Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát chung về Cát Bà

2.1.1. Lịch sử Cát bà

Đảo Cát Bà là một đảo lớn gồm hàng nghìn núi đá vôi quần tụ giữa vùng biển Đông Bắc. Trong đó Cát Bà chính là một đảo lớn nhất án ngữ phía Tây Nam, ngăn không cho gió, phù sa của bốn cửa sông lớn của Hải Phòng tràn vào Vịnh Hạ Long và đồng bằng ven biển. Được kiến tạo bởi hệ thống núi đá vôi ngập nước nên Cát Bà có dáng vẻ kỳ vĩ, với hàng trăm dãy núi độc đáo và nhiều hang động kỳ bí, nhiều vùng biển nằm sâu trong đảo, xen kẽ là các bãi tắm hết sức hoang sơ, còn đầy vẻ tự nhiên nguyên bản. Nổi tiếng vẫn là Vịnh Lan Hạ với những dải bờ cát vàng nhỏ, nước nhỏ, nước trong xanh.

Trong lịch sử Cát Bà có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng nó vẫn trở về với những gì đúng nghĩa của nó. Như Đông Phục Long, Nghiêu Phong, Ân Phong, Chi Hoa, Hoa Phong, Hoa Liên, Sa Đảo, Các Ông, Các Bà, Cát Hải. Trước cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đảo Cát Hải được gọi là Tổng đô lương gồm các xã: Hoà Hi, Lạc Đô, Đô Lương, Lương Năng, Đồng Bài, Văn Chấn, Phong Liên, Nghĩa Lộ, Hoàng Châu. Đảo Cát Bà có tổng Hà Sen bao gồm các xã: Gia Luận, Hiền Hào, Phù Long, Xuân Đán và thị trấn Cát Bà. Trong thời kỳ đó Cát Bà và Cát Hải đều thuộc tỉnh Quảng Yên nay là một huyện thuộc tỉnh Quảng Ninh , riêng thị trấn Cát Bà thuộc Hải Phòng. Năm 1955 hoà bình lập lại ở miền Bắc thì Cát Bà thuộc thành phố Hải Phòng và tách ra thành hai huyện Cát Bà và Cát Hải. Năm 1977 thì hợp lại thành huyện Cát Hải, một huyện trực thuộc thành phố Hải Phòng.

Hiện nay Cát Hải có mười xã, hai thị trấn trong đó Cát Bà trở thành trung tâm văn hoá dịch vụ du lịch của huyện Cát Hải và của thành phố Hải Phòng. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2.1.2. Điều kiện tự nhiên

Cát Bà là một cụm du lịch thiên nhiên với khí hậu mát mẻ trong lành và gần 100 bãi tắm,thiên nhiên thơ mộng nằm xen kẽ giữa các đảo đá với nhiều bãi tắm đẹp như bãi Cát Tiên, Cát Cò 1, Cát Cò 2, Cát Cò 3, Cát Dứa,… cùng hệ thống hang động kỳ thú nhiều mầu sắc như các động Trung Trang,Thiên Long, Hoa Cương, … Cát Bà có những vịnh đẹp như Tùng vụng, Tùng dinh, bến Cái bèo. Đặc biệt có rừng nguyên sinh với những thảm thực vật phong phú. Quần đảo Cát Bà có diện tích rộng khoảng 200km nổi tiếng thế giới các kiến trúc núi đá vôi đẹp tuyệt, các khu rừng nhiệt đới, các rặng san hô, các bãi tắm Cát Bà, các hang động bí hiểm cùng hệ sinh thái đa dạng.

Với 360 hòn đảo lớn nhỏ, hệ động thực vật phong phú cùng những bãi tắm ẩn mình dứoi khe núi quần đảo Cát Bà thuộc huyện Cát hải-thành phố Hải phòng đang là điểm hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước từ một vùng đất hoang sơ, đến nay Cát Bà đã đuợc công nhận là khu dự trữ sinh quyển Thế giới là trung tâm du lịch cấp quốc gia với nhiều loại hình du lịch như du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái du lịch nghiên cứu khoa học, du lịch ngầm và quay phim dưới nước, …

Trong các chương trình hứơng dẫn du lịch của nứoc ngoài, đảo Cát Bà được mệnh danh là “quần đảo đẹp nhất trong quần thể đảo vịnh Hạ Long với sức hấp dẫn riêng của mình mỗi năm số khách du lịch đến Cát Bà tăng nhanh chóng trong đó khách du lịch châu Âu chiếm tỷ lệ khá cao.

Chính nhờ nguồn tài nguyên du lịch rất phong phú nên Cát Bà thu hút được nhiều khách trong và ngoài nước. Bên cạnh đó Cát Bà cũng có điều kiện thuận lợi về cảnh quan thiên nhiên cho nên tập trung xây dựng cơ sở vật chất cho du lịch .

2.1.3.Tài nguyên du lịch nhân văn

Cát Bà là nơi tập trung nhiều nguồn tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị trong đó là các di tích lịch sử văn hoá, di khảo cổ và lễ hội. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

Hiện nay Cát bà có hơn 700 di tích, di chỉ khảo cổ được phát hiện và đưa vào khai thác phục vụ du lịch đó là di khảo cổ Cái Bèo ở bến Bèo-thị trấn Cát Bà, di tích bác Hồ về thăm đảo Cát Bà, làng nghề truyền thống Gia Luận là làng nghề trồng cam giấy lâu đời. Đây được coi là tài nguyên có gía trị và hấp dẫn du khách, đặc biệt là những khách muốn nghiên cứu tìm hiểu về Cát bà thì phải dành nhiều thời gian ở Cát Bà.

Có thể nói Cát Bà là mảnh đất gắn liền với biển và cuộc sống đại bộ phận người dân dựa vào biển, một số nhỏ dựa vào rừng, cho nên Cát Bà có nhiều lễ hội mang nét đặc trưng của vùng biển được biết là lễ hội Mồng 1-4 dương lịch ở khu cảng cá-thị trấn Cát bà kỉ niệm ngày bác Hồ về thăm đảo Cát bà vào ngày 31-3-1959, kỉ niệm ngày thuỷ sản Việt nam và ngày ra quân vụ cá đầu của ngư dân tên đảo trong một năm. Ngày hội đua thuyền rồng truyền thống hàng năm được tổ chức ngày 1-5 bao gồm các hoạt động văn hoá thể thao diễn ra trong suốt từ ngày 29-3 đến hết ngaỳ 1-4 với các môn như bóng chuyền, bóng đá. Hoạt động hội trại của các đoàn trung ương và địa phương. Sau lễ mít tinh trên lế đài kỷ niệm ngày Bác Hồ về thăm làng cá là phần đua thuyền rồng trên biển của các đội nam nữ đến từ trong và ngoài huyện. Đây là hoạt động chính nổi bật trong hoạt động văn hoá thể thao của lễ hội mang tính văn hoá độc đáo đặc trưng, đặc sắc của cư dân miền biển vùng đông bắc Việt nam thu hút du khách trong và ngoài nước đến dự lễ hội.

Lễ hội 1-4 tổ chức hàng năm còn góp phần vào việc kế thừa phát huy bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống, văn hoá lịch sử trong quá trình công nghiệp hoá của huyện đảo nói riêng, thành phố Hải phòng nói chung.

Trong thời gian trước lễ hội và đến khi kết thúc lễ hội thì khách du lịch đến với Cát Bà rất đông cho nên ngoài mục đích đi lễ hội khách du lịch thường đi thăm quan Rừng quốc gia và tắm biển. Chính vì vậy lễ hội là yếu tố phát triển du lịch và là cơ hội cho các hoạt động kinh doanh du lịch.

2.1.4.Hiện trạng khai thác du lịch ở cát Bà : Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

  • Hiện trạng về khách du lịch:

Hịên nay ở Cát Bà có một số loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tham quan, du lịch thể thao mạo hiểm, du lịch cộng đồng. Nhưng trong các loại trên thì loại hình du lịch phát triển nhất hiện nay lại là du lịch sinh thái và du lịch thăm quan. Bởi Cát Bà có Vườn quốc gia, có Khu dự trữ sinh quyển thế giới nên khách du lịch tham quan với số lượng lớn hơn, bao gồm cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên Cát Bà vẫn chưa thực sự hết khả năng, chưa tận dụng hết lợi thế từ nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên để phát triển du lịch, để tạo ra nhiều loại hình du lịch hấp dẫn, đa dạng hơn. Có như vậy mới thu hút được nhiều khách đến với Cát Bà. Loại hình du lịch thể thao mạo hiểm chưa được khai thác mạnh.

