Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Những bất cập và phương hướng hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam cho các bạn.

1.NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG CỨU TRỢ Ở VIỆT NAM.

Xác định cứu trợ xã hội là một trong những cơ chế bảo vệ quan trọng, Nhà nước ta đã rất quan tâm đến hoạt động cứu trợ. So với nhiều nước trong khu vực, Việt nam là nước có chương trình cứu trợ khá toàn diện, đa dạng từ các tổ chức quyên góp và cứu trợ các trường hợp có thiên tai gây hại, ủng hộ bằng tiền hoặc hiện vật như gạo, thuốc men, quần áo, thực phẩm, vật liệu xây dựng nhà ở… cứu trợ khẩn cấp bằng tiền, tài sản và giúp đỡ ổn định chỗ ở ban đầu cho nạn nhân dịch bệnh hoặc các thảm họa khác; bảo vệ chăm sóc; dạy dỗ trẻ em tàn tật; tạo điều kiện để trẻ em tàn tật có thể tự lao động; nuôi sống bản thân; giúp ích cho gia đình, xã hội, sống hòa nhập bình đẳng với cộng đồng; giúp vốn, phương tiện phát triển kinh tế gia đình, hỗ trợ tài chính, vật chất trong khám bệnh, chữa bệnh, tặng quà, học bổng và các hình thức hỗ trợ thường xuyên khác.

Theo báo cáo vào chiều 16/1/2009, Cục bảo trợ Xã hội đã tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác năm 2008 và triển khai chương trình công tác năm 2009. Tham dự có đồng chí Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Bùi Hồng Lĩnh, Phùng Ngọc Hùng, cùng đại diện lãnh đạo các đơn vị có liên quan đến Bộ. Thay mặt lãnh đạo cục, Cục trưởng Nguyễn Trọng Đàm đã trình bày Báo cáo tình hình thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2008 và Chương trinh năm 2009 của Cục Bảo trợ Xã hội với một số kết quả, nội dung chủ yếu sau đây:

Về mặt xây dựng văn bản: năm qua Cục đã tham mưu xây dựng và trình ban hành 9 văn bản trong đó có 5 văn bản cấp Chính phủ, 4 văn bản cấp Bộ. Các văn bản hiện đang còn xây dựng là: Đề án nghiên cứu về luật người khuyết tật, Đề án phát triển nghề công tác xã hội; Thông tư hướng dẫn một số điều của Nghị định số 68…; góp ý 22 Nghị quyết, quyết định của Thủ tướng chính phủ và Thông tư của các Bộ, ngành liên quan… Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

Kết quả giảm nghèo, tính đến cuối năm 2008, tỷ lệ nghèo cả nước còn khoảng 13,08%, giảm  1,66% so với năm 2007, không đat mục tiêu đặt ra là giảm xuống còn khoảng 12% do tác động của nhiều yếu tố kinh tế-xã hội, thiên tai, bão lũ.

Về trợ giúp đôt xuất: căn cứ đề nghị của địa phương và qua kiểm tra thực tế,Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã trao đổi thống nhất với các bộ-ngành liên quan, xem xét đề nghị Chính phủ hỗ trợ lương thực cho các tỉnh nêu trên 40.000 tấn gạo và 825 tỷ đồng nhằm cứu đói và khắc phục thiên tai. Đồng thời cũng đã hướng dẫn các địa phương rà soát và thực hiện cứu trợ kịp thời cho gần 1,4 triệu người dân…

Về chính sách xã hội: Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương thực hiện Nghị định số 67/2007/NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượng xã hội, đến nay 63/63 tỉnh, hoàn thành việc rà soát, lên danh sách với tổng đối tượng là khoảng 1.13 triệu người. Trong năm, nhờ việc xây dựng và đưa vào ứng dụng phần mềm quản lý đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định 67 nên công tác quản lý đối tượng bước đầu đã được chuẩn hóa. Ước tính đến nay có khoảng 90% và đến năm 2009 sẽ có 100%  đối tượng thuộc diện trợ cấp theo nghị định này được hưởng trợ cấp.

Đối với lĩnh vực người khuyết tât: đến nay đã có 30 tỉnh, thành phố có kế hoạch và đề án trợ giúp người khuyêt tật (Đề án 329) cấp tỉnh; 24 tỉnh, thành phố tiến hành khảo sát thống kê người tàn tật, trợ cấp xã hội cho các đối tượng quy định tại Nghị định 67/2007/NĐ-CP, hướng dẫn thành lập tổ tự lực của người tàn tật, cấp thẻ bảo hiểm y tế, hỗ trợ giáo dục, đào tạo dạy nghề tạo việc làm, vay vốn phát triển sản xuất, cải tạo các công trình công cộng, giao thông để đảm bảo cho người tàn tật tiếp cận…

Về thực hiện Pháp lệnh người cao tuổi và Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi: đã có gần 3.1 triệu người (40% người cao tuổi) được hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc chính sách đối với người có công và trợ cấp xã hội; trên 57% hộ gia đình có người cao tuổi có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng; 93,88% người cao tuổi được khám, chữa bệnh và được hưởng chăm sóc của gia đình, trong đó có khoảng 32,6% do nhà nước và các tổ chức hỗ trợ; số còn lại do tích lũy của hộ hoặc giúp đỡ của cộng đồng dân cư…

 Về công tác xã hội: theo chỉ đạo của chính phủ, Bộ LĐ-TBXH đang tiếp tục phối hợp cùng các Bộ, ngành hữu quan và các đối tác quốc tế xây dựng Đề án Phát triển nghề công tác xã hội; Nghiên cứu đổi mới hoạt động của các Trung tâm bảo trợ xã hội; Trình và chuẩn bị triển khai thực hiện dự án “Chăm sóc trẻ em và người chưa thành niên có hoàn cảnh đặc biệt” do UNICEF tài trợ; đôn đốc và hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện các mô hình “Nhà xã hội” và “Ngôi nhà nhỏ trong các   Trung tâm Bảo trợ xã hội” chăm sóc trẻ em tại một số địa phương. Trong năm 2008 đã triển khai được mô hình nhà xã hội tại Hà Nội, Hà Tây, Đắc Lắc, TP.HCM, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu. Mô hình ngôi nhà nhỏ trong trung tâm BTXH tại Phú Thọ, Sơn La, Hải Dương, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Khánh Hòa…Báo cáo cũng đưa ra kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm 2009, tỷ lệ hộ nghèo nước ta giảm còn 12% ; về trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, đảm bảo 100% đối tượng có đủ điều kiện và hồ sơ đều được hưởng trợ cấp theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP; về đời sống nhân dân: đảm bảo ổn định đời sống, đặc biệt là vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, người dân vùng bị thiên tai, đảm bảo không có người dân nào bị thiếu đói do thiếu lương thực. Phát biểu kết luận hội nghị, cùng với những nhiệm vụ đã được nêu trong báo cáo trên, Thứ trưởng Bùi Hồng Lĩnh chỉ đạo, trong năm tới ngoài việc tập trung tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện nghèo, công tác bảo trợ xã hội cần đặc biệt quan tâm hơn đến an sinh xã hôi, đặc biệt tập trung vào những vấn đề bức xúc và những đối tượng yếu thế như người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người tàn tật…Cùng với đó, người làm công tác bảo trợ xã hội cũng cần chú trọng nhiều hơn đến công tác tuyên truyền, phổ biến thực hiện chính sách, biết phát huy cái tâm, tình cảm và trách nhiệm của mình đối với đất nước và toàn xã hội, trong công việc cũng cần nâng cao tinh thần đoàn kết, nhân ái, biết phối hợp chia sẻ để cùng thành công… Có thể nêu ra một vài hoạt động cứu trợ đã được thực hiện như:

Hỗ trợ 250 tỷ đồng giúp học sinh tiểu học vùng khó khăn. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em khó khăn (PEDC) cho biết: Để tăng cơ hội đến trường cho trẻ em ở 40 tỉnh khó khăn nhất trong cả nước, từ đầu năm học 2008-2009 đến nay, PEDC đã chi 250 tỷ đồng, hỗ trợ trực tiếp cho 2,15 triệu học sinh, mỗi em 32.000 đồng để mua các học phẩm tối thiểu: vở, bút,…với tổng số tiền là 68 tỷ đồng.

Giúp các trường học ở những vùng khó khăn có đầy đủ các vật dụng , trang thiết bị tối thiểu để tổ chức dạy và học, PEDC đã dành 8 tỷ đồng hỗ trợ văn phòng phẩm cho 80 nghìn lớp học bậc tiểu học, mỗi lớp 100.000 đồng; dành 75 tỷ đồng hỗ trợ Quỹ hỗ trợ nhà trường với mức 8 triệu đồng cho trường chính và 2,8 triệu đồng cho điểm trường lẻ. Có tất cả 4800 trường tiểu học và 17.500 điểm trường lẻ được nhận sự trợ giúp này.

Trẻ em dâ tộc thiểu số chuẩn bị vào lớp 1 năm học 2008-2009 được vào các lớp “chuẩn bị đến trường”. PEDC đã tổ chức 5000 lớp, chủ yếu tại các xã dân tộc vùng Tây bắc và tây nguyên…Trung bình mỗi lớp được hỗ trợ 8 triệu đồng.

Bên cạnh đó, mỗi học sinh được hỗ trợ trực tiếp bằng học phẩm: 20.000 đồng/em . Mỗi lớp được hỗ trợ văn phòng phẩm 200.000 đồng. Giáo viên được nhận phụ cấp 2 tháng.

Hỗ trợ tiền và gạo cho các địa phương bị ảnh hưởng bão số 6 năm 2008 Ngày 9-10 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định 1458/QĐ-TTG về việc trích 210 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách TW năm 2008 và cấp không thu tiền 2.200 tấn gạo từ nguồn Dự trữ quốc gia để hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu quả cơn bão số 6.

Theo đó, số tiền và gạo trên được phân bổ cho 4 tỉnh: Bắc Giang 80 tỷ đồng-1000 tấn gạo, Sơn La 50 tỷ đồng-400 tấn gạo; Quảng Ninh 40 tỷ đồng 400 tấn gạo; Lạng sơn 40 tỷ đồng và 400 tấn gạo để hỗ trợ dân sinh, mua giống khôi phục sản xuất, khôi phục cơ sở hạ tầng thiết yếu như trường học, trạm y tế, thủy lợi, giao thông nông thôn và vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh. Chủ tịch UBND các tỉnh trên chịu trách nhiệm quản lý, phân bổ số gạo kinh phí hỗ trợ đúng mục đích, đúng đối tượng và đúng quy định hiện hành. Đồng thời chủ động sử dụng dự phòng ngân sách địa phương và huy động các nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định để khắc phục hậu quả mưa lũ sau bão số 6.

Vụ thảm họa biển miền Trung-ô nhiễm môi trường biển Fomosa Tháng 4/2016 Fomosa đã thải hàng nghìn m3 nước thải ra biển mỗi ngày cùng với đó là hàng trăm tấn hóa chất độc hại gây hậu quả cực kỳ nặng nề và nguy hiểm cho người dân đồng bào miền Trung.Cá chết hàng loạt,bà con nông dân sống trong cảnh không có nước sạch để sinh hoạt,bệnh tật tràn lan khắp nơi.Trước tình hình đó,Đảng và Nhà nước ta đã có những biện pháp,hoạt động cứu trợ để giúp đỡ bà con vùng biển miền Trung sớm ổn định cuộc sống, khắc phục những thiệt hại…Tiêu biểu như: Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 772/QĐ-TTg ngày 9/5/2016 hỗ trợ khẩn cấp cho người dân tại các tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế bị ảnh hưởng do hiện tượng hải sản chết bất thường; Quyết định số 1138/QĐ-TTg ngày 25/6/2016 về việc tăng thời gian hỗ trợ ngư dân, diêm dân 4 tỉnh miền Trung theo Quyết định số 772/QĐ-TTg. Theo đó hỗ trợ hộ nông dân, ngư dân, chủ trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng do hiện tượng hải sản chết bất thường như cơ chế hỗ trợ thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh; hỗ trợ 15 kg gạo/người/tháng trong thời gian 6 tháng đối với các nhân khẩu thuộc hộ gia đình chủ tàu và hộ gia đình của lao động trên tàu; hỗ trợ một lần tối đa 5 triệu đồng/tàu đánh bắt ven bờ và vùng lộng phải tạm ngừng ra khơi; hỗ trợ 100% lãi suất vay vốn tín dụng trong thời gian tạm trữ 6 tháng đối với các doanh nghiệp, chủ vựa, tàu dịch vụ hậu cần nghề cá để thu mua, tạm trữ hải sản từ ngày 5/5/2016 đến ngày 5/7/2016; hỗ trợ không quá 70% giá trị hải sản không đảm bảo an toàn buộc phải tiêu hủy; hỗ trợ khắc phục hậu quả môi trường. Đến nay, Chính phủ đã xuất cấp gần 4.182 tấn gạo từ dự trữ quốc gia; Quỹ BVMT Việt Nam đã hỗ trợ ban đầu cho 4 tỉnh bị ảnh hưởng để xử lý, tiêu hủy cá chết (khoảng 4 tỷ đồng); Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã hỗ trợ trên 5 tỷ đồng cho người dân bị thiệt hại. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

