Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp cho các bạn.
3.1. Nhận thức chung về án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp.
3.1.1. Lịch sử hình thành án lệ ở Pháp.
Trước Cách mạng Pháp năm 1789, Pháp nằm dưới sự thống trị của nhà nước quân chủ chuyên chế. Nhà vua là người duy nhất có quyền lực xét xử, và quyền này được chứng nhận bởi bởi Chúa. Trong nghi lễ đăng quang, Nhà vua sẽ được Tổng Giám mục trao cho Bàn tay công lý và Thanh kiếm công lý, tượng trưng cho quyền lực tư pháp. Vua Louis IX (Saint-Louis) (1214-1270) từng có thời gian xét xử các vụ án ở bên gốc một cây sồi khổng lồ ở Vincennes. Tuy nhiên sau này, các vị vua đã ủy thác quyền lực tư pháp của họ cho các thẩm phán được chỉ định đặc biệt, người sẽ điều hành công lý dưới tên Vua. Trong hệ thống này, các bên đã trả tiền trực tiếp cho các thẩm phán và các quy trình tố tụng hoàn toàn được xử kín. Do không có luật thành văn, các thẩm phán sẽ xét xử theo “lẽ công bằng” dựa trên các nguyên tắc địa phương, tập quán dẫn đến việc thiếu căn cứ pháp lý đáng kể. Trong thời kỳ này, các tòa án được coi là rất bảo thủ, và hình thức xét xử đã gây nên một nỗi sợ hãi trong tầng lớp nông dân, công nhân, những người có địa vị thấp trong xã hội. Dẫn đến kết quả là sự thù ghét dành cho tư pháp của những người làm cách mạng.
Sau khi kết thúc Cách mạng Pháp cùng với Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789, Pháp đã xây dựng một hệ thống chính trị mới dựa trên nguyên tắc phân chia quyền lực. Lúc này, luật được ban hành bởi người dân thông qua đại diện của họ là Quốc hội và có một cơ quan tư pháp riêng biệt, chịu trách nhiệm cho việc áp dụng luật lệ của họ là Tòa án. Chính quyền mới lập ra những cơ quan với chức năng kiềm chế đối trọng, thẩm phán vẫn được giữ lại làm việc trong tòa án nhưng được trao cho một quyền hạn bị hạn chế. Theo Robespierre, “thuật ngữ “jurisprudence” phải được xóa bỏ khỏi ngôn ngữ của chúng ta. Trong một quốc gia có Hiến pháp và pháp luật, “jurisprudence” không có nghĩa gì hơn là luật thành văn”. Còn với Montesquier, cha đẻ của học thuyết Tam quyền phân lập khẳng định rằng “thẩm phán đơn thuần chỉ là một người tuyên bố những ngôn từ của pháp luật”(judges[…]are only the mouth that pronounces the words of the law). Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp.
Hai quan điểm này đủ để khái quát hệ thống tư pháp Pháp thời kỳ đỉnh cao của xu hướng pháp điển hóa: án lệ bị phủ nhận bởi vai trò của luật thành văn và thẩm phán thì không có quyền kiến tạo pháp luật.
Cuộc đại pháp điển hóa ở Pháp diễn ra trong suốt thế kỷ thứ XIX, bắt đầu bằng việc người Pháp xây dựng nên Bộ luật Dân sự 1804 và đó cũng là nền móng để các bộ luật đồ sộ khác trong cả lĩnh vực luật công và luật tư ra đời. Ở giai đoạn đầu, luật thành văn được các học giả ủng hộ mạnh mẽ với niềm tin vào sự ưu việt của nó khi loại bỏ sự chuyên quyền của thẩm phán. Mô hình này một mặt đáp ứng sự thay đổi phù hợp khi có một hệ thống chính trị mới, mặt khác nó đáp ứng nhu cầu của nhân dân – những tầng lớp đông đảo trước đây đã mất niềm tin vào quan tòa. Tuy nhiên, lúc này các quan hệ dân sự, thương mại, quốc tế ngày càng phát triển và luật pháp không thể theo kịp. Bản thân Postalis, một trong những học giả góp phần xây dựng nên bộ luật dân sự Pháp 1804 thừa nhận rằng: “Luật pháp đứng yên trong khi đời sống xã hội luôn thay đổi, vì lý do đó mà không ai có thể quy định mọi vấn đề có thể phát sinh”. Đối