Các tuyến du lịch hiện đang khai thác:

  • Tuyến du lịch sinh thái thị trấn Cát Bà-Vịnh Lan Hạ
  • Tuyến du lịch sinh thái thị trấn Cát Bà-Vịnh Lan Hạ-Vịnh Hạ Long Tuyến du lịch trung tâm Vườn-động Trung Trang

Tuyến trung tâm Vườn-Rừng Kim Dao-Đỉnh Ngự Lâm Tuyến trung tâm Vườn-tuyến đường giáo dục môi trường. Tuyến trung tâm Vườn-Ao Ếch-Việt Hải-Vịnh Lan Hạ -Thực trạng về khác du lịch:

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Cát Hải Phạm Xuân Hoè cho biết: “có thể năm 2008 du khách đến Cát Bà hơi “quá tải”. Cát Bà thu hút gần 800 ngàn lượt khách. Doanh thu đạt gần 180 tỷ đồng – quả là một con số thật mừng và tự hào. Cách đây hơn chục năm không ai nghĩ Cát Bà lại có được sự phát triển như vậy”. Đó là phát biểu của đồng chí chủ tịch khi kết thúc năm 2008, nhưng đến năm 2009 Cát Bà đạt 1005 ngàn lượt khách dù năm 2009 khủng hoảng kinh tế vẫn đang diễn ra thì Cát Bà vẫn là điểm cực thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của huyện đảo Cát Bà giai đoạn 2000-2010 đã đạt được kết quả khả quan và trở thành nền kinh tế mũi nhọn, mang lại nguồn ngân sách lớn cho địa phương, cho cộng đồng, cho dân cư, tạo công ăn việc làm cho người dân trong huyện. Từ năm 2002, việc khánh thành đường bộ xuyên đảo Cát Bà cùng với ngày nghỉ cuối tuần được tăng lên, người dân Hà Nội – Hải Phòng và các vùng phụ cận đã chọn Cát Bà làm điểm du lịch cuối tuần lý tưởng. Bên cạnh đó có cả khách quốc tế vì vậy lượng khách du lịch đến với du lịch ngày một tăng. Theo báo cáo tổng kết hoạt động du lịch của Cát Bà phòng thể thao văn hoá và du lịch Cát Hải cấp thì tổng số lượng khách du lịch đến Cát Bà trong năm 2009 là 1.005.000 lượt người. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

  • Trong đó khách quốc tế đạt 286.200 lượt người, đạt 114.4% so kế hoạch năm 2009 và tăng 14.4% so với năm 2008.
  • Khách nội địa đạt 718.800 lượt người, đạt 119.8% so kế hoạch năm 2009 và tăng 40.9% so với năm 2008.

Trong khi đó mục tiêu và kế hoạch năm 2009 Cát Bà đề ra là đón được 850.000-900.000 lượt khách, đầu năm 2009 Cát Bà còn bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế nên tổng lượng khách đến Cát Bà trong quý 1 đạt 116.000 lượt khách, đạt 14% kế hoach đề ra, nhưng 3 quý còn lại trong năm số khách của Cát Bà đã vượt quá kế hoạch đầu năm khi mà nền kinh tế bắt đầu phục hồi. Điều đó chứng tỏ Cát Bà rất thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Khách du lịch trong nước đến Cát Bà bao gồm khách trong thành phố, từ Thủ đô Hà Nội và các tỉnh khác trong cả nước. Trong số này hầu hết là những khách đến để nghỉ mát vào cuối tuần, thương nhân, cán bộ nhà nước, học sinh sinh viên.

Tuy nhiên do chưa có được sản phẩm du lịch đa dạng, hấp dẫn vì vậy khả năng lưu trú của khách bị ảnh hưởng. Khách chỉ lưu trú ở Cát Bà bình quân 1.5 ngày.

Cát Bà nằm gần Quảng Ninh, địa phương có cửa khẩu quốc tế, có thị trường du lịch to lớn là Trung Quốc, nằm trên đường biển quốc tế, đồng thời lại nằm gọn trong khu di sản thiên nhiên Hạ Long, vì vậy khách quốc tế đến Cát Bà trong những năm qua tăng mạnh, và số ngày lượng khách cũng tăng dần theo.

Khách Trung Quốc chiếm 37% trong tổng số khách quốc tế đến với Cát Bà, còn lại là đến từ các nước khác, khách châu Âu chủ yếu là Tây balô, những người có khả năng chi trả kém, thuờng nghỉ ở Cát Bà bình quân 1.27 ngày. Trước đây khách du lịch quốc tế chủ yếu là Anh, Mý, Đức và Canada. Hiện nay du lịch Cát Bà đang tăng cường quảng bá khai thác tốt thị trường khách Asian, thị trường khách có nhu cầu và khả năng thanh toán cao như: Nhật, Trung Quốc và Tây Âu.

  • Thực trạng về doanh thu :

Theo thống kê của UBND huyện Cát Hải năm 2004 doanh thu từ du lịch cát Bà đạt 43 tỷ đồng , năm 2006 doanh thu từ du lịch Cát Bà tăng lên 11 tỷ đồng so với năm 2004 , năm 2007 doanh thu Cát Bà tăng 127 tỷ đồng , năm 2009, lượng khách du lịch đến Cát Bà tăng lên đột biến, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Tổng số lượt khách đến Cát Bà trong năm2009 là 1.005.000 lượt người , đạt 118.2% so với kế hoạch đẫ đề ra dầu năm 2009, và tăng 32,2% so với năm 2008 . Trong đó doanh thu phần lớn là từ dòng khách quốc tế , lượng khách có khả năng chi trả cao. Ngoài ra hoạt động du lịch còn giải quyết hang nghìn công ăn việc làm cho người dân trên đảo và thúc đẩy các ngành kinh tế khác như : xây dựng , thủy sản , giao thông vận tải , thương mại dịch vụ bưu chính viễn thông cùng phát triển. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

  • Hiện trạng bảo vệ môi trường :

Trong nhiều năm qua Cát Bà đã được xác định là điểm du lịch quan trọng của Hải Phòng . Tuy nhiên với áp lực của hoạt động du lịch đã tác động không nhỏ tới môi trường Cát Bà .

Cuối năm 2008 , Ban quản lý Vườn quốc gia đã tiến hành điều tra trên 300 lượt khách trong nước và quốc tế về những tác động đến môi trường tự nhiên trong và ngoài phạm vi Vườn Quốc Gia.Theo đó nguyên nhân chính gây tác động đến môi trường Vườn Quốc Gia là hoạt động du lịch và cộng đồng địa phương ( chiếm 70% ý kiến được hỏi ). Ngoài ra tác động đến môi trường ở khu du lịch còn do hoạt động của các cơ sở kinh doanh du lịch và các thành phần kinh tế khác, các nguồn gây tác động đến môi trường bao gồm rác thải nước thải tuy chưa đến mức độ ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước hoặc không khí nhưng có dấu hiệu ô nhiễm phạm vi nhỏ, tác động không nhỏ tới các loài động vật, thực vật biển và để lại những ấn tượng không tốt trong lòng khách du lịch . Ngoài hệ thống khách sạn , nhà nghỉ , nhà hàng không được xây dựng theo quy hoạch làm mất mỹ quan khu du lịch thì với khoảng trên 500 nhà bè, hơn 8.000 lồng nuôi các loài thủy hải sản khác tập trung gần nhau, hàng chục tấn thức ăn nuôi cá được thải mỗi ngày, mà một phần trong đó cá ăn không hết tạo thành các tập chất lắng đọng dưới dáy biển qua mỗi năm đã gây ô nhiễm môi trường biển khiến cá chết hàng loạt. Hầu hết đánh giá của du khách trong đợt khảo sát vừa qua đều cho rằng hệ thống thu gom rác thải ( bao gồm cả khu vực Vườn quốc gia và khu du lịch ) tuy đã được thực hiện nhưng mức độ còn chưa triệt để, chưa hoàn thiện, các thùng rác đã có mặt ở các điểm nhưng số lượng còn hạn chế, hệ thống thu gom rác trên mặt nước chưa thật hiệu quả, khu vệ sinh công cộng còn thiếu nhất là các khu đông người, hệ thống thống tin chỉ dẫn về môi trường còn thiếu khá nhiều, các biện pháp nhắc nhở quản lý đã triển khai nhưng chưa thường xuyên, chưa sâu sát, hiện tượng kéo khách mua hàng vẫn còn xảy ra , gây phiền hà cho khách đặc biệt là khách nước ngoài…Một nguyên nhân không kém phần quan trọng tác động đến môi trường tự nhiên của Cát Bà là do hoạt động của hàng ngàn tầu đánh cá, tầu chở khách, chở dầu,…Hầu hết các tầu hoạt động tại Tùng Vụng, Bến Bèo đều xả thẳng chất thải xuống biển. Hậu quả tất yếu xảy ra có ngày nước biển ở Tùng Vụng, Cái Bèo biến màu, bốc mùi khó chịu, ảnh hưởng xấu đến môi trường và hoạt động du lịch. Nước bẩn không chỉ tác động tới hoạt động du lịch mà còn làm chết các rặng san hô và một số loài sinh theo ở các tầng nước biển.

