Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Một số đề xuất nhằm phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những thập kỷ trở lại đây trên thế giới cò nhiều quốc gia đạt mức tăng trưởng kinh tế nhanh nên chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao, du lich đã trở thành nhu cầu phổ biến trong đời sống xã hội, hoạt động kinh doanh du lịch đã phát triển mạnh mẽ được coi là nghành kinh tế năng động quan trọng mang lại hiệu qủa kinh tế xã hội cao.
Bên cạnh việc đem lại những lợi ích to lớn thì sự phát triển kinh tế nhất là sự phát triển du lịch với mức tặng trưởng nhanh, cùng với sự bùng nổ dân số khắp nơi trên thế giới và quá trình đô thị hoá quá mức, xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế xã hội thế giới đã ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên môi trường và đời sống kinh tế xã hội ở nhiều quốc gia trên quy mô toàn cầu.
Do vậy phát triển du lịch bền vững đặc biệt đối với các ngành kinh tế có gắn bó với tài nguyên như ngành du lịch đã trở thành nhu cầu, mục tiêu định hướng phát triển kinh tế xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới .
Việt Nam là quốc gia có tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn đa dạng đặc sắc rất thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch, những năm qua ngành du lịch ở nước ta có phát triển vượt bậc, đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Song do ngành du lịch ở nước ta phát triển chưa hợp lý cùng với những hạn chế khác đã gây nên những tác động tiêu cực đến môi trường, đời sống xã hội, hiệu quả kinh doanh còn thấp. Vì vậy phát triển du lịch bền vững là mục tiêu chiến lược quan trong của ngành du lịch Việt Nam hiện tại cũng như lâu dài. Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
Là một thành phố lớn thứ ba của Việt Nam, Hải Phòng được nhà nước xác định là một trong những trung tâm du lịch lớn của đất nước, là một cực quan trọng trong khu tam giác phát triển kinh tế phía bắc Hà Nội- Hải Phòng – Quảng Ninh . Hải phòng có thiên nhiên phong phú lại nằm trên bờ biển Đông – một bờ biển đa dạng về tự nhiên, có thềm lục địa rộng, có nền văn hoá lâu đời. Haỉ Phòng có một nền kinh tế tương đối toàn diện, có điêù kiện thuận lợi để phát triển giao thông vận tải và là một hải cảng một cửa ngõ quan trọng của vùng biển Đông Nam Á. Đối với khách du lịch Hải Phòng là điểm nối của tour du lịch Hà Nội – Cát Bà – Hạ Long Là tuyến du lịch trọng điểm của miền bắc Việt Nam và ngày cang thu hút đông đảo khách du klich trong nước và quốc tế. Từ Hải Phòng khách du lịch có thể dễ dàng đi đến Ma Cao, Thẩm Quyến những trung tâm sôi động bậc nhất ở Đông Nam Á, cùng với lực lượng lao động dồi dào, cần cù. Trong điều kiện này Hải Phòng có nhiều cơ hội để mở ra tiềm năng xây dựng và phát triển ngành một nền công nghiệp du lịch đặc thù của riêng mình đủ sức cạnh tranh với những trung tâm lớn trong khu vực.
Một trong những điểm du lịch nổi tiếng của Hải Phòng đó là Vườn quốc gia Cát Bà. Nằm ẩn sâu trong vườn quốc gia Cát Bà, có một nơi mà được nhiều du khách biết tới đặc biệt là khách nước ngoài. Đó là làng Việt Hải một địa điểm du lịch rất thú vị, đến với Việt Hải du khách như đến với hòa mình vào thiên nhiên, sống cùng thiên nhiên và con người Việt Hải. Vì Việt Hải có một vị trí địa lý hết sức đặc biệt, nằm gần vùng nõi của vườn quốc gia Cát Bà Với vị trí thuận lợi đó Việt Hải đang và sẽ trở thành điểm thu hút khách du lịch. Nhưng phát triển du lịch ở Việt Haỉ như thế nào để không ảnh hưởng tới môi trường tự nhiên xung quanh Việt Hải là một câu hỏi lớn.
Là một sinh viên văn hoá du lịch em đã nhận thức được những vấn đề bức xúc trên . Bằng những kiến thức đã học cộng với kinh nghiệm thực tế em đã lựa chon đề tài: “Một số đề xuất nhằm phát triển du lịch bền vững tại làng Vệt Hải- Cát Bà”
Làm khoá luận tốt nghiệp của mình, hy vọng thông qua đề tài này em có thể góp một phần nhỏ vào vịệc quy hoạch phát triển du lịch tại làng Việt Hải – Cát Bà nhằm đưa hoạt động du lịch ở đây phát triển theo hướng bền vững.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Nhiệm vụ đề tài
Hệ thống hóa các vấn đề có liên quan tới môi trường, vấn đề phát triển bền vững, môi quan hệ giữa môi trường và du lịch, những tác động của hoạt động du lịch tới môi trường và ngược lại
Từ những khái quát chung về du lịch Cát Bà, đi sâu tìm hiểu các tài nguyên du lịch nhân văn và tự nhiên, cùng các hoạt động du lịch đang diễn ra tại làng Việt Hải và những ảnh hưởng của nó. Đưa ra một số đề xuất nhằm phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải. Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
3. Tính mới, tính độc đáo và sáng tạo của đề tài
Lần đầu tiên có một nghiên cứu, đánh giá tổng quát nhất về tài nguyên du lịch nhân văn và tự nhiên, cùng các hoạt động du lịch đang diễn ra tại làng Việt Hải và những ảnh hưởng của nó
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của làng Việt Hải có thể khai thác, phục vụ và phát triển du lịch bền vững
Phạm vi nghiên cứu :
- Thời gian : Từ năm 2007
- Không gian: Làng Việt Hải
5. Các phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ trên em đã áp dụng một số phương pháp cụ thể sau
- Phương pháp thu thập và sử lý dữ liệu : phương pháp này rất quan trọng về các đối tượng nghiên cứu được thu thập tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau, được phân loại so sánh và chọn lọc kỹ, được tập hợp thành nhừng dữ liệu có tính hệ thống và đáng tin cậy .
