Khoá luận Thực trạng quan hệ du lịch với môi trường sinh thái ở Hà Giang

Chia sẻ đến các bạn sinh viên một bài luận văn tốt nghiệp chuyên ngành du lịch với Khoá luận Thực trạng quan hệ du lịch với môi trường sinh thái ở Hà Giang. Mặc dù đây chỉ là một bài luận văn tốt nghiệp với mục đích giúp các bạn có thêm tư liệu hoàn thiện được bài luận nhưng mình mong rằng bài luận mẫu này sẽ mang đến cho các bạn những kiến thức, tư liệu, mẫu trình bày bài luận tốt nhất. Mời các bạn tham khảo ngay Đề tài Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch tác động tới môi trường sinh thái tại Thị trấn Tam Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang dưới đây.

3.1. Cơ sở lý luận của đề tài Khoá luận Thực trạng quan hệ du lịch với môi trường sinh thái ở Hà Giang

3.1.1 Các khái niệm cơ bản

Khái niệm Môi trường: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.” (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2014) [14].
Khái niệm Du lịch: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn. Cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục, ở bên ngoài môi trường sống định cư, nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư” (Tổ chức du lịch thế giới) .
Theo Luật du lịch Việt Nam: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2005) [15].
3.1.2. Đặc trưng của ngành Du lịch
Mọi dự án phát triển du lịch được thực hiện trên cơ sở khai thác những giá trị của tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hóa, lịch sử cùng với các cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo. Kết quả của quá trình khai thác đó là việc hình thành các sản phẩm du lịch từ các tiềm năng về tài nguyên, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội.
Trước tiên đó là các lợi ích về kinh tế xã hội, tạo ra nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nâng cao đời sống kinh tế cộng đồng địa phương thông qua các dịch vụ du lịch, tạo điều kiện cho việc bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử và sự đa dạng của thiên nhiên nơi có các hoạt động phát triển du lịch. Sau nữa là những lợi ích đem lại cho du khách trong việc hưởng thụ các cảnh quan thiên nhiên lạ, các truyền thống văn hóa lịch sử.
Những đặc trưng cơ bản của ngành du lịch bao gồm:
⦁ Tính đa ngành: Tính đa ngành được thể hiện ở đối tượng khai thác phục vụ du lịch (sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn  hóa, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo…). Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sản phẩm dịch vụ cũng cấp cho khách du lịch (điện, nước, nông sản, hàng hóa…)
⦁ Tính đa thành phần: Biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần du khách, những người phục vụ du lịch, các cộng đồng nhân dân trong khu du lịch, các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ tham gia vào các hoạt động du lịch.
⦁ Tính đa mục tiêu: Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan lịch sử văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của du khách và người tham gia hoạt động dịch vụ, mở rộng sự giao lưu văn hóa, kinh tế và nâng cao ý thức tốt đẹp của mọi thành viên trong xã hội.
⦁ Tính liên vùng: Biểu hiện thông qua các tuyến du lịch với một quần thể các điểm du lịch trong một khu vực, trong một quốc gia hay giữa các quốc gia khác nhau.
⦁ Tính mùa vụ: Biểu hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập trung với cường độ cao trong năm. Tính mùa vụ thể hiện rõ nhất ở các loại hình du lịch nghỉ biển, thể thao theo mùa (theo tính chất của khí hậu) hoặc loại hình du lịch nghỉ cuối tuần, vui chơi giải trí (theo tính chất công việc của những người hưởng thụ sản phẩm du lịch).
Tính chi phí: Biểu hiện ở chỗ mục đích đi du lịch của các khách du lịch là hưởng thụ sản phẩm du lịch chứ không phải với mục tiêu kiếm tiền.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

