Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Đức

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Đức mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Án lệ trong hệ thống pháp luật Đức cho các bạn.

2.1. Nhận thức chung về án lệ.

2.1.1. Án lệ trong lịch sử pháp luật Đức.

Hệ thống pháp luật Đức là một trong những điển hình tiêu biểu của dòng họ pháp luật Civil law, sự thể hiện về án lệ trong hệ thống pháp luật nước này cũng được coi là một hình dung khá rõ nét cho quan điểm về án lệ ở thực tiễn pháp luật Dân luật. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, dù cùng một dòng họ pháp luật, song vai trò của án lệ trong thực tiễn pháp luật các nước thuộc Civil law là không giống nhau. Bởi lẽ, sự phát triển của pháp luật nói chung, án lệ nói riêng gắn với tiến trình vận động của lịch sử, thực tiễn ở mỗi quốc gia. Do đó, tìm hiểu bối cảnh lịch sử pháp luật ở Đức sẽ đem đến một sự nhận diện rõ ràng nhất cho vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật quốc gia này.

Sự tiếp nhận Luật La Mã vào các nước Châu âu lục địa trong đó có Đức được các luật gia hưởng ứng. Dưới thời trị vì của Hoàng đế Severus đến Hoàng đế Justiana, án lệ từ giai đoạn được cho phép sử dụng rộng rãi để bù đắp những lỗ hổng của pháp luật đến khi bị lu mờ do các thẩm phán khi xét xử chỉ được dựa vào luật thành văn và cuối cùng là lại được khôi phục dưới chính sách của Hoàng đế Justiana, đã có một sự ảnh hưởng không nhỏ đến pháp luật các nước Châu Âu. Pháp luật Đức cũng không phải là ngoại lệ, luật La Mã đã được giải thích phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội ở nước Đức. Trong trường hợp không có sẵn văn bản pháp luật, hay tập quán các thẩm phán Đức đã đóng vai trò chủ động trong áp dụng linh hoạt các nguyên tắc của Luật La Mã trong các vụ việc mà họ xét xử. Do vậy, có thể nói trong khoảng thời gian từ thế kỷ XVII đến thế kỷ thứ XVIII, án lệ đóng một vai trò quan trọng trong pháp luật Đức. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Đức.

Tuy nhiên, cũng bắt đầu từ thế kỷ thứ XVIII, Đức xuất hiện những quan điểm của trường phải luật tự nhiên với tư tưởng thẩm phán khi xét xử chỉ nên dựa vào các quy định của luật thành văn. Cho đến giai đoạn từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, những quan điểm đối lập xung quanh vai trò của án lệ nổi lên ngày càng nhiều. Đặc biệt, sự xuất hiện của xu hướng pháp điển hóa đã tác động một ảnh hưởng không nhỏ tới pháp luật các nước Châu Âu lục địa với tư tưởng đề cao sự phân định quyền lực trong bộ máy nhà nước và pháp luật phải và chỉ được là sản phẩm do cơ quan lập pháp ban hành. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, không giống với Pháp – một quốc gia với hệ thống pháp luật được coi là điển hình của họ pháp luật Civil Law, pháp luật Đức trong quá tình tiếp nhận những sự thay đổi về quan điểm pháp luật chưa bao giờ chính thức phủ nhận hay giới hạn vai trò của án lệ, có chăng thì sự nhìn nhận này chỉ xuất hiện trong quan điểm của các học giả. Thực tế cho thấy, quá trình pháp điển hóa ở Đức diễn ra khá muộn, so với Pháp ban hành Bộ Luật Dân sự 1804 với sức ảnh hưởng không nhỏ đến pháp luật các nước Châu Âu thì lúc này pháp luật Đức vẫn chưa có một hệ thống thống nhất. Mãi đến năm 1900, Đức mới ban hành Bộ luật Dân sự, thế nhưng đến giữ thế kỷ XIX Tòa án Đức vẫn thực hiện việc công bố các bản án. Điều này cho thấy án lệ ngay cả trước và trong thời kỳ pháp điển hóa diễn ra mạnh mẽ ở Châu Âu, dù chưa bao giờ được coi là nguồn luật cơ bản nhưng nó vẫn giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật Đức và chưa bao giờ bị loại bỏ trong thực tiễn xét xử.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.1.2. Bản chất án lệ.

