Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Lễ hội vật cầu Kim Sơn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

1. Hội vật cầu ở Việt Nam

Theo khảo cứu thì hội vật cầu xuất hiện ở nước ta từ rất lâu, nó được lưu truyền rộng rãi trong dân gian , không được lưu thành văn bản chính thức bởi nó chưa có dịp thể chế hóa hoạt động văn hóa, nhưng đã trở thành truyền thống lâu đời trong đời sống lễ hội. Do đời sống của người Việt cổ nằm cạnh các dòng sông, nền văn hóa lúa nước nên các hoạt động của họ đều gắn liền với nước. Từ xưa người ta đã nhận thấy tầm quan trọng của nước trong hoạt động canh tác nên đã đắp mương làm thủy lợi, dẫn nước vào đồng ruộng. Nhưng như vậy chưa đủ để việc trồng trọt diễn ra một cách suôn sẻ, mùa vụ vẫn bị đe dọa bởi các yếu tố thiên tai, dịch bệnh. Con người không thể chế ngự được thiên nhiên, họ cho rằng có các vị thần tự nhiên cai quản việc hô mưa, gọi gió và nếu làm những vị thần này phật ý thì họ sẽ giáng tai họa xuống làm cho mùa vụ thất bát, đời sống khổ cực. Vì vậy họ đã thờ và tôn kính các vị thần này như những đấng cao cả mà người ta gọi là thần linh có thế lực siêu nhiên. Từ đó mà các nghi lễ rước nước, cầu mưa để gửi gắm những mong muốn, ước nguyện của họ tới các vị thần được ra đời. Vật cầu là một trong những nghi thức cầu, rước của cư dân nông nghiệp lúa nước nhằm rèn luyện sức khỏe, mang ý nghĩa văn hóa phồn thực gắn liền với đời sống canh tác. Ngoài những ý nghĩa đó vật cầu được coi là một trò chơi thể thao mang tính trí tuệ và thể lực, nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai chống lại với thiên nhiên khắc nghiệt đồng thời có sức khỏe trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Có nơi thì vật cầu, có nơi thì cướp cầu như một trò chơi có ý nghĩa cầu mùa.

Việt Nam hội vật cầu được tổ chức ở một số nơi như: Hội vật cầu ở thị xã Đồ Sơn, Hải Phòng được tổ chức từ mùng 4 đến mùng 6 tháng giêng âm lịch. Vật cầu ở Đồ Sơn không rõ có tự bao giờ, nhưng theo các cụ cao tuổi vùng này kể lại: Sau khi đánh thắng giặc phương Bắc, bà Lê Chân được Hai Bà Trưng giao nhiệm vụ trấn giữ miền Duyên hải, bà ra sức cho dân chúng vùng này đắp đường cho quân lính đi lại tuần tra canh gác. Dân chúng hưởng ứng nhiệt tình. Họ cùng nhau chặt tre, phá vườn để hoàn thành sớm những con đường trước thời gian quy định. Những ngày đắp đường như thế, lúc giải lao, dân chúng thường lấy những củ chuối to ở các mảnh vườn vừa phá, thách đố nhau bê chạy từ chỗ này đến chỗ khác, xem ai nhanh hơn. Từ đó, mỗi khi xuân về, Tết đến, dân vùng này lại tụ tập diễn lại tích trò đặc biệt. Ngày nay, vật cầu ở Đồ Sơn dường như được phổ biến rộng rãi hơn. Vào những ngày Tết. Ngoài những lời thăm hỏi tốt lành, người Đồ Sơn vẫn không quên dự những hội làng cổ truyền và hiện đại trong đó có hội vật cầu. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Ở hội làng Yên Xá, thị xã Bắc Ninh thì quả cầu được làm bằng gỗ sơn đỏ được thờ ở hậu cung đình làng, đến ngày hội thì đem ra cướp đưa về hai lỗ chiêm và mùa để cầu mùa lúa là chính.

Hội cướp cầu thuộc miền hạ Yên Thế, nay là huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang được tổ chức để mừng xuân. Hình thức tổ chức tùy theo làng lớn, làng nhỏ mà cách làm khác nhau. Làng nhỏ chia làm 2 giáp, làng vừa thì 4 giáp, theo lượng người mà phân chia. Ðịa điểm tổ chức cướp cầu có khi là sân đình là bãi rộng cửa đình, bãi rộng bên đình và quả cầu được sơn son thiếp vàng, màu sắc rực rỡ, hấp dẫn. Cuối cùng trai đinh giáp nào cướp được cầu, ôm lấy, chạy vào đặt được trong đình là thắng cuộc.

Ở xã Phù Ninh, huyện Gia Lâm, Hà Nội có trò cướp cầu đưa vào giỏ đan tre thùng chôn được trống ở hai đầu sân đình.

Hội làng Gừa được tổ chức vào ngày 4 tháng 1 âm lịch tại làng Gừa, xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Quả cầu bằng gỗ, kích thước xấp xỉ như quả bóng chuyền ngày nay, được sơn son thếp vàng và trang trí vẽ mây sóng trên bề mặt. Quả cầu được tung lên cướp chứ không phải ném và giỏ hay vào lỗ, đội nào thắng sẽ được vào cung hồi trống, tế thánh khai hội và họ tin rằng mọi ước nguyện cũng sẽ linh ứng.

Trong lễ hội đảo vũ của xã Thạch Trực, tỉnh Vĩnh Phúc có trò cướp dừa thay cho cướp quả cầu son. Người nào cướp được quả dừa thiêng đầy ắp nước thì phải luồn nhanh ra khỏi đám đông, lao thẳng ra ao nước cửa đình làng, ném quả dừa xuống nước. Đó là một nghi lễ, nghi thức cầu mưa.

Mỗi lễ hội có một hình thức tổ chức và ý nghĩa khác nhau nhưng chúng đều mang đậm nét văn hóa truyền thống của dân tộc, cần bảo tồn và phát huy.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2. Khái quát về lễ hội truyền thống ở Hải Phòng

Tới thăm Hải Phòng vào mùa xuân, quý khách có thể tham dự nhiều lễ hội, thăm các di tích lịch sử. Vào mùa hè, tham gia những chuyến du lịch và vui chơi giải trí. Mùa thu, tham dự hội chọi trâu hay những làng nghề truyền thống. Mùa đông, đến với thú vui leo núi, thăm các hang động hay kên núi Voi…

Hải phòng là thành phố có nhiều tài nguyên du lịch nhân văn, hệ thống lễ hội phong phú, đa dạng. Mỗi lễ hội mang một sắc thái, màu sắc và ý nghĩa riêng biệt, chủ yếu lễ hội ở Hải Phòng mang sắc thái là một ngày hội với các trò chơi dân gian mang đăc trưng của vùng đất nông nghiệp với nhũng tích xưa. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Sau đây là một số lễ hội đặc trưng của Hải Phòng

Lễ hội ở Hải Phòng ngoài những đặc điểm riêng cũng mang những nét chung của lễ hội làng Việt.

Lễ hội là chứng tỏ tính cố kết của cộng đồng, là minh chứng cho nét đẹp văn hoá ngàn đời của ông cha. Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế… Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, ngày hội diễn ra sôi động bằng những sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương, đất nước của mình. Đặc biệt, lễ hội ở nước ta gắn bó với làng xã, địa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng nhân dân.

Phần lớn các lễ hội thường gắn với sự kiện lịch sử, tưởng nhớ người có công với nước trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm nên các trò vui chơi ở lễ hội thường mang nhiều tính mạnh mẽ của tinh thần thượng võ như hội vật cầu Sự phong phú của lễ hội ở Hải Phòng vừa là nét đẹp văn hóa dân tộc nhưng cũng vừa là một trong những sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

Thời gian mở hội, thường được tổ chức nhiều nhất vào ba tháng mùa xuân và mùa thu. Hai khoảng thời gian trên là lúc người dân nhàn rỗi. Mùa xuân tiết trời ấm áp, mùa thu tiết trời mát mẻ, đều thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội. Hai yếu tố cơ bản tạo nên sự thoải mái, vui vẻ cho người đi dự hội.

  • Một số đặc điểm của lễ hội
  • + Tính thiêng

Muốn hình thành một lễ hội, bao giờ cũng phải tìm ra được một lý do mang tính “thiêng” nào đó. Đó là người anh hùng đánh giặc bị tử thương, ngã xuống mảnh đất ấy, lập tức được mối đùn lên thành mộ. Đó là nơi một người anh hùng bỗng dưng hiển thánh, bay về trời. Cũng có khi đó chỉ là một bờ sông, nơi có một xác người chết đuối, đang trôi bỗng nhiên dừng lại, không trôi nữa; dân vớt lên, chôn cất, thờ phụng… Cũng có khi lễ hội chỉ hình thành nhằm ngày sinh, ngày mất của một người có công với làng với nước, ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác (có người chữa bệnh, có người dạy nghề, có người đào mương, có người trị thủy, có người đánh giặc… ). Song, những người đó bao giờ cũng được “thiêng hóa” và đã trở thành “Thần thánh” trong tâm trí của người dân.Nhân dân tin tưởng những người đó đã trở thành Thần thánh, không chỉ có thể phù hộ cho họ trong những mặt mà sinh thời người đó đã làm: chữa bệnh, làm nghề, sản xuất, đánh giặc… mà còn có thể giúp họ vượt qua những khó khăn đa dạng hơn, phức tạp hơn của đời sống. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Chính tính “Thiêng” ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho nhân dân trong những thời điểm khó khăn, cũng như tạo cho họ những hy vọng vào điều tốt đẹp sẽ đến.

  • + Tính cộng đồng

Lễ hội chỉ được sinh ra, tồn tại và phát triển khi nó trở thành nhu cầu tự nguyện của một cộng đồng. Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội cũng lớn. Bởi thế mới có lễ hội của một họ, một làng, một huyện, một vùng hoặc cả nước.

