Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Kế toán bán hàng và XĐKQ bán hàng tại Công ty may, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng nhằm xác định chính xác kết quả cho từng mặt hàng tại Công ty Cổ phần may Trường Sơn này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, bán hang là một khâu giữ vai trò quan trọng, là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dung, phản ánh sự gặp nhau giữa cung và cầu về hang hóa, qua đó giúp định hướng cho sản xuất tiêu dung. Với một doanh nghiệp, việc tang nhanh quá trình bán hang tức là làm tang vòng quay của vốn, tiết kiệm vốn và trực tiếp làm tang lợi nhuận của doanh nghiệp. Từ đó sẽ nâng cao đời sống của cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp.
Thời đại toàn cầu hóa về kinh tế đòi hỏi hạch tón kế toán trở thành một công cụ đắc lực không thể thiếu giúp doanh nghiệp có cái nhìn tổng thể về tình hình kinh doanh cả tình hình tài chính tại đơn vị chính vì vậy, kế toán nói chung và kế toán bán hang nói riêng có vài trò quan trọng hơn bao giờ hết.
Tuy nhiên, trong nhiều doanh nghiệp, công tác kế toán bán hang chưa tiến hành xác định kết quả chính xác cho từng mặt hàng, vì vậy việc sử dụng các số liệu về kế toán bán hàng vẫn chưa thật sự hiệu quả. Việc kết hợp xác định chính xác kết quả cho từng mặt hàng có thể giúp cho doanh nghiệp nắm được thực trạng của hoạt của hoạt động bán hàng và cung cấp các thông tin cần thiết để cho chủ
doanh nghiệp đánh giá được những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại trong hoạt động bán hàng. Từ đó có thể hoạch định các kế hoạch và giải pháp phù hợp để ổn định và tăng cường hoạt động bán hàng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đó, cùng với những kiến thức đã học ở trường, qua thời gian tìm hiểu thực tế tại Công ty Cổ phần may Trường Sơn, với sự hướng dẫn của cô giáo – Th.S Nguyễn Thị Thúy Hồng em đã đi sâu lựa chọn đề tài: Tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng nhằm xác định chính xác kết quả cho từng mặt hàng tại Công ty Cổ phần may Trường Sơn làm đề tài nghiên cứu khoa học.
2. Mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài.
- Nghiên cứu khảo sát thực trạng công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở doanh nghiệp.
- Vận dụng lý luận về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng vào nghiên cứu thực tiễn ở Công ty cổ phần may Trường Sơn.
- Từ đó đề xuất các ý kiến nhằm xác định chính xác kết quả của từng mặt hàng trong doanh nghiệp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Khóa luận: Kế toán bán hàng và XĐKQ bán hàng tại Công ty may.
Đối tượng nghiên cứu:Đối tượng nghiên cứu là việc tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ phần may Trường Sơn.
Phạm vi nghiên cứu:Phạm vi của bài khóa luận là những kiến thức về lý luận về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng. Từ đó, em nghiên cứu việc tổ chức hạch toán kế toán tại Công ty cổ phần may Trường Sơn, số liệu minh họa được lấy ở tháng 6 năm 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp hạch toán kế toán:phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp cân đối.
- Phương pháp phân tích so sánh…
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
5. Kết cấu của khóa luận
Bài NCKH ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 phần:
- Phần 1: Lý luận chung về tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp
- Phần 2: Thực trạng tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại công ty cổ phần may Trường Sơn.
- Phần 3: Một số biện pháp nhằm xác định chính xác kết quả bán hàng cho từng mặt hàng tại Công ty Cổ phần may Trường Sơn
PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Một số vấn đề chung về tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp.
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về bán hàng và xác định kết quả bán hàng.
- Khái niệm về bán hàng và xác định kết quả bán hàng
- Khái niệm bán hàng
Bán hàng là khâu cuối cùng trong hoạt động kinh doanh, là quá trình thực hiện giá trị của hàng hoá. Nói khác đi, bán hàng lá quá trình doanh nghiệp chuyển giao hàng hoá của mình cho khách hàng và khách hàng trả tiền hay chấp nhận trả tiền cho doanh nghiệp.( Nguyễn Phú Giang,2010) [4] Khóa luận: Kế toán bán hàng và XĐKQ bán hàng tại Công ty may.