với tòa án, các thẩm phán luôn gặp phải khó khăn trong việc áp dụng các quy định thiếu tính chi tiết vào những trường hợp không thể dự liệu được của thực tiễn. Thêm vào đó, những áp bực của xã hội cũ đã bị đẩy lùi, những nguyên nhân của việc phải hạn chế quyền lực cũng không còn là những lo ngại thì buộc phải có một sự thay đổi để đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Trước bối cảnh đó, thì những lý luận về án lệ của các học giải ra đời như một hệ quả tất yêu của thực tiễn đó. Nhà luật học người Pháp Eva Steiner đã viết trong cuốn sách mang tên “Phương pháp luật của Pháp” (French Legal Method) trong đó tác giải đã xoay quanh những tranh luận không có hồi kết về việc ủng hộ án lệ ở Pháp. Các học giả của Pháp không chấp nhận một mô hình án lệ với nguyên tắc Stare Decisis như ở Anh, bởi lẽ sẽ xâm phạm đến quyền lập pháp của Quốc hội. Ở lĩnh vực dân luật, để dung hòa trước thực tiễn này, mô hình dựa trên nguyên tắc “Jurisprudence Constante” được đưa ra như một giải pháp. Trong thực tiễn xét xử, tòa án có xu hướng tuân theo một hệ thống các giải pháp pháp lý từ các bản án trước, một loạt các vụ án được xét xử tương tự nhau tạo nên sự đảm bảo như là một nguồn luật trong quá trình xét xử của thẩm phán. Đây là điểm khác biệt đặc trưng với án lệ các nước Common law, án lệ phải được chứng minh bởi thời gian thông qua hàng loạt các bản án tương tự nhau và nó phải được đảm bảo bởi sự nhất quán. Tuy nhiên cũng phải lưu ý rằng án lệ theo nguyên tắc này chỉ áp dụng cho lĩnh vực luật dân luật. Ở lĩnh vực hành chính, Luật Hành chính của pháp đã hình thành trên nền tảng hệ thống những án lệ.
Như vậy, án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp ra đời mang theo đặc trưng riêng đồng thời đáp ứng được các điển hình về mặt pháp luật cũng như thực tiễn tại Pháp. Sự đặc trưng này đã đem đến một cái nhìn khác biệt ngay cả với án lệ thuộc hệ thống các nước Dân luật như Đức. Đó cũng là lý do tại sao nghiên cứu bản chất án lệ của Pháp sẽ góp phần hoàn thiện cho một cái nhìn khái quát về án lệ ở các nước Civil Law.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
3.1.2. Bản chất án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp
Án lệ đã chứng minh giá trị tồn tại của nó trong thực tiến hệ thống pháp luật Pháp, tuy nhiên khoảng cách giữa quan điểm chính thức về án lệ và việc án lệ được áp dụng trong thực tế vẫn là điều cần phải nghiên cứu. Đây là một vấn đề mà cho dù có hàng loạt những tranh luận từ suốt thế kỷ thứ XIX đến nay vẫn chưa có lời giải đáp tường minh. Bởi hệ thống pháp luật Pháp chưa có một văn bản nào giải đáp triệt để vấn đề này. Một sự thật có thể khẳng định, án lệ ở Pháp không tồn tại giá trị bắt buộc hay nói cách khác là được đảm bảo bởi nguyên tắc Stare Decisis như hệ thống pháp luật Common law và cũng không được đảm bảo bởi luật như án lệ của Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức. Vị trí của án lệ được thể hiện một cách rõ ràng nhất trong lĩnh vực Luật Hành chính ở Pháp với sự công nhận án lệ là một nguồn luật. Theo Martine Lombard, khi so sánh với luật thành văn, một án lệ có ba đặc điểm đặc trưng. Thứ nhất quy phạm luật án lệ có tính hiệu lực hồi tố. Thứ hai, án lệ trong luật hành chính của Pháp uyển chuyển vì nó không bị ràng buộc bởi nguyên tắc Stare Decisis. Thứ ba, các quy phạm luật án lệ cũng rất trừu tượng. Có thể nói, Luật Hành chính là lĩnh vực duy nhất vai trò của án lệ được thừa nhận chính thức.