Tóm lại, so với các quy định trước đây, cả đối tượng hưởng cứu trợ xã hội thường xuyên và cứu trợ xã hội đột xuất đều được mở rộng một cách đáng kể. Từ chỗ có 4 nhóm đối tượng được hưởng cứu trợ xã hội thường xuyên và 7 nhóm đối tượng được hưởng cứu trợ xã hội đột xuất theo Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09/3/2000 về chính sách cứu trợ xã hội và Nghị định số 168/2004/NĐ-CP ngày 20/9/2004 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 07/2000/NĐCP, nay đã có 9 nhóm đối tượng được hưởng cứu trợ xã hội thường xuyên và 8 nhóm đối tượng được hưởng cứu trợ xã hội đột xuất theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 và Nghị định số 13/2010 /NĐ-CP ngày 27/02/2010 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 67/2007/NĐ-CP. Trong từng nhóm đối tượng đã được quy định trong các văn bản pháp luật trước đây cũng có sự mở rộng bằng cách thêm đối tượng cụ thể trong nhóm hoặc giảm bớt những điều kiện cụ thể mà từng đối tượng phải đáp ứng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

Tuy nhiên, bên cạnh thành công đó thì các chính sách, pháp luật về cứu trợ xã hội bộc lộ những bất cập lớn như sau:

Thứ nhất, về đối tượng thụ hưởng: Độ bao phủ của pháp luật cứu trợ xã hội vẫn chưa thực sự được rộng khắp, chưa tạo điều kiện thật thuận lợi cho các đối tượng có điều kiện được tiếp cận, nhất là ở những địa phương có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

Các điều khoản TGXHTX nêu trong các nghị định mới quan tâm đến nhóm đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về sức khỏe, bệnh tật, trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa. Một số nhóm đối tượng yếu thế vẫn đang tiếp tục bị bỏ quên, trong khi các nhóm đối tượng khác mới nảy sinh do những biến cố kinh tế – xã hội cũng đang cần xem xét để đưa vào danh sách thụ hưởng.

Việc xác định đối tượng trẻ em (người dưới 16 tuổi) được hưởng cứu trợ xã hội với việc xác định độ tuổi của người lao động (người đủ 15 tuổi) cũng chưa có sự thống nhất. Thiết nghĩ những người đã đủ 15 tuổi cần đi làm để tự nuôi sống bản thân, không nên đưa vào đối tượng được hưởng cứu trợ xã hội, trừ trường hợp đặc biệt không thể đi làm kiếm sống.

Đây là vấn đề cần nghiên cứu, bàn luận để sớm có cơ sở cho việc chỉnh sửa, bổ sung diện bao phủ của chính sách đến các nhóm đối tượng cần trợ giúp.

Thứ hai, về mức trợ giúp và nguồn kinh phí. Mặc dù các quy định về mức trợ cấp liên tục thay đổi nhưng mức trợ cấp vẫn còn rất thấp, mang tính cào bằng và sự thay đổi chậm hơn so với biến động giá cả thị trường. Quy định về nguồn kinh phí dành cho trợ giúp không ngừng được bổ sung mở rộng, huy động tối đa khả năng tài chính của Nhà nước, địa phương; tuy nhiên cơ chế tự cân đối ngân sách cũng đang tạo lên sự chênh lệch và khác biệt giữa các địa phương về phân bổ ngân sách cho hoạt động trợ cấp. Sự tham gia ủng hộ đóng góp của cá nhân, cộng đồng và các tổ chức xã hội vào ngân sách ngày càng mở rộng song tính tự nguyện tham gia đóng góp ủng hộ chưa cao. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

Thứ ba, cơ sở hạ tầng, điều kiện chăm sóc và quản lý:Trong thời gian qua, nhiều văn bản liên quan đến phát triển cơ sở hạ tầng, điều kiện chăm sóc cho nhóm yếu thế trong xã hội đã được ban hành nhưng do hạn chế điều kiện kinh tế của trung ương và địa phương, hơn nữa, dân số – nhóm đối tượng cần chăm sóc – quá đông do yếu tố chiến tranh để lại nên sự phát triển cơ sở hạ tầng và các điều kiện chăm sóc gần như chưa đáp ứng nhu cầu thực tế, thiếu thốn nhà cửa, phương tiện và trang thiết bị phục vụ. Công tác quản lý cũng đang gặp nhiều bất cập do cơ chế quản lý kiểu cũ vẫn còn ảnh hưởng, điều này tác động không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động TGXHTX. Những vấn đề này đang đăt ra nhiều thách thức lớn đối với công tác TGXHTX ở nước ta hiện nay.

Thứ tư, sự phối hợp của các cơ quan tổ chức: Các quy định của pháp luật về TGXH luôn quan tâm đến sự tham gia của các chủ thể như: Nhà nước, địa phương, cộng đồng, gia đình, cá nhân đối với hoạt động trợ giúp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự tham gia chồng chéo của các bộ, ngành nên hiệu quả không cao; một số địa phương chưa chủ động, tích cực tham gia hoạt động trợ giúp; cán bộ chức năng thực thi sai chính sách trợ giúp; Những vấn đề này cũng cần được nghiên cứu, giải quyết trong thời gian tới.

Thứ năm, ý thức của đối tượng thụ hưởng cứu trợ xã hội.Một bộ phận không nhỏ gia đình và cá nhân thụ hưởng chính sách ở một số vùng miền còn tồn tại tâm thế ỷ lại trông chờ vào sự trợ giúp của Nhà nước và các tổ chức xã hội mà không chịu vươn lên trong cuộc sống.

Thứ sáu, chưa có sự giải thích công bằng về điều kiện hưởng cứu trợ xã hội.Các đối tượng mặc dù đã hội đủ điều kiện được hưởng cứu trợ xã hội thường xuyên nhưng vì thiếu thiện chí, công tâm hoặc vô trách nhiệm của những người làm công tác xét duyệt hồ sơ mà vô tình hay hữu ý gạt bỏ một lượng không nhỏ các đối tượng đủ điều kiện ra ngoài danh sách được hưởng cứu trợ thường xuyên của địa phương mình.

2. KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC VỀ THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG CỨU TRỢ XÃ HỘI.

Nhằm duy trì ổn định kinh tế – xã hội, nhiều nước trên thế giới đã ban hành hệ thống pháp luật về an sinh xã hội và không ngừng cải cách hệ thống pháp luật của mình. Ngày nay, xu hướng cải cách hệ thống an sinh xã hội ở các nước rất khác nhau. Đối với các nước phát triển, nguyên nhân cải cách là do tỷ lệ người già ngày càng tăng, kéo theo sự gia tăng thâm hụt quỹ lương hưu và quỹ BHYT…

Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cải cách hệ thống an sinh xã hội đối với nhiều nước đang phát triển là nhằm cơ cấu lại hệ thống an sinh xã hội truyền thống yếu kém và mở rộng phạm vi. Trong khi đó, các nước chuyển đổi cải cách hệ thống an sinh xã hội bởi gánh nặng về tài chính đối với chính phủ quá lớn.