- Phương pháp điều tra thực địa : Tư liệu đã thu thập, quan sát trực tiếp, phỏng vấn những người có trách nhiệm liên quan tới các vấn đề mà đề tài quan tâm, từ những kết quả đó là cơ sở đánh giá ban đầu và thẩm định lại quá trình nghiên cứu .
- Phương pháp tổng hợp so sánh : Đây là phương pháp chính để tổng hợp sử lý dữ liệu sau khi thu thập các tài liệu và các số liệu, các nguồn khác nhau và từ thực tế .
6. Bố cục khoá luận : Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
Khóa luận gồm 70 trang, ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phục lục, tài liệu tham khảo, khóa luận được chia làm 3 chương
- Chương 1. Lý thuyết chung về du lich và du lịch bền vững
- Chương 2. thực trạng tổ chức khai thác du lịch tại làng Việt Hải – Vườn Quốc Gia Cát Bà .
- Chương 3 . Một số đề xuất nhằm phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải
CHƯƠNG 1. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH BỀN VỮNG
1.1.Khái niệm về du lịch
Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà ở cả các nước đang phát triển , trong đó có Việt Nam . Hiện nay trên thế giới có nhiều khái niệm du lịch về du lịch của nhiều cá nhân và tổ chức .
Theo PTS Trần Nhạn : du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc ,độc đáo , khác lạ với quê hương , không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền .
Hay năm 1963 hội nghị liên hợp quốc về du lịch họp tại Roma , các chuyên gia đã đưa ra khái niệm về du lịch như sau : Du lịch là tổng hợp các mối liên hệ , hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú cuả cá nhân hay tập ttể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình, nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ . Có rất nhiều khái niệm về du lịch việc thống nhất một khái niệm du lịch chung là rất khó khăn .
Theo luật du lịch Việt Nam ( năm 2005) thì “ du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu thăm quan, giải trí , nghỉ ngơi trong một thời gian nhất định”. Tuy tồn tại nhiều khái niệm khác nhau nhưng nhìn chung mọi khái niệm đều có điểm giống nhau và du lịch được hiểu là:
Một hiện tượng xã hội : nghĩa là du lịch là sự di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú , nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức , có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và một số dịch vụ do các cơ sở cung cấp.
Một hiện tượng kinh tế, một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nẩy sinh trong quá trình di chuyển của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú thường xuyên.. Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản trong khái niệm du lịch sẽ góp phần thúc đẩy du lịch phát triển lành mạnh và đúng đắn. Cho đến nay không ít người thậm chí cả đội ngũ nhân viên đang công tác trong trong ngành du lịch chỉ cho rằng du lịch là một ngành kinh tế. Do đó mục tiêu quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế. Điều đó cũng có nghĩa tận dụng mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để kinh doanh. Trong khi đó du lịch còn là một hiện tượng xã hội, nó góp phần nâng cao dân trí, phục hồi sức khoẻ và giáo dục, vì vậy toàn xã hội phải có trách nhiệm hỗ trợ đóng góp và đầu tư cho du lịch như các lĩnh vực văn hoá, thể thao, giáo dục .
1.1.1. Mối quan hệ giữa môi trường và du lịch
1.1.1.1. Hoạt động du lịch tác động đến môi trường kinh tế – xã hội
Trong qua trình triển khai , phát triển , hoạt động du lịch có tác động nhất định đến môi trường. Các tác động xảy ra không chỉ đối với môi trường tự nhiên mà cả môi trường xã hội, nhân văn. Các tác động có thể là tích cực làm tăng tính đa dạng của sinh học, qua việc phát triển cảnh quan cây xanh và vườn thú, công viên …. phục vụ du lịch hay làm sống dậy và phát triển, bảo tồn các ngành nghề truyền thống.
Bên cạnh đó hoạt động du lịch cũng là các, tác động tiêu cực đến các công trình kiến trúc văn hoá lịch sử nếu không có các biện pháp bảo vệ. Do mật độ tham quan và hành vi của khách thăm quan, hay sự qúa tải của điểm du lịch đã tác động lên hệ sinh thái nhạy cảm dễ bị tổn thương đó là các hang động, vườn quốc gia, khu bảo tồn. Cũng có nhiều tác động khác đến môi trường trong quá trình phát triển du lịch, như xây dựng mới, cải tạo các cơ sở vật chất kỹ thuật cũ để phục vụ du lịch ( xây dựng đường xá, cầu cống, khu vui chơi giải trí …), hay chính các hoạt động du lịch thăm quan vườn quốc gia, các khu bảo tồn hay các hoạt dộng thể thao như bơi lội, tắm biển. Các dịch vụ du lịch như hàng quán, vận chuyển
Để đánh giá một cách phù hợp hơn theo các định hướng phát triển và dưới góc độ nhìn nhận về môi trường các tiềm năng du lịch có thể được thể hiện qua các hoạt động du lịch sau
- Tác động tích cực : Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
Du lịch phát triển sẽ đóng góp to lớn cho nền kinh tế xã hội trên 4 lĩnh vực sau :
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tăng thu nhập quốc dân : Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành , liên vùng và xã hội hoá cao. Do vậy việc phát triển du lịch góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển thông qua việc đáp ứng các sản phẩm phục vụ nhu cầu của khách du lịch như : phương tiện vận chuyển, thông tin liên lạc, cấp điện, cấp nước…. Có ý nghĩa thúc đẩy kinh tế vùng.Thu nhập từ du lịch đóng góp vào việc nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho người dân địa phương, đồng thời thông qua các hoạt động du lịch góp phần đô thị hoá các địa phương có điểm du lịch.
