Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu (QUẢNG NINH) dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về dân tộc Tày ở Bình Liêu (Quảng Ninh)

2.1.1. Lịch sử hình thành và sự phân bố

Viết về dân tộc Tày ở Quảng Ninh Thiếu tá Reversery (trong Revoi Indochinoise-1905) cho rằng khu vực Tày chỉ giới hạn ở phía bắc vùng biển trong quân khu Móng Cái. Nhưng trong khu vực Hán -Việt vẫn có những nhóm lẻ tẻ nói tiếng Tày sống lẫn lộn với người Hán và người Việt ở các cánh đồng cũng như trên dãy núi phía Nam. Theo ông có hai nhóm Tày đến địa phương trong những điều kiện khác với những điều kiện mà người Tày đến sinh cơ lập nghiệp ở những vùng đất khác của Đạo quan binh thứ nhất. Trong khi tiếp xúc với người Hán và người Việt họ mất dần các đặc điểm của tộc người mình, kể cả tiếng nói. Hai nhóm đó là nhóm Phén và nhóm Thủ.

Tên Phén là tên tự gọi, người Tày và người Việt đều gọi là Phén, người Hán và những dân tộc miền núi nói tiếng Hán thì gọi là Phén Lão. Người Phén nói rằng họ đến từ huyện Phòng Thành, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc đến đây từ rất lâu đời, có nơi còn trước cả người Việt. Trước khi xứ sở bị xâm chiếm đàn ông Phén ăn mặc như người Việt, phụ nữ thường mặc một chiếc áo dài và một yếm thêu như phụ nữ Sán Chỉ, khi sống giữa người Hán thì ăn mặc theo người Hán trừ cách đội khăn kể cả nam lẫn nữ giống như người Việt. Họ cũng ăn trầu, nhuộm răng đen nhất là phụ nữ.

Tên Thổ hay còn gọi là Thổ Nhằn hoặc Thôn Nhằn theo Reversery, Thổ Nhằn là do người Hán và người Mán nói tiếng Hán gọi, còn người Việt gọi họ là Thổ Nhân. Đồng bào tự gọi là Hờn Bạn (Hờn Bạn có lẽ là Cần Bản, người làng, đúng nghĩa với Thôn Nhân). Họ đến vùng đất này từ Khâm Châu, một huyện của tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc từ hàng chục đời nay. Khác với những người đồng tộc (Tày) ở các địa phương khác của Đạo quan binh thứ nhất hai nhóm Phén và Thổ ở đây dễ hòa vào người Việt và người Hán. Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

Theo Lagarrue trong Ghi chú về dân tộc học tại tỉnh Móng Cái thì Phén Nhằn lại có hai ngành được tách ra bởi một cây phả hệ. Đó là Phiên Nhằn và Cấn Phén Nhằn. Từ Cấn biểu thị người Phén ở vùng cao hẳn là Cấn Phén Nhằn cư trú ở chân núi, trong khi Phén Nhằn mặc áo ngắn ngụ tại đồng bằng hoặc các thung lũng. Người Phén Nhằn khi thì đội đầu theo kiểu người Việt khi thì để tóc theo kiểu Trung Hoa, tùy theo nơi đó người nào chiếm ưu thế hoặc theo thời tiết. Nói chung nhà của họ làm trên sàn cột, dưới gầm sàn là nơi nhốt súc vật. Người Phén Nhằn có ngôn ngữ riêng, người ta thường gặp họ nhất là ở vùng Quảng Nam Châu, trong thung lũng thấp của dãy núi lớn, đầu nguồn của các con sông vùng duyên hải, sông Tiên Yên và sông Ca Long.

Còn Thủ Nhằn thì người Việt gọi đó là Thổ (nghĩa là người của đất) cũng có thể với nghĩa là bản địa. Dường như họ cư trú trong vùng Kiến duyên, thượng lưu sông Tiên Yên, Hậu cơ. Phụ nữ Thổ mặc quần áo bằng vải bông xanh, thêu hoặc thêm vào một vài viền trắng. Rất nhiều người Thổ sống rải rác xung quanh các dãy núi và xen lẫn với người người Việt cho tới tận bờ biển.

Về ngôn ngữ người ta ghi nhận rằng người Thổ và người Phén đều có quan hệ về cùng một tiếng nói. Qua so sánh các ngôn ngữ khác người ta phân thành 5 nhóm, 2 nhóm đầu dường như có một quan hệ thân thuộc nào đó.

  1. Pủn Tỷ Hạc, Hạc, Ngái, Hắc Cá
  2. Sán Dìu, Sán Chỉ Hà, Sán Chỉ
  3. Thủ và Phén
  4. Pan y
  5. Việt Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

Về dân số theo cuốn Tiểu dẫn về tỉnh Hải Ninh (năm 1932) Bình Liêu có 5700 người thì Thổ chiếm ¾.

Trong cuốn Lược chí địa lý khu tự trị vùng Hải Ninh của Voòng A Sáng (năm 1949) có đề cập đến người Thổ và cho rằng “người Thổ từ Quảng Tây-Trung quốc phiêu bạt sang đã nhiều đời, quây quần tại Bình Liêu, các chân núi màu mỡ thuộc Tiên Yên, vùng sâu cuối sông Ba Chẽ thuộc Đình Lập, vùng cuối sông Kỳ Cùng…”

Nhưng nhìn chung Tày vẫn là tên gọi thống nhất, đại diện cho tất cả các nhóm có những tên gọi mang tính địa phương. Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu thì Tày và Nùng là những cư dân có chung một nguồn gốc lịch sử, cùng thuộc khối Bách Việt xưa, sau khi thiết lập đường biên giới Việt – Trung, các cư dân Tày, Nùng, Thái…(gọi chung là Tày – Thái) ở hai nước được hình thành và phát triển với những điều kiện riêng. Tày là tên gọi đã từ lâu đời, có thể vào nửa cuối thiên niên kỉ thứ nhất sau công nguyên. Là cư dân đã sinh sống lâu đời ở vùng đất đai như hiện nay thuộc các tỉnh miền núi phía bắc, người Tày còn lưu lại nhiều chuyện cổ về nguồn gốc của dân tộc mình như Nạn Hồng Thủy, Báo Luông Slao Cải, hay Pú lương quân…

Việc thành lập quốc gia Âu Lạc với nhiều thành phần tộc người: Lạc Việt, Âu Việt nghĩa là những cư dân Việt – Mường và Tày cổ, là một thực tế lịch sử một khi đường biên giới quốc gia được hình thành, hơn nữa không trùng với đường ranh giới tộc người thì việc qua lại giữa bên này biên giới và bên kia biên giới của những người đồng tộc vẫn là một thực tế. Qua quá trình phát triển của lịch sử tộc người, một bộ phận người Tày ở một số địa phương đã hòa vào người Việt, ngược lại có một số người Việt đến làm ăn sinh sống ở miền núi biên giới nơi có đông người Tày cư trú đã hòa vào người Tày ở địa phương và tại Bình Liêu địa bàn vừa là núi vừa là biên giới cũng không nằm ngoài xu hướng đó.

Năm 1989 cả tỉnh Quảng Ninh có 23130 người Tày thì huyện Bình Liêu đã có 10758 người (chiếm 46%).

