trường.
3.4.2. Tài nguyên du lịch nhân văn (TNDLNV):
Theo khoản 1, điều 13. Luật Du lịch: “ Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
Có thể hiểu 1 cách ngắn gọn, TNNV là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch.
TNNV có các đặc điểm sau: Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
- Có tác dụng nhận thức nhiều hơn. Tác dụng giải trí không điển hình hoặc chỉ có ý nghĩa thứ yếu.
- Việc tìm hiểu các đối tượng nhân tạo thường diễn ra trong thời gian ngắn.
- Số người quan tâm tới TNDLNV thường có văn hoá cao hơn, thu nhập và yêu cầu cao hơn.
- TNDLNV thường tập trung ở các điểm quần cư và thành phố lớn.
- Ưu thế của TNDLNV là đại bộ phận không có tính mùa vụ (trừ các lễ hội), không bị phụ thuộc nhiều vào các điều kiện khí hậu và các điều kiện tự nhiên khác.
- Sở thích của những người tìm đến TNDLNV rất phức tạp và rất khác nhau…
3.4.2.1. Các di sản văn hoá thế giới và di tích lịch sử – văn hoá.
Di sản văn hoá thế giới.
Các di sản văn hoá thế giới là kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hoá một dân tộc. Bất cứ một quốc gia nào nếu có những di tích được công nhận là di sản văn hoá thế giới thì không những là một tôn vinh lớn cho dân tộc ấy, mà còn là nguồn tài nguyên quý giá, có sức hút khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế.
Di tích lịch sử – văn hoá
Việt Nam, theo pháp luật bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử – văn hoá và danh lam thắng cảnh (04/04/1984), di tích lịch sử – văn hoá được quy định như sau: “Di tích lịch sử – văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, cũng như các giá trị văn hoá khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá – xã hội”.
Di tích lịch sử – văn hoá là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa dựng những giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc do cá nhân con người hoạt động sáng tạo trong lịch sử để lại.
Có 4 loại di tích lịch sử – văn hoá:
Loại hình di tích văn hoá khảo cổ: là những địa điểm ẩn dấu một bộ phận giá trị văn hoá, thuộc về một thời kỳ lịch sử – xã hội loài người chưa có văn tự và thời gian nào đó trong lịch sử cổ đại.
Đại đa số các di tích văn hoá khảo cổ nằm trong lòng đất, cũng có trường hợp tồn tại trên mặt đất (các bức chạm khắc trên vách đá). Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
Di tích văn hoá khảo cổ còn được gọi là di chỉ khảo cổ, nó được phân thành di chỉ cư trú và di chỉ mộ táng, ngoài ra còn có cả những công trình kiến trúc cổ, những thành phố cổ, tàu thuyền cổ bị chìm đắm.
Loại di tích lịch sử.
Di tích lịch sử là những di tích ghi nhận các sự kiện lịch sử hoặc các đặc điểm lịch sử tiêu biểu của các dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử của mình. Lịch sử của mỗi quốc gia là một quá trình lâu dài với nhiều sự kiện được ghi dấu, do vậy những di tích nào gắn với các sự kiện tiêu biểu mới được coi là di tích lịch sử.
Loại văn hoá – nghệ thuật
Các di tích văn hoá – nghệ thuật đặc biệt là các di tích lịch sử – văn hoá, bao gồm các công trình kiến trúc có giá trị hoặc các tác phẩm nghệ thuật khác như tượng đài, các bích hoạ… Trên thế giới cũng như ở nước ta có rất nhiều di tích văn hoá – nghệ thuật nổi tiếng như tháp Epphen, Khải hoàn môn, văn miếu Quốc tử giám, toà thánh Tây Ninh…
Các danh lam thắng cảnh.
Thực tế loại hình này là sự tập hợp của 2 loại hình di tích: di tích nhân tạo và di tích thiên tạo. Đây là nơi có phong cảnh thiên nhiên đẹp, có chứa đựng những công trình do con người tạo ra, thường là những ngôi chùa, ngôi đền hay một công trình văn hoá nào đó…
3.4.2.2. Các lễ hội. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc phán ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc. Là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả hoặc là một dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hoặc chỉ đơn thuần là những hoạt động có tính chất vui chơi giải trí. Nhìn chung, các lễ hội nổi tiếng có tính hấp dẫn rất lớn đối với du khách, có sức lôi cuốn đông đảo người tham gia.
