Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tìm hiểu và khai thác lễ hội Vật cầu Kim Sơn phục vụ phát triển du lịch huyện Kiến Thụy dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Du lịch là một ngành công nghiệp không khói có đóng góp to lớn vào thu nhập kinh tế quốc dân .Hiện nay du lịch được xem là một trong số những ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế.

Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng du lịch dồi dào, đa dạng và phong phú. Nước ta có điều kiện phát triển du lịch mạnh mẽ ở tất cả các loại hình du lịch như: Du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch mạo hiểm…đặc biệt là du lịch văn hóa. Trong loại hình du lịch nhân văn, các di tích lịch sử văn hóa và lễ hội chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Hầu hết các di tích văn hóa lịch sử đều gắn liền với các lễ hội, các phong tục tập quán của cộng đồng, phản ánh cuộc sống lao động của con người tại các làng quê, gắn liền với việc tái hiện lịch sử chống giặc ngoại xâm của cha ông, gắn với các danh nhân văn hóa của dân tộc. Đồng thời thông qua lễ hội còn phản ánh khát vọng trong đời sống tâm linh của con người, mang ý nghĩa giáo dục con người hướng tới cái chân – thiện – mỹ.

Kiến thụy là một trong những huyện có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa của thành phố Hải Phòng: Ngược dòng lịch sử về thế kỉ XVI vua Mạc Đăng Dung đã chọn mảnh đất Kiến Thụy (Kinh Dương xưa) làm nơi xây dựng kinh thành, trong lịch sử quân dân Kiến Thụy đã từng bắn rơi máy bay Mỹ. Vì thế mà hiện nay tại Kiến Thụy có rất nhiều di tích lịch sử phục vụ du lịch như: Khu tưởng niệm nhà Mạc (Ngũ Đoan), đền Mõ ở xã Kiến Quốc… Ngoài ra Kiến Thụy còn có các lễ hội rất hay và ý nghĩa như: lễ hội Rước lợn Ông Bồ tại làng Kì Sơn – Tân Trào – Kiến Thụy, lễ hội Vật cầu Kim Sơn tại làng Kim Sơn – xã Tân Trào – Kiến Thụy, chùa Văn Hòa – Kiến thụy với lễ rước Thành Hoàng làng… Kiến Thụy là một huyện có tiềm năng du lịch nhân văn rất lớn cần khai thác triệt để. Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Trong xu thế phát triển của xã hội hiện nay du lịch văn hóa tìm hiểu các lễ hội rất được ưa chuộng. Tại Kim Sơn – Kiến Thụy có lễ hội Vật cầu Kim Sơn đã có từ rất lâu nhưng do chiến tranh bi gián đoạn và trong những năm gần đây đã được khôi phục và phát triển. Lễ hội này gắn với địa danh Kim Sơn kháng Nhật làm cho nó có sức hút với du khách thập phương tìm về với mảnh đất đã quật cường chiến đấu trong thời kì kháng Nhật, tìm hiểu về con người Kim Sơn xưa và nay có gì khác. Ngoài ra lễ hội được tổ chức rất công phu, mang nhiều ý nghĩa, phần hội vui vẻ và thú vị lôi cuốn người xem như hòa mình vào các trò chơi. Lễ hội là một hoạt động rất có ý nghĩa với đời sống của nhân dân xã Kim Sơn cũng như toàn huyện Kiến Thụy về một thời kì hào hùng chống giặc ngoại xâm. Thông qua lễ hội thể hiện tinh thần đoàn kết, chiến đấu xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp.Việc khai thác lễ hội vật cầu Kim Sơn vào phát triển du lịch có ý nghĩa bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc, góp phần phát triển kinh tế địa phương.

Lễ hội vật cầu Kim Sơn là một loại tài nguyên du lịch nhân văn có khả năng khai thác tốt nhưng hiện chưa được nhiều người biết đến. Là một người con của Kiến Thụy và là một người làm du lịch trong tương lai em muốn cho du khách thập phương biết đến lễ hội này và yêu mến nó.Vì vậy trong bài khóa luận này em sẽ giới thiệu cho mọi người biết đến lễ hội truyền thống độc đáo này để thêm yêu những lễ hội từ thời cha ông để lại và yêu mảnh đất Kiến Thụy hơn. Việc khai thác lễ hội vật cầu Kim Sơn mở ra cho Kiến Thụy một chương trình du lịch mới trong đó kết hợp được các tiềm năng du lịch vốn có của địa phương.Vì những lý do trên em đã chọn đề tài “Tìm hiểu và khai thác lễ hội Vật cầu Kim Sơn phục vụ phát triển du lịch huyện Kiến Thụy” làm đề tài khóa luận của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2. Mục đích nghiên cứu

