Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu (Quảng Ninh) để khai thác phát triển du lịch dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Việt Nam có 54 tộc người anh em cùng chung sống trên khắp mọi miền của tổ quốc, mỗi tộc người đều có sắc thái và đặc trưng văn hóa của riêng mình, nên những sắc thái văn hóa khác nhau góp phần tạo nên một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

Trong điều kiện hiện nay một số giá trị văn hóa của tộc người thiểu số hoặc bị mai một hoặc bị lai tạp một cách tự nhiên,do đó đầu tư cho bảo tồn và phát huy văn hóa của các tộc người thiểu số là một việc làm hết sức cần thiết.

Trong những năm gần đây du lịch tới các vùng dân tộc thiểu số (Ethnictourism) đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Các tộc người thiểu số thường có tập tục, lối sống cũng như nền văn hóa đặc sắc. Việt Nam rất có lợi thế trong việc phát triển du lịch đến các vùng có tộc người thiểu số sinh sống, lợi thế đó được phát huy trong sự bảo lưu những nét sơ khai của văn hóa, trong lối sống, phong tục, thói quen canh tác hay trong các nghề thủ công truyền thống. Đặc biệt hơn các nét văn hóa đó lại được hòa quyện với không gian sinh thái tự nhiên hấp dẫn khách du lịch. Ngoài ra nét hấp dẫn của nền văn hóa không chỉ ở tính độc đáo mà chính ở tính thống nhất trong văn hóa cộng đồng tạo nên nhiều mảng màu sắc rực rỡ trong bức tranh toàn cảnh chung của nền văn hóa. Như vậy phát triển du lịch tới các vùng dân tộc thiểu số chính là một loại hình du lịch văn hóa độc đáo của Việt Nam, tuy nhiên việc khai thác các giá trị văn hóa tộc người vẫn chưa được đầu tư đúng mức.

Là một huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Ninh, Bình Liêu có 96,3% dân số là người dân tộc thiểu số trong đó 58,3% là dân tộc Tày với những giá trị văn hóa phong phú, độc đáo chứa đựng tính nhân văn cao cả hấp dẫn du khách đến khám phá và tìm hiểu văn hóa nơi đây. Sinh ra và lớn lên tại huyện miền núi Bình Liêu em có nhiều cơ hội tiếp xúc với nhiều tộc người thiểu số, đặc biệt là tộc người Tày, Em nhận thấy các giá trị văn hóa của tộc người Tày nơi đây rất phong phú và đa dạng nhưng đang bị lai tạp, mai một và dần mất đi những nét đẹp truyền thống, trong khi đó những nét đẹp này lại chính là bản sắc văn hóa của họ và là tài sản quý giá của dân tộc. Do vậy cần có chính sách bảo tồn và sử dụng những giá trị văn hóa một cách hợp lý để phục vụ phát triển du lịch đồng thời nâng cao đời sống còn nhiều khó khăn của đồng bào nơi đây. Vấn đề đặt ra là làm như thế nào để đánh giá đúng thực trạng tài nguyên du lịch văn hóa của huyện và thông qua đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị và các giải pháp để có thể đưa Bình Liêu trở thành một khu du lịch gắn với Quảng Ninh góp phần để hoạt động du lịch ở Quảng Ninh ngày càng mở rộng và phát triển. Với thực tế nói trên và với mong muốn huyện Bình Liêu thực sự trở thành một điểm đến du lịch trong tương lai không xa, được sự giúp đỡ của Tiến sĩ Dương Văn Sáu em đã chọn đề tài “Tìm hiểu văn hóa của người Tày ở huyện Bình Liêu (Quảng Ninh) để khai thác phát triển du lịch” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2. Mục đích nghiên cứu

Đề tài giới thiệu khái quát về bức tranh văn hóa dân tộc Tày ở huyện Bình Liêu cũng như tiềm năng sẵn có có thể khai thác để khai thác phát triển du lịch.

Về mặt thực tiễn, chỉ ra các điều kiện phát triển du lịch của dân tộc Tày ở Bình Liêu (Quảng Ninh). Đưa ra các phương án phục hồi và bảo tồn các giá trị văn hóa của người Tày tại nơi đây. Kiến nghị với chính quyền các cấp, ngành du lịch, văn hóa và các ngành liên quan phối hợp chỉ đạo nhằm bảo tồn, khai thác các giá trị văn hóa của tộc người Tày ở đây nhằm phát triển du lịch.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu các yếu tố văn hóa của người Tày ở huyện Bình Liêu để qua đó có thể khai thác các yếu tố văn hóa đó cho phát triển du lịch địa phương.

Phạm vi nghiên cứu:

Về mặt nội dung: đề tài chủ yếu nghiên cứu các yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể của người Tày ở Bình Liêu. Về không gian nghiên cứu: địa điểm nghiên cứu là huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh.

4. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài em đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp nghiên cứu thực địa

Đây là một trong những phương pháp quan trọng để nghiên cứu các yếu tố văn hóa nhằm góp phần làm cho kết quả có tính xác thực. Do đó muốn tìm hiểu các yếu tố văn hóa của tộc người Tày ở Bình Liêu thì phương pháp nghiên cứu thực địa đã giúp em hiểu một cách chuẩn xác các giá trị của tài nguyên nhân văn nơi đó. Em đã tận mắt chứng kiến cuộc sống của người dân địa phương nơi đây, em cũng tiếp cận với nhiều người thuộc nhiều lứa tuổi, nhiều cương vị khác nhau để hỏi thăm về các vấn đề liên quan đến cuộc sống của người Tày sau đó em ghi chép, ghi âm và chụp ảnh lại để nghiên cứu sâu hơn vấn đề.

Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu

Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ quá trình làm đề tài. Để thực hiện đề tài này em đã thu thập tài liệu từ các giáo trình chuyên ngành dân tộc học, giáo trình du lịch, văn hóa, dự án, báo cáo tổng kết và tham khảo một số thông tin trên các phương tiện khác nhau.

Sau khi đã có tài liệu trong tay em đã sử dụng các bước phân loại, thống kê, so sánh để lựa chọn được thông tin sát với vấn đề nghiên cứu nhất. Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu.

Hiện nay công nghệ thông tin đã xâm nhập vào rất nhiều lĩnh vực trong đời sống vì vậy trong quá trình hoàn thành khóa luận em cũng đã sử dụng các tài liệu lấy từ Internet sau đó xử lý lại những thông tin đó sao cho phù hợp và chính xác với tình hình thực tế mà mình muốn tìm hiểu.

Phương pháp tham vấn chuyên gia

Để thực hiện đề tài này em đã tham khảo ý kiến của nhiều người trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong ngành du lịch, văn hóa – xã hội, dân tộc học, giảng viên giảng dạy, hướng dẫn nhằm đưa ra những đánh giá mang tính khoa học và chính xác cao nhất.

5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trước bài khóa luận này đã có một số bài khóa luận nghiên cứu về huyện Bình Liêu với nhiều đề tài khác nhau. Tuy nhiên những đề tài này chỉ nghiên cứu chung về huyện, về các dân tộc thiểu số sống trên địa bàn huyện hoặc nghiên cứu về một mảng nào đó trong đời sống tinh thần của họ (hát then cổ của dân tộc Tày, hát soóng cọ của người Sán Chỉ…). Vì vậy bài khóa luận này nhằm đóng góp những nét đặc trưng về văn hóa của người Tày ở huyện Bình Liêu để khai thác phát triển du lịch.

6. Dự kiến kết quả sẽ đạt được

Bài khóa luận khái quát được toàn cảnh huyện Bình Liêu, đời sống văn hóa của dân tộc Tày sống trên địa bàn huyện, đánh giá được những thuận lợi và khó khăn cho việc phát triển du lịch ở đây.

Khóa luận cung cấp cái nhìn tổng quan về huyện Bình Liêu với những điều kiện tự nhiên và xã hội, với đặc trưng văn hóa của người dân tộc Tày ở nơi đây. Đề xuất những biện pháp khai thác các giá trị văn hóa của người Tày để phát triển du lịch văn hóa.

Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng, Khóa luận cũng đề xuất những biện pháp cụ thể trong việc bảo tồn phát huy và khai thác những giá trị văn hóa của người Tày nói riêng, nhân dân các dân tộc huyện Bình Liêu nói chung để xây dựng đời sống văn hóa mới đồng thời khai thác có hiệu quả những giá trị đó để phát triển du lịch.

7. Bố cục đề tài Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu.

Ngoài lời cảm ơn, phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục khóa luận gồm 3 chương :

  • Chương 1: Bình Liêu (Quảng Ninh) trong cảnh quan chung của miền Đông bắc.
  • Chương 2: Văn hóa của người Tày ở Bình Liêu (Quảng Ninh).
  • Chương 3: Khai thác các yếu tố văn hóa của người Tày để phát triển du lịch văn hóa ở Bình Liêu (Quảng Ninh).

Chương 1 BÌNH LIÊU (QUẢNG NINH) TRONG CẢNH QUAN CHUNG CỦA MIỀN ĐÔNG BẮC

1.1. Khái quát về huyện Bình Liêu (Quảng Ninh)

1.1.1. Vài nét về sự hình thành

Bình Liêu cũng như các địa phương khác của cả nước có một quá trình lịch sử hình thành và phát triển lâu dài. Xưa Bình Liêu thuộc Châu Tiên Yên, ngày 16/12/1919 (Kỷ Mùi, Khải Định năm thứ 4) Phủ toàn quyền ra nghị định tách hai tổng Bình Liêu và Vô Ngại của Châu Tiên Yên lập thành Châu Bình Liêu thuộc phủ Hải Ninh trong đạo quan binh thứ nhất, sau là tỉnh Hải Ninh.

Đồng bào các dân tộc ở Bình Liêu có truyền thống đánh giặc giữ nước từ lâu đời, có truyền thuyết về những “hòn đá thần” có tiếng vang làm quân giặc bên kia biên giới gục ngã, lại có chuyện những người dũng sĩ cưỡi ngựa đánh giặc nay còn ghi dấu ở nhiều địa danh như Bãi Giáo, Mạ Trạt (ngựa trượt) và chuyện về giống tre mọc ngược do lời thề của người dũng sĩ khi chống gậy dừng chân. Sử sách còn ghi lại những trận đánh đuổi giặc cướp từ bên kia biên giới tràn sang, nhất là cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX – những năm đầu thời Nguyễn bên kia là thời nhà Thanh.

Trong thời thuộc Pháp từ đồn Bình Liêu, viên đội người Tày Thàm Cam Sláy thường gọi là Đội Sáng đã tổ chức binh sĩ làm binh biến. Được nhân dân hưởng ứng sau khi đánh đồn Bình Liêu nghĩa quân ra vùng rừng núi phía Đông lập căn cứ, căn cứ mở rộng đến vùng núi phía bắc Hà Cối và vùng núi PanNai của Móng Cái. Lực lượng đông dần lên tới vài trăm người đã nhiều lần tập kích cả đồn Hà Cối và uy hiếp Móng Cái. Cuộc khởi nghĩa kéo dài gần 2 năm, chấn động cả vùng Đông Bắc, từ cuối năm 1917 đến giữa năm 1919 mới chịu thất bại.

