Khóa luận: Thực trạng trách nhiệm của người quản lý điều hành

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Thực trạng trách nhiệm của người quản lý điều hành mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Trách nhiệm của người quản lý, điều hành trong công ty cổ phần theo Luật Doanh Nghiệp 2014 và Thực tiễn thi hành các quy định cho các bạn.

2.1. Người quản lý, điều hành công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014.

Khái niệm người quản lý được quy định tại Khoản 18, Điều 3, Luật Doanh nghiệp 2014:

“Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ tịch doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, chủ tịch hội đồng thành viên, thành viên hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, chủ tịch hội đồng quản trị, thành viên hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty.”

Như vậy, theo luật Doanh nghiệp 2014 người quản lý trong công ty cổ phần bao gồm: thành viên hội đồng quản trị, chủ tịch hồi đồng quản trị, giám đốc/ tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty.

Có thể thấy, nhìn vào điều khoản quy định trên, ta có thể đưa ra ba nhận định cơ bản:

Thứ nhất, luật Doanh nghiệp 2014 đã sử dung cụm từ “người quản lý” không chỉ để chỉ những người quản lý mà còn chỉ người điều hành các công việc hàng ngày của công ty: giám đốc/ tổng giám đốc.

Thứ hai, một số chức danh quản lý luôn có trong các công ty cổ phần: thành viên hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc/ tổng giám đốc; ngoài những cá nhân quản lý trên, thì tùy quy mô của công ty cổ phần, công ty sẽ quy định các cá nhân quản lý khác trong điều lệ

Thứ ba, pháp luật hiện hành của nước ta vẫn xác định người quản lý của công ty thông qua các chức danh quản lý mà không dựa vào có hay không hành vi quản lý điều hành diễn ra trên thực tế.

Tóm lại, qua những nhận định trên có thể thấy, pháp luật hiện hành tuy đã quan tâm đến vấn đề cần phải xác định rõ người quản lý trong công ty nhưng vẫn chưa chú trọng đến việc xác định người quản lý là người trực tiếp thực hiện công việc quản lý điều hành trên thực tế. Khóa luận: Thực trạng trách nhiệm của người quản lý điều hành.

Thành viên hội đồng quản trị

Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đồng. Thành viên hội đồng quản trị do đại hội đồng cổ đông bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm.  Số lượng thành viên hội đồng quản trị từ 3 đến 11 thành viên, tùy vào quy mô công ty. Các thành viên trong hội đồng quản trị bầu ra một người làm chủ tịch hội đồng quản trị. Chủ tịch hội đồng quản trị có thể kiểm giám đốc/ tổng giám đốc công ty trừ trường hợp điều lệ và pháp luật quy định khác. [1]

Giám đốc/Tổng giám đốc

Giám đốc/ Tổng giám đốc do hội đồng quản trị bầu từ một trong các thành viên hội đồng quản trị hoặc thuê từ bên ngoài. Giám đốc/ Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hang ngày của công ty. [1]

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.2. Trách nhiệm của người quản lý, điều hành trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014

Việc quy định trách nhiệm của người quản lý không có sự thay đổi từ luật doanh nghiệp 2005 đến nay, luật doanh nghiệp 2014 chỉ thay cụm từ “nghĩa vụ” thành cụm từ “trách nhiệm” còn nội dung quy định hoàn toàn không thay đổi:

Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc tổng giám đốc và người quản lý khác có trách nhiệm sau đây:

  1. Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao theo đúng quy định của Luật này, pháp luật có liên quan, điều lệ công ty, nghị quyết của đại hội đồng cổ đông;
  2. Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thưc, cẩn trọng, tốt nhất nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp đối đa của công ty;
  3. Trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
  4. Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty về doanh nghiệp mà họ và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có phần vốn góp, cổ phần chi phối; thông báo này được nhiêm yết tại trụ sở chính và chi nhánh của công ty.
  5. Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và điều lệ công ty.” [1]

 Như vậy, trách nhiệm của mỗi người quản lý, điều hành trong công ty gồm:

  • Trách nhiệm thực hiện đúng quy định của điều lệ, nghị quyết đại hội đồng cổ đông, luật doanh nghiệp và luật có liên quan.
  • Trách nhiệm thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng nhằm tối đa hóa lợi ích của công ty.
  • Trách nhiệm trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông, không lợi dụng thông tin, bí mật, vị trí để trục lợi.
  • Trách nhiệm công khai, thông báo về doanh nghiệp mà người quản lý và người có liên quan có họ làm chủ hoặc có phần vốn chi phối. Khóa luận: Thực trạng trách nhiệm của người quản lý điều hành.