Lễ hội Vật cầu Kim sơn rất có ý nghĩa trong đời sống tinh thần của người dân nơi đây. Hơn thế nữa nó rất mang nhiều giá trị văn hóa, lịch sử ,là một tài nguyên du lịch cần được khai thác. Thông qua bài khóa luận này em muốn tìm hiểu sâu hơn về lễ hội vật cầu Kim Sơn, tìm hiểu tiến trình phát triển của nó, tìm ra nét hay nét đẹp của lễ hội để khai thác phục vụ cho việc phát triển du lịch huyện Kiến Thụy – Hải Phòng.

3. Nhiệm vụ của đề tài

  • Tổng kết, phân tích những lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
  • Tìm hiểu sự khác nhau của lễ hội xưa và nay.
  • Nêu ý nghĩa văn hóa của lễ hội.
  • Thực trạng khai thác lễ hội hiện nay.
  • Giải pháp khai thác lễ hội hiệu quả để phục vụ du lịch.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

  • Đối tượng nghiên cứu là:  lễ hội Vật cầu tại Kim Sơn – Kiến Thụy – Hải Phòng.
  • Phạm vi nghiên cứu tìm hiểu về lễ hội vật cầu nói chung của Việt Nam, đi sâu vào khai thác lễ hội vật cầu tại Kim Sơn – Tân Trào – Kiến Thụy Hải phòng.

5. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu bằng nhiều phương pháp:

  • Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu
  • Phương pháp phân tích hệ thống để phân tích, nghiên cứu đánh giá các giá trị văn hóa của lễ hội và ảnh hưởng của nó trong đời sống tinh thần của người dân địa phương.
  • Phương pháp điền dã: xuống địa phương tìm hiểu và nói chuyện với những nhân vật phụ trách và người dân địa phương.

6. Nội dung và bố cục của khóa luận

  • Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
  • Chương 2. Lễ hội vật cầu Kim Sơn
  • Chương 3. Khai thác lễ hội vật cầu Kim Sơn phục vụ phát triển du lịch huyện Kiến Thụy.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1. Khái niệm du lịch

Trong xu thế phát triển chung của thời đại, cùng nhịp sống hối hả bon chen, thêm vào đó là việc nâng cao chất lượng cuộc sống nên du lịch ngày càng trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa – xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển mạnh mẽ. Vậy du lịch bắt nguồn từ đâu?

Thuật ngữ “du lịch” trở nên rất thông dụng. Nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Tornos” có nghĩa là đi một vòng. Sau khi người La Mã xâm chiếm Hy Lạp thì từ này được đổi thành “Tornus”. Trong quá trình phát triển của tiếng Anh và tiếng Pháp nó phát triển thành “Tourism” và “Tourisme”. Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Đầu tiên du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi giải trí hay chữa bệnh. Hoạt động du lịch ngày càng phát triển mạnh mẽ.

Khái niệm du lịch có thể được xác định như sau:

Du lịch là một hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa” (I.I. Pirôgionic, 1985)

Theo luật du lịch đã được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005: “Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”

2. Quan niệm về tài nguyên du lịch

2.1. Quan niệm về tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và sự kết hợp khác nhau của cảnh quan tự nhiên và nhân văn (văn hóa) có thể sử dụng cho dịch vụ du lịch và thỏa mãn nhu cầu về chữa bệnh, nghỉ ngơi, thăm quan hay du lịch.

Về thực chất, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên, các đối tượng văn hóa – lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch.

Từ những điều trình bày trên đây có thể xác định khái niệm tài nguyên du lịch như sau :

Tài nguyên du lịch là một tổng thể tự nhiên và năn hóa – lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ. Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch.

2.2. Vai trò của tài nguyên du lịch trong việc phát triển du lịch Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Du lịch là một trong những ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt.

Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến cấu trúc và chuyên môn hóa của vùng du lịch. Quy mô hoạt động du lịch một vùng, quốc gia được xác định trên cơ sở khối lượng nguồn tài nguyên du lịch, quết định tính mùa vụ, tính nhịp điệu của dòng khách du lịch.

Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ sở để tạo nên vùng du lịch. Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành và phát triển du lịch của một vùng hay một quốc gia.

