Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của Việt Nam trong WTO và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi cam kết cho các bạn.

I: Cam kết của Việt Nam trong WTO về dịch vụ phân phối

1. Cam kết về mở cửa dịch vụ phân phối nói chung

Khi cam kết tiến hành mở cửa dịch vụ phân phối nói riêng và dịch vụ nói chung, các nước phải tiến hành cam kết theo bốn phương thức cung cấp dịch vụ như đã phân tích ở chương 1 và theo bốn mức cam kết đó là: Cam kết toàn bộ; Cam kết kèm theo những hạn chế; Không cam kết; hoặc Không cam kết vì không có tính khả thi kỹ thuật.

Cam kết toàn bộ: Là cam kết không áp dụng các biện pháp hạn chế mở cửa thị trường hoặc đối xử quốc gia (tự do hoá hoàn toàn);

Cam kết kèm theo hạn chế: Là cam kết với một số điều kiện về mở cửa thị trường và đối xử quốc gia. Với dạng cam kết này, các nước thành viên sẽ chỉ áp dụng các biện pháp được liệt kê, ngoài ra sẽ không áp dụng các biện pháp mở cửa thị trường hay đối xử quốc gia khác.

Không/chưa cam kết: Là trường hợp nước thành viên có thể áp dụng bất kỳ điều kiện nào đối với việc mở cửa thị trường hay đối xử quốc gia.

Không cam kết vì không có tính khả thi kỹ thuật: Là trường hợp nước thành viên không đưa ra cam kết đối với một số dịch vụ do không thể được cung cấp theo một số phương thức (ví dụ không thể cung cấp dịch vụ xây dựng qua biên giới).

Trước khi trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam cũng đã có những cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối trong hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (Xem bảng 1) và với Nhật Bản (theo Hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt – Nhật) .

Bảng 1 – Cam kết về dịch vụ phân phối của Việt Nam trong hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ

Trong cam kết gia nhập WTO về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của Việt Nam, về cơ bản là như cam kết của Việt Nam với Hoa Kỳ trong BTA và có chặt hơn so với các nước mới gia nhập WTO khác. Cụ thể là:

  • Cam kết về thời điểm cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là giống như BTA tức là từ thời điểm 1/1/2009. Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.
  • Cũng tương tự như cam kết trong BTA, trong GATS, Việt Nam không mở cửa thị trường phân phối đối với các mặt hàng xăng dầu, dược phẩm, sách, báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quý cho nước ngoài (Về điểm này, Việt Nam có thuận lợi hơn Trung Quốc khi nước này chỉ bảo lưu được thuốc lá và muối).
  • Đối với các sản phẩm nhạy cảm như sắt thép, phân bón, ximăng…Việt Nam chỉ mở cửa thị trường sau 3 năm.
  • Việt Nam hạn chế khả năng mở điểm bán lẻ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (mở từ điểm bán lẻ thứ hai trở đi phải được ta cho phép theo từng trường hợp cụ thể. Việc thành lập các điểm bán lẻ ngoài điểm thứ nhất sẽ trên cơ sở Kiểm tra Nhu cầu Kinh tế (ENT) phù hợp với thủ tục tiền thành lập, công khai và phê chuẩn và các tiêu chí khách quan, bao gồm số các nhà cung cấp dịch vụ hiện tại trong một khu vực địa lý, sự ổn định của thị trường và khu vực địa lý), (Trung Quốc không bảo lưu hạn chế này).
  • Theo cam kết, nhà phân phối nước ngoài chỉ được thành lập liên doanh vốn góp nước ngoài không quá 49% ngay khi Việt Nam gia nhập WTO. Hạn chế về vốn này đã được bãi bỏ từ ngày 1/1/2008 tức là nước ngoài được góp vốn tới 99,99% vốn pháp định của liên doanh. Và đến ngày 1/1/2009 thì các nhà phân phối nước ngoài đã được phép được thành lập công ty 100% vốn nước ngoài.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2. Cam kết về mở cửa từng lĩnh vực dịch vụ phân phối cụ thể

Trước hết về phạm vi cam kết, Việt Nam không cam kết đối với các mặt hàng: Thuốc lá và xì gà; Sách, báo, tạp chí và vật phẩm đã ghi hình; Kim loại quí, đá quí; Dược phẩm; Thuốc nổ; Dầu thô và đã chế biến; Gạo; Đường mía và đường củ cải.

2.1. Cam kết về mở cửa dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ.

Khi cam kết mở cửa thị trường dịch vụ, Việt Nam cũng như các nước thành viên khác của WTO cam kết mở cửa theo bốn phương thức cung cấp dịch vụ. Cụ thể, cam kết đối với dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ của Việt Nam như sau:

Phương thức 1 – Cung cấp dịch vụ qua biên giới

Theo phương thức này thì chỉ có sự di chuyển của DVPP qua lãnh thổ mà không có sự di chuyển của người cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng dịch vụ sang lãnh thổ của nhau. Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Về mức độ cam kết, Việt Nam cam kết “tiếp cận thị trường đầy đủ” (nghĩa là cam kết không hạn chế đối với tiếp cận thị trường) trong việc:

Phân phối các sản phẩm phục vụ nhu cầu cá nhân; o Phân phối các chương trình phần mềm máy tính hợp pháp phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc vì mục đích thương mại. Nhưng o Chưa cam kết về tiếp cận thị trường của tất cả các dịch vụ khác.

Phương thức 2 – Tiêu dùng ở nước ngoài

Đối với phương thức cung cấp này đòi hỏi có sự di chuyển của người tiêu dùng dịch vụ từ lãnh thổ một nước sang lãnh thổ của một nước thành viên khác.

 Về mức độ cam kết của Việt Nam đối với hạn chế tiếp cận thị trường và hạn chế đối xử quốc gia trong loại hình dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ đều là đầy đủ và không có ngoại trừ.

Phương thức 3 – Hiện diện thương mại

Phương thức này, nhà cung cấp dịch vụ phân phối của một nước thành viên thành lập công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, chi nhánh…trên lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch vụ phân phối.

Về mức độ cam kết, đối với hạn chế tiếp cận thị trường, Việt Nam cam kết không hạn chế nhưng có một số ngoại trừ. Đó là:

  • Phải thành lập liên doanh số đối tác nước ngoài không được vượt quá 49%. Kể từ ngày 1/1/2008, hạn chế vốn góp 49% sẽ được bãi bỏ. Kể từ ngày 1/1/2009 thì Việt Nam sẽ không hạn chế.
  • Kể từ ngày gia nhập, công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối sẽ được phép cung cấp dịch vụ đại lý hoa hồng, bán buôn và bán lẻ tất cả các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam, ngoại trừ: xi măng và clinke; lốp (trừ lốp máy bay); giấy; máy kéo; phương tiện cơ giới; ôtô con và xe máy; sắt thép; thiết bị nghe nhìn; rượu; và phân bón. o Kể từ ngày 1/1/2009, công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối sẽ được phép cung cấp dịch vụ đại lý hoa hồng, bán buôn và bán lẻ máy kéo; phương tiện cơ giới; ôtô con và xe máy.
  • Trong vòng 3 năm kể từ ngày gia nhập, công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối sẽ được phép cung cấp dịch vụ đại lý hoa hồng, bán buôn và bán lẻ tất cả sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam.
  • Việc thành lập các cơ sở bán lẻ (ngoài cơ sở thứ nhất) sẽ được xem xét trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT). Việc xin phép thành lập nhiều hơn một cơ sở bán lẻ phải tuân thủ quy trình đã có và được công bố công khai và việc cấp phép phải dựa trên các tiêu chí khách quan. Các tiêu chí chính để kiểm tra nhu cầu kinh tế là số lượng các nhà cung cấp dịch vụ đang hiện diện trong một khu vực địa lý, sự ổn định của thị trường và quy mô địa lý.

Đối với hạn chế đối xử quốc gia, Việt Nam không hạn chế.

Phương thức 4 – Hiện diện thể nhân

Phương thức này, theo đó thể nhân là cá nhân nhà cung cấp dịch vụ phân phối của một thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch vụ phân phối. Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Đối với phương thức này, mức độ cam kết của Việt Nam là không hạn chế tiếp cận thị trường khi mở cửa dịch vụ phân phối trong WTO.

2.2. Cam kết về mở cửa dịch vụ nhượng quyền thương mại

Đối với phương thức 1 (Cung cấp qua biên giới) và phương thức 2 (Tiêu dùng ngoài lãnh thổ), khi cam kết mở cửa dịch vụ nhượng quyền thương mại, Việt Nam cam kết không hạn chế tiếp cận thị trường.

Phương thức 3 (Hiện diện thương mại), Việt Nam không hạn chế ngoại trừ phải thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam và tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 49%. Kể từ ngày 1/1/2009, Việt Nam không hạn chế tiếp cận thị trường. Sau 3 năm kể từ ngày gia nhập, Việt Nam sẽ cho phép các công ty nước ngoài thành lập chi nhánh.

Cam kết về hạn chế đối xử quốc gia theo phương thức 3, Việt Nam không hạn chế ngoại trừ trưởng chi nhánh phải là người thường trú tại Việt Nam.

Phương thức 4 (Hiện diện thể nhân), Việt Nam chưa cam kết trừ các cam kết chung.

II: Thực trạng dịch vụ phân phối ở Việt Nam

1. Thực trạng đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ

1.1. Những kết quả đạt được

Sau hai năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam có nhiều sự thay đổi đáng kể trong đó dịch vụ phân phối cũng là một trong những nhân tố của sự thay đổi đó. Dịch vụ phân phối theo phân ngành đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ trong những năm qua đã đạt được sự phát triển đáng kể. Hệ thống đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ đang phát triển rộng khắp, gia tăng về số lượng. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối rất chú trọng vào việc đầu tư mở rộng hoạt động ra với mạng lưới đại lý bán buôn, bán lẻ trên khắp cả nước như Biti’s, Vinamilk, Việt Tiến,…

Riêng trong lĩnh vực bán lẻ thì số lượng siêu thị, trung tâm mại cũng tăng nhanh chóng. Từ chỗ chỉ xuất hiện một số ít ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn khác, đến nay cả nước đã có khoảng 400 siêu thị, 60 trung tâm thương mại và gần 2.000 cửa hàng tiện ích. Và dự kiến đến năm 2010, số siêu thị và trung tâm thương mại sẽ tăng lần lượt là 62,5% và 150%. Về doanh thu từ hoạt động bán lẻ trong những năm gần đây đã không ngừng tăng lên nhanh chóng. Theo thống kê của Hiệp hội bán lẻ Việt Nam, tổng mức bán lẻ của toàn xã hội giai đoạn 1995-2002 tăng trưởng 8 – 10%/năm. Đặc biệt, từ năm 2003-2007, con số này tăng lên 18-22%/năm. Năm 2007, tổng doanh thu bán lẻ đạt 44 tỷ USD, tăng 25% so với năm 2006, năm 2008 tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế năm 2008 ước tính đạt 968,1 nghìn tỷ đồng, tăng 31% so với năm 2007. Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Lĩnh vực phân phối cũng ngày càng thu hút được nhiều sự tham gia của các doanh nghiệp. Theo số liệu tổng điều tra, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ phân phối tăng hơn 2 lần trong thời kỳ 2000-2004, từ gần 14.100 doanh nghiệp lên gần 28.600 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp hoạt động bán buôn tăng gần 170% và bán lẻ tăng gần 50%[2]. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong lĩnh vực này cũng đã có những cải thiện đáng kể về năng lực cạnh tranh của mình. Trên thị trường hiện nay, bên cạnh một số nhà phân phối nước ngoài đang hoạt động như Metro Cash & Carry (Đức), Big C (Pháp), Parson (Malaixia)… cũng đã hình thành nên một số các nhà phân phối lớn trong nước như Saigon co.op, Tổng công ty Thương mại Sài Gòn (Satra), Hapro, Tập đoàn Phú Thái…và cũng đã xuất hiện một số doanh nghiệp phân phối phát triển các siêu thị chuyên dụng như các siêu thị điện máy Pico, Nguyễn Kim, HC…hay hình thành một số chuỗi siêu thị như Intimex, Maximark, Citimart, chuỗi siêu thị và cửa hàng thời trang Vinatex thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam, chuỗi G7 Mart của Trung Nguyên, chuỗi 24-Seven của Công ty Cổ phần Hoàng Corp…Một số doanh nghiệp đã có những ghi nhận xứng đáng cho những thành công của mình như Sài Gòn Co.op, Nguyễn Kim đã trở thành hai trong 500 nhà bán lẻ hàng đầu tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Sài Gòn Co.op đã đạt danh hiệu này trong 4 năm liền (2004-2007) và cũng lọt vào top 200 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam do chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) bình chọn. Các doanh nghiệp cũng dần nhận thức rõ hơn vai trò của việc liên kết nhau trong nỗ lực nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các nhà phân phối nước ngoài có lợi thế về vốn, kinh nghiệm hoạt động. Đầu tiên là phải kể tới sự thành lập của công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (VDA) ngày 14/5/2007 từ sự hợp tác của 4 nhà bán lẻ lớn nhất nước bao gồm Tổng công ty thương mại Hà Nội (Hapro), Tổng công ty thương mại Sài Gòn (Satra), Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Sài Gòn (Saigon Co.op), công ty Cổ phần tập đoàn Phú Thái (Phu Thai Group). Tiếp đó là sự ra đời của Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam (AVR) ngày 16/10/2007 với 100 thành viên. Với việc ra đời của VDA và AVR đã tạo ra cơ hội lớn không chỉ giúp ngành phân phối VN phát triển, xây dựng được hệ thống đại siêu thị riêng của người VN mà các nhà sản xuất còn có thêm một kênh tiêu thụ hàng hóa hữu hiệu. Hiệp hội bán lẻ Việt Nam cũng còn đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia xây dựng cơ chế chính sách, quy hoạch phát triển loại hình kinh tế bán lẻ từ đó đẩy mạnh sự phát triển cho ngành dịch vụ phân phối, đóng góp cho sự phát triển chung của nền kinh tế.