  • + Tính địa phương

Lễ hội được sinh ra và tồn tại đều gắn với một vùng đất nhất định. Bởi thế lễ hội ở vùng nào mang sắc thái của vùng đó. Tính địa phương của lễ hội chính là điều chứng tỏ lễ hội gắn bó rất chặt chẽ với đời sống của nhân dân, nó đáp ứng những nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dân, không chỉ ở nội dung lễ hội mà còn ở phong cách của lễ hội nữa. Phong cách đó thể hiện ở lời văn tế, ở trang phục, kiểu lọng, kiểu kiệu, kiểu cờ, ở lễ vật dâng cúng…

  • + Tính cung đình

Đa phần các nhân vật được suy tôn thành Thần linh trong các lễ hội của người Việt, là các người đã giữ các chức vị trong triều đình ngày xưa. Bởi thế những nghi thức diễn ra trong lễ hội, từ tế lễ, dâng hương, đến rước kiệu… đều mô phỏng sinh hoạt cung đình. Sự mô phỏng đó thể hiện ở cách bài trí, trang phục, động tác đi lại… Điều này làm cho lễ hội trở nên trang trọng hơn, lộng lẫy hơn. Mặt khác lễ nghi cung đình cũng làm cho người tham gia cảm thấy được nâng lên một vị trí khác với ngày thường, đáp ứng tâm lý, những khao khát nguyện vọng của người dân.

  • + Tính đương đại

Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền, lễ hội, trong quá trình vận động của lịch sử, cũng dần dần tiếp thu những yếu tố đương đại. Những trò chơi mới, những cách bài trí mới, những phương tiện kỹ thuật mới như rađio, cassete, video, tăng âm, micro… đã tham gia vào lễ hội, giúp cho việc tổ chức lễ hội được thuận lợi hơn, đáp ứng nhu cầu mới. Tuy vậy, những sự tiếp thu này đều phải dần dần qua sự sàng lọc tự nguyện của nhân dân, được cộng đồng chấp nhận, không thể là một sự lắp ghép tùy tiện, vô lý.

Ngoài ra tại các lễ hội còn có nghệ thuật diễn xướng, nghệ thuật tạo hình và trang trí, nghệ thuật âm nhạc, ca múa… tạo lên sự phong phú đặc sắc cho lễ.

3. Lễ hội vật cầu Kim Sơn truyền thống Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

3.1.Môi trường tự nhiên – xã hội hình thành nên lễ hội

3.1.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1. Vị trí địa lý, địa hình

  • Vị trí địa lý

Huyện Kiến Thụy nằm về phía Đông Nam cách trung tâm thành phố Hải Phòng 20 km. Diện tích là 10.753 ha, dân số 126.046 người, gồm 18 đơn vị hành chính xã, thị trấn (tính đến tháng 4 năm 2009). Bắc và Tây Bắc huyện giáp quận Dương Kinh và quận Kiến An; Đông và Đông Nam giáp quận Đồ Sơn và vịnh Bắc bộ; Nam và Tây Nam giáp huyện Tiên Lãng; Tây giáp huyện An Lão. Huyện lỵ đóng tại thị trấn núi đối.

Huyện được bao bọc bởi gần 27km bờ biển, các con sông Đa Độ và Văn Úc có ý nghĩa quan trọng cả về kinh tế chính trị lẫn quốc phòng an ninh. Sông Đa Độ là sông có ý vị trí hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội không chỉ riêng của Kiến Thụy mà còn của các địa bàn An Lão, Kiến An, Đồ Sơn.

  • Địa hình

Với diện tích 107.53 km2, huyện Kiến Thụy là vùng đất quy tụ được 4 lọai địa hình cơ bản như: Đồi, đồng bằng, bờ và đáy biển dược phân thành 2 nhóm chính là nhóm địa hình lục địa ven bờ và nhóm địa hình bờ – đáy biển. Toàn bộ địa hình cơ bản trên lại được phân bố trong một không gian lục địa – biển của vùng cửa sông châu thổ Văn Úc – Thái Bình. Do vậy, địa hình huyện Kiến Thụy khá phong phú về kiểu loại, đa dạng về nguồn gốc

3.1.1.2. Khí hậu

Kiến Thụy mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa ảnh hưởng của biển hình thành 2 mùa rõ rệt. Mùa khô hanh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa hè nóng ẩm nhiều bão vào tháng 4 – tháng 10.

  • Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22ºC – 23ºC. Cao nhất vào tháng 6 và tháng 7, thấp nhất vào tháng 1 và tháng 12.
  • Lượng mưa trung bình trên một năm: 1500 – 2000mm Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.
  • Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm 82% – 85 %
  • Chế độ gió mùa thay đổi theo mùa. Mùa đông thịnh hành gió Đông Bắc, mùa hè thịnh hành gió Nam và Đông Nam.
  • Bão và giông tập trung trong tháng 5 đến tháng 9. Bình quân hàng năm chiụ ảnh hưởng trực tiếp từ 1 đến 2 cơn bão, gián tiếp từ 3 đến 4 cơn bão đổ bộ vào biển Đông. Bão thường kèm theo mưa, lũ gây úng lụt và sạt lở đê điều.

3.1.1.3. Chế độ thủy văn

Huyện Kiến Thụy là vùng đất nằm tiếp giáp sông Văn Úc ở phía nam đoạn chảy qua huyện dài 14.75 km. Giữa huyện là sông Đa Độ có nhiều khúc uốn, đoạn chảy qua địa bàn huyện dài 29km. Ngoài ra phía Đông và Đông Nam huyện còn nhiều khúc sông, lạch triều như sông He, sông Sàng, sông Cốc Liễn…đều đã bị ngăn chặn dòng chảy bằng các con đập có cống hoặc không có cống thông thương với sông, biển tự nhiên. Những sông lạch này của huyện đã từng là nơi giao tranh quyết liệt của tướng quân Nguyễn Hữu Cầu thủa trước. Một số nhánh sông nhỏ ở phía nam huyện Đa Ngư… cũng đã bị chặn bởi các đê ngăn lũ, chỉ được chảy qua sông Văn Úc qua hệ thống cống hoặc đã bị đắp chặn hoàn toàn.

Kiến Thụy có hai dòng sông lớn chảy qua:

Sông Văn Úc chảy qua địa bàn có chiều dài 14,75 km có chiều rộng trung bình trên dưới 100m, sâu trung bình 4m, lưu lượng trung bình 120m3/s. Từ năm 1936 đào sông Mới, sông Văn Úc nhận thêm nước của sông Hồng,qua sông Luộc vào sông Mới đổ vào sông Văn Úc và trở thành nguồn cung cấp nước chủ yếu. Do nhận nguồn nước từ sông Hồng, hoạt động của sông Văn Úc ngày càng mạnh, hàm lượng phù sa bồi sông Văn Úc tới 9 triệu tấn, tạo xu thế nâng cao bãi bồi thấp ở cửa sông.

Sông Đa Độ có chiều dài qua địa bàn Kiến Thụy hơn 20 km, là con sông trữ lượng nước ngọt cho thành phố, hiện nay cung cấp nước cho nhà máy nước cầu Nguyệt, nhà máy nước Đồ Sơn, lượng nước sử dụng lên tới 120000m3/ ngày.

So với các huyện khác của thành phố nằm gần hệ thống sông Hồng, điều kiện địa chất tuy đang trong tình trạng sụt chìm song được bồi tích của hệ thống sông Hồng. Kiến Thụy có được mặt lợi thế về mặt địa chất thủy văn.

3.1.1.4. Tài nguyên đất

Kiến Thụy có tổng diện tích tự nhiên là 10.753 ha, chủ yếu đất dùng cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp là chính, đất dành cho sản xuất công nghiệp và dịch vụ không đáng kể.

Đất dành cho nông nghiệp để sản xuất lúa chủ yểu tập trung ở các xã Tú Sơn, Đại Hợp, Đoàn Xá, Thanh Sơn, Thụy Hương, Ngũ Đoan, Kiến Quốc, Ngũ Phúc, Đại Hợp… Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Đất sản xuất lúa mùa vụ khoảng 5000 ha, vụ chiêm khoảng 4800 ha, diện tích có khả năng khai thác 3 vụ khoảng 1700 ha.

Đất cây xanh lâu năm khoảng 337.51ha.

Đất còn lại là bãi bồi ven sông, có khu rừng ngập mặn phía Đông Nam huyện thuộc xã Đại Hợp, có diện tích khoảng 860ha. Do điều kiện tự nhiên là vùng đồng bằng sản xuất thuần nông, tài nguyên rừng biển chua được quy hoạch, phát triển. Vì vậy chưa khai thác được tài nguyên du lịch.

3.1.1.5. Tài nguyên sinh vật

Hệ động vật: cho đến nay đã thống kê được 122 loài động vật trên cạn thuộc 51 họ, 18 bộ của 4 lớp động vật. Động vật trên cạn có xương sống bao gồm: Lớp lưỡng thể có 8 loài thuộc 4 họ và 1 bộ, lớp bò sát có 11 loài, 6 họ và có 2 bộ, lớp chim phong phú nhất có 95 loài thuộc 36 họ và 11 bộ, lớp thú có 8 loài thuộc 5 họ và 4 bộ.

Đáng chú ý trong nhóm động vật trên cạn có thống kê được 7 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam gồm: rắn ráo thường, rắn cạp long, rắn hổ mang, tắc kè, bồ nông chân xám, cò thìa, rái cá thường.

Hệ thực vật: thống kê sơ bộ cho thấy, ở huyện Kiến Thụy có 300 loài, thực vật bậc cao của 250 họ thuộc các ngành khác nhau như ngành mộc lan hạt kín, ngành thông hạt trần, ngành dương xỉ, ngành rong đỏ và ngành nấm.

Ven biển Kiến Thụy có thể gặp hầu hết các loài cây ngập mặn ở phía bắc Việt Nam như: mắm quặn, bần, đước, muống biển, cói… Mặc dù về số lượng loài không phong phú, diện tích phân bổ tương đối tập trung do rừng được trồng tỉa, bảo vệ tốt ở ngoài đê quốc gia nên có tác dụng chống được sóng to gió lớn trong hững cơn bão biển.