2.2. Khái quát chung về làng Việt Hải Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

2.2.1.Lịch sử phát triển của làng Việt Hải

Việt Hải cũng giống như Cát Bà, trước năm 1946 đã có người Hoa sinh sống ở đây, họ gọi Việt Hải với tên là Tay Lai, tên một người đàn ông Trung Quốc đã khai phá, lập nên làng Việt Hải. Khi Pháp xâm lược Việt Nam đóng quân ở Cát Bà đã ra Việt Hải đuổi hết người Hoa sinh sống ở đây và Việt Hải đã trở nên vùng đất hoang không ai sinh sống trong một thời gian ngắn. theo lời kể của một số người già trong làng.

Vào thời kháng chiến chống Pháp do vị trí hiểm trở và hẻo lánh nên đã là căn cứ cách mạng. Thời đó Việt Hải chỉ có rất ít người ở đây. Nơi đây theo người dân địa phương kể lại rằng, sau khỉ những cán bộ cách mạng đến đây đã đổi tên vùng đất là Việt Hải. Trước giải phóng có rất ít người sinh sống là một làng rất nhỏ. Trước thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh. Đến năm 1956 chia tách Stỉnh lại thuộc về huyện Cát hải, Hải phòng. Và khi Vườn Quốc Gia được thành lập năm 1986, thì làng Việt Hải nằm giữa vườn Quốc Gia. Theo sự kêu gọi của nhà nước đi xây dựng các vùng kinh tế mới biển, hải đảo cộng với những dân cư phiêu bạt, trốn chạy loạn lạc từ thời chiến tranh và hình thành một làng Việt Hải trù phú như ngày nay. Đặc biệt đợt dân cư đến Việt Hải đến đông nhất là năm 1970 có 15 hộ dân từ Kiến An đến đây sinh sống .

Nay Việt Hải đã có 80 hộ gia đình và 282 nhân khẩu. Việt Hải dù ít dân nhưng đã được lập là một xã trực thuộc đơn vị hành chính thuộc huyện Cát Hải. Là một xã nằm trong chính sách 135 của chính phủ về hỗ trợ những xã vùng sâu vùng xa thuộc miền núi và hải đảo, nên Việt Hải cũng được nhà nước quan tâm và đầu tư,cộng với đó là tiềm năng du lịch hiếm có mà Việt Hải được thiên nhiên ưu đãi, nên Việt Hải cũng có những thuận lợi riêng của mình. Làng Việt Hải có trường cấp 1, cấp 2 để nâng cao dân trí của người dân. Có trạm y tế để chăm sóc sức khoẻ cho người dân và khách du lịch.

2.2.2.Tài nguyên du lịch tự nhiên

Việt Hải nằm trong vùng lõi vườn quốc gia Cát bà nên mang những đặc điểm du lịch tự nhiên tương đương của vườn quốc gia Cát Bà.

  • Vị trí địa lý : Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

Làng Việt Hải thực chất là xã Việt Hải thuộc huyện Cát Hải là một phần của khu dự trữ sinh quyển thế giới Cát Bà Làng Việt Hải thuộc khu vực của Vườn quốc gia, cách trung tâm Vườn quốc gia 2 tiếng đi bộ.

Nằm sâu trong một cái “Áng” thung lũng rộng được bao bọc xung quanh toàn rừng . Là vị trí rất thuận lợi cho loại hình du lịch khám phá, du lịch cộng đồng , du lịch mạo hiểm.

Đường đi tới Việt Hải theo hai cách :

  • Từ trung tâm vườn quốc gia Cát Bà khách du lịch có thể đi đường rừng đến Việt Hải ( đi khoảng 2 tiếng )
  • Từ bến Bèo ( thị trấn Cát Bà ) đi tầu du lịch hoặc, đi thuyền mày ( mất gần một tiếng ) là đến cảng Việt Hải, từ đó đi bộ, đi xe đạp hoặc xe máy qua 4km đường bê tông là vào tới làng Việt Hải.

Khí hậu

Nằm trong vung vịnh Bắc bộ nên Việt hải chịu ảnh hưởng trực tiếp của dạng khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất hải dương tổng số ngày nắng trung bình 100- 160 ngày, nhiệt độ trung bình hàng tháng 25 -27 C, độ ẩm trung bình cả năm là 25 – 27ºC.

Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, trong đó lượng mưa tập trung vào các tháng 7,8,9 tháng mưa nhiều nhất là tháng 8 . Từ tháng 3 đến tháng 8 chiụ ảnh hưởng của gió mùa đông nam, mang đặc điểm chung của một miền chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, vừa có nét riêng của nhiệt đới khí hậu chịu ảnh hưởng ít hơn của gió mùa đông nam so với các nơi cùng khí hậu.

Mùa khô ở Việt Hải diễn ra bình thường vì nằm trong rừng nên nhiệt độ ở đây thấp so với các khu khác của Cát Bà, sương mù thường tập trung từ tháng 11 đến tháng 4 (có từ 5 giờ tối, tan vào khoảng 8 giờ sáng ngày hôm sau).

Như vậy với một vị trí đặc biệt, làng Việt Hải nằm gần vùng lõi của rừng quốc gia Cát Bà, giữa khu vực rừng già xanh biếc. Có thể nói tài nguyên du lịch của Việt Hải mang đầy đủ các giá trị vẻ đẹp của rừng quốc gia Cát Bà.

2.2.3. Tài nguyên du lịch nhân văn Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

2.2.3.1. Đời sống xã hội

Hầu hết các xã trong khu vực Vườn quốc gia Cát Bà đều có số dân ít so với một xã bình thường.

Xã Việt Hải là một xã hiện nay có hơn 80 hộ dân sống trong thung lũng của Vườn quốc gia Cát Bà. Bộ máy hành chính của chính quyền xã, thuộc sự quản lý của UBDN huyện Cát Hải và là một xã độc lập, có người đứng đầu là chủ tịch xã, có bộ máy tự quản, đó là lực lương chính quyền, các đoàn thể và thanh niên địa phương, có trách nhiệm quản lý đời sống và đảm bảo an ninh địa phương xã Việt Hải. Xã có hội đồng nhân dân, có chủ tịch xã do nhân dân bầu lên thực hiện trách nhiệm quản lý hành chính. Chủ tịch xã có nhiệm kỳ làm từ một đến hai khoá, tưong đương từ bốn đến tám năm. Là một làng nhỏ biệt lập nên chủ tịch xã phải chịu trách nhiệm về mọi phương diện trước nguời dân và chịu sự chỉ đạo của chính quyền cấp trên Uỷ ban nhân huyện Cát Hải .

Người dân Việt Hải sống thành một quần thể tập trung đông đúc và có tổ chức, sống trong rừng quốc gia Cát Bà, nhưng vẫn có ruộng để canh tác,nhưng đó không phải nghề chính, mà là đi rừng và đi biển nhưng người dân Việt Hải đi biển ít hơn và kinh nghiệm ít hơn so với người dân xã khác, họ không dựa vào biển để sống mà dựa vào rừng nhiều hơn .

2.2.3.2. Đời sống kinh tế

Trước khi Vườn quốc gia được thành lập vào năm 1986 và đặc biệt hơn khi Vườn quốc gia được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Dù người dân Việt Hải sống phụ thuộc hoàn toàn vào rừng, nguồn thu nhập chính của họ từ rừng. Cùng với số ruộng đất nông nghiệp ít ỏi, họ duy trì nền kinh tế của mình theo xu hướng tự cung tự cấp. Nhưng từ khi Vườn quốc gia thành lập với những quy định nghiêm ngặt về bảo vệ rừng, có lực lượng kiểm lâm trông coi rừng, thì người dân không còn được tự do săn bắn, khai thác rừng, nên nguồn thu của họ đã bị giảm đi một cách trầm trọng. Có thể nói ở Việt Hải, con người do chính quyền địa phương quản lý, nhưng thiên nhiên lại do Vườn quốc gia quản lý, cùng với đất nông nghiệp cho sản lượng thấp nên đời sống người dân Việt Hải gặp nhiều khó khăn.