Trải qua sự vận động với một tiến trình lịch sử như vậy, vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật và trong thực tiễn xét xử của Tòa Án Đức đã được khẳng định. Tuy nhiên, bởi không có truyền thống sử dụng án lệ trên cơ sở là nguồn pháp luật cơ bản, do đó để định hình được ví trí của án lệ trong hệ thống pháp luật các nước Civil Law không phải điều dễ dàng. Điều làm cho các nhà luật học băn khoăn và tranh cãi không ít đó là: liệu án lệ của Đức có được thừa nhận là một nguồn pháp luật hay không. Thực chất nghi vấn này không được pháp luật Đức thể hiện một cách chính thống bằng luật thành văn, do vậy câu trả lời chỉ có thể được lý giải bằng thực tiễn áp dụng án lệ tại nước này.

Dễ nhận thấy, theo quy định của Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức thì chức năng làm luật thuộc về cơ quan lập pháp. Theo Điều 20 Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức quy định “hoạt động lập pháp phải tuân thủ Hiến pháp, quyền hành pháp và tư pháp phải tuân theo pháp luật và công lý”. Nhiều ý kiến cho rằng hai khái niệm “luật và công lý” còn quá mơ hồ, quá rộng và không nên hiểu cách đơn giản. Cũng bởi lý do này mà nhiều quan điểm tranh cãi nên giải thích quy định này của Hiến pháp theo hướng công nhận hay phủ nhận vai trò của án lệ. “Công lý” là một phạm vi khá rộng và nó không loại trừ trường hợp bao gồm cả án lệ. Trong quá trình giải quyết các vụ việc pháp lý, pháp luật đôi khi rất khó để có thể dự liệu được hết các tình huống, lúc này thẩm phán phải lấy tinh thần công lý, công bằng làm cơ sở chủ đạo để có thể cân bằng lợi các bên. Và rõ ràng ta phải thừa nhận rằng quy định trên của Hiến pháp không bác bỏ quyền sáng tạo ra pháp luật của thẩm phán.

Về hiệu lực của án lệ, Điều 31.(1) của Luật Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức quy định “Các quyết định của Tòa án Hiến pháp Liên bang có hiệu lực bắt buộc với các cơ quan của chính quyền liên bang và các tiểu bang cũng như tất cả những tòa án và các cơ quan nhà nước khác”. Quyết định của Tòa án Hiến pháp ở đây có thể là trường hợp giải thích, làm rõ các quy định của luật thành văn; cũng có thể là những quyết định nhằm giải quyết các vấn đề còn gây tranh cãi sẽ trở thành án lệ cho sự áp dụng pháp luật. Như vây, dù không được ghi nhận trong Hiến pháp tuy nhiên hiệu lực bắt buộc của các quyết định thuộc Tòa án Hiến pháp Liên bang đã khằng định một đường lối xét xử thống nhất cho các Tòa án cấp dưới. Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức thừa nhận thuật ngữ “luật” trong Hiến pháp nên được hiểu theo nghĩa chính thức và nghĩa thực tế. Chính thức là được ghi nhận bởi văn bản của Nhà nước, “thực tế” là thực tiễn áp dụng. Án lệ tuy không được ghi nhận một cách trực tiếp, rõ ràng trong văn bản pháp luật nhưng thực tiễn áp dụng cho thấy có thể chấp nhận việc án lệ được viện dẫn trong quyết định của Tòa án. Thêm vào đó, chính Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức đã cho phép các tòa án trong quá trình xét xử được sử dụng nhiều loại nguồn luật khác nhau, trong đó bao gồm cả án lệ, thay vì chỉ thừa nhận một loại nguồn luật là các văn bản quy phạm pháp luật. Có thể thấy, pháp luật Đức ngoại trừ án lệ của Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang, không thừa nhận nguyên tắc Stare Decisis (nguyên tắc tuân thủ án lệ) như các nước thuộc hệ thống Thông Luật, do vậy mà sẽ không tìm thấy một văn bản nào trực tiếp ghi nhận hiệu lực bắt buộc của án lệ. Song thực tiễn lại chứng minh án lệ bằng một cách gián tiếp vẫn được viễn dân trong xét xử thông qua các quy định pháp luật không phải Hiến Pháp. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Đức.