2.3. Đặc điểm và phân loại tài nguyên du lịch

2.3.1. Đặc điểm tài nguyên du lịch

  • Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, có nhiều tài nguyên đặc sắc và độc đáo, có sức hấp dẫn với du khách.
  • Tài nguyên du lịch không chỉ có giá trị hữu hình mà còn có giá trị vô hình.
  • Tài nguyên du lịch dễ khai thác bởi tài nguyên có sẵn trong tự nhiên do tạo hóa sinh ra hoặc do con người tạo nên do đó dễ khai thác, không tốn kém tiền vào đầu tư các tài nguyên.
  • Tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau, tạo nên tính mùa vụ trong du lịch.
  • Tài nguyên du lịch được khai thác tại chỗ để tạo sản phẩm du lịch mà không di chuyển được.

Đây chính là cơ sở để đưa ra biện pháp quản lý, khai thác hiệu quả làm phát triển giá trị vốn có của tài nguyên du lịch.

2.3.2. Phân loại tài nguyên du lịch Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm

  • Tài nguyên du lịch tự nhiên : tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch :
  • Địa hình
  • Khí hậu
  • Nguồn nước
  • Thực, động vật
  • Tài nguyên du lịch nhân văn
  • Di tích lịch sử – văn hóa, kiến trúc
  • Các lễ hội
  • Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học
  • Các đối tượng văn hóa – thể thao và hoạt động nhận thức khác.

2.4. Tài nguyên du lịch nhân văn

2.4.1. Khái niệm tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn nói ngắn gọn là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch bao gồm: Di tích lịch – sử văn hóa, lễ hội phong tục tập quán và các công trình đương dại do hội đồng và con người sáng tạo… có sức hấp dẫn du khách, có tác động giải trí, hưởng thụ mang ý nghĩa thiết thực và được đưa vào khai thác phục vụ du lịch.

2.4.2. Đặc điểm của tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra, hay nói cách khác nó là đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho tài nguyên du lịch nhân văn có những đặc điểm khác biệt với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên : Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

  • Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn., tác dụng giải trí không điển hình hoặc có ý nghĩa thứ yếu.
  • Việc tìm hiểu các đối tượng nhân tạo diễn ra trong thời gian rất ngắn. Nó thường kéo dài một vài giờ , cũng có thể một vài phút. Do vậy trong khuôn khổ một chuyến du lịch người ta có thể hiểu rõ nhiều đối tượng nhân tạo. Tài nguyên du lịch nhân văn thích hợp nhất đối với loại hình du lịch nhận thức theo lộ trình. Số người quan tâm tới tài nguyên du lịch nhân văn thường có văn hóa cao hơn, thu nhập và yêu cầu cao hơn.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các điểm quần cư và các thành phố lớn.
  • Ưu thế to lớn của tài nguyên du lịch nhân văn là đại bộ phận không có tính mùa vụ, không bị phụ thuộc vào các điều kiện khí tượng và các điều kiện tự nhiên khác. Vì thế tài nguyên du lịch nhân tạo làm giảm nhẹ tính mùa vụ nói chung của dòng du lịch.
  • Sở thích của những người tìm đến tài nguyên du lịch nhân văn rất phức tạp và khác nhau. Nó gây nhiều khó khăn trong việc đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn. Tiêu chuẩn đánh giá tài nguyên di lịch nhân văn chủ yếu dựa vào cơ sở định tính xúc cảm và trực cảm.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn tác động theo từng giai đoạn, có thể phân chia như sau:
  • Thông tin, ở giai đoạn này khách du lịch nhận được những tin tức chung nhất, có thể nói là mờ nhạt về đối tượng nhân tạo, thường thông qua thông tin miệng hay các phương tiện thông tin đại chúng.
  • Tiếp xúc: là giai đoạn khách du lịch có nhu cầu tiếp xúc bằng mắt thường với đối tượng, tuy chỉ lướt qua nhưng là quan sát bằng mắt thực.
  • Nhận thức: khách du lịch làm quen với đối tượng cơ bản, đi sâu vào nội dung của nó, thời gian tiếp xúc lâu hơn.
  • Đánh giá, nhận xét: Với kinh nghiệm sống của bản thân về nhận thức, khách du lịch so sánh đối tượng này với đối tượng khác gần với nó.

2.4.3. Phân loại tài nguyên du lịch nhân văn

Các nhà nghiên cứu phân tài nguyên du lịch nhân văn thành hai loại chính là tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể.

Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hoá, khoa học bao gồm các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Gồm:

  • Di sản văn hoá thế giới vật thể.
  • Các di tích lịch sử văn hoá, danh thắng cấp quốc gia và địa phương.
  • Các cổ vật và bảo vật quốc gia.
  • Các công trình đương đại. Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử – văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu truyền khác bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết nghề nghiệp thủ công truyền thống, tri thức về y dược cổ truyền, văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian. Gồm các dạng tài nguyên dưới đây:

  • Di sản văn hoá thế giới truyền miệng và phi vật thể.
  • Các lễ hội truyền thống.
  • Nghề và làng nghề thủ công cổ truyền.
  • Văn hoá nghệ thuật.
  • Văn hoá ẩm thực.
  • Văn hoá ứng xử, phong tục, tập quán.
  • Thơ ca và văn học.
  • Văn hoá các tộc người.
  • Các phát minh, sáng kiến khoa học.
  • Các hoạt động văn hoá thể thao, kinh tế – xã hội có tính sự kiện.