Trong quá trình kinh doanh, quá trình bán hàng là yếu tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Hàng hoá đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, giá thành hạ thì hàng hoá của doanh nghiệp tiêu thụ nhanh mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp một vị trí vững chắc trên thị trường.
- Kết quả bán hàng
Kết quả bán hàng là bộ phận quan trọng nhất trong kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hàng hoá được bán nhanh chóng sẽ làm tăng vòng quay của vốn, đảm bảo thu hồi vốn nhanh, trang trải được chi phí, đảm bảo được lợi nhuận. Kết quả bán hàng và quá trình bán hàng có mối quan hệ nhân quả với nhau. Vì vậy tổ chức quá trình bán hàng tốt là cơ sở để có kết quả bán hàng cao, giúp doanh nghiệp tăng vòng quay vốn lưu động, tăng luân chuyển hàng hoá trong kỳ, đem lại kết quả cao trong kinh doanh. (Nguyễn Phú Giang, 2010) [4]
- Kết quả bán hàng: là kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ.
Hơn nữa, thông qua quá trình bán hàng đảm bảo cho các đơn vị khác có mối quan hệ mua bán với doanh nghiệp, thực hiện kế hoạch sản xuất và mở rộng sản xuất kinh doanh góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội, giữ vững quan hệ cân đối tiền hàng, làm cho nền kinh tế ổn định và phát triển.
- Khái niệm về giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí QLDN
Giá vốn hàng bán: là giá trị vốn của hàng hóa, vật tư, hàng hóa lao vụ, dịch vụ tiêu thụ là giá thành sản xuất hay chi phí sản xuất. Với vật tư tiêu thụ, giá vốn là giá trị ghi sổ, còn với hàng hóa tiêu thụ, giá vốn bao gồm trị giá mua của hàng hóa tiêu thụ cộng với chi phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu thụ.
Chi phí bán hàng: là chi phí thực tế phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ.Chi phí bán hàng bao gồm: chi phí nhân viên bán hàng; chi phí vật liệu bao bì; chi phí dụng cụ, đồ dùng phục vụ bộ phận bán hàng; chi phí khấu hao TSCĐ dùng ở khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá và cung cấp dịch vụ như nhà kho, cửa hàng, phương tiện vận chuyển, bốc dỡ…; chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa; chi phí mua ngoài phục vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ như: chi phí thuê tài sản, thuê kho, thuê bến bãi, thuê bốc vác vận chuyển, tiền hoa hồng, đại lý và các chi phí bằng tiền khác phát sinh trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá và cung cấp dịch vụ nằm ngoài các khoản kể trên như: chi phí tiếp khách, hội nghị khách hàng, chi phí quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, hàng hoá…
Chi phí quản lý doanh nghiệp: là toàn bộ chi phí có liên quan đến hoạt động quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và quản lý điều hành chung toàn doanh nghiệp.Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: chi phí nhân viên quản lý gồm tiền lương, phụ cấp phải trả cho ban giám đốc, nhân viên các phòng ban của doanh nghiệp và khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ trên tiền lương nhân viên quản lý theo tỷ lệ quy định; chi phí về vật liệu, nhiên liệu xuất dùng, chi phí cho việc sửa chữa TSCĐ công cụ dùng chung của doanh nghiệp; chi phí đồ dùng văn phòng dùng cho công tác quản lý chung; chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp, thuế, phí, lệ phí: thuế nhà đất, thuế môn bài…(Ngô Thế Chi,2010)[5]
1.1.2. Các phương thức bán hàng và các phương thức thanh toán
- Các phương thức bán hàng Khóa luận: Kế toán bán hàng và XĐKQ bán hàng tại Công ty may.