Về thẩm quyền của thẩm phán trong việc sáng tạo ra pháp luật: Theo Điều 97 Hiến pháp Đức quy định: “thẩm phán độc lập khi xét xử và chỉ tuân theo pháp luật”. Tuy nhiên việc tuân theo pháp luật không có nghĩa loại bỏ khả năng giải thich pháp luật của thẩm phán. Do thuộc hệ thống pháp luật thành văn, nguồn luật cơ bản là quy định của pháp luật vì vậy, quá trình làm luật của các thẩm phán chủ yếu là quá trình diễn giải các quy định của pháp luật trong xét xử. Một dẫn chứng là từ “vũ khí” (weapon) trong Bộ luật Hình sự Đức năm 1871, đã không thể dự liệu để cụ thể hóa bởi tất cả các loại vũ khí mà người phạm tội có thể sử dụng. Sau này, người ta đặt câu hỏi liệu hydrochloric acid có được coi là vũ khí để tấn công người khác hay không. Bộ luật Hình sự 1871 đương thời không trả lời được câu hỏi này. Đến năm 1971, tòa án tư pháp tối cao Đức đã giải thích về thuật ngữ này trong án lệ như sau: Theo Bộ luật hình sự được ban hành năm 1871, vũ khí chỉ bao gồm các công cụ máy móc được sử dụng làm công cụ tấn công. Sau thời điểm này khái niệm này đã thay đổi. Ngày nay, các chất hóa học được dùng làm phương tiện để tấn công cũng được coi là vũ khí. Vì vậy hydrochloric acid được xếp là một loại vũ khí”. Rõ ràng, sự diễn giải này của Tòa án tối cao là bằng chứng cho thẩm quyền tạo ra pháp  luật của thẩm phán. Những nghiên cứu gần đây ở Đức cho thấy án lệ chủ yếu được tạo ra trong quá trình giải thích văn bản quy phạm pháp luật bởi thẩm phán. Chính bản thân Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức cũng đã công nhận và ủng hộ tính hợp pháp trong việc giải thích pháp luật của các Tòa án cấp dưới.

Cũng giống như các hệ thống pháp luật khác thuộc Dân luật, quá trình diễn giải pháp luật trên thực tế pháp luật Đức rất quan trọng khi nó giúp bổ sung những khuyết điểm của pháp mà chỉ trong những vụ việc cụ thể mới có thể được khắc phục.

Thực chất, Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức không chỉ khẳng định tính hợp pháp của việc các thẩm phán giải thích pháp luật, trong nhiều trường hợp Tòa án này còn củng cố vai trò sáng tạo pháp luật của thẩm phán: “trong trường hợp không có đầy đủ quy định pháp luật, các tòa án có thể tìm thấy luật thực chất bằng cách thừa nhận phương pháp tìm ra luật từ những nền tảng pháp luật và các luật có liên quan. Chỉ bằng cách này những tòa án mới có thể hoàn thành nhiệm vụ của họ được Hiến pháp trao cho để giải quyết tất cả những vụ việc trong tay họ một cách phù hợp.” Bằng tuyên bố này, một mặt Tòa án Hiến pháp đã gián tiếp thừa nhận việc tạo ra pháp luật thông qua “phương pháp tìm ra luật” là một quyền năng của thẩm phán, một mặt khác lại khẳng định quy trình này không hề trái với Hiến pháp bởi lẽ đây chỉ là yêu cầu để thẩm phán có thể thực hiện nhiệm vụ mà Hiến pháp trao cho mà thôi.

Có thể thấy, về mặt chính thức án lệ không được ghi nhận như một nguồn luật và vẫn còn rất nhiều những tranh cãi xung quanh vấn đề bản chất án lệ Đức có phải là nguồn luật hay không. Tuy nhiên về mặt thực tiễn, không thể phủ nhận án lệ tồn tại, án lệ được xây dựng và án lệ được áp dụng.