Đến cách mạng tháng 8 khi sĩ quan Nhật vừa rút chạy, nhân dân Bình Liêu và binh lính đồn Bình Liêu đã nô nức chào đón Việt Minh. Tháng 11/1945 Bình Liêu thành lập chính quyền cách mạng. Giữa năm 1946 bọn Việt Cách theo quân chân Tưởng tràn vào Bình Liêu và đầu 1947 quân Pháp quay lại chiếm đóng, nhân dân Bình Liêu lại kiên cường kháng chiến. Cùng với chiến dịch Biên Giới ngày 25/12/1950 quân đội ta vây đánh đồn Bình Liêu, buộc quân Pháp rút chạy Bình Liêu được hoàn toàn giải phóng và trở thành căn cứ kháng chiến của tỉnh Hải Ninh. Các cơ quan đầu não của tỉnh từ đây tiến về các huyện đẩy mạnh chiến tranh du kích. Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu.

Từ khi hiệp định Pari được kí kết (27/01/1973) về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Việt Nam. Nhưng đến cuối năm 1976 quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc lại diễn ra hết sức phức tạp. Trung Quốc tiến hành lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam. Năm 1978 – 1979 hàng vạn người Hoa ở Việt Nam về nước. Đầu tháng 2 năm 1979 Trung Quốc tiếp tục vận chuyển nhiều phương tiện chiến tranh ra sát biên giới, đào thêm công sự, bố trí trận địa, tỏ rõ ý đồ tấn công ta. Ngày 17/02/1979 Trung Quốc tấn công ta dọc biên giới phía Bắc hướng Bình Liêu, chúng dùng binh bộ chiếm cao điểm Cao Ba Lanh và một số điểm khác ở Đồng Văn và Hoành Mô. Toàn dân và chính quyền huyện Bình Liêu đã kết hợp với lực lượng dân quân đã chống trả quyết liệt tiêu hao nhiều sinh lực địch bảo vệ biên giới chặn đứng cuộc xâm lược của đối phương trả lại bình yên cho quê hương.

1.1.2. Vị trí địa lý

Bình Liêu là huyện miền núi nằm ở phía đông bắc tỉnh Quảng Ninh, cách thành phố Hạ Long 130km có tọa độ địa lý từ 210 27’đến 210 29’vĩ độ Bắc và từ 1070 17’ đến 1070 36’ kinh độ Đông. Phía bắc giáp với Sùng Tả và Phòng Thành cảng, Quảng Tây Trung Quốc (với 42,9km đường biên giới). Phía đông giáp huyện Hải Hà. Phía nam giáp với huyện Đầm Hà và Tiên Yên. Phía Tây giáp huyện Đình Lập tỉnh Lạng Sơn.

1.1.3. Điều kiện tự nhiên

1.1.3.1. Tài nguyên thiên nhiên

  • Địa hình đất đai

Bình Liêu là huyện miền núi có địa hình núi non trùng điệp với tổng diện tích tự nhiên là 471,38km2 phía đông có nhiều dãy núi cao, cao nhất là ngọn Cao Xiêm cao1330m và ngọn núi Cao Ba Lanh cao 1050m.

Đất nông nghiệp rất hẹp hơn 7000ha chiếm 15,6% tổng diện tích đất đai toàn huyện. Trong đó hơn 4000ha là đồi cỏ có thể chăn thả đại gia súc, đất cấy lúa và trồng hoa màu chỉ có hơn 2000ha chủ yếu là ruộng bậc thang trải dài theo các thung lũng, vườn đồi, bãi bồi ven sông. Đất lâm nghiệp chiếm 70% diện tích đất toàn huyện phù hợp với trồng một số loại cây đặc sản như hồi, quế, trẩu, sở và các loài cây lấy gỗ như sa mộc, thông, keo và một số cây ăn quả.

  • Khí hậu Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu.

Bình Liêu không cách xa biển nhưng chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa, do bị che chắn bởi các dãy núi cao vì vậy khí hậu ở đây có bốn mùa rõ rệt, mùa đông lạnh và kéo dài có khi xuống tới 40c, thường có sương muối.

Nhiệt độ trung bình từ 17 – 220 c. Lượng mưa trung bình hàng năm trên 2400mm, năm cao nhất lên đến hơn 3000mm, năm thấp nhất là hơn 1000mm. Số ngày mưa trong năm trung bình là 165 ngày, mùa mưa nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 10, mưa ít từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Độ ẩm không khí tương đối cao trên 80% phụ thuộc vào độ cao, địa hình và phân hóa theo mùa, mùa nhiều mưa có độ ẩm không khí cao hơn mùa ít mưa.

  • Tài nguyên nước

Bình Liêu có nhiều sông suối phần lớn đổ về sông Tiên Yên được bắt nguồn từ Trung Quốc. Trên đất Bình Liêu sông Tiên Yên là đoạn thượng nguồn lưu lượng bình quân 21,3/s (khoảng 609 triệu m3/năm). Lòng suối dốc, nhiều ghềnh mùa khô có thể lội qua được ở nhiều đoạn, mùa mưa lũ nước dâng rất nhanh, chảy dữ dội gây khó khăn cho việc đi lại.

Nước ngầm: có trữ lượng lớn, đảm bảo được nhu cầu nước cho đời sống sinh hoạt và sản xuất của nhân dân đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp.