Nhưng lại có một hướng để phát triển kinh tế làng Việt Hải, đó là dựa vào rừng bằng cách khác. Đó chính là làm du lịch. Khi vườn quốc qia được thành lập, thì đã có một số lượng khách dù rất ít đi khám phá Vườn quốc gia và đi qua, dừng chân và nghỉ lại tại Việt Hải nên năm 1994 một người dân Việt Hải là ông Bùi Đình Soi đã là người đón tiếp khách du lịch đầu tiên tại Việt Hải. Và từ đó cho đến nay, cơ cấu kinh tế Việt Hải đã có sự thay đổi rõ nét nhờ du lịch. Vào năm 2008, nông nghiệp Việt Hải chiếm 3.6 tổng thu nhập. Các nguồn thu khác đạt 38 , nhưng riêng du lịch vào năm 2009 thu nhập đạt 43.5% vươn lên đứng đầu theo số liệu của Uỷ ban nhân dân xã Việt Hải . Nên Việt Hải giờ đây đời sống kinh tế cũng đỡ hơn, toàn xã có 80 hộ trong đó có 70 hộ khá, 4 hộ nghèo và 8 hộ cận nghèo. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

2.2.3.3. Đời sống văn hoá

Do dân cư từ đất liền đến Việt Hải sinh sống đã mang theo những tập quán sinh hoạt khác nhau của các địa phương khác đến với Viêt Hải, lâu dần những thói quên sinh hoạt, những tập quán đó đã được chấp nhận như một nét văn hoá của người Việt Hải.

Người Việt Hải có nếp sống giống như những người dân trong đất liền, họ coi trọng tình làng nghĩa xóm, truyền thống gia đình, họ hàng dòng tộc. Vì thế những giá trị văn hoá của người dân sống ở những làng quê lâu đời trong đất liền vẫn được giữ gìn và phát triển và được cải biến phù hợp với cuộc sống hiện tại. Người Việt Hải sống đơn giản thẳng thắn, nhiệt tình, cởi mở và rất hiếu khách. Chính cuộc sống gắn liền với rừng và biển đã tạo cho họ phong cách sống đó. Dù mỗi làng xã trong đất liền đều sống như vậy nhưng người Việt Hải thì đậm đặc hơn. Có lẽ vì sống trên một vị trí đặc biệt trong một cánh rừng rậm nguyên sinh tách biệt với mọi người nên tình làng nghĩa xóm, dòng họ phải gắn bó che chở cho nhau. Nên dòng họ có một vị trí đặc biệt trong đời sống cộng đồng ở Việt Hải. Đây chính là chất keo nối họ hàng làng xóm thành một cộng đồng bền vững và phát triển cho đến ngày nay.

Người dân từ đất liền ra làng Việt Hải ở mang theo hơi thở của làng quê mình đến đây. Từ trên cao nhìn xuống có thể thấy làng Việt Hải là một mô hình làng quê Việt Nam xưa thu nhỏ.

Việt Hải còn lập bàn thờ nhỏ thờ Thổ công thổ địa hay theo một số người thì họ thờ vọng về quê cha đất tổ. Những người gìa làng ở đây kể lại rằng khi mới đến vùng đất này đây còn là nơi rừng thiêng nước độc hoang sơ vắng bóng người nên phải lập bàn thờ này “cầu an, cầu may”.

Sau này ở Việt Hải khi dân cư nhiều vùng khác tới đây, dù ít so với các xã khác trên đảo Cát Bà nhưng cũng là một vùng đất tốt, nhiều người đã tới đây làm ăn, sinh cơ, lập nghiệp, kết hôn. Mỗi người mang trong mình một dáng dấp một tính cách quê hương của họ. Tất cả họ cùng hoà chung với nhau tạo thành một bức tranh dân cư sinh động và nhiều màu sắc. Như giáo sư Đào Duy Anh nhận xét “ văn hoá tức là sinh hoạt” nên sinh hoạt đời thường của người Việt Hải thực chất cũng là một nét văn hoá. Đó cũng chính là điểm thu hút khách du lịch đến với Việt Hải. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

Việt Hải, một vùng đất hoang sơ tách biệt với thế giới bên ngoài nhưng tình hình an ninh trật tự ở Việt Hải vô cùng tốt. Toàn xã không có một đối tượng nghiện hút nào, không có ăn trộm ăn cắp. Điều ấy thể hiện bằng việc người dân Việt Hải họ đi ngủ không cần đóng cửa, những tài sản có giá trị như xe đạp xe máy để ngoài sân cũng không hề bị mất mát .

Người dân Việt Hải sống ở vùng tách biệt với các vùng khác trong quần đảo Cát Bà, sống giữa Vườn quốc gia Cát Bà. Nên cơ cấu kinh tế của họ rất là đơn giản như nêu ở trên. Họ sống theo hình thức kinh tế tự cung tự cấp là chính, nên có việc làm thịt một con lợn hoặc con dê con bò thì chia cho cả làng. Khi khách du lịch tới đây họ rất ngạc nhiên vì hình thức sinh hoạt này, và nó cũng là hình thức sinh hoạt cổ xưa của người dân trong đất liền ở những vùng quê cổ, đó là hình thức “đụng lợn chung” mà ngày Tết nguyên đán người Việt thường hay làm.

2.2.3.4. Đời sống tâm linh

Việt Hải là vùng đất lâu đời, từ xưa con người đã đến đây sinh sống, đó là những người Hoa . Theo các nhà lịch sử, họ là những người chống nhà Thanh, dựng nên cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc đời nhà Thanh, khi thất bại họ đã lên thuyền và hướng về biển Việt Nam là Cát Bà.

Do đặc điểm là vùng hẻo lánh có ít người dân cư trú nhưng điều đặc biệt là người Việt đã có mặt ở đây vào những năm 1946 khi mà người Pháp đuổi hết người Hoa ra khỏi Việt Hải. Nhưng dấu ấn của họ để lại vẫn không phai. Là những cư dân đầu tiên của Việt Hải, họ từ một vùng đất mới đến họ phải khai hoang phá rừng để có đất trồng trọt và cư ngụ, nên họ thấy mình nhỏ bé trước thiên nhiên. Cuộc sống nơi “rừng thiêng nước độc” con người nhỏ bé trước thiên nhiên to lớn vĩ đại. Nhớ ơn người khai khẩn ra vùng đất này nên họ đã lập ra một cái miếu thờ để tưởng nhớ công ơn người đã khai phá và lập nên làng Việt Hải. Ngày mồng một hôm rằm người dân làng Việt Hải đều đến thắp hương và họ coi đó như là vị thần Thành hoàng làng, bảo vệ và che chở cho người dân, đó là Miếu Ông Sáu Tay Lai ngay ở đầu làng Việt Hải.

Xuất phát từ cuộc sống đấu tranh với tự nhiên mà con người Việt Hải có tư tưởng sùng bái tự nhiên. Việc đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của tự nhiên dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực nhận thức lối tư duy tổng hợp và trong tín ngưỡng là tín ngưỡng đa thần. Ngoài vị thần được coi là Thành Hoàng Làng thì người dân Việt Hải còn tin vào nhiều cái như Cây thiêng hoặc vùng đất được coi là cấm kỵ trong làng.

Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên của người Việt Hải còn thờ rắn, hổ là những động vật được vẽ trên bức tường trong miếu thờ Thành Hoàng làng của Việt Hải. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

Người Việt có cấu “nhất điểu, nhì xà, tam hùm, tứ tượng”, sở dĩ đền miếu của làng Việt Hải có hình rắn, hổ vì vùng đất này là rừng thiêng nước độc, người dân bắt gặp hình ảnh này trong đời sống, con người Việt Hải đưa chúng vào đền thờ tôn làm thần, thờ chung với vị thần Thành Hoàng làng, với hy vọng sẽ được bảo vệ và tránh được thú dữ.

Với người Việt Hải, những tín ngưỡng dân gian rất được sùng bái, trong đó có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Đạo Phật cũng xuất hiên ở Việt Hải và cũng là đạo chính thống ở Việt Hải.