2.1.3. Vai trò của án lệ trong các lĩnh vực pháp luật  Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Đức.

Điển hình của hệ thống pháp luật thành văn, do đó án lệ chủ yếu được tạo ra trong quá trình giải thích pháp luật, bởi lẽ này mà án lệ trong pháp luật Đức thể hiện vai trò khác nhau ở các lĩnh vực khác nhau.

Luật lao động của Đức là một minh chứng đáng lưu ý, khi mà đây là một lĩnh vực khá ngoại lệ trong hệ thống pháp luật có vai trò của luật thành văn được đặt lên hàng đầu. Sẽ thật bất ngờ khi biết rằng, học giả Nigel G. Foster đã từng nhận định quá tình áp dụng luật lao động ở Đức khá gần với Thông luật. Bởi lẽ cho dù có nhiều văn bản quy phạm là nguồn nhưng Luật Lao động Đức cũng sẽ không hoàn thiện khi không có án lệ của Tòa lao động, đặc biệt là Tòa lao động liên bang. Vì vậy, chỉ khi xem xét, đánh giá đến từng vụ việc cụ thể trong thực tiễn mới mang lại một cái nhìn chính xác nhất về quy tắc áp dụng Luật Lao động tại Đức. Thực chất, không có một văn bản chính thức nào ghi nhận hiệu lực bắt buộc của việc tuân theo án lệ về lao động đối với các Tòa án lao động như là giá trị bắt buộc tuân thủ đối với các quyết định của Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức. Tuy nhiên, trên thực tế án lệ của Tòa án Lao động Liên bang vẫn được các Tòa án cấp dưới trong hệ thống tòa án lao động tuân theo. Nói như vậy không có nghĩa là thực tiễn pháp luật Lao động ở Đức không dựa trên nền tảng luật thành văn, các quan hệ pháp luật lao động vẫn được điều chỉnh dựa trên nền tảng là các quy tắc cơ bản của Bộ luật Dân sự Đức. Tuy nhiên, tại sao án lệ có một vai trò đặc biệt trong lĩnh vực luật lao động là bởi lẽ các quan hệ lao động tại Đức đã phát triển khá nhanh trong nửa cuối thể kỷ XX. Trong khi các nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự Đức ban hành năm 1900 đã không còn phù hợp với để có thể điều chỉnh tất cả các quan hệ thuộc lĩnh vực này nữa. Khi luật đương thời không đủ để đáp ứng thực tiễn xã hội thì đương nhiên cần có một loại nguồn khác để áp dụng, và án lệ chính là một công cụ hữu hiệu.

Trong lĩnh vực luật Dân sự, án lệ đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ các quy định của luật thành văn. Cũng giống như đặc thù án lệ trong hệ thống Dân luật, án lệ được hình thành từ quá trình giải thích pháp luật của thẩm phán. Do vậy, coi án lệ là một phương tiện để áp dụng, tiếp cận một cách tường tận Luật Dân sự cũng là một điều hợp lý. Nhiều học giả đã chỉ ra rất nhiều nguyên tắc trong Luật Dân sự Đức chỉ được làm rõ thông qua án lệ. Ví dụ, trong nguyên gốc luật Dân sự Đức không có các quy định chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Sau đó các nguyên tắc điều chỉnh về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đã được lý giải bởi án lệ của tòa án. Do đó, cho dù không có giá trị ràng buộc chính thức nhưng giá trị thực tế của án lệ lại vô cùng quan trọng khi nó được đánh giá như là một công cụ để hiểu thấu đáo Bộ luật Dân sự Đức.

Vai trò của án lệ có lẽ được thể hiện rõ ràng nhất ở lĩnh vực Luật Hiến pháp, đặc biệt hiệu lực của nó còn được đảm bảo bởi luật. Như đã trình bày ở trên, các quyết định của Tòa án Hiến pháp Liên bang được tuân thủ một cách bắt buộc đối với các tòa án cấp dưới và bất kỳ sự vi phạm hay không tuân thủ nào trong quá trình xét xử của thẩm phán thì bản án sẽ bị tuyên bố là không hợp pháp hoặc bị bãi bỏ. Theo hệ thống tòa án khá phức tạp ở Đức thì Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức là cấp tòa án cao nhất, ra đời với nhiệm vụ là cơ quan bảo hiến, đối với các tranh chấp được kiện đến tòa Tòa án Hiến pháp cũng không quan tâm đến giải quyết nội dung vụ việc mà chỉ xét đến tính hợp hiến hay vi hiến của văn bản pháp luật mà thôi. Hiến pháp Đức cũng giống như Hiến pháp Hoa Kỳ là luật cơ bản, chứa đựng rất nhiều những nguyên tắc với hàm ý rộng mà không được cụ thể hóa ngay trong chính các quy định của Hiến pháp. Do vậy, rất nhiều các nguyên tắc của Hiến pháp cần phải được giải thích bởi Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang, đó cũng chính là lý do vì sao mà quyết định của tòa án này lại trở thành những án lệ có giá trị bắt buộc. Vị trí án lệ của Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức được nhận định là có giá trị cao hơn các văn bản luật khác trong hệ thống pháp luật và chỉ xếp sau Hiến pháp.