2.2.1. Trách nhiệm thực hiện đúng điều lệ, nghị quyết của đại hội đồng cổ đông, luật doanh nghiệp và luật có liên quan.

Như đã phân tích tại chương lý luận, về cơ bản, người quản lý, điều hành trong công ty cổ phần được xem là người đại diện cho các chủ sở hữu, các cổ đông trong công ty để trực tiếp thực hiện các công việc quản lý, điều hành hàng ngày của công ty.

Người quản lý, điều hành được trao quyền quản lý, điều hành thông qua một bản điều lệ của công ty. Bản điều lệ này được xem là luật nội bộ của công ty. Tại đó, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các thành viên hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc/ tổng giám đốc. Chính vì vậy, người quản lý, điều hành phải tuân thủ các nghĩa vụ quy định trong đó về các việc được phép và không được phép thực hiện.

Người quản lý, điều hành phải tuân thủ các nghị quyết của đại hội đồng cổ đông. Đây là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty, cơ quan chủ sở hữu. Khi tiến hành họp đại hội đồng cổ đông, các cổ đông thống nhất thông qua các phương hướng phát triển của công ty, thông qua quyết định quan trọng của công ty… Người quản lý, điều hành phải căn cứ vào các nghị quyết này để điều hành hoạt động hàng ngày của công ty.

Việc người quản lý, điều hành có trách nhiệm thực hiện đúng điều lệ, nghị quyết cũng chính là tuân thủ luật doanh nghiệp và các luật liên quan. Bởi lẽ, các văn bản nội bộ quy định về trách nhiệm người quản lý điều hành thường được quy định chi tiết hơn quy định của văn bản pháp luật và tuân thủ các quy định của pháp luật.

Tóm lại, một người quản lý điều hành luôn có trách nhiệm thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ trong điều lệ, nghị quyết đại hội đồng cổ đông, các pháp luật về trách nhiệm người quản lý điều hành.

2.2.2. Trách nhiệm cẩn trọng

Nghĩa vụ cẩn trọng lần đầu tiên được xuất hiện trong luật doanh nghiệp 1999.

Tại thời điểm đó, các nhà làm luật đã vay mượn quy định này của hệ thống pháp luật Anh – Mỹ. Cho đến Luật Doanh nghiệp 2014, trách nhiệm cẩn trọng của người quản lý vẫn tiếp tục được quy định.  Điểm b, khoản 1, Điều 160, Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về trách nhiệm cẩn trọng của người quản lý, điều hành: “Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhăm bảo đảm lợi ích tối đa của công ty”

Trách nhiệm cẩn trọng là một trách nhiệm định tính và đến nay, sau hơn nhiều năm thi hành luật doanh nghiệp 2014, các nhà lập pháp vẫn chưa có một văn bản hướng dẫn chi tiết về trách nhiệm này.

2.2.3. Trách nhiệm trung thành Khóa luận: Thực trạng trách nhiệm của người quản lý điều hành.

Trách nhiệm trung thành cũng được các nhà lập pháp Việt Nam vay mượn cùng với trách nhiệm cẩn trọng. Điểm c, khoản 1, Điều 16, Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về trách nhiệm trung thành của người quản lý, điều hành: “Trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.”

Đến nay, cũng như trách nhiệm cẩn trọng vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào giải thích cụ thể trách nhiệm trung thành của người quản lý điều hành trong công ty là gì, hay các yếu tố để xác định hành vi của người quản lý, điều hành đó có vi phạm trách nhiệm trung thành hay không.