3.1.2. Điều kiện xã hội

3.1.2.1. Điều kiện kinh tế: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Kiến Thụy có 19,68 km bờ biển, 4.500 bãi triều ngập nước, trong đó có 200 bãi triều cao. Điều kiện môi trường không thuận lợi cho canh tác lúa, nhưng đặc biệt thích hợp cho hoạt động nuôi trồng và phát triển thuỷ, hải – đặc sản. Với những thuận lợi ấy, Kiến Thụy đã xác định nuôi trồng thuỷ sản là hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế mũi nhọn của huyện. Từ chủ trương đó, huyện đã triển khai xây dựng khu nuôi tôm công nghiệp, các trại sản xuất và dịch vụ tôm giống trên diện tích 175 ha sử dụng 100% thức ăn và phương pháp nuôi trồng công nghiệp. Không những thế, chính quyền địa phương còn khuyến khích người dân nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, nước lợ theo mô hình kinh tế trang trại tạo bước đột phá trong nuôi trồng thuỷ sản. Hiện nay, Kiến Thụy đã đưa 2.483 ha vào nuôi trồng thuỷ sản, chiếm 24% diện tích đất canh tác.

Trong chăn nuôi, Kiến Thụy đã và đang hình thành các trang trại chăn nuôi gia súc gia cầm. Đến nay, toàn huyện có 41 trang trại chăn nuôi có hiệu quả. Nếu tính cả số hộ gia đình, toàn huyện có đến 500 – 600 mô hình nuôi 50 – 100 đầu lợn siêu nạc chủ yếu phục vụ xuất khẩu.

Về trồng trọt cũng có khá nhiều động thái và chuyển biến tích cực. Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng phê duyệt kế hoạch đầu tư, cơ chế hỗ trợ nông dân huyện vay vốn ưu đãi mua máy cơ khí phục vụ sản xuất. Ngoài trạm khuyến nông, huyện thí điểm 2 trung tâm học tập cộng đồng thực hiện nhiệm vụ chuyển giao các tiến bộ khoa học – kỹ thuật, phổ biến kiến thức pháp luật, đồng thời vận động các phong trào, dự định sẽ nhân rộng mô hình này tới tất cả các xã. Tăng cường cơ khí hóa cải tạo ruộng vườn, áp dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật, huyện đã từng bước đưa năng suất lúa lên 8 tấn/ha và hiện nay là 10,7 tấn/ha, đứng hàng thứ 3 về năng suất lúa của thành phố. Ngoài ra, huyện Kiến Thụy còn hình thành những vùng nông sản phục vụ xuất khẩu quy mô nhỏ.

Năm 2011, huyện Kiến Thụy xác định chủ đề hành động là “Đẩy mạnh xây dựng quy hoạch, tăng cường quản lý đất đai và bảo đảm an sinh xã hội”. Theo đó, tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thu hút đầu tư, phát triển sản xuất hàng hóa, phấn đấu tốc độ tăng trưởng năm 2011 từ 9,5 – 10,5%. Thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, thủy sản; thực hiện tốt việc quy hoạch 3 tiểu vùng, phát huy thế mạnh của từng vùng, từng sản phẩm, phấn đấu tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, quy hoạch phát triển các vùng sản xuất rau, hoa màu có giá trị kinh tế cao; đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, đưa cơ giới vào các khâu sản xuất nhằm phát triển hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng cao, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, nhất là hạ tầng giao thông nông thôn. Cùng với đó đặc biệt ưu tiên huy động mọi nguồn lực đầu tư xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, công nghiệp- dịch vụ. Trong năm, tập trung xây dựng và hoàn thiện các quy hoạch trọng điểm để thu hút đầu tư và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Lập, triển khai quy hoạch chi tiết phát triển các tiểu vùng, ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm theo quy hoạch tổng thể kinh tế- xã hội của huyện đến năm 2020 mà thành phố đã phê duyệt. Trong đó, ưu tiên xây dựng quy hoạch chi tiết các khu, cụm công nghiệp gắn với ưu tiên phát triển hạ tầng kỹ thuật; tập trung xây dựng quy hoạch thị trấn Núi Đối, các xã ven đô và các xã quy hoạch xây dựng thành thị trấn…

Kiến Thụy đã hình thành một số ngành công nghiệp mũi nhọn như sản xuất giày vải xuất khẩu, dệt may xuất khẩu, nhựa, bao bì và các mặt hàng truyền thống như mây tre đan, dệt thảm, hàng thủ công mỹ nghệ…                                                                    .

Với 74 di tích lịch sử cùng các lễ hội truyền thống, các danh thắng như núi Đối, núi Trà Phương, cùng hệ thống giao thông thuận lợi… Kiến Thụy có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch. Hiện nay, huyện đã có kế hoạch phối hợp cùng các điểm du lịch đồ Sơn, núi Voi (An Lão), núi Phù Liễn (Kiến An) thành khu du lịch, nghỉ ngơi liên hoàn. Đồng thời, huyện đang xúc tiến công tác lập và triển khai một số dự án như: khôi phục di tích Dương Kinh nhà Mạc, xây dựng công viên Bến Thuyền Đa Độ, đường du lịch sau núi Đối. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

3.1.2.2. Chính trị – xã hội

Ban thường vụ Thành uỷ nhất trí cao về việc nghiên cứu, ra nghị quyết về phát triển huyện Kiến Thuỵ đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, giao cho Ban cán sự Đảng UBND thành phố chỉ đạo các sở, ngành xây dựng và đề xuất vận dụng một số cơ chế, chính sách, hỗ trợ sản xuất đầu tư vào lĩnh vực có tính chất đột phá để giúp huyện Kiến Thuỵ triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Ban thường vụ Thành uỷ cũng như Đề án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội huyện Kiến Thuỵ đến năm 2020” đã được UBND thành phố phê duyệt. Trước đó, với tinh thần làm việc trách nhiệm, khẩn trương, Ban thường vụ Thành uỷ đã hòan thành việc đánh giá kết quả 5 năm thực hiện chỉ thị 48 của Bộ Chính trị “về bảo vệ bí mật của Đảng trong phát ngôn và sử dụng, bảo quản thông tin, tài liệu trong tình hình mới. Theo đó, thực hiện Chỉ thị số 48 – CT/TW của Bộ Chính trị, mặc dù trong điều kiện, bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động thu thập bí mật nhà nước nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, “bạo loạn lật đổ” nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thành uỷ, HĐND và UBND TP, các cấp uỷ, chính quyền, các sở, ban, ngành, cán bộ, đảng viên và nhân dân đã đề cao trách nhiệm, cảnh giác trong việc bảo vệ bí mật của Đảng và Nhà nước. Sau khi thống

nhất bổ sung các nhiệm vụ, giải pháp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nhằm tăng cường công tác bảo vệ bí mật Đảng và Nhà nước, Ban Thường vụ Thành uỷ đồng ý giao Văn phòng Thành uỷ chủ trì phối hợp với Đảng uỷ công an thành phố và các cơ quan có liên quan tham mưu giúp Ban Thường vụ Thành uỷ tổ chức hội nghị cán bộ thành phố tổng kết 5 năm thực hiện chỉ thị 48 của Bộ Chính trị để hướng dẫn chi tiết, cụ thể về việc thực hiện các quy trình, quy định về bảo vệ bí mật Đảng và Nhà nước để các cơ quan, đơn vị nắm chắc, triển khai thực hiện tốt trong thời gian tới.

Xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn là khâu đột phá để -Kiến Thụy đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phong trào làm đường nông thôn (gồm cả đường nhựa, cấp phối, xi măng, bê tông) phát triển ở hầu hết các địa phương. Một số trục đường chính của huyện đã được cải tạo, nâng cấp cả quy mô, chất lượng, góp phần từng bước đô thị hoá khu trung tâm huyện. Chủ trương xây dựng đường 353 và phát triển mạnh khu đô thị phía Nam thành phố đã tác động mạnh đến đời sống kinh tế – xã hội Kiến Thụy. Với chủ trương tập trung đẩy mạnh thu hút đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, huyện đã tạo mọi điều kiện cho các doanh nghiệp từ khâu lập dự án, giải phóng mặt bằng.                                                                                  .

  • Về lĩnh vực giáo dục – đào tạo

Các cấp, ngành học có chuyển biến tích cực cả về quy mô lẫn chất lượng đào tạo. Trong những năm qua, ngành giáo dục đã triển khai các nhiệm vụ quan trọng như bồi dưỡng kiến thức cho học sinh yếu, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho giáo viên, tu bổ bàn ghế, trang thiết bị dạy và học và triển khai tốt chương trình đổi mới sách giáo khoa lớp 1 và lớp 6… Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học và trung học cơ sở đạt 98 – 99%, trung học phổ thông đạt trên 95%. Các trung tâm học tập cộng đồng đã thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo nghề cho lao động vào các doanh nghiệp.

3.1.2.3. Dân cư Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Do sản xuất – kinh doanh phát triển, đời sống nhân dân đã từng bước được nâng cao. Sức khoẻ của dân được quan tâm, các chương trình y tế quốc gia như tiêm chủng mở rộng, phòng chống thiếu muối i-ốt, phòng chống dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm được thực hiện tốt.

Trong quy hoạch thành phố đến năm 2010, Kiến Thuỵ được xác định là đô thị vệ tinh và vùng phụ cận quan trọng trong chiến lược phát triển. Trong tương lai, các khu công nghiệp tập trung sẽ được xây dựng dọc đường 353 và một số khu công nghiệp hình thành sâu trong địa bàn huyện. Nếp sống văn minh công nghiệp, văn minh đô thị lan toả từ các địa bàn này sẽ là những cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, thu hút lao động, phát triển mạnh dịch vụ. Khu du lịch núi Đối được quy hoạch theo hướng nhà vườn và khu chung cư cao tầng, đảm bảo đây là một trong điểm nối với Cát Bà – Đồ Sơn. Đây là một tiền đề quan trọng giúp kinh tế Kiến Thuỵ phát triển mạnh hơn nữa.

3.2. Lịch sử hình thành lễ hội vật cầu Kim Sơn

Trong dân gian thì trò vật cầu là một trò chơi dân gian, lưu truyền sâu rộng và được nâng lên theo những nghi lễ riêng biệt của từng vùng. Hội vật cầu Kim Sơn cũng đã mô phỏng các trò chơi cướp cầu của các vùng khác thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ nhưng có khác là ba năm mới tổ chức một lần và cầu được làm từ củ chuối hột.