Án lệ nói chung ở Pháp không có một sự thừa nhận chính thức học thuyết về án lệ là một nguồn luật. Thậm chí, quan điểm về sự kiềm chế vai trò sáng tạo luật của tòa án còn thể hiện nét đặc trưng trong hệ thống pháp luật nước Pháp. Quay trở lại thời kỳ trước Cách mạng tư sản Pháp năm 1789, lúc này Pháp là một nhà nước quân chủ chuyên chế, Nhà vua ban hành luật và trao cho thẩm phán quyền xét xử, quyền giải thích pháp luật, trong nhiều trường hợp thẩm phán được tạo ra luật. Tuy nhiên, thẩm phán của Nhà vua lại thuộc tầng lớp quý tộc, do đó luật lệ được ban hành chỉ nhằm phục vụ lợi ích của tầng lớp này mà làm mất đi sự cân bằng lợi ích của các tầng lớp khấc. Do vậy, hệ thống chính trị mới sau khi được thành lập đã tìm cách ngăn chặn điều này bằng cách cấm các thẩm phán sáng tạo ra pháp luật. Đây cũng là cơ sở hình thành nên Điều 5 Bộ luật Dân sự Pháp:
Cấm các thẩm phán đặt ra những quy định chung có tính chất pháp qui để tuyên án những vụ việc được giao xét xử”
Tuy nhiên, ở Điều 4 Bộ luật Dân sự Pháp lại khẳng định: Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp.
Thẩm phán nào thoái thác không xét xử, viện lẽ rằng luật không quy định, luật tối nghĩa hay luật thiếu sót thì có thể bị truy tố về tội không chịu xét xử.”
Nhìn vào hai quy định này có thể nhận thấy một vấn đề sau: nhiệm vụ của tòa án là “bất khẳng thụ lý”, tức là để đảm bảo cho quá trình tiếp cận công lý, thẩm phán với vai trò là đại diện của pháp luật trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được viện lý do bởi luật mà thoái thác xét xử. Vậy trong trường hợp luật pháp thực sự tối nghĩa, không quy định và thiếu sót thì thẩm phán dựa vào đâu để “tuyên bố ngôn từ của luật pháp”? Đến giai đoạn này thì các luật gia Pháp có đầy đủ lý do để nhận ra bộ luật dân sự vốn được coi là hoàn thiện và đầy đủ nhất cũng không thể tránh khỏi những hạn chế. Vậy thì cần một cơ chế để giải quyết vấn đề này. Thực chất, cũng giống như các nước khác thuộc hệ thống Civil Law, án lệ ở Pháp được kiến tạo chủ yếu thông qua quyền giải thích pháp luật của thẩm phán. Học giả Boré đã cho rằng loại án lệ giải thích pháp luật thành văn phục vụ cho việc giải thích pháp luật thống nhất. Chức năng chính thức của Tòa Phá án (Cour de cassation) là tòa án có vai trò cao nhất hướng dẫn các tòa án cấp dưới áp dụng thống nhất văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy án lệ của Tòa Phá án hay Tòa án Tối cao Pháp là dạng án lệ giải thích. Thực chất, phải mất một quá trình dài để Tòa Phá án có được thẩm quyền này.
Trước đây, khi có một vụ án đã được kháng cáo để xét ở Tòa Phá án mà luật thành văn không đủ căn cứ để đi đến phán quyết thì cơ chế giải quyết sự bất lực này vẫn dựa vào lập pháp viện thông qua một thủ tục gọi là “référé législatif” (legislative reference) – sự giải thích pháp luật của cơ quan lập pháp. Sau hai lần phá án liên tiếp mà lần thứ ba vẫn chỉ có thể đưa ra phán quyết như cũ thì Tòa phá án sẽ đề nghị Lập pháp viện ra một Sắc lệnh tuyên bố luật để giải quyết trường hợp đó. Tuy nhiên cơ chế này tỏ ra kém hiệu quả khi mà chủ yếu hoạt động của nó chỉ về mặt hình thức. Do đó, cơ chế dựa vào sự giải thích pháp luật của Nghị viện đã bị xóa bỏ và đồng thời chức năng xét xử lần thứ ba của Tòa phá án cũng bị hủy bỏ, Tòa phân định thẩm quyền bắt buộc là một Tòa Phúc thẩm sẽ ra phán quyết cuối cùng cho vụ kiện. Cơ chế mới này cũng nhanh chóng gặp phải rất nhiều những phản đối, bởi lẽ nếu như “Tòa phá án mất đi chức năng đảm bảo thống nhất trong việc chấp hành pháp luật thì Tòa phá án sẽ trở nên vô dụng”. Như vậy, chắc chắn cần có một sự bổ sung pháp luật để giải quyết vấn đề này và chỉ khi bắt buộc Tòa phân định thẩm quyền lần thứ hai phải tuân theo quyết định của Tòa Phá án thì chức năng thống nhất và giải thích pháp luật mới được đảm bảo. Nếu luật đã rõ ràng thì thẩm phán chỉ việc áp dụng, nếu luật tỏ ra kém hiệu quả thì tòa án trong quá trình xét xử sẽ kịp thời khắc phục vấn đề này thông qua quá trình giải thích pháp luật. Bằng cách này, thẩm quyền giải thích pháp luật được trả về cho Tòa Tối cao và đây cũng chính là con đường để án lệ được chứng minh trong thực tiễn.