3.1.3. Mối quan hệ giữa du lịch và môi trường

Du lịch và môi trường có mối quan hệ qua lại và không thể tách rời. Sự phát triển của bất kỳ ngành kinh tế nào cũng gắn liền với vấn đề môi trường.
Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa đối với sự phát triển của ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao như du lịch. Môi trường được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch, qua đó ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách, đến sự tồn tại của hoạt động du lịch.
Hoạt động phát triển du lịch đồng nghĩa với việc gia tăng lượng khách du lịch, tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ và gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên. Từ đó dẫn đến sự gia tăng áp lực của du lịch đến môi trường. Trong nhiều trường hợp, do tốc độ phát triển quá nhanh của hoạt động du lịch vượt ngoài nhận thức và năng lực quản lý nên đã tạo sức ép lớn đến khả năng đáp ứng của tài nguyên và môi trường, gây ô nhiễm cục bộ và nguy cơ suy thoái lâu dài. ( Khoá luận Thực trạng quan hệ du lịch với môi trường sinh thái )
3.1.4. Tác động của du lịch tới môi trường
⦁ Các tác động tích cực
– Môi trường tự nhiên:
Tăng cường hiệu quả sử dụng đất nhờ những dự án nơi các hoạt động phát triển du lịch cần đến các quỹ đất còn bỏ hoặc sử dụng không đạt hiệu quả.
Giảm sức ép do khai thác tài nguyên quá mức từ hoạt động dân sinh kinh tế trong những dự án phát triển du lịch tại những khu vực nhạy cảm với các ranh giới đã được xác định cụ thể và quy mô khai thác hợp lý.
Góp phần đảm bảo chất lượng nước trong và ngoài khu vực phát triển du lịch nếu như các giải pháp kỹ thuật trong cấp thoát nước được áp dụng. Việc thiết kế hợp lý hệ thống cấp thoát nước của các khu du lịch sẽ làm giảm sức ép gây ô nhiễm môi trường nước nhờ việc củng cố về mặt hạ tầng. Đặc biệt trong những trường hợp các khu vực phát triển nằm ở thượng nguồn các lưu vực sông, vấn đề giữ gìn nguồn nước sẽ đạt hiệu quả tốt hơn nếu như các hoạt động phát triển tại đây được quy hoạch và xử lý kỹ thuật hợp lý.
Bổ sung vẻ đẹp cảnh quan cho khu vực phát triển du lịch nếu như các công trình được phối hợp hài hòa.
Hạn chế các lan truyền ô nhiễm cục bộ trong khu vực nếu như các giải pháp kỹ thuật đồng bộ được áp dụng hợp lý.
– Môi trường nhân văn- xã hội: Góp phần tăng trưởng kinh tế khu vực.
Tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận cộng đồng dân cư địa phương.
Góp phần cải thiện điều kiện về hạ tầng và dịch vụ xã hội cho địa phương (y tế, vui chơi, giải trí…) kèm theo các hoạt động phát triển du lịch.
Góp phần thúc đẩy làng nghề truyền thống.
Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống (dân ca, nhạc cụ dân tộc, truyền thống tập quán…).
Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giao lưu văn hóa giữu các dân tộc và cộng đồng.
⦁ Tác động tiêu cực
– Môi trường tự nhiên:
Khả năng cung cấp nước sạch cho sinh hoạt, xử lý nước thải không tương xứng với khả năng đồng hóa ô nhiễm của môi trường nước tại chỗ, các vấn đề nảy sinh trong việc giải quyết loại trừ chất thải rắn. Trong mọi trường hợp cần nhận thấy rằng khách du lịch, đặc biệt khách từ các nước phát triển thưởng sử dụng nhiều nước và những tài nguyên khác, đồng thời lượng chất thải tính theo đầu người thường lớn hơn với người dân địa phương.
Tăng thêm sức ép lên quỹ đất tại các vùng ven biển vốn đã rất hạn chế do việc khai thác sử dụng cho mục đích xây dựng các bến bãi, hải cảng, nuôi trồng thủy sản và phát triển đô thị. Các ảnh hưởng của việc tăng dân số cơ học theo mùa du lịch có thể có những tác động ảnh hưởng xấu tới môi trường ven biển.
Các hệ sinh thái và môi trường rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương do sức ép phát triển của du lịch. Ở đây thường có hệ động thực vật đặc sắc có thể bị thay thế bởi các loài mới từ nơi khác đến trong quá trình phát triển. Cuộc sống và các tập quán quần cư của các động vật hoang dã có thể bị ảnh hưởng do lượng lớn khách du lịch đến vào các thời điểm quan trọng trong chu trình sống (di trú, kiếm ăn, sinh sản, làm tổ…).
– Môi trường nhân văn – xã hội:
Các giá trị văn hóa truyền thống của nhiều cộng đồng dân cư trên các vùng núi cao thường khá đặc sắc nhưng rất dễ bị biến đổi do tiếp xúc với các nền văn hóa xa lạ, do xu hướng thị trường hóa các hoạt động văn hóa, do mâu thuẫn nảy sinh khi phát triển du lịch hoặc do tương phản về lối sống.
Các di sản văn hóa lịch sử khảo cổ thường được xây dựng bằng những vật liệu dễ bị hủy hoại do tác động của khí hậu nhiệt đới gió mùa ở Việt Nam. Các di sản này thường được phân bố trên diện tích hẹp, rất dễ bị xuống cấp khi chịu tác động thêm của khách du lịch tới thăm nếu không có các biện pháp bảo vệ.
Do tính chất mùa vụ của hoạt động du lịch, các nhu cầu tại thời kỳ cao điểm có thể vượt quá khả năng cung ứng về dịch vụ công cộng và cơ sở hạ tầng của địa phương, tiêu biểu là ách tắc giao thông, các nhu cầu cung cấp nước, năng lượng, khả năng của hệ thống xử lý nước thải, xử lý chất thải rắn vượt quá khả năng của địa phương.
Mâu thuẫn dễ nảy sinh giữa những người làm du lịch với dân ở địa phương do việc phân bố lợi ích và chi phí của du lịch trong nhiều trường hợp chưa được công bằng. Nảy sinh những nhu cầu mới trong đảm bảo an ninh và an toàn xã hội. Phát triển du lịch ảnh hưởng đến môi trường kinh tế, văn hóa của khu vực. Du lịch tạo ra thu nhập, ngân sách, giải quyết công ăn việc làm, nguồn thu ngoại tệ. Điều đó giúp cho việc nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương. Song ngược lại nó thể gây rối loạn kinh tế và công ăn việc làm nếu hoạt động du lịch chỉ tập trung vào một hoặc vài vùng riêng biệt của đất nước hoặc vùng không được ghép nối với sự phát triển tương ứng của các vùng khác. Chẳng hạn như sự bùng phát giá đất đai, hàng hóa dịch vụ trong khu du lịch có thể làm mất giá đồng tiền, gây sức ép tài chính lên dân cư trong vùng.
Dân cư ở nhiều trung tâm du lịch có thể biến thành thứ lao động rẻ mạt, tạm bợ theo mùa.
Một trong những chức năng cơ bản của du lịch là giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng. Khi đi du lịch, du khách luôn muốn thâm nhập vào các hoạt động văn hóa của địa phương. Song nếu sự thâm nhập với mục đích chính đáng bị lạm dụng thì sự thâm nhập lại biến thành sự xâm hại. Mặt khác để thỏa mãn nhu cầu của du khách, vì lợi ích kinh tế to lớn nên các hoạt động văn hóa truyền thống được trình diễn một cách thiếu tự nhiên hoặc chuyên nghiệp hoặc mang ra làm trò cười cho du khách. Các nghề truyền thống đôi khi bị lãng quên, nhất là giới trẻ hiện nay ngày càng chối bỏ truyền thống và thay đổi cách sống theo mốt du khách.