2.5. Lễ hội

2.5.1. Khái niệm lễ hội

Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc hoặc là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: Ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, giải quyết lo âu, những khao khát, ước muốn mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được.

Lễ hội có từ thời kì xa xưa, từ khi chưa hình thành nhà nước (tức là khi xã hội chưa phân chia giai cấp) . Một nhà văn hóa người Nga đã cung cấp một sự kiến giải có tính nguyên lí về lễ hội. Ông viết “hội hè” đó là một hình thức nguyên sinh rất quan trọng của văn hóa nhân loại. Hội hè bao giờ cũng có hàm nghĩa sâu rộng, một thế giới quan rõ ràng. Theo ông không có một khâu nào trong toàn bộ quá trình lao động “Tự thân chúng có thể trở thành hội hè” hay hiểu một cách khác, lễ hội không chỉ xuất phát thuần túy từ quá trình lao động, từ phương tiện vật chất mà trước hết từ mục tiêu cao nhất của sự tồn tại nhân sinh tức là từ thế giới tinh thần, tư tưởng, lý tưởng sống.

2.5.2. Nội dung của lễ hội Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Nội dung lễ hội bao gồm 2 phần : phần lễ và phần hội Lễ : Lễ được giải thích theo từ điển tiếng Việt là những nghi thức tiến hành nhằm đánh giấu, kỷ niệm, một sự vật, một sự kiện nào đó có ý nghĩa. Trong các nghi thức toát lên những yếu tố mang tính chất tâm linh thể hiện sự cầu mong. Đó chính là những giải pháp tâm lý mang tính chất huyền bí mà con người đặt ra. Trong lễ chủ yếu các nghi thức liên quan đến hoạt động cầu mùa, cầu an, mong cho mọi vật đều được phát triển, con người ngày càng có cuộc sống thịnh vượng. Cho nên lễ hội là phần đạo của con người, nó chi phối mọi suy nghĩ và hoạt động của con người.

Theo Giáo Sư Hà Văn Tấn “lễ là các nghi lễ liên quan đến tôn giáo”, lễ là hành vi cúng tế tổ tông, cầu phúc, lễ bao quát mọi hành vi ứng xử của xã hội. “ Lễ ” vẫn giữ được một phương diện nguyên thủy của nó, là hình thức biểu thị mối quan hệ giữa con người với môi sinh tự nhiên của nó. Hiểu theo nghĩa từ, là biểu thị một sự tôn kính, một sự “ bầy tỏ kính ý” với một đối tượng nào đó. Sự kính trọng được thể hiện trong những mối quan hệ giữa người với người hoặc giữa người với tự nhiên. Sự “kính ý” chỉ là cái ý tưởng, còn “bầy tỏ kính ý” là sự khác thể hóa “kính ý” để đối tượng nhận sự kính ý có thể nắm được. Nói cách khác, là sự cụ thể hóa các ý tưởng để nó trở thành hiện thực, có thể tri giác bằng các hành động mang “tính biểu tượng” hoặc toàn bộ các hệ thống biểu tượng (vật thay thế) để nhận ra các giá trị mang tính trừu xuất. Toàn bộ sự kính ý đó được biểu thị qua các phương diện sau đây:

Trước hết, ở thái độ xã hội (của cá nhân hoặc nhóm) thông qua các hành động hoặc vật biểu thị mang “tính biểu tượng”. Đó là vẻ mặt (diện mạo), giọng nói (ngữ điệu), hình thức nói (ngữ ngôn), dáng điệu (tư thế), cử chỉ, điệu bộ… và cả kể phục trang, đầu tóc, dày dép… Tóm lại, đó là những biểu thị bằng đích thực cơ thể người.

Thứ đến , là những nghi thức ứng xử bằng “nghi lễ” vật chất hoặc tinh thần, bao gồm toàn bộ “nghi vật” và “nghi trượng”.