Khi luật tỏ ra kém hiệu quả thì thẩm phán đóng vai các nhà làm luật, bù đắp những hạn chế của pháp luật bằng các giải thích chứa đựng những nguyên tắc chung. Song khác với Đức, quyết định của Tòa Phá án chỉ có giá trị ràng buộc trong một vụ việc được xét xử đó và hiệu lực của phán quyết cũng không được đảm bảo bởi luật. Cụ thể, tòa án cấp dưới khi xét xử những vụ việc tương tự có thể có những đường lối xét xử khác với phán quyết của Tòa Tối cao. Trong khi đó, ở Đức khi một bản án của tòa án cáp duới không tuân theo các án lệ của Tòa Hiến pháp Liên bang Đức thì bản án đó có thể sẽ bị bãi bỏ, hoặc bị tuyên bố là không hợp pháp. Đó cũng là lý do mà việc xác định một vị trí phù hợp cho án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp không phải điều dễ dàng, càng khó hơn là khẳng định liệu án lệ có phải được coi là một nguồn luật hay không. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp.
Các thẩm phán cũng nhấn mạnh rằng các quy tắc được nêu trong án lệ của họ chỉ mang tính bổ sung cho luật thành văn. Nếu như các tòa án cấp dưới không tuân theo đường lối xét xử của tòa phá án thì chỉ riêng lý do này không cấu thành điều kiện cho tòa phá án kháng nghị đối với bản án của tòa án cấp dưới. Thêm vào đó việc chỉ viện dẫn án lệ cũng sẽ không đủ căn cứ để tòa án đưa ra phán quyết. Điều 445 Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp quy định: “bản án của tòa án phải miêu tả tóm tắt tranh chấp của các bên và tranh luận của họ; bản án phải nêu được căn cứ pháp luật cho quyết định của nó”. Căn cứ pháp luật ở đây là căn cứ của văn bản quy phạm pháp luật hơn là dựa vào tiền lệ pháp. Tuy nhiên điều đặc biệt là án lệ vẫn được áp dụng trong thực tiễn và thẩm phán vẫn thực hiện việc sáng tạo ra pháp luật. Theo học giả Eva Steiner, điều này có nghĩa là “thông qua im lặng và không tuyên bố, cơ quan lập pháp ngụ ý án lệ là luật”. Bằng cách “không hành động”, cơ quan lập pháp mặc dù có quyền lực chi phối đến công cuộc kiến tạo pháp luật đã ngầm thừa nhận và không can thiệp vào quá trình sáng tạo pháp luật thẩm phán.
Án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp có được coi là một nguồn pháp luật hay không vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên gần đây quan điểm về án lệ trong pháp luật Pháp thể hiện theo xu hướng thực tế. Án lệ có thể không phải là một nguồn luật chính thức nhưng là một nguồn luật thực tế. Như Guy Canivet cho rằng: “thật là không thực tế khi nói rằng thẩm phán tuyên bố pháp luật mà không được tạo ra pháp luật. Chúng ta biết rằng việc áp dụng pháp luật không thể bỏ qua việc giải thích pháp luật”.
3.1.3. Vai trò của của án lệ trong các lĩnh vực pháp luật Pháp
Vị trí và vai trò của án lệ được biểu hiện một cách linh hoạt trong hệ thống các lĩnh vực pháp luật Pháp. Do vậy, nghiên cứu sẽ trở nên phiến diện nếu như chỉ tìm hiểu án lệ trên một phương diện và khái quát hóa lên tinh thần án lệ của Pháp. Ở bài nghiên cứu này, người viết sẽ chọn hai lĩnh vực đặc trưng nhất thể hiện sự khác biệt về vị trí và vai trò của án lệ, đó là: Luật Dân sự và Luật Hành chính.