Góp phần giả quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho một bộ phận cộng đồng địa phương thông qua cung cấp các dịch vụ du lịch cho khách. Phát triển du lịch từ khâu chuẩn bị đầu tư xây dựng đến khi hoạt động du lịch diễn ra, đã tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương ( Mở hàng quán phục vụ du lịch, tham gia vào việc xây dựng các cơ sở vật chất phục vụ du lịch, tham gia vận chuyển khách …..) Ai cũng thấy được rằng du lịch phát triển sẽ làm tăng thu nhập cho địa phương, khu vực và cả nhà nước .
Góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ địa phương : Phát triển du lịch kéo theo các dịch vụ đi kèm góp phần cải thiện về cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội cho địa phương. Y tế, thông tin liên lạc, đường giao thông, các khu vui chơi giải trí ….do có các dự án về du lịch kéo theo các dụ án khác dầu tư về cơ sở hạ tầng tới khu du lịch .
Tạo điều kiện giao lưu văn hoá giưã các vùng , các cộng đồng , và quốc tế Việc phát triên du lịch tạo ra cơ hội giao lưu văn hoá của người dân trong vùng và các địa phương trong cả nước, với người nước ngoài thông qua giao tiếp với khách du lịch. Phát triển du lịch làm rút ngắn khoảng cách về cơ sở hạ tầng cũng như nhận thức của người dân địa phương. Những tác động về văn hoá xã hội của du lịch làm thay đổi các hệ thồng về nhận thức, đó là tư cách cá nhân, quan hệ gia đình, lối sống tập thể hành vi đạo đức, nghi lễ truyền thống , …. Qua tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp của người dân địa phương vơi du khách.
- Tác động tíêu cực : Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
Những thành tựu mà du lịch mang lại là không nhỏ theo như phân tích trên. Tuy nhiên cũng như bất kỳ một ngành kinh tế nào đó đều có hai mặt và du lịch cũng vậy, nó cũng có những tác động tiêu cực tới môi trường kinh tế và văn hoá xã hội. Những tác động của du lịch tới môi trường kinh tế văn hoá xã hội thể hiện ở 6 vấn đề sau :
Ảnh hưởng tới kết cấu dân số ( số lượng , thành phần , giới tính ) theo ngành nghề :
Do nhu cầu về nhân lực và sức hút thu nhập từ du lịch : Du lịch phát phiển sẽ thu hút một lượng lớn lao động từ các ngành nghề khác đặc biệt là nông nghiệp, khiến lực lượng sản xuất lương thực này giảm đi đáng kể nhất là khu vực hay vùng có điểm du lịch. Hiện tượng nhập cư của lao động du lịch, các nhà kinh doanh du lịch từ nơi khác đến và vấn đề di cư của người dân địa phương trong khu du lịch nhằm giải phóng mặt bằng để xây dựng cơ sở du lịch, đã gây ra nhiều vấn đề khác nhau như mâu thuẫn giữa người dân địa phương với nhưng nhà đâu tư , với dân lao động du lịch nhập cư tìm kiếm việc làm .Tuy nhiên vấn đầu tư nội tại nhất là việc hợp lý hoá tổ chức sản xuất trong bản thân nông dân khu vực . Việc xây dựng các khách sạn , các khu nghỉ dưỡng, các khu vui chơi, là nguyên nhân việc di chuyển chỗ ở và tái định cư ngoài mong muốn của người dân đại phương do nhu cầu giải phóng mặt bằng An ninh và trật tự an toàn xã hội bị de doạ :
Du lịch phát triển ngày càng thu hút đông du khách cả quốc tế và khách nội địa, nhiều đối tượng khách cũng đến 1 điểm hoặc địa phương nên khó kiểm soát được hết hoạt động của khách, do vậy các tệ nạn phát sinh do nhu cầu của khách du lịch như : Mại dâm ,cờ bạc , ma tuý và tranh dành khách giữa người dân địa phương. Ngoài ra việc phân bổ lợi ích và chí phí du lịch trong nhiều trường hợp chưa thật công bằng gây ra mâu thuẫn giưa người dân địa phương và người làm hoạt động du lịch
- Gây áp lực lên cơ sở nội khu vực theo du lịch :
Do tính mùa vụ của hoạt động du lịch cho nên vào thời kỳ cao điểm số lượng khách cũng nhu cầu sinh hoạt của khách có thể vượt qúa khả năng đáp ứng về dịch vụ công cộng và cơ sở hạ tầng của địa phương như : ùn tắc giao thông , các nhu cầu về cung cấp nước, năng lượng, xử lý nước thải, chất thải rắn vượt qua khả năng của địa phương nơi diễn ra các hoạt động du lịch .
- Thay đổi phương thức tiêu dùng : Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
Việc phát triển du lịch đã làm tăng thu nhập cũng như mức sống của người dân địa phương, làm tăng sức mua đồng thời cũng làm tăng giá cả hàng hoá nguyên liệu và thực phẩm . Điều này thể hiện rõ nhất ở sự chi tiêu thoả mái của khách du lịch làm giá cả các mặt hàng trong khu vực bị đẩy lên cao làm ảnh hưởng tới cơ cấu tiêu dùng của người dân nơi có các hoạt động du lịch, đặc biệt là những người có thu nhập thấp. Hơn nữa tỷ trọng du lịch ngày càng tăng cao đòi hỏi người dân phải có những hiểu biết nhất định về cơ chế thị trường .