3.1.4. Cơ sở pháp lý ( Khoá luận Thực trạng quan hệ du lịch với môi trường sinh thái )

⦁ Luật bảo vệ môi trường của Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 55/2014 QH11 ngày 23/06/2014.
⦁ Luật đa dạng sinh học của Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 20/2008 QH12 ngày 13/11/2008.
⦁ Luật bảo vệ và phát triển rừng của Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 24/2004 QH11 ngày 03/12/2004.
⦁ Nghị định 80/2006/NĐ – CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường.
⦁ Quyết định số 187/NQ-HĐND ngày 07/07/2015 của HĐND tỉnh Hà Giang về việc quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Hà Giang đến năm 2020 định hướng đến năm 2030.
⦁ Quyết định số 2188/QĐ-UBND ngày 03/10/2013 của UBND tỉnh Hà Giang về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hà Giang đến năm 2020.
⦁ Các ảnh hưởng của du lịch và một số hoạt động khác tới môi trường trên thế giới theo WTTC (Hội đồng Du lịch Thế Giới)
Du lịch đã được chứng minh là ngành công nghiệp dân sự quan trọng nhất trên thế giới. Theo WTTC, chỉ đến năm 1993 ngành du lịch đã sản sinh ra 3,5 ngàn tỷ USD cho thu nhập thế giới. Ngoài ra ngành du lịch còn tạo công ăn việc làm cho 127 triệu người và các con số như trên đã tăng gấp đôi từ năm 2005. Du lịch và vấn đề suy thoái, ô nhiễm môi trường.
Nói chung, hoạt động du lịch đã đưa đến rất nhiều vấn đề cho môi trường sinh thái. Lần lượt liệt kê một số tác động tiêu cực.
⦁ Việc khai phá và chuyển đổi mục đích sử dụng các vùng đất tự nhiên để xây dựng khách sạn, nhà nghỉ, các khu vui chơi giải trí, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch… đã làm mất đi khu hệ cư trú của nhiều loài động vật hoang dã, phá vỡ các khu hệ động vật, thực vật và gây ra sự suy giảm về đa dạng sinh học và mất cân bằng sinh thái.
⦁ Chất thải rắn, nước thải từ các điểm du lịch, các khu du lịch làm nhiễm bẩn môi trường đất và các nguồn nước trong các thủy vực.
⦁ Phá rừng để lấy lâm sản quý làm đồ lưu niệm, lấy gỗ phục vụ cho xây dựng các công trình du lịch cũng không tính toán hết các tác hại của chúng. Tuy nhiên tập trung vào các vấn đề sau: giảm sút đa dạng sinh học, gây ra xói mòn và rửa trôi trên các sườn dốc, hoang hóa và sa mạc hóa xuất hiện và lan rộng nhanh hơn.
⦁ Sự vận hành của khách du lịch và các phương tiện du lịch có thể làm chai cứng đất, gây ra hiện tượng du nhập sinh vật ngoại lai, gây xáo trộn đến sinh lý động thực vật và ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của các hệ sinh thái vốn rất nhạy cảm với các biến động của môi trường.
⦁ Các công trình phục vụ du lịch mọc lên có thể gây ra sự thay đổi điều kiện địa mạo, thủy vực.
– Việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu để chăm sóc cỏ cây trồng ở các công trình phục vụ du lịch có thể gây ô nhiễm đất và các nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt và nuôi trồng thủy sản.
⦁ Các công trình du lịch còn có thể gây ra xói mòn đất, thay đổi tính chất dòng chảy và làm cho tính chất môi trường bị biến đổi theo chiều hướng bất lợi cho cuộc sống.
Ngoài ra, còn có rất nhiều tác hại như làm thay đổi tính chất mặn ở các đới do việc xây dựng và vận hành các công trình du lịch dọc bờ, gây ồn, gây chết nhiều loại động vật, thực vật. Ở đây, chúng tôi chỉ đưa ra một số vấn đề mang tính chất nóng xảy ra trong hoạt động du lịch. Từ đó các vấn đề khác sẽ được diễn giải một cách dễ dàng hơn.