Ở lĩnh vực Luật Dân sự, trải qua một quá trình thay đổi các cơ chế như đã phân tích thì đến đây chúng ta có thể khẳng định án lệ đang tồn tại, phát triển và đóng một vai trò quan trọng trong lĩnh vực luật tư ở Pháp. Ở giai đoạn xu hướng pháp điển hóa phát triển mạnh nhất, Bộ luật Dân sự Pháp ban hành năm 1804 được coi là sự tiên phong và mẫu mực cho một bộ luật thành văn, các học giả Pháp khi ấy cũng thể hiện một sự sùng bái đối với thành tựu này. Thế nhưng sẽ là sai lầm nếu cho rằng Bộ luật Dân sự được pháp điển hóa rất chi tiết, cụ thể và có thể điều chỉnh được mọi vấn đề của thực tiễn. Bởi lẽ, tham vọng dự liệu được tất cả những tranh chấp của xã hội là điều mà không một luật thành văn nào có thể làm được, thêm vào đó Bộ luật dân sự Pháp là bộ luật tiên phong của thời kỳ pháp điển hóa nên rất khó để tránh khỏi những hạn chế, việc quy định một cách khái quát cũng là cách nhằm tối đa hóa việc sửa đổi, bổ sung pháp luật. Portalis một trong những tác giả soạn thảo bộ luật này cũng có một cái nhìn khá mềm dẻo và rất thực tế với quan điểm luật không thể bao quát được toàn bộ các vấn đề mà nhà làm luật có thể tiên đoán. Phạm vi bao quát của các quy định trong Bộ luật Dân sự Pháp được coi là rất rộng, do vậy thực tiễn cho thấy án lệ trong lĩnh vực dân sự đã và đang đóng một vai trò quan trọng cho sự phát triển pháp luật dân sự ở Pháp. Thông qua án lệ, thẩm phán đóng vai trò làm rõ các quy định khi điều luật được thể hiện một chung chung hoặc có sự mâu thuẫn hay có những khái niệm cầm phải giải thích. Trong nhiều trường hợp, thẩm phán không chỉ giải thích pháp luật mà đôi khi còn cần phải bổ sung pháp luật. Đó là loại án lệ tạo ra các giải pháp pháp lý, được xây dựng khi tồn tại quy định đã lỗi thời hoặc không có quy định về các vấn đề cần giải quyết. Điều này làm cho án lệ trở thành một phương tiện hữu hiệu để tiếp cận Bộ luật Dân sự Pháp.
Một minh chứng cụ thể về vấn đề “tổn thất kinh tế thuần túy” (Pure economic loss) trong bồi thường thiệt hại cũng được định hình phương hướng giải quyết rõ ràng thông qua đường lối xét xử của tòa án. Điều 1382 của Bộ luật Dân sự quy định: “Bất kỳ hành động nào mà một chủ thể này gây thiệt hại cho một chủ thể khác thì bắt buộc anh ta phải chịu trách nhiệm về việc bồi thường”. Có thể thấy, quy định này đã đặt ra một phạm vi rất rộng lớn cho các cơ hội được nhận bồi thường và vô hình chung tạo ra một gánh nặng bất cân xứng lên bị đơn và ngay cả với Tòa án khi mà phải tiếp nhận vô số những đơn kiện đòi bồi thường từ nguyên đơn. Thực tế cho thấy, Tòa án thường không công bố những bản án về những vụ việc này, do đó để xác định căn cứ từ các quy định pháp luật là điều rất khó. Tuy nhiên, sau này Tòa án có xu hướng xác định các yếu tố làm căn cứ cấu thành trách nhiệm bồi thường thông qua: yếu tố lỗi, mối quan hệ nhân quả giữa nguyên nhân và thiệt hại. Vô hình chung, cách thức này đã định hình một phương hướng giải quyết cho một vấn đề pháp lý cụ thể mà chỉ được điều chỉnh bằng những quy định rất khái quát. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp.