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2.1.2. Thực trạng đời sống chính trị kinh tế, văn hóa – xã hội Kinh tế

Cũng như phần lớn đồng bào các dân tộc thiểu số khác nhau trên địa bàn, cộng đồng các dân tộc thiểu số khác trong cả nước đời sống kinh tế-xã hội của người Tày ở Bình Liêu vẫn còn gặp nhiều hạn chế và khó khăn. Sản xuất chính vẫn là nông nghiệp – lâm nghiệp nhưng kỹ thuật canh tác vẫn còn lạc hậu, trình độ thâm canh thấp. Cuộc sống hàng ngày vẫn còn phụ thuộc lớn vào tự nhiên. Hiện tượng phát nương làm rẫy, khai thác lâm sản, săn bắt động vật vẫn còn diễn ra phổ biến trực tiếp đe dọa tài nguyên thiên nhiên môi trường sinh thái. Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

Do người Tày đã định cư ở Bình Liêu lâu đời nên đồng bào đã sớm biết cách trồng lúa nước, ngoài trồng lúa, hoa màu người dân ở đây còn đào ao, thả cá, chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng rừng. Lịch sinh hoạt sản xuất của người Tày cũng giống như nhiều đồng bào dân tộc thiểu số ở Bình Liêu:

Tỷ lệ đói nghèo tuy đã giảm nhưng vẫn còn nhiều, trừ những người Tày sinh sống ở khu vực thị trấn và một số khu vực thị trấn và một số có thu nhập cơ bản ổn định. Những người Tày sinh sống tại các xã vùng sâu, vùng xa huyện Bình Liêu đều xếp vào các diện khó khăn, đã hạn chế khả năng tiếp thu nâng cao dân trí của người dân. Nhưng gần đây được sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và các chính sách của nhà nước gần đây các gia đình đã cho con em đi học song vẫn còn tỷ lệ bỏ học và tái mù chữ. Một số bộ phận học sinh vùng cao đi học chưa đều, tỷ lệ tuyển sinh vào lớp 6 và lớp 10 còn thấp, chất lượng giáo dục thấp, chuyển biến chậm.

2.2. Những đặc trưng văn hóa của dân tộc Tày ở Bình Liêu

2.2.1. Văn hóa vật thể

Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam “văn hóa vật thể là tất cả các sáng tạo hữu hình của con người mà xã hội học gọi chung là đồ tạo tác bao gồm nhà cửa, vũ khí, thức ăn…”

2.2.1.1. Kiến trúc dân gian (nhà ở)

Không giống với phong cách du canh du cư của nhiều dân tộc thiểu số khác người Tày luôn có tư tưởng ổn định về nơi ở từ đó mới tính chuyện làm nương, trồng ngô lúa. Đồng bào Tày thường sống quần tụ thành từng bản, mỗi bản có từ đến 100 nóc nhà, nhiều bản hợp thành một xã. Bản (làng) của người Tày được dựng ở chân núi hoặc những nơi đất đai bằng phẳng ven sông, suối trên các cánh đồng. Tính cộng đồng của bản làng xưa kia đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống, đã để lại những thuần phong mỹ tục truyền thống của dân tộc Tày. Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

Nhà ở của người Tày có nhà sàn, nhà đất và một số bản giáp biên giới có loại nhà phòng thủ. Ngôi nhà sàn không chỉ là nơi cư ngụ truyền đời của gia đình, dòng họ mà còn là cái nôi diễn ra các sinh hoạt văn hóa truyền thống và là nơi trú ngụ và thờ cúng tổ tiên… Nhà sàn truyền thống của dân tộc Tày có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói tranh hay lá. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa. Xưa kia nhà sàn được sử dụng một cách tổng hợp, bên trong gồm hai phần: phần trong và phần ngoài. Trong nhà phân biệt phòng nam ở ngoài nữ ở trong buồng. Ở những gia đình khá giả nhà sàn được xây dựng bằng gỗ tết có ván bưng xung quanh nhà và lót sàn, mái lợp ngói, trông rất khang trang.

Cũng như các dân tộc khác người Tày ở Bình Liêu khi làm nhà phải chọn đất, xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau. Trải qua sự phát triển hàng thế kỷ người Tày Bình Liêu vẫn không ngừng sáng tạo để cải tiến ngôi nhà của mình sao cho nó phù hợp với điều kiện tự nhiên cũng như cuộc sống lao động sản xuất nông nghiệp nhưng vẫn không quên gìn giữ những nét đặc trưng truyền thống. Chính điều này đã tạo dựng nên một phong cách riêng của dân tộc Tày.

Hiện nay kinh tế phát triển đời sống nhân dân được nâng cao nhà ở của người Tày ở Bình Liêu đã không còn nhiều nhà sàn nữa mà phần lớn đã xây bằng gạch hoặc các vật liệu hiện đại, có nhà khang trang, hiện đại như ở thành phố.

2.2.1.2. Trang phục

Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc mặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài bên ngoài. Nhóm Phén thường mặc áo màu nâu.

Trang phục nam: Y phục của nam giới Tày gồm loại áo cánh bốn thân, áo dài năm thân, khăn đội đầu, quần và giầy vải. Áo cánh bốn thân là loại xẻ ngực, cổ tròn cao, không cầu vai, xẻ tà, cài cúc vải và hai túi nhỏ phía dưới hai thân trước. Trong dịp tết, lễ hội nam giới mặc thêm loại áo dài năm thân, xẻ nách phải, đơm cúc vải hay đồng. Quần cũng làm bằng vải sợi bông chàm như áo, cắt theo kiểu quần đũng chéo, độ choãng vừa phải dài tới mắt cá chân. Quần có cạp rộng không luồn rút khi mặc có dây buộc ngoài. Khăn đội màu chàm quấn trên đầu theo lối chữ nhân. Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

Trang phục nữ: Y phục của nữ thường gồm áo cánh, áo dài năm thân, quần váy, thắt lưng, khăn đội đầu, hài vải. Áo cánh là loại bốn thân, xẻ ngực, cổ tròn, có hai túi nhỏ phía dưới vạt trước, thường được cắt may bằng vải chàm hoặc trắng. Khi đi hội thường được mặc lót phía trong áo dài. Áo dài cũng là loại năm thân, xẻ nách phải cài cúc vải hoặc đồng, cổ tròn ống tay và thân hẹp có eo. Trước đây phụ nữ mặc váy nhưng gần đây phổ biến mặc quần. Đó là loại quần về nguyên tắc cắt may giống nam giới, kích thước có phần hẹp hơn. Khăn người phụ nữ Tày cũng có loại khăn vuông màu chàm khi đội gập chéo kiểu mỏ quạ của người kinh. Nón của phụ nữ Tày rất độc đáo, nón bằng nan tre lợp lá có mái nón bằng và rộng. Trang sức của họ cũng đơn giản song đủ các chủng loại cơ bản như vòng cổ, vòng tay, vòng chân, xà tích và đôi khi họ đeo túi vải.

Cái độc đáo đáng quan tâm của trang phục người Tày ở đây không phải là lối tạo dáng mà là lối dùng màu chàm phổ biến đồng nhất trên trang phục nam nữ cũng như lối mặc áo lót trắng bên trong áo dài màu chàm. Nhiều tộc người khác cũng dùng màu chàm nhưng còn gia công trang trí các màu khác nhau trên trang phục. Ở người Tày hầu như các màu ngũ sắc được dùng trong hoa văn mặt chăn hay các tấm thổ cẩm. Trang phục của bé trai người Tày cũng giống trang phục của nam giới người Tày, trang phục của bé gái thì giống trang phục của nữ giới.