- Chuẩn mực xã hội bị thay đổi trong một số trường hợp làm suy thoái văn hoá truyền thống :
Khi du lịch phát triển người dân trong vùng có điều kiện tiếp xúc với khách du lịch sẽ dẫn tới những quan niệm sống , việc làm thay đổi, các hệ thống giá trị nhân cách, quan hệ gia đình, lối sống tập thể, hành vi đạo đức, giá trị truyền thống bị thay đổi. Một số đơn vị kinh doanh du lịch chạy theo lợi nhuận thương mại hoá các hoạt động văn hoá của người dân, biến lễ hội thành hoạt động trình diễn làm mất đi nghi lễ đối với tôn giao truyền thống. Các hoạt động du lịch chuyên đề khảo cổ học có thể mâu thuẫn với tín ngưỡng địa phương.
- Tăng nguy cơ mắc bệnh lây truyền xã hội :
Du lịch gắn liền việc tiếp sức giữa người dân bản địa và khách du lịch vùng , do vậy sự thâm nhập của các dòng khách khác về địa lý chủng tộc sẽ kéo theo nguy cơ lan truyền của các loại bệnh khác nhau ( bệnh ngoaì da, bệnh đường ruột, bệnh lây qua đường tình dục..). Ngoài ra ô nhiễm môi trường như ( rác thải , nước bẩn ..) sẽ làm ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng người dân địa phương .
1.1.1.2. Tác động của hoạt động du lịch đối với môi trường tự nhiên .
Du lịch có thể duy trì bảo tồn môi trường thiên nhiên nếu hiểu được rằng đó chính là sức hút để du lịch phát triển. Nhưng thật khó có thể tìm được ví dụ minh hoạ cho điều này, sau nông nghiệp , lâm nghiệp du lịch chính là nghành phá hoại nhiều nhất đến sinh vật vì du lịch cần rất nhiều thứ hỗ trợ để có thể phát triển như giao thông vận tải , năng lượng , các cơ sở hạ tầng …, đó chính là những thách thức đối với việc phát triển nghành du lịch. Du lịch cũng chính là đối tượng sử dụng môi trường và khoảng không gian lớn nhất, ngành du lịch cùng với các dịch vụ kèm theo là những hiểm hoại đối với môi trường. Một khách du lịch sử dụng khoảng không gian nhiều hơn người dân bản địa gấp 7 lần, lượng nước một du khách sử dụng một ngày cũng gấp 2 lần người dân địa phương , và ngành du lich sử dụng không gian gấp hơn một 100 lần để làm ra lợi nhuận tương tự một doanh nghiệp sản xuất. Sự tiêu thụ năng lượng của một khách du lịch có thể gấp 100 lần so với người dân địa phương , đó chưa kể nước ngọt, đồ ăn ,giấy vệ sinh, và các chất thải khác như giấy gói, xà phòng …Sự tiêu thụ lớn về khoảng không, năng lượng, chất thải và các tác động tiêu cực là yếu tố nội tại không thể bỏ qua.
1.2. Du lịch bền vững Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
1.2.1. Khái niệm về phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa… riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó.
Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế – IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”.
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới – WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…” . Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế – xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội… phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế – xã hội – môi trường.
Khái niệm “Phát triển bền vững” được biến đến ở Việt Nam vào những khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90. Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ. Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan mà đầu tiên phải kể đến là công trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như “Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Công trình này đã tiếp thu và thao tác hoá khái niệm phát triển du lịch bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật. “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia Việt Nam – giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành. Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
Phát triển là xu thế tự nhiên của mỗi cá nhân con người hay của một cộng đồng xã hội. Phát triển là quá trình nâng cao điều kiện sống vật chất và tinh thân của con người. Đối với mỗi quốc gia quá trình phát triển phải đạt được mục tiêu nhất định về kinh tế và tiêu chuẩn cho mức sống vật chất và tinh thần của người dân trong quốc gia đó. Sự phát triển của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ lịch sử tiến hành theo phương pháp công nghệ và phương pháp quản lý khác nhau . Tuy nhiên mọi hoạt động phát triển đếu có chung một bản chất đó là sử dụng lực lượng lao động con người để khai thác taì nguyên thiên nhiên, nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần cho con người . Môi trường tự nhiên cung cấp tài nguyên cho những hoạt động phát triển của con người và tiếp nhận chất thải từ những hoạt động này. Chất thải này có thể ở lại hẳn trong môi trường tự nhiên hoặc qua khâu sử lý rời tái sử dụng . Một hoạt động kinh tế mà chất thải của nó không thể xử dụng lại được xem như là một hoạt động gây tổn thương môi trường, việc lãng phí tài nguyên không tái tạo lại được hay tài nguyên tái tạo quá mức không thể phục hồi hoặc phục hồi trong thời gian quá dài thì sự phát triển là không bền vững. Khi khai thác tài nguyên nằm trong phạm vi có thể phục hồi trong một thời gian tương đối ngắn, hoặc số lượng tài nguyên bị khai thác ít không đáng kể so với tổng tài nguyên nằm trên trái đất thì đó là sự phát triển bền vững .