Chất lượng nước: chất lượng môi trường nước mặt và nước ngầm còn tương đối tốt, ít bị ảnh hưởng tác động từ môi trường bên ngoài.

Nhờ có sông suối và địa hình núi cao không những chỉ cung cấp nước cho nhân dân Bình Liêu mà còn tạo ra nhiều dòng thác đẹp như thác Khe Vằn, Khe Tiền…

  • Động – thực vật Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu.

Động thực vật rất phong phú về chủng loại, trên rừng thực vật có 1020 loài thuộc 6 ngành và 171 họ, một số ngành lớn như Mộc lan 951 loài, ngành Dương Xỉ 58 loài, ngành Thông 11 loài.

Động vật có khoảng hơn 120 loài trong đó lưỡng cư 11 loài, bò sát 5 loài, chim 67 loài, thú 34 loài.

  • Khoáng sản

Trong lòng đất Bình Liêu có nhiều quặng quý hiếm như vàng ở Bản Ngày (xã Vô Ngại), quặng chì, kẽm ở Ngàn Phe (xã Đồng Tâm) song hàm lượng thấp nên chưa được khai thác. Riêng nguyên liệu chịu lửa Alumin có một trường quặng lớn gồm 3 thân quặng chính tổng trữ lượng ước tính 35 triệu tấn. Ở phía Bắc có mỏ đá Grannit aplit chưa được khai thác. Hiện nay mới chỉ khai thác mỏ quặng Bô-xit ở xã Vô Ngại.

1.1.3.2. Điều kiện kinh tế-xã hội

  • Dân cư

Bình Liêu có nhiều dân tộc sinh sống, dân số toàn huyện trong đợt tổng điều tra ngày 01/4/1999 là 25.626 người song dân cư thưa thớt, mật độ dân số là người/km2 (1999),chủ yếu là dân tộc thiểu số chiếm 96% dân số toàn huyện. Bình Liêu có 5 dân tộc chính:

  • Đông nhất là người Tày chiếm 58,4% dân số toàn huyện, sống tập trung thành bản làng ở vùng thấp và thị trấn.
  • Người Dao chiếm 25,6% chủ yếu tập trung ở xã Đồng Văn và Hoành Mô.
  • Người Sán Chay chiếm 15,4% đông nhất ở xã Húc Động.
  • Người Kinh chiếm 3,7%.
  • Người Hoa chiếm 0,3%.
  • Bình Liêu là huyện có dân tộc Tày đông nhất tỉnh Quảng Ninh

Kinh tế-xã hội Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu.

Kinh tế bình Liêu gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp, thương mại và dịch vụ tuy nhiên huyện có thế mạnh về phát triển lâm nghiệp trồng Hồi, Quế, Trẩu, Sở, cây lấy gỗ như Sa mộc, Thông, Keo…

Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm đã được chính quyền quan tâm nhưng số lượng vẫn còn ít, những năm trước đây ở Bình Liêu còn có nghề trồng Dâu, nuôi Tằm, dệt tơ nhưng hiện nay đã suy giảm nhiều.

Trước đây kinh tế địa phương gặp nhiều khó khăn vì đi lại xa xôi, đất đai canh tác lại ít chủ yếu là đất rừng vì thế kinh tế Bình Liêu chủ yếu là nông – lâm nghiệp. Giao thông đi lại, vận chuyển chỉ có quốc lộ 18C từ Tiên Yên lên Bình Liêu chạy dọc huyện men theo thung lũng Tiên Yên và tận cùng là cửa khẩu Hoành Mô.

Thực hiện công cuộc đổi mới các cấp lãnh đạo huyện đã chú trọng chỉ đạo thực hiện phát triển kinh tế theo hướng nông – lâm nghiệp, thương mại, dịch vụ, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, đẩy nhanh kinh tế hàng hóa và chú trọng kinh tế cửa khẩu. Theo định hướng đó song hành cùng sự đầu tư cho nông – lâm nghiệp là việc đẩy mạnh phát triển thương mại dịch vụ và kinh tế cửa khẩu. Huyện đã khai thác lợi thế địa phương như sản phẩm cây đặc sản: hồi, quế và chế biến miến dong…

Miến dong là một sản phẩm truyền thống đặc trưng của bà con dân tộc huyện Bình Liêu, miến được sản xuất từ củ dong riềng được trồng trên những thửa ruộng, rẫy và ruộng bậc thang tại vùng đất Bình Liêu từ tháng 3 tới tháng 11 trong năm. Trước đây miến dong được bà con sản xuất theo phương pháp thủ công và chỉ phục vụ cho gia đình, ít được đem bán. Hiện nay nhờ dự án đầu tư của nhà nước, nghề sản xuất miến dong ở Bình Liêu rất phát triển, vùng nguyên liệu được mở rộng bà con đưa máy móc, công nghệ vào sản xuất chế biến làm sản lượng miến dong tăng lên và miến dong Bình Liêu đã được khẳng định trên thị trường là sản phẩm có chất lượng và trở thành đặc sản của Bình Liêu.

Xác định tầm quan trọng của nông nghiệp trong việc phát triển kinh tế, huyện đã từng bước đưa những ứng dụng khoa học công nghệ vào chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ, phát triển kinh tế trang trại… tại địa phương. Trong canh tác lúa để nâng cao giá trị sản xuất huyện đã đưa các giống lúa thuần, lúa lai vào ruộng đồng phù hợp với điều kiện của địa phương nên đem lại năng suất cao hơn, từ đó mở rộng diện tích canh tác. Cùng với trồng lúa bà con nông dân được hướng dẫn kĩ thuật trồng một số loại cây rau vụ đông có hiệu quả giúp nguồn thu nhập của nông dân ngày càng tăng. Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu.