Trang phục của người Tày chỉ đơn giản một sắc chàm nét đặc sắc thể hiện những màu hoa văn trên vải của họ. Loại vải dệt hoa văn màu đen trên nền vải trắng là loại vải để may mặt chăn, trên cơ sở của loại bố cục hoa văn một màu đen trên nền trắng như thế này người Tày lại phát triển trang trí theo một hướng khác, gài màu vào từng đoạn họa tiết, từng mảng họa tiết tùy trình độ thẩm mỹ, ý thích của người dệt trên khung dệt thủ công, đó là thổ cẩm. Thổ cẩm có loại hình vuông để may mặt địu, có thể thức bố cục hoa văn đăng đối. Bao gồm những diềm và hoa văn bỏ ô ở khu vực trung tâm trang trí. Ngoài ô quả trám đã xuất hiện các biến thể như ô hình tám cạnh, hình vuông, hình chữ nhật, tạo cho đồ án trang trí có đường nét cấu tạo phong phú đa dạng hơn.

Có loại thổ cẩm bố cục hình chữ nhật để làm mặt chăn, màn che. Những tấm màn che mà vị trí là ở các nơi thờ cúng tổ tiên người ta thể hiện các đề tài liên quan đến tín ngưỡng tôn giáo như thêm đường diềm phía trên – tương ứng với cõi trời, có hình các vị thần linh, bảo hộ cho sự sống bình an của con người hoặc thêm đường diềm phía dưới – tương ứng với cõi đất và có hình chim muông… là biểu tượng cho cuộc sống, cây cỏ, muông thú trên mặt đất. Ngoài ra còn có nhiều hình họa tiết như các chữ Hán, hình hoa văn cách điệu… Màu sắc rực rỡ phối hợp với các màu nguyên sắc có độ tương phản cao, có những sắc trầm hoặc tươi sáng, các sắc thái khác nhau cho thấy thổ cẩm của người Tày không gò bó trong quy thức hòa màu hạn chế nào, cho thấy sức sáng tạo phong phú và đa dạng của nghệ nhân nhiều thế hệ. Đó cũng là những dấu ấn của sự phát triển trong trang trí dệt dân gian của người Tày để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống ngày một đa dạng phong phú.

Bố cục hình vuông của thổ cẩm, hình chữ nhật của loại thổ cẩm làm mặt chăn, hoặc màn che có quy định phía trên và phía dưới là những bố cục riêng có trong trang trí dệt của người Tày mà các dân tộc anh em không có.

2.2.1.3. Công cụ lao động, sản xuất, chiến đấu Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

Xưa người Tày chủ yếu canh tác nương rẫy do địa hình liền kề núi, có nhiều mảnh đất màu mỡ thuận tiện cho trồng lúa nương, ngô, khoai, sắn…

Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng lúa nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thủy lợi như đào mương, bắc máng, bắc phai làm cọn lấy nước tưới ruộng. Trước đồng bào dùng cày chìa vôi, bừa răng bằng gỗ, hoặc dùng trâu dẫm đất cho nhuyễn thay cho lượt cày thứ nhất, có lúc phải dùng đến bốn, năm con trâu nhưng hiệu quả kinh tế thấp. Nay nhờ áp dụng khoa học kĩ thuật người Tày đã biết sử dụng nhiều máy móc hiện đại như máy cày, máy bừa để phục vụ sản xuất, tốn ít sức lao động mà hiệu quả kinh tế cao. Họ thường đập lúa ở đồng trên những máng gỗ gọi là Loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà, nay thì đã có máy tuốt lúa, máy gặt, máy đập giúp cho việc thu hoạch đạt hiệu quả cao hơn. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả… chăn nuôi phát triển với các loại gia súc, gia cầm.

Trước kia người Tày Bình Liêu còn có nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải tuy nay đã không còn nhưng trong nhiều gia đình vẫn còn có máy dệt để dệt những tấm thổ cẩm phục vụ cho đời sống sinh hoạt.

Vũ khí của dân tộc Tày gồm: súng kíp, dao, bẫy vừa dùng để săn bắn vừa dùng để tự vệ, bảo vệ con người khỏi thú dữ và kẻ thù.

2.2.1.4. Phương tiện vận chuyển

Là cư dân sống trên vùng cao, địa hình hiểm trở, có sự đan xen giữa núi và các sông suối nên giao thông gặp rất nhiều khó khăn. Người Tày sử dụng sức người là chính trong giao thông vận chuyển. Khi lao động sản xuất, vận chuyển lương thực, hàng hóa thiết yếu phục vụ cuộc sống với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai. Còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng, vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Ngày nay nhờ sự phát triển của kinh tế xã hội, đời sống của dân tộc Tày đã bớt khó khăn họ đã và đang sử dụng nhiều phương tiện cơ giới trong sinh hoạt. Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

2.2.2. Văn hóa phi vật thể

Theo từ điển tiếng việt “văn hóa phi vật thể là một bộ phận của văn hóa chung, đó là toàn bộ kinh nghiệm tinh thần của nhân loại, các hoạt động trí tuệ cùng những kết quả của chúng, bảo đảm xây dựng con người với những nhân cách, tác động dựa trên trên ý chí và sáng tạo. Văn hóa phi vật thể tồn tại dưới nhiều hình thức, đó là những tục lệ, chuẩn mực, cách ứng xử đã được hình thành trong những điều kiện xã hội mang tính lịch sử cụ thể, những giá trị và lý tưởng đạo đức, tôn giáo, thẩm mỹ, xã hội, hệ tư tưởng…”

2.2.2.1. Ngôn ngữ, chữ viết

Trong giao tiếp hàng ngày với các dân tộc khác người Tày vẫn sử dụng tiếng Việt còn trong gia đình, họ hàng, thân quen cùng biết tiếng Tày thì họ sử dụng tiếng Tày.

Tiếng Tày là tiếng nói của người Tày, là văn nói, là khẩu ngữ có chữ viết riêng là chữ Hán nôm. Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỉ XV dạng chữ này thường được dùng cho cúng tế, ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng. Khi chính phủ quy định viết hệ ngôn ngữ này, vấn đề phát âm của tiếng Tày theo chữ quốc ngữ không có sai là bao nhiêu. Tiếng Tày có quan hệ mật thiết với tiếng Nùng.

Chữ Tày được sử dụng cách đây khoảng 300 năm và trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử đã trở thành một phần tất yếu của văn hóa Tày. Ngày nay đối với dân tộc Tày ở Bình Liêu nói riêng và cộng đồng dân tộc Tày nói chung, tiếng Tày không chỉ là một phương tiện giao tiếp đơn thuần mà là một tài sản phi vật thể vô giá, là niềm tự hào dân tộc, là một thứ tôn giáo đặc biệt của tâm hồn.

2.2.2.2. Văn học nghệ thuật dân gian Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

Người Tày có kho tàng văn học dân gian phong phú với các thể loại như truyện ngụ ngôn, truyện cười, dân ca, ca dao, tục ngữ, thành ngữ… phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và cuộc sống lao động đấu tranh của dân tộc Tày.