Tuy nhiên, chúng ta có những điều luật rải rác trong các văn bản pháp luật liên quan đến trách nhiệm trung thành của người quản lý, điều hành như:

Quy định về việc người quản lý, điều hành không được cạnh tranh với công ty tại Khoản 5, Điều 159, Luật Doanh nghiệp 2014:

“Thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác để thực hiện công việc dưới mọi hình thức trong phạm vi công việc kinh doanh của công ty đều phải giải trình bản chất, nội dung của công việc đó trước hội đồng quản trị, ban kiểm soát và chỉ được thực hiện khi được đa số thành viên còn lại của hội đồng quản trị chấp thuận, nếu thực hiện mà không khai báo hoặc không được sự chấp thuận của hội đồng quản trị thì tất cả thu nhập có được từ hoạt động đó thuộc về công ty.”

Điều này chỉ ra rằng, luật doanh nghiệp 2014 đã chú ý đến một vấn đề trong trách nhiệm trung thành của người quản lý là không cạnh tranh với công ty: người quản lý sẽ không được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp một công việc trong phạm vi công việc kinh doanh của công ty nếu không được đa số thành viên không liên quan còn lại chấp thuận.

Các quy định về giao dịch tư lợi được luật doanh nghiệp được thể hiện dưới các điều luật về:

Công khai lợi ích liên quan:

  1. Công ty phải tập hợp và cập nhật danh sách những người có liên quan của công ty theo quy định tại khoản 17 Điều 4 của Luật này và các giao dịch tương ứng của họ với công ty;
  2. Thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty phải kê khai các lợi ích liên quan của họ với công ty…” [1] Khóa luận: Thực trạng trách nhiệm của người quản lý điều hành.

Đối với công ty đại chúng, việc công khai thông tin còn được quy định chặt chẽ hơn: thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát, giám đốc (tổng giám đốc) điều hành có trách nhiệm báo cáo và công bố thông tin về giao dịch trong trường hợp sau:

  • Các giao dịch giữa công ty với công ty mà các thành viên nêu trên là thành viên sáng lập hoặc là thành viên hội đồng quản trị, giám đốc/ tổng giám đốc điều hành trong thời gian ba năm trước
  • Các giao dịch giữa công ty với công ty trong dó người liên quan của các thành viên nêu trên là thành viên hội đồng quản trị, giám đốc/ tổng giám đốc điều hành hoặc cổ đông lớn.
  • Các giao dịch có thể mang lại lợi ích vật chất hoặc phi vật chất đối với các thành viên nêu trên.

Hay “Hợp đồng phải được sự chấp thuận của hội đồng quản trị, đại hội đồng cổ đông”:

“Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với các đối tượng sau đây phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận:

  1. Cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ;
  2. Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người có liên quan của họ;
  3. Doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 159 Luật này.” [1]

Luật doanh nghiệp 2014, không có định nghĩa về giao dịch tư lợi nhưng đã có sự quy định gián tiếp về giao dịch tư lợi. Cách quy định về công khai lợi ích liên quan, hợp đồng phải có sự chấp thuận của hội đồng quản trị, đại hội đồng cổ đông là việc thể hiện sự kiểm soát các giao dịch tư lợi.

Hay trách nhiệm của người quản lý trong việc thông báo các thông tin về giao dịch với người liên quan, quyền không được biểu quyết các vấn đề trong giao dịch liên quan được quy định chi tiết tại thông tư 121/2012/TT – BTC quy định về quản trị công ty đại chúng:

  • Người quản lý, điều hành có nghĩa vụ thông báo cho hội đồng quản trị các giao dịch giữa công ty, công ty con, công ty do công ty đại chúng nắm quyền kiểm soát với chính thành vien đó hoặc người có liên quan tới thành viên đó.
  • Người quản lý, điều hành không được biểu quyết đối với các giao dịch mà thành viên đó hoặc người có liên quan đến thành viên đó tham gia, bao gồm cả giao dịch vật chất hay phi chất.