Theo thống kê của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, Việt Nam có gần 500 lễ hội cổ truyền lớn, nhỏ trải rộng khắp đất nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế… Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, ngày hội diễn ra sôi động bằng những sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương, đất nước của mình. Đặc biệt, lễ hội nước ta gắn bó với làng xã, địa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng nhân dân.
Lễ hội là tài nguyên nhân văn quý giá,phục vụ cho phát triển du lịch là bản sắc của mỗi vùng miền, mỗi quốc gia cần được gìn giữ và bảo tồn.
3.4.2.3. Các đối tượng khác.
Các đối tượng gắn với dân tộc học
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa với du lịch là các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống, sinh hoạt, kiến trúc, trang phục, ca múa nhạc…
Mỗi một dân tộc có những điều kiện sinh sống, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những săc thái riêng của mình và có những địa bàn cư trú nhất định. Những đặc thù riêng của từng dân tộc có sức hẫp dẫn đối với khách du lịch có nhu cầu tìm hiểu và khám phá, đặc biệt là khách quốc tế.
Việt Nam có 54 dân tộc. Nhiều dân tộc vẫn giữ được phong tục tập quán của mình. Nước ta còn có hàng trăm làng nghề thủ công truyền thống với những sản phẩm nổi tiếng, độc đáo thể hiện tư duy triết học, tâm tư tình cảm của con người, đặc biệt là các nghề chạm khắc, đúc đồng, thêu, dệt, sành sứ… Các món ăn dân tộc độc đáo với nghệ thuật cao về chế biến và nấu nướng. Nhiều kiến trúc có bố cục theo thuyết phong thuỷ của triết học phương Đông, rồi những kiến trúc tôn giáo (nhất là kiến trúc Chăm)… có giá trị, hấp dẫn du khách. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
Để khai thác nguồn tài nguyên quý giá này, hiện nay du lịch nước ta đang phát triển loại hình du lịch nghiên cứu văn hoá tộc người bằng cách tham gia trực tiếp vào đời sống thường nhật của người dân trên vùng cao. Đây là một loại hình gây cho du khách khá nhiều điều thú vị.
Các đối tượng văn hoá – thể thao và hoạt động nhận thức khác.
Những đối tượng văn hoá như các trung tâm khoa học, các trường đại học, các thư viện lớn, bảo tàng… đều có sức hấp dẫn rất lớn du khách tới tham quan và nghiên cứu.
Những hoạt động mang tính sự kiện: các giải thể thao lớn, các cuộc triển lãm thành tựu kinh tế quốc dân, các hội chợ, liên hoan phim ảnh quốc tế, ca nhạc quốc tế… cũng là đối tượng hấp dẫn khách du lịch.
Thông thường những đối tượng văn hoá tập trung ở các thủ đô và các thành phố lớn. Vì vậy những thành phố lớn đương nhiên trở thành những trung tâm du lịch văn hoá của các quốc gia, vùng và khu vực và là hạt nhân của các trung tâm du lịch. Đây là cơ hội để quảng bá hình ảnh đất nước với thế giới, kêu gọi đầu tư, tạo điều kiện cho kinh tế đất nước phát triển.
4. Cơ sở hạ tầng – Cơ sở vật chất phục vụ du lịch
4.1 Cơ sở lưu trú và ăn uống.
Cơ sở lưu trú.
Theo Điều 4 – Luật du lịch: “Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu”
Các loại cơ sở lưu trú du lịch bao gồm:
- Khách sạn;
- Làng du lịch;
- Biệt thự du lịch;
- Căn hộ du lịch;
- Bãi cắm trại du lịch;
- Nhà nghỉ du lịch;
- Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê;
- Các cơ sở lưu trú du lịch khác.
Cơ sở ăn uống.
Là hệ thống các nhà hàng, quán bar… phục vụ nhu cầu ăn uống của khách du lịch tại điểm tham quan du lịch.
4.2 Cơ sở giao thông vận tải phục vụ cho du lịch. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
Bao gồm các phương tiện giao thông vận tải như ô tô, tàu thủy, tàu hỏa, máy bay… và các điều kiện cơ sở hạ tầng: đường xá, nhà ga, sân bay, bến cảng.. với mục đích giúp cho khách vượt qua các khoảng cách về không gian. Đẩm bảo an toàn và tính mạng cho khách. Đưa khách đi đúng chặng, đúng tuyến.