Đối với người Tày khu vực Bình Liêu hát then là loại hình văn nghệ dân gian có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống văn hóa, tinh thần, không chỉ đơn thuần là hình thức diễn đạt nội dung bằng nhạc điệu, phương thức giao lưu giao duyên giữa đôi trai gái với nhau mà hát then đã được người Tày xưa gắn vào các hoạt động tín ngưỡng, tâm tình khi lấy những làn điệu, câu hát then này để lảy then, bói then, cúng then…

Nửa thế kỉ trước người Bình Liêu vẫn còn ông già mù Lô Chính, một nhân vật được coi là tài hoa của bản người Tày, chống gậy lang thang đi hát then, bói then, cúng then khắp các ngả rừng như kiểu hát đúm, hò biển của người vùng sông nước Hà Nam (Yên Hưng), hát Sán cố, Soóng cọ của người Sán Dìu, người Dao. Hát then được sử dụng làm phương thức giao duyên giữa trai gái người Tày. Bởi vậy từ những câu hát then đầy sáng tạo của ông già mù Lô Chính nhiều chàng trai Tày đã tìm được vợ hiền, vợ đẹp. Kế thừa học hỏi tài hoa của ông già mù Lô Chính về cách vận các lời then mới vào điệu then cúng cổ, ghi lại những giai điệu, những khúc ngoặc, chuyển, nối các đoạn then ông cán bộ văn hóa Ngô Đức Nguyên cũng tập tành sáng tác then và lâu dần hát then đã ngấm vào con người ông lúc nào không hay. Trong suốt gần 60 năm qua ông Ngô Đức Nguyên (giờ đã 80 tuổi) đã sưu tầm và sáng tác hàng trăm ca khúc then, đặc biệt ông khá thành công với các ca khúc then mới. Nhiều ca sĩ không chuyên biểu diễn bài hát then do ông sáng tác đã đạt nhiều giải cao tại các hội diễn khu vực và tỉnh. Để các khúc hát then đến được với công chúng, cũng là để phục hồi, phát huy vốn văn hóa quý báu của dân tộc, ông Ngô Đức Nguyên đã cho in hàng chục đầu sách viết về các bài hát then. Nối tiếp ông Ngô Đức Nguyên, hiện nay đội ngũ sáng tác và đặt lời mới theo điệu hát then ở Bình Liêu đã đông đảo hơn, chất thơ và sự tươi mới trong ngôn ngữ then cũng đậm nét và sâu lắng hơn. Nhiều câu lạc bộ hát then của các xã đã được hình thành, có thể kể đến nhiều nhân vật như: Lương Thiêm Phú (câu lạc bộ Chang Nà, xã Tình Húc), Trần Đức Xuân, Hoàng Quý, Lục Thị Hoa (câu lạc bộ Thị trấn), Hoàng Tú Long, Cam Thị Sinh (câu lạc bộ xã Vô Ngại), Lý Thị Hồng, La Quảng Sinh (xã Lục Hồn)… nhiều tác phẩm đã chuyển thể song ngữ (lời Tày – Việt) với sức truyền bá sâu rộng trong đời sống. Cùng với sự phát triển của kinh tế, cuộc sống hiện đại, then hiện nay được thể hiện khá phong phú và linh động, mượt mà, đi vào lời ru con trẻ, đời sống tinh thần của người dân thông qua các lễ hội, đám cưới, đám ma, tục thờ cúng…

Tuy nhiên cũng vì chạy theo xu thế phát triển hiện đại nên nhiều làn điệu hát then cổ Bình Liêu đang bị mai một dần. Để khắc phục điều này, từ nhiều tháng qua Sở Văn hóa – thể thao và Du lịch đã tiến hành thực hiện đề tài phục dựng tục hát then của người Tày vùng Bình Liêu. Đề tài được chia làm hai phần: phục dựng hát then đàn tính và phục dựng hát then cổ. Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

Hát then đàn tính mang tính hiện đại hơn, các ca khúc then mới với phần lời gần gũi, phong phú, uyển chuyển cùng tiếng đàn tính khiến khúc hát có âm hưởng, nhạc điệu, người nghe dễ cảm nhận hết cái hay, cái đẹp của ca khúc. Hiện nay những người thực hiện đề tài này đã mời được sáu cụ già ở xã Tình Húc có sự hiểu biết về hát then để truyền dạy cho lớp trẻ, các cụ đã truyền đạt lại những kinh nghiệm quý báu, những đặc trưng của ca khúc then cũng như cách hát then sao cho đúng, cách gieo vần, luyến láy, ngắt quãng, ngắt nhịp… qua đó làm cơ sở nghiên cứu, bảo tồn và phát huy loại hình di sản văn hóa phi vật thể này. Sắp tới huyện Bình Liêu sẽ tiến hành tổ chức một buổi biểu diễn hát then – đàn tính do các nghệ nhân nói trên và các học trò tham gia. Nhằm giới thiệu đến nhân dân một cách đầy đủ nhất về hát then đàn tính ở Bình Liêu, đồng thời lấy hình ảnh tư liệu lưu trữ và nghiên cứu. Tiếp theo hát then đàn tính, Sở sẽ tiến hành phục dựng hát then cổ, trong đó đi sâu vào cấp sắc then, tức lễ công nhận cấp bậc cho các bà, Thầy hát then và lảu then, tức diễn xướng nghi lễ hát then.

Nhờ nhiều tấm lòng yêu mến, gìn giữ phát huy vốn văn hóa truyền thống đến nay hát then của người Tày Bình Liêu không chỉ giữ được những nét đặc sắc nguyên gốc mà còn được làm phong phú, hòa nhập với hơi thở cuộc sống, tạo sức sống cho loại hình nghệ thuật cổ này. Khi hát then nhạc cụ mà người Tày sử dụng đó là đàn tính. Đàn tính là nhạc cụ sử dụng phổ biến ở người Tày. Bầu đàn làm bằng vỏ quả bầu khô, cần đàn làm bằng gỗ, dây đàn làm bằng tơ, Đàn có thể có hai hoặc ba dây. Đàn tính thường dùng trong nghi lễ, đệm cho hát hát then, ngày nay còn dùng biểu diễn trên sân khấu.

Ngoài hát then người Tày còn có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư…là lối hát giao duyên thường được hát trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay có khách đến bản…Tất cả các loại hình nghệ thuật dân gian đó góp phần làm giàu đẹp thêm đời sống văn hóa của người Tày Bình Liêu nói riêng và dân tộc Tày trên địa bàn cả nước nói chung.

2.2.2.3. Tôn giáo tín ngưỡng dân gian truyền thống

Đồng bào Tày Bình Liêu không theo tôn giáo nào cả, cả huyện không có chùa, nhà thờ các gia đình và dòng tộc có tập tục thờ cúng tổ tiên vào các ngày lễ tết. Đây cũng là một tín ngưỡng quan trọng của người Tày.

Người Tày rất coi trọng Táo quân và Thổ công, họ quan niệm bếp không có lửa thì điều xấu sẽ đến do đó bếp thường xuyên có lửa. Đối với họ Táo Quân là vị thần bảo vệ người và gia súc, nơi thờ vị thần này được đặt ngay cạnh bếp, rất đơn giản, chỉ là một ống tre được dán giấy đỏ làm ống hương. Khi gia đình có việc đại sự hoặc xảy ra các việc như bệnh tật, mất trộm, gia súc ốm đau… thường phải cúng báo cho thần bếp biết, xin thần bếp chứng giám và phù hộ cho tai qua nạn khỏi. Thổ công đối với người Tày là vị thần bảo vệ mùa màng, bản làng. Hàng năm người Tày cúng thổ công vào dịp tết nguyên đán. Tết nguyên đán cũng là tết lớn nhất trong năm, các bàn thờ được trang hoàng, dán giấy đỏ. Ngày 30 tết người Tày cất tất cả những dụng cụ sản xuất và đồ dung trong nhà như dao, rựa, cày, bừa… vào một nơi rồi làm lễ cúng để cho chúng nghỉ ngơi ăn Tết.