Chất âm tính của văn hoá nông nghiệp dẫn đến hệ quả quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm trọng nữ. Vì cái đích mà người nông nghiệp hướng tới là sự phồn thịnh

2.2.4. Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải

2.2.4.1.Hiệu quả kinh doanh du lịch

Mặc dù Việt Hải là một xã mới so với các xã khác ở quần đảo Cát Bà, điểm xuất phát rất thấp lại chịu sự quản lý về thiên nhiên của Vườn quốc gia, nhưng với sự nỗ lực của chính quyền và nhân dân, cùng với đó là sự phát triển du lịch không ngừng ở quần đảo Cát bà. Trong mấy năm gần đây du lịch Việt Hải đã có sự thay đổi rõ nét.

Hiện nay phuơng tiện chủ yếu để đi thăm làng Vườn Quốc gia vẫn là đi bộ, đi xe đạp hoặc xe máy. Đến Việt Hải sẽ có một cảm giác như được hoà mình vào thiên nhiên. Các chuyến đi thăm Vườn quốc gia đã hình thành các tuyến thăm quan chủ yếu là

  • Tuyến 1: trung tâm Vườn-Rừng Kim Dao, độ dài 1km, thời gian đi bộ 30 phút.
  • Tuyến 2: trung tâm Vườn-Đỉnh Ngự Lâm, độ dài 1,5km, thời gian đi bộ 60 phút.
  • Tuyến 3: trung tâm Vườn- Động Trung Trang, độ dài 3,5km, thời gian đi bộ 2 tiếng.
  • Tuyến 4: trung tâm Vườn- Ao Ếch, độ dài 5km, thời gian đi bộ 2 tiếng 30 phút 1 chiều .
  • Tuyến 5: trung tâm vườn – Mây Bầu- Khe Sâu độ dài 5,5 km thời gian đi bộ 3 tiếng.
  • Tuyến 6: trung tâm vườn – Ao Ếch – Làng Việt Hải – Vịnh Lan Hạ, từ trung tâm Vườn tới Ao Ếch đi theo đường mòn lớn tới làng Việt Hải khoảng 7, 5km. Từ Việt Hải đi qua đường hầm ra bến khoảng 3km. Khách có thể lên tầu đi thăm Vịnh Lan Hạ. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

Từ Việt Hải du khách có thể đi bằng 3 tuyến du lịch:

  • Tuyến 1: đi qua vùng lõi của Vườn quốc gia Cát bà. Tuyến này du khách sẽ được tham quan rừng nguyên sinh Cát bà với hang trăm loài cây cổ thụ và dược thảo. cùng các loài động vật quý hiếm khác.
  • Tuyến 2: Từ thị trấn Cát bà qua Vịnh Lan Hạ cập cảng Việt Hải. Tuyến này du khách được tận hưởng phong cảnh sơn thuỷ hữu tình với hàng trăm bãi tắm nhỏ cát mịn, và quan sát việc nuôi tu hài và cá lồng của người dân Cát bà.
  • Tuyến 3: Đi bằng tầu từ Vịnh Hạ Long-Quảng Ninh cập cảng Việt Hải. Đi tuyến này, du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của di sản thế giới Vịnh Hạ long Quảng Ninh và rừng quốc gia Cát Bà khu vực nằm ở trên Vịnh Lan Hạ.

Việc sắp xếp các đối tượng thành các tuyến thăm quan ở Vườn quốc gia Cát Bà là căn cứ vào thời gian trung bình thăm quan ở mỗi tuyến du lịch đồng thời phụ thuộc vào sở thích và thể lực của từng du khách. Việc sắp xếp các tuyến thăm quan chỉ là ước lệ, cũng không tuân thủ một cách cứng nhắc được. Du khách có thể hoàn toàn thăm quan tự do theo sở thích riêng của mình. Thực tê hiện nay du khách thường đi tuyến 1, tuyến 2, tuyến 3 chiếm khoảng từ 60% đến 70% tổng số khách du lịch đi thăm Vườn quốc gia . Và tuyến chiếm 10% là tuyến 5. Tất cả các tuyến trong Vườn quốc gia này đều có lực lượng nhân viên Vườn quốc gia hướng dẫn.

Việt Hải là một bộ phận nằm trong Vườn quốc gia Cát bà, nhân dân thuộc sự quản lý của Uỷ ban nhân dân huyện Cát Hải còn thiên nhiên thì chịu sự quản lý của Vườn quốc gia Cát Bà, nên khi muốn vào thăm thì phải đóng phí cho Vườn quốc gia Cát Bà. Theo thống kê của Trạm kiểm lâm xã Việt Hải, lượng khách trung bình vào thăm là 30 đến 40 khách/ngày. Lượng khách đến làng Việt Hải mà phải đi qua trạm kiểm lâm Việt Hải như sau:

Về thị phần khách du lịch: khách thăm quan chủ yếu trong những năm gần đây đặc biệt là từ năm 1996, dòng khách quốc tế đến với Cát Bà tăng nhanh và đến với Cát Bà họ không thể bỏ qua Vườn quốc gia hay là đến với Việt Hải. Khách tham quan chủ yếu là khách Pháp, Niudilân, Mỹ, Anh, là những du khách đến từ các đất nước có ý thức bảo vệ môi trường rất cao.

Thời gian thăm quan của khách quốc tế đến với Việt Hải là quanh năm, nhưng chủ yếu là mùa hè từ tháng 6 đến tháng 10 trong năm. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

Thời gian lưu trú của khách ít là từ 1 đến 2 tiếng để nghỉ trưa, nhiều nhất là qua đêm để tìm hiểu. Vì người dân Việt Hải có cho khách nghỉ trọ ngay tại nhà mình, ở Việt Hải mới khai trương một khu du lịch Stay home vào năm 2009 để đón tiếp khách du lịch. Trong khu đó người ta phục vụ ăn uống nghỉ ngơi cho khách du lịch.

Mục đích thăm quan :

  • Ngắm cảnh , chụp ảnh : Chiếm 80%
  • Tìm hiểu đơì sống của người dân trong làng : Chiếm 20%
  • Nghiên cứu: Chiếm 5%
  • Chuyến đi khám phá thăm quan hệ động thực vật trong Vườn Quốc Gia : chiếm 70%

Mặc dù có nhiều đoàn khách tới thăm quan làng Việt Hải , song ở đây các dịch vụ còn nghèo nàn, chưa phục vụ tốt  nhu cầu của khách nên khách tới đây thăm quan nhiều nhất là qua một đêm, còn bình thường khách chỉ dừng chân ở đây một vài giờ rồi đi ngay, khó có thể để lại ấn tượng cho du khách.

Hiệu quả kinh doanh du lịch của làng Việt Hải còn thấp, chủ yếu là từ dịch vụ ăn uống, dẫn khách đi thăm quan Vườn quốc gia Cát Bà, nghỉ đêm. Nguyên nhân chính là người dân ở đây tự phát làm du lịch, không có hướng dẫn của các cơ quan chức năng, nên chưa khai thác được những giá trị văn hoá độc đáo của làng Việt Hải với du khách .Hiện nay đã có các công ty tư nhân đầu tư xây dựng các cơ sở phục vụ du lịch phù hợp để khai thác một tài nguyên du lịch bền vững tại Việt Hải.

Hoạt động mang lại thu nhập cao nhất cho người dân Việt Hải là hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống, chiếm 43,5% tổng thu nhập của người dân. Hiện Nay ở Việt Hải có 4 hộ làm du lịch quy mô rất nhỏ, đón được tầm 15- 20 khách một hộ. Một hộ làm du lịch liên doanh với công ty du lịch APT có trụ sở tại Hà Nội , đã xây dựng một khu du lịch theo hình thức Homestay có thể phục vụ được từ 30-40 khách. Khi khách du lịch tới đây sẽ được các hộ làm du lịch tiếp đón bằng cách sản vật mà họ có như gà nhà , dê núi , mật ong rừng , rau họ tự trồng được. Trung bình mỗi ngày làng Việt Hải đón 70-80 khách, vào mùa hè , mức độ tiêu thụ sản phẩm bình thường vì đôi khi khách có thăm quan làng Việt Hải nhưng không dừng chân lại ăn uồng. Dù ít khách nhưng hoạt động kinh doanh du lịch ở Việt Hải lại đem lại nguồn thu lớn nhất cho người dân trong tổng số thu nhập của làng.

Hoạt động chở khách tới Việt Hải bằng thuyền máy mang lại hiệu quả kinh tế không nhiều vì hầu hết khách đều đi bằng tàu du lịch đến , hoặc đi đường xuyên qua rừng từ Vườn quốc gia xuống.

Hoạt động cho thuê xe đạp từ Cảng Việt Hải đi vào trong làng Viêt Hải đã xuất hiện mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân, hiện Việt Hải có trên 70 chiếc xe đạp cho thuê. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

Hoạt động phục vụ dẫn đường đi thăm Vườn quốc gia cũng mang lại hiệu quả kinh tế không nhiều, vì đa phần khách thường thuê nhân viên Vườn Quốc Gia Cát Bà dẫn đi.