Về các quy định về “không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của công ty để tư lơị hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác” chưa được hướng dẫn trong một văn bản chung áp dụng cho mọi công ty, nhưng nó được quy định chi tiết hơn tại Thông tư 121/2012/TT – BTC quy định về quản trị công ty của các công ty đại chúng: Khóa luận: Thực trạng trách nhiệm của người quản lý điều hành.

Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành, cán bộ quản lý khác và những người liên quan tới các thành viên này không được phép sử dụng những cơ hội kinh doanh có thể mang lại lợi ích cho công ty vì mục đích cá nhân; không được sử dụng những thông tin có được nhờ chức vụ của mình để tư lợi cá nhân hay để phục vụ lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác.

  1. Công ty không được cấp các khoản vay hoặc bảo lãnh cho các thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành, cán bộ quản lý khác và những người có liên quan tới thành viên nêu trên, trừ khi Đại hội đồng cổ đông có quyết định khác.
  2. Các thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành, cán bộ quản lý khác và những người có liên quan tới các thành viên nêu trên không được sử dụng các thông tin chưa được phép công bố của công ty hoặc tiết lộ cho người khác để thực hiện các giao dịch có liên quan.”

Các quy định tại thông tư 121 trên đã quy định chi tiết hơn so với quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, tuy vậy, vẫn chưa làm rõ được các vấn đề cơ bản như: “cơ hội kinh doanh mang lại lợi ích cho công ty” mà người quản lý, điều hành không được sử dụng vì mục đích cá nhân là gì, có trường hợp nào người quản lý, điều hành được phép sử dụng cơ hội này không,.. Tưởng chừng được quy định “rõ ràng” để áp dụng cho công ty đại chúng, nhưng điều luật vẫn dường như khó có thể đi vào thực tế.

Tóm lại, pháp luật hiện hành nói chung và luật doanh nghiệp 2014 nói riêng đã có những quy định về trách nhiệm trung thành của người quản lý. Tuy nhiên, việc quy định còn thiếu thống nhất, các quy định còn rải rác, một số quy định được làm rõ trong Thông tư 121/2012/ TT – BTC sẽ chỉ áp dụng cho người quản lý của công ty đại chúng. Việc quy định thiếu chi tiết, thiếu thống nhất, khiến cho việc thực thi các quy định trên thực tế rất khó khăn.

2.2.4. Trách nhiệm thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác về doanh nghiệp mà họ và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có phần vốn góp, cổ phần chi phối.

Trách nhiệm thông báo này có thể xem là một trách nhiệm phái sinh của trách nhiệm trung thành của người quản lý, điều hành.

Trong luật doanh nghiệp 2014, có nói tới trách nhiệm công khai các lợi ích liên quan, điều hành tại Điều 159. Quy định này, buộc các người quản lý, điều hành công ty phải kê khai về doanh nghiệp mà học và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có vốn góp. Điều này, sẽ giúp ích khi xem xét trách nhiệm của người quản lý, điều hành có hay không sự vi phạm trách nhiệm vì khi đó chúng ta sẽ xem giữa công ty và người quản lý, điều hành; có hay không sự xung đột các về lợi ích;

Tại thông tư 121/2012/TT – BTC về quản trị công ty đại chúng thì có quy định rõ hơn về trách nhiệm thông báo kịp thời này: “Thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát, giám đốc/ tổng giám đốc điều hành và các cán bộ quản lý khác có nghĩa vụ thông báo cho hội đồng quản trị các  giao dịch giữa công ty, công ty con, công ty do công ty đại chúng năm quyền kiểm soát với chính thành viên đó hoặc với những người có liên quan đến thành viên đó theo quy định của pháp luật. Việc công bộ thực hiện trong thời gạn 24 giờ trên trang thông tin điện tử của công ty và báo cáo ủy ban chứng khoán nhà nước.”[2]

Việc thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác về doanh nghiệp mà người quản lý, điều hành và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có phần vốn góp, vốn cổ phần chi phối cũng là để tạo điều kiện cho các cơ quan giám sát trong công ty: đại hội đồng cổ đông, ban kiểm soát,… theo dõi.