Dịch vụ bán buôn, bán lẻ, và đại lý hoa hồng cũng đang phát triển thành hệ thống phân phối hiện đại. Hệ thống dịch vụ phân phối hiện đại bao gồm nhiều loại hình như trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng chuyên doanh bán hàng theo phương thức tiến bộ đang có xu hướng phát triển nhanh ở khu vực đô thị. Lúc đầu, các loại hình này tập trung chủ yếu ở 2 thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, nhưng vài năm trở lại đây đã phát triển rộng ra các thành phố khác như Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ,…Khu vực đô thị chỉ còn lại 3.210 chợ, chiếm 25,1% trong tổng số chợ cả nước. Đặc biệt là sự xuất hiện của các cửa hàng tiện lợi trong những năm gần đây. Hiện tại ở Việt Nam có khoảng 2.000 cửa hàng tiện ích ở khắp nơi, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Tăng trưởng của chuỗi cửa hàng tiện lợi được kỳ vọng là 35% và đạt 8.700 tỷ đồng vào năm 2012. Với sự xuất hiện ngày càng nhiều cửa hàng tổng hợp, siêu thị, trung tâm thương mại, chợ chuyên doanh, chợ đầu mối…đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng. Công nghệ tiên tiến đã được áp dụng vào thị trường đô thị; thương mại điện tử (giao dịch, bán hàng qua mạng, tính tiền điện tử…); vận chuyển bằng phương tiện vận tải hiện đại, mang lại nhiều lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Đặc biệt, sự xuất hiện các nhà thương mại lớn chuyên bán buôn, bán lẻ trên thị trường đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ thống trong môi trường cạnh tranh đầy biến động. Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Dưới sức ép cạnh tranh quốc tế ngày càng mạnh mẽ trên thị trường nội địa đã xuất hiện nhiều hệ thống phân phối hiện đại thực hiện liên kết dọc, liên kết mạng lưới với nhiều hình thức liên kết khác nhau tuy mới được hình thành. Liên kết dọc có thể được thực hiện dưới kiểu tập đoàn hoặc liên kết dọc theo hợp đồng. Trên thị trường đã xuất hiện một số hệ thống tiêu thụ hàng hoá mang tính chất là tập đoàn do các tổng công ty của nhà nước, của Liên hiệp hợp tác xã thương mại tổ chức và điều phối. Đó là các doanh nghiệp sở hữu toàn bộ kênh phân phối, từ sản xuất, nhập khẩu đến phân phối như Tổng công ty Ximăng, Tổng công ty xăng dầu, tổng công ty thương mại Sài Gòn Co-op Mart, Citimart…Ở một dạng liên kết dọc khác, với nhiều mức độ khác nhau, đã có nhiều doanh nghiệp thuộc mọi thành phần tiến hành lựa chọn bạn hàng, ký kết hợp đồng sản xuất và tiêu thụ, đặt hàng hoặc đại lý, đặc quyền kinh tiêu…quy định trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên trong quá trình cung ứng và tiêu thụ sản phẩm.

Ví dụ: Hệ thống phân phối của Tập đoàn Co-op Mart

Co-op Mart đạt danh hiệu Nhà bán lẻ hàng đầu Việt Nam, Top 500 nhà bán lẻ châu Á – Thái Bình Dương 4 năm liền (2004-2007), và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam do Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) bình chọn trong thời gian qua. Năm 2007 đã xuất hiện 20 siêu thị tại thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh miền Nam và Nam Trung Bộ cùng với nhiều cửa hàng cao cấp, nhà hàng và hệ thống cửa hàng đồ ăn nhanh.

Các phương thức bán hàng qua mạng, điện thoại, tự chọn theo thực đơn hàng ngày, giao hàng tại nhà…được vận dụng phổ biến. Do vậy, hệ thống siêu thị Co-op Mart được các nhà sản xuất trong và ngoài nước tin tưởng lựa chọn làm nhà phân phối lớn. Đồng thời do khả năng tiếp xúc chặt chẽ với một lượng lớn khách hàng nên Co-op Mart thường xuyên nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu để phản hồi đến các nhà cung ứng, kịp thời điều chỉnh phù hợp.

1.2. Những tồn tại

Bên cạnh những kết quả nêu trên, dịch vụ bán buôn, bán lẻ và đại lý hoa hồng vẫn còn nhiều tồn tại đó là:

Hàng hoá bán lẻ chưa đa dạng, ít đổi mới về mẫu mã. Việc kìm kiếm và duy trì nguồn hàng của các doanh nghiệp còn rất hạn chế và thường ở thế bị động. Hiện nay các đơn vị trong ngành phân phối của Việt Nam thường chỉ tự mua 30% lượng hàng cung ứng, 70% còn lại là hàng ký gửi với lượng cung và giá cả do người ký gửi quy định.

Giá cả còn cao làm giảm sức cạnh tranh. Các nhà phân phối nước ngoài thường đưa ra mức giá rất ưu thế so với các nhà phân phối của Việt Nam. Chẳng hạn như giá các mặt hàng của hệ thống Metro thường thấp hơn 5-10% so với giá ngoài, hay Big C giá các mặt hàng thường thấp hơn từ vài trăm cho tới vài nghìn đồng một mặt hàng tuỳ theo giá của từng mặt hàng đó. Một số nhà bán lẻ còn chấp nhận lỗ trong một số năm đầu hoạt động. Do đó mà họ rất thu hút được khách hàng. Điều này cũng là do sự liên kết của các nhà phân phối Việt Nam với nhau và với các nhà sản xuất còn rất lỏng lẻo khiến cho chi phí lưu thông hàng hoá tăng lên và tất yếu là kéo theo giá tăng. Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Thái độ phục vụ của nhiều cửa hàng bán buôn, bán lẻ vẫn chưa chuyên nghiệp. Đó là một trong những hạn chế cơ bản của các nhà phân phối Việt Nam trong vấn đề về nguồn nhân lực.

Công tác phát triển thị trường đã được thực hiện khá tốt ở khu vực đô thị nhưng ở khu vực nông thôn đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới hải đảo công tác này chưa được thực hiện như mong muốn…Theo những nhận định của các chuyên gia tại hội thảo “Đẩy mạnh bán hàng Việt Nam trên thị trường nội địa” thì thị trường nông thôn Việt Nam chiếm tới 70% lượng tiêu thụ hàng hoá song hệ thống bán hàng của doanh nghiệp thì lại chưa phủ kín được thị trường tiềm năng này. Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn quá quan tâm vào việc xuất khẩu hàng hóa để thu ngoại tệ cũng như tập trung quá nhiều vào việc phát triển ở các khu vực đô thị mà không mấy chú trọng đến việc mở rộng hoạt động của mình ở thị trường nông thôn. Trong khi đó có một thực tế là các nhà phân phối nước ngoài cũng muốn đầu tư vào những khu vực đô thị mà họ lại có những lợi thế lớn về vốn, kinh nghiệm thì việc các doanh nghiệp phân phối trong nước cần đầu tư vào khu vực nông thôn là điều nên làm để có thể chiếm lĩnh được sân nhà. Hiện nay, các sản phẩm hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc đang tràn ngập khắp nơi, nhất là khu vực nông thôn. Các sản phẩm giá rẻ của Trung Quốc gần như đã thống trị khu vực này không phải chỉ nhờ giá mà còn nhờ vào việc luôn đuổi kịp thị hiếu người tiêu dùng.

2. Thực trạng nhượng quyền thương mại

Nhượng quyền thương mại đã được hình thành lần đầu tiên trên thế giới từ thế kỷ 19 và không ngừng mở rộng, phát huy hiệu quả trong kinh doanh. Cùng với các hình thức kinh doanh khác, nhượng quyền thương mại đã tạo nên một bức tranh sống động của nền kinh tế thế giới. Hàng năm hình thức kinh doanh này tạo ra hàng triệu công ăn việc làm, đạt doanh số trên 1000 tỷ USD và phát triển không ngừng trên thế giới. Theo báo cáo của Lãnh sự quán Hoa kỳ năm 2004, tại Mỹ có trên 90% doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức này tồn tại sau 10 năm trong khi đó có trên 82% doanh nghiệp kinh doanh độc lập bị đóng cửa cũng trong thời gian như vậy. Rõ ràng, hình thức này đã phát huy nhiều tính ưu việt so với các hình thức kinh doanh khác. Một số kết quả thực sự ấn tượng của hệ thống này mang lại trên thế giới. Doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhượng quyền trên toàn thế giới năm 2000 đạt 1.000 tỷ USD với khoảng 320.000 DN từ 75 ngành khác nhau. Nếu so sánh với GDP của Việt Nam cùng năm thì hệ thống này gấp trên 28 lần và còn có dấu hiệu vượt hơn nữa trong những năm gần đây. Tại Mỹ, hoạt động nhượng quyền chiếm trên 40% tổng mức bán lẻ, thu hút được trên 8 triệu người lao động tức là 1/7 tổng lao động ở Mỹ và có hơn 550.000 cửa hàng nhượng quyền và cứ 8 phút lại có một cửa hàng nhượng quyền mới ra đời.

Ở Châu Âu, tổng cộng có hơn 4.000 hệ thống NQTM; với 167.500 cửa hàng NQTM, doanh thu đạt khoảng 100 tỉ Euro. Tạo ra hơn 1.5 triệu việc làm. Riêng ở Anh, NQTM là một trong những hoạt động tăng trưởng nhanh nhất của nền kinh tế với khoảng 32.000 DN nhượng quyền, doanh thu mỗi năm 8,9 tỷ bảng Anh, thu  hút một lượng lao động khỏang 317.000 lao động và chiếm trên 29% thị phần bán lẻ. Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Tại Úc, tổng cửa hàng NQTM khoảng 54.000, đóng góp 12% vào GDP và tạo hàng trăm ngàn việc làm cho người lao động

Theo Hiệp hội nhượng quyền Quốc tế (IFA) thì nhượng quyền kinh doanh ở châu Á đã tạo doanh thu hơn 500 tỷ USD mỗi năm. Một số nước có hệ thống nhượng quyền đóng góp vai trò quan trọng trong sự phát triển của mình như: Tại Thái Lan, số hợp đồng nhượng quyền đang tăng rất nhanh, trong đó có tới 67% thuộc khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, với số vốn ban đầu cho mỗi hợp đồng 20.000-65.000 USD. Bộ thương mại Thái Lan công bố chương trình khuyến khích và quảng bá thương hiệu nội địa ra thị trường quốc tế qua NQTM. Các doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức này được hỗ trợ đào tạo trung và ngắn hạn về công nghệ NQTM. Do vậy, năm 2004 đạt doanh số 25 triệu Baht, năm 2005 tăng 10% và tăng rất nhanh cho các năm tiếp theo. Tại Nhật Bản, NQTM phát triển mạnh từ năm 1996, đến năm 2004 đã có 1.074 hệ thống NQTM và 220.710 cửa hàng kinh doanh theo hình thức NQTM, doanh thu từ hệ thống này vào khoảng 150 tỉ USD, tăng trưởng hàng năm 7%.