Ở lĩnh vực Luật Hành chính: Dù là một lĩnh vực trong một hệ thống pháp luật thành văn với tính pháp điển hoa rất cao song điều thú vị là luật hành chính của Pháp phát triển dựa trên cơ sở án lệ. Điều này khác biệt hoàn toàn với lĩnh vực dân luật ở Pháp, vai trò của án lệ cho sự phát triển của lĩnh vực Luật Hành chính cao hơn bất kỳ lĩnh vực luật nào ở Pháp. Chính các luật gia ở Pháp cũng từng khẳng định vai trò cảu án lệ: “mặc dù ngày càng có sự gia tăng các văn bản quy phạm luật hành chính, nhưng án lệ vẫn là nguồn quan trọng của luật hành chính”. Hội đồng Nhà Nước với tư cách là tòa án cấp cao nhất trong hệ thống tòa hành chính đã đưa ra rất nhiều quyết định được đánh giá như là những án lệ của luật hành chính. Khi không có những quy định điều chỉnh cụ thể, các Tòa Hành chính ở Pháp đã tự đặt ra những quy tắc, giải pháp đối với các tranh chấp hành chính trong các tranh chấp trước Tòa. Các cơ quan hành chính nhà nước luôn tôn trọng các quyết định của Hội đồng Nhà nước và coi đó là nguồn của luật hành chính. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng giữa mối quan hệ của văn bản quy phạm pháp luật với các án lệ thì hệ thống các luật thành văn bao giờ cũng được đánh giá cao hơn là án lệ trong lĩnh vực Luật Hành chính. Điều này cũng xuất phát từ truyền thống pháp luật Pháp là điển hình của pháp luật thành văn do đó hiệu lực của văn bản pháp luật bao giờ cũng sẽ được ưu tiên hơn các nguồn còn lại. Dù vậy, cũng có những trường hợp án lệ hành chính có hiệu cao hơn văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ: Hội đồng Nhà nước đã tạo ra những án lệ nổi tiếng trong đó tạo ra nguyên tắc về việc yêu cầu dẫn độ của nước ngoài nên bị từ chối bởi Chính phủ nếu yêu cầu dẫn độ đó phù hợp cho mục đích chính trị. Thêm vào đó, mặc dù được tôn trọng nhưng các án lệ của Hội đồng Nhà nước không có giá trị bắt buộc.
3.2. Thực tiễn án lệ trong hệ thống Tòa án Pháp. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp.
3.2.1. Án lệ của Tòa Phá án
Tòa Phá án là Tòa án tối cao duy nhất của hệ thống Tòa án tư pháp của nước Pháp, có trụ sở tại Paris. Xét về chứ năng phát triển án lệ, Tòa Phá án có chức năng tối cao trong việc tạo ra sự thống nhất áp dụng pháp luật trong toàn bộ lãnh thổ Pháp và lãnh thổ hải ngoại thuộc thẩm quyền của nó. Tòa phá án của Pháp không phải là một Tòa án phúc thẩm cấp thứ ba, chức năng chủ yếu của Tòa Phá án là quyết định về các vấn đề mang tính chất pháp luật, tập trung vào việc tuyên bố về việc Tòa án cấp dưới đã áp dụng pháp luật đúng hay sai trong những kháng cóa chống lại những quyết định của Tòa án cấp dưới mà được Tòa phá án xét xử. Tòa Phá án không xét xử toàn bộ nội dung của các quyết định của tòa án cấp dưới.
Như đã phân tích, Tòa Phá án sau một quá trình dài đã được trao lại cho thẩm quyền giải thích pháp luật thông qua việc Tòa án này được bổ sung những hạn chế của pháp luật thay vì phải phụ thuộc vào sự giải thích pháp luật của cơ quan lập pháp. Do đó, mà hầu hết các án lệ của Tòa phá án được tạo ra trong quá trình giải thích văn bản quy phạm pháp luật. Nhiều học giả cho rằng điều này không có nghĩa là Tòa phá án sáng tạo ra luật mà chỉ là bổ sung chỗ thiếu của pháp luật khi thấy cần thiết mà thôi. Dù vậy, thì vai trò này của Tòa phá án tỏ ra rất hữu dụng khi mà rất nhiều những vấn đề của Bộ luật Dân sự Pháp đã được làm rõ thông qua cơ chế này. Có một sự thừa nhận rộng rãi đó là, bộ luật Dân sự Pháp được pháp điển bởi các quy phạm rất khái quát và thiếu tính cụ thể trong từng quy định. Có rất nhiều khái niệm hay vấn đề pháp lý được làm rõ thông qua sự giải thích pháp luật của thẩm phán, cũng có cả những trường hợp án lệ thể hiện sự ngoại lệ đối với các quy định trong Bộ luật Dân sự.