2.3. Trách nhiệm pháp lý của người quản lý, điều hành trong công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2014 Khóa luận: Thực trạng trách nhiệm của người quản lý điều hành.

Trong luật doanh nghiệp 2014, trách nhiệm pháp lý của người quản lý, điều hành trong công ty cổ phẩn không được quy định tại điều riêng mà nó được quy định tại các điều về giám đốc, tổng giám đốc và hội đồng quản trị:

  • Giám đốc/ tổng giám đốc điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty theo của pháp luật, điều lệ công ty hợp đồng lao động ký với công ty và nghị quyết của hội đồng quản trị. Trường hợp điều hành trái với quy định này mà gây thiệt hại thì giám đốc hoặc tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại cho công ty.
  • Trường hợp nghị quyết do hội đồng quản trị thông qua trái với quy định của pháp luật hoặc của điều lệ công ty gây thiệt hại cho công ty thì các thành viên tán thành thông qua nghị quyết đó phải cùng liên đới chịu trách nhiệm cá nhân về nghị quyết đó và phải đền bù thiệt hại cho công ty; thành viên phản đối thông qua được miễn trừ trách nhiệm.

Có thể nhận thấy, các quy định trên đã nói đến trách nhiệm pháp lý của người quản lý, điều hành, tuy không nêu cụ thể bốn loại trách nhiệm nhưng có thể hiểu được người quản lý, điều hành sẽ phải phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi tùy vào mức độ vi phạm pháp luật, điều lệ,…

2.4. Thực tiễn thi hành của các quy định về trách nhiệm của người quản lý, điều hành theo Luật doanh nghiệp 2014 và một số vấn đề pháp lý đặt ra.

Luật Doanh nghiệp 2014 có những quy định về trách nhiệm của người quản lý, điều hành trong công ty cổ phần. Tuy nhiên, việc thiếu những quy định hoặc quy định chưa cụ thể dẫn đến một số bất cập trong việc thi hành quy định trên. Tại chương này, tác giả sẽ xem xét các giả định, các vụ việc trên thực tiễn dưới quy định của pháp luật hiện hành để thấy rõ hơn những vấn đề pháp lý cần hoàn thiện.

Về xác định người quản lý, điều hành: chưa xác định người quản lý, điều hành thực tế

Theo quy định của pháp luật hiện hành, Luật Doanh nghiệp xác định người quản lý trên cơ sở xác định chức danh quản lý. Điều này, có hợp lý không khi có những người trên thực tế không nắm giữa chức danh quản lý những có những hành động như người quản lý, điều hành hay như có những người có chức danh quản lý lại là người quản lý, điều hành bù nhìn; bị điều khiển, chỉ đạo thực hiện bởi những người đứng sau.

Chúng ta cùng xem xét vụ việc về Ngân hàng ACB:

Ông Nguyễn Đức Kiên là cổ đông góp vốn lớn nhất vào năm thành lập ACB, và từ năm 1994-2008, Kiên là phó chủ tịch hội đồng quản trị. Năm 2008, sau khi nhận thâý pháp luật quy định vị trí Phó chủ tịch hội đồng quản trị không được vay vốn ngược từ chính tổ chức tín dụng, hạn chế kinh doanh riêng; Kiên đã chủ động rút khỏi hội đồng quản trị. Sau đó, Kiên lập ra cái gọi là “Hội đồng sáng lập”. Trước đó, Kiên đã kịp đề nghị hội đồng quản trị ra quyết định thành lập và phê chuẩn quy chế làm việc của hội đồng sáng lập do Kiên làm phó chủ tịch. Theo đó hội đồng sáng lập được phép tham dự các cuộc họp của thường trực hội đồng quản trị và ban lãnh đạo, được cho ý kiến về mọi hoạt đồng kinh doanh trong toàn ngân hàng, được báo cáo và cung cấp tài liệu liên quan đến hoạt động kinh doanh của ACB. Trên thực tế, các kết luận của hội đồng sáng lập sau đó đều trở thành Nghị quyết, chính các nghị quyết này đã đưa ACB đến chỗ bất chấp luật pháp trong hoạt động cấp tín dụng. [12]

Bình luận: Khóa luận: Thực trạng trách nhiệm của người quản lý điều hành.