2.1.Hệ thống an sinh xã hội Đức Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

Được hình thành từ thế kỷ 19 với bốn loại bảo hiểm cơ bản là: BHYT (1883); Bảo hiểm tai nạn (1884); Bảo hiểm hưu trí (1889); Bảo hiểm thất nghiệp (1927). Từ năm 1994, nước Đức thực hiện đạo luật về bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ và loại bảo hiểm này trở thành một trong những bộ phận cơ bản của hệ thống BHXH Đức. Bên cạnh hệ thống bảo hiểm, các hình thức bảo trợ xã hội khác như: bảo trợ nuôi dưỡng trẻ em, bảo trợ giành cho người già… cũng được phát triển mạnh mẽ ở Đức.

Do những áp lực lớn về cơ cấu tuổi thọ dân số cũng như gánh nặng hưu trí vào năm 2001 chính phủ Đức đã ban hành đạo luật cải cách hưu trí mới với mục tiêu là ổn định các tỷ lệ đóng góp trong quỹ hưu trí. Vào năm 2004, cải cách hưu trí lại được tiến hành ở Đức với phương châm mang lại sự ổn định về tài chính cho hệ thống BHXH với việc tăng độ tuổi nghỉ hưu chính thức từ 65 tuổi lên 67 tuổi vào năm 2035 và tiếp tục khẳng định tỷ lệ đóng góp vào hệ thống hưu trí công cộng ở mức 20% vào năm 2020 và 22% vào năm 2030.

2.2.Công tác bảo trợ xã hội ở Liên Bang Nga

BTXH dựa trên những nguyên tắc nhất định. Một trong những nguyên tắc cơ bản của BTXH là nguyên tắc đa chủ thể và nguyên tắc đồng tình của các chủ thể BTXH. Xã hội, công chức, chính quyền địa phương, các đảng phái chính trị, các đoàn thể xã hội, các tổ chức, các hiệp hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp, các cơ quan, các chủ nhà máy, … đều tham gia vào với tư cách là chủ thể bảo trợ xã hội, bao gồm cả việc đồng tình đóng góp và phân chia các nguồn lực để thực hiện công tác bảo trợ xã hội.

Một trong những nguyên tắc cơ bản của BTXH là nguyên tắc tính phổ biến. BTXH áp dụng cho tất cả các thành viên của xã hội và công dân, đòi hỏi đảm bảo các điều kiện cho con người được phép tham gia hoạt động lao động, giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, du lịch, an dưỡng, điều kiện nhà ở, phúc lợi và các đối tượng khác thuộc về hạ tầng xã hội và các loại hình dịch vụ xã hội. Ngoài ra, BTXH cần được thực hiện trong suốt cuộc đời của một người từ khi sinh ra cho đến lúc chết.

Tuy nhiên, BTXH được thực hiện theo cách khác nhau với các nhóm xã hội cụ thể, tầng lớp nhân dân. Điều đó đòi hỏi phải phân biệt phương pháp tiếp cận trong việc thực hiện BTXH, tùy thuộc vào mức độ tự chủ về kinh tế của con người, mức độ về khả năng lao động, mức thu nhập và các yếu tố khác. Phân biệt phương pháp tiếp cận đối với việc tổ chức BTXH cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản. BTXH cho người lao động liên quan đến việc cung cấp đảm bảo và trợ cấp, tạo điều kiện cho hoạt động sống và lao động bình thường, cho phép con người thực hiện quyền làm việc, chọn công việc, nghề nghiệp và chuyên môn. BTXH thực hiện trợ cấp cho người khuyết tật, cung cấp thu nhập tối thiểu trong trường hợp thất nghiệp, mất thu nhập do bị khuyết tật tạm thời, bệnh tật, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, khuyết tật, góa bụa, tuổi già, bảo đảm phục hồi xã hội, y tế, nghề nghiệp. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

2.3.Hệ thống an sinh xã hội Nhật Bản 

Hệ thống an sinh xã hội của Nhật Bản ra đời từ những năm 1950 và liên tục được hoàn thiện. Nó đang đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế Nhật Bản. Những thành tố cơ bản của hệ thống này là dùng quỹ xã hội để đảm bảo thu nhập cho những người lâm vào tình cảnh đặc biệt; BHYT; bảo đảm phúc lợi cho những người cao tuổi, người tàn tật và trẻ em nhỏ tuổi cần sự chăm sóc thường xuyên; trợ cấp xã hội đối với những người có mức sống thấp hơn mức qui định. Như vậy, có thể thấy an sinh xã hội Nhật Bản bao gồm 3 bộ phận chính: chăm sóc y tế, hưu trí và phúc lợi xã hội khác. Trong đó, hưu trí là bộ phận chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng chi tiêu của hệ thống.

2.4.Công tác cứu trợ xã hội của Trung Quốc 

Theo Tân Hoa xã: Trang web Bộ Dân chính Trung Quốc ngày 10/6 công bố thông tin cho biết, nhằm thúc đẩy xây dựng hệ thống cứu trợ xã hội hiện đại, mới đây, Bộ Dân chính và Bộ Tài chính Trung Quốc cùng công bố “Ý kiến về đẩy nhanh phát triển công tác xã hội trong lĩnh vực cứu trợ xã hội”, xác định rõ các nội dung như tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu nguyên tắc, lộ trình nhiệm vụ, biện pháp ủng hộ và bảo đảm, v.v. trong việc đẩy nhanh phát triển công tác xã hội trong lĩnh vực cứu trợ xã hội.

Bản “Ý kiến” xác định, phấn đấu đến năm 2020, bước đầu hình thành cục diện các cơ quan phục vụ và người làm công tác xã hội tham gia rộng rãi vào việc cứu trợ xã hội, các nhân viên công tác cứu trợ xã hội phổ biến vận dụng quan niệm, kiến thức và phương pháp chuyên môn trong công tác xã hội, phạm vi che phủ và cộng đồng được hưởng lợi từ công tác xã hội trong lĩnh vực cứu trợ xã hội được mở rộng rõ rệt, mực độ chuyên nghiệp và hiệu quả phục vụ không ngừng được tăng cường.