Trong lĩnh vực lâm nghiệp vốn được coi là một trong những thế mạnh của địa phương, hàng năm huyện đều đề ra các chỉ tiêu tăng diện tích trồng rừng. Tính trung bình mỗi năm số lượng cây giống được gieo tạo khoảng 2 triệu cây. Bên cạnh đó huyện thực hiện các biện pháp chăm sóc, tu bổ, khoanh nuôi rừng để đảm bảo duy trì và phát triển nguồn lợi lâm sản. Trong 2 năm gần đây tổng diện tích trồng rừng toàn huyện đạt trên 4000ha, bình quân mỗi năm trồng mới trên 2000ha, trong đó thông Mã Vĩ chiếm 57% diện tích rừng trồng hàng năm, cây Keo chiếm 30%, còn lại là các giống cây khác đến nay độ che phủ rừng đạt 45,1%. 90% số hộ trên địa bàn huyện nhận đất rừng để sản xuất và bảo vệ, nhờ đó thu nhập của người trồng rừng từng bước được cải thiện, nhiều hộ gia đình có thu nhập từ trồng rừng đạt 60 – 80 triệu đồng/năm. Nhờ có những bước đi đúng đắn sản xuất nông – lâm nghiệp trong những năm qua của Bình Liêu đã có những bước phát triển đáng mừng. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp trong những năm gần đây có tốc tăng trưởng bình quân trên 3%/năm, sản xuất lâm nghiệp trên 5,6%/năm.

Trong những năm qua hoạt động thương mại luôn phát triển khá. Tổng số hộ kinh doanh trên địa bàn huyện là 420 hộ tăng 148 hộ so với năm 2002. Các chợ trên địa bàn đáp ứng được nhu cầu giao lưu hàng hóa và phục vụ các mặt hàng thiết yếu cho nhân dân. Từ năm 1990 cửa khẩu Hoành Mô mở lại, hàng hóa từ nội địa 2 bên Việt Nam – Trung Quốc giao lưu ngày càng tăng, hoạt động của cửa khẩu đã tạo thêm bước phát triển thương mại và dịch vụ của huyện. Cửa khẩu Hoành Mô chính là một điểm lưu thông quan trọng cho sản phẩm từ cây đặc sản của địa phương với hướng chủ đạo là xuất khẩu sang Trung Quốc. Năm 2009 mặc dù với nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng kim ngạch xuất – nhập khẩu qua cửa khẩu Hoành Mô ước đạt 18 triệu USD trong đó xuất khẩu ước đạt 7 triệu USD.

  • Đơn vị hành chính

Hiện nay huyện Bình Liêu có 8 đơn vị hành chính gồm 7 xã và 1 thị trấn

  • Xã Đồng Văn
  • Xã Tình Húc
  • Xã Hoành Mô
  • Xã Vô Ngại
  • Xã Đồng Tâm
  • Xã Húc Động
  • Xã Lục Hồn
  • Thị trấn Bình Liêu

1.2. Những tiềm năng của huyện Bình Liêu có thể khai thác để phát triển du lịch Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu.

1.2.1. Những tiềm năng sinh thái tự nhiên

1.2.1.1. Thác Khe Vằn

Nằm ở xã Húc Động cách thị trấn Bình Liêu khoảng 15km về phía đông, thác nằm ngay ở đầu suối Lục Ngù được tạo ra từ mạch nguồn trong núi Thông Châu. Thác Khe Vằn có độ cao gần 100m với 3 tầng thác đổ xuống trắng xóa giữa cỏ cây chen đá. Mặt bằng rộng hơn 840m2 mỗi tầng thác rộng khoảng 10-15m2 tạo thành bể nước trong vắt. Đây là một trong những thắng cảnh độc đáo nhất của huyện Bình Liêu.

Tại hội nghị thẩm định hồ sơ khoa học xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng cấp tỉnh từ ngày 5 – 6/11/2009 hồ sơ danh thắng thác Khe Vằn được hội đồng thẩm định thông qua và đề nghị xét duyệt công nhận di tích danh thắng cấp tỉnh trong thời gian tới. Trước đó Ủy ban nhân dân huyện Bình Liêu đã khảo sát và có văn bản đề nghị xếp hạng danh thắng. Hồ sơ khoa học ghi rõ về lý lịch, giá trị của danh thắng được lập và thẩm định bởi các bộ phận chuyên môn của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch.

1.2.1.2. Thác Khe Tiền

Là thác nước cao 2 tầng nằm tại địa phận xã Đồng Văn, đây là thác nước lớn thứ hai ở Bình Liêu, ở đây phong cảnh rất đẹp, khí hậu mát mẻ quanh năm. Tương truyền xưa kia ở nơi đây có đá 7 màu nên nhiều người khi lên đây tham quan đều cố tìm kiếm và mang về làm kỉ niệm. Hiện nay nhờ được sự quan tâm đầu tư của nhà nước và chính quyền địa phương con đường vào thác đang được nâng cấp, bê tông hóa để có thể thu hút được nhiều người đến tham quan hơn.

1.2.1.3. Núi Cao Xiêm Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu.

Là ngọn núi cao nhất ở Bình Liêu với độ cao 1330m, nằm ở xã Lục Hồn cách thị trấn Bình liêu khoảng 6km về phía bắc. Quanh năm ngọn núi phủ trong mây và sương mù,vào những ngày nắng to thì có thể nhìn thấy rõ ngọn núi, nếu đứng trên ngọn núi Cao Xiêm mà ngắm bốn phương thì Bình Liêu đẹp tựa bức tranh thủy mặc, từ đây có thể nhìn ra tận cửa biển Tiên Yên và đặc biệt ngọn núi Cao Xiêm còn ẩn chứa bao truyền thuyết huyền bí.