Các tác động tiềm tàng: Tác động tiềm ẩn lên thực vật có thể kể đến các tác động của phát triển du lịch và các hoạt động của nó lên thực vật như sau:
⦁ Thiếu cẩn thận trong việc sử dụng lửa, chặt phá cây cối để tạo nơi cắm trại, thải bỏ rác thải không đúng các quy định về vệ sinh môi trường, sử dụng các phương tiện giao thông.
⦁ Gây suy giảm giống loài.
⦁ Ngăn chặn sự tái sinh của các vật chất hữu cơ trong đất.
⦁ Gây phiền nhiễu đến sự phát triển bình thường của thực vật.
⦁ Làm giảm độ che phủ của thực vật và đa dạng sinh học.
Tác động tiềm ẩn lên môi trường không khí: Tác động tiềm ẩn của du lịch lên môi trường không khí thể hiện qua các nguồn khí thải CO2, CO, SOx, NOx… Từ giao thông bộ, giao thông thủy và vận chuyển hành khách trên không. Ô nhiễm không khí có thể diễn ra trong giới hạn hẹp, cũng có thể trong giới hạn rộng tùy thuộc vào các điều kiện về địa hình, về tính chất và phạm vi tác động của sự ô nhiễm.
Tác động tiềm ẩn lên chất lượng nước: tác động tiềm ẩn của phát triển du lịch và các hoạt động của nó bao gồm cả sự ô nhiễm nước. Đây là kết quả của sự thải bỏ chất thải trong hoạt động du lịch thẳng xuống các kênh rạch, sông hồ, hoạt động bơi lội, chèo thuyền, vết dầu loang một mặt gây ra sự suy giảm chất lượng nguồn nước. Mặt khác chất ô nhiễm có thể tích tụ trong cơ thể thủy sinh động vật và thực vật và đi vào cơ thể con người.
Tác động tiềm ẩn lên động vật: hầu hết du khách quan tâm đến việc thưởng ngoạn các động vật bản địa. Từ đó sẽ tác động lên:
⦁ Phá vỡ điều kiện sống của động vật.
⦁ Làm thay đổi sinh lý và hành vi của động vật.
⦁ Giết hại hay loại bỏ động vật ra khỏi môi trường sống của chúng.
⦁ Hoạt động tìm kiếm vật lưu niệm gây suy giảm nguồn tài nguyên động vật và đa dạng sinh học.
⦁ Như vậy, môi trường sống của thực vật, động vật, chất lượng không khí, chất lượng nguồn nước và môi trường đất đã có sự biến đổi không có lợi cho cuộc sống của sinh vật và con người do hoạt động của du lịch mang lại. Ngoài ra, các vấn đề khác cũng có chiều hướng biến đổi theo như thay đổi cảnh quan thiên nhiên, gây suy thoái và ô nhiễm môi trường.
⦁ Các nghiên cứu về ảnh hưởng của du lịch và một số hoạt động khác tới môi trường tại Việt Nam
Hiện nay du lịch được coi là ngành công nghiệp không khói quan trọng của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên ngành công nghiệp này cũng gây ra không ít hưởng tiêu cực tới môi trường. Do vậy, ở Việt Nam cũng có rất nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của du lịch và một số các yếu tố khác tới môi trường. Một số nghiên cứu tiêu biểu:
Chuyên đề Bảo vệ môi trường du lịch được thực hiện bởi PGS.TS. Phạm Trung Lương – Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch tháng 10 năm 2010 đã chỉ ra những khái niệm môi trường, môi trường Du lịch, ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới môi trường và đưa ra một số giải pháp cho các tổ chức nhằm nâng cao ý thức và bảo vệ môi trường du lịch.
Lượng rác thải khách du lịch để lại gây ảnh hưởng tới môi trường sinhthái, tiếng ồn do việc xây dựng và du khách đem lại gây ảnh hưởng tới các loài động vật yên tĩnh nhất là chim, hoạt động phát quang và xây dựng cơ sở vật chất gây ảnh hưởng lớn tới thảm thực vật và môi trường sinh thái.
Khoá luận Thực trạng quan hệ du lịch với môi trường sinh thái ở Hà Giang
Khoá luận Thực trạng quan hệ du lịch với môi trường sinh thái ở Hà Giang