Tại Việt Nam, hình thức nhượng quyền thương mại hình thành vào những năm 90 của thế kỷ 20 và mang tính tự phát rất cao. Trung Nguyên có thể coi là nhà tiên phong tại Việt Nam áp dụng hình thức kinh doanh này bằng cách phát triển hệ thống đại lý của mình theo hình thức nhượng quyền. Cũng như các nước khác, hình thức này cũng đã phát huy tính hiệu quả của nó trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đến nay theo Hiệp hội Nhượng quyền Quốc tế, Việt Nam có trên 70 hệ thống kinh doanh nhượng quyền trong đó phần lớn là các thương hiệu nước ngoài và ngày càng phát triển.

Việt Nam trong những năm gần đây có những điều kiện rất thuận lợi cho hoạt động kinh doanh với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 8%, một quốc gia có dân số trên 86 triệu người, tình hình kinh tế ổn định, nhà nước khuyến khích đầu tư, sức mua của thị trường được đánh giá là rất cao trên thế giới.

Hơn nữa, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, mở ra nhiều cơ hội cho các nhà kinh doanh cả trong và ngoài nước. Trong bối cảnh như vậy, rõ ràng việc quyết định lựa chọn hình thức kinh doanh nào đảm bảo cho nhà đầu tư có được hiệu quả tốt nhất về sử dụng vốn, phát triển nhanh thị trường, mở rộng nhanh thị phần và kiểm soát được hệ thống nhằm tạo được tiếng nói đối với thị trường này là điều rất được quan tâm.

Rõ ràng, hình thức nhượng quyền thương mại sẽ là một sự lựa chọn cho cả nhà nhượng quyền và nhà nhận quyền và hình thức kinh doanh này sẽ phát triển mạnh tại Việt Nam trong những năm tới.

Hiện nay tại Việt Nam cũng đã có rất nhiều thương hiệu nổi tiếng tiến hành kinh doanh theo phương thức này. Thương hiệu Phở 24 đã có 35 cửa hàng sau 3 năm nhượng quyền. Năm 2008 có khoảng gần 100 cửa hàng tại Việt Nam. Phở 24 đã xuất hiện tại Philippines, Indonesia và chuẩn bị ra mắt tại Canada, Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc. Mức giá nhượng quyền thương hiệu trong nước là 7.000 USD và ở nước ngoài là 12.000 USD, chưa kể phí vận hành 3% trên tổng doanh thu của từng cửa hàng đã chuyển nhượng. Foci đã áp dụng nhượng quyền từ năm 1998 với 35 đối tác nhận nhượng quyền và đã mở 48 cửa hàng trên cả nước. Đến năm 2008, Foci đã có hơn 60 cửa hàng. Công ty Kinh Đô đã mở được 30 cửa hàng bánh Bakery, theo kế hoạch sẽ có 100 cửa hàng và tiến đến mở rộng hình thức kinh doanh thành tiệm cà phê, bánh ngọt và thức ăn nhanh Kinh Đô. Trà sữa trân châu Tapio đã mở được 10 cửa hàng và đang cho ra mô hình mới là Grand Tapio – bán kèm thêm thức ăn nhanh.

Theo phân tích của chương trình dự báo bán lẻ tại TP.HCM, cơ hội kinh doanh NQTM ở Việt Nam rất lớn do 3 yếu tố: kinh tế vẫn đang trong giai đoạn tăng trưởng tốt, các trung tâm mua sắm, đô thị, khu thương mại dịch vụ…còn phân bố rải rác, thích hợp để các thương hiệu mạnh phát triển chuỗi – hệ thống bán hàng và tâm lý kinh doanh thích làm chủ của người Việt Nam trong điều kiện vốn và kinh nghiệm đều có giới hạn thì kinh doanh nhượng quyền là phương pháp thích hợp nhất. Thực tế cho thấy, ở Việt Nam đã hình thành một số hệ thống nhượng quyền và rất thành công. Nhưng so sánh với sự phát triển của hình thức này với tiềm lực phát triển của đất nước là rất khiêm tốn. Nếu so sánh với tốc độ phát triển cùng hình thức với các nước trong khu vực vẫn còn nhiều khập khiểng nhưng nhìn chung là chưa xứng tầm. Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Ở Việt Nam, tuy chưa có một thống kê chính thức nào về việc áp dụng hình thức nhượng quyền trong lĩnh vực bán lẻ, nhưng có thể nhận thấy rằng cơ cấu bán lẻ đang có sự thay đổi lớn từ kênh bán lẻ truyền thống như chợ, các kênh phân phối của những nhà sản xuất sang kênh bán lẻ hiện đại là các siêu thị, trung tâm mua sắm, cửa hàng thuận tiện, cửa hàng chuyên doanh.

Do đó hàng loạt tên tuổi nước ngoài trong lĩnh vực nhượng quyền bán lẻ đã và đang chuẩn bị có mặt tại Việt Nam, cũng như một số thương hiệu bán lẻ của các doanh nghiệp Việt Nam cũng chuẩn bị bước vào hình thức nhượng quyền.

Đã có một vài thương hiệu bán lẻ Việt Nam dự định mở rộng hệ thống của mình bằng cách nhượng quyền như Coop-mart, G7 Mart, V-24h. Tuy nhiên, dường như các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển hệ thống bán lẻ của mình. Đầu tư các siêu thị lớn thì gặp khó khăn về vốn cũng như khó mà cạnh tranh nổi về tài chính, kinh nghiệm…với các đại gia siêu thị nước ngoài, ngoại trừ Coop-mart là khá thành công.

Còn mở chuỗi cửa hàng bán lẻ thì gặp phải những khó khăn nhất định do tập quán tiêu dùng của người Việt Nam, các yếu tố về nguồn hàng, địa điểm thuê mướn hay đặc điểm hệ thống phân phối hay nguồn nhân lực thiếu và yếu. Có thể nói cho đến lúc này, mô hình nhượng quyền đối với hệ thống cửa hàng tiện lợi tại Việt Nam là chưa hữu hiệu.

III. Thực trạng về mở cửa dịch vụ phân phối ở nước ta trong thời gian qua và những tác động cụ thể. Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

1. Nhận xét chung về tình hình thực hiện cam kết mở cửa dịch vụ phân phối.

Không phải đến khi chính thức là thành viên chính thức của WTO thì chúng ta mới mở cửa dịch vụ phân phối, mà trên thực tế là từ đầu những năm 2000, trên thị trường dịch vụ phân phối ở Việt nam đã bắt đầu xuất hiện những nhà phân phối bán lẻ nước ngoài.

Cho đến tháng 3 năm 2005, trước khi gia nhập WTO, nước ta đã có cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối cho hai nước là Mỹ (theo hiệp định BTA) và Nhật Bản (theo Hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt – Nhật).

Phạm vi cam kết trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (có hiệu lực từ ngày 10/12/2001) về DVPP bao gồm 4 phân ngành chính của DVPP là bán buôn, bán lẻ, đại lý và nhượng quyền thương mại. Trong BTA, Việt Nam không cam kết về việc pháp nhân Mỹ được mở đại lý phân phối, dịch vụ nhượng quyền thương mại thực hiện cam kết theo tiến trình xây dựng pháp luật và quy định về nhượng quyền thương mại trong nước.

Cam kết về phương thức: Không cam kết Phương thức 1 (đồng nghĩa với viẹc kiểm soát phân phối theo đơn đặt hàng qua mạng) và phương thức 4 (không cam kết về việc công dân Mỹ vào Việt Nam để phân phối hàng độc lập). Không hạn chế Phương thức 2. Phương thức 3 có 3 mốc quan trọng: 10/12/2004 – Cho phép thành lập liên doanh với vốn góp không vượt quá 49%; 10/12/2007 – Cho phép thành lập liên doanh với vốn góp trên 49% nhưng chưa được 100%; 10/12/2008 – Cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Việc mở thêm điểm bán lẻ đầu tiên sẽ được xem xét cấp phép trên cơ sở từng trường hợp.

Đến thời điểm này, có thể nói mức độ cam kết về DVPP cho cho các nhà đầu tư Nhật Bản trong Hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt – Nhật của nước ta là cao nhất, thậm chí còn cao hơn cam kết trong BTA. Ba mức vốn cam kết là 49%, hơn 49% và 100% sẽ được cho phép vào thời điểm Việt Nam cho phép bất kỳ nhà đầu tư của nước thứ 3 nào hoặc thời điểm cam kết của Việt Nam với bất kỳ nước thứ 3 nào có hiệu lực, tuỳ thời điểm nào diễn ra trước. Điều này đồng nghĩa với việc các nhà phân phối Nhật hiện nay được phép vào Việt Nam với sự đối xử tương đương như với các Tập đoàn phân phối Pháp, Đức, Malaysia đã vào Việt Nam. Danh mục loại trừ bao gồm dầu mỏ, sản phẩm dầu mỏ, khí đốt, phân bón, thuốc trừ sâu, bia, rượu, thuốc lá điếu và xì gà, dược phẩm, kim loại và đá quý, chất nổ, gạo và bột mỳ (tổng cộng chỉ có 13 mặt hàng thấp hơn số lượng 18 mặt hàng loại trừ hoàn toàn trong BTA). Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Như vậy, với các cam kết quốc tế, Việt Nam đã từng bước mở cửa thị trường DVPP cho các nước, trước hết là Mỹ và Nhật Bản, sau đó là các thành viên khác của WTO (sau khi gia nhập).

Mặc dù vào thời điểm Việt Nam chưa trở thành thành viên WTO, nhưng bức tranh toàn cảnh về hệ thống phân phối trong nước đã rất sôi động, nổi bật là sự xuất hiện ngày càng nhiều của các nhà phân phối nước ngoài.

Từ sau năm 2000 đã xuất hiện một làn sóng các nhà phân phối nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Bởi Việt Nam là một thị trường năng động, dân số đông và trẻ hứa hẹn nhu cầu tiêu dùng lớn. Và cuộc đua kiểm soát kênh phân phối giữa các nhà phân phối trong và ngoài nước đã bắt đầu nhen nhóm và đã nổi lên trên hai lĩnh vực là dược phẩm và hàng tiêu dùng.

Về hàng tiêu dùng, trước năm 2007, Bộ kế hoạch và đầu tư đã cấp phép cho ba Tập đoàn kinh doanh siêu thị nước ngoài là Metro Cash & Carry (Đức), Big C (Pháp) (Big Customer), Parkson (tập đoàn Lion Group – Malaysia). Metro mới được cấp phép kinh doanh bán buôn, Big C đã được cấp phép bán lẻ tại 4 siêu thị và Big C Thăng Long trở thành siêu thị bán lẻ lớn nhất Việt Nam với tổng số vốn đầu tư 12 triệu USD. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu của người dân sử dụng các loại hình phân phối hiện đại văn minh ở các thành phố lớn có xu hướng tăng lên, dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu các loại hình phân phối và các nhà phân phối nước ngoài đã nhanh chóng nắm bắt và đáp ứng được xu thế này. Người dân đã chán phong cách bán hàng nhỏ lẻ manh mún, chất lượng giá cả ổn định và có nhiều hình thức khuyến mãi. Số lượng các điểm phân phối nhỏ lẻ sẽ giảm dần và được thay thế bằng các hình thức phân phối mới như siêu thị, trung tâm thương mại. Một câu hỏi được đặt ra về sự tồn tại của các chợ, cửa hàng quy mô nhỏ bán hàng tiêu dùng nội địa. Tuy nhiên, trong vòng 10 năm tới, hình thức phân phối nhỏ lẻ vẫn giữ được vai trò của mình ngay cả trong các thành phố lớn do tập quán tiêu dùng của người Việt Nam và vị trí nằm sát khu vực có nhiều dân cư sinh sống có thể bán hàng trực tiếp cho các hộ tiêu dùng.

Phân phối qua mạng cũng đang thu hút được sự quan tâm vì những tiện ích đáng kể của nó. Hiện nay ở Việt Nam đang có một làn sóng phân phối trực tuyến, có vô số trang web tiếng Việt khác nhau thực hiện các giao dịch trên mạng.

Nhượng quyền thương mại (franchising) cũng có nhiều tiềm năng phát triển với hai nhà tiên phong là Trung Nguyên (hệ thống G7 Mart) và Kinh Đô.