Lễ hội vật cầu Kim Sơn gắn liền với quá trình tồn tại của vùng đất bãi bồi ven sông Văn Úc và công cuộc khai khẩn đất đai tìm ra vùng đất mới này. Có nhiều cách lý giải cho việc hình thành lễ hộ vật cầu Kim Sơn:

Có ý kiến cho rằng đó là hiện tượng sinh hoạt văn hóa dân gian cầu mùa nước để làm đồng, cầu cho cây trái tôt tươi.

Tương truyền, vật cầu vốn là môn thể thao do tướng Phạm Ngũ Lão (đời Trần) đặt ra để rèn luyện quân sĩ cho kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Nhưng hội vật cầu ở làng Kim Sơn, xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy có từ bao giờ thì hiện nay vẫn chưa thể khảo cứu tường tận. Tuy vậy, căn cứ vào các đặc điểm lễ hội mang tính thể thao thượng võ cao, tính dân gian độc đáo thì Hội Vật cầu ở làng Kim Sơn có từ rất lâu và ngày càng được nâng cao, hoàn thiện trở thành lễ hội dân gian đặc trưng cho nét văn hoá của vùng. Lễ hội được mở vào ngày mồng 6 tháng giêng của năm “phong đăng hoa cốc” (thường 3 năm một lần).

3.3. Nội dung lễ hội Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

3.3.1 Lịch tổ chức lễ hội

Trong dân gian có rất nhiều loại hình vui chơi giải trí gắn liền với cuộc sống lao động của con người. Một trò chơi được tổ chức vào dịp năm mới của đại bộ phận dân cư làm nông nghiệp vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, lễ hội vật cầu của làng Kim Sơn được hình thành từ lâu đời, được tổ chức vào ngày mồng sáu tháng Giêng âm lịch, cứ ba năm được tổ chức một lần theo những nghi lễ trọng đại. Vào thời gian này là ngày dân còn nghỉ làm chơi tết Nguyên Đán, ngày xuân đầu năm mới cầu mùa, cầu may cho cả năm.

Cho đến nay vẫn chưa có thể lý giải được tại sao ông cha ta lại tổ chức lễ hội vật cầu vào ngày mồng sáu tháng Giêng âm lịch trong những ngày đầu xuân năm mới như hiện nay. Chỉ biết ngày này là ngày kỵ húy của thần Đông Hải Đại Vương Thiên Quan Vũ Muối. Thông qua một số công trình nghiên cứu, khảo cứu tại một số địa phương vùng lân cận Kim Sơn và Hải phòng ngày xưa có hội cướp cầu ở các nơi: làng Gừa ( Liêm Thuận – Thanh Liêm – Hà Nam) tổ chức vào ngày mồng bốn tháng Giêng âm lịch, một số làng thuộc vùng hạ Yên Thế (Tân Yên – Bắc Giang) thường tổ chức vào tháng Giêng âm lịch, làng Vân Hà (Bắc Ninh) thì tổ chức vào ngày mồng chín tháng Giêng, một số làng ở huyện Thường Tín – Hà Tây cũng tổ chức vào dịp đầu xuân.

Như vậy các hội vật cầu hay cướp cầu ở các vùng xung quanh Kim Sơn – Hải Phòng thuộc vùng châu thổ sông Hồng ngày xưa thường hay tổ chức vào dịp đầu xuân năm mới. Từ thực tế của lễ hội vật cầu nói trên, người nghiên cứu cho rằng lễ hội vật cầu Kim Sơn cũng chịu sự chi phối và ảnh hưởng của các lễ hội xung quanh do vậy lễ hội được tổ chức vào đầu mùa xuân (mồng sáu tháng Giêng âm lịch) là phù hợp với quy luật không gian, thời gian của lễ hội, vùng miền.

3.3.2. Chuẩn bị lễ hội

Vì là một lễ hội có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống của người dân nên công việc chuẩn bị cho lễ hội rất công phu cầu kỳ và chu đáo. Trước thời gian diễn ra lễ hội, các bô lão trong làng họp bàn xem xét khả năng làm ăn mùa vụ của dân làng để quyết định phong hay sái. Nếu làm ăn phong thì tổ chức lễ hội quy mô lớn, nếu làm ăn sái thì tổ chức lễ hội quy mô bình thường. Các chức sắc trong làng bàn đến từng phần việc cụ thể: Ban tế lễ gồm 11 ông tế đám, bầu giáp đăng cai, đội rước được tuyển chọn kĩ càng với các qui định nghiêm ngặt. Được tham gia trong ban tế là một vinh dự lớn lao nên các giáp điều cố gắng để giáp của mình có được nhiều người trong ban tế. Ban tế tổ chức tập rượt lại nghi lễ tế, các động tác dâng hương, dâng tửu thật thuần thục để không phạm những sai sót nhỏ trong việc tế lễ. Cùng với thời gian này các giáp chuẩn bị đội giai cầu của giáp mình, các đô vật là những trai làng khỏe mạnh. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Trước ngày hội mười ngày, ngày mười tám tháng Chạp dân làng làm lễ mở cửa đình để chạp thần, các việc được bàn tính xem xét cụ thể từ việc dựng cổng làng đón khách cho đến việc dựng cổng giáp sao cho đẹp, dựng cờ, chồng kiệu, sửa đường, dọn dẹp ngõ xóm phong quang sạch sẽ, làm lễ và ấn định thời điểm tiến hành lễ mộc dục, trong đình được sửa sang quét dọn khang trang.

Các dòng họ trong làng theo địa bàn sinh sống mà hình thành ba giáp, đại diện cho ba xóm: Giáp Đượng( giáp Đông) giáp Nam và giáp Bắc. Cờ và quần áo của ba giáp phân biệt theo màu: đỏ, vàng, xanh. Khi vật cầu trên sân ba màu hòa quyện rất đẹp.

Quân của mỗi giáp có 5 người dự thi được gọi là giai cầu, chọn trong số trai làng chưa vợ, cao to khỏe đẹp và phải có tiếng reo to, dài hơi khi vật.

Mỗi giáp lại có một tổng cờ, là người có tướng mạo đẹp, biết phát cờ cầm quân khi vào hội vật. Người này mặc quần áo võ, đầu chít khăn, chân vấn xà cạp, tay phải cầm cờ đuôi nheo sao cho cán tì cạnh sườn, tay trái chống cạnh bên; trong keo vật được chạy vòng ngoài theo sát quân, phất cờ cầm quân như võ tướng ngày xưa.

Trước đây giai cầu cởi trần, néo khố, ngày nay đổi thành quần đùi thắt lưng đai vải.

Quả cầu được làm từ củ chuối hột vườn nhà, đường kính khoảng 30 – 40cm, nặng từ 14 – 20kg còn tươi được gọt tròn, nhẵn và trơn tuột. Để có quả cầu khổng lồ này, làng phải giao cho từng giáp cắt cử người trồng, chăm sóc chuối và cuối cùng lựa chọn trong số đó củ chuối to nhất, nặng nhất. Vì vậy keo vật còn có ý nghĩa thử thách sức khỏe trai làng.

Cũng trong ngày 30 Tết, quả cầu được trang trí xong bằng giấy bọc hồng điều, có gắn hình tứ linh (long- ly- quy – phượng) bằng giấy trang kim, đặt trên mâng bồng kiệu, phía trước kiệu bằng hương án thờ thần ở đình làng trước con mắt chứng kiến của dân làng.

Từ ngày 30 tết cho đến đúng 10 giờ trưa ngày mùng 6 tháng Giêng là bắt đầu diễn ra lễ hội. Từ 3 đường về đình vào sân vật cầu dân làng đã dựng cổng chào quấn bện rơm, cài hoa và treo đèn, cờ, hoa trang trí rực rỡ. Mỗi cổng một kiểu khác nhau và điều có dựng đại tự trang trọng bằng chữ:

“ Kiến như đại tân. Anh hùng trần lực Vật ngã giai xuân”.

Tạm dịch: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

“ Ngày gặp ngỡ lớn Toàn sân vật cầu Quyết giành chiến thắng”

Việc chuẩn bị sân vật cũng hết sức quan trọng ảnh hưởng lớn đến việc cử hành trận đấu. Sân vật cầu được quét dọn sạch sẽ, lỗ cầu cái được dọn cẩn thận và không thay đổi vị trí đã định từ trước, còn lại ba lỗ cầu quân cách nhau 13m chia theo hình tam giác đều nằm về hướng theo đường về ba xóm của ba giáp tham dự.

Trước ngày chính hội, những người dự tế điều phải tắm gội sạch sẽ từ ở nhà, ăn chay, ra đình chuẩn bị cỗ bàn hiến tế, người coi đình sắp xếp các vị trí chỗ nào đặt hương án, quán tẩy …rồi chuẩn bị hương hoa vàng mã, những vật dụng tế lễ phải được chọn cẩn thận, hương đăng vàng mã phải được chọn chuẩn mực.

Đến ngày 30 tháng Chạp ngoài đình diễn ra cuộc tế “Tống cựu nghinh tân” tức là làm lễ tế tất niên đối với thần. Tại các gia đình vẫn có cúng gia tiên trong dịp lễ tất niên nhưng việc ra đình tham dự buổi tế này cũng rất cần thiết đối với mọi người. Và cứ thế thờ cúng cho đến chính hội.

3.3.3. Trình tự lễ hội

Lễ hội vật cầu thường diễn ra trong ngày mồng Sáu tháng Giêng âm lịch.

Nhưng trước đó vào ngày 18 tháng Chạp làm lễ chạp thần.

Sau khi vị chủ tế khấn trình xin phép được làm lễ chạp thần, những người dược chọn làm lễ thì cầu cúng khấn tế phải tuân theo trình tự bằng những động tác cung kính, tôn nghiêm. Sau đó làm lễ mộc dục tắm tượng, bắt đầu bằng việc tháo gỡ xiêm áo mũ miện để tắm tượng, tức là lau rửa dọn dẹp ngai và bài vị của thần thờ trong đình bằng nước hoa thơm tinh khiết.