2.2.2.4. Phong tục tập quán Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

  • Quan hệ dòng họ, gia đình, gia tộc

Người Tày có quan hệ dòng họ rất chặt chẽ, trưởng họ có vai trò khá lớn trong mọi vấn đề của dòng họ như cưới xin, ma chay, làm nhà mới, giải quyết bất hòa trong mọi mối quan hệ. Gia đình của người Tày là gia đình phụ hệ, trước đây tồn tại những gia đình lớn nhiều thế hệ (thường là nhà con trai trưởng). Ngày nay người Tày ở Bình Liêu có rất ít những gia đình lớn ba, bốn thế hệ cùng chung sống mà chỉ tồn tại các gia đình nhỏ hai thế hệ (bố mẹ và con cái). Con cái sinh ra lấy họ bố, trong cả những trường hợp con trai đi làm rể đời (có những nhà chỉ sinh con gái mà không có con trai thì một người con rể sẽ ở lại nhà vợ và thờ cúng hương hỏa cho nhà vợ) con sinh ra vẫn lấy họ bố. Đây là một trong những đặc trưng phản ánh rõ nét tính phụ quyền của người Tày. Trong gia đình vai trò của người bố, người chồng luôn là trụ cột, quyết định mọi việc lớn nhỏ. Sau người bố người con trai trưởng có vai trò to lớn trong gia đình. Vì vậy người Tày rất mong muốn sinh được nhiều con trai, trong gia đình người vợ có quyền tham gia ý kiến về công việc, là lao động chính trong gia đình, là người trực tiếp nuôi dạy con cái, nhưng quyền quyết định bao giờ cũng thuộc về người chồng.

Quan hệ hôn nhân của người Tày là hôn nhân đối ngẫu, tiến bộ một vợ một chồng theo nguyên tắc ngoại hôn dòng họ. Quan hệ trong gia đình tuy đã giảm bớt một số quy định khắt khe không như trước đây, nhưng thường con dâu vẫn không được ngồi ngang hàng hoặc ăn cùng mâm với bố chồng, anh chồng. Bố chồng, anh chồng không vào buồng con dâu, em dâu. Khi nhà có khách vợ và con gái thường ngồi ăn riêng ở mâm bên dưới nhà.

  • Nghi lễ trong sinh đẻ nuôi dạy con cái Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

Trước đây do quan niệm cần nhân lực để lao động, làm ra nhiều của cải, để có người nối dõi tông đường, hưởng gia tài nên người Tày thích sinh nhiều con đặc biệt là con trai. Khi phụ nữ mang thai, với mong muốn đứa trẻ khỏe mạnh họ kiêng kị nhiều thứ, trước khi ăn cơm người phụ nữ phải uống một chén nước để sau này dễ sinh, nước ối sẽ ra trước khi đứa trẻ đẻ ra, không phải đẻ khan.

Việc mang thai khiến người phụ nữ trở nên yếu đuối và mệt nhọc nên để bảo vệ bản thân và đứa con họ phải tuân theo những lời của người đi trước. Khi biết có đám tang đi qua đường mà lỡ gặp thì họ phải đứng nép vào một góc xa bên đường. Nếu đứng gần quá sợ vía của mình yếu sẽ bị vía của người chết bắt đi. Người Tày thường cho rằng “lúc mang thai vía của đàn bà yếu hơn vía người khác, trường hợp xấu không may về nhà bị ốm thì phải mời thầy mo (pú mo) hoặc bà then (pú then) về làm lễ giải hạn. Khi đi đường tránh bước qua dây buộc ngựa, buộc trâu, con dao, cái chày nếu không làm như vậy sau này khi con sinh ra sẽ bị dị dạng dài như cái dây thừng và xấu xí như cái chày. Khi người phụ nữ đến ngày đẻ thì phải đẻ ở bên nhà chồng không được về nhà mẹ đẻ, sau khi sinh phải đúng 42 ngày mới được sang nhà ngoại.

Trước đây người Tày có tập quán ngồi sinh trong buồng, có bà đỡ đến đỡ, mẹ và các chị em chăm giúp. Sau khi sinh nhau thai và cuống rốn được thả xuống suối với quan niệm như vậy để đứa trẻ mát, dễ nuôi. Ngày nay đa phần các chị em đều đến trạm y tế để sinh và được chăm sóc sau khi sinh tránh những trường hợp rủi ro đáng tiếc. Ngay sau khi người phụ nữ sinh nhờ một người nam giới khỏe mạnh, tháo vát, làm ăn giỏi đi lên nhà thăm hỏi đứa trẻ với mong muốn sau này đứa trẻ cũng khỏe mạnh giỏi giang như vậy. Sau khi đứa trẻ ra đời được ba ngày thì cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà Mụ. Sinh nở xong 2 đến 3 tuần thậm chí hơn một tháng bà mẹ mới được tắm bằng nước lá đun sôi, nếu tắm sớm khi cơ thể còn yếu sau này sức khỏe không đảm bảo hay sợ nước, sợ lạnh.

Khi đứa trẻ được một tháng tuổi người Tày có tục làm đầy tháng cho đứa trẻ. Theo tập tục cổ truyền của đồng bào Tày ở đây lễ đầy tháng là nghi lễ không thể bỏ qua đối với bất kì một đứa trẻ nào khi được sinh ra. Người Tày làm lễ cho cháu bé trai vào ngày 25 tính từ ngày sinh và cho cháu bé gái vào ngày thứ 30. Ngày lễ mang ý nghĩa là mừng cháu bé khỏe mạnh hay ăn chóng lớn mừng phúc đức cho gia đình đồng thời mang ý nghĩa là báo với bà mụ là đứa con của bà mụ ban cho đã ra đời được khỏe mạnh, xin bà mụ tiếp tục phù hộ bảo vệ, che chở cho đứa trẻ ngày càng chóng lớn trưởng thành. Khi đứa trẻ tròn một năm tuổi thì làm lễ đầy năm mời họ hàng gần gũi đến làm cỗ ăn mừng. Trong quá trình nuôi dưỡng nếu đứa trẻ bị ốm đau việc đầu tiên là mời thầy cúng giải bệnh xem đó là do ma nào làm hại và làm mâm cơm để cúng ma đó. Bên cạnh đó người Tày có nhiều kinh nghiệm trong việc dùng thuốc nam để chữa trị bệnh cho đứa trẻ nhưng hiện nay phần lớn khi đứa trẻ bị bệnh đều được đưa đến trạm xá để điều trị. Người mẹ sẽ là người trực tiếp nuôi dạy con cái.

  • Nghi lễ cưới xin Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

Hôn nhân của người Tày được quy định khá sớm vì vậy đồng bào thường kết hôn ở độ tuổi 16 đến 18. Ngày nay tuổi kết hôn đã được nâng lên theo quy định của luật hôn nhân và gia đình. Trước đây để có thể tiến hành nghi lễ hôn nhân phải trải qua rất nhiều thủ tục rườm rà phức tạp. Ngày nay các nghi lễ đã được giảm bớt nhưng về cơ bản người Tày vẫn giữ được những nét truyền thống trong hôn nhân. Các nghi lễ trong hôn nhân gồm :

Lễ dạm hỏi: nhà trai xin ngày, tháng, năm sinh của cô gái sau đó nhờ thầy tử vi xem số mệnh của cô gái có hợp với chàng trai hay không. Nếu hợp nhà trai sẽ đến xin làm lễ dạm, nếu không hợp cũng phải báo cho nhà gái biết.