Vậy “phát triển bền vững” là quá trình phát triển không làm xuống cấp hay cạn kiệt nguồn tài nguyên , cái mà đang phục vụ sự phát triển . Điều này có thể đạt được thông qua quản lý các nguồn tài nguyên sao chúng có thể tự phục hồi với nhịp độ như đã sử dụng , bằng cách này nguồn tài nguyên có thể đáp ứng được các nhu cầu của thế hệ hiện tại và tương lai . Như vậy phát triển lâu bền đòi hỏi các nguồn tài nguyên phải được phát triển và sử dụng một cách tổng hợp . Điều này đòi hỏi phải tính đến mục tiêu rộng lớn của quốc gia, sự khác nhau của các khu vực về vốn, thu nhập, sự ảnh hưởng của một lĩnh vực hay một nền công nghiệp khác, những hoạt động tác động của vùng này đến địa phương khác
1.2. 2. Khái niệm về phát triển du lịch bền vững
Phát triển du lịch bền vững đã trở thành xu hướng và mục tiêu phát triển kinh tế du lịch của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam trong hiện đại và tương lai . Vì vậy cần vận dụng quan điểm phát triển này vào trong việc tổ chức quản lý
Khái niệm về phát triển du lịch bền vững không tách khỏi khái niệm về phát triển bền vững . Ỏ góc độ nào khác đó có thể dễ dành nhận thấy được du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có định hướng tài nguyên, bao gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn, rõ rệt và sự phát triển của du lịch gắn liền với môi trường. Chính vì vậy bản thân sự phát triển của du lịch đoì hởi sự phát triển bền vững chung của toàn xã hội và ngược lại .
Từ đầu thập niên 1990 các nhà khoa học trên thế giới đã đề cập nhiều đến việc phát triển du lịch với mục đích đơn thuần về kinh tế đang đe doạ huỷ hoại môi trường sinh thái, đến các văn hoá bản địa, hậu quả của các tác động này sẽ làm ảnh hưởng tới sự phát triển lâu dài của ngành du lịch. Chính vì vậy đã xuất hiện nhu cầu nghiên cứu “ phát triển du lịch bền vững” nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đảm bảo sự phát triển lâu dài .Một số loại hình du lịch đã bắt dầu quan tâm đến khía cạnh môi trường, đã bắt đầu xuất hiện như : Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
- Du lịch sinh thái
- Du lịch dựa vào thiên nhiên
- Du lịch khám phá
- Du lịch mạo hiểm …
Hiện nay trong quá trình thống nhất về nhận thức, quan niệm về phát triển du lịch bền vững, vẫn còn những bất đồng, đặc biệt giữa quan điểm coi phát triển du lịch bền vững cần đảm bảo nguyên tắc chính là bảo tồn tài nguyên, môi trường và văn hoá với quan điểm cho rằng nguyên tắc hàng đầu của sự phát triển du lịch bền vững là sự tăng trưởng về kinh tế do du lịch mang lại .
Dưới góc độ về kinh tế mà quan tâm chủ yếu đối với sự phát triển du lịch là lợi nhuận thì : “ Du lich bền vững là quá trình hoạt động du lịch mà ở đó có thể duy trì được sự phát triển trong một thời gian, giai đoạn không xác định”
Tuy nhiên quan niệm này chịu rất nhiều sự chỉ trích, phê phán của các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà nghiên cứu về môi trường và tài nguyên .
Đa số cho rằng du lịch bền vững được hiểu là : “ Hoạt động khai thác môi trường tự nhiên và văn hoá nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch , có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn, đồng thời tiếp tục duy trì các khoản đóng góp cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao sức sống của cộng đồng địa phương”
Theo định nghĩa của tổ chức du lịch thế giới (WTO) đưa ra hội nghị về môi trường và phát triển của Liên Hiệp Quốc tại Roi de janeiro Năm 1992 thì :
Du lịch bền vững là sự phát triên của các hoạt động du nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai .Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế , xã hội , thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sợ toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinh học, sự phát triển của của hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống con người”
Du lịch bề vững ở Việt Nam là một khái niệm còn mới. Tuy nhiên thông qua các bài học kinh nghiệm thực tế về phát triển du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới khu vực, nhận thức về một phương thức phát triển du lịch có trách nhiệm với môi trường, có tác dụng giáo dục nâng cao cho cộng đồng đã xuất hiện ở Việt Nam dưới hình thức các loại hình du lịch tham quan tìm hiểu, nghiên cứu ….với tên gọi là du lịch sinh thái , du lịch tự nhiên .. Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
Mặc dù là còn nhiều quan điểm chưa thống nhất về khái niệm du lịch phát triển bền vững . Nhưng luật Việt Nam đã có khái niệm về du lịch bền vững như sau:
Theo khoản 21 , Điều 4 , chương 1- luât du lịch Việt Nam(2005) “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch tương lai”.
Như vậy khái niệm du lịch bền vững hàm chứa một thách thức mà ở đó phát triển được khả năng du lịch , nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch mà không gây tác hại tới môi trường đã nuôi dưỡng chúng. Du lịch bền vững được coi như đồng nghĩa với một loạt thuật ngữ khác như du lịch thay thế, du lịch đồng quê, du lịch xanh, du lịch tiến bộ, du lich trách nhiệm. Đã có nhiều người hiểu nhầm rằng du lịch sinh thái là du lịch bền vững nhưng không phải tất cả du lich sinh thái đều là du lịch bền vững, tuy vậy du lịch sinh thái có thể cho tiếp cận đến khái niệm du lịch có trách nhiệm theo hướng bảo tồn và bền vững . Du lịch bền vững đòi hỏi ta phải chú ý đến cả ba hệ sinh thái, xã hội, nhân văn, và kinh tế .Các lợi ích của ba hệ này được chú ý và có tầm quan trọng như nhau để từ đó có được một nền du lịch bền vững .
1.2.3. Mục tiêu của du lịch bền vững
Phát triển bền vững về kinh tế : du lịch là một ngành kinh tế, nên phát triển du lịch bền vững cần phải bền vững về kinh tế, thu nhập phải lớn hơn chi phí, phải đạt được sự tăng trưởng cao, ổn định trong thời gian dài, tối ưu hoá đóng góp của ngành du lịch vào thu nhập quốc dân, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển .
Phát triển bền vững về môi trường : Phải sử dụng bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch theo hướng tiết kiệm, bền vững, đảm bảo sự tái tạo và phục hồi của tài nguyên, nâng cao chất lượng của tài nguyên và môi trường, thu hút cộng đồng du khách và các hoạt động bảo tồn, tôn tạo tài nguyên .