Theo điều lệ, quy chế hoạt động và các quy định của pháp luật Việt nam không quy định những thành viên hội đồng sáng lập là người quản lý của ngân hàng ACB. Nhưng, có thể thấy theo quy chế hoạt động của hội đồng, những hành động của các thành viên không khác gì hành động quản lý, điều hành. Vậy khi, chúng ta không xem họ là người quản lý, điều hành, thì quy chế nào sẽ được áp dụng để kiểm soát những thành  viên trong hội đồng sáng lập này, họ không phải thực hiện các quy định về trách nhiệm cẩn trọng, trung thành của người quản lý. Như vậy, họ có thể dễ dàng vi phạm các trách nhiệm này mà không chịu sự kiểm soát.

Có thể thấy, nếu vụ việc của Nguyễn Đức Kiên, không bị xem xét trách nhiệm hình sự, có lẽ những thành viên hội đồng sáng lập như Nguyễn Đức Kiên và những người đứng sau chỉ đạo sẽ không bị đưa ra xử lý, bồi thường thiệt hại.

Suy rộng ra, nếu không quy định người quản lý còn có thể là những người đứng sau để chi đạo các người quản lý thực hiện hoạt động của công ty nói chung thì chúng ta đã tạo điều kiện cho một sự vi phạm pháp luật diễn ra hiển nhiên.

Như vậy, nếu xảy ra một vụ việc dân sự liên quan đến trách nhiệm của người quản lý, điều hành, chúng ta đã dễ dàng bỏ quên trách nhiệm của người quản lý, điều hành thực tế.

Tiếp theo, chúng ta cùng xem xét các giả định với các trường hợp như: một giám đốc A đã hết nhiệm kỳ theo quyết định bổ nhiệm, nhưng sau đó, công ty vẫn chưa bổ nhiệm được người thay thế để bàn giao công việc, thì giám đốc hết nhiệm kì vấn tiếp tục thực hiện các công việc bình thường thì có được coi là người quản lý không? Hay trường hợp giám đốc được bổ nhiệm sai quy định, vẫn thực hiện các công việc điều hành công ty thì được coi là người quản lý không?

Các giả định trên cũng chỉ ra những bất cập của việc xác định người quản lý theo chức danh hiện nay.

Có thể thấy, việc xác định người quản lý, điều hành dựa trên hành động thực tế là rất cần thiết khi hoàn thiện pháp luật hiện nay.

Về quy định trách nhiệm cẩn trọng: chưa làm rõ khái niệm cẩn trọng hay quy định các yếu tố để xác định một người quản lý, điều hành thực hiện đúng trách nhiệm cẩn trọng.

Luật Doanh nghiệp 2014 có nhắc đến nghĩa vụ cẩn trọng của người quản lý, điều hành. Buộc người quản lý, điều hành thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích tối đa của công ty. Tuy nhiên, pháp luật không xác định rõ thế nào được coi là hành động cẩn trọng trung thực. Chính vì vậy, các vụ việc hiện này xảy ra, hiếm được xử lý trên yêu cầu: “Người quản lý, điều hành vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng”.

Chúng ta cùng xem xét các vụ việc sau:

Tháng 9 năm 2009, cơ quan điều tra ra lệnh bắt ông Lương Hoài Nam, tổng giám đốc của Jestar Pacific Airline, một liên doanh hàng không giá rẻ giữa Vietnam Airlines và Quantas Airways. Ông Nam bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, khiến công ty bị lỗ nghiêm trọng. Phía Quantas đã khẳng định ông Nam là làm tròn trách nhiệm và việc thua lỗ là do lý do khách quan.  Sau hơn 10 tháng điều tra, thì cơ quan điều tra đã miễn truy cứu trách nhiệm hình sự với ông Nam và ra quyết định đình chỉ vụ án. [14] Khóa luận: Thực trạng trách nhiệm của người quản lý điều hành.