3.GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CỨU TRỢ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

3.1. Yêu cầu đối với hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội

3.1.1. Nhận thức đúng vai trò của cứu trợ xã hội ở nước ta hiện nay:

Nhận thức đúng về vai trò của cứu trợ xã hội nói riêng và an sinh xã hội nói chung có tầm quan trọng đặc biệt trong xây dựng chính sách, pháp luật về cứu trợ xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Trước hết, cứu trợ xã hội là chính sách xã hội cơ bản của Việt Nam vì con người và sự phát triển con người. Đối với nước ta, đảm bảo nhu cầu an sinh xã hội cho mọi người là một trong những mục tiêu xã hội quan trọng thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời cũng phù hợp với xu thế chung của cộng đồng quốc tế hướng tới một xã hội phồn vinh và công bằng. Thực hiện tốt các chính sách cứu trợ xã hội sẽ nhằm ổn định cuộc sống của các đối tượng “yếu thế” và phát triển quốc gia.

Thứ hai, cứu trợ xã hội là công cụ quan trọng thực hiện công bằng xã hội đảm bảo sự ổn định và phát triển xã hội. Thực tế cho thấy khoảng cách bất bình đẳng trong một quốc gia càng lớn thì ở quốc gia đó không có sự ổn định và phát triển. Chính sách cứu trợ xã hội là sự quan tâm, giúp đỡ của nhà nước, tổ chức, cá nhân đến những đối tượng gặp khó khăn, hoạn nạn trong cuộc sống. Vì vậy, xây dựng và hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội luôn hướng tới sự bình đẳng và ổn định quốc gia

3.1.2. Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước

Trong quá trình phát triển kinh tế, giải quyết phúc lợi xã hội là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần phải được quan tâm một cách thường xuyên. Song khi giải quyết các vấn đề phúc lợi chúng ta cần phải xem xét trong mối quan hệ với các yếu tố khác, trước hết là kinh tế. Nếu chúng ta thực hiện chế độ cứu trợ xã hội vượt quá khả năng về kinh tế sớm muộn sẽ đem lại những hậu quả tồi tệ và ngược lại nếu không xây dựng được các chính sách cứu trợ xã hội phù hợp nó lại làm cản trở sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội. V ì vậy, xây dựng pháp luật cứu trợ xã hội chúng ta phải dựa tình hình kinh tế-xã hội nước ta trong từng giai đoạn cụ thể.

Thứ nhất, nước ta đang trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập với nền kinh tế thế giới. Bản thân nền kinh tế thị trường tạo ra động lực cho sự phát triển, tăng trưởng kinh tế, song cũng gây ra các vấn đề bức xúc, trong đó có một bộ phận  dân cư, người lao động rơi vào tình trạng khó khăn trong cuộc sống, dẫn đến bất công xã hội và đe dọa sự bình đẳng xã hội. Đảm bảo, sự hài hòa giữa sự phát triển kinh tế và xã hội là nhiệm vụ rất lớn lao của Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Thứ hai, Việt Nam thường xuyên phải chịu hậu quả của thiên tai, bão lụt, hạn hán với tần suất xuất hiện trong năm càng lớn. Hàng năm có khoảng 700 người chết vì bão lũ và sạt lở, mỗi năm thiệt hại trung bình 3-4 nghìn tỷ đồng và lên đến 10 tỷ đồng năm 2009. Vì vậy, đối tượng cứu trợ xã hội cần đến sự trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng là rất lớn.

Ngoài ra, yếu tố già hóa dân số cũng được xem xét khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội trong giai đoạn hiện nay. Vấn đề người già không chỉ riêng Việt Nam quan tâm mà còn mang tính toàn cầu. Theo báo cáo của Liên hợp quốc (2002) cho thấy: người già từ 60 tuổi trở lên chiếm khoảng 10% dân số thế giới, tỷ lệ này dự kiến tăng lên 21% vào năm 2050. Ngoài ra chiếm khoảng 12% người già là những người trên 80 tuổi và tỷ lệ này dự kiến sẽ tăng lên khoảng 19% năm 2050. Ngày càng có nhiều người già thì khả năng ngân sách nhà nước phải chi cho cứu trợ xã hội cũng phải tăng lên, không chỉ đối với người già cô đơn mà còn đối với những người sống trên 85 tuổi.

3.1.3.Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội nhằm mở rộng hơn nữa đối tượng cứu trợ xã hội hướng tới mục tiêu bao quát toàn bộ dân số. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

Xây dựng, pháp luật cứu trợ xã hội một mặt vừa phải xem xét yếu tố tài chính, vừa phải cân nhắc các tiêu chí của đối tượng được hưởng sao cho đảm bảo nguồn kinh phí trợ cấp và đảm bảo đúng đối tượng. Theo quy định pháp luật hiện nay về cứu trợ xã hội chúng ta thấy vẫn còn những bất cập như trẻ em mồ côi từ 16-18 tuổi vẫn được hưởng trợ cấp; người cao tuổi thuộc hộ nghèo; người trên 85 tuổi không có lương hưu hoặc bảo hiểm xã hội…N ếu xây dựng tiêu chí không đúng sẽ dẫn đến tình trạng cứu trợ xã hội không đúng đối tượng. Đối tượng đáng lý được hưởng lại không được xét (do họ mới chạm mức cận nghèo hoặc khó tiếp cận các chính sach),trong khi đó các đối tượng khác đủ khả năng tự mình vươn lê, nhiều trường hợp có kinh tế lại được nhà nước trợ cấp xã hội. Nếu các quy định của pháp luật cứu trợ xã hội hoàn thiện, chắc chắn độ bao phủ của cứu trợ xã hội sẽ cao hơn nhiều so với hiện nay.

Nội dung này, vừa là định hướng vừa là mục tiêu phấn đấu của bất kỳ quốc gia nào hướng tới một xã hội công bằng, phát triển văn minh.

3.1.4.Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội phải hướng tới thiết lập được pháp luật cứu trợ xã hội tiến bộ, kế thừa thành tựu lập pháp, khắc phục những hạn chế của pháp luật cứu trợ xã hội hiện hành.