Cùng với sự xuất hiện của các nhà phân phối nước ngoài là những loại hình phân phối hiện đại, một thế mạnh của họ đã gây ra cho các doanh nghiệp trong nước nhiều khó khăn. Gần đây, tuy các nhà phân phối Việt Nam có nhiều động thái củng cố lại hệ thống của mình để chống lại áp lực cạnh tranh từ các nhà phân phối nước ngoài, nhưng đây có thể là một cuộc đua không cân sức vì các tập đoàn phân phối nước ngoài đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thị trường các nước phát triển, nguồn vốn lớn; họ lại tiến hành các hoạt động nghiên cứu thị trường, tổ chức kinh doanh, thậm chí vận động hành lang rất bài bản và đưa ra giá bán buôn thấp hơn nhiều so với các nhà bán buôn trong nước, các dịch vụ bán hàng thuận tiện và các chương trình khuyến mại hấp dẫn. Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Việc thu hút số lượng lớn các khách hàng của các siêu thị và trung tâm thương mại có thể dẫn tới tình trạng phá sản dây chuyền của hàng triệu hộ cá thể buôn bán nhỏ lẻ, đe doạ đời sống của người dân. Sự mở rộng của hệ thống các siêu thị có thể dẫn tới các vấn đề về môi trường vì siêu thị là nơi tập trung các phương tiện đi lại của người dân nhất là vào các dịp cuối tuần. Sự phụ thuộc vào các Tập đoàn phân phối nước ngoài cũng có thể sẽ phải trả một giá đắt vì nó đe doạ cuộc sống của người nông dân và các hộ buôn bán nhỏ. Các siêu thị thường đưa ra các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và chất lượng rất cao đối với người nông dân, nếu đáp ứng thì họ sẽ mua với khối lượng khổng lồ. Để đáp ứng được yêu cầu rất cao của các siêu thị, người nông dân phải đầu tư máy móc thiết bị, giống, phương pháp canh tác, nhưng họ lại không có vốn và phải đi vay ngân hàng, nếu các nhà phân phối nước ngoài không mua hàng, họ sẽ bị rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất. Điều này không dễ dàng gì so với trước đó khi họ chỉ phải chuyển tất cả các nông sản làm ra với các hình thức khác nhau tới các chợ. Đối với hàng gia dụng và trang trí là mặt hàng có thế mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam, các tập đoàn phân phối nước ngoài áp dụng mức giá cao trong các đơn đặt hàng các sản phẩm gia công đồng thời cũng đặt ra các quy định ngặt nghèo về thời hạn giao hàng, sử dụng lao động, nguồn nguyên vật liệu, đổi mới công nghệ. Có đối tác lo đầu ra, các doanh nghiệp nhỏ chỉ phải tập trung sản xuất, không phải lo các khâu bao bì, thiết kế, marketing, xây dựng hệ thống phân phối và tạo dựng thương hiệu nên họ rất ham. Lúc đầu, các nhà sản xuất ăn theo còn ăn nên làm ra, nhưng sau đó, phía nước ngoài càng giảm giá đặt hàng, các nhà sản xuất trong nước bị lỗ nặng. Tiền vốn đổi mới công nghệ theo yêu cầu của nhà phân phối nước ngoài lại là vay ngân hàng, không bán được hàng nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản. Với vốn đầu tư lớn, mặt bằng kinh doanh rộng, hệ thống quản lý bán hàng, lưu kho, vận chuyển có tính ưu việt, các khâu logistics được thực hiện với độ chuyên nghiệp cao hơn hẳn các doanh nghiệp trong nước; các tập đoàn phân phối nước ngoài sẽ dần khống chế hệ thống phân phối nội địa.

Tuy nhiên, việc tham gia của các tập đoàn phân phối quốc tế lớn trên thị trường Việt Nam cũng mang lại một số lợi ích. Sự xuất hiện của các đại siêu thị góp phần vào việc giải quyết tình trạng lao động trình độ trung bình dư thừa ở các thành phố lớn. Đặc biệt là ngành bán lẻ là một ngành tuyển dụng rất nhiều lao động nên có thể giảm bớt gánh nặng về công ăn việc làm cho chính quyền địa phương. Người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi từ các chương trình khuyến mãi, được sử dụng hàng hoá có chất lượng ổn định, đảm bảo vệ sinh an toàn, các nhà phân phối trong nước có thể học hỏi được các kinh nghiệm quản lý điều hành tiên tiến từ nước ngoài.

Ngành phân phối là ngành rất nhạy cảm trong nền kinh tế nước ta vì nó ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu người bán hàng và hàng chục triệu người tiêu dùng, đặc biệt là hệ thống phân phối của một số mặt hàng thiết yếu. Ngay cả một số quốc gia có trình độ phát triển kinh tế cao như Nhật Bản, Ấn Độ cũng có xu hướng bảo hộ ngành phân phối của mình rất chặt chẽ. Ví dụ, hệ thống phân phối ở Nhật Bản được tổ chức theo kiểu khép kín giữa nhà sản xuất và các nhà bán buôn, bán lẻ và có xu hướng bài ngoại, hàng hoá Nhật Bản xuất hiện khắp nơi trên thế giới nên hàng của các nước khác rất khó khăn để có thể len chân vào hệ thống phân phối của Nhật Bản. Mô hình quản lý hệ thống phân phối của các nước này có những ưu điểm mà ta có thể học tập vận dụng một cách có chọn lọc.

2. Thực trạng mở cửa dịch vụ phân phối kể từ khi gia nhập WTO Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

2.1. Đã tích cực phổ biến về các cam kết của Việt Nam trong WTO.

Kể từ khi thời điểm chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, Việt Nam đã nghiêm túc từng bước thực hiện các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ, trong đó có dịch vụ phân phối.

Trong từng ngành, phân ngành cụ thể, các văn bản pháp luật liên quan đã được hầu hết các bộ, ngành đã ban hành sửa đổi để thực thi các cam kết trong phạm vi các phân ngành dịch vụ do chính các bộ, ngành phụ trách, đặc biệt trong các phân ngành quan trọng như ngân hàng, chứng khoán, phân phối, giao thông vận tải…

Nhìn chung, môi trường kinh doanh đã có những cải thiện với việc ban hành các văn bản pháp luật nhằm thực thi theo các cam kết khi gia nhập. Việt nam đã tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của WTO, từ đó góp phần tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong lĩnh vực DVPP bán lẻ.

Việc phổ biến nội dung cam kết đã được thực hiện trên diện rộng, tới nhiều đối tượng, bao gồm cả các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp, từ đó đã nâng cao nhận thức về cam kết trong từng ngành, từng phân ngành dịch vụ, giúp các doanh nghiệp chuẩn bị tốt hơn trong quá trình Việt Nam thực thi các cam kết này.

Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, nhìn chung việc thực thi các cam kết gia nhập WTO còn bộc lộ một số hạn chế như: chưa xử lý đầy đủ mối quan hệ giữa cam kết dịch vụ với khuôn khổ pháp lý hiện hành, giữa cam kết và nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế, nhận thức về các cam kết trong một vài lĩnh vực dịch vụ còn chưa đầy đủ, trong đó nhận thức về tầm quan trọng của phân ngành DVPP cũng còn một số hạn chế.

2.2. Đã từng bước mở cửa 4 phân ngành dịch vụ phân phối.

Trong lĩnh vực bán lẻ, hai năm sau khi Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thực hiện từng bước các cam kết mở cửa, hàng loạt tập đoàn bán lẻ hùng mạnh các nước trong khu vực và trên thế giới đã để ý tới Việt Nam và có một số tập đoàn đã tiến hành đầu tư vào Việt Nam. Thương hiệu nước ngoài đang tạo ra sức ép lớn đối với các doanh nghiệp nội địa cùng ngành. Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Nếu như năm 2006, sự xâm nhập của các tập đoàn bán lẻ nước ngoài vào thị trường nội địa còn ở mức thăm dò thì đến năm 2007, sự khởi động của họ khá rõ ràng. Đầu tháng 10 năm 2007, Tập đoàn bán lẻ Dairy Farm (Hồng Kông) đã khai trương hệ thống siêu thị với thương hiệu Wellcome tại thành phố Hồ Chí Minh qua việc “đổi tên” chuỗi siêu thị Citimart. Với mục tiêu cung cấp cho người tiêu dùng Việt Nam những sản phẩm trong nước với dịch vụ theo tiêu chuẩn quốc tế, siêu thị Wellcome đã giới thiệu hơn 10.000 mặt hàng, trong đó 90% là sản xuất trong nước.

Ngày 18/12/2008, nhà bán lẻ hàng đầu của Hàn Quốc với thương hiệu Lotte Mart đã khai trương một đại siêu thị ở quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. Tại khu công nghiệp Việt Nam – Singapore (Bình Dương), tập đoàn Guoco Group (Singapore) cũng được cấp phép xây dựng trung tâm mua sắm với quy mô lớn. “Đại gia” siêu thị bán lẻ của Mỹ, thương hiệu Wal-mart cũng đang xúc tiến việc mở văn phòng đại diện để tìm hiểu thị trường trước khi chính thức bước vào hoạt động…

Bên ngoài đó các tập đoàn bán lẻ nước ngoài cũng đang ra sức mở rộng quy mô hoạt động của mình.

Ví dụ như sự phát triển của Metro Cash & Carry tại Việt Nam. Metro Cash & Carry là tập đoàn thương mại lớn thứ ba ở châu Âu và lớn thứ tư trên thế giới; Metro Cash & Carry Việt Nam là một trong những tập đoàn thương mại lớn nhất tại Việt Nam, với tổng số vốn đầu tư lên đến 120 triệu đô la Mỹ, công ty sẽ thành lập 12 trung tâm bán buôn tại Việt Nam và sử dụng hơn 3.900 nhân viên chính thức trên toàn quốc. Hiện nay đã có 8 trung tâm bán buôn Cash & Carry đứng đầu trong lĩnh vực bán buôn ở nước ta. Metro Cash & Carry Việt Nam đang có dự định mở thêm 4 trung tâm tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang và Đồng Nai, đây là những kiểu mẫu cho loại hình hệ thống phân phối liên kết dọc do thành viên là nhà bán buôn có quy mô lớn và có ảnh hưởng lớn quản lý. Nhờ phương thức kinh doanh mới đầy năng động và phương pháp quản lý hiện đại nên mặc dù ra đời muộn (năm 1964), tập đoàn Metro đã nhanh chóng phát triển với gần 500 trung tâm ở 26 quốc gia trên thế giới như: Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam…và chiến lược dài của tập đoàn này là nhằm đầu tư vào Châu Á – Thái Bình Dương. Bên cạnh hệ thống siêu thị Cash & Carry, tập đoàn Metro còn tiến hành năm dạng khác bao gồm: các cửa hàng bách hoá lớn, cửa hàng tổng hợp, các đại lý và các cửa hàng điện tử. Hiện nay, Metro là đối thủ cạnh tranh nổi bật và mạnh nhất về bán buôn, và về một mức độ đáng kể là bán lẻ trước các nhà phân phối trong nước. Đồng thời, đây cũng là một hệ thống phân phối hàng hoá triển vọng của Việt Nam ra thị trường thế giới.