Bình luận:

Về vụ việc trên, chúng ta cùng xem xét dưới góc độ dân sự, chúng ta sẽ thấy, những quyết định của ông Nam liên quan đến trách nhiệm cẩn trọng. Vậy tòa án sẽ dùng cách nào để đánh giá các quyết định của ông Nam là cẩn trọng, các quyết định của ông là vì lợi ích của cổ đông và của công ty; việc thua lỗ là do yếu tố khách quan. Có thể thấy, với việc quy định của pháp luật hiện hành, điều luật về trách nhiệm cẩn trọng của người quản lý, điều hành, dường như là một điều luật “chết” khi mà các cổ đông không thể sử dụng để kiện người quản lý, điều hành và người quản lý, điều hành thì không thể chứng minh được mình đã thực hiện trách nhiệm cẩn trọng.

Chúng ta cùng xem xét vụ việc tiếp theo:

Năm 1994, Vietnam airlines bị một luật sư người Italya tên là Liberati kiện đòi bồi thường thiệt hại liên quan đến một hợp đồng địa lý bán vé ký giữa Vietnam airlines và Falcomar, một công ty Italya, tỏng giai đoạn 1991-1992. Theo đơn kiện, Falcomar đã thuê ông Leberati làm một số việc có liên quan đến Vietnam airlines những chưa thanh toán tiền công cho ông này.

Tháng 3 năm 2000, tòa sơ thẩm Roma ra phán quyết buộc Vietnam airlines phải bồi thường cho ông Liberati một khoản tiền tương đương với 4,3 triệu euro.

Điều đáng lưu ý là Vietnam airlines không tham gia phiên tòa tại Italia mà không có lý do rõ ràng nào. Người có trách nhiệm của Vietnam airlines cho rằng họ khó bị tác động bởi một bản án được tuyên ở nước ngoài. Đến tháng 5 năm 2002, Vietnam airlines nhận được thu của ông Liberati và bản sao bản án của tòa sơ thẩm Roma, yêu cầu thanh toán 4,3 triệu euro. Vietnam airlines vẫn không hề có bất kỳ phản ứng gì với yêu cầu này. Đến khi ủy ban đồi nợ và tịch biên pháp theo yêu cầu của ông Liberati đã phong tỏa số tiền bán vé máy bay của Vietnam airlines tại pháp để thi hành án, số tiền gốc và lãi lúc này là 5,2 triệu euro, thì lúc nãy Vietnam airlines phải nộp đủ số tiền vào tài khoản phong tỏa của chủ tịch đoàn luật sư Paris để thi hành án. [9]

Bình luận:

Chúng ta xem xét vụ việc của Vietnam airlines dưới góc độ pháp luật hiện hành. Những người quản lý, điều hành của Vietnam airlines đã nhiều lần không để ý đến các yêu cầu của tòa án, dẫn đến khi bị phong tỏa tài khoản và bị buộc phải thi hành phán quyết, việc bồi thường thiệt hại của công ty đã lớn hơn rất nhiều, do phải chịu cả tiền lãi. Và nếu ngày từ đầu, người quản lý, điều hành của Vietnam airlines quan tâm đến những yêu cầu tham gia vụ kiện của tòa án thì số tiền bồi thường đã có thể giảm xuống.

Vấn đề đặt ra là, liệu những người quản lý, điều hành Vietnam airlines có phải bồi thường thiệt hại cho cổ đông của mình vì hành động phớt lờ các phán quyết của tòa án, gây thêm thiệt hại cho công ty không. Đây có sự vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng mà một người quản lý, điều hành phải có hay không. Pháp luật hiện hành vẫn chưa giải quyết được vấn đề trên.

Về quy định trách nhiệm trung thành: chưa quy định rõ về trường hợp người quản lý không được tước đoạt cơ hội kinh doanh của công ty, không được cạnh tranh với công ty. Khóa luận: Thực trạng trách nhiệm của người quản lý điều hành.