Phát triển bền vững về xã hội : thu hút cộng đồng tham gia vào các hoạt dộng du lịch, tạo nhiều việc làm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương, đảm bảo tính công bằng xã hội, đa dạng hoá, nâng cao chất lượng du lịch, đáp ứng cao độ nhu cầu của khách du lịch .
1.2.4. Các nguyên tắc chung của phát triển du lịch bền vững : Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
- Sử dụng nguồn lực một cách bền vững :
Bảo tồn và sử dụng bền vững các tài nguồn tài nguyên thiên nhiên , văn hoá – xã hội là tối cần thiết khiến cho việc kinh doanh và phát triển du lịch một cách bền vững lâu dài. Du lịch là ngành kinh tế có định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du lịch lại được coi là sản phẩm du lịch quan trọng nhất, là mục đích chuyến đi của khách du lịch. Nhưng nhiều loại tài nguyên du lịch không thể đổi mới hoặc tái chế hay thay thế được. Hoạt động du lịch mang lại hiệu quả du lịch về nhiều mặt nhưng cũng gây tác động tiêu cực như cạn kiệt, suy giảm tài nguyên và môi trường …
Vì vậy cần xây dựng những phương cách chiến lược, để bảo tồn tôn tạo , khai thác tài nguyên theo hướng tiết kiệm, hợp lý để lưu lại cho thế hệ tương lại một nguồn tài nguyên như thế hệ trước đã được hưởng .
- Giảm tiêu thụ quá mức và giảm chất thải :
Sự tiêu thụ quá mức tài nguyên thiên nhiên và các tài nguyên khác không chỉ dẫn đến sự huỷ hoại môi trường , làm cạn kiệt nguồn tài nguyên mà không còn đảm bảo nguồn tài nguyên cho phát triển lâu dài của ngành du lịch ,các chất thải của phương tiện vận chuyển khách, các chất thải từ các dịch vụ du lịch phục vụ khách, cũng như của du khách. Nếu chúng không được thu gom sử lý đúng yêu cầu kỹ thuật, tái chế sẽ là nguyên nhân gây lên ô nhiễm môi trường. Do vậy đối với các địa phương hay quốc gia hoạt động du lịch càng phát triển thì lượng khách càng nhiều thì lượng chất thải càng nhiều. Chính điều nay gây ô nhiễm môi trường đã làm suy thoái tài nguyên, xáo trộn về văn hoá xã hội .
Giảm tiêu thụ quá mức và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc phục hồi tổn hại về môi trường và đóng góp cho chất lượng của du lịch là cần thiết .
- Duy trì tính đa dạng : Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
Việc duy trì và tăng cường tín đa dạng của thiên nhiên , văn hoá- xã hội là tất yếu và hết sức quan trọng cho du lịch lâu dài, chỗ dựa sinh tồn của nghành du lịch là cư sở tồn tại phát triển của ngành du lịch. Trong quá trình xây dựng và thực hiện các dự án quy hoạch du lịch, cũng như sự phát triển du lịch do nhiều nguyên nhân khác nhau nên dễ mất đi tính đa dạng của thiên nhiên , văn hóa – xã hội. Vì vậy trong quá trình quy hoạch cần phải xây dựng thực hiện các phương cách , chiến lược nhằm duy trì bảo tồn được tính đa dạng của tự nhiên , văn hóa – xã hội
- Hợp nhất du lịch vào quá trình quy hoạch :
Du lịch là một ngành kinh tế mang tính liên ngành , nó có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều ngành kinh tế – xã hội . Hợp nhất du lịch vào trong khuôn khổ quy hoạch chiến lược cấp quốc gia và địa phương , tiến hành đánh giá tác động môi trường sẽ làm tăng sự tồn tại lâu dài của ngành du lịch . Nếu coi việc phát triển du lịch là một tổng thể thì sẽ mang lại lợi ích tối đa và dài hạn hơn cho nền kinh tế – xã hội . Điều này sẽ khuyến khích việc bảo tồn , tôn tạo và khai thác tài nguyên môi trường du lịch một cách hiệu qủa hơn ,vừa góp phần hấp dẫn du khách vừa nâng cao đời sống cộng đồng địa phương .
- Hỗ trợ kinh tế địa phương :
Nguồn tài nguyên mà du lịch sử dụng vốn thuộc quyền sở hữu của người dân bản địa, như đường giao thông, điện, nước, hệ thống xử lý chất thải, thông tin lên lạc …có thể không phục vụ riêng cho ngành du lịch nhưng vẫn thúc đẩy du lịch phát triển. Hoạt động du lịch một mặt mang lại hiệu quả tích cực cho kinh tế – xã hội của địa phương , mặt khác cũng để lại những hậu quả tiêu cực cho tài nguyên môi trường và kinh tế – xã hội của địa phương. Do vậy ngành du lịch có trách nhiệm đóng góp thu nhập cho kinh tế địa phương, hỗ trợ các hoạt động kinh tế địa phương và còn tính đến giá trị và chi phí về môi trường sẽ vừa bảo vệ được kinh tế địa phương và những tổn hại về môi trường.
- Lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương
Việc lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương không chỉ mang lại lợi ích cho họ và môi trường mà còn duy trì, phát triển, đa dạng hoá nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tạo ra sự hấp dẫn với du khách.