3.2. Thực trạng du lịch sinh thái tại tỉnh Hà Giang ( Khoá luận Thực trạng quan hệ du lịch với môi trường sinh thái )

Hà Giang có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái. Tuy nhiên, trên bản đồ du lịch quốc gia, Hà Giang vẫn là một cái tên còn khá mới mẻ.
Khi nói đến Hà Giang là du khách nghĩ ngay đến những địa danh nổi tiếng như di tích Kỳ Đài, Đền Mẫu, Cột Cờ Lũng Cú, Núi Đôi, Ruộng Bậc Thang… những địa danh lịch sử, những thắng cảnh nổi tiếng. Ngày cuối tuần, hay dịp lễ lớn, khu di tích Núi Đôi đón hàng vạn lượt khách tham quan. Đó là hai quả núi trông như hai trái đào tiên. Giữa những núi đá trùng điệp và ruộng bậc thang nổi lên hai trái núi có hình dáng, thế đứng ngồ ngộ khiến du khách không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp kỳ vĩ của tạo hoá. Hai trái núi gắn với truyền thuyết núi Cô Tiên rất thú vị.
Khách du lịch đến với khu di tích chủ yếu là học sinh, sinh viên, công nhân viên chức nhà nước, một số chính trị gia và một số lượng nhỏ khách nước ngoài đến với mục đích thăm quan khu di tích, tận hưởng không khí mát mẻ và thưởng thức phong cảnh. Núi Đôi ngày nay trở thành một địa danh thiêng liêng, là niềm tự hào đối với mỗi người dân Việt Nam, đồng thời còn là điểm du lịch đặc sắc mang thương hiệu của Hà Giang, hấp dẫn du khách trong và ngoài nước đến tham quan.
Nếu những di tích lịch sử thu hút đông dòng khách nội địa, khách do các cơ quan đoàn thể, trường học tổ chức, thì các danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Là một tỉnh thuộc miền núi phía Bắc của Việt Nam, Hà Giang là vùng đất có khí hậu mát mẻ quanh năm, có núi, rừng, sông suối trải dài hùng vĩ, thiên nhiên còn nhiều nét hoang sơ đã tạo cho Hà Giang những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch.
Tuy nhiên, điểm yếu của du lịch Hà Giang là hạ tầng dịch vụ ăn nghỉ chưa đồng bộ, tay nghề của đội ngũ làm du lịch – dịch vụ phần lớn chưa được đào tạo bài bản, việc quảng bá để du khách hiểu đầy đủ hơn về du lịch Hà Giang chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, sản phẩm du lịch chýa ðến ðýợc với các doanh nghiệp chýa thực sự ðặc sắc, hấp dẫn, chưa lột tả hết vẻ ðẹp và giá trị của danh thắng.

One thought on “Khoá luận Thực trạng quan hệ du lịch với môi trường sinh thái ở Hà Giang

  1. Pingback: Khoá luận Hoạt động du lịch tác động tới môi trường sinh thái

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537