1.2.1.4. Núi Cao Ba Lanh

Là ngọn núi cao thứ 2 ở Bình Liêu với 1050m, nằm ở xã Đồng Văn cách thị trấn Bình Liêu 25km về phía bắc. Trên đỉnh núi có những phiến đá mà người dân gọi là “đá thần” khi gõ vào đá phát ra tiếng kêu gần giống tiếng chuông và lại nghe vang cả ở các hòn đá khác. Xưa còn có truyền thuyết về “hòn đá thần” có tiếng vang làm quân giặc bên kia biên giới gục ngã, vừa huyền bí vừa gợi vẻ thiêng liêng.

Từ trên đỉnh núi cao ngàn mét mây bay la đà nhìn bao quát cả một vùng biên ải với con sông biên giới uốn lượn đôi bờ thanh bình tạo khung cảnh thật đặc sắc

1.2.1.5. Cây đa lịch sử Lục Hồn

Nằm ở địa phận xã Lục Hồn, cách thị trấn Bình Liêu 6km về phía bắc, tại đây ngày 20/11/1945 đã thành lập chính quyền cách mạng, đây còn là nơi diễn ra nhiều trận tập kích giết bọn thực dân Pháp.

1.2.2. Những tiềm năng sinh thái nhân văn

1.2.2.1. Đình Lục Nà

Đình Lục Nà tọa lạc tại vị trí địa lý vô cùng đắc địa “tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ”. Đình Lục Nà được lấy từ tên bản Lục Nà để đặt tên cho đình, Bản Lục Nà thuộc xã Lục Hồn huyện Bình Liêu. Đình Lục Nà thờ Thành Hoàng, tương truyền Thành Hoàng là Hoàng Cần người dân tộc Tày có công lao to lớn trong việc dẹp giặc bảo vệ nhân dân, sau khi ông mất nhân dân suy tôn ông là Thành Hoàng và lập đình để tưởng nhớ ông. Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu.

Đình Lục Nà không chỉ là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, nơi thờ Thành Hoàng mà còn là địa điểm ghi đậm những mốc son lịch sử cách mạng, tại nơi đây ngày 20/11/1945 nhân dân các dân tộc trong huyện đã dự cuộc mit tinh thành lập Ủy ban Lâm thời huyện Bình Liêu. Ngày 06/01/1946 Ủy ban lâm thời huyện đã tổ chức bầu cử đại biểu quốc hội (khóa I) nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Ngày 18/01/1946 chủ tịch và đại diện đồng bào dân tộc ở các xã đã tập trung tại đình Lục Nà để bầu ra Ủy ban hành chính huyện Bình Liêu.

Trải qua thời gian, dấu vết kiến trúc đình Lục Nà xưa hiện nay đã không còn. Ngày 23/07/2009 chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Bình Liêu đã bắt tay khởi công tôn tạo lại ngôi đình nhằm tôn vinh Thành Hoàng và bảo tồn di sản văn hóa nơi biên cương Tổ quốc. Đình Lục Nà được xây dựng trên diện tích 10.187m2 với các hạng mục công trình như: Đình chính với kiến trúc 3 gian 2 chái diện tích xây dựng là 187m2, sân hành lễ diện tích là 1031m2 , cổng đình, nhà quản lý di tích, đường vào di tích rộng 3m dài 129m, hệ thống điện…

Việc tu bổ tôn tạo di tích đình Lục Nà nhằm bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa truyền thống, đồng thời đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân trong khu vực. Đình Lục Nà đã được công nhận là di tích văn hóa cấp tỉnh.

1.2.2.2. Cầu treo Vô Ngại

Cầu nằm ở địa phận xã Vô Ngại cách thị trấn Bình Liêu 4km về phía nam. Cầu được xây dựng năm 2003 bắc qua suối Bản Ngày. Đứng trên cầu ngắm nhìn phong cảnh trời về chiều rất đẹp, vì là cầu treo nên khi có xe qua cầu thì cầu rung mạnh nên đứng trên đây tạo cảm giác thật thú vị.

1.2.2.3. Ngày hội Soóng Cọ Bình Liêu.

Được tổ chức vào ngày 16/3 âm lịch hàng năm. Nơi đây còn lưu giữ được nguyên vẹn những giá trị dân gian độc đáo về lễ hội hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ. Theo lời người xưa kể người Sán Chỉ hát Soóng Cọ quanh năm, mọi nơi, mọi lúc mỗi khi có dịp.

Hát Soóng Cọ hay còn gọi là ngày hội tháng 3 của người Sán Chỉ ra đời cách đây 300 năm. Xưa kia cứ vào tháng 3 âm lịch mỗi phiên chợ ở huyện vùng cao Bình Liêu lại trở thành hội hát Soóng Cọ. Người Sán Chỉ gọi là “Slằn nhịp hội” tức là hội tháng 3 hay còn gọi là hội Aupò. Hát Soóng Cọ là cách hát đối gồm một bên nam và một bên nữ đối diện và có thể cùng một lúc có nhiều tốp hát đối với nhau. Chợ phiên chính là nơi gặp gỡ giao lưu của các tộc người sống trong cộng đồng và cũng là nơi diễn ra hoạt động trao đổi những vật phẩm do chính họ làm ra với mục đích phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Chợ phiên còn là nơi hẹn hò của thanh niên nam nữ giao duyên với nhau qua lời ca tiếng hát, ở đây họ đi xem, mua hàng, gặp gỡ bạn bè qua cử chỉ ánh mắt, lời nói mà nảy sinh tình cảm và mong muốn được làm quen qua lời ca điệu hát để chào nhau, thăm hỏi, kết bạn và tỏ tình cùng nhau. Nhiều cặp hát Soóng Cọ trong phiên chợ tháng 3 đã nên vợ chồng và sống với nhau đến đầu bạc răng long.