Lễ được thực hành theo hai trình độ: Lễ (lễ phép) trong sinh hoạt thường ngày và Lễ (cuộc lễ) nhân có những sự kiện xã hội đặc biệt. Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Hội: được xem như một hoạt động có đông đảo người tham dự tạo ra những niềm vui theo những phong tục hoặc những dịp có liên quan tới những kỷ niệm của cộng đồng. Hội chính là phần đời của con người, có những hoạt động màu sắc, âm thanh, không khí của lễ hội. Hội phải thỏa mãn những yếu tố sau :

  • Tập trung đông người trong một địa điểm và vui chơi với nhau (có các trò chơi).
  • Được tổ chức từ một sự tích, một sự kiện nổi bật liên quan đến cộng đồng.
  • Hội là đem lại những lợi ích tinh thần cho mọi thành viên trong việc tổ chức và mục đích của lễ hội.
  • Trong hội có nhiều trò vui và diễn tả những phần thực của sự tích.

Khi nói đến lễ hội cổ truyền người ta nói tới phần đạo và phần người trong hoạt động xã hội. Ở đó các nghi thức rất cụ thể và sinh động. Nó vừa mang tính chất đời thường đồng thời cũng được thần thánh hóa. Vì vậy lễ hội diễn ra có sức hấp dẫn kỳ lạ. Con người được hòa quyện vào thiên nhiên, để chơi, để quên đi những nhọc nhằn vất vả và hướng tới niềm vui trong tương lai.

  • Mối quan hệ giữa lễ và hội :
  • Lễ hội có một mối quan hệ tương hỗ trong sự thống nhất.
  • Lễ và hội là hai yếu tố lúc tách rời nhau dễ nhận thấy là một bên thiêng liêng một bên tục, một bên là phần đạo, một bên phần đời. Đó là sự tách biệt dễ nhận thấy. Nhưng trong quá trình vận động thì hai yếu tố này đã xâm nhập vào nhau, gắn bó với nhau, trong lễ có hội và trong hội có lễ.
  • Thời gian lễ hội

Lễ hội xuất hiện vào thời điểm linh thiêng của sự chuyển tiếp giữa hai mùa, đánh dấu sự kết thúc của một chu kỳ lao động, chuẩn bị bước sang một chu kì mới. Lễ hội tập trung nhất vào mùa xuân, ngoài ra còn có nhiều lễ hội tổ chức vào mùa thu.

Khi đánh giá các lễ hội phục vụ mục đích du lịch cần lưu ý những đặc điểm sau :

  • Tính thời gian của lễ hội : các lễ hội không phải diễn ra quanh năm mà chỉ tập trung trong thời gian ngắn. Các lễ hội thường diễn ra vào mùa xuân.
  • Quy mô của lễ hội : các lễ hội có quy mô lớn nhỏ khác nhau. Có lễ hội diễn ra ở địa bàn rộng, có lễ hội chỉ bó gọn trong một địa phương.
  • Các lễ hội thường được tổ chức tại những di tích lịch sử văn hóa. Điều đó cho phép khai thác tốt hơn cả di tích lẫn lễ hội vào mục đích du lịch.

2.5.3. Đặc điểm của lễ hội Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Ở bất kì thời đại nào, bất cứ dân tộc nào, bất cứ mùa nào cũng có lễ hội. Lễ hội tạo ra tấm thảm muôn màu mà ở đó mọi sự hòa quyện vào nhau, thiêng liêng và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống và phóng khoáng, cô đơn và đoàn kết, trí tuệ và bản năng.

Lễ hội mang những đặc điểm sau :

  • Lễ hội là thời điểm mạnh (thời điểm có giá trị đặc biệt, thời điểm thiêng) của đời sống cộng đồng.
  • Tính quần thể: Lễ hội lôi cuốn mọi lứa tuổi, mọi lớp người đến tham dự.
  • Tính hoành tráng: Không gian lễ hội rộng, hoạt động của lễ hội phong phú, đa dạng.
  • Tính biểu dương : Lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh cộng đồng.
  • Tính thiêng: Muốn hình thành lễ hội bao giờ cũng phải tìm được một lý do mang tính “thiêng” nào đó. Đó là người anh hùng đánh giặc bị thương, ngã xuống mảnh đất ấy lập tức mối đùn lên thành mộ. Đó là nơi người anh hùng bỗng nhiên hiển thánh, bay về trời, cũng có khi đó chỉ là một bờ sông.
  • Tính đương đại

Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền, lễ hội, trong quá trình vận động của lịch sử, cũng dần dần tiếp thu những yếu tố đương đại. Những trò chơi mới, những cách bài trí mới, những phương tiện kỹ thuật mới như radio, cassete, video, tăng âm, micro… đã tham gia vào lễ hội, giúp cho việc tổ chức lễ hội được thuận lợi hơn, đáp ứng nhu cầu mới. Tuy vậy, những sự tiếp thu này đều phải dần dần qua sự sàng lọc tự nguyện của nhân dân, được cộng đồng chấp nhận, không thể là một sự lắp ghép tùy tiện, vô lý.