Chính vì thế tổng thu nhập từ du lịch của Việt Hải chỉ đạt 43,5% , nhưng đó cũng là một con số cao so với mức sống của người dân trong làng.

Các hoạt động du lịch ở Việt Hải chiếm tỷ cao trong cơ cấu kinh tế của làng, nhưng nó chỉ tập trung ở những hộ làm du lịch, còn các hộ khác vẫn phải thu nhập từ nông nghiệp, lâm nghiệp,….Mức thu nhập trung bình ở Việt Hải tính bình quân đầu người là từ 800.000- 1.000.000/tháng. Đây là mức thu còn thấp nên Việt Hải còn nhiều hộ nghèo.

2.2.4.2. Tác động của hoạt động du lịch và sự quan tâm của địa phương đến môi trường tự nhiên và môi trường xã hội ở Việt Hải

  • Tác động du lịch tới môi trường tự nhiên của Việt Hải

Việt Hải là môi trường làng giữa rừng . Chứa trong mình các tài nguyên phong phú và có giá trị đặc biệt.Việt Hải có vị trí đặc biệt nên có môi trường hết sức nhạy cảm, vì nó nằm gần vùng lõi của Vườn quốc gia, nơi lưu giữ nhiều loại gen quý hiếm, cùng các động vật. Vì vậy muốn phát triển du lịch tại Việt Hải cần hết sức thận trọng.

Khi du lịch phát triển thì một số diện tích đất nộng nghiệp của Việt Hải đã chuyên đổi sang phục vụ cho du lịch, điều này đã ảnh hưởng tới cảnh quan tự nhiên của làng Việt Hải nói riêng và Vườn quốc gia Cát Bà nói chung. Với tình hình phát triển hiện nay thì luợng khách du lịch đến Việt Hải đông là điều không tránh khỏi. Nếu không được quản lý chặt chẽ thì cảnh quan môi trường xung quanh Việt Hải sẽ bị xâm hại nặng, các chất thải sinh hoạt của người dân, chất thải sinh hoạt của khách du lịch cùng ý thức kém của khách du lịch sẽ tàn phá môi trường làng du lịch Việt Hải. Bởi hoạt động du lịch tại làng Vỉệt Hải là ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường với số lượng khách đông, lượng rác thải do du khách mang lạo mỗi ngày ở làng Việt Hải là rất lớn bao gồm cả chất thải rắn và lỏng . Các hoạt động mua bán xăng dầu của bà con ngư dân cũng là một nỗi lo vì nó đe doạ sự ô nhiễm loang dầu hay đắm tầu. Do đó lượng rác thải của người dân làng Việt Hải là rất lớn.

Việc dùng các phương tiện di chuyển theo hướng hiện đại hoá từ thuyền nan, thuyền thúng sang thuyền gắn động cơ hiện nay cũng rất dễ làm tổn hại đến môi trường. Tiếng ồn, tiếng khói và khả năng thất thoát dầu xuống biển là không thể tránh khỏi.

Trên các vách núi đá và trong hang động, việc tham quan của du khách và cả người dân làng Việt Hải khiến cho cảnh quan mất dần vẻ hoang sơ tự nhiên. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

Việc để lại dấu ấn của du khách và ngư dân trên các hang đá như chữ viết, hình vẽ đã làm xấu cảnh quan của làng du lịch Việt Hải rất nhiều. Tại các điểm du lịch này, tình trạng rác thải bừa bãi cũng không tránh khỏi mặc dù đã có sự đầu tư cho những thiết bị chứa rác, biển báo kêu gọi giữ vệ sinh.

Ngoài hoạt động dịch vụ du lịch, hiện Việt Hải còn các hoạt động khác như là khai thác lâm sản của rừng phục vụ du lịch, nếu không được sự quản lý và giám sát chặt chẽ của chính quyền địa phương và nhân viên của Vườn quốc gia thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến tự nhiên vì Việt Hải nằm trong vùng lõi của Vườn quốc gia, nơi bảo tồn các loại gen quý hiếm, không chỉ của quốc gia mà còn của cả thế giới.

Nhận thức của người dân về bảo vệ cảnh quan môi trường ở Việt Hải cao hơn ở những nơi khác nhưng vẫn còn hiện tượng đánh bắt động vật trong rừng, chặt gỗ đốn củi ở trong rừng, hay hiện tượng đốt tổ ong gây hiên tượng cháy rừng, nên người dân cần được giáo dục và tuyên truyền nhiều hơn. Vì môi trường cảnh quan xung quanh Việt Hải chính là nguồn thu hút hút khách, mà nếu mất đi sẽ ảnh hưởng đến ngành du lịch Việt Hải.

Việc sử dụng phương tiện vận chuyển từ cảng Việt Hải vào trong trung tâm làng Việt Hải có sử dụng phương tiện xe ôm gây tiếng ồn ảnh hưởng đến các loài động vật của Vườn quốc gia.

Hiện nay vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên của Vườn quốc gia Cát bà được tiến hành với mức độ ưu tiên cao nhất và có nhiều chiến lược kế hoạch cụ thể.

Đầu tiên là việc nghiêm cấm các hành động xả rác và nước thải chưa xử lý. Người dân được trang bị dụng cụ vớt rác, các dụng cụ chứa rác và nước thải.

Tiếp theo là việc nghiêm cấm các hành vi săn bắt động vật, chặt cây bừa bãi ở Vườn quốc gia. 100% các hộ dân ký cam kết bảo vệ động thực vật quý hiếm ở trong rừng. Tuyệt đối không dùng các phương tiện gây ảnh hưởng đến hệ động thực vât.

Có các hành vi xử phạt nghiêm khắc bằng hành chính và pháp luật cũng góp phần làm giảm thiểu việc vi phạm, nhưng quan trọng nhất vẫn là ý thức bảo vệ rừng của người dân Việt Hải. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

Để phục vụ nghiên cứu tuyên truyền giáo dục về Vườn quốc gia hay chính xác hơn là khu Dự trữ sinh quyển thế giới, ban quản lý Vườn quốc gia đã có nhiều biển báo cắm ở rừng để du khách có ý thức hơn đối với việc bảo vệ môi trường. Nhân viên kiểm lâm sống thân thiện với người dân trong Vườn quốc gia, để từ đó có cách tuyên truyền và giáo dục tốt nhất cho người dân.

Ngoài ra việc đưa công tác giáo dục, bảo vệ môi trường di sản cho đối tượng là học sinh trong trừong học cũng là một giải pháp đúng đắn, hiệu quả, có tính định hướng, bền vững và lâu dài.

Chính quyền địa phương làng Việt Hải còn mở các đợt vận động các tầng lớp nhân dân tham gia làm sạch đẹp vào các dịp ngày lễ lớn, ngày môi trường thế giới 30/4, 19/5, 05/06, 02/09.

Thời gian qua, trước sức ép lớn về môi trường từ các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, chính quyền địa phương luôn nỗ lực thực hiện các giải pháp cơ bản nhằm cải thiện tình hình và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bảo vệ, quản lý môi trường làng Việt Hải. Hiện nay chính quyền địa phương vẫn tiếp tục các chương trình giáo dục cộng đồng bảo vệ môi trường, các hoạt động giữ gìn và phát triển môi trường trong sạch làng Việt Hải.

  • Tác động du lịch tới môi trường kinh tế xã hội của Việt Hải

Tác động về kinh tế: Vào những năm 90 về trước, người dân sinh hoạt trong thung lũng, rất ít tiếp xúc với bên ngoài vì đường đi khó khăn, họ chỉ ước mơ có một con đường nhỏ vừa bàn chân đi cũng được, để mùa mưa không phải lội dưới những vùng lầy, và khi đi đến chỗ thuyền neo đậu thì bàn chân đã bị hà cứa nát. Ước mơ đó là ước mơ lớn nhất và cháy bỏng của người dân Việt Hải lúc bấy giờ. Thì đến năm 1999, Cục Du lịch tên gọi lúc đó đã có dự án xây dựng đường bê tông từ cảng Việt Hải vào đến trung tâm làng. Dự án này được chia thành 3 giai đoạn, mỗi năm thực hiện 1 giai đoạn, và đến năm 2001 con đường bê tông hóa dài 40 km nối từ cảng Việt Hải vào tới trung tâm đã hoàn thành, và dường như đây chính là món quà lớn nhất mà du lịch đem lại cho Việt Hải. Khi có con đường này, thì kinh tế Việt Hải bắt đầu phát triển và khởi sắc, do đi lại dễ dàng, nhiều người dân Việt Hải đã ra Cát Bà làm ăn, và tham gia vào các hoạt động du lịch ngoài đó.