Tục hát Soóng Cọ có một quy định chặt chẽ là không hát cùng với người cùng huyết thống, dòng tộc, họ hàng. Người già dạy người trẻ, người biết dạy cho người không biết để có thể đứng đối với người bạn khác. Những câu hát , lời ca hợp ý nhau hình thành cặp hát trò chuyện tâm tình với nhau thường kéo dài cả ngày. Nội dung bài hát phong phú, đa dạng, uyển chuyển, phản ánh cuộc sống lao động sản xuất, ca ngợi thiên nhiên, đất nước, con người, tình yêu đôi lứa. Nhiều người tham gia ngày hội được gặp gỡ, giao duyên cùng nhau uống rượu và hát Soóng Cọ suốt đêm quyến luyến không muốn về. Ở đây mỗi câu hát được cất lên là tâm tình, trải tấm lòng mình với người bạn hát đối cùng, có thể là người bạn mới gặp trong ngày hội nhưng cũng có thể là những người bạn từ thời thanh niên thầm yêu trộm nhớ, họ gặp lại nhau trong ngày hội và những câu hát với làn điệu du dương, êm ái, khoan thai, nhẹ nhàng đã làm lắng đọng và tạo nên sự gần gũi để động viên nhau, truyền cho nhau những kinh nghiệm trong lao động sản xuất, trong cuộc sống, những dự định ước mơ và gửi gắm trong đó những tình cảm thầm kín. Cứ như vậy lời hát thánh thót kéo dài suốt đêm hội. Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu.

Lời bài hát thật sâu lắng, tình cảm:

  • “… chàng đến muộn em mong đợi chàng, Con ngựa chân ngắn chàng đến muộn, Bao nhiêu hoa đẹp người hái tất.
  • Chàng đến muộn hoa đẹp không còn,
  • Phượng hoàng bay qua đỉnh đẩu rừng,
  • Trăng lặn phía tây sao mọc lại,
  • Có phúc mới gặp người đồng hương,
  • Khác nào tiên nữ ra ca hát…”

Qua đêm hội đến ngày hôm sau trên những con đường về thôn bản, những đôi trai gái vẫn còn lưu luyến, bịn rịn chưa muốn rời xa.

Trong ngày hội tháng 3 hát Soóng Cọ được coi là tâm điểm và bên cạnh đó còn có làn điệu hát then cùng cây đàn tính của người Tày, hát giao duyên, hát đối của người Dao và các làn điệu dân ca của các dân tộc trên địa bàn huyện. Chính vì vậy hội tháng 3 cũng là dịp giao lưu văn hóa giữa các dân tộc vừa mang tính đồng tộc vừa mang tính cộng đồng sâu sắc. Những trang phục rực rỡ của người Dao, màu chàm tím của người Sán Chỉ, chiếc áo dài chất liệu gấm đen và cây đàn tính của người Tày… cùng với lời ca, điệu múa và phiên chợ tất cả tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc rực rỡ sắc màu, một không khí tưng bừng mang sắc thái của di sản văn hóa truyền thống vùng đông bắc của Tổ Quốc.

Một trong những nội dung không thể thiếu trong ngày hội tháng 3 là các cuộc thi nghề truyền thống giữa các thôn bản như: đan quang gánh mạ…; các trò chơi dân gian như: kéo co, đẩy gậy, bắn nỏ, tung còn, thi nấu ăn… đã thu hút đông đảo thanh niên các dân tộc tham gia, tạo được một sân chơi lành mạnh cho đồng bào các dân tộc trong ngày hội.

Lễ hội hát Soóng Cọ là một di sản văn hóa tinh thần quý báu thể hiện truyền thống tốt đẹp và bản sắc riêng của tộc người Sán Chỉ ở Bình Liêu, có một sức sống mãnh liệt với thời gian. Với nội dung phong phú, ca ngợi quê hương đất nước, khát vọng về tình yêu đôi lứa, khuyên nhủ con người phải lao động hăng say, ca ngợi những đức tính tốt chê bai những kẻ lười biếng, là món ăn tinh thần của người lao động, thể hiện ước mơ, lý tưởng vươn tới trong cuộc sống của con người.

Những năm gần đây lãnh đạo huyện Bình Liêu chỉ đạo tổ chức ngày hội tháng 3 thành ngày hội văn hóa dân tộc – chợ phiên vùng cao và sẽ giao cho từng xã tổ chức với yêu cầu phải thể hiện được sự gần gũi giữa con người với thiên nhiên và phản ánh đầy đủ cảnh sinh hoạt, cuộc sống của bà con với những phong tục tập quán từ ngàn đời. Tham gia vào ngày hội bạn sẽ cảm nhận được những nét văn hóa riêng có, rất độc đáo về một lễ hội của người dân tộc Sán Chỉ Bình Liêu – Quảng Ninh đang cần được gìn giữ và phát huy trong cuộc sống hôm nay và mai sau.