Ví dụ các điều của Bộ luật Dân sự về hợp đồng thường rất bao quát và đôi khi mập mờ. Các điều 1101 và 1108 của Bộ luật Dân sự 1804 đã được bổ sung bởi rất nhiều án lệ của Tòa phá án liên quan đến việc giải thích các điều luật. Trong vụ Guilloux v. Société des raffineries nantaises, (25 May 1870), Tòa án tối cao Pháp tuyên bố “một bên sẽ không bị ràng buộc bởi nghĩa vụ vì lý do đơn thuần là không thực hiện việc trả lời như tuyên bố anh ta bị ràng buộc như vậy”. Những án lệ về sau liên quan đến nguyên tắc mà trong đó xác định hành vi “im lặng” tự nó không cấu thành một sự đồng ý trong giao dịch hợp đồng đã được tòa án xem xét lại nhiều lần. Ở một vụ án năm 1965, Tòa Phá án đã giải thích sự im lặng đã cấu thành một thỏa thuận về tiếp nhận nghĩa vụ giúp đỡ, sau này Tòa tối cao đã tuyên bố: “mặc dù sự im lặng tự nó không được coi là sự chấp nhận hợp đồng. Tuy nhiên, có những trường hợp cho phép sự im lặng có thể được coi là sự chấp nhận hợp đồng”.
Mặc dù không có hiệu lực chính thức như luật thành văn tuy nhiên án lệ trong nhiều trường hợp lại được tạo ra trên cơ sở trái với luật (contra legem). Tòa án Tối cao trên thực tế vẫn hướng dẫn các tòa án cấp dưới áp dụng bộ luật dân sự theo cách trái với điều, khoản mà bộ luật này đề ra. Ví dụ, Điều 931 của Bộ luật Dân sự quy định “Một chứng thư tặng cho lúc còn sống phải được lập trước mặt của công chứng viên, theo hình thức thông thường của các hợp đồng và phải lưu bản chính của nó, nếu không sẽ vô hiệu”. Sau đó Tòa phán án đã thiết lập án lệ trong đó giải thích rằng chứng thư tặng tài sản (lúc người tặng còn sống) đối với các tài sản thì có thể lập không cần có văn bản của công chứng viên, mà nó chỉ cần thể hiện sự chuyển giao tài sản là đủ. Phán quyết này của Tòa án đã thực sự được ủng hộ trong dân luật Pháp. Thực chất đây là một vấn đề khá nhạy cảm, khi mà nhiệm vụ sửa đổi pháp luật thông thường sẽ thuộc về cơ quan lập pháp. Tuy nhiên, theo hình thức như vậy thì lập pháp không thể theo kịp đời sống xã hội bởi cơ quan tư pháp thông qua quá trình xét xử mới là chủ thể nhận ra điều đó. Thời gian đầu, Tòa án vẫn buộc phải xử theo luật cũ và đồng thời báo cáo lên cơ quan lập pháp để sửa đổi. Nhưng hiển nhiên tốc độ của lập pháp do đặc thù riêng sẽ khiến pháp luật sẽ không thể kịp thích ứng để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội.
Do đó, vai trò chủ động đã được trao cho các thẩm phán. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp.
Không tồn tại nguyên tắc Stare Decisis như Tòa án các nước theo hệ thống Thông luật, Tòa Phá án có thể bãi bỏ các án lệ của chính nó mà không có tuyên bố rằng nó đã quyết định ngược lại với các án lệ được tao ra trước đó. Khi Tòa phá án bãi bỏ án lệ, Tòa này có thể không đưa ra lý do chi tiết về lý do dẫn đến sự bãi bỏ này. Đây là cơ chế rất giống với Tòa Hiến pháp Đức và rõ ràng là rất khác biệt với pháp luật theo trường phái Common Law. Trong những trường hợp như vậy, sự bãi bỏ đã tạo ra một cách tiếp cận mới thay cho án lệ cũ và hướng dẫn cách áp dụng pháp luật trong tương lai.
Các phán quyết của Tòa Phá án nhìn chung cũng không bao gồm với ý kiến bất đồng của các thẩm phán tham gia Hội đồng xét xử. Đây là điểm khác biệt với Tòa án Tối cao Liên bang Mỹ và ngay cả với Tòa Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức. Các ý kiến bất đồng của các thẩm phán ở Tòa Liên bang Hoa Kỳ thường rất dài và căn cứ lập luận được đưa ra chủ yếu đều dựa vào phương hướng giải quyết trong các án lệ trước. Trong khi với Tòa Hiến pháp Liên bang Đức, các ý kiến bất đồng cũng rất phổ biến khi có thể phân loại thành ba trường hợp khác nhau. Tuy rằng, các lập luận của bên thẩm phán trong việc đưa ra ý kiến bất đồng hoặc là không phụ thuộc quá nhiều mối quan hệ biện chứng với các án lệ đã tồn tại trước đó hoặc là không lấy các căn cứ của án lệ làm lý lẽ phản biện.