Lễ trầu cau: Nhà trai nhờ một người nam giới trong họ có uy tín sang nhà gái bàn việc trăm năm cho đôi trẻ. Tại lễ này nhà trai xin bản lục mệnh của cô gái được ghi chép cẩn thận trên giấy hồng điều đủ 12 cung như cung bản mệnh, cung phụ mẫu… khi bản lục mệnh của cô gái đã trao chính thức cho nhà trai thì coi như hai bên đã công nhận sự đính hôn của đôi trẻ. Nếu sau này vì một lý do nào đó hai bên không cưới gả con cho nhau được thì nhà trai phải trả lại tấm giấy lục mệnh cho nhà gái, kèm theo gánh lễ vật để nhà gái mời khách đến dự lễ hủy bỏ lễ dạm hỏi trước đây và sau đó cô gái mới được quyền nhận lời lấy người khác.

Lễ kê khai: thường được diễn ra trước lễ cưới 2 đến 3 tháng để hai gia đình có thời gian chuẩn bị chu đáo cho hôn lễ. Nhà gái sẽ mời họ hàng đến bàn bạc về lễ thách cưới. Sau đó sẽ trao cho nhà trai một bản kê khai các lễ vật cần mang đến.

Đám cưới: nghi lễ trong đám cưới của người Tày khá cầu kỳ nhưng vì quan niệm của họ nếu thiếu nó cô dâu chú rể sẽ khó có được một cuộc sống hạnh phúc. Nếu làm cho gia tiên và các vị thần phật lòng không chỉ những người trong nhà gặp phải những điều xui xẻo mà việc sinh nở, hay cuộc sống gia đình của cô dâu sẽ không tránh khỏi những bất trắc. Theo phong tục gia đình có con gái từ 10 tuổi trở lên phải trồng bông dệt vải, khi cô dâu về nhà chồng phải chuẩn bị cho ông bà nội, ngoại, bố mẹ chồng, cô, dì, chú, bác bên chồng mỗi gia đình một đôi gối, một cái chăn bông. Nếu anh em chưa có gia đình thì mỗi người sẽ được cô dâu tặng một cái chăn và một cái gối. Đồng thời cô dâu còn phải chuẩn bị đầy đủ mọi dụng cụ phục vụ sinh hoạt và lao động sản xuất để đem về nhà chồng. Cô dâu trong ngày cưới mặc áo dài đen, váy đen, vấn tóc trong vành khăn. Nhưng ngày nay cô dâu cũng đã mặc trang phục lễ cưới như người Kinh. Trước khi nhà trai đi đón dâu phải làm lễ cúng tổ tiên.

Lễ lại mặt: ba ngày sau lễ cưới đôi vợ chồng mang lễ lại mặt đến nhà gái, tới nhà gái chú rể phải tự tay nấu 4 – 5 mâm cơm cảm ơn họ hàng nhà gái để một lần nữa nhận biết họ hàng. Kết thúc buổi lễ lại mặt đôi vợ chồng trẻ mới được động phòng và bắt đầu cuộc sống lứa đôi. Ý nghĩa của lễ lại mặt là để gia đình nhà gái yên tâm họ đã gả con gái cho người có thể nhờ cậy.

Đám cưới chính là sự thừa nhận của hai cộng đồng bản làng với cuộc hôn nhân của đôi nam nữ. Ngày nay người Tày có sự thay đổi về mặt nhận thức và quan niệm sống. Vai trò của người phụ nữ đã được đề cao. Thanh niên nam, nữ được tự do tìm hiểu nhau, tự do hôn nhân trên cơ sở tình yêu đôi lứa không còn bị ràng buộc khắt khe như trước nữa. Trong cuộc sống mới hôm nay, tục cưới xin của người Tày ở đây tuy có nhiều thay đổi nhưng vẫn lưu giữ được những nét văn hóa truyền thống đặc trưng của địa phương. Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

  • Nghi lễ mừng thọ

Là nghi lễ dành cho những người cao tuổi, tổ chức nhiều vào dịp xuân trong năm. Với ý nghĩa cầu chúc cho ông, bà luôn khỏe mạnh, sống xum vầy cùng con cháu. Đây là một trong những sinh hoạt văn hóa truyền thống tốt đẹp, thể hiện sự quan tâm của con cháu và cộng đồng đối với người cao tuổi. Nghi lễ mừng thọ gồm: Dựng lương: trong nhà dựng một đàn cúng dưới chân bàn thờ, bên cạnh lập một cái lầu váng cao chừng 40cm, để đựng gạo và tiền do con cháu mang đến.

Chuyển lương: bà then niệm chú vào thúng gạo rồi xúc gạo vào bát kèm theo vàng mã và ít tiền lẻ đưa cho con cháu truyền tay nhau để vào lầu váng.

Dâng rượu, đốt đèn: ông, bà ngồi bên lầu váng con cháu dâng rượu, bà then đọc lời cầu các thần chứng giám. Hết một chầu hát then, các con thứ vái rồi rót rượu trước lầu. Sau đó người ta đốt đèn tượng trưng tinh anh phát sáng, tinh thần minh mẫn.

Hoàn phúc: lầu váng đã đầy gạo, số lương dư trong thúng lẫn với những đồng tiền được bà then ban lại để cho con cháu coi như lộc của ông bà, bố mẹ.

Làm lường: (buộc lương) anh con rể lần lượt dùng ba sợi chỉ ba màu se sẵn buộc lầu váng vào cây thượng lương để xin cho ông bà được sống lâu.

Trồng cây mệnh: cây mai hoặc cây chuối được tượng trưng cho sức khỏe của ông bà sẽ được mang ra vườn trồng và chăm sóc chu đáo.

  • Nghi lễ tang ma

Đám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Khi gia đình có người chết con cháu phải nhịn ăn đến khi khâm liệm xong. Gia đình có tang mà người chết là bố hoặc mẹ đẻ bên nhà chồng thì cả hai vợ chồng đều phải đi đưa tang, nếu người phụ nữ đang có bầu vẫn phải đi nhưng khi hạ huyệt đều phải đứng cách xa, nếu có thể thì xin về trước. Khi quay trở về con cháu không được khóc. Thầy cúng ở lại sau cùng để làm các thủ tục cúng yên mộ, không cho vong quay trở về theo con cháu.

Sau ba năm chôn cất làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên, hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định

2.2.2.5. Văn hóa ẩm thực Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

Món ăn thức uống của mỗi dân tộc thực sự là một sáng tạo văn hóa độc đáo của dân tộc đó và trở thành văn hóa truyền thống phản ánh trình độ văn hóa, văn minh dân tộc, trình độ phát triển sản xuất, trình độ kĩ thuật của xã hội trải qua các thế hệ.

Bình Liêu không chỉ có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp mà dân tộc Tày nơi đây còn có những món ăn hấp dẫn được lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Gạo là lương thực chính của người Tày, trước kia người Tày ăn nếp là chính nên hầu như gia đình nào cũng có chõ đồ xôi. Nay trong các bữa ăn gạo tẻ thường được sử dụng nhiều hơn, còn gạo nếp chỉ để đồ xôi, làm một số loại bánh vào dịp lễ tết, trong đó đặc biệt phải kể đến món:

  • Xôi đỏ đen (xôi đăm đeng)

Không chỉ có hai màu đỏ đen như tên gọi, loại xôi này còn có rất nhiều màu sắc hấp dẫn, bắt mắt do bàn tay khéo léo của người phụ nữ Tày làm nên. Đây được coi như là một món ăn truyền thống cho những dịp lễ tết, giỗ chạp…

Sở dĩ món xôi này trở nên độc đáo bởi cách chế biến rất riêng của nó. Xôi được làm từ thứ gạo nếp ngon, hạt to tròn, thơm, loại gạo chỉ có trên nương rẫy, mỗi năm một vụ cấy hái. Song để có những màu sắc sặc sỡ đẹp mắt lại càng công phu. Người ta đem gạo nếp ngâm với nước màu lấy từ cây trong rừng, gạo đó khi vớt lên đã ngấm màu cho vào chõ đồ chín là được. Xôi có màu đỏ, tím, vàng, đen, trắng, xanh… rất thơm và dẻo. Độc đáo ở chỗ tất cả các màu sắc ấy không tạo ra bằng phẩm màu mà lấy từ hương sắc cỏ cây. Nguyên liệu tạo màu cho xôi là loại lá được dân tộc Tày gọi là lá cẩm. Để xôi có đủ màu người ta phải lên rừng hái rất nhiều loại lá nữa. Xôi đăm đeng có mùi thơm rất riêng, phảng phất hương vị núi rừng không hề lẫn với loại xôi nào khác, hạt xôi bóng, không ướt, khi nguội se lại nhưng vẫn mềm không cứng. Có thể ăn kèm với muối lạc. Người Tày quan niệm trong các ngày lễ, ngày tết việc ăn xôi đăm đeng sẽ mang lại nhiều may mắn, tốt lành.