Phương thức bán hàng trực tiếp: là phương thức giao hàng trực tiếp cho người mua tại kho, tại phân xưởng sản xuất (không qua kho) của doanh nghiệp. Sản phẩm khi bàn giao cho khách hàng được chính thức coi là tiêu thụ và đơn vị bán mất quyền sở hữu về số hàng này.
Bán buôn: là phương thức bán hàng theo lô hoặc bán với số lượng lớn. Giá bán biến động tùy thuộc vào khối lượng hàng bán và phương thức thanh toán. Bán buôn gồm 2 phương thức: bán buôn qua kho và bán buôn vận chuyển thẳng.
- Phương thức bán buôn hàng hóa qua kho: là phương thức mà trong đó hàng bán được xuất ra từ kho của doanh nghiệp.
- Phương thức bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng: là phương thức bán buôn mà sau khi mua hàng, doanh nghiệp không nhập kho mà chuyển thẳng cho bên mua.
Bán lẻ: là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc tổ chức kinh tế mang tính tiêu dùng. Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc bán với số lượng nhỏ.
Phương thức chuyển hàng theo hợp đồng: theo phương thức này, bên bán chuyển hàng cho bên mua theo địa điểm ghi trên hợp đồng. Số hàng chuyển đi này vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bán. Khi được người mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán về số hàng chuyển giao (một phần hay toàn bộ) thì lượng hàng được người mua chấp nhận, đó mới được coi là tiêu thụ.
Phương thức bán hàng qua đại lý: là phương thức mà bên chủ hàng (gọi là bên giao đại lý) xuất hàng giao cho bên nhận đại lý (bên đại lý) để bán. Số hàng này vẫn thuộc quyền sở hữu của bên chủ hàng cho đến khi chính thức tiêu thụ. Bên đại lý sẽ được hưởng thù lao đại lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá.
Phương thức bán hàng trả chậm, trả góp: theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua, thì lượng hàng chuyển giao được coi là tiêu thụ, người mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua một phần. Số tiền còn lại người mua sẽ trả dần và phải chịu một tỷ lệ lãi xuất nhất định. Khóa luận: Kế toán bán hàng và XĐKQ bán hàng tại Công ty may.
Phương thức trao đổi hàng: là phương thức mà doanh nghiệp mang sản phẩm của mình đi đổi lấy vật tư, hàng hóa không tương tự. Giá trao đổi là giá hiện hành của vật tư hàng hóa trên thị trường.
- Các phương thức thanh toán
Việc tiêu thụ hàng hóa nhất thiết được thanh toán với người mua, bởi vì chỉ khi nào doanh nghiệp thu nhận được đầy đủ tiền bán hàng hoặc sự chấp nhận trả tiền của khách hàng thì việc tiêu thụ mới được phép ghi nhận trên sổ sách kế toán. Việc thanh toán với người mua về hàng hóa bán ra được thực hiện bằng:
- Phương thức trả ngay bằng tiền mặt
- Phương thức thanh toán chuyển khoản
- Phương thức thanh toán trả chậm, trả góp.
1.2. Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong DN
1.2.1. Chứng từ sử dụng
- Chứng từ chủ yếu sử dụng trong kế toán bán hàng:
- Hóa đơn GTGT (đối với doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ) (Mẫu số 01 GTKT – 3LL)
- Hóa đơn thông thường (đối với doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp) (Mẫu số 02 GTKT – 3LL)
- Hợp đồng kinh tế
- Bảng thanh toán hàng đại lý kí gửi ( Mẫu số 01 – BH)
…
(Bộ tài chính,2011)[1]
Chứng từ chủ yếu sử dụng trong kế toán giá vốn hàng bán:
- Phiếu nhập kho ( Mẫu số 01 – VT)
- Phiếu xuất kho (Mẫu số 02 – VT)
Chứng từ sử dụng trong kế toán CPBH, CPQLDN
- Hóa đơn GTGT (Mẫu số 01 GTKT – 3TT)
- Phiếu chi (Mẫu số 02 – TT)
- Giấy báo nợ, giấy đề nghị thanh toán.
- Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội (Mẫu số 11 – LĐTL)
- Bảng tính và phân bổ khấu hao tài sản cố định ( Mẫu số 06 – TSCĐ)
- Bảng phân bổ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ (Mẫu số 07 – VT)…
Chứng từ sử dụng trong kế toán xác định kết quả bán hàng:
- Phiếu kế toán (Bộ tài chính,2011)[1]
1.2.2. Tài khoản sử dụng
- Các tài khoản kế toán liên quan:
PHẦN 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY TRƯỜNG SƠN Khóa luận: Kế toán bán hàng và XĐKQ bán hàng tại Công ty may.
2.1. Khái quát chung về công ty cổ phần may Trường Sơn
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần may Trường Sơn
Công ty cổ phần may Trường Sơn được thành lập ngày 17 tháng 01 năm 2007 theo quyết định số 0702000736 của Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hải Phòng. Là một công ty mới thành lập, công ty luôn nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ mọi mặt của Đảng, chính quyền địa phương trên con đường phát triển, hội nhập nên thời gian gần đây, các hoạt động sản xuất của công ty tương đối khả quan. Công ty đã có nhiều nỗ lực không ngừng cho sự phát triển toàn diện trong lĩnh vực quản lý như: quản lý nhân sự, chất lượng sản phẩm, cải tiến thiết kế mẫu hàng, thay đổi phương thức tiếp thị, tăng cường khâu kiểm tra chất lượng sản phẩm ngay từ công đoạn nhập nguyên phụ liệu tới khi sản phẩm được giao cho khách hàng sử dụng. Hiện nay công ty đã đi vào hoạt động ổn định và có những bước thay đổi đáng kể so với ban đầu. Công ty đang có kế hoạch gia tăng sản lượng cho những năm tới, cố gắng xây dựng thương hiệu trên trường quốc tế.
- Tên giao dịch: Công ty Cổ phần may Trường Sơn
- Tên tiếng Anh: TRUONG SON GARMENT JOIN STOCK COMPANY
- Loại hình: Công ty cổ phần
- Trụ sở Công ty: Tổ 8 – Phường Hòa Nghĩa – Quận Dương Kinh – Hải Phòng Điện thoại: 0303815267.
- Mã số thuế: 02012686
- Tài khoản ngân hàng: 102010000973216- Ngân hàng VIETINBANK, chi nhánh Hải Phòng.
- Ngành nghề đăng ký kinh doanh: Công ty cổ phần may Trường Sơn chuyên cung cấp các loại sản phẩm, dịch vụ sau:
- May gia công hàng chất lượng cao cho các thương hiệu thời trang nổi tiếng trong và ngoài nước
Sản xuất hàng may mặc mang thương hiệu riêng theo đơn đặt hàng của khách hàng sỉ (như hệ thống siêu thị, bán lẻ) với yêu cầu chất lượng tốt và giá cả vừa phải. Khóa luận: Kế toán bán hàng và XĐKQ bán hàng tại Công ty may.
Thiết kế, sản xuất, kinh doanh hàng thời trang may mặc với chiến lược đa thương hiệu phục vụ các phân khúc tiêu dùng khác nhau từ phổ thông đến cao cấp.
Kinh doanh nhập khẩu nguyên phụ liệu ngành may mặc phục vụ sản xuất của công ty và các công ty khác trong ngành
Năm 2008 do mới thành lập công ty, thiếu kinh nghiệm trong tổ chức quản lý, tay nghề công nhân còn yếu nên năng suất thấp, hàng hoá lỗi hỏng nhiều, công ty kinh doanh liên tục bị lỗ do không cạnh tranh được với các thương hiệu đã có từ lâu nên tình hình tài chính khó khăn.