Thiết lập được pháp luật cứu trợ xã hội vững mạnh, phù hợp đặc điểm riêng quốc gia và tiếp cận xu hướng tiến bộ chung của pháp luật quốc tế là mong muốn chung của bất kỳ quốc gia nào.Trên cơ sở những nội dung phân tích trên, pháp luật cứu trợ xã hội hiện hành còn một số tồn tại như: chưa có văn bản về cứu trợ xã hội mang tính pháp lý cao; các quy định về đối tượng hưởng chế độ CTXH chưa chính xác; nhóm người nhận nuôi dưỡng người già; người có điều kiện khó khăn, người nước ngoài…chưa được hưởng chế độ cứu trợ xã hội theo pháp luật hiện hành; chế độ CTĐX còn rất đại khái chưa mang tính thuyết phục theo quan điểm cứu trợ xã hội là “lưới đỡ kinh tế cuối cùng”; cách thức tổ chức còn thiếu cơ quan chuyên trách về cứu trợ xã hội, nhân sự thực hiện cứu trợ xã hội còn thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn…

Vì vậy,việc hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội phải dựa trên những hạn chế để xây dựng các quy định có tính khả thi và phù hợp với tình hình thực tế là hết sức cần thiết. Đồng thời, kế thừa các thành tựu của pháp luật trước đây và tham khảo kinh nghiệm các quốc gia trên thế giới cũng rất quan trọng với chúng ta trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

3.2. Một số giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội

Từ những đánh giá về những điểm bất hợp lý trong chính sách pháp luật CTXH, chúng ta đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật cứu trợ xã hội hiện nay trên cơ sở các nội dung: đối tượng và điều kiện hưởng cứu trợ xã hội; các chế độ áp dụng đối với các đối tượng hưởng cứu trợ xã hội; nguồn kinh phí thực hiện; tổ chức thực hiện pháp luật và pháp điển hóa pháp luật cứu trợ xã hội.

3.2.1. Về đối tượng và điều kiện hưởng cứu trợ xã hội.

Thứ nhất, mở rộng hơn nữa đối tượng được hưởng cứu trợ xã hội phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳ. Điều này được lý giải bởi pháp luật cứu trợ xã hội của chúng ta hiện nay quy định các điều kiện hưởng trợ giúp của Nhà nước quá khắt khe,  pháp luật chỉ trợ giúp cho các trường hợp “đặc biệt” khó khăn bao gồm 9 trường hợp theo nghị định số 67/2007/N Đ-CP. Song thực tế, số đối tượng có hoàn cảnh khó khăn cần sự trợ giúp của Nhà nước, cộng đồng là rất lớn như trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục, các đối tượng nghèo…

Mặt khác, mở rộng đối tượng cứu trợ xã hội tức là thể hiện độ bao phủ của chính sách đến cộng đồng dân cư. Mức độ bao phủ của hoạt động cứu trợ xã hội càng lớn thì sự ổn định kinh tế-chính trị quốc gia càng đảm bảo. Thực hiện nội dung này góp phần công bằng xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển ổn định, bền vững.

Các đối tượng nên được bổ sung vào diện hưởng cứu trợ xã hội thường xuyên trước tiên đó là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn như trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em bị nhiễm HV/AIDS… Các đối tượng này rất cần sự quan tâm, chăm sóc của Nhà nước và cộng đồng. Ngoài ra, nhóm đối tượng là cá nhân, hộ gia đình nhận nuôi dưỡng người già không nơi nương tựa cũng cần đưa vào đối tượng hưởng chế độ cứu trợ xã hội thường xuyên. Xuất phát từ kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cũng như tập quán, truyền thống người dân Việt Nam cho thấy người già được nuôi dưỡng tại gia đình tỏ ra hiệu quả hơn nhiều so với mô hình sống tập trung. Do vậy cá nhân, hộ gia đình nhận nuôi đối tượng này cần được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.Trong nhóm đối tượng cứu trợ xã hội đột xuất nên bổ sung cho các cá nhân gặp khó khăn đột xuất mà không phải do nguyên nhân khách quan như đối tượng là nạn nhân của bao lực gia đình, nạn nhân của việc buôn bán phụ nữ, trẻ em. Đây là vấn đề mang tính thời sự trong giai đoạn hiện nay, các đối tượng này hầu hết là phụ nữ và trẻ em. Khác với đối tượng cứu trợ xã hội đột xuất do nguyên nhân khách quan, đối tượng cứu trợ xã hội thường xuyên do nguyên nhân chủ quan  (đối tượng là nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân buôn bán phụ nữ, trẻ em) họ không chỉ thiếu thốn về kinh tế mà còn sự hụt hẫng, mất mát lớn lao về mặt tinh thần. Xét ở góc độ này, các đối tượng là nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân của việc buôn bán phụ nữ trẻ em đáng thương hơn nhiều so với những đối tượng cứu trợ xã hội đột xuất bởi các nguyên nhân khách quan. Mặt khác, xem xét đối tượng này nạn nhân đều là phụ nữ, trẻ em. Quan tâm đến phụ nữ, trẻ em không chỉ là trách nhiệm của toàn quốc gia mà còn của cả xã hội. Khi trợ giúp các đối tượng này, bên cạnh việc trợ giúp về mặt kinh tế chúng ta cần có những trợ giúp về mặt tinh thần như động viên các đối tượng sớm hòa nhập cộng đồng, tạo điều kiện khám chữa bệnh miễn phí và bảo vệ danh dự cũng như sức khỏe của họ trước cuộc sống thường nhật. Người nước ngoài, trong một số trường hợp nhất định cũng nên cho họ hưởng chính sách cứu trợ xã hội đột xuất của Nhà nước Việt Nam. Mặc dù đề xuất này không đúng cho mọi trường hợp người nước ngoài sinh sống, làm việc hay du lịch ở Việt Nam nhưng trong trường hợp vì những lý do bất khả kháng đáp ứng nhu cầu “cấp cứu” để giúp họ vượt qua những khó khăn trước mắt ban đầu thì Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ. Các hình thức trợ giúp có thể bằng lương thực, quần áo, vật dụng, thuốc men… hay khoản tiền hỗ trợ chi phí trở về nước…Bằng quy định này, pháp luật Việt Nam không chỉ đảm bảo thực hiện quyền con người mà còn thể hiện tinh thần tương thân tương ái truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