Ngoài Metro, hệ thống siêu thị Big C đang chuẩn bị xây dựng thêm 4 siêu thị mới tại Hà Nội, Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng để làm tròn chuỗi 10 siêu thị tại Việt Nam, Tập đoàn Parkson (Malaysia) vừa mới khai trương thêm hai trung tâm mua sắm nữa tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh…đang tạo ra nhưng áp lực lớn hơn cho các doanh nghiệp trong nước kinh doanh trong lĩnh vực siêu thị như Hapro, Fivimart, Intimex… Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Theo lộ trình hội nhập WTO mà Việt Nam đã cam kết, từ ngày 1/1/ 2009 vừa qua, nhà đầu tư nước ngoài đã được phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài để kinh doanh trong lĩnh vực phân phối bán lẻ thay vì phải xin phép hoặc liên doanh như trước đây. Đây là thời điểm được đánh giá là cuộc cạnh tranh khốc liệt trong lĩnh vực phân phối đặc biệt là về bán lẻ sẽ diễn ra và sẽ có những tác động xấu đối với các nhà phân phối trong nước. Tuy nhiên, thực tế là do những khó khăn từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đang diễn ra khiến cho các nhà phân phối lớn của nước ngoài đang có ý định thâm nhập vào thị trường phân phối của Việt Nam cũng phải cân nhắc lại. Vì thế mà tình hình đầu tư vào lĩnh vực phân phối đặc biệt là bán lẻ kể từ thời điểm ngày 1/1/2009 cho tới nay vẫn trầm lắng không như những dự đoán trước đó cho rằng các “đại gia” bán lẻ đang xếp hàng để “đổ bộ” vào Việt Nam. Chứng minh cho điều này, bà Hoàng Thị Tuyết Hoa, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Công Thương cho biết, suốt hai năm qua, kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO chưa có thêm doanh nghiệp phân phối nước ngoài nào đăng ký mở cơ sở bán lẻ tại Việt Nam, chủ yếu là đơn xin mở thêm cơ sở bán lẻ của những tên tuổi cũ như Metro, Big C. Ngay cả đại siêu thị Lotte Mart mới khai trương cũng đã đăng ký từ năm 1996. Song điều này cũng không có nghĩa là các doanh nghiệp trong nước không phải lo lắng mà họ cần phải nhận thức được rằng đây là cơ hội để đổi mới mình, nâng cao năng lực cạnh tranh để sẵn sàng đối đầu với các đối thủ nước ngoài khi họ thực sự bước chân vào Việt Nam thay vì đứng nhìn họ dần chiếm lĩnh thị trường. Vì vậy, các nhà bán lẻ Việt Nam đã toan tính nhiều phương án nhằm giữ vững thị phần.

Để lớn mạnh hơn về tài chính, các doanh nghiệp Việt Nam đã tận dụng sức mạnh cộng đồng, theo đó, hiện 4 nhà bán lẻ hàng đầu của Việt Nam là Saigon Coop, Satra (TP. Hồ Chí Minh), Tổng công ty thương mại Hà Nội và Công ty Cổ phần Tập đoàn Phú Thái (Hà Nội) đã liên kết hình thành tập đoàn bán lẻ VDA. Tập đoàn này sẽ xây dựng các tổng kho hàng tại các khu vực trong cả nước làm nơi tiếp hàng cho mạng lưới phân phối của doanh nghiệp, làm nơi thu mua hàng hoá phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu và tiến hành xây dựng các đại siêu thị…

Không chỉ cần sự chủ động đối đầu của các doanh nghiệp như thế mà về phía chính phủ cũng cần tính toán kỹ càng và cân nhắc vị trí của ngành thương mại quốc gia. Nếu xem đây là ngành quan trọng thì Chính phủ cần có những chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho ngành phát triển, đây không chỉ chuyện đất đai, vốn liếng mà kể cả chuyện nguồn nhân lực cho ngành thương mại..

Một khi đã tạo được thương hiệu đủ mạnh, nhà bán lẻ hoàn toàn có thể dùng chính thương hiệu của mình để mở rộng sang cung ứng các sản phẩm. Người tiêu dùng khi đó sẽ hoàn toàn yên tâm với các sản phẩm mang thương hiệu của trung tâm mua sắm mà mình tin tưởng.

Chẳng hạn Co-op Mart hoàn toàn có thể hợp tác với các nhà cung ứng để yêu cầu cung cấp sản phẩm cốt lõi với chất lượng đảm bảo để đóng gói bằng chính bao bì mang thương hiệu Co-op Mart (trứng gà, gạo, thịt, nước tương…). Xu hướng nhãn hiệu riêng phát triển khá mạnh trên thế giới, đặc biệt là của các đại gia bán lẻ châu Âu.

3. Đánh giá những tác động do việc mở cửa dịch vụ phân phối Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

3.1.  Những tác động tích cực

Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO đã tác động tích cực và mang lại nhiều cơ hội đối với lĩnh vực phân phối.

Thứ nhất, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực cho sự phát triển thị trường phân phối của Việt Nam:

Sự xuất hiện của các “đại gia” bán lẻ quốc tế làm thay đổi diện mạo của thị trường bán lẻ Việt Nam và tạo nên một cuộc đua tranh quyết liệt trong sự kiểm soát kênh phân phối giữa các nhà phân phối trong và ngoài nước.

Những siêu thị hiện đại không những làm cho thị trường bán lẻ Việt Nam thêm sôi động mà còn giúp người tiêu dùng có cơ hội tiếp cận với nhiều loại hình phân phối mới. Phân phối qua mạng hay thương mại điện tử đang phát triển mạnh mẽ với vô số trang web tiếng Việt thực hiện các giao dịch trên mạng. Bên cạnh đó, nhượng quyền thương mại cũng có nhiều tiềm năng phát triển. Trung Nguyên và Kinh Đô là hai nhà tiên phong trong lĩnh vực này.

Sự xuất hiện của các tập đoàn phân phối nước ngoài cũng đã thúc đẩy sự phát triển của thị trường bán lẻ trong nước:

  • Trước những thay đổi mới trên thị trường bán lẻ, Bộ Công Thương đã lên kế hoạch củng cố, phát triển hệ thống phân phối nội địa. Bộ Công Thương sẽ tập trung hình thành và phát triển khoảng 15-20 nhà phân phối hàng hoá lớn, tạo ra một hệ thống phân phối mạnh, một số kênh lưu thông hàng hoá ổn định, làm nòng cốt cho việc bình ổn và phát triển thị trường nội địa, góp phần tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy xuất khẩu.
  • Tại các thành phố lớn, nhất là thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, Bộ Công thương sẽ chú trọng xây dựng và phát triển các trung tâm bán buôn nông sản, thực phẩm với những dịch vụ bổ trợ kèm theo như môi giới, tư vấn, cung cấp thông tin, sơ chế, đóng gói, bảo quản, xếp dỡ và vận chuyển hàng hoá, cung cấp vật tư sản xuất, xử lý chất thải.
  • Cùng với sự hỗ trợ của Bộ Công Thương, các doanh nghiệp phân phối nội địa cũng đã chuẩn bị đương đầu với những nhà bán lẻ quốc tế. Tổng công ty thương mại Sài Gòn đã đề ra chương trình phát triển hệ thống phân phối của mình bằng cách nâng cấp cá cơ sở hiện có, xây dựng mới các siêu thị, trung tâm thương mại và chợ đầu mối lớn. Công ty xuất nhập khẩu Intimex, doanh nghiệp phân phối chủ lực của Bộ Công Thương cũng đề ra chiến lược phát triển 10 năm với tốc độ tăng trưởng bình quân 30%/năm, trong đó sẽ xây dựng hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại 3 cấp gồm: Hệ thống cửa hàng tự chọn phục vụ cho từng khu vực dân cư trong bán kính hẹp với nhu cầu mua sắm nhanh các mặt hàng thiết yếu; Hệ thống siêu thị bán lẻ phục vụ đông đảo đối tượng người tiêu dùng với các mặt hàng trung bình thiết yếu trong cuộc sống thường nhật; hệ thống trung tâm thương mại phục vụ cho các đối tượng có khả năng mua sắm hàng cao cấp, khách du lịch, gắn liền với các dịch vụ giải trí, làm đẹp… Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Thứ hai, thúc đẩy hình thành hệ thống phân phối hiện đại, văn minh phục vụ tốt cho sự sản xuất và đời sống dân cư, khắc phục các yếu điểm của hệ thống phân phối đang có (nhỏ lẻ, cục bộ, lạc hậu, chi phí cao, thiếu trung thực trong mua, bán hàng…), điều này mang lại cơ hội cho các nhà phân phối mở rộng kinh doanh trong nước. Các nhà đầu tư nước ngoài, các tổ chức quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam, khách du lịch nước ngoài cũng như các doanh nghiệp và tổ chức trong nước có nhu cầu lớn về dịch vụ có chất lượng từ các nhà phân phối của Việt Nam. Trong tương lai, các đối tượng tiêu dùng dịch vụ, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài, khách du lịch sẽ tiếp tục tăng lên do các yếu tố như Việt Nam đã là thành viên của WTO, có vị trí chiến lược, nền kinh tế tăng trưởng nhanh, ổn định kinh tế vĩ mô, các khu vực kinh doanh năng động, thị trường nội địa đang mở rộng…

Thứ ba, tạo thuận lợi và khuyến khích các nhà phân phối Việt Nam mở rộng hoạt động của mình ra nước ngoài với sự hội tụ của các yếu tố như: Việt Nam đã là thành viên của WTO, một số cơ quan du lịch, công ty thương mại và ngân hàng thương mại đã thành lập văn phòng trên các thị trường trọng điểm quốc tế; hàng ngàn người Việt Nam đang làm việc cho người nước ngoài trong các ngành du lịch và nhiều người khác cũng sẽ đi làm việc thông qua những hợp đồng được ký giữa Việt Nam và các công ty nước ngoài ở nhiều nước châu Á, châu Âu và châu Phi; các công ty và các tổ chức nước ngoài lựa chọn Việt Nam làm trụ sở cho các hoạt động của họ ở tiểu vùng hoặc có những mối liên kết chặt chẽ giữa các hoạt động của họ ở Việt Nam với các khu vực khác làm xuất hiện nhu cầu mua dịch vụ từ các nhà cung cấp của Việt Nam để tiêu dùng ở các nước láng giềng như Lào, Campuchia và các khu vực khác của tiểu vùng sông Mêkông và Đông Nam Á; xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam với các nước đang tăng lên và các dự án mới do các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ở nước ngoài cũng tạo nên động lực cho cung cấp dịch vụ của Việt Nam ra nước ngoài.

Thứ tư, khuyến khích cải cách thể chế, cải cách hành chính, tạo lập môi trường kinh doanh phân phối thông thoáng, thân thiện thị trường, thúc đẩy cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động ngành phân phối, góp phần phát triển sản xuất, nâng cao đời sống và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người Việt Nam. Các cải tổ về thể chế và hành chính phù hợp với những cam kết quốc tế tạo triển vọng dỡ bỏ rào cản đối với hầu hết các dịch vụ, hoạt động kinh doanh sẽ có một sân chơi bình đẳng cả trên thị trường quốc tế và trong nước. Những bước cải tiến mới này thực sự có tầm quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân. Hơn thế, ở tầm trung hạn và dài hạn, các nhà cung cấp dịch vụ hoàn toàn có thể nghĩ đến việc đạt được giá trị tăng gia cao hơn, sử dụng công nghệ tốt hơn và nâng cao sức cạnh tranh của mình.

Thứ năm, khuyến khích phát triển phong cách tiêu dùng văn minh, hiện đại ở Việt Nam. Tập quán “tiện đâu mua đấy” đang dần nhường bước cho lối tiêu dùng văn minh hơn, người dân có thể mua hàng trong môi trường cơ sở hạ tầng hiện đại, hàng hoá đa dạng, chất lượng giá cả ổn định và có nhiều hình thức khuyến mãi, chăm sóc khách hàng. Đặc biệt, ở các thành phố và các đô thị lớn, nơi mà lối sống công nghiệp hoá, đô thị hoá du nhập mạnh mẽ và nhanh chóng hơn, cùng với mức sống ngày càng được cải thiện và quỹ thời gian hạn chế, người tiêu dùng sẽ nhanh chóng tới các siêu thị, trung tâm mua sắm, nơi có điều kiện hạ tầng cơ sở tốt, tiện nghi, chủng loại hàng hoá phong phú đa dạng có thể phục vụ cho nhu cầu mua sắm dưới “một mái nhà”, chất lượng đảm bảo theo tiêu chuẩn đăng ký và không mất thời gian vì mặc cả…

3.2. Những tác động tiêu cực Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Thứ nhất, nguy cơ thị trường Việt Nam bị thao túng bởi các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia, thông qua các cam kết về mở cửa thị trường, Việt Nam bắt buộc phải mở cửa thị trường bán lẻ. Vào WTO, Việt Nam có thể hưởng lợi trong thu hút nguồn vốn FDI nhưng lại phải đối mặt với khả năng các tập đoàn bán lẻ nước ngoài thao túng thị trường nội địa nếu xét đến tiềm lực của các nhà bán lẻ quốc tế:

Vốn, phương thức quản lý tiên tiến và kinh nghiệm phát triển hàng trăm năm.

Sự hiện diện của các nhà bán lẻ chuyên nghiệp nước ngoài sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh rất lớn đối với các nhà bán lẻ nội địa, đặc biệt các doanh nghiệp quy mô nhỏ và với hơn một triệu hộ kinh doanh cá thể.