  • Bánh chưng dài Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

Thường được gói vào ngày tết, hàng năm cứ khoảng vào ngày 27 – 28 Tết nguyên đán là đồng bào Tày Bình Liêu lại gói bánh chưng dài. Gạo để gói bánh phải là loại gạo nếp thơm, nhân bánh có thể là thịt lợn, đỗ xanh hoặc chỉ là lá màu để làm xôi. Lá dong để gói bánh không cần lá to, chỉ là loại lá dong bánh tẻ và khi gói không cần khuôn. Khi chuẩn bị hết nguyên liệu xong, xếp lá dong quay đầu đuôi sau đó đổ một bát gạo nếp lên rồi cho nhân tiếp đó lại cho gạo, cuối cùng lăn tròn và buộc lạt lại cho chắc. Chiếc bánh có đường kính khoảng 8cm. Bánh luộc khoảng 10 tiếng rồi vớt ra để ráo nước. Bánh chưng có màu xanh của lá dong, mùi thơm của gạo và vị béo của thịt lợn. Gia đình người Tày nào cũng gói nhiều bánh chưng, ít thì hơn chục cái, nhiều thì hai, ba chục cái vì bánh chưng dài để được lâu và ít bị lại gạo nên người ta gói nhiều để có thể ăn qua rằm tháng giêng, khi đó bánh chưng đem rán lên ăn sẽ rất ngon.

  • Bánh coóc mò

Cũng là loại bánh làm từ gạo nếp nhưng nhân chỉ là lá màu. Bánh được gói bằng lá chít, được gói nhiều vào dịp tết nhưng ngày thường nhiều gia đình người Tày vẫn gói để ăn. Bánh có hình chóp nhọn, dài từ 7 đến 10cm, khi ăn có mùi thơm của gạo nếp và nhân lá.

  • Bánh gio

Làm bánh gio đòi hỏi người làm phải khéo tay, gio để làm bánh phải được lọc thật trong, rồi đổ gạo xuống ngâm 6 – 8 tiếng mới có thể gói bánh. Hình dáng bánh gio giống hệt bánh trưng dài nhưng được gói vào tết Đoan ngọ (mùng 5/ 5 âm lịch). Khi ăn bánh gio thì xắt lát nhỏ và chấm với mật ong rừng nguyên chất cũng là đặc sản nổi tiếng của Bình Liêu. Bánh gio ngon phải mịn, dẻo, dai có vị đậm đặc trưng, mát, lành và để được rất lâu.

  • Bánh mật (tài nồng ệp)

Là bánh làm từ bột gạo nếp và đường phên (đường mật). Bột gạo nếp được hòa với nước đường phên đã đun sôi để nguội, nhào cho thật kĩ rồi cho vào khuôn sau đó đem hấp cách thủy. Bánh ngon là loại bánh có màu nâu cánh gián, mịn, có độ ngọt vừa phải, dẻo, dai. Bánh này ăn nguội một chút, nếu để sau 2, 3 ngày khi bánh đã cứng đem rán lên thì rất ngon.

  • Bánh gật gù Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

Là loại bánh tráng tươi, cuốn thành từng cuộn, bánh được tráng bằng bột gạo tẻ, người tráng múc bột đã hòa với nước đổ lên mặt vải bưng kín chiếc miệng nồi hơi, rồi xoa cho nước bột trải ra. Như tráng bánh đa, bánh cuốn nhưng bánh gật gù dày hơn bánh cuốn và mỏng hơn bánh đa. Chu vi của chiếc bánh khoảng 40 – 50cm, người ta cuộn lại thành một chiếc bánh tròn, dài khoảng 25 – 30cm. Nếu cuộn ngắn và to quá thì bánh không gật gù, nếu nhỏ và dài quá thì chiếc bánh gật mà không gù lên được nên đòi hỏi sự khéo tay của người thợ làm bánh. Bánh ăn ngon nhất là sau khi tráng khoảng 1 tiếng, được chấm với nước mắm cốt có hành, tỏi ,ớt, hoặc chấm với nước xì dầu.

  • Khau nhục

Là một huyện biên giới giáp với Trung Quốc nên số người Hoa đã có mặt và sinh sống ở Bình Liêu cũng khá đông, khi sống ở Bình Liêu họ mang theo những tập tục, lề lối và cả các món ăn truyền thống trong đó có khau nhục. Món khau nhục màu nâu đặt trong cái đĩa sâu lòng, lùm xùm như đĩa xôi. Khi nấu nó được đặt trong cái bát tô, hấp chín thì bày ra đĩa bằng cách úp ngược lại. Đó là những miếng thịt ba chỉ cắt miếng dày khoảng 2cm dài 10cm, nhừ, mềm nhưng vẫn còn nguyên miếng, không nát. Khi ăn thì ăn kèm với xôi trắng hoặc cơm nóng. Khau nhục tưởng chừng rất mỡ nhưng lại không béo, thơm hương vị thuốc bắc và đậm đà vừa ăn.

Làm món khau nhục rất cầu kì, công phu, ngay từ khâu chọn thịt phải chọn thịt ba chỉ vừa, không bị béo quá. Mỗi bát khau nhục khoảng 8 – 10 miếng (0,5 – 0,6 kg thịt). Sau khi đã làm sạch thịt ba chỉ người ta cho thịt vào luộc chín tới, vớt thịt ra để cho thịt nguội, sau đó người ta dùng que nhọn đâm chi chít vào phần bì của miếng thịt, châm sau, kĩ để miếng thịt sẽ càng mềm càng ngon hơn. Tiếp theo người ta cho miếng thịt ngâm vào chậu dấm, vớt ra tẩm với húng lìu, xì dầu, mật ong cho ngấm và cho vào chảo mỡ chao cho vàng miếng thịt. Khi miếng thịt đã vàng bỏ ra cho ráo mỡ và để nguội. Khoai lang hoặc khoai môn rửa sạch thái thành lát cũng cho vào chảo mỡ, chao giòn rồi vớt ra để nguội. Gia vị của món khau nhục cũng rất cầu kì, lá tàu soi (một loại rau muối mặn của Trung Quốc) đem rửa kĩ cho hết độ mặn và sạch sạn. Băm nhỏ lá tàu soi làm nhân sau đó dùng gia vị gồm phù nhủi, xì dầu, húng lìu, tỏi giã nhỏ đem trộn đều với lá tàu soi. Xếp lá tàu soi xuống dưới cùng, khoai lang cho lên trên, thái thịt thành từng miếng dày khoảng 2cm, xếp thịt lên đĩa thành hình tròn, úp bát to vào lật lại để nguyên đĩa, xếp bát thịt vào nồi hấp cách thủy khoảng 3 – 4 tiếng để cho thịt chín mềm, nhừ. Khi ăn thì ăn nóng lúc này mùi vị của món khau nhục rất thơm ngon.