Thứ hai, chỉnh sửa lại các điều kiện hưởng cứu trợ xã hội.Xác định được đối tượng hưởng cứu trợ xã hội đã là điều khó khăn nhưng xây dựng các tiêu chí cho từng đối tượng để đảm bảo sự công bằng lại càng khó hơn. Đặc biệt, khi nguồn kinh phí còn hạn hẹp, đối tượng cứu trợ xã hội cần hướng tới sự bao phủ lớn trong cộng đồng. Vì vậy, rà soát và chỉnh sửa các điều kiện hưởng cứu trợ xã hội của các đối tượng là rất quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội trong giai đoạn hiện nay.Đối với nhóm trẻ em mồ côi và các đối tượng tương tư theo quy định tại khoản 1 Điều 4 nghị định 67/2007/NĐ-CP để đảm bảo sự thống nhất giữa việc xác định đối tượng trẻ em được hưởng cứu trợ xã hội với việc xác định độ tuổi của người lao động. Thiết nghĩ, nên hạ độ tuổi của nhóm đối tượng này xuống dưới 15 tuổi để đảm bảo phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời hạn chế đối tượng hưởng cứu trợ xã hội này sẽ giúp Nhà nước có khoản phúc lợi để tạo cuộc sống cho các đối tượng khó khăn khác.Đối với quy định của nhóm người của nhóm người cao tuổi cô đơn, yếu tố sức khỏe nên được xác định là tiêu chí cần thiết khi xét điều kiện hưởng cứu trợ xã hội. Nếu chỉ căn cứ vào độ tuổi (từ 60); hộ gia đình nghèo thì chúng ta chưa thể biết được nguồn gốc khó khăn do đâu. Mặt khác, do sự già hóa dân số hiện nay thì tình trạng người cao tuổi sẽ không phải là ít. Vì vậy, xem xét yếu tố sức khỏe “không thể tự lao động kiếm sống” là phù hợp với thực tiễn.Cũng cần bổ sung điều kiện hưởng cứu trợ xã hội của nhóm người trên 85 tuổi không có lương hưu hoặc bảo hiểm xã hội. Trong trường hợp họ không có các nguồn trợ cấp từ con cháu hoặc nguồn thu nhập phát sinh bên ngoài như tiền từ kinh doanh, thuê cửa hàng, tiền tiết kiệm…thì quy định này rất phù hợp và tạo điều kiện cho người già sống ổn định khoảng thời gian cuối cùng của đời người. Nhưng trong điều kiện hiện nay nhiều người già không có lương hưu, không có bảo hiểm xã hội nhưng cuộc sống lại rất khá giả. Do vậy, trong quy định pháp luật bổ sung điều kiện kinh tế của họ khi bản thân và gia đình không có điều kiện đảm bảo cuộc sống thường nhật hàng ngày. Tuy nhiên, trên thực tế việc xác định thu nhập của người già phát sinh từ nguồn trợ cấp của con cháu, tiền tiết kiệm…là rất khó khăn. Đòi hỏi trách nhiệm cao từ những người làm nghề xã hội tại địa phương và nhận thức của đối tượng được hưởng.

Ngoài ra, trong chế độ cứu trợ xã hội đột xuất với các khoản cứu trợ xã hội mang tính cấp thiết như tiền bạc, lương thực, đồ dùng cho người bị thiên tai, hỏa hoạn là cần thiết đáp ứng nhu cầu thiếu thốn trước mắt. Tuy nhiên với các quy định còn mang tính đại khái cho hộ gia đình khi có người bị thương, bị chết, nhà bị hỏng nặng….cần phải có các quy định cụ thể hơn.

Thứ ba, hiện nay khi nói đến cứu trợ xã hội chúng ta mới đề cập đến các đối tượng khó khăn về kinh tế cần sự trợ giúp đỡ của nhà nước và cộng đồng mà chưa quan tâm đến những đối tượng thiếu thốn tình cảm, sự chia sẻ từ người thân và xã hội. Thiết nghĩ, khi xã hội càng phát triển điều kiện kinh tế sẽ bớt khó khăn, ngoài việc hỗ trợ về kinh tế chúng ta cần trú trọng đến đời sống tinh thần của người dân, có như vậy quốc gia mới ổn định và phát triển bền vững. Hiện nay, nhiều người già có điều kiện kinh tế nhưng con cái bận rộn không chăm sóc được, hay những người thành niên họ rất cần sự động viên chia sẻ của cộng đồng khi họ vấp ngã. Chi phí cho hoạt động của trung tâm, nhà dưỡng lão do các gia đình, cá nhân đóng góp.Trong tương lai, xây dựng những mô hình như nhà dưỡng lão cao cấp cho các đối tượng người già có điều kiện kinh tế, thành lập các trung tâm tư vấn giúp đỡ những người lầm lỡ… Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

3.2.2. Về chế độ áp dụng đối với các đối tượng hưởng cứu trợ xã hội 

Nâng mức hưởng trợ cấp cho các đối tượng cứu trợ xã hội thường xuyên là điều cần thiết trong thời điểm hiện tại. Mặc dù nghị định số 13/2010/N Đ-CP vừa mới được ban hành và thay đổi mức trợ cấp mới (180.000 đồng/tháng/hệ số 1) chưa đủ đáp ứng nhu cầu tối thiểu hàng ngày của các đối tượng cứu trợ xã hội. Nên chăng mức trợ cấp ít nhất bằng chuẩn nghèo áp dụng cho từng thời kỳ, chẳng hạn chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 là 260.000 đồng/người/tháng (khu vực thành thị); 200.000 đồng/người/tháng (khu vực nông thôn); giai đoạn 20112015 mức áp dụng là 450.000/người/tháng (khu vực thành thị); 350.000 đồng/người/tháng(khu vực nông thôn). Sở dĩ có thể sử dụng chuẩn nghèo để xác định mức trợ cấp vì chuẩn nghèo được xác định trên cơ sở mức chi tiêu tối thiểu. Đối với đối tượng không có thu nhập thì trợ cấp xã hội là thu nhập chính của họ. Vì vậy,mức trợ cấp phải đảm bảo cho đối tượng hưởng đảm bảo cuộc sống hàng ngày.

3.2.3. Nguồn kinh phí thực hiện cứu trợ xã hội

Thứ nhất, bên cạnh việc duy trì kinh phí thực hiện cứu trợ từ hai nguồn như hiện nay đó là ngân sách nhà nước và cộng đồng xã hội, chúng ta cần điều tiết kinh phí từ ngân sách nhà nước cho công tác cứu trợ xã hội một cách hợp lý hơn. Ngân sách dành cho an sinh xã hội nói chung và cứu trợ xã hội nói riêng quá thấp, trong khi đầu tư cho phát triển kinh tế lại quá cao chiếm 40% GDP, trong khi các nước trên thế giới thì dành khoảng 25% cho lĩnh vực này. Theo luật Ngân sách Nhà nước quy định, kinh phí cho hoạt động cứu trợ xã hội được cấp trên cơ sở dự toán ngân sách nhà nước giao và khoản dự phòng từ 2-5% trong tổng số chi phục vụ cho phòng chống lụt bão, hỏa hoạn, nhiệm vụ quan trọng về an ninh…Vì vậy, trong thời gian tới thiết nghĩ chúng ta nên có cái nhìn toàn diện phát triển kinh tế đi đôi với ổn định xã hội.Tập trung kinh tế nên dừng lại ở mức đầu tư 25%-30% như các nước khác đang làm và hướng sang ổn định xã hội, trong đó có công tác cứu trợ xã hội.