Trên thực tế, các công ty phân phối Việt Nam đều có quy mô nhỏ và rất nhỏ, mới được thành lập và yếu về khả năng cạnh tranh, đặc biệt là trong khâu quản lý chất lượng. Các công ty này thiếu các nguồn lực quan trọng cho phát triển, đặc biệt là nguồn nhân lực có kỹ năng cao, vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý, kỹ năng tiếp thị, khả năng ngoại ngữ, thông tin và tri thức thị trường. Những yếu kém này thực sự là thách thức đối với các nhà phân phối Việt Nam khi cố gắng vượt qua tình trạng hiện tại để phát triển lên và đạt được các tiêu chí toàn cầu trong cạnh tranh quốc tế.

Thứ hai, thách thức đối với công tác quản lý Nhà nước nhằm đảm bảo phát triển bền vững thị trường Việt Nam, duy trì các cân đối lớn của nền kinh tế và duy trì cân bằng thương mại cho mọi khu vực và lực lượng thị trường.

Những yêu cầu đổi mới cải cách thể chế, cải cách hành chính khi Việt Nam gia nhập WTO là rất cần thiết. Để có thể quản lý điều hành tốt nền kinh tế tận dụng tốt cơ hội và vượt qua thách thức khi gia nhập WTO đòi hỏi năng lực thể chế và chuyên môn, đặc biệt là năng lực quản trị quốc gia phải đủ tầm. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, tình hình còn rất nan giải. Các nhà phân phối Việt Nam hoạt động trong một môi trường chưa thật sự thuận lợi cho phát triển kinh doanh. Hệ thống pháp lý ở Việt Nam nhìn chung vẫn thiếu sự minh bạch, tính trách nhiệm, sự nhất quán và tính dự báo…Những điều này đã làm tăng thêm chi phí trong hoạt động kinh doanh. Hệ thống hành chính khá phức tạp, gây phiền hà và tốn thời gian. Cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo và dịch vụ về cơ sở hạ tầng đắt đỏ mà chất lượng lại thấp. Các hệ thống hỗ trợ kinh doanh ở Việt Nam không tương xứng và còn yếu về năng lực trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vẫn còn có sự phân biệt đối xử đối với khu vực tư nhân trong nhiều lĩnh vực và còn phải nhiều thời gian để có được một sân chơi bình đẳng cho họ. Các doanh nghiệp nhà nước phần lớn hoạt động không có hiệu quả và không có khả năng cạnh tranh, nhưng vẫn tiếp tục độc quyền ở một số lĩnh vực quan trọng và được hưởng những độc quyền trong phân bỏ các nguồn lực và các quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ.

Việt Nam đã có những cam kết về tự do thương mại dịch vụ phân phối trong nhiều hiệp định quốc tế, khu vực và song phương. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa đưa ra được những chính sách và quy định thích hợp nhằm phát triển thị trường dịch vụ nội địa và nâng cao khả năng cạnh tranh cho các công ty dịch vụ phân phối trong nước.

Trong bối cảnh thời gian mở cửa thị trường cho doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã mở ra (từ ngày 01 tháng 01 năm 2009), nếu Việt Nam không nhanh chóng tìm ra lời giải cho bài toán phát triển cân bằng dịch vụ phân phối thì nguy cơ chúng ta bị thua “ngay trên sân nhà” sẽ trở thành hiện thực. Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Thứ ba, tác động tiêu cực về mặt xã hội có thể đến từ việc phá sản, thất nghiệp của các doanh nghiệp phân phối bán lẻ nhỏ của Việt Nam do phải trực tiếp đối mặt với cuộc cạnh tranh không cân sức với các nhà phân phối lớn nước ngoài. Cạnh tranh cung cấp DVPP trên thị trường thế giới hiện nay rất khốc liệt. Các nhà phân phối Việt Nam ngày càng đối mặt với nhiều cạnh tranh từ các đối thủ rất mạnh và khi Việt Nam mở cửa thị trường trong nước hơn cho sự cạnh tranh quốc tế thì các công ty trong nước sẽ gặp nhiều khó khăn để tồn tại. Một hệ thống thương mại truyền thống với hàng trăm nghìn thương nhân nhỏ lẻ và hơn một triệu hộ kinh doanh cá thể của một nền sản xuất hàng hoá nhỏ, trình độ thấp nhưng đầy tiềm năng sẽ đối phó ra sao với các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia hàng đầu thế giới như Wal-mart, Carrefour, Tesco…? Câu hỏi này được đặt ra không chỉ đối với các nhà phân phối trong nước mà còn làm đau đầu cơ quan quản lý Nhà nước đối với thị trường DVPP. Do còn nhiều yếu kém và khả năng cạnh tranh thấp, các nhà phân phối Việt Nam thực sự cần một mội trường kinh doanh thích hợp, hệ thống chính sách và pháp lý hỗ trợ và một chương trình phát triển thương mại dịch vụ cần được thực hiện càng sớm càng tốt để hỗ trợ cho những nỗi lực nhằm nâng cao sức cạnh tranh, đối phó với thách thức cạnh tranh mới và nắm bắt kịp thời cơ hội.

Thực tế, về vấn đề này, bài học mở cửa lĩnh vực phân phối bán lẻ của Trung Quốc là rất đắt giá. Người ta tính rằng, trong bán kính 35 km trên đất Trung Quốc, nếu nhà bán lẻ số 2 thế giới Carrefour mở một siêu thị lớn thì đồng thời có 3 đại gia phân phối Trung Quốc phá sản. Nguy cơ này có thể lập lại tại Việt Nam trong thời gian tới, nếu mở cửa thị trường phân phối mà các nhà bán lẻ nội địa chưa có đối sách hợp lý.

Trong cam kết gia nhập WTO về mở cửa thị trường DVPP, Việt Nam đã dành được quyền kiểm soát đối với việc mở điểm bán lẻ thứ hai của doanh nghiệp thương mại có vốn đầu tư nước ngoài. Việt Nam cần cụ thể hoá quyền này trong một văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn doanh nghiệp FDI mở điểm bán lẻ thứ hai nhằm thực hiện mục đích cân bằng thương mại cho mọi nhà cung cấp DVPP.

Thứ tư, kích thích thị hiếu sính hàng ngoại và sự hình thành xã hội tiêu dùng chưa phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam. Việc gia nhập WTO sẽ mở rộng cánh cửa cho hàng hoá và dịch vụ của nước ngoài thâm nhập thị trường Việt Nam. Các nhà phân phối nước ngoài vốn rất giỏi trong việc hoạt động marketing bán hàng, đặc biệt là việc khai thác tâm lý người mua hàng sẽ nhanh chóng áp dụng mọi nghệ thuật bán hàng…điều này sẽ kích thích thị hiếu chuộng hàng ngoại của người Việt Nam và với nhiều chiêu thức bán hàng, kể cả tín dụng thương mại dễ dàng được áp dụng sẽ dẫn đến việc hình thành một xã hội tiêu dùng (tiêu dùng nhiều hơn những gì mình có thể chi trả) chưa phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội nước ta hiện nay.

Thứ năm, các tác động tiêu cực khác về an ninh, xã hội và môi trường: Lợi dụng tự do hoá thương mại và mở cửa thị trường, hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại quốc tế có thể thâm nhập thị trường Việt Nam, ví dụ như việc buôn bán vận chuyển ma tuý, vũ khí, các chất độc hại hàng nhái, hàng giả…Điều này đặt ra những thách thức đối với quản lý Nhà nước trong hoạt động ngăn ngừa, thanh tra, kiểm tra, kiểm soát thị trường chống gian lận thương mại và buôn lậu quốc tế.

IV: Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong quá trình thực hiện các cam kết trong WTO về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ phân phối còn yếu.

Các nhà đầu tư nước ngoài đang gia tăng tốc độ và quy mô đầu tư vào hệ thống phân phối bán lẻ trong nước đã tạo ra sức ép không nhỏ đối với các doanh nghiệp phân phối Việt Nam.

Hiện nay, kênh phân phối hiện đại ở Việt Nam chỉ chiếm tỷ trọng 15% nhưng với những điều kiện thuận lợi như mức tăng trưởng kinh tế cao, thu nhập của người dân tăng, sự thay đổi về thị hiếu cũng như thói quen mua sắm của người tiêu dùng…nên kênh phân phối hiện đại ở Việt Nam sẽ tiếp tục tăng thị phần trong cán cân phân phối trong thời gian tới.

1.1. Khả năng về vốn và huy động vốn còn gặp khó khăn.

Thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam trên lĩnh vực này là phải cạnh tranh với các tập đoàn phân phối hàng đầu trên thế giới có sức mạnh về tài chính có khả năng chi phối và thống lĩnh kênh phân phối và một thương hiệu nổi tiếng trong mạng lưới phân phối toàn cầu (Xem bảng 2).

Bảng 2 cho thấy bức tranh chung về vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam. Khu vực doanh nghiệp Nhà nước chỉ chiếm 3,62% số lượng doanh nghiệp nhưng lại chiếm tới gần 55% tổng lượng vốn sản xuất kinh doanh toàn xã hội năm 2005. Ở mức độ tập trung thấp hơn là khu vực doanh nghiệp FDI với 3,27% số lượng doanh nghiệp và 20,1% tổng lượng vốn sản xuất kinh doanh. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước, áo đảo về số lượng doanh nghiệp (93,11%) lại chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ bé vốn sản xuất kinh doanh (24,94%). Điều này giải thích cho sự thiếu vốn trầm trọng của khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước  trong so sánh với các khu vực kinh tế khác.

Những hạn chế về quy mô, năng lực sản xuất, kinh doanh và vốn của doanh nghiệp Việt Nam dẫn đến những khó khăn trong việc phát triển hệ thống phân phối của doanh nghiệp. Với tiềm lực tài chính và quy mô hạn chế, các doanh nghiệp không thể tự mình thiết lập một hệ thống phân phối như mong muốn, cũng không thể đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị để nâng cao chất lượng dịch vụ phân phối, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và các yêu cầu giao hàng khác… Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Bảng 2 – Tình hình vốn sản xuất kinh doanh của DN Việt Nam 2001-2005

So sánh với các doanh nghiệp phân phối nước ngoài cho thấy nguồn vốn tự có của doanh nghiệp phân phối của Việt Nam là hết sức nhỏ bé. Ví dụ: Theo số liệu khảo sát cho thấy, cùng đầu tư cho 01 siêu thị nhưng mức vốn đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam bình quân là 9,5 tỷ đồng, trong khi đó các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đầu tư bình quân 130 tỷ đồng, gấp 14 lần mức đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam. Điều đó cho thấy nguồn vốn là một trong những điểm yếu của doanh nghiệp phân phối Việt Nam khi cạnh tranh với các doanh nghiệp phân phối nước ngoài, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia.

Như vậy, việc thiếu vốn là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sức cạnh tranh yếu của doanh nghiệp phân phối 100% vốn trong nước, nhất là khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Ở đây đặt ra bài toán về vốn và khả năng huy động vốn đối với các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập.

1.2. Nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế

Khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước không chỉ nhỏ bé về quy mô vốn kinh doanh (bình quân mỗi doanh nghiệp chỉ có 5,77 tỷ VNĐ vốn kinh doanh năm 2005) mà còn nhỏ bé xét trên bình diện quy mô lao động. Trong năm 2005 có 105.169 doanh nghiệp ngoài nhà nước hoạt động sản xuất, kinh doanh thì có tới 94.658 doanh nghiệp có quy mô dưới 50 lao động, chiếm tỷ trọng 90% trong khi chỉ có 0,8% hay 822 doanh nghiệp có từ 200 lao động trở lên. Điều này dễ hiểu vì sao nhân lực cũng là một vấn đề đau đầu đối với khu vực doanh nghiệp này. Nhiều doanh nghiệp không thể tuyển dụng đủ lao động đáp ứng tiêu chuẩn. Hiện nay, nguồn nhân lực quản lý của các doanh nghiệp phân phối Việt Nam được chia làm hai nhóm: cán bộ quản lý điều hành và nhân viên kinh doanh trong đó nhóm cán bộ quản lý điều hành giữ vai trò quyết định đối với quá trình cạnh tranh giữa doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp phân phối nước ngoài. Tuy nhiên, tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng còn khá khiêm tốn, ở mức 19,3%; trong khi đó tại các siêu thị, trung tâm thương mại của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tỷ lệ cán bộ quản lý có trình độ đại học, cao đẳng chiếm đến 70,8%. Theo một điều tra của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), có tới 11% tổng số doanh nghiệp không thoả mãn với năng lực và trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác phân phối, thực hiện các kỹ năng marketing thương mại. Còn đội ngũ nhân viên kinh doanh của doanh nghiệp phân phối Việt Nam cũng chưa được đào tạo thường xuyên về nghiệp vụ mua hàng, trương bày và bán hàng nên chưa giúp cho hoạt động kinh doanh của siêu thị, trung tâm thương mại đạt được kết quả cao nhất.