2.2. Án lệ trong thực tiễn hoạt động của Tòa án. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Đức.

Hệ thống tòa án Đức có cấu trúc khá phức tạp và nhìn chung án lệ được xây dựng bởi quá trình giải thích pháp luật của thẩm phán. Do đó, ở bài viết này người viết giới hạn việc tìm hiểu án lệ trong thực tiễn hệ thống Tòa án Đức thông qua làm rõ vai trò của án lệ ở Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang và Tòa án Tối cao. Ở mỗi cấp Tòa án này, vị trí của án lệ sẽ thể hiện rõ sự khác biệt, đặc biệt là về vấn đề hiệu lực.

2.2.1. Thực tiễn về án lệ trong hoạt động của Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức

2.2.1.1. Tính bắt buộc của án lệ của Tòa án hiến pháp liên bang đối với tòa án cấp dưới, cơ quan nhà nước.

Luật Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức đã đảm bảo giá trị bắt buộc như luật đối với các quyết định của Tòa án Hiến pháp Liên bang. Hệ thống pháp luật Đức thuộc hệ thống pháp luật Dân luật, do đó không tồn tại nguyên tắc Stare Decisis, các quyết định của tòa án không có hiệu lực bắt buộc. Thực chất, quyết định của các Tòa án liên bang khác như Tòa Hành chính liên bang, Tòa Tư pháp tối cao Liên bang,… cũng có giá trị như là án lệ, tuy nhiên những án lệ này lại không có giá trị ràng buộc trong mối quan hệ với các tòa án cùng cấp hay cấp dưới. Tuy nhiên, Tòa án Hiến pháp liên bang là tòa án cao nhất trong hệ thống pháp luật Đức, cho nên duy chỉ có quyết định của Tòa Hiến pháp Liên bang là ngoại lệ, cho dù không được đảm bảo bởi nguyên tắc Stare Decisis, nhưng các quyết định của Tòa án này lại được đảm bảo bởi luật. Vì thế, về nguyên tắc, vẫn có sự khác biệt với các nước theo truyền thống Thông luật như Hoa Kỳ – một mô hình cũng tồn tại cả Tòa án Liên bang và Tiểu bang, song về thực tiễn việc tuân thủ tuyệt đối các quyết định của Tòa án Hiến pháp Liên bang trong việc giải thích pháp luật thực chất là đều được đảm bảo như nhau. Đến đây thì có thể khẳng định, án lệ của Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức được coi là một loại nguồn luật bên cạnh luật thành văn và các loại nguồn khác trong hệ thống pháp luật.