4.3 Mạng lưới các cửa hàng thương nghiệp.
Bao gồm hệ thống các cửa hàng bán thực phẩm, hoa quả, đồ lưu niệm, quần áo. Các cửa hàng này được bố trí ở các địa điểm du lịch hoặc trên các đầu mối giao thông nhằm đáp ứng các nhu cầu về hàng hóa của khách du lịch bằng việc bán các hàng hóa đặc trưng cho du lịch. Mạng lưới này đồng thời cũng phục vụ cho cả người dân địa phương.
4.4 Cơ sở thể thao.
Bao gồm các công trình thể thao, các phòng tập, các thiết bị chuyên dùng như bể bơi, sân vận động…tạo cho khách không gian hoạt động thể thao trong chuyến đi du lịch.
4.5 Cơ sở y tế. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
Bao gồm hệ thống cơ sở y tế như các trạm xá, phòng khám, bệnh viện với mục đích chữa bệnh và chăm lo sức khỏe cho du khách. Thường được bố trí ở gần trung tâm thương mại hoặc gần với khu du lịch.
4.6 Các công trình thông tin văn hóa, tuyên truyền và quảng cáo.
Bao gồm các trung tâm thông tin như các cơ sở truyền thông, phòng chiếu phim, nhà hát, triển lãm… Thứ nhất nó có tác dụng nâng cao kiến thức văn hóa xã hội cho khách. Thứ hai, nhờ vào sức mạnh quảng bá của các cơ sở truyền thông mà thúc đẩy du lịch phát triển.
4.7 Cơ sở phục vụ dịch vụ bổ sung.
Đây là các công trình giúp khách du lịch sử dụng triệt để hơn tài nguyên du lịch, tạo ra tiện nghi khi họ đi lại và lưu trú du lịch bao gồm: trạm xăng dầu, in ấn, giặt là, tiệm cắt tóc…. Các công trình này chủ yếu phục vụ cho người dân địa phương nhưng cũng góp phần làm nên tính đồng bộ của dịch vụ du lịch.
5. Xu hướng phát triển du lịch.
5.1 Nhu cầu du lịch ngày càng tăng.
Bảng 2 : Tổng lượt khách và thu nhập du lịch thế giới.
Lý do:
- Kinh tế phát triển, thu nhập người dân tăng, khả năng chi trả cho chuyến đi cũng từ đó mà tăng theo.
- Trong xu hướng hội nhập của thế giới, tăng cường giao lưu hợp tác, con người cũng có xu hướng muốn tìm hiểu về những mảnh đất mới, ham học hỏi và khám phá.
- Có sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật ngày càng được nâng cao( Đường bộ. đường không, đường thuỷ, đường sắt..) giúp việc đi lại trở nên thuận tiện hơn, chi phí hạ.
- Trình độ dân trí nâng cao cộng với môi trường làm việc căng thẳng làm cho nhu cầu đi du lịch để nghỉ ngơi, giảm bớt áp lực hàng ngày cùng với chính sách ngày nghỉ của người lao động làm cho họ có một khoảng thời gian rỗi nhất định hàng năm để thực hiện chuyến đi. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
5.2 Nhu cầu du lịch sinh thái phát triển nhanh trong thời gian gần đây.
Đi cùng với sự phát triển mãnh mẽ của kinh tế công nghiệp là sự ô nhiễm ngày càng trầm trọng của môi trường. Con người luôn muốn tìm đến một nơi có không khí trong lành để tìm lại những khoảng không gian tự nhiên thoáng mát để thư giãn mà hàng ngày họ không có được.
Du lịch sinh thái không chỉ giúp du khách nghỉ ngơi sau một khoảng thời gian làm việc căng thẳng, mà còn cung cấp cho du khách một lượng kiến thức tương đối về môi trường, để từ đó có ý thức bảo vệ nó hơn.