Thứ hai, nên thành lập quỹ cứu trợ xã hội thống nhất để có thể tập trung, khuyến khích các nguồn đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân và quản lý chi tiêu đúng mực đích đạt hiệu quả cao nhất. Nhiệm vụ chính của quỹ cứu trợ xã hội là quản lý nguồn tài chính do ngân sách nhà nước cấp; tập hợp các nguồn thu ủng hộ, hỗ trợ của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước; đồng thời thực hiện công tác minh bạch, công khai trong công tác chi liên quan đến cứu trợ xã hội. Quỹ cứu trợ xã hội nên giao cho Bộ lao động-thương binh và xã hội quản lý tránh trường hợp đơn vị thực hiện là Bộ lao động-thương binh và xã hội nhưng Bộ tài chính quản lý tài chính như hiện nay.

Xây dựng được Quỹ cứu trợ xã hội với nguyên tắc hoạt động như trên sẽ giúp chúng ta hạn chế được rất nhiều bất cập trong công tác thực hiện cứu trợ xã hội.

3.2.4.Trong công tác tổ chức thực hiện. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

Thứ nhất, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền,vận động toàn dân tham gia công tác cứu trợ xã hội, trong đó nghiên cứu và đưa vào áp dụng rộng rãi hơn mô hình  “chăm sóc thay thế”. Mô hình “Chăm sóc thay thế” được hiểu là hộ gia đình, cá nhân có điều kiện tự nguyện nhận chăm sóc các đôi tượng cứu trợ xã hội. Ở nước ta mô hình này cũng bắt đầu xuất hiện quy định chế độ với cá nhân, gia đình nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi dưới 18 tháng tuổi và trên 18 tháng tuổi bị tàn tật hoặc nhiễm HIV (Thông tư số 09/2007/TT-BLĐTBXH ngày 13/07/2007).

Khi xây dựng mô hình chăm sóc thay thế,chúng ta cần lưu ý: (i) điều kiện tiêu chuẩn của cá nhân,hộ gia đình nhận nuôi đối tượng cứu trợ xã hội để tránh trường hợp trục lợi,lợi dụng không vì mục đích nhân đạo; (ii) đối tượng cứu trợ xã hội của mô hình này ngoài đối tượng là trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi thì cần mở rộng thêm đối tượng là người già không nơi nương tựa.

Thứ hai,cần nhân rộng hơn nữa mô hình”nhà xã hội” và khuyến khích phát triển các cơ sở bảo trợ xã hội của tư nhân để khắc phục hiện tượng quá tải của các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước. Về quy mô, mô hình “nhà xã hội”gần giống với các cơ sở bảo trợ xã hội hiện nay nhưng nhỏ hơn,được thành lập tại các địa phương và do địa phương quản lý;kinh phí thành lập do ngân sách địa phương phối hợp với các tổ chức đoàn thể như hội phụ nữ…sự ủng hộ của tổ chức,cá nhân…Đối tượng được đưa vào sinh sống tại “nhà xã hội”phải là những đối tượng đủ điều kiện hưởng trợ cấp cứu trợ xã hội.

Thứ ba, phát triển mạng lưới nhân viên xã hội.Hiện nay,số lượng nhân viên làm công tác này còn rất thiếu hoặc đã có nhưng yếu về chuyên môn. Vì vậy, việc bổ sung đội ngũ nhân sự làm nghề xã hội đã được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm trong giai đoạn hiện nay. Bằng việc ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTG phê duyệt đề án phát triển nghề công tác xã hội chúng ta cần phấn đấu trong giai đoạn 2010-2015 đội ngũ làm công tác xã hội tăng khoảng 10% giai đoạn 2010-2015 tăng 50% mới đáp ứng được nhu cầu hiện nay của các đối tượng cứu trợ xã hội. Nhân viên xã hội chủ yếu làm các công việc liên quan đến tham vấn, hỗ trợ các đối tượng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ cứu trợ xã hội, ngoài ra cũng có thể quy định cho họ một số công việc khác nhằm thực hiện tốt pháp luật cứu trợ xã hội như kiểm tra,giám sát việc nuôi dưỡng,chăm sóc các đối tượng tại gia đình…Bên cạnh đó, Nhà nước có chính sách thu nhập hợp lý cho những cán bộ làm công tác này.

3.3.5.Ban hành Luật cứu trợ xã hội

Đây là vấn đề mang tính cấp thiết bởi tính đặc thù của hoạt động cứu trợ xã hội rất đa dạng về đối tượng,mức độ trợ cấp,đặc biệt khi chúng ta mở rộng đối tượng cứu trợ xã hội…Mặt khác,trong lĩnh vực cứu trợ xã hội hiện nay có quá nhiều các văn bản điều chỉnh dẫn đến sự chồng chéo,thiếu đồng bộ.Vì vậy,cần thiết phải có bộ Luật cứu trợ xã hội.

Việc xây dựng Luật cứu trợ xã hội có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống kinh tế,chính trị,xã hội nhất là trong giai đoạn hội nhập hiện nay.xây dựng Luật cứu trợ xã hội không chỉ là sự thể chế quan điểm của Đảng và Nhà nước về cứu trợ xã hội một cách thống nhất và toàn diện mà còn mở ra bước phát triển mới cho CTXH , để cứu trợ xã hội ngày càng đạt hiệu quả cao hơn,đáp ứng tốt hơn nhu cầu của đời sống xã hội.

KẾT LUẬN Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước, cộng đồng đối với những đối tượng yếu thế trong xã hội nhằm giúp họ vượt qua những khó khăn và hòa nhập cộng đồng.Cùng với việc nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản của cứu trợ xã hội như:sự ra đời, khái niệm, vai trò, mục tiêu, các vấn đề liên quan…chúng ta có thể nhìn nhận được một cách tổng thể về pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

Việt Nam là một đất nước đang trên đà phát triển,kinh tế – xã hội luôn có sự thay đổi theo từng giai đoạn; khí hậu khắc nghiệt thường hay xảy ra thiên tai như hạn hán, lũ lụt…Kéo theo đó là sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội và những hoàn cảnh đáng thương trong cuộc sống cần sự trợ giúp và bao bọc của cộng đồng. Chính vì vậy, công tác cứu trợ xã hội ở nước ta luôn được đẩy mạnh và đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng kể.Bên cạnh những thành công đạt được,pháp luật cứu trợ xã hội nước ta còn bộc lộ những hạn chế nhất định và cần được hoàn thiện để được phù hợp với tình hình thực tế.

Hoàn thiện và xây dựng pháp luật cứu trợ xã hội có ý nghĩa không chỉ về mặt lý luận mà có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống.Đó còn là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, đảm bảo tính công bằng, ổn định phát triển của mỗi quốc gia, thể hiện truyền thống dân tộc của nước ta”lá lành đùm lá rách”. Với những đề xuất trên, hy vọng trong thời gian tới sẽ góp phần thiết lập pháp luật cứu trợ xã hội hoàn chỉnh,đồng bộ. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về cứu trợ xã hội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537