Do có giá trị bắt buộc đối với Tòa án và cả cơ quan nhà nước, nên trong quá trình xét xử, thẩm phán của các tòa án cấp dưới bắt buộc phải xem xét đến án lệ của Tòa Hiến pháp liên bang. Trường hợp bản án của tòa án có cơ sở về việc không tuân theo án lệ của tòa án hiến pháp liên bang thì bản án có thể bị tuyên bố là không hợp pháp và bị bãi bỏ khi bị kháng cáo. Tại Điều 100 Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức cũng đã quy định khi tòa án Hiến pháp của Tiểu bang giải thích Hiến pháp liên bang có ý định không tuân theo các quyết định của Tòa án Hiến Liên bang hoặc của Tòa án Hiến pháp của một bang khác, thì Tòa án Hiến pháp của tiểu bang phải đưa vụ việc ra Tòa án Hiến pháp liên bang. Tuy nhiên thực tế cũng cho thấy có trường hợp ngoại lệ duy nhất dành cho hiệu lực thi hành bắt buộc của các quyết định do Tòa án Hiến pháp Liên bang ban hành. Trong quá trình xét xử, Tòa Hiến pháp liên bang đã cho phép Nghị viện ban hành lại các luật mà trước đây đã bị Tòa án này bãi bỏ. Hội đồng xét xử thứ nhất của Tòa án liên bang đã chấp nhận việc từ bỏ án lệ của nó và cho phép cơ quan lập pháp ban hành lại luật đã bị tuyên bố là không hợp Hiến. Đây là trường hợp ngoại lệ duy nhất mà giá trị bắt buộc của các án lệ từ Tòa Hiến pháp Liên bang bị loại bỏ, tuy nhiên để ủng hộ cơ chế dân chủ trong quá trình xây dựng pháp luật, Hội đồng xét xử của Tòa Hiến pháp Liên bang cho rằng đây là điều hợp lý. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Đức.

2.2.1.2. Hiệu lực các quyết định của Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức dành cho chính nó.

Tuy rằng, các quyết định Tòa Hiến pháp Liên bang có hiệu lực bắt buộc với các tòa án khác trong hệ thống pháp luật Đức, nhưng lại không có một văn bản nào quy định Tòa án Hiến pháp Liên bang có phải tuân thủ án lệ của chính nó hay không. Trên thực tế, Tòa án này cũng chưa bao giờ tuyên bố rằng nó có phải tuân thủ các quyết định của chính nó, Luật Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang chỉ quy định rằng trong trường hợp cùng một bản án mà có những quyết định khác nhau đến từ Hội đồng xét xử khác nhau thì Hội đồng toàn thể các thẩm phán của Tòa án Hiến pháp Liên bang sẽ xét xử vụ án này. Về cơ bản, Tòa Hiến pháp Liên bang vẫn có xu hướng tuân thủ các án lệ của chính nó tuy nhiên trên thực tế không phải không tồn tại trường hợp các quyết định sau này của Tòa án không thực sự tuân theo xu hướng lập luận của các án lệ trước có liên quan. Các học giả vẫn thưởng lấy dẫn chứng từ vụ “Cầu nguyện trong trường học” năm 1979, Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức khẳng định việc cho phép thực hiện cầu nguyện trong trường học có nhiều học sinh thuộc nhiều giáo phái khác nhau là hợp pháp. Tuy nhiên, trong vụ “Cây thánh giá II” Tòa án Hiến pháp Liên bang đã quyết định luật của bang Bavarian là trái với hiến pháp khi luật này quy định đặt cây thánh giá hình chứ thập biểu tượng của Đạo thiên chùa trong phòng học các trường tiểu học là trái với Hiến pháp. Điều đáng nói ở đây đó là căn cứ pháp lý để tòa án hiến pháp liên bang đưa ra lập luận là các điều luật được làm căn cứ để đưa ra quyết định trong vụ “Cầu nguyện trong trường học”. Hai vụ việc trên đều là vấn đề về bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng tuy nhiên quyết định của Tòa án Hiến pháp liên bang cho thấy họ không bị ràng buộc phải tuyệt đối tuân thủ các án lệ của chính nó. Từ góc nhìn so sánh với pháp luật Hoa Kỳ có thể thấy, trong quá trình xét xử Tòa án tối cao liên bang Mỹ luôn lập luận dựa trên căn cứ là các án lệ đã được thừa nhận trước đó để đưa ra quyết định cho các vụ án hiện tại. Ngay cả khi có ý kiến bất đồng trong quá trình đưa ra kết luận giữa Hội đồng xét xử của Tòa án tối cao liên bang Mỹ thì bên bất đồng vẫn luôn sử dụng các án lệ như là công cụ viện dẫn đáng tin cậy để bảo vệ quan điểm của của mình. Tuy nhiên, ở Tòa án Hiến pháp liêng bang Đức ta lại thường thấy điều này, những tranh chấp hầu hết được xem xét độc lập và không phải lúc nào cũng đặt trong mối quan hệ biện chứng với các án lệ trước đó.