Ngày 30 tháng Chạp: làm lễ cáo yết tống cựu tân nghinh- tức là báo cáo việc tế lễ.

Ngày mồng 6 tháng Giêng: làm lễ chính hội. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Bước vào ngày hội chính từ sáng sớm đã nổi lên những loạt trống làng thúc dục người dân tham dự lễ hội. Sau đó là bước tế lễ, đội tế bao gồm: một ông chủ tế, từ hai đến ba ông bồi tế, 1 ông đông xướng, 1 ông chúc văn, hai bên đăng mỗi bên từ 3 đến 5 người để dâng đăng và dâng tửu, 1 ông chiêng, 1 ông trống, 1 ông phường bát âm gồm 8 người. Trong hậu cung có hai ông phù tế để nhận đồ tế vào. Chủ tế phải là người vợ chồng song toàn, không bận tang, có tư cách đạo đức tốt, được mọi người tin tưởng. tất cả đội tế ăn mặc giống y phục của quan lại triều đình, chân đi hài. Quần áo chủ yếu là hai màu: màu vàng và màu đỏ.

Chủ tế mặc áo đỏ có thêu bối tử trước và sau, đầu đội mũ cánh chuồn. Đông xướng và tây xướng không có mũ cánh chuồn.

Khi tiến hành tế lễ,các đồ dùng tế tự như hương hoa, đài nến, lư hương dược đặt ra một chiếc bàn trước đại bái và một chậu quán tẩy sở.

Trước khi vào cuộc chính thức, ông chủ tế kiểm tra lại một lần nữa những đồ tế . Đội nhạc gồm phường bát âm, sinh tiền, chiêng trống góp phần làm cho buổi tế thêm trang nghiêm, thiêng liêng.

Chuẩn bị vào tế, ông đông xướng:

Các tam nghiêm: nghĩa là có ba điều cấm kị trong khi tế: không đi lại lộn xộn, khách thập phương không ai được vào hành lễ trong khi tế…

Sau đó ông đông xướng:

  • Khai trinh cổ, hai bên chiêng trống nổi lê ba hồi chín tiếng.
  • Nhạc sinh khởi nhạc (đội bát âm bắt đầu hòa nhạc tế)
  • Chấp sự giả chủ kỳ sự (mọi người quần áo tế đứng nghiêm chỉnh ở vị trí được phân công)
  • Thế cân (mọi người sửa lại cổ áo, mũ và các thứ được trang bị cho chắc chắn, ý hỏi mọi người ở các vị trí đã đủ chưa)
  • Quần tẩy (sơ báo tất cả mọi người vào làm việc đến tập trung ở chậu để sắp rửa tay)
  • Nghệ quán tẩy sở (mọi người đến chậu rửa tay bằng rượu thang là loại rượu thơm được đun nóng lên)

Bộ phận nhạc vào tiếp tục nổi lên ba hồi trống mời: chủ tế tựu vị, sau đó nhạc tiếp tục nổi lên: bồi tế tựu vị.

Đông xướng tiếp tục chỉ huy tế: chủ tế và đăng đi vào soi xét lại trong cung kiểm tra lại lễ vật đầy đủ chưa, khi đủ thì bắt đầu tế. Khi tế có bốn chiếu trải: chiếu ngoài cùng dành cho bồi tế, chiếu trong cùng dành cho chủ tế (duy nhất chỉ có chủ tế được vào chiếu này)

Khi tế phải châm tửu (uống rượu) nhậm trà (uống trà) trước sau đó mới tế. Người xướng loạt đầu tiên dâng hương đăng. Hai hàng, mỗi hàng hai người đầu tiên bưng nến, người thứ hai bưng lư hương. Hai ông đó đi vào chiếu của chủ tế quỳ xuống, chủ tế nhận nến và lư hương của từng bên một gọi là bái đăng, bái nhang. Khi ông chủ tế bái nhang, bái nhang xong, ông xướng hô “tiến đăng, tiến nhang” lúc đó hai ông đăng hương đi dần vào trong cửa cung lần lượt đưa cho người phù tế nến và nhang đặt lên án giang rồi lại quay ra. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Sau lễ dâng đăng, dâng nhang đến lễ dâng tửu. Lễ này được dâng lên ba lần gọi là tam tuần( tức là dâng tửu ba lần). Mỗi lượt hai bên có hai ông bưng ba đài rượu, bên phải là một ông bưng một chiếc đài để chiếc be. Lần thứ nhất dâng tửu hai bên cùng tiến vào chiếu nơi chủ tế quỳ. Ông chủ tế bái tửu rồi đưa lại, hai bên lại dẫn tửu đi vào trong cung.

Sau lần tiến tửu lần thứ nhất thì rước chúc văn từ trong cung đi ra. Đi ra hương án tiền chỗ ông chủ tế quỳ thì người chuyển chúc văn cho ông đọc chúc. Ông đọc chúc văn đọc to, rõ rang, mạch lạc cho mọi người nghe. Chúc văn đọc từ 15 – 20 phút, với giọng xướng. Khi đọc xong tất cả ông phủ phục bái hai lễ. Ông chuyển chúc, đọc chúc và người cầm tiến lên trả chúc ở hương án.

Sau đó dâng hai tuần rượu nữa, nghi thức như lần đầu. Kết thúc ba tuần dâng tửu theo lời tế ông chủ xướng quỳ xuống làm lễ thụ lộc đỡ chén rượu uống một ngụm nhỏ gọi là “ẩm phước”. Thụ lộc xong quỳ phục một lần nữa rồi quay ra. Các tế viên cũng vào lễ tạ.

Ông đông xướng:

Phần chúc. Người đọc chúc tiến lên hương án lấy chúc năn rồi hóa chúc văn, tro đổ vào chậu nước bê ra bên ngoài.Sau khi nội tán làm lễ xong lần lượt mới đến các cụ cao niên vào làm lễ tiếp theo. Tiếp đó là các vị có chức sắc trong làng dâng lễ cầu cúng. Lần lượt các giáp tham gia hội vật dâng cỗ cúng của giáp mình lên cho thần.

Đúng mười giờ sáng ngày mồng sáu tháng Giêng thì ông chủ tế mới cho bắt đầu những thủ tục trước khi vào hội vật cầu. Trước khi vào hội quả cầu được rước từ đình Đoài về đình Thượng để vào đám tế. Tế 3 ngày mới vào vật cầu. Đoàn rước đi trong tiếng reo hò và chiêng trống rộn rã. Khi đoàn đến giữa sân thì hạ kiệu. Một vị cao lão bưng quả cầu gieo xuống hố cái. Các giai cầu hò reo, giang tay chạy vòng quanh hố cầu cái. Tổng cờ chạy phất cờ ở ngoài. Sau tiếng “cắc” của trống, các giáp về vị trí. Tổng cờ đến bàn chủ khảo nghe lệnh rồi chuẩn bị ra quân. Hội vật cầu có ba keo, nếu giai cầu nào đưa được cầu vào lỗ cầu quân (3 lỗ cầu quân ứng với 3 giáp) thì thắng, nếu ở ven lỗ cầu quân chỉ được cộng điểm.

Phút giao cầu bắt đầu từ hiệu trống đầu tiên và thúc liên tục. Tiếp đó các giai cầu cùng vẫy tay, reo hò chạy đến miệng hố cầu và vờn cầu quanh lỗ cầu cái. Vờn ba lần theo 3 lần thúc trống thì bốc thăm. Giáp nào bốc thăm trúng thì bế cầu lên.

Mỗi giáp được cử một giai cầu xuống hố cầu cái để tung cầu lên. Các giai cầu ở các giáp tranh giành vật lộn nhau để đưa cầu vào hố cầu quân của giáp mình thì thắng cuộc vật cầu. Nếu ở ven lỗ thì cộng điểm. Như vậy cuộc cầu sẽ diễn ra trong thời gian rất lâu. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Tiếng trống “cắc” làm hiệu gừng keo vật, quả cầu lại được đưa xuống hố cầu cái, rồi trống lại dội lên cùng tiếng hò reo. Cứ thế đến khi hiệu trống hội liên hội rung lên keo vật lại được bắt đầu.

Khi quả cầu từ dưới hố cái tung lên bóng, trơn và nặng trĩu, càng tranh giành nhiều, cầu tắm đất và mưa xuân càng khó ôm. Các giáp cầu tranh giành, ngăn cản nhau quyết liệt mong đưa được cầu về hố cầu quân của giáp mình. Quả cầu lúc tung cao, lúc chìm trong khối người cơ bắp nổi cuồn cuộn, mồ hôi nhễ nhại. Tổng cờ luôn theo sát quân, vừa phất cờ thúc giục, vừa ra đấu giáp tranh cầu. Thỉnh thoảng dội lên vài tiếng reo hò vang dậy của giai cầu và người xem khi quả cầu được mang về hố cầu quân của sân nhà.

Môn vật cầu là khó ở chỗ do được làm bằng củ chuối hột còn tươi, ướt nhựa nên quả cầu rất trơn. Trong khi đó theo qui định, các giai cầu không được vác mà phải ôm trong lòng, vừa chạy trong sự cản phá quyết liệt của các giai cầu ở các giáp khác nên rất khó đưa được cầu về hố cầu quân để tính điểm trong ba keo vật. Khi keo vật thứ ba gần tàn, chủ khảo ra lệnh trống tắm cầu. Quả cầu được gieo xuống ao đình gần đó. Mười năm giai cầu cùng người xem lao xuống nước tranh lấy một miếng cầu mang về lấy “khước” của thần làng. Tương truyền nếu lợn ăn quả cầu này rất chóng lớn mà không bị dịch bệnh.

Thường thì trưa hôm đó nhà nào cũng làm cỗ thiết khách từ xa về xem hội.