Sự tham gia của địa phương là cần thiết với ngành du lịch. Cư dân nền văn hoá, môi trường, lối sống và truyền thống của địa phương là nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch tới điểm du lịch . Sự tham gia thực sự của cộng đồng làm phong phú thêm kinh nghiệm và sản phẩm du lịch. Khi cộng đồng được tham gia vào hoạt động du lịch có thể giúp cho họ xoá đói giảm nghèo, góp phần thu nhiều ngoại tệ có lợi cho cả cộng đồng địa phương và khách du lịch, đồng thời cũng nâng cao triển vọng phát triển lâu dài của sản phẩm du lịch Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
- Lấy ý kiến của quần chúng và các đối tượng có liên quan :
Việc lấy ý kiến của cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan khác nhau, các doanh nghiệp du lịch là cần thiết. Đây là một bước nhằm nâng cao nhận thức của các bên tham gia, cùng nhau giải quyết các mâu thuẫn về quyền lợi . Đồng thời, điều này giúp các bên tham gia có thể ủng hộ cho việc thực hiện các dự án quy hoạch. Do vậy trong các quá trình triển khai dự án quy hoạch cần vận dụng nguyên tắc này trong việc điều tra xã hội học, lấy ý kiến của các đối tượng có liên quan vừa để giải tỏa các mâu thuẫn tiềm ẩn và tìm các nguyên nhân bất đồng, những vấn đề cần giải quyết, góp phần thu hút tích cực các bên tham gia vào việc thực hiện các dự án quy hoạch phát triển du lịch .
- Đào tạo cán bộ :
Việc đào tạo cán bộ trong đó lồng ghép vấn đề du lịch bền vững vào công việc, cùng với việc tuyển dụng lao động địa phương ở mọi cấp vào làm việc sẽ làm tăng chất lượng của dịch vụ du lịch .
- Tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm :
Việc tiếp thị cung cấp tông tin đầy đủ có trách nhiệm và chính xác, sẽ nâng cao sự tôn trọng của khách du lịch đối với thiên nhiên, văn hoá- xã hội của nơi tham quan, đồng thời sẽ làm tăng sự hài lòng của khách . Ngoài ra cần hoạch định các chiến lược marketing, quảng bá cho du khách những thông tin đầy đủ có trách nhiệm, nâng cao sự tôn trọng của khách với môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa – xã hôi tại điểm đến
Thống kê và giám sát các hoạt động kinh doanh của ngành du lịch thông qua việc sử dụng , phân tích các số liệu cần thiết để giúp cho việc giải quyết các vấn đề tồn đọng của các điểm tham quan , mang lại lợi ích cho điểm tham quan , cho khách , cho ngành du lịch . Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
1.2.5. Ý nghĩa của môi trường bền vững đối với sự phát triển du lịch
Từ những phân tích trên đây về phát triển du lịch nói chung và phát triển du lịch bền vững nói riêng có thể thấy được vai trò hết sức quan trọng của môi trường đối với phát triển du lịch bền vững điều này ý nghĩa đặc biệt quan trọng,quyết định việc chất lượng sản phẩm nói riêng và sự tồn tại của du lịch nói chung .Nói một cách khác hoạt động phát triền du lịch có bền vững hay không phu thuộc rất quan trọng vào tình trạng môi trường.
Trong quá trình phát kinh tế – xã hội , môi trường tự nhiên nói chung và môi trường du lịch tự nhiên nói riêng luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Nếu trong quá trình phát triển đó , các tác động tiêu cực đến môi trường không được kiểm soát thông qua các biên pháp bảo vệ, các giải pháp quản lý hữu hiệu thì hậu quả sẽ dẫn tới sự suy thoái của môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của du lịch bền vững . Cơ chế suy thoái môi trường nói chung, môi trường du lịch tự nhiên nói riêng ,dưới tác động của các yếu tố phát triển kinh tế xã hội , trong đó có hoạt động du lịch .
1.3. Sức chứa du lịch
Sức chứa hay khả năng tải ( carrying capacity ) du lịch lần đầu tiên được định nghĩa vào những năm đầu của thập kỷ 60 bởi Hội đồng Du Lịch và và Môi trường Anh. Đây là một trong những khái niệm hàng đầu trong quản lý du lịch , chính vì vậy mà hiện nay có nhiều cách hiểu về “sức chứa”.
Theo WTO (năm 1992) thì “ sức chứa du lịch là mức độ sử dụng của khách tham quan mà một khu vực có thể cung cấp , đáp ứng ở mức độ cao cho khách du lịch và để lại rất ít tác động vào nguồn tài nguyên”.
Các học giả nước ngoài cũng có ý kiến khác nhau về sức chứa du lịch . Theo D’ Amore , 1983 thì “ Sức chứa là điểm trong quá trình tăng trưởng du lịch mà địa phương bắt đầu thấy mất cân bằng do mức độ tác động xã hội không thể chấp nhận được hoạt động du lịch” .
Shelby và Heberleil , 1987 lại cho rằng “ sức chứa là mức độ sử dụng vượt qua nó là sẽ vi phạm các tiêu chuẩn môi trường ” .
Theo Boon , 1990 “ sức chứa là du khách sử dụng điểm du lịch , có thể thoả mãn nhu cầu cao nhưng ít gây tác động xấu đến tài nguyên ”. Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
Luc Hens 1998 lại quan niệm “ sức chứa là số lượng người có thể sử dụng điểm du lịch mà không gây suy thoái đến mức không thể chấp nhận được việc thoả mãn nhu cầu của du khách”.
Việt Nam khái niệm sức chứa đã được Nguyễn Đình Hoè và Vũ Văn Hiếu đề cập đến như là “ số lượng người cực đại mà điểm du lịch có thể chấp nhận , không gây suy thoái hệ sinh thái tự nhiên , không gây xung đột xã hội giữ cộng đồng địa phương và du khách , không làm suy thoái nền kinh tế truyền thống của cộng đồng bản địa”
Như vậy các khái niệm trên chỉ ra rằng , có những giới hạn cho việc sử dụng của du khách, nếu vượt quá sẽ là giảm sự hài lòng của kháck và mà mang lại những tác động ngược lại về mặt xã hôi , môi trường , văn hoá của khu vực .