Như vây, thông qua những phân tích trên, có đầy đủ căn cứ để khẳng định án lệ được xây dựng và phát triển bởi Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức có một vị trí tọng yếu và được đảm bảo bởi luật. Tuy rằng hiệu lực bắt buộc của nó vẫn tồn tại trường hợp ngoại lệ, song điều này không làm giảm đi vai trò của án lệ đối với các tòa án và cơ quan nhà nước khác.

2.2.2. Thực tiễn về án lệ trong hoạt động của Tòa án Tư pháp Tối cao Liên bang Đức.

Khác với các quyết định của Tòa án Hiến pháp Liêng bang, quyết định của Tòa Tư pháp tối cao liên bang không có giá trị bắt buộc đối với các tòa án cấp dưới. Bản thân Tòa tối cao liên bang trong quá tình thực hiện chức năng xét xử, cũng phải lưu ý đén các án lệ của tòa án Hiến pháp Liên bang. Tuy nhiên không vì thế mà các án lệ của Tòa tối cao liêng bang không có hiệu lực về mặt thực tiễn. Thực chất, các quyết định của tòa án tối cao liên bang đóng vai trò quan trọng trong việc kiến tạo và bổ sung pháp luật. Một minh chứng từ vụ án cụ thể đó là Tòa án tối cao liên bang đã thừa nhận việc bồi thường thiệt hại về tinh thần cho sự vi phạm quyền cá nhân trong vụ án nổi tiếng Soraya năm 1964. Điều đáng nói đó là Bộ luật Dân sự Đức khi ấy không có quy định về việc được bồi thường cho những tổn thất phi vật chất. Để thích ứng với những thay đổi của xã hội, đời sống pháp lý bắt buộc phải chấp nhận sự kiến tạo pháp luật đến từ những người không phải là cơ quan lập pháp. Và tuy không được đảm bảo bởi luật nhưng các các tòa án cấp dưới về mặt thực tiễn luôn coi án lệ của tòa tối cao liên bang như những cơ sở pháp luật có tính thuyết phục cao. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Đức.

Thực chất, các tòa án cấp dưới cũng có những ràng buộc nhất khi đưa ra kết luận cho vụ việc mà không tuân theo những án lệ của Tòa tư pháp tối cao. Theo quy định của luật tố tụng, Tòa án Tối cao Liêng bang được quyền giải quyết các vụ án của Tòa phúc thẩm nếu như có đủ căn cứ để xác định Tòa phúc thẩm này không tuân thủ theo các cách giải thích pháp luật của Tòa Tối cao Liên bang. Đồng thời, nếu một tòa án cấp dưới đưa ra một quyết định trái với án lệ của tòa tối cao liên bang thì tòa án cấp dưới này phải có nghĩa vụ giải thích lý do vì sao có sự bất đồng này.

Cũng giống như Tòa Hiến pháp liêng bang, tòa án tối cao liên bang không bị rằng buộc bởi quy định phải tuân theo án lệ của chính nó. Tuy nhiên thực tiễn lại cho thấy, tòa án tối cao liên bang có xu hướng không tùy tiện chối bỏ các án lệ đã được công nhận trước đó. Khi Hội đồng xét xử có cách giải quyết khác với cách giải quyết trong các tranh chấp thuộc án lệ tương tự được công bố trước đó thì Hội đồng xét xử phải có sự giải thích vì sao lại có sự khác biệt này. Tòa án tối cao liên bang đặc biệt luôn chú ý đến sự thống nhất và đảm bảo sự thống nhất này trong pháp luật. Cũng có những trường hợp tòa án này bỏ qua các án lệ trước đó ở cùng một tranh chấp để thiết lập một án lệ mới, tuy nhiên trong bất kỳ trường hợp nào cũng đều cân nhắc và đảm bảo tới lý do thuyết phục. Tòa tối cao liên bang cũng có thể bãi bỏ án lệ của nó nếu như có căn cứ hợp lý. Ngày 02/7/2009, Tòa án này thừa nhận việc bãi bỏ án lệ do chính nó ban hành và tuyên bố phán quyết của một trọng tài người Mỹ có thể không được công nhận ở Đức, trong khi trong án lệ trước đó Tòa án đã công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Đức. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Đức.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537