  • Nằm quắt Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

Là một món ăn truyền thống của dân tộc Tày, thường làm trong cỗ cưới hoặc các dịp lễ tết. Được làm từ chân giò và móng giò lợn, chân giò và móng giò lợn chặt miếng to bản, đem ướp các loại gia vị như gừng, tiêu, tỏi,… cho ngấm sau đó cho thêm một chút rượu vào rồi đun cho tới khi sền sệt nước là được. Món nằm quắt ngon là khi thịt đã chuyển sang màu vàng ngà, bóng và nhừ vừa phải. Món này cũng ăn cùng với xôi trắng hoặc cơm nóng.

2.2.2.6. Các yếu tố văn hóa phi vật thể khác

  • Tết của người Tày

Tết đến xuân về là đồng bào các dân tộc trong huyện lại nô nức chuẩn bị một cái Tết đầm ấm, vui vẻ, khác với người dân miền xuôi, người miền núi lại có phong tục đón tết rất đặc trưng mang đậm nét văn hóa của dân tộc mình. Với người Tày cũng vậy họ có một cách đón năm mới rất riêng của mình.

Tết nguyên đán là mở đầu cho một năm mới và họ bắt đầu ăn tết từ ngày 28 tháng chạp âm lịch. Những ngày này trai gái trong bản lại khẩn trương trang trí lại nhà cửa, quét dọn sạch sẽ và sắp xếp lại đồ đạc trong nhà để cho gian nhà mới mẻ và ấm cúng hơn. Bước sang ngày 29 người Tày bắt đầu làm thịt lợn và chế biến ra các món ăn: giò, chả, thịt nướng… Tết đến dù nghèo tới đâu cũng phải có bánh chưng tự gói và luộc lấy. Người Tày làm bánh trưng dài, ngày 27 hay 28 các gia đình đã gói bánh… bàn thờ được lau chùi người ta buộc bốn cây mía vào bốn góc bàn thờ, quan niệm đó là cái gậy để tổ tiên chống.

Đêm giao thừa là dịp mà các thành viên trong gia đình quây quần bên nhau để trò chuyện, cùng nhau thưởng thức những món ăn đặc biệt hơn ngày thường và chúc nhau những lời chúc năm mới hạnh phúc, thịnh vượng. Chuẩn bị đón tết còn là dịp cho trai, gái trong bản rủ nhau xuống chợ sắm cho mình những bộ quần áo mới nhất để đi chơi xuân. Ngày tết cũng là cơ hội để cho cả người già, trẻ em, thanh niên nam nữ kéo nhau đi xem các lễ hội vui xuân.

Người Tày coi mùng một Tết là tết riêng của gia đình nên họ kiêng sáng mùng một có người bất kỳ vào nhà. Ngày này họ đóng kín cửa không ai sang nhà ai. Họ chọn người xông nhà là người có đạo đức trong bản, người có phúc lớn, kị nhất là người có tang hoặc bị ma gà ám. Tuy ở trong nhà nhưng ai cũng mặc áo mới và rửa mặt, tay chân bằng nước có ngâm lá bưởi, lá chanh, lá mùi… đun sôi cho thơm để trừ mọi uế tạp. Mọi người không nói to, văng tục, mà nhẹ nhàng, ngọt ngào với mong ước cả năm tới gia đình luôn có không khí đầm ấm yên vui.

Sang mùng hai tết họ sang thăm nhà nhau, và đi lễ tết bên nhà ngoại. Lễ tết bên ngoại tức là sang tết bên bố mẹ vợ để tỏ lòng biết ơn bố mẹ đã sinh thành và nuôi nấng vợ thành người. Nếu chàng rể nhiều tuổi thì có thể không đi cùng vợ nhưng người vợ và các con nhất thiết phải đi.

Tết của người Tày kết thúc vào khoảng sáng mùng 3, tuy vậy cũng như nhiều dân tộc họ thường chơi dài đến hết cả tháng giêng. Mùng 7 họ ra đồng làm một chút mang tính hình thức là chính. Đến ngày 15, họ ăn tết lại gần giống như ăn rằm tháng giêng của người Việt, nhưng người Tày gọi là ăn tết lại.

  • Lễ hội Lồng Tồng Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

Lễ hội lồng tồng cũng thường được gọi là hội xuống đồng, là một lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc Tày, cũng là nét quy tụ những sắc thái đặc trưng nhất của các dân tộc như Nùng, Dao, Sán Chỉ… được coi là hoạt động tín ngưỡng cầu cho mưa thuận, gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, đời sống ấm no. Lễ hội thường được tổ chức vào tháng giêng, tháng hai âm lịch, nơi tổ chức là tại những ruộng to nhất, tốt nhất. Trước ngày hội các gia đình đều quét dọn nhà cửa, xóm bản sạch sẽ, chuẩn bị lương thực để đón khách. Vào ngày lễ, ngoài đồng của bản mỗi gia đình chuẩn bị một mâm cỗ theo khả năng. Lễ khấn cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt được các thầy tào tiến hành.

Trong phần hội gồm các nội dung thi cày, thi cấy với sự tham gia của nam, nữ thanh niên trong bản, ngoài ra còn thi tung còn, đẩy gậy, kéo co… thu hút đông đảo bà con trong huyện và các huyện đến xem nên đã tạo không khí tưng bừng, vui tươi.

  • Tết cơm mới

Người Tày còn có tết cơm mới, tết cơm mới là một nghi lễ nông nghiệp truyền thống, thường được tổ chức vào tháng 10 tháng 11 âm lịch hàng năm và đã trở thành một nét đẹp văn hóa độc đáo cần được lưu giữ và bảo tồn. Đây còn là phong tục truyền thống đã được lưu truyền tự nhiên từ đời này sang đời khác. Tết cơm mới với ý nghĩa tổng kết một năm sản xuất dâng thành quả lao động cho trời đất, cầu mưa thuận gió hòa, làm ăn phát đạt, mùa màng tươi tốt, con cháu khỏe mạnh và bày tỏ sự tôn kính lên ông bà tổ tiên đã khuất.

Đồ lễ cúng là những sản vật do người dân tự săn bắt, nuôi, trồng cấy, được chế biến theo nguyên tắc riêng, độc đáo. Món ăn không thế thiếu là cơm nếp được nấu từ gạo mới, gia chủ mời anh em họ hàng, bạn bè thân thiết cùng tới dùng bữa.

2.3. Tiểu kết chương 2

Dân tộc Tày với những nét đặc sắc trong văn hóa của mình thực sự đã tạo được dấu ấn riêng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Bình Liêu. Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu.

Chương II của khóa luận đã khái quát về sự hình thành và thực trạng đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội của dân tộc Tày ở Bình Liêu. Những nét đặc trưng văn hóa được thể hiện trong chính đời sống sinh hoạt thường ngày của họ, đã tạo nên bản sắc độc đáo và đa dạng của tộc người Tày có thể khai thác để phát triển du lịch văn hóa. Trên cơ sở phân tích những đặc trưng trong văn hóa của họ để từ đó đưa ra những đánh giá thuận lợi cũng như hạn chế trong việc phát triển du lịch văn hóa tộc người ở nơi đây. Từ đó đề ra những định hướng và giải pháp để đưa du lịch phát triển ở Bình Liêu.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Phát triển du lịch văn hóa của người Tày ở Bình Liêu

One thought on “Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu

  1. Pingback: Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537