Theo khoản 5, Điều 159, Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định về việc:

Thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc nhân danh cá nhân mình hoặc người khác để thực hiện công việc dưới mọi hình thức trong phạm vi công việc kinh doanh của công ty đều phải giải trình, và chỉ được thực hiện khi được đa số thành viên còn lại của hội đồng quản trị chấp thuận”.

Có thể đánh giá rằng, điều luật này nhằm nói đến hành vi không được cạnh tranh của người quản lý, điều hành với công ty.  Tuy nhiên, tác giả cho rằng điều luật này quy định chưa rõ ràng. Có hai vấn đề cần xem xét trong điều luật này:

Thứ nhất, “Phạm vi kinh doanh” của công ty mà người quản lý, điều hành không được thực hiện ở đây là gì? Hiện này, các công ty khi đăng ký thành lập thường đăng ký ngành nghề rộng hơn so với thực tế các ngành nghề kinh doanh của mình. Vì vậy, không phải mọi ngành nghề được đăng ký đều đã được công ty tiến hành hoạt động kinh doanh. Chúng ta cần xác định phạm vi kinh doanh này được giới hạn là các ngành nghề mà công ty đó đang thực hiện hay là phạm vi kinh doanh được xác định bao gồm tất cả những ngành nghề kinh doanh công ty đã đăng ký. Việc xác định hợp lý phạm vi kinh doanh sẽ đảm bảo quyền và lợi ích của người quản lý, điều hành.

Thứ hai, về vấn đề chấp thuận, người quản lý, điều hành muốn được chấp thuận để trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện hoạt động kinh doanh trong phạm vi hoạt đồng cần được sự đồng ý của đa số thành viên còn lại không liên quan. Nếu một công ty có năm thành viên trong hội đồng quản trị, có bốn người gián tiếp cùng muốn được hoạt động kinh doanh trong phạm vi hoạt động của công ty, thì một người là người được xác định có quyền biểu quyết cho bốn thành viên trên thực hiện. Liệu điều này đã hợp lý chưa. Hay như, nếu tất cả 5 thành viên trong hội đồng quản trị đều có liên quan thì ai là người quyết định cho năm thành viên này thực hiện hoạt động. [15] Pháp luật hiện nay cũng chưa quy định rõ vấn đề này.

Về việc sử dụng cơ hội kinh doanh của công ty, luật doanh nghiệp chưa làm rõ hành động “sử dụng/ tước đoạt cơ hội kinh doanh của công ty”. Khi nào được xác định đó là cơ hội kinh doanh của công ty. Có phải tất cả các cơ hội kinh doanh đều là của công ty và người quản lý, điều hành không được sử dụng cơ hội đó cho mình.

Trường hợp, một công ty đang đăng ký kinh doanh ở ngành hóa chất, bất động sản nhưng mới thực hiện hoạt động kinh doanh trong ngành bất động sản, hoặc trường hợp, một công ty đang đăng ký và thực hiện kinh doanh trong ngành bất động sản. Vậy, khi người quản lý điều hành phát hiện một cơ hội kinh doanh trong ngành hóa chất thì có được coi là sử dụng cơ hội kinh doanh của công ty không. Bởi công ty luôn có xu hướng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Những vấn đề mà luật doanh nghiệp còn bỏ ngỏ, chưa quy định hướng dẫn chi tiết, thật khó để toà án áp dụng điều luật trong thực tiễn.

Kết luận chương 2

Chương 2 chúng ta đã phân tích những quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 về trách nhiệm của người quản lý điều hành trong công ty cổ phần và việc thực tiễn áp dụng pháp luật. Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định về trách nhiệm của người quản lý, điều hành. Tuy nhiên, việc quy định đó mới mang tính chất định tính, chưa cụ thể và khó xác định trách nhiệm của người quản lý, điều hành, chính vì vậy một số điều luật không thể áp dụng trên thực tiễn. Để hội nhập phát triển sâu rộng, nhằm đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư, chủ sở hữu và các bên có liên quan thì vấn đề trách nhiệm của người quản lý cần được tiếp tục hoàn thiện. Khóa luận: Thực trạng trách nhiệm của người quản lý điều hành.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý điều hành

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537