  • Lễ hội là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể.
  • Là tổng hòa của hai yếu tố Lễ và Hội, linh thiêng và trần tục, trật tự và hỗn độn.
  • Là hình thức tổng hòa văn hóa , nghệ thuật, lịch sử, văn học, âm nhạc, hội họa, kiến trúc, trò chơi dân gian.
  • Lễ hội là một hình thức diễn xướng tâm linh.
  • Từ thế giới hiện thực vươn lên thế giới biểu tượng linh thiêng.
  • Thỏa mãn ước vọng vươn tới sự hòa đồng giữa con người với thiên nhiên với cội nguồn.

2.5.4. Phân loại lễ hội Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

  • Có rất nhiều cách để phân loại lễ hội, theo cuốn : “cơ sở văn hóa Việt Nam” của Giáo Sư Trần ngọc Thêm phân loại lễ hội căn cứ vào mục đích, cấu trúc của văn hóa có thể phân biệt 3 loại lễ hội.
  • Lễ hội liên quan đến cuộc sống trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên(gồm có lễ hội cầu mưa, lễ hội xuống đồng, lễ hội tắm trâu, lễ hội cơm mới, lễ hội đua thuyền , hội chọi trâu)
  • Lễ hội liên quan đến cuộc sống trong môi trường xã hội: lễ hội kỷ niệm những anh hùng có công dựng nước và giữ nước như hội đền Hùng, hội Gióng, hội đền Hai bà Trưng, hội đền Nguyễn Bỉnh Khiêm, hội đền Trần…
  • Lễ hội liên quan đến đời sống cộng đồng các lễ hội tôn giáo và văn hóa như hội chùa Hương, chùa Thầy, chùa Tây Phương…
  • Một số nhà nghiên cứu khác phân loại như sau :
  • Hệ thống lễ hội dân gian truyền thống

Các lễ hội đã hình thành, tồn tại và phát triển trong lịch sử đó là kho tàng văn hóa đặc sắc của người Việt Nam, mang dấu ấn những giai đoạn phát triển của mỗi địa phương và cả dân tộc trong tiến trình lịch sử. Những lễ hội này gắn bó với cuộc sống lao động sản xuất của các tầng lớp dân cư ở các địa phương khác nhau về thời gian những lễ hội này xuất hiện và tồn tại trước năm 1945. Với số lượng đồ sộ và nội dung phong phú tạo lên giá trị to lớn trong kho tàng di sản văn hóa cực kì quí báu của dân tộc. Kho tàng này đã và đang được khai thác đầy đủ phục vụ những mục đích khác nhau của đất nước trong thời kì đổi mới. Có thể nói lễ hội dân gian truyền thống là cốt lõi của kho tàng văn hóa phi vật thể của dân tộc ta, cần phải tiếp tục đầu tư, nghiên cứu và khai thác đúng hướng để đạt hiệu quả nhiều mặt.

  • Những lễ hội hiện đại

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 những lễ hội hiện đại ra đời, nội dung và tính chất lễ hội hiện đại chủ yếu gắn với các nhân vật và sự kiên lịch sử liên quan đến cách mạng và kháng chiến với các chiến công do Đảng Công Sản Việt Nam và Bác Hồ vĩ đại lãnh đạo. Lễ hội hiện đại còn là những hoạt động văn hóa mang tính kỷ niệm, tưởng niệm các danh nhân, các anh hùng dân tộc, các sự kiện chính trị quân sự, văn hóa xã hội trong đời sống tinh thần của nhân dân. Với nội dung và sự tham gia của các thành tố hiện đại, lễ hội hiện đại luôn phản ánh trình độ phát triển của đất nước và xã hội và thời kì tổ chức lễ hội, đồng thời phản ánh xu thế phát triển chung của thời đại.

  • Những lễ hội văn hóa thể thao và du lịch Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Là những lễ hội hiện đại, lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch xuất hiện trong quá trình đổi mới đất nước. Là hoạt động văn hóa xã hội mang tính kinh tế phản ánh trình độ và khả năng cùng các yêu cầu đặt ra của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn mới của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2.5.5. Tác động qua lại giữa lễ hội và du lịch

Lễ hội ra đời không vì mục đích du lịch nhưng lại mang tính du lịch rõ nét.