1.3. Khả năng liên kết giữa các nhà phân phối trong nước còn yếu

Chúng ta đều thừa nhận rằng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối của Việt Nam phát triển với một quy mô nhỏ lẻ, phân tán. Các doanh nghiệp Việt Nam có điểm yếu cố hữu là tính liên kết, hợp tác kém, ngay cả trong phạm vi địa phương, trong nước chứ chưa nói tới liên kết, hợp tác với bên ngoài. Mặc dù hiện nay bước đầu giữa các nhà phân phối đã có những sự hợp tác như việc liên kết thành lập Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam VDA của bốn nhà phân phối lớn nhất Việt Nam và Hiệp hội bán lẻ Việt Nam với 100 thành viên ban đầu, tuy nhiên sự liên kết này mới chỉ được hình thành không lâu và vẫn còn trong giai đoạn tìm ra biện pháp phát triển chung có lợi nhất cho tất cả các thành viên. Liên kết hợp tác là để chia sẻ thông tin, tri thức và kinh nghiệm, để tập hợp sức mạnh về vốn, về khoa học công nghệ và thực hiện chuyên môn hoá sâu sắc hơn. Gia nhập vào một sân chơi lớn là chúng ta phải chấp nhận luật chơi một cách bình đẳng. Vì vậy, yếu tố quyết định sự sống còn của hệ thống phân phối quốc gia là ý thức liên kết của các doanh nghiệp và vai trò hỗ trợ của Nhà nước. Sự liên kết giữa các nhà sản xuất, các doanh nghiệp, liên kết những chủ tiệm tạp hoá, các sạp chợ cộng với ý thức thay đổi trong phương thức kinh doanh sẽ tạo thành một khối thống nhất, hình thành một kênh phân phối nội địa đủ mạnh, làm đối trọng với hệ thống phân phối đa quốc gia. Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

1.4. Phương thức kinh doanh của các doanh nghiệp phân phối Việt Nam chưa đa dạng.

Trong quá trình cạnh tranh với các doanh nghiệp phân phối nước ngoài thì phương thức kinh doanh có thể là một ưu thế của doanh nghiệp phân phối trong nước bởi những lý do sau:

Một là, phương thức kinh doanh mà các doanh nghiệp phân phối Việt Nam đang áp dụng có nguồn gốc từ phương thức kinh doanh của các doanh nghiệp nước ngoài. Phương thức này du nhập nhờ những thương nhân nước ngoài tham gia quản lý, điều hành hệ thống phân phối hoặc nhờ những cán bộ quản lý được đào tạo ở nước ngoài. Do đó xét về nền tảng, phương thức kinh doanh của doanh nghiệp phân phối Việt Nam và doanh nghiệp phân phối nước ngoài là một.

Hai là, qua quá trình áp dụng tại nước ta, phương thức kinh doanh đã được điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn, ví dụ: cách đặt hàng, thanh toán tiền đối với các nhà sản xuất Việt Nam phải khác so với đặt hàng của các nhà sản xuất ở các nước phát triển vì nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế quy mô nhỏ, các nhà sản xuất Việt Nam không đủ sức cung ứng hàng hoá với số lượng lớn trong thời gian ngắn nên rất có thể phải kéo dài thời hạn giao hàng hoặc đặt hàng ở nhiều nhà sản xuất, thậm chí phải ứng vốn để các nhà sản xuất mua nguyên vật liệu…

Tuy nhiên, phương thức kinh doanh hiện nay của các doanh nghiệp phân phối trong nước cũng có một số hạn chế:

Thứ nhất, doanh nghiệp phân phối Việt Nam chỉ mới quen với việc quản lý một vài cơ sở bán lẻ, chưa có kinh nghiệm trong việc tổ chức chuỗi cơ sở bán lẻ với quy mô lớn như các doanh nghiệp phân phối nước ngoài.

Thứ hai, doanh nghiệp phân phối trong nước chưa quan tâm nhiều đến việc tổ chức hệ thống hậu cần (logistics) phục vụ cho hoạt động của các điểm bán lẻ, phần lớn vẫn dựa vào khả năng giao hàng của các nhà sản xuất, cung ứng hàng hoá. Hệ thống kho bảo quản, xe tải chuyên dùng chưa đồng bộ; việc cung ứng hàng hoá chủ yếu có gì bán nấy, chưa xây dựng được vùng cung cấp nguồn hàng ổn định. Tính chủ động trong việc hợp tác, liên kết, liên doanh thu mua, tiêu thụ hàng hoá còn rời rạc. Vì vậy, khá nhiều doanh nghiệp phân phối trong nước chưa tạo được nguồn cung ứng, dự trữ hàng hoá ổn định cho hoạt động bán buôn, bán lẻ của mình.

Ngoài ra công tác xúc tiến thương mại, marketing, dự báo thông tin thị trường chưa được các công ty quan tâm và chưa chuyên nghiệp. Với sự ảnh hưởng ngày càng lớn của thương mại điện tử tới dịch vụ phân phối song các doanh nghiệp của Việt Nam vẫn chưa quan tâm đúng mức tới nhân tố này để tăng cường năng lực cạnh tranh của mình. Có 60-70% đơn vị kinh doanh chưa sử dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực quản lý và kinh doanh, khoảng 20% mới xây dựng được trang web ở mức độ đơn giản, và công tác xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, thương hiệu hàng hóa chưa được coi trọng…

Từ những phân tích về thực lực cạnh tranh của các doanh nghiệp phân phối Việt Nam đang hoạt động trên thị trường, có thể thấy nguy cơ thâm nhập, chiếm lĩnh thị phần bán lẻ, bán buôn của các “đại gia” phân phối nước ngoài là một viễn cảnh có thể xảy ra. Vấn đề là các doanh nghiệp trong nước phải biết phát huy ưu điểm, xác định đúng phân khúc thị trường phù hợp để đầu tư khai thác thì mới có thể tồn tại và phát triển.

2. Cạnh tranh sẽ gay gắt hơn trong năm năm tới Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Trước khi Việt Nam thực hiện các cam kết mở cửa lĩnh vực phân phối theo các cam kết gia nhập WTO thì sự cạnh tranh trong lĩnh vực này đã diễn ra rất mạnh mẽ. Với sự tăng trưởng hơn 18%/năm trong giai đoạn 2000-2005 thì đã tạo ra sức hút gia nhập lĩnh vực này rất lớn đối với các doanh nghiệp. Có thể thấy qua số liệu điều tra số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ phân phối. Số lượng này đã tăng hơn 2 lần trong thời kỳ 2000-2004, từ gần 14.100 doanh nghiệp lên gần 28.600 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp hoạt động bán buôn tăng gần 170% và bán lẻ tăng gần 50%. Và vì vậy cũng có thể dự đoán được rằng cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối sẽ gay gắt hơn trong những năm sau này đặc biệt là trong vòng năm năm tới đây khi mà thời điểm mở cửa hoàn toàn thị trường phân phối (trừ một số mặt hàng mà Việt Nam được bảo lưu) đã diễn ra từ ngày 1/1/2009 vừa qua.

Quá trình cạnh tranh của các nhà phân phối sẽ diễn ra khá phức tạp với nhiều quan hệ đan xen nhau giữa rất nhiều đối tượng hoạt động trong lĩnh vực phân phối. Sự cạnh tranh sẽ xuất hiện giữa các nhà phân phối trong nước và nước ngoài; cạnh tranh do các nhà sản xuất tự thiết lập hệ thống phân phối riêng; các doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối mới được thành lập và có khả năng tham gia thị trường phân phối; cạnh tranh với các phương thức phân phối khác như giao hàng tại nhà, qua Internet…

Trong vòng năm năm tới đây, các nhà phân phối trong nước không chỉ tìm cách cạnh tranh nhằm tăng thị phần với nhau mà còn phải chịu áp lực cạnh tranh đối với các nhà phân phối lớn của nước ngoài. Theo lộ trình thực hiện cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, thị trường phân phối đã chính thức mở cửa hoàn toàn từ ngày 1/1/2009 vừa qua khi cho phép các nhà phân phối nước ngoài được thành lập công ty phân phối 100% vốn nước ngoài. Như vậy, các nhà phân phối trong nước sẽ gặp vô cùng khó khăn khi phải đối mặt với các nhà phân phối nước ngoài mà họ vượt hơn hẳn về vốn, công nghệ, kinh nghiệm kinh doanh…Hơn nữa, thị trường phân phối Việt Nam trong thời gian tới chắn chắn sẽ đón nhận không chỉ một mà có thể rất nhiều nhà phân phối nước ngoài và trong đó sẽ có những nhà phân phối hàng đầu thế giới. Bởi thị trường phân phối Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường hấp dẫn nhất thế giới đặc biệt là trong lĩnh vực bán lẻ. Theo sự đánh giá của công ty A.T. Kearney, Việt Nam đã từ hạng tư về chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu (GRDI) năm 2007 đã vươn lên đứng hạng nhất trong năm 2008, trở thành thị trường hấp dẫn nhất trong số 30 thị trường bán lẻ mới nổi vượt qua cả hai thị trường lớn nhất thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ. Thực tế là đã có Wal-mart, nhà phân phối bán lẻ lớn nhất thế giới đã có những bước khảo sát, tìm hiểu thị trường Việt Nam với ý định đầu tư vào Việt Nam. Tuy rằng với những khó khăn do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang diễn ra tác động rất lớn tới những kế hoạch đầu tư nhưng một khi tình hình được cải thiện thì tất yếu rằng các nhà đầu tư nước ngoài sẽ thực hiện kế hoạch đó của mình. Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Ngay trong hiện tại, các nhà phân phối hiện có mặt trên thị trường vẫn đang cạnh tranh nhằm mở rộng mạng lưới hoạt động của mình nhằm gia tăng thị phần của mình. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 400 siêu thị, 60 trung tâm thương mại và gần 2000 cửa hàng tiện ích. Và dự kiến đến năm 2010 thôi, số siêu thị và trung tâm thương mại sẽ tăng lên lần lượt là 62,5% và 150%. Các nhà phân phối của Việt Nam như Sài Gòn Co.op, Citi Mart, Hapro Mart,…liên tục cho khai trương các siêu thị của mình. Chẳng hạn như chỉ trong tháng 12 năm 2008, Sài Gòn Co.op đã tiến hành mở thêm 4 siêu thị tăng tổng số siêu thị của mình lên 35 và có kế hoạch trong năm 2015 họ sẽ đạt được số lượng là 100 siêu thị bán lẻ. Ngoài ra cũng phải kể đến sự mở rộng hoạt động của các nhà phân phối nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam như Metro đã tăng số siêu thị của mình lên con số 8 và Big C cũng với dự định tăng lên 8 siêu thị. Tập đoàn Lotte Mart của Hàn Quốc  tại Việt Nam cũng có kế hoạch là sẽ đầu tư 30 siêu thị, trung tâm thương mại có quy mô tương tự Lotte Mart đầu tiên tại khu Nam Sài Gòn (TPHCM) và các thành phố lớn khác với tổng vốn đầu tư lên đến 5 tỉ đô la Mỹ trong vòng mười năm.

Các nhà phân phối không chỉ chịu áp lực cạnh tranh từ chính đối thủ trong ngành của mình mà còn phải đối mặt với áp lực từ phía các nhà sản xuất khi họ tự thiết lập hệ thống phân phối riêng cho sản phẩm của mình. Đó là một xu hướng phát triển mới của các nhà sản xuất khi trước đây họ thường tìm tới các trung gian của mình nhằm đưa sản phẩm tới người tiêu dùng, nhưng với sự gia tăng về tiềm lực tài chính, tích luỹ kinh nghiệm hoạt động…họ muốn tự mình phân phối cho chính sản phẩm mà họ đã sản xuất ra để tiếp cận trực tiếp với khách hàng. Hiện tại ở Việt Nam đã có rất nhiều doanh nghiệp lớn lựa chọn phương pháp phân phối này như chuỗi siêu thị và cửa hàng thời trang Vinatex thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam.