3.2.2. Án lệ của Hội đồng nhà nước (Tòa án Hành chính Tối cao)
Hội đồng nhà nước có hai chức năng cơ bản bao gồm chức năng xét xử và chức năng cố vấn cho Chính phủ Pháp. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp thẩm quyền của Hội đồng Nhà nước không bao giờ được xác định chính thức trong một văn bản pháp luật, mặc dù vai trò xét xử của Hội đồng Nhà nước chiếm một vị trí rất quan trọng. Thẩm quyền mà Hội đồng Nhà nước có được chủ yếu được xác định thông qua các án lệ của nó.
Hội đồng Nhà nước là một tòa án rất đặc thù. Nó có chức năng xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và chức năng phá án. Khi hoạt động với chức năng tòa án sơ thẩm, Hội đồng Nhà nước có quyền xem xét tình hợp pháp trong các quyết định của cơ quan hành chính. Khi hoạt động với chức năng của tòa phúc thẩm, Hội đồng Nhà nước xem xét các kháng cáo chống lại quyết định của các tòa án hành chính cấp dưới, các Tòa án hành chính có thẩm quyền chuyên trách và các kháng cáo chống lại kết quả bầu cử ở địa phương. Khi hoạt động với chức năng của Tòa phá án hành chính, Hội đồng Nhà nước có thể hủy bỏ các quyết định của các Tòa án hành chính cấp dưới nếu như tòa nay thiếu thẩm quyền xét xử, có sự sai sót trong quá trình giải thích pháp luật áp dụng hoặc không tuân thủ thủ tục tố tụng hành chính.
Cơ chế đặc thù trong hệ thống tòa án hành chính vì những đặc điểm trên mà trở nên khá đặc biệt. Đồng thời cũng vì có quyền hạn rất lớn mà án lệ của hệ thống Tòa hành chính bao quát rất nhiều lĩnh vực quan hệ luật hành chính. Nếu như Tòa Phá án do có sự giới hạn về quyền lực nhất định mà án lệ trong luật tư của Pháp khá dễ để hệ thống và khái quát, tuy nhiên đối với lĩnh vực Hành chính, phạm vi thẩm quyền rộng lớn của Hội đồng Nhà nước khiến cho việc khái quát hóa thành những đặc trưng cụ thể lại khá khó khăn. Một vài ví dụ minh họa cho vai trò quan trọng của án lệ như Hội đồng Nhà nước đã có đóng góp chủ yếu qua các án lệ về việc phân định những vấn đề pháp lý thuộc thẩm quyền điều chỉnh của luật tư hay luật công trong các vụ án cụ thể, hay vấn đề về thẩm quyền của Tòa hành chính ở Pháp cũng là một lĩnh vực được phát triển trên cơ sở án lệ của Hội đồng Nhà nước. Về vấn đề bãi bỏ án lệ, cũng giống như các Tòa án Tối cao khác Hội đồng Nhà nước có thể bãi bỏ các án lệ của chính mình khi thấy rằng các điều kiện xã hội đã còn phù hợp với những án lệ cũ và cần được thay đổi.
Tiểu kết: Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp.
Nội dung án lệ trong hệ thống pháp luật Civil law đã và đang được hình thành, phát triển trong khuôn khổ tư tưởng do luật thực định xác định và thực tiễn xã hội yêu cầu. Án lệ từ quá khứ đến hiện tại đã có những thay đổi linh hoạt trong đời sống pháp lý theo một chiều hướng mềm dẻo và không làm mất đi tinh thần vốn có của truyền thống pháp luật. Để làm rõ điều này, người viết thông qua những đặc trưng về các nguyên tắc trong lý luận đến cách vận hành trong thực tiễn để nhằm khắc hạo nên sự nhận diện rõ nét nhất về án lệ ở hệ thống pháp luật của hai quốc gia tiêu biểu là Pháp và Cộng hòa Liên bang Đức. Người viết đã tiếp cận đến vấn đề bản chất của án lệ thông qua góc nhìn về lịch sử và vị trí pháp lý, thực tiễn của án lệ thông qua việc áp dụng án lệ tại các Tòa án tiêu biểu. Mặc dù sự thể hiện trên bằng văn bản chưa thể bao quát hết tất cả các vấn đề liên quan, song những phân tích đã tạo nên một cái nhìn khái quát về án lệ tại một số quốc gia thuộc mô hình pháp luật Civil law, điều đó sẽ là tài nguyên để phát triển nghiên cứu về mô hình án lệ tại Việt Nam. Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Án lệ trong hệ thống pháp luật Đức