1.2.2.4. Ngày hội “sán cốKhóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu.

Nếu người Sán Chỉ có ngày hội Soóng cọ vào tháng 3 âm lịch thì ngày hội sán cố là ngày hội của dân tộc Dao. Được tổ chức ở xã Đồng Văn nơi tập trung đông người Dao sinh sống nhất. Ngày hội này còn được người dân gọi là chợ tình được diễn ra vào ngày mùng 4/ 4 âm lịch hàng năm, tại ngày hội cũng diễn ra các trò chơi dân gian thi nấu ăn, đẩy gậy, kéo co, hát đối… ngày hội này đã thu hút đông đảo nhân dân địa phương các vùng lân cận trong tỉnh và ngoài tỉnh tham gia. Trong ngày này tiểu thương nhiều nơi đổ về buôn bán phục vụ người tham gia hội.

1.2.2.5.Chợ phiên vùng cao Bình Liêu

Trước đây chợ thường họp vào những ngày lẻ (3,7,11,15,17… trong tháng âm lịch hàng năm). Ngày nay do điều kiện kinh tế của nhân dân trong vùng đã khá lên, nhu cầu mua bán ngày càng nhiều hơn nên chợ chuyển sang họp thường xuyên hơn nhưng đông nhất vẫn là ngày chủ nhật hàng tuần. Thời gian họp chợ từ 7h sáng đến 5h chiều. Trước ngày về chợ nam, nữ chuẩn bị một bộ quần áo thật đẹp vì với họ về chợ là cả một ngày hội, họ tha hồ thả sức vui chơi, giải trí sau một thời gian lao độn mệt nhọc, đây còn là dịp để tự tình qua lời ca tiếng hát.

Tham gia chợ phiên không những chỉ có đồng bào các dân tộc trong huyện mà còn có một số người buôn bán từ khu Đồng Tông – Trung Quốc cũng đi chợ phiên Bình Liêu. Hàng hóa trao đổi trong chợ chủ yếu là các loại nông, lâm, thổ sản do nhân dân trong vung nuôi trồng được như: gia cầm, miến dong, các loại dầu quế, hồi, sở, các loại lá thuốc chữa trị bệnh, đặc biệt hơn cả là mật ong rừng. Đã từ lâu mật ong được coi là thứ hàng đặc sản cho những du khách có dịp đi qua nơi này.

Nếu một lần có dịp lên Bình Liêu hãy tham gia phiên chợ và cảm nhận đời sống sinh hoạt của đồng bào các dân tộc huyện Bình Liêu.

1.2.2.6. Cửa khẩu quốc gia Hoành Mô Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu.

Bình Liêu có thế mạnh là có cửa khẩu Hoành Mô, nằm trên địa phận xã Hoành Mô. Đây là cửa khẩu quan trọng góp phần thúc đẩy kinh tế huyện phát triển. Cửa khẩu Hoành Mô cách thị trấn Tiên Yên 55km có đường ô tô nối liền huyện Bình Liêu và Tiên Yên chạy theo lưu vực sông Tiên Yên. Bên kia biên giới là thị trấn Đồng Tông, huyện Phòng Thành, tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, có đường đập qua sông Ca Long, đoạn thượng nguồn Ca Long này bình thường chỉ là dòng suối cạn giữa bãi đá cuội, mùa lũ thì nước dâng ngập đập. Trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 quân đội Trung Quốc đã chiếm cứ và phá hủy vùng này trong vòng một tháng. Từ năm 1990 cửa khẩu mở lại, hàng hóa từ nội địa đôi bên giao lưu ngày một tăng. Ngoài nguồn thu thuế, hoạt động cửa khẩu đã tạo thêm bước phát triển thương mại và dịch vụ huyện Bình Liêu.

Nhà kiểm soát liên ngành cửa khẩu Hoành Mô đã được xây dựng nhằm đáp ứng tốt hơn việc lưu thông hành hóa giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc. Nhân dịp kỉ niệm 90 năm thành lập huyện Bình Liêu đã gắn biển chào mừng cho công trình nhà kiểm soát liên ngành này.

1.3. Tiểu kết chương 1

Là một huyện miền núi biên giới, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn nhưng tiềm năng của Bình Liêu rất lớn. Đây cũng là vùng đất có nhiều nét đẹp văn hóa độc đáo, mặc dù không có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng nhưng thiên nhiên đã ban tặng cho Bình Liêu những thắng cảnh đẹp, phong cảnh hữu tình mà lại thiêng liêng và bí ẩn. Hàng năm cứ mỗi độ xuân về các dân tộc nơi đây lại náo nức với các lễ hội của dân tộc mình, vào những dịp này đồng bào các dân tộc lại quần tụ, bày tỏ tình cảm thân ái, ôn lại truyền thống, học hỏi kinh nghiệm sản xuất. Những câu chuyện truyền thuyết, những chuyện thời ban sơ, những câu ca dao, điệu then, sóong cọ… của những chàng trai cô gái người Dao, người Sán Chỉ, người Tày lại vang lên, thể hiện vét văn hóa dân tộc độc đáo của người Bình Liêu.

Chương I của khóa luận đã khái quát một số nét về huyện Bình Liêu (Quảng Ninh), các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và những tiềm năng của huyện có thể khai thác phát triển du lịch. Đây là yếu tố tiền đề kết hợp với việc tìm hiểu văn hóa người Tày ở chương II từ đó định hướng cho việc phân tích tiềm năng và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Bình Liêu ở chương III. Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trang văn hóa của người Tày ở Bình Liêu

One thought on “Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa người Tày ở huyện Bình Liêu

  1. Pingback: Khóa luận: Phát triển du lịch văn hóa của người Tày ở Bình Liêu

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537