Mức độ gay gắt của cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối trong vòng năm năm tới còn thể hiện ở việc sẽ xuất hiện thêm nhiều doanh nghiệp muốn tham gia vào thị trường. Bởi sự hấp dẫn mà lĩnh vực phân phối này tạo ra. Đặc biệt là đối với lĩnh vực bán lẻ. Doanh thu bán lẻ liên tục tăng. Năm 2007, tổng doanh thu bán lẻ đạt 44 tỷ USD, tăng 25% so với năm 2006, năm 2008 ước tính đạt 968,1 nghìn tỷ đồng, tăng 31% so với năm 2007. Và với sự tăng hạng lên vị trí thứ nhất trong sự đánh giá về mức độ hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt Nam của công ty A.K.Keaney đồng thời cam kết gia nhập WTO được thực hiện sẽ là những động lực đối với các nhà phân phối nước ngoài muốn tham gia vào thị trường phân phối Việt Nam.

Bên cạnh đó, sự cạnh tranh còn gia tăng hơn nữa khi có sự tác động của thương mại điện tử đối với lĩnh vực phân phối. Các phương thức kinh doanh như siêu thị ảo và các sàn giao dịch thương mại điện tử đã bắt đầu xuất hiện, đang có cơ hội phát triển mạnh mẽ và sẽ còn tiếp tục phát triển hơn nữa.

3. Chưa tận dụng được các quy định về S&D của WTO trong việc mở cửa dịch vụ phân phối Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Theo quy định Điều IV của GATS, các nước thành viên đang phát triển được hưởng quy tắc đối xử đặc biệt và khác biệt (Special and Differential Treatment – S&D) nhằm tạo thuận lợi cho các nước đang phát triển tham gia và hưởng lợi từ thương mại dịch vụ. Các quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang và kém phát triển trong WTO được chia thành 3 nhóm chính:

  • Nhóm 1: Những quy định, theo đó các nước thành viên WTO, đặc biệt và các nước phát triển phải áp dụng các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại của các nước đang và kém phát triển.

Nhóm các biện pháp này chia thành:

Các biện pháp ưu đãi đơn phương của các nước phát triển dành cho các nước đang phát triển. Các nước phát triển dành cho hàng hoá nhập khẩu từ các nước đang phát triển trên cơ sở ưu đãi: Hệ thống ưu đãi Thuế quan phổ cập (Generalised System of Preference – GSP) và những đối xử ưu đãi hơn đối với các nước kém phát triển và những thuận lợi tạo điều kiện tiếp cận thị trường ưu đãi cho một số nước nhất định.

Các biện pháp ưu tiên trong đàm phán thương mại về cắt giảm và loại bỏ thuế MFN. WTO đưa ra quy định kêu gọi các nước phát triển phải dành ưu tiên cao hơn cho các nước đang và kém phát triển trong đàm phán thương mại về cắt giảm thuế, thậm chí xoá bỏ thuế MFN đối với sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu của các nước này, cũng như xoá bỏ các biện pháp phi thuế quan cản trở về buôn bán các sản phẩm đó. Các quy định này được nêu ra trong phần IV điều 37 của Hiệp định GATT.

  • Nhóm 2: Các quy định cho phép các nước đang và kém phát triển hưởng sự linh hoạt trong việc chấp nhận các nghĩa vụ do WTO và các hiệp định của WTO quy định.

Nhóm này cho phép sự linh hoạt trong việc chấp nhận các nghĩa vụ bắt buộc theo các hiệp định của WTO.

Ví dụ: Hiệp định GATS cho phép các nước đang phát triển có những linh hoạt nhất định để mở cửa ít ngành dịch vụ hơn hoặc tự do hoá ít loại hình giao dịch hơn trong đàm phán thương mại.

Cho phép được hưởng một khoảng thời gian quá độ để tạo điều kiện cho các nước đang và kém phát triển chuẩn bị.

  • Nhóm 3: Những quy định yêu cầu các nước thành viên WTO phải có sự hỗ trợ kỹ thuật để giúp các nước đang và kém phát triển nâng cao năng lực cạnh tranh khi tham gia vào WTO.

Nhóm ưu đãi này còn dành cho cả các nền kinh tế chuyển đổi trong việc thực thi các cam kết của họ trong các hiệp định WTO. Điều này giúp các nước đang và kém phát triển, các nước có nền kinh tế chuyển đổi hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế và nâng cao năng lực thực thi nghĩa vụ, các cam kết của họ trong WTO.

Ở dịch vụ phân phối thì Việt Nam với tư cách là một nước đang phát triển chủ yếu dành được những ưu đãi theo những quy định về S&D trong WTO thuộc nhóm 2 tức là các quy định cho phép các nước đang và kém phát triển hưởng sự linh hoạt trong việc chấp nhận các nghĩa vụ do WTO và các hiệp định của WTO quy định. Dịch vụ phân phối là một lĩnh vực rất nhạy cảm khi tiến hành đàm phán gia nhập WTO, vì vậy mà Việt Nam đã rẩt cố gắng nhằm đạt được những ưu đãi để có thể bảo vệ tối đa ngành dịch vụ phân phối trong nước. Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Theo đó, Việt Nam đã đạt được kết quả là mở cửa thị trường phân phối theo lộ trình. Ngay khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết cho phép các nhà phân phối nước ngoài được lập liên doanh với đối tác Việt Nam để cung cấp dịch vụ phân phối nhưng tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 49%, kể từ ngày 1/1/2008, hạn chế 49% vốn góp sẽ được bãi bỏ và đến ngày 1/1/2009 thì mở cửa hoàn toàn. Với từng bước mở cửa như thế này, Việt Nam sẽ có thời gian chuẩn bị về mọi mặt để có thể sẵn sàng cạnh tranh với nhà phân phối nước ngoài khi thời điểm 1/1/2009 đến. Tuy nhiên, trong hai năm qua Việt Nam đã không tận dụng thời gian này thật tốt để thực hiện những công việc cần thiết nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành phân phối như: xây dựng hệ thống pháp luật, thiết lập hệ thống phân phối hiện đại, hỗ trợ doanh nghiệp về vốn, nhân lực…

Thứ hai, trong cam kết gia nhập WTO của mình, Việt Nam đã bảo lưu được một số mặt hàng xăng dầu, dược phẩm, sách, báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quý cho nước ngoài. Đây là một thành công lớn đối với Việt Nam khi mà giành được thoả thuận không mở cửa khá nhiều loại mặt hàng, Trung Quốc cũng chỉ bảo lưu được hai mặt hàng là thuốc lá và muối. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng giành được quyền bảo lưu có thời hạn một số mặt hàng như xi măng và clinke; lốp (trừ lốp máy bay); giấy; máy kéo; phương tiện cơ giới; ô tô con và xe máy; sắt thép; thiết bị nghe nhìn; rượu và phân bón. Việc không cho phép hoặc tạm thời chưa cho phép các doanh nghiệp FDI phân phối các mặt hàng này là phù hợp với định hướng phát triển kinh tế nói chung và phát triển ngành dịch vụ phân phối nói riêng. Đây là “vùng đất” nhất định dành cho các DN trong nước, nhất là ở các mặt hàng có ảnh hưởng quan trọng tới quốc kế dân sinh hoặc dành cho họ một khoảng thời gian chuẩn bị nhất định trước khi phải đối mặt với cạnh tranh từ các nhà phân phối nước ngoài. Thế nhưng, Việt Nam lại không thể kiểm soát thị trường nhằm tận dụng có hội này. Trong thời gian qua, hàng loạt mặt hàng trong danh mục loại trừ vĩnh viễn vẫn được kinh doanh tại các siêu thị có vốn FDI. Người tiêu dùng có thể mua gạo hoặc đường với số lượng không giới hạn và bất kỳ ai cũng mua được. Tương tự, một số mặt hàng nằm trong danh mục bảo lưu có thời hạn như rượu cũng đang được bày bán thoải mái tại các siêu thị này. Và điều đáng ngạc nhiên là đến nay các bộ, ngành chức năng vẫn chưa có ý kiến và chưa một lần “thổi còi” về những vấn đề này. Đối với các DN VN đang sản xuất, kinh doanh các mặt hàng không mở cửa theo cam kết, số liệu thống kê không chính thức cho thấy, hiện có khá nhiều DN trong ngành dược đã bán tới 30% cổ phần cho các tập đoàn nước ngoài. Tương tự, trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu và một số DN ngành hàng khác cũng không loại trừ có thể họ đã và sẽ bắt tay với DN nước ngoài vì luật của chúng ta không cấm… Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

Thứ ba, Việt Nam còn nhận được một ưu tiên nữa để hạn chế việc các nhà phân phối nước ngoài mở rộng điểm bán lẻ là công cụ nhu cầu kiểm tra kinh tế ENT (Economic Needed Test). ENT (kiểm tra nhu cầu kinh tế) được xem là một công cụ vô cùng hữu ích, là hàng rào kỹ thuật để hạn chế các đại gia bán lẻ nước ngoài nhằm hỗ trợ cho ngành bán lẻ trong nước vốn còn rất non trẻ. ENT hiểu nôm na là kiểm tra nhu cầu kinh tế dựa trên 3 tiêu chí: số lượng các nhà bán lẻ trên một địa bàn cụ thể, sự ổn định của thị trường và quy mô địa lý của khu vực dân cư. Ngoài ra, còn có thêm hai tiêu chí khác đã được Chính phủ quy định trong thông tư số 09/2007/TT-BTM ngày 17 tháng 07 năm 2007 của Bộ Thương mại hướng dẫn trình tự, thủ tục cấp phép cho DN FDI trong lĩnh vực phân phối, là “mật độ dân cư trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi đặt cơ sở thứ 2 và sự phù hợp của dự án đầu tư với quy hoạch của tỉnh, thành phố”. Như vậy, nếu thị trường cần thêm một điểm bán thì địa phương sẽ cấp phép còn nếu cho rằng chưa cần, nhà quản lý có quyền từ chối cấp phép. Theo kinh nghiệm ở một số nước đi trước, trong vòng bán kính 3 km, khi một đại siêu thị mở ra thì có khả năng hàng trăm các cửa hàng, các sạp tạp hóa bán lẻ, các siêu thị nhỏ bé, manh mún sẽ bị đóng cửa vì không cạnh tranh được, nhất là về sự đa dạng phong phú của hàng hóa, giá cả, chất lượng phục vụ cũng như chất lượng kinh doanh, vệ sinh an toàn thực phẩm,…Tuy nhiên, dường như trong thời gian qua Việt Nam đã thả nổi việc kiểm tra nhu cầu kinh tế trong cấp giấy phép.

Mặc dù tiêu chí đã đưa ra thế nhưng các cơ quan chức năng của Việt Nam lại rất “thoáng” trong việc cấp phép xây dựng siêu thị cho các nhà phân phối nước ngoài mà lại thường ở những vị trí có thể nói là đẹp, những vị trí trung tâm ở các thành phố. Điều này đã gây ra rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Một doanh nghiệp tại Hà Nội bức xúc cho rằng không có nước nào như VN lại quá dễ dãi trong cấp phép cũng như giám sát việc thực hiện cam kết đối với các doanh nghiệp FDI và cũng không có quốc gia nào lại cùng một lúc cấp phép đầu tư xây dựng hàng loạt siêu thị ngay tại trung tâm các TP của Việt Nam. Trong khi đó, tại Ấn Độ một đất nước rộng lớn, đông dân nhưng họ cũng chỉ có thể cấp phép cho mỗi đối tác chừng 2-3 dự án là cùng nhưng có điều kiện phải cách xa trung tâm TP khoảng 30 km.

Tóm lại, Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào kinh tế quốc tế với việc thực hiện theo các cam kết gia nhập WTO của mình trong lĩnh vực phân phối nhưng đồng thời cũng giành được một số ưu tiên nhằm bảo vệ ngành phân phối trong nước còn non trẻ. Thời điểm mở cửa hoàn toàn đối với lĩnh vực phân phối được diễn ra đã tác động mạnh tới lĩnh vực phân phối của Việt Nam, đặt ra cho chúng ta một số vấn đề nếu muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, không bị các nhà phân phối nước ngoài thâu tóm thị trường. Do vậy, để vừa đảm bảo thực hiện đúng những cam kết trong WTO vừa kiểm soát được thị trường phân phối đòi hỏi Việt Nam cần phải tìm kiếm các giải pháp cho mình. Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp cam kết WTO về mở cửa dịch vụ phân phối

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537