Điều đó được thể hiện thông qua những điểm sau:

  • Lễ hội lôi kéo người dân từ nơi khác đến
  • Lễ hội có lịch lễ hội và hành trình lễ hội. Nó phản ánh tính mùa vụ trong du lịch
  • Tính du lịch còn thể hiện ở hoạt động di chuyển, lưu trú tạm thời của người khách, hoạt động đảm bảo nhu cầu về dự lễ hội của địa phương, mục đích chuyến đi của khách dự hội là trảy hội kèm theo những mục đích khác như thưởng ngoạn, khám phá, nghiên cứu…

Do vậy lễ hội và du lịch có sự tác động qua lại lẫn nhau:

  • Tác động của du lịch đến lễ hội
  • Tác động tích cực
  • Tiến hành nghiên cứu, khảo sát, thống kê, đầu tư cho khôi phục nhiều lễ hội văn hóa truyền thống, tôn vinh các giá trị văn hóa, phong tục tập quán truyền thống
  • Thông qua việc tham quan của du khách tạo sự kính trọng của du khách với những phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống, người dân sẽ tự hào hơn về truyền thống văn hóa. Họ nhận thức rõ về việc bảo tồn các giá trị về lễ hội và phong tục, tập quán truyền thống.
  • Việc bảo tồn, phát triển những loại hình văn hóa nghệ thuật; những giá trị văn hóa nghệ thuật nói chung, những làng nghề, những món ăn, đồ uống truyền thống cũng góp phần làm cho giá trị văn hoá của lễ hội thêm đa dạng, đặc sắc , hấp dẫn và bảo tồn các thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp.
  • Tạo công ăn việc làm, thu nhập cho cộng đồng địa phương, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, đóng góp vào ngân sách chung của đất nước. Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.
  • Tác động tiêu cực
  • Do các lễ hội thường diễn ra trong thời gian ngắn, mang tính mùa vụ, lượng dân cư và du khách đến tham dự đông. Nếu không được tổ chức quản lý, khai thác không khoa học, chặt chẽ sẽ gây ra những tác động tiêu cực: Du khách vứt, xả rác bừa bãi, ô nhiễm môi trường, trộm cắp, cướp giật…
  • Hiện tượng thương mại hóa lễ hội ngày càng phổ biến làm lễ hội cổ truyền bị biến tướng, thay đổi về bản chất, mất đi giá trị nhân văn vốn có.
  • Giá cả các dịch vụ bán tại lễ hội thường cao hơn nhiều so với giá trị thực đã làm cho lễ hội bị thương mại hóa, mất đi giá trị vui nhộn, linh thiêng và giáo dục của lễ hội.
  • Thông qua gặp gỡ, giao tiếp với du khách làm cho nhận thức của người dân địa phương được nâng cao, nhưng cũng có sự lai căng văn hóa làm mất đi nét đẹp truyền thống của văn hóa dân tộc.
  • Tác động của lễ hội đến du lịch
  • Tác động tích cực

Việc tổ chức các lễ hội không chỉ tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách mà còn là dịp để giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, tôn vinh, nhớ ơn người có công với quê hương đất nước và tôn vinh, giữ gìn các giá trị đạo đức của địa phương như: ôn lại, khôi phục lại các giá trị văn hóa nghệ thuật, các trò chơi dân gian, nghệ thuật sản xuất nghề thủ công… Đầu tư tổ chức nhiều lễ hội, đặc biệt đối với các lễ hội lớn mang tính chất quốc gia là những yếu tố nuôi dưỡng quan trọng để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống.

Lễ hội là một tài nguyên du lịch rất có tiềm năng. Việc đưa lễ hội vào hoạt động du lịch làm phong phú loại hình du lịch, tăng doanh thu của ngành.

  • Tác động tiêu cực

Việc phát triển không đúng hướng của các lễ hội dễ làm nảy sinh nhiều bất cập trong ngành du lịch. Tại một số lễ hội không có sự quản lý chặt chẽ thường diễn ra hiện tượng mê tín di đoan, buôn thần bán thánh làm ảnh hưởng đến không gian của lễ hội, mất uy tín của ngành du lịch, ảnh hưởng trực tiếp đến du khách.

2.5.6. Ý nghĩa của lễ hội trong đời sống văn hóa của con người

Lễ hội cổ truyền Việt Nam là sản phẩm của cư dân nông nghiệp lúa nước. Chính vì vậy nó có ý nghĩa to lớn về tinh thần và vật chất trong cộng đồng. Lễ hội chứa đựng những giá trị to lớn về liên kết cộng đồng. Ở giá trị này qua lễ hội con người được gần gũi, hiểu biết và quý mến nhau. Thông qua đó cộng đồng làng xã được khẳng định một cách vững chắc. Mối quan hệ làng xã được nâng lên sau mỗi dịp hội làng, sự hiểu biết giữa các dân tộc được tăng lên, sự chia sẻ củng cố giữa các thành viên trong làng xã, các địa phương ngày càng được củng cố và phát triển.