Xưa người Việt Hải sống trong những ngôi nhà tranh vách nứa, nay họ đã được ở nhưng ngôi nhà khang trang đẹp đẽ do việc vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng vào Việt Hải dễ dàng hơn. Cơ cấu kinh tế ở Việt Hải đã trở nên phát triển hơn từ khi có con đường này. Cơ cấu kinh tế thay đổi, số người tham gia vào việc đi rừng và nông nghiệp giảm, họ bắt đầu tham gia vào nhiều hoạt động kinh tế khác nhau hơn, đặc biệt là du lịch. Người dân Việt Hải thấy cuộc sống của mình thay đổi, không còn đi rừng làm nguồn thu chính như ngày xưa. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

Khi tất cả người dân ở quần đảo Cát bà đều có điện, nhưng riêng Việt Hải vì quá xa xôi và hẻo lánh, một lý do nữa là ảnh hưởng đến môi trường của Vườn quốc gia vì Vịêt Hải nằm trong vùng lõi của Vườn quốc gia, nên là xã cuối cùng huyện Cát Hải không có điện nên đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, dịch vụ du lịch cũng gặp nhiều khó khăn vì không có điện thì nhiều dịch vụ cũng không thực hiện được.

Để giải quyết tình thế này, chính quyền địa phương xã Việt Hải cùng với sự giúp đỡ của Uỷ ban nhân dân dân huyện Cát Hải đã cấp cho xã Việt Hải một máy phát điện, nhưng thời gian phát điện rất ngắn, từ 17h đến 19h trong ngày. Do đó không đủ điện để cung cấp cho các hoạt động du lịch cũng như đời sống nhân dân trong xã.

Sau nhiều cuộc họp bàn bạc giữa Việt Hải và Vườn quốc gia, cuối cùng làng Việt Hải đã có điện vào năm 2009. Cùng với việc có điện và giao thông thuận tiện, kinh tế làng Việt Hải đã trở nên phát triển hơn.

Đa phần người dân Việt Hải khi được hỏi đều cho rằng họ nhận thấy được đã có sự thay đổi về xã hội, về văn hoá giáo dục, thay đổi về y tế. Điều này cho thấy đời sống của người dân làng Việt Hải đã thực sự được nâng lên một bước do có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đồng thời cũng do sự phát triển tất yếu của du lịch trên làng du lịch Việt Hải.

Ở làng Việt Hải, nhiều gia đình mong muốn được Nhà nước tăng nguồn vốn cho vay phát triển kinh tế để có đủ điều kiện chuyển đổi công việc, hiệu quả cao và ít may rủi hơn.

Như vậy hoạt động du lịch và đầu tư của Nhà nước đã góp phần quan trọng để phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân Việt Hải, đồng thời qua đó, sự hiểu biết và tiếp thu các nguồn thông tin mới cũng đưa nhận thức của người dân lên một bước mới. Điều đó thực sự là một điều kiện để thúc đẩy du lịch phát triển mạnh mẽ hơn trên địa bàn làng Việt Hải.

  • Tác động về xã hội:

Bên cạnh những tác động tích cực đến mức sống kinh tế của người dân làng Việt Hải, hoạt động du lịch cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng nhiều đến môi trường xã hội ở đây theo cả hai hướng: tích cực và tiêu cực.

Mặt tích cực là điều kiện học tập, giao lưu và đón nhận những nét văn hoá mới, những thành tựu mới của xã hội được nâng cao, 90% số trẻ em ở làng Việt Hải được đi học, 40% người lớn chưa biết chữ được theo học các lớp xoá mù. Điều này giúp cho nhận thức của người dân được cải thiện, dễ tiếp cận và học hỏi những kiến thức mới mẻ.

Việc xoá mù chữ cho người dân làng Việt Hải đã được tiến hành từ lâu và thu đươc nhiều kết quả tốt đẹp. Hiện nay huyên Cát Hải đang phấn đấu hoàn thành phổ cập tiểu học cho người dân làng Việt Hải để tiến tới phổ cập trung học cơ sở.

Từ khi có điện, 90% hộ gia đình ở Việt hải có tivi, điều này đã giúp người dân biết đến các thông tin với đất liền một cách cập nhật và nhanh chóng. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

Ở làng Việt Hải cũng có thêm các loại hình giải trí như: văn nghệ, thể thao, các môn truyền thống… Các hoạt động lễ hội, văn hoá tín ngưỡng cũng được chính quyền quan tâm, tạo điều kiện tổ chức hoặc hỗ trợ kinh phí cho việc tôn tạo phục hồi. Đồng thời chính quyền địa phương, cụ thể là Uỷ ban nhân dân huyện Cát Hải đã có sự hỗ trợ để khuyến khích bà con lưu giữ những nét văn hoá trong đời sống của mình, trong sinh hoạt và các dịp lễ, tết đặc biệt. Điều quan trọng là tuyên truyền để bà con hiểu tính chất quan trọng của việc bảo tồn nền văn hoá phục vụ du lịch và nghiên cứu khoa học lợi ích về tinh thần và vật chất mà giá trị văn hoá ấy mang lại để họ có ý thức hơn trong việc giữ gìn cho cộng đồng và cho thế hệ sau.

Không chỉ hướng vào việc tổ chức khôi phục lại các hoạt động lễ hội phục vụ du lịch mà cần có sự quy hoạch xây dựng các trung tâm văn hoá để du khách có thể tìm hiểu rõ hơn về nét văn hoá của làng Việt Hải.

Thanh niên ở làng Việt Hải có nhiều cơ hội việc làm với các nghề dịch vụ, du lịch. Họ được tham gia nhiều phong trào và hoạt động mới mẻ , bổ ích như các cuộc thi, hội thao, hưởng ứng các cuộc vận động về môi trường hay sinh đẻ có kế hoạch. Điều đó giúp cho khả năng hoà đồng và hội nhập của họ tốt hơn.

Tuy nhiên những ảnh hưởng tiêu cực cũng bắt nguồn từ chính sự giao lưu và phát triển kinh tế đó, như là các hành vi hiện tương thanh niên đánh bạc, uống rượu bao gồm người dân Việt Hải và người từ nơi khác đến.

Đây cũng là một sự báo động về đạo đức của người dân làng Việt Hải, nơi mà vấn đề an ninh và mối quan hệ cộng đồng vốn rất tốt đẹp. Chính quyền địa phương cần có những biện pháp chấn chỉnh và giáo dục để môi trưòng xã hội trong sạch hơn.

2.2.5. Đánh giá chung hiện trạng phát triển du lịch ở Việt Hải

Thành công: Sự phát triển du lịch của Việt Hải đã góp phần vào sự phát triển du lịch chung của đảo Cát Bà. Đã giải quyết việc làm cho một bộ phận người dân, ổn định xã hội mang lại nguồn thu đáng kể cho người dân, bước đầu có vai trò đối với sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế ở Việt Hải. Bên cạnh đó du lịch Việt Hải góp phần làm thay đổi cảnh quan Việt Hải khang trang hơn nhờ sự ra đời của mô hình Home Stay dù chỉ có một cái mới đi vào hoạt động vào tháng 05/2009, còn một cái đang trong quá trình tu bổ và hoàn thành . Mặt khác tạo cơ sở tiền đề cho sự phát triển các ngành kinh tế xã hội, xây dựng đường giao thông vận tải thuận lợi, bưu chính viễn thông, có đường điện lưới quốc gia. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

Các công trình xây dựng, sửa chữa, cải tạo đều thực hiện đúng quy định về xây dựng phù hợp với quy hoạch cũng như cảnh quan môi trường Việt Hải. Hoạt động của trạm thông tin du lịch đã đi vào nề nếp do người dân tự lập ra và quản lý , bước đầu đã phát huy tác dụng giới thiệu hướng dẫn cho khách, nhất là với các đối tượng khách nước ngoài đến Việt Hải. Trạm này người dân tự thu thập tài liệu để cung cấp cho khách du lịch.

Vừa qua dựa trên con số thống kê từ hơn 9000 khách đến với Vườn quốc gia thì Việt Hải là một điểm thu hút khách ở Cát Bà. Hoạt động du lịch khởi sắc tạo điều kiện để cho chính quyền địa phương hay nói cách khác là Uỷ ban nhân dân xã Việt Hải kiến nghị lên Uỷ ban nhân dân huyện đầu tư thích đáng, và hợp tác cùng với Vườn quốc gia Cát Bà tổ chức nhiều hơn những tour du lịch đến với Việt Hải.