- Các yếu tố của sức chứa du lịch.
Sức chứa du lịch liên quan đến số lượng du khách và bao gồm các khía cạnh khác : vật lý – sinh học , tâm lý xã hội và mức độ quản lý ( theo WTO, 1992 , Ceballos- Laseurain, 1996 ; Koeman , 1998)
Yếu tố vật lý – sinh học : khía cạnh vật lý là số lượng là số lượng khách thực tế mà điểm có thể chứa .Khía cạnh sinh học là ngưỡng của hoạt động du lịch mà trên mục đó thì sự suy thoái môi trường đến mức không thể chấp nhận được hay không thể đảo ngược sẽ xảy ra .
Khía cạnh xã hội : Đây là điểm mà tại đó suy thóai văn hoá – xã hội của cư dân địa phương sẽ xảy ra nế du khách vượt quá ngưỡng nhất định .
Khía cạnh tâm lý : Trong quá trình thưởng ngoạn du lịch những người này có thể hướng đến sự hưởng thụ hay kinh nghiệm của người này hay nhóm người kia yếu tố này phụ thuộc vào địa điểm, tính chất tham quan và những nhóm người tham quan .
Khía cạnh quản lý : Thể hiện mức độ tối đa có thể quản lý thích đáng trong một khu thăm quan, yếu tố này liên quan đến các phượng tiện và việc giám sát các hoạt động du lịch nhằm đảo bảo sự tiện lợi cho khách du lịch .
- Cách tính sức chứa : Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
Buollon (1985) đã đưa ra một công thức tính sức chứa khách du lịch cho khu vức, trong đó dành cho các hoạt động của du khách bằng tiêu chuẩn bình quân cho 1 cái nhân thường tính bằng m 2 trên người .
Theo Ceballos-Lascurail (1196 sức chứa do du lịch của một khu vực cụ thể liên quan đến các yếu tố sau : Các chính sách cho du lịch và quản lý hiện trạng tham quan các điểm du lịch ,các yếu tố ảnh hưởng tới điểm tham quan . Vì vậy sức chứa cho các điểm tham quan cần nhận rõ mức độ khác nhau của sức chứa .
Sức chứa tự nhiên ( Phýical Carrying capacity : PCC là số khách tối đa mà điểm tuyến thăm quan có khả năng chứa dựa trên tiêu chuẩn cá nhân
Trong đó A- là diện tích dành cho du lịch (Area for tourist use)
V/a tiêu chuẩn cá nhân trung bình = số khách / ma ( Vicitorarea) Rf – tổng thời gian mở cửa thăm quan / thời gian trung bình lần thăm quan.
Sức chứa thực tế ( Rear carying capacity : RCC) : là sức chứa tự nhiên bị hạn chế bởi các điều kiện vụ thể của các địa điểm thăm quan như môi trường , sinh thái xã hội
RCC có thể được thể hiện bằng công thức khái quát sau : RCC= PCC – Cf1 – Cf2 – …- Cfn
Trong đó
- Cf là các biến số điều chỉnh, nếu hiển thị bằng % được tính
- Trong đó : Cf = biến số điều chỉnh
- MI= mức độ hạn chế biến số
- Mt = tổng số khả năng biến số
Như vậy :
- Các biến số điều chỉnh liên quan chặt chẽ với đặc điểm và điều kiện cụ thể của mỗi tuyến , điểm tham quan , và không nhất thiết giống nhau cho các điểm tham quan khác nhau.
- Sức chứa cho phép – sức chứa hiệu quả ( Efective or Pemissble Carying capacity: ECC ) : là sức chứa thực tế bị hạn chế bởi các điều kiện liên quan tơi mức độ quản lý du lịch.
- Ví dụ : mức độ đảm bảo yêu cầu quản lý chỉ đáp ứng Q % , ECC sec là :
- Như vậy PCC luôn lớn hơn RCC và RCC luôn lớn hơn ECC .
Sức chứa thay đôi tùy thuộc vào đại điểm, tính mùa, thờ gian, thái độ, của người sử dụng, việc thiết kế các phương tiện, tình trạng và mức độ quản lý, cũng như đặc trưng môi trường của bản thân điểm du lịch
Tiểu kết chương 1 : Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
Bảo vệ môi trường du lịch gắn liền với sự phát triển bền vững là một nội dung quan trọng của các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh – tế xã hội nói chung và ngành du lịch nói riêng của quốc gia. Nếu không đặt vị trí bảo vệ môi trường du lịch thì không thể đạt được mục tiêu phát triển ngành du lịch tại địa phương hay vùng du lịch.
Du lịch và môi trường có liên hệ chặt chẽ với nhau, môi trường là tiền đề cơ sở phát triển du lịch và ngược lại phát triển du lịch tác động đến môi trường trên hai khía cạnh tiêu cực và tích cực.
Muốn bảo vệ môi trường du lịch bởi sự tác động của du lịch và các ngành khác thì phải nhận thức được tính chất hoạt động du lịch và đặc điểm các vùng du lịch có liên quan ảnh hưởng hoạt động của các ngành kinh tế khác. Trong điều kiện hiện nay, bảo vệ môi trường du lịch không chỉ mang lại nội dung quản lý hành chính mà còn chứa đựng cả nội dung chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Nhiệm vụ bảo vệ môi trường du lịch phải là nhiệm vụ chung của cả cộng đồng , và nhà nước là người tổ chức thực hiện hiệu quả . Để bảo vệ môi trường du lịch phải sử dụng tổng hợp các biện pháp quản lý. Khóa luận: Phát triển du lịch bền vững tại làng Việt Hải – Cát Bà.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Hải – Cát Bà

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại Cát Bà