5.3 Dòng khách đang có xu hướng phát triển nhanh tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
Ngày 16/2/2009 Tập đoàn Visa và Hiệp Hội Du lịch Châu Á Thái Bình Dương (PATA) đã công bố kết quả khảo sát Dự định Du lịch trong khu vực “Các tham khảo du lịch mang tính quyết định trong 2009 và tương lai”. Trong tổng số 5.554 người được khảo sát từ khắp 11 nước trên thế giới, có khoảng 60 phần trăm trả lời rằng họ sẽ đến Châu Á Thái Bình Dương. Đến Châu Á Thái Bình Dương từ Bắc Mỹ và miền Tây Âu chiếm khoảng 35 %. Danh sách ba điểm đến hàng đầu được nhiều du khách lựa chọn nhất từ nay đến năm 2010 là Úc (43 %), Nhật Bản (37 %) và Hồng Kông (35 %).
Lý do:
- Giá cả và hàng hoá dịch vụ thấp hơn hẳn so với các khu vực khác.
- Phong cảnh thiên nhiên đẹp.
- Đây là vùng đất của các nền văn minh lâu đời của loài người như Văn minh lưỡng hà, lưu vực Sông Ấn và sông Trường Giang.
- Con người thân thiên, nhiệt tình niềm nở.
5.4 Du khách đến nhiều điểm trong một chuyến đi Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
Với nhu cầu tìm hiểu, khám phá ngày càng tăng mà thời gian rảnh lại không nhiều nên khi đi du lịch du khách thường tận dụng tối đa, tham quan càng nhiều địa điểm càng tốt. Chính vì thế, các tour dài ngày kết hợp tham quan nhiều điểm đang được các doanh nghiệp đang được chú trọng phát triển.
5.5 Cơ cấu chi tiêu của khách thay đổi theo chiều hướng phát triển tỷ trọng của chi tiêu mua sắm và các dịch vụ bổ trợ.
Bảng 3: Cơ cấu chi tiêu 1 ngày của khách du lịch quốc tế
Trong cơ cấu các khoản chi tiêu của du khách, khoản chi cho lưu trú chiếm lớn nhất, chiếm gần một phần ba (năm 2008 là 31.14%) trong tổng số các khoản chi tiêu; tiếp đến là chi cho ăn uống chiếm hơn một phần tư (năm 2008 là 29.05%) thứ ba là chi cho lưu trú và chi mua sắm hàng hoá, quà tặng, quà lưu niệm, cả hai gần bằng nhau và mỗi khoản chiếm khoảng 15%.
Nguyên nhân chủ yếu của sự chuyển dịch này có thể nói chủ yếu là do tỉ lệ lạm phát cao, làm đồng tiền bị trượt giá mạnh, các mức chi phí đều bị đẩy lên cao hơn trước. Thêm vào đó, gần đây cơ cấu thành phần du khách có nhiều thay đổi. Du lịch không còn là đặc quyền của tầng lớp trên mà xu thế quần chúng hóa thành phần du lịch trở lên phổ biến. Du khách hiện nay nhiều thành phần trong xã hội, giới tính, tầng lớp…Khi dân trí được mở mang, đời sống được nâng cao, thu nhập có nhiều cải thiện thì nhu cầu đòi hỏi về chất lượng, mức độ tiện nghi của dịch vụ cũng như nhu cầu mua sắm hàng hóa của du khách cũng tăng thêm.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trên đây là những lý luận chung về du lịch, tài nguyên du lịch và xu hướng phát triển du lịch hiện nay.
Với việc đưa ra những khái niệm của các nhà nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu của các tổ chức, học giả nhằm đưa ra được sự tổng hợp bao quát trong phạm vi nghiên cứu đề tài và là những yếu tố giúp cho vấn đề đưa ra có tính thuyết phục hơn.
Những lí luận chung cơ bản này sẽ giúp cho hoạt động tìm hiểu đề tài được thêm phần phong phú và có định hướng đúng đắn trong cách tiếp cận nguồn tài nguyên du lịch cho việc phát triển du lịch trên địa bàn nghiên cứu, phục vụ cho hiệu quả công tác nghiên cứu.
Kho tàng lí luận là vô cùng rộng lớn, việc lựa chọn sao cho phù hợp với thực tế địa bàn nghiên cứu là một việc đòi hỏi phải có sự nghiêm túc trong quá trình làm việc sao cho xây dựng được những giải pháp phát triển đúng đắn, có những định hướng lâu dài cho tương lai. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Ninh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch huyện Vân Đồn

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch huyện Vân Đồn