  • Không khí hội hè còn râm ran trong những ngày xuân. Vì vậy dân làng có câu:
  • “ Mồng 3 ăn cốn (hết cỗ) Mồng 4 ngồi chợ Mồng 5 đợi chờ
  • Mồng 6 được ăn (hết cỗ hội)”

4. Lễ hội vật cầu Kim Sơn ngày nay

4.1. Lịch tổ chức lễ hội

Đến ngày nay lễ hội vật cầu Kim Sơn vẫn là một lễ hội luôn được người dân nơi đây mong mỏi, đợi chờ. Trong hai cuộc kháng chiến chống pháp và Mỹ lễ hội vật cầu không được tổ chức do đình Kim Sơn bị tàn phá nặng nề. Hội vật cầu Kim Sơn bị gián đoạn từ thời kháng chiến chống Pháp. Từ 1997 đến nay hội vật cầu được khôi phục trở lại. Đất nước ta bước vào thời kì đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Công cuộc đổi mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng thu được thành quả, đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Nhu cầu hưởng thụ đời sống văn hóa tinh thần cũng đặt ra những đòi hỏi rất lớn. Thời kì này vấn đề bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống trở thành nhu cầu cấp thiết. Nhận thức được điều đó các cấp Đảng Ủy và chính quyền huyện Kiến thụy có chủ trương khôi phục lại các lễ hội mang bản sắc văn hóa vùng cư dân ven biển. Trên cơ sở đó, hàng loạt lễ hội được khôi phục như lễ hội rước lợn ông Bồ làng Kỳ Sơn, lễ hội chạy đá làng Đa Ngư… và lễ hội vật cầu Kim Sơn.

Sau một thời gian dài bị gián đoạn, ngày tổ chức lễ hội vẫn như ngày xưa. Được sự chỉ đạo của UBND thành phố Hải Phòng, sở Văn hóa Thông tin đứng ra tổ chức lễ hội vật cầu được khôi phục và diễn ra rất trang trọng thời kì xã xây dựng “làng văn hóa”. Ngày nay, lễ hội vật cầu Kim sơn không còn quy định chỗ ngồi, tế cỗ mặn dành cho những vị chức sắc trong làng xã ngày xưa. Một số thủ tục rườm rà trong tế lễ cũng được bỏ đi.

4.2. Chuẩn bị lễ hội Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Công tác chuẩn bị lễ hội như sau:

Cứ ba năm một lần lễ hội vật cầu Kim Sơn được tổ chức với sự chuẩn bị chu đáo và công phu.

Đầu tiên là việc chọn củ chuối làm quả cầu. Cây chuối cần già để có củ lớn, để chọn được một gốc chuối ưng ý phải lựa chọn rất kĩ càng từ các cây chuối trong làng.. Trong tiềm thức họ tin rằng quả cầu là nơi chất chứa, gửi gắm những ước nguyện tốt lành. Quả cầu càng to càng đẹp thì mang càng nhiều may mắn.

Củ chuối được gọt tròn, bỏ hết các lớp vỏ ngoài cho tới phần lõi trắng với đường kính khoảng 30 cm, nặng 20kg sau đó bọc giấy hồng điều, trang trí hoa văn và hình tứ linh nổi. Quả cầu được đặt trên hương án thờ tại đình làng từ 30 tết.

Để hội thêm phần hoành tráng, ngoài quả cầu bằng chuối hột người ta còn dựng một quả cầu tương trưng bằng khung tre lớn và đem rước khi vào hội. Quả cầu này cũng được trang trí rất đẹp mắt với hình lưỡng long trầu nguyệt, được các cô gái xinh đẹp trong làng rước ra sân đình trong ngày hội vật.

Phần nghi lễ tế thần được tiến hành từ trước khi diễn ra hội vật cầu. Nếu khi xưa chủ tế phải chọn từ những vị trí có chức sắc trong làng như tiên chỉ, chánh hội hay lý trưởng thì nay người đó do chính dân làng yêu mến cử ra, không phân biệt vị thế chỉ cần là người đức độ, có uy tín.

Việc tế lễ tuân theo một nghi lễ cổ truyền thể hiện sự thành tâm, tôn kính đối với những bậc tiền nhân.

Người già trong làng kể rằng: Kim Sơn có hai đình đều thờ một vị thần thành hoàng làng dược sắc phong là “Đương Cảnh thành hoàng làng Thiên Quan Vũ Muối”. Đây là vị tướng thời Mạc trấn tại vùng này. Chính ông là người tổ chức ra hội vật cầu để tuyển chọn binh tướng. Cho nên từ đó tới nay, ba năm một lần,cả làng cùng mở hội vật cầu vào ngày kỵ húy thần, mồng 6 tháng Giêng âm lịch. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Trước hội ba tháng, UBD thành phố và huyện đã kết hợp với xã Tân Trào triển khai kế hoạch tới làng Kim Sơn thành lập ban tổ chức hội vật cầu. Ban tổ chức do đồng chí phí chủ tịch thương trực Ủy Ban Nhân Dân xã làm trưởng ban. Trưởng phòng văn hóa thông tin thể thao, đơn vị phụ trách về công tác chuyên môn và chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân xã – đơn vị sở tại nơi diễn ra lễ hội làm phó ban. Trưởng các ngành tài chính, thương nghiệp, văn phòng Ủy Ban Nhân Dân thành phố, y tế, công an và một số chuyên viên nghiệp vụ là thành viên của ban tổ chức. Căn cứ vào kế hoạc của ủy ban nhân dân thành phố, các ngành chức năng, theo yêu cầu công việc cụ thể của ngành mình mà xây dựng phương án thực hiện:

Phòng văn hóa thông tin lập dự trù kinh phí và nội dung phục vụ lễ hội. Công an thành phố xây dựng phương án bảo vệ: Đây là một lễ hội lớn của vùng, nên có rất nhiều khách thập phương về tham dự, phương án bảo vệ hết sức phức tạp. Các phương án sau khi xây dựng xong phải được thuyết trình và được ban tổ chức phê duyệt.

  • Ban tài chính chuẩn bị một nguồn ngân sách đủ chi phí phục vụ lễ hội bao gồm cả giải thưởng.
  • Văn phòng uỷ ban xã lo khâu hậu cần, lễ tân, tiếp đón các vị đại biểu về dựu lễ hội.
  • Trung tâm y tế chuẩn bị các thiết bị sẵn sang phục vụ nếu có trường hợp bất trắc sảy ra.

Ủy ban nhân dân Tân Trào và ban khánh tiết đình Kim Sơn lo phần khánh tiết đón khách tại khu vực lễ hội. Đồng thời tuyển chọn trong làng một đội trống hội bao gồm 10 cả trống cái lẫn trống quân, luyên tập cùng với các giai cầu cho quên không khí và tập lại bài trống truyền thống cho nhuần nhuyễn tránh khỏi sai sót trước khi vào hội.

Ban tổ chức đặt ra yêu cầu khi tổ chức lễ hội phải trọng thể, trang nghiêm, an toàn. Để thực hiện mục đích và yêu cầu này, mọi công việc chuẩn bị cho lễ hội được tiến hành công phu và kỹ lưỡng.

Trước khi vào hội thi, lễ chập thần theo nghĩ lễ truyền thống vẫn được diễn ra do ban tổ chức, ban khánh tiết đình Kim Sơn chỉ đạo. Sau đó hội trưởng các giáp vật họp bốc thăm màu áo của giai cầu. Đội nào bốc được thăm màu nào thì nhận quần áo màu đó. Quần áo may theo kiểu cổ sát nách xẻ tà, viền cổ, viền tà áo bằng vải khác màu, màu khăn chít đầu, màu đai thắt lưng đồng màu với quần áo. Mọi người khi bốc thăm màu quần áo thì giáp nào cũng mong bốc được màu đỏ đồng màu với màu quả cầu để mong nhận được sự phù hộ của thần linh và gặp nhiều may mắn.

Sau khi các giáp nhận màu quần áo xong, các đội bước vào thời kỳ luyện tập, luyện vật cầu trước ngày mở hội mười ngày để làm quen với sân bãi, quả cầu và thử sức. thời gian và kinh phí luyện tập do các giáp tự lo trang trải, ban tổ chức hỗ trợ kinh phí một phần: Nhiều xóm còn làm nghi lễ tại cửa đình theo nghi lễ truyền thống, thắp hương xôi gà, kê suy, rượu… để cầu cho đội giai cầu của mình bình an vô sự, thắng cuộc vật cầu. Đồng thời nhân dân tự nguyện quyên góp, ủng hộ tạo điều kiện để đội vật của xóm có thêm nhuệ khí trước khi bước vào hội vật cầu.

4.3. Trình tự lễ hội Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Trước ngày diễn ra lễ hội (mồng 6 tháng Giêng âm lịch) ngay từ ngày 25 tháng chạp năm cũ, trong làng ngoài xóm được quét dọn sạch sẽ, không khí lễ hội tưng bừng khắp nơi. Hệ thống băng zôn khẩu hiệu, cờ hoa được trang trí đỏ rực màu sắc từ dầu đường lớn cho đến từng ngõ xóm. Trước tiên là không khí đón tết Nguyên Đán, sau là chuẩn bị chu đáo cho ngày lễ hội vật cầu.Tập trung nhiều nhất là khu vực diễn ra lễ hội – trước cửa sân đình Kim Sơn. Nội dung tuyên truyền về ngày lễ hội vật cầu Kim Sơn và tuyên truyền về làng văn hóa cấp thành phố. Hai bên đường đi vào khu vự lễ hội treo cờ hội, nhà dân treo quốc kỳ. Bằng phương pháp tuyên truyền trực quan, một mặt giới thiệu với du khách sẽ có lễ hội vật cầu Kim Sơn, mặt khác gây được cảm xúc thẩm mỹ, tạo không khí hứng khởi cho người về dự hội, lẫn niềm tự hào hân hoan đón chờ ngày lễ hội truyền thống của nhân dân địa phương.

Toàn bộ khu di tích đình Kim Sơn được tu sửa trang hoàng đẹp mắt, trong đình đồ thờ, đồ tế được lau chùi sạch sẽ, sáng sủa, đèn nến lung linh gợi không khí linh thiêng tôn kính. Con đường dẫn vào đình được quét dọn sạch sẽ, cây cối phát quang. Không gian lễ hội tràn ngập khắp nơi với cờ hoa lộng lẫy, đẹp mắt thu hút tầm nhìn và quan sát.