Lễ hội còn là dịp tưởng nhớ đến các vị anh hùng có công với đất nước, giúp cho thế hệ sau hiểu về truyền thống đấu tranh hào hùng của dân tộc, yêu mến quê hương đất nước và thêm kính trọng các bậc cha ông, tổ tiên xưa.

  • Giá trị cộng đồng Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Ngày hội là dịp biểu thị sức mạnh cộng đồng, cũng là dịp thể hiện các mối quan hệ, ứng xử, giao tiếp ở cả ba chiều: cá nhân – cá nhân, cá nhân – cộng đồng, cộng đông – cá nhân.

Với cộng đồng đây là cơ hội thuận tiện để biểu dương và chứng minh uy lực của mình. Với cá nhân đây là dịp “cái tôi vô danh” hòa nhập vào “cái ta chung”. Mỗi thành viên bày tỏ thái độ của mình hưởng ứng và tham dự ở các mức độ tình cảm và thái độ với cộng đồng mình sống và gắn bó.

  • Giá trị cân bằng đời sống tinh thần

Ngày nay khi đời sống vật chất ngày càng phát triển, thêm vào đó con người luôn phải sống trong khuôn phép, không được thả lỏng, đời sống tinh thần bị hạn chế vì thế họ đã tìm đến lễ hội để cân bằng đời sống tâm linh, tình cảm, hòa đồng với tình yêu con người. Do đó những nỗi niềm băn khoăn, những nguyện vọng về đời sống hiện tại và tương lai, cũng như sinh hoạt đời thường được thể hiện một cách sinh động và cô đúc dưới dạng biểu tượng trực tiếp nghệ thuật hay nghi lễ, trang nghiêm hay trần tục trong các lễ thức trò chơi hay trò diễn cùng các cuộc đua tài.

2.5.7. Thực trạng của hoạt động lễ hội hiện nay Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Trong những năm qua, công tác tổ chức và quản lý lễ hội ở nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ, du lịch. Tuy nhiên, thời gian gần đây, việc tổ chức lễ hội đã và đang xuất hiện những biểu hiện tiêu cực, phản cảm như: mở rộng quy mô lễ hội một cách tràn lan; trách nhiệm của người quản lý và ý thức của người tham gia lễ hội còn nhiều hạn chế, bất cập dẫn đến thái độ và hành vi ứng xử chưa văn hóa đối với một số lễ hội; các hiện tượng tiêu cực như: mê tín dị đoan, xâm phạm cảnh quan môi trường, an ninh trật tự không đảm bảo, thương mại hóa lễ hội có chiều hướng phát triển… Thực trạng này đang làm giảm đi giá trị chân thực vốn có và làm sai lệch giá trị bản sắc văn hóa của nhiều lễ hội, gây bức xúc trong dư luận xã hội.

GS – TS Ngô Đức Thịnh, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, Ủy viên Hội đồng Di sản quốc gia, nói khi trả lời phỏng vấn báo Thanh Niên đã nhấn mạnh: “Đến dự lễ hội để tưởng nhớ công ơn của tổ tiên, tôn vinh người có công với dân, với nước… là đạo lý, là nét đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc. Ðến dự lễ hội để được vui chơi, giải trí, được bồi đắp đời sống tinh thần một cách bổ ích và phong phú là điều cần được tôn trọng, khuyến khích. Song, biến lễ hội thành nơi thực hành “mê tín, dị đoan”, hay chạy theo lợi nhuận mà lấy mục đích kinh tế thay cho mục đích văn hóa… lại là điều phải chấn chỉnh kịp thời”.

Tiểu kết chương

Trong xu thế phát triển chung của nhân loại thì du lịch là một nhu cầu rất cần thiết đối với con người. Du lịch ngày càng phát triển với nhiều loại hình du lịch mới như du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch văn hóa… Và lễ hội là một loại hình du lịch văn hóa có giá trị cho việc khai thác để phát triển du lịch. Lễ hội vật cầu Kim Sơn là một lễ hội gắn liền với đời sống của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Nó không chỉ là một cuộc vui chơi giải trí, là nơi thử sức, thi tài mà còn là nơi người dân gửi gắm tâm tư tình cảm của mình thông qua các nghi lễ cầu rước. Lễ hội mang đậm chất dân gian truyền thống. Vì thế việc tìm hiểu, phát triển lễ hội là việc rất cần thiết để bảo tồn văn hóa dân tộc. Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn

One thought on “Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537