  • Hạn chế và nguyên nhân :

Hạn chế : Cùng với những mặt được thì du lịch ở Việt Hải còn một số hạn chế: thời gian qua du lịch Việt Hải đã giải quyết được một số vấn đề trước mắt và đã có những chuyển biến tích cực để hoà nhập với sự phát triển du lịch của đảo Cát Bà. Đóng góp vào sự phát triển chung của du lịch huyên Cát Hải. Tuy nhiên so với các điểm du lịch khác của Cát Bà thì Việt Hải phát triển còn chậm, chưa tương xứng với vị trí và tiềm năng sẵn có của mình. Thời gian khách du lịch lưu trú ở Việt Hải chưa cao cũng như doanh thu còn rất thấp, sản phẩm du lịch không có gì đặc sắc và không đa dạng. Hầu hết mới khai thác tài nguyên du lịch sẵn có. Các loại hình du lịch chưa được tạo lập và chưa khai thác có hiệu quả.

Số lương cơ sở lưu trú dành cho khách hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn, hầu hết các cở sở lưu trú đều là người dân tự phát làm, quy mô nhỏ, không có khuân viên, thiếu các thiết bị hiện đại để phục vụ nhu cầu tối thiểu cho khách, đặc biệt là khách quốc tế.

Các dịch vụ du lịch phục vụ cho khách còn rất thô sơ và ít. Thị trường khách du lịch chưa được đa dạng, chủ yếu là khách nước ngoài, rất ít khách Việt.

Tình trạng kinh doanh du lịch manh mún, còn tồn tại và chưa thể khắc phục được ngay. Dẫn đến hiệu quả kinh doanh du lịch không cao. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

Khai thác và đưa vào sử dụng công nghệ thông tin trong kinh doanh quản lý hầu như không có nên chưa khai thác hết về phần mềm máy tính, về hoạch định kế toán và quản lý nhân viên, chưa khai thác hệ thống mạng Internet để có những thông tin mới nhất nhanh nhất về du lịch trong vùng và khu vực các nước trên thế giới. Đồng thời còn rất chậm trong việc đưa những thông tin mới nhất, nhanh nhất về du lịch Việt Hải tới những khu vực khác. Đó là hình thức quảng cáo nhanh nhất.

Công tác xây dựng và quản lý điểm du lịch ở Việt Hải còn nhiều hạn chế, vì Uỷ ban nhân dân xã Việt Hải không có toàn quyền quyết định của mình. Như đã nói ở trên thì Việt Hải nằm trong Vườn quốc gia Cát Bà, nên khi khách muốn đến thăm Việt Hải thì phải đi qua Vườn quốc gia Cát Bà, nên vé vào thăm quan Việt Hải do Ban quản lý Vườn quốc gia Cát Bà thu 30.000đ/người/lượt

Do địa giới hành chính rất nhỏ, đất đai ở Việt Hải do Vườn quốc gia quản lý nên muốn xây dựng gì phải thông qua ý kiến Vườn quốc gia nên gặp rất nhiều khó khăn. Có công trình xây dựng phục vụ du lịch đang xây đã phải ngừng lại vì không được sự cho phép của Vườn quốc gia theo người dân gọi đó là Khu nhà cổ , nên gây ra những sự lãng phí tiêu tốn tiền của, hạn chế khả năng phục vụ khách và gây ra nhiều vấn đề bất cập.

Tổ chức kinh doanh các hoạt động du lịch còn tự phát, chưa định hình được một cách rõ nét các loại hình du lịch có thể tổ chức ở đây, tất cả gọi chung là tham quan du lịch, chưa có sự kết hợp nhân tố tài nguyên du lịch và nhân tố con người để tạo ra các dịch vụ du lịch vui chơi giải trí cho khách du lịch.

Nhìn chung tiềm năng du lịch của Việt Hải phần lớn chưa được đầu tư khai thác hợp lý nên chưa phát huy hết các thế mạnh của mình. Vấn đề môi trường và bảo vệ các nguồn tài nguyên du lịch cũng như quản lý du lịch là một vấn đề nóng ở Việt Hải, đặt ra cho Việt Hải những thách thức, làm sao sử dụng nguồn tài nguyên của mình một cách tốt nhất cho chính người dân địa phương và môi trường xung quanh.

Nguyên nhân : Việt Hải hội tụ tất cả tài nguyên du lịch tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, trong đó nổi trội hơn là tài nguyên du lịch tự nhiên, nhưng có vị trí không được thuận lợi vì nằm trong vùng lõi của Vườn quốc gia, nó thuộc một xã hảo đảo, đi bộ từ Vườn quốc gia phải đi hơn 2 tiếng, mà toàn đường rừng rất khó đi. Còn đi từ thị trấn Cát Bà ra Việt Hải phải đi thuyền máy qua Vịnh Lan Hạ, mất gần một tiếng. Đó là một trong những khó khăn khiến du lịch phát triển kém hơn so với các vùng khác trong quần đảo Cát Bà. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

Sự phối hợp điều hành giữa các cơ quan quản lý: Vườn quốc gia Cát Bà và Uỷ ban nhân dân xã Việt Hải hay cao hơn là Uỷ ban nhân dân huyện Cát Hải chưa được đồng bộ và nhất quán, nhiều khi còn có mâu thuẫn giữa Uỷ ban nhân dân Việt Hải và Ban quản lý Vườn quốc gia Cát Bà về việc hoạch định phát triển du lịch ở Việt Hải cũng như xây dựng các cơ sở du lịch ở Việt Hải.

Việt Hải chưa có một ban quản lý riêng về du lịch nên tiếp cận các vấn đề về du lịch gặp nhiều khó khăn do trình độ cũng như sự hiểu biết ít về du lịch. Nhiều khi chính điều đó đã làm Việt Hải mất các dự án đầu tư, hay các kế hoạch phát triển du lịch ở Việt Hải không được rõ ràng và theo một lộ trình nhất định, nên việc quảng bá tiếp cận thị trường để thu hút khách ở Việt Hải là không có. Chủ yếu khách du lịch ở Việt Hải là khách du lịch nước ngoài nhưng con số này không cao so với tiềm năng của mình.

Du lịch Việt Hải nói riêng và du lịch Cát Bà nói chung chưa có sự đầu tư thoả đáng về vật chất cũng như con người, một yếu tố có tình quyết định trong lĩnh vực kinh doanh du lịch.

Tiểu kết chương 2: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

Từ sự phân tích trên có thể tổng kết những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch của làng Việt Hải như sau:

Việt Hải có đời sống văn hoá xã hội phong phú và môi trường tự nhiên rất đặc biệt so với nhiều vùng khác. Chính vì thế Việt Hải có lợi thế để thu hút khách du lịch, nhất là khách du lịch sinh thái qua việc người dân dẫn khách thăm rừng nguyên sinh và cảnh quan xung quanh.

Nhìn chung Việt Hải đã bước đầu có tăng trưởng đáng kể về số lượng khách, doanh thu góp phần tăng thu nhập cho người dân, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ sở vật chất được cải thiện, bước đầu đáp ứng nhu cầu tối thiểu để làm du lịch.

Tuy nhiên phát triển du lịch ở đây vẫn còn những vấn đề bất cập trong việc quản lý, khai thác, bảo vệ cảnh quan môi trường. Cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn, dịch vụ còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu của khách.

Công tác tuyên truyền, thu hút khách chưa được quan tâm, chưa có các chính sách đa dạng hoá sản phẩm du lịch nhằm thu hút khách hơn.

Bên cạnh đó cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn lạc hậu tự phát chưa có quy hoạch đồng bộ, còn thiếu các điểm vui chơi giải trí cho khách.

Chính nguyên nhân trên mà du lịch tại đây phát triển còn rất chậm chưa tương xứng với tiềm năng. Việt Hải có nguồn tài nguyên vô cùng quý giá chính là môi trường của mình. Nhưng khai thác thế nào cho hiệu quả nguồn tài nguyên đó mới là yêu cầu cấp thiết. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà.

Song hành với việc phát triển du lịch, Việt Hải cần giữ lại những nét văn hoá riêng của mình và cảnh quan môi trường.

Trong tương lại không xa, Việt Hải sẽ được quy hoạch thành một làng du lịch cộng đồng. Khi đó Việt Hải đã bước thêm một bước mới trên con đường du lịch, trở thành một điểm du lịch ở Cát Bà thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại Cát Bà

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537