Tiếp đến vào khu vực tổ chức lễ hội, ban tổ chức trang trí trên cổng chào làng có khẩu hiệu “nhiệt liệt chào mừng quý khách về tham dự lễ hội vật cầu Kim Sơn”

Nơi khai mạc lễ hội được mặc định diễn ra trước cửa sân đình Kim Sơn nơi có ao đình, trước cửa là sới vật cầu có tầm quan sát tốt từ trong đình ra. Điều đó rất có ý nghĩa cho cả thần và dân đều có thể xem hội rất thỏa mái và trực diện.

Phông chính được trang trí trước khu vực ban tổ chức có dòng chữ: “Lễ hội vật cầu Kim Sơn năm…”

Hai bên phông chính là hai băng zôn đỏ chạy dài ngay trước cửa đình với câu khẩu hiệu là mục tiêu phấn đấu của làng.

Tất cả các thành viên tham gia lễ hội vật cầu Kim Sơn đều được chuẩn bị hoàn tất chu đáo sẵn sàng trước giờ khai mạc. Khu vực giành cho khách mời và đại biểu giới báo chí Trung Ương, địa phương, phóng viên quay phim, nhiếp ảnh được trang trí lộng lẫy bởi hệ thống băng zôn và cờ các loại màu, có mái che, có rèm phủ quanh mái, có bàn ghế ngồi, nước uống. Ban lễ tân sẵn sàng đưa đón, hướng dẫn đại biểu đến tham dự chu đáo đúng vị trí.

Không gian khu vực lễ hội được giải tỏa thông thoáng phân định ranh giới không để nhân dân xem lấn sân vật,các phương tiện khác chiếm. Mọi công việc đặt ra cho ban tổ chức cuộc thi đạt hiệu quả tốt nhất đều được thực hiện phương án tối ưu nhất, sẵn sàng xử lý những trường hợp bất trắc có thể xảy ra. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Ngay từ sáng sớm mọi người đã đổ về Kim Sơn tham gia lễ hội với tâm trạng háo hức. Trong đình nghi lễ ngày kị húy vẫn được diễn ra bình thường như nghi lễ truyền thống ngày xưa. Ngoài quả cầu bằng chuối người ta còn dựng một quả cầu tượng trưng bằng tre đan giấy hồng điều bọc bằng giấy có trang kim rất lớn và đem rước khi vào hội

Trước giờ khai mạc, ban tổ chức cùng đại biểu tới thắp hương tại đình. Sau đó du khách thập phương cùng nhân dân về dự hội cùng thành kính tới thành lễ. Như vậy phần lễ đã được đơn giản hóa đi rất nhiều phù hợp với đời sống văn hóa mới, xây dựng khu dân cư văn hóa trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Chuẩn bị bước vào lễ khai mạc, các lực lượng tham gia phục vụ lễ hội đã ở tư thế sẵn sàng, ba đội vật cầu đứng xếp hàng dọc giữa sân đình trong trang phục sắc màu của mình, đoàn đại biểu khách mời ngồi trong nhà Đại Bái. Ba hồi chiêng trống âm vang được dóng lên nhắc nhở mọi người lưu ý giữ gìn trật tự an ninh.

Phần khai mạc bắt đầu bằng lễ chào cờ. Ban tổ chức tuyên bố lý do và giới thiệu đại biểu. Đại diện Ủy ban nhân dân xã Tân Trào ông chủ tịch xã đọc diễn văn khai mạc. Diễn văn khai mạc nhắc lại lịch sử đình Kim Sơn, tinh thần cách mạng của nhân dân Kim Sơn trong thời kì kháng Nhật, đồng thời nhắc lại tinh thần thượng võ của dân tộc ta trong thời kì mở đất tìm vùng đất mới. Bên cạnh đó nồng nhiệt chào mừng du khách thập phương cùng bà con dân làng về dự lễ hội.

Vận động viên của ba giáp cử đại diện lên tuyên thệ.

Trọng tài tuyên thệ.

Kết thúc phần khai mạc đại diện cho ban tổ chức tặng hoa và cờ lưu niệm cho ba đội để cổ vũ tinh thần trước khi vào hội thi. Chỉ trong một thời gian ngắn phần lễ khai mạc thể hiện tinh thần và phong cách văn hóa mới hiện đại được kết hợp hài hòa với những nghi lễ cổ truyền.

Theo sau đó là các đội trống thể hiện bài trống thượng võ tạo không khí rạo rực trong ngày lễ hội. Ngoài sân đình có hai đội lân, rồng múa lượn theo tiếng trống chiêng thúc giục. Các màn múa rồng diễn ra rất đẹp mắt với nhiều bài phong phú nhắc lại sử xưa của vùng đất Kim Sơn cũng như của dân tộc. Tiếp đó là lễ rước quả cầu đan bằng tre có gián dấy trang kim hồng điều mô phỏng quả cầu chính trong hội. Khi rước cầu có các cô gái măc trang phục áo dài đi bên cạnh trông rất đẹp mắt và trang trọng.Sau khi đưa cầu ra sân làm lễ xong quả cầu được mở ra và hàng chùm bóng bay với đủ màu sắc bay lên như những ước nguyện của người dân đang được gửi lên với trời. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Khi các đội vật cầu đã vào đủ vị trí: mỗi đội có năm người, một ông tổng cờ và ban chỉ đạo của giáp mình.

Đúng mười giờ sáng (giờ Thìn) một cụ già có uy tín trong làng được vinh dự đánh hồi trống đầu tiên khai hội. Tiếng trống như báo với trời đất về một cuộc sống bình an no ấm và như nhắc nhở về truyền thống hào hùng của một Kim Sơn kháng Nhật quật cường năm nào.

Hiếm một lễ hội nòa ở miền Bắc còn hội tụ đầy đủ các yếu tố tín ngưỡng nông nghiệp như lễ hội vật cầu Kim Sơn. Cùng với dàn trống mô phỏng tiếng sấm là điệu múa cờ tượng trưng cho thần gió hòa hợp với rồng thiêng bảo hộ mùa màng. Trong tâm thức những người cư dân trồng lúa nước, con rồng luôn gắn liền với nghi lễ cầu mưa. Trong không khí rạo rực, náo nức của lễ hội người ta vẫn cảm nhận được mong ước rất mộc mạc của người nông dân muôn đời.

Quả cầu đặt trên mâm kiệu với tán, lọng, cờ hội, bát biểu hai hàng được rước lọng trọng từ đình ra sân cầu. tham gia rước có các vị cao niên trong làng, ông chủ tế cùng ba giáp cầu tương ứng với ba thôn là: Giáp Đượng, giáp Bắc và giáp Nam.

Sới cầu được mở ngay trước sân đình làng gồm một lỗ cầu cái (đường kính 1,5 m sâu 1 m) và ba lỗ cầu con (đường kính 0,5 sâu 0,2 m), cách đều các lỗ cầu con sát cổng chào của ba giáp.

Ông chủ tế bê quả cầu gieo xuống lỗ cầu cái bắt đầu cho phần hấp dẫn nhất của hội. Dường như chính trong phần gieo quả cầu xuống hố rất đỗi bình dị gọi là “lỗ cầu cái”, “lỗ cầu con” thể hiện lối tư duy thuần nông, cầu trời đất giao hòa, âm dương kết hợp và mong ước muôn đời về sự an lành mọi vật sinh sôi, nảy nở.Đây là phần biểu diễn tung hứng cầu trước khi vào vật chính thức.

Cho dù thể lệ vật truyền thống vẫn được tuân thủ chặt chẽ từ xa xưa đến nay nhưng bao giờ trước khi chính thức vật cầu, ba ông tổng cờ đều được nhắc lại luật thi đấu.

Mỗi giáp gồm 5 giai cầu, là những trai làng chưa vợ, cao lớn, khỏe mạnh và một tổng cờ với và trò làng người lãnh binh, không chỉ có uy tín họ còn là người có kinh nghiệm cầm quân trong hội vật. Mỗi ông tổng cờ như một người tướng lĩnh đang cầm quân chỉ đạo trong trận chiến. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Cuộc thi đấu quyết liệt ngay từ phút giao cầu đầu tiên với tiếng trống khi giục giã , khi hối hả, dồn dập. Quả cầu vừa trơn vừa nặng khi ở trên tay, lúc lại rơi xuống đất luôn được các giai cầu tranh giành về giáp mình. Mỗi khi quả cầu được tung lên trên tay các giai vật là một lần khán giả hồi hộp chờ đợi, mong quả cầu được đưa về lỗ cầu quân để ghi điểm. Dù tranh cầu rất quyết liệt song bản thân mỗi giai cầu đều tuân thủ nghiêm túc luật chơi. Cuộc thi không chỉ thử sức bền dẻo dai của những người trai tráng mà còn là cuộc đọ trí thông minh và sự nhanh nhẹn tinh ý.

Cả người xem cũng cổ vũ hết mình cho đội cầu mình yêu mến. Người đến hội để được tham gia vào cuộc chơi đoàn kết gắn bó mà cũng không kém phần náo nhiệt để tận hưởng niềm vui sau bao vất vả lo toan trong cuộc sống.

Thời gian tranh cầu diễn ra trong khoảng 45 phút, chia làm ba keo và cứ sau mỗi keo vật các giáp ra sân nghỉ 5 đến 7 phút nhưng lễ hội vẫn được tiếp nối bằng các tiết mục múa rồng, múa cờ rất đẹp mắt.

Trong thời gian đó, các tổng cờ lại được triệu về phía nhóm trọng tài, còn ở từng giáp cầu việc hội ý diễn ra gấp rút. Ngay ở keo thứ nhất thế mạnh, điểm yếu của các giáp đã được bộc lộ. Bên cạnh việc dùng sức vật cầu, đòi hỏi sự phối hợp ăn ý và tinh nhanh nắm bắt sơ hở của giáp đối phương nên việc tìm ra các chơi phối hợp ăn ý trong đội là điều đặc biệt quan trọng.

Theo luật chơi, giáp nào đưa được quả cầu từ lỗ cầu cái về tới lỗ cầu con thì giáp đó thắng cuộc. Tuy nhiên đã từ nhiều năm, các cuộc chơi hầu như không có chiến thắng tuyệt đối bởi việc ganh đua quyết liệt cả về trí và lực của 15 giai cầu để giành một quả cầu vừ trơn vừa nặng từ lỗ cầu cái về lỗ cầu con thật không dễ dàng. Cho nên khi keo thứ ba gần tàn, quả cầu thường bị đầy xuống ao đình mà dân gian quen gọi là lệ “tắm cầu”. Người ta tin rằng nếu lượm quả cầu đó làm thức ăn cho vật nuôi sẽ rất mau lớn. Do đó, sau lễ hội vật cầu chính vẫn còn một keo vật “phụ” để ai cũng giành được một phần quả cầu.

Cứ ba năm một lần người ta lại quần tụ về Kim Sơn để chứng kiến lễ hội vật cầu. Ba năm khoảng thời gian ấy chưa đủ tạo nên những biến cố lớn lao trong cuộc đời một người, nhưng cũng vừa để hình thành lên một lớp người mới cả về trí tuệ lẫn thể lực, từng bước thay thế hệ cha anh đảm đương việc làng, việc nước.

Khi các keo vật đã kết thúc, ban tổ chức cùng UBND xã Kim Sơn, đơn vị sở tại nơi diễn ra hội thi đã chuẩn bị bế mạc. Mỗi thiếu nữ trong trang phục áo dài ôm một bó hoa lộng lẫy cho lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã tặng chào mừng các đội vật cầu hoàn thành cuộc thi. Sau khi nhận hoa cổ vũ, các giai cầu trở về vị trí khu vực khai mạc ban đầu. Đoàn đại biểu và giới báo trí tiếp tục trở về vị trí bế mạc và trao giải cho các đội tham dự hội thi. Ban tổ chức và tổ trọng tài đưa ra nhận xét đánh giá tổng quát hội thi, tiếp đến là công bố kết quả các đội trong cuộc thi. Lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã Tân Trào đọc diễn văn bế mạc biểu dương thành tích của các đội sau đó là phần trao thưởng và giải cho các đội do đại diện UBND huyện Kiến Thụy và thành phố Hải Phòng. Trong những năm gần đây lễ hội có thêm phần trao giải của các đơn vị tài trợ trong và ngoài thành phố tạo tinh thần động viên khích lệ nhân dân tham gia lễ hội. Cuối cùng thay mặt ban tổ chức, đồng chí trưởng ban đọc lời cảm ơn lãnh đạo, cảm ơn nhân dân, du khách và chào tạm biệt hẹn ngày lễ hội lần sau gặp lại.

Sau mỗi lần tổ chức lễ hội người dân đều có tâm trạng vui mừng, phấn khởi và lại háo hức chờ đợi ngày hội sau sẽ đến.

5. Ý nghĩa văn hóa của lễ hội Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Làng Kim Sơn vốn là vùng đất ven biển, để chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, những con người nơi đầu sóng ngọn gió ấy cần đến thể lực cường tráng cũng như một trí tuệ tinh thông. Tham gia hội vật cầu cũng là cách để con người được rèn luyện cả về cơ bắp lẫn trí tuệ, để họ có thêm sức mạnh trong cuộc sống. Lễ hội vật cầu Kim Sơn vì thế đâu chỉ mang ý nghĩa như một trò chơi dân gian trong tiết nông nhàn độc đáo bậc nhất miền Duyên Hải Bắc Bộ mà còn là một môn thể thao mang đậm tinh thần thượng võ.

Lễ hội vật cầu gắn liền với đời sống nông nghiệp của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Ngay trong phần nghi thức gieo cầu xuống lỗ cầu cái đã thể hiện văn hóa phồn thực, cầu cho mùa vụ bội thu, chăn nuôi thuận lợi.

Từ năm 1997 trở lại đây lễ hội vật cầu Kim Sơn được khôi phục lại đã khích lệ tinh thần thượng võ, vốn văn hóa dân gian của cư dân Kim Sơn càng trở nên phong phú khích lệ nhiều mặt trong cuộc sống ngày càng phát triển như cùng nhau phấn đấu xây dựng làng văn hóa các cấp. Vật cầu chính là hình thức rèn luyện sức khỏe, thao tài binh lược. Thời bình là rèn luyện sức khỏe, cơ thể cường tráng trong lao động sản xuất và xây dựng tổ quốc, mỗi dịp lễ hội vật cầu là một lần “trai thi mạnh” thời chiến thì đem cái mạnh ra trận chiến đấu bảo vệ nước non với kẻ thù.

Lễ hội vật cầu Kim Sơn được khôi phục đã làm cho phong trào lễ hội truyền thống khác cũng được khôi phục, sống dậy thật tưng bừng, phù hợp với xu thế phát triển chung. Trong điều kiện mới phát triển văn hóa truyền thống, xây dựng hệ thống giá trị vật chất, tinh thần mới, đáp ứng nhu cầu của con người, thực sự vì hạnh phúc của con người dựa trên nền tảng của những giá trị truyền thống của dân tộc.

Lễ hội vật cầu Kim Sơn được tạo ra xuất phát từ thực tế của nhân dân ngày xưa, trong quá trình phát triển quần cư hội tụ đã có những thay đổi cần thiết để có thể hội nhập với nhu cầu mới của xã hội đương đại. Từ đó tạo ra được cầu nối giữa truyền thống và hiện đại phù hợp với xu thế vận hành của văn hóa dân tộc.

Ngày hội vật cầu Kim Sơn kết hợp hài hòa giữa văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại tạo cho không gian lễ hội thành phố Hải Phòng một sắc thái mới. Nội dung lễ hội đã có sự cải tiến tiếp cận cái mới trên nền tảng của truyền thống dân tộc. Lễ hội gắn liền với di tích lịch sử cách mạng đình Kim Sơn. Cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, cảnh nông thôn thuần phác, lũy tre làng xanh mướt tuyệt vời tạo tiền đề cho văn hóa du lịch của thành phố Hải Phòng phát triển mạnh mẽ với những nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú tăng sức hấp dẫn cho chương trình du lịch “du khảo đồng quê” một chương trình du lịch đặc sắc. Nhân dân trong và ngoài thành phố Hải Phòng về dự lễ hội vật cầu, điều đầu tiên nhận thấy là sự bày tỏ tấm long thành kính với thần Đông Hải đại vương Thiên Quan Vũ Muối đồng thời cũng là dịp tốt để về với vùng nông thôn ngoại thành Hải Phòng, cái nôi của truyền thống cách mạng đầu tiên tại tỉnh Kiến An cũ, từ đó tình yêu quê hương đất nước ngày càng được nhân rộng, nặng nghĩa tình quê hương. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

Mỗi một lần tổ chức lễ hội là những thế hệ sau lại được ôn lại lịch sử, làm khơi dậy truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh quật cường của cha ông. Từ đó giúp mọi người nhận ra giá trị văn hóa đích thực của khu di tích đình Kim Sơn và vai trò to lớn của lễ hội vật cầu, nâng cao ý thức bảo vệ, tôn tạo, giữ gìn vốn văn hóa quý báu của địa phương.

Lễ hội vật cầu Kim Sơn từ trong quá khứ đến nay đều được coi là một loại hình sinh hoạt văn hóa của cư dân đồng bằng ven biển hết sức độc đáo và hấp dẫn của huyện Kiến Thụy nói riêng và thành phố Hải Phòng nói chung. Và trong thực tế mỗi lễ hội đều có mặt tích cực và hạn chế:

Mặt tích cực của lễ hội thể hiện sự phát lộ các ý thức tín ngưỡng, ký ức cộng đồng và ký ức văn hóa của mỗi dân tộc. Mặt khác lễ hội là một bộ phận tạo lên những ký ức đó, chúng tồn tại trong di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Hiện nay việc bảo vệ các di sản văn hóa vật thể đã khó nhưng việc bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể lại đứng trước thách thức lớn.. Ký ức văn hóa được gìn giữ, bức tranh tự họa của mỗi dân tộc được thể thiện có nghĩa là bản sắc văn hóa dân tộc và truyền thống dân tộc đang được bảo tồn, gìn giữ.. Dân Kim Sơn thông qua lễ hội đang nỗ lực gìn giữ và phát huy một cách tích cực ký ức văn hóa của mình như một tiềm năng lớn cho sự phát triển văn hóa nói riêng và kinh tế xã hội của đất nước nói chung. Lễ hội thực sự sống động đã đáp ứng nhu cầu thực tế tinh thần của nhân dân, lưu truyền và bảo tồn các nét đặc sắc của đời sống xã hội trong quá khứ, đồng thời những yếu tố hiện đại cũng dần được hội nhập vào lễ hội làm cho lễ hội thêm sức sống mới được công chúng đón nhận một cách đầy hào hứng.

Tiểu kết chương 2

Lễ hội vật cầu Kim Sơn là một lễ hội dân gian mang đậm bản sắc của nền nông nghiệp lúa nước. Gắn với mảnh đất bãi bồi ven sông Văn Úc (làng Kim Sơn) từ xưa vật cầu đã được tổ chức như một trò chơi dân gian để rèn luyện sức khỏe, đi kèm với nó là các nghi lễ, nghi thức linh thiêng tạo nên một lễ hội vật cầu vừa mang giá trị về mặt tín ngưỡng vừa mang giá trị tinh thần vui vẻ như ngày nay. Phần lễ mang tính linh thiêng được cử hành một cách trang trọng và chu đáo, phần hội vui vẻ tưng bừng với trò vật cầu lôi cuốn, thu hút người xem. Ngoài ra đan xen vào giữa phần vật cầu là các màn múa cờ, múa rồng rất đẹp mắt tạo sự phong phú cho lễ hội. Thêm vào đó lễ hội vật cầu gắn liền với địa danh Kim Sơn một thời hào hùng với phong trào kháng Nhật đã tạo sức hút với du khách thập phương. Việc khai thác lễ hội vật cầu để phát triển du lịch là rất cần thiết. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn

One thought on “Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn

  1. Pingback: Khóa luận: Phát triển du lịch lễ hội Vật cầu Kim Sơn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537