Năm 2010-2011 với nỗ lực đổi mới công nghệ, phương thức kinh doanh, nâng cao tay nghề cho công nhân, đào tạo cán bộ, tổ chức lại bộ máy quản lý…tình hình kinh tế tại công ty dần được phục hồi và thu được nhiều thành quả đáng kể: quy mô sản xuất ngày càng mở rộng, năm 2009 chỉ có 6 chuyền may, 150 công nhân thì đến cuối năm 2012 số lượng chuyền may tăng lên là 8 chuyền với số lượng lao động là 365 người; chất lượng hàng hoá tăng lên, thu nhập của lao động trong doanh nghiệp tăng tạo niềm tin cho công nhân tiếp tục làm việc, ký kết nhiều hợp đồng kinh tế với khách hàng….
Năm 2012 tới nay công ty nhận được nhiều đơn đặt hàng của khách hàng trong và ngoài nước. Để đáp ứng nhu cầu sản xuất công ty tăng cường đầu tư xây dựng, mở rộng quy mô sản xuất, thành lập thêm 3 chuyền may và tuyển thêm 140 lao động mới. Các khâu bán hàng, makerting cũng được chú trọng, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.Vì vậy mà sản phẩm của công ty ngày càng được nhiều người ưa chuộng, uy tín của công ty được nâng cao.
2.1.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
- Đặc điểm về tình hình sản xuất của công ty
Công ty cổ phần may Trường Sơn là công ty chủ yếu gia công và sản xuất các sản phẩm hàng may mặc theo quy trình công nghệ khép kín với các loại máy móc chuyên dụng. Tính chất sản xuất của công ty là tính chất sản xuất phức tạp, kiểu liên tục, loại hình sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất phụ thuộc vào từng mã hàng cụ thể nhưng nhìn chung là sản xuất có chu kỳ ngắn. Mô hình sản xuất công nghiệp của công ty bao gồm các phân xưởng, trong đó bao gồm nhiều tổ, đội đảm bảo chức năng và nhiệm vụ cụ thể khác nhau nhằm phù hợp với quy trình công nghệ sản xuất công nghiệp của công ty.
- Quy trình công nghệ sản xuất tại Công ty Cổ phần may Trường Sơn
- Sơ đồ 2.1: Quy trình công nghệ tại CÔNG TY CP MAY TRƯỜNG SƠN
Hàng may mặc được sản xuất theo chu trình khép kín gồm: mua hoặc nhập khẩu nguyên vật liệu, tiếp nhận giám định vật tư, thiết kế, may mẫu, duyệt mẫu, giác mẫu, cắt, may, là hơi, đóng gói, giao hàng.
Nguyên vật liệu chính được nhập về kho theo từng chủng loại theo yêu cầu của khách hàng. Tức là khách hàng đặt hàng đồng thời khách hàng sẽ cung cấp luôn số nguyên vật liệu chính cho công ty.
Trên cơ sở mẫu mã, thông số theo yêu cầu của khách hàng, phòng kỹ thuật sẽ ra mẫu, may sản phẩm mẫu và chuyển mẫu cho phân xưởng cắt. Tại đây công nhân lần lượt thực hiện các công việc: trải vải, đặt mẫu kỹ thuật và cắt thành bán thành phẩm, sau đó đánh số, phối kiện chuyển giao cho phân xưởng may.
Ở phân xưởng may, tại đây các công nhân thực hiện các công việc: chấp lót, trần bông, giáp vai, may cổ, may nẹp, măng séc… được tổ chức thành dây chuyền. Khóa luận: Kế toán bán hàng và XĐKQ bán hàng tại Công ty may.
Bước cuối cùng của dây chuyền là sản phẩm hoàn thành khi may, phải sử dụng các phụ liệu như khóa, chỉ,chun, cúc… may xong chuyển giao phân xưởng hoàn thiện.
Ở xưởng hoàn thiện sẽ tiến hành các bước: là hơi, kiểm tra chất lượng sản phẩm theo các tiêu chuẩn đã ký kết trong hợp đồng, sau đó đóng gói sản phẩm và cuối cùng nhập kho thành phẩm.
2.1.3 Chính sách và phương pháp kế toán áp dụng tại Công ty Cổ phần may Trường Sơn
Hiện nay công ty cổ phẩn may Trường Sơn áp dụng hình thức Nhật ký chung để thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin liên quan đến chỉ tiêu kinh tế- tài chính phục vụ cho việc thiết lập các báo cáo tài chính và ra các quyết định.
Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung tại Công ty Cổ phần may Trường Sơn.
Chế độ, chính sách kế toán Công ty đang áp dụng
- Chế độ kế toán áp dụng: Công ty áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính.
- Niên độ kế toán: bắt đầu từ ngày 01/01 đến ngày 31/12.
- Đơn vị tiền tệ sử dụng trong hạch toán kế toán: Việt Nam đồng (VNĐ)
- Hình thức kế toán: Công ty áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung
- Hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên
- Hạch toán chi tiết hàng tồn kho theo phương pháp ghi thẻ song
- Tính giá vốn hàng tồn kho theo phương pháp nhập bình quân sau mỗi lần nhập.
- Tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
- Tính và trích khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng.
2.2. Thực trạng tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần may Trường Sơn Khóa luận: Kế toán bán hàng và XĐKQ bán hàng tại Công ty may.
2.2.1. Kế toán doanh thu bán hang và cung cấp dịch vụ
Chứng từ sử dụng trong hạch toán kế toán doanh thu bán hàng
- Hóa đơn giá trị gia tăng
- Hợp đồng kinh tế, đơn đặt hàng
- Chứng từ thanh toán: giấy báo có
- Các chứng từ có liên quan khác
Sơ đồ 2.3: Quy trình hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ phần may Trường Sơn
- Tháng 06/2013, Công ty phát sinh một số nghiệp vụ bán hàng. Căn cứ vào các chứng từ trên kế toán tiến hành ghi vào sổ NKC, từ Sổ Nhật ký chung vào sổ cái 511, Sổ cái TK 333,Sổ cái TK131.
- Căn cứ vào hoá đơn bán hàng tiến hành theo dõi các khoản nợ phải thu trên sổ chi tiết 131.
- Ngày 11/06/2013 bán hàng cho công ty cổ phần thương mại Hoa Vinh theo hóa đơn số 0002842 chưa thanh toán.
- Ngày 16/06/2013 bán hàng cho công ty TNHH Nam Việt hóa đơn số 0002855 thanh toán ngay bằng chuyển khoản.
- Ngày 21/06/2013 bán hàng cho công ty Hồng Anh theo hóa đơn số 0002871 chưa thanh toán.
2.1.2. Kế toán giá vốn hàng bán tại Công ty Cổ phần may Trường Sơn
- Chứng từ kế toán sử dụng
Kế toán giá vốn hàng bán công ty sử dụng chứng từ là:
- Phiếu xuất kho
- Các chứng từ liên quan khác như: Giấy biên nhận, phiếu chi, giấy báo nợ…
- Tài khoản sử dụng
- Để hạch toán giá vốn hàng bán kế toán sử dụng các tài khoản: TK 632 – Giá vốn hàng bán
- Phương pháp xác định giá vốn hàng bán:
- Công ty xác định giá vốn hàng hoá theo phương thức bình quân sau mỗi lần nhập.
PHẦN 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM XÁC ĐỊNH CHÍNH XÁC KẾT QUẢ BÁN HÀNG TỪNG MẶT HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY TRƯỜNG SƠN
3.1 Áp dụng kế toán quản trị nhằm xác định kết quả bán hàng từng mặt hàng
Việc xác định kết quả bán hàng cho từng mặt hàng là rất cần thiết và quan trọng, đặc biệt là đối với những DN sản xuất như công ty cổ phần may Trường Sơn. Chính vì vậy, qua thời gian nghiên cứu tại đây, em nhận thấy DN nên thực hiện cách xác định kết quả bán hàng cho từng mặt hàng để thấy rõ lãi lỗ của từng sản phẩm, qua đó có được chiến lược kinh doanh phù hợp với từng sản phẩm của DN. Khóa luận: Kế toán bán hàng và XĐKQ bán hàng tại Công ty may.
- Nhận xét:
Qua số liệu tính toán được ở bảng trên ta thấy lợi nhuận trong tháng của công ty là 118.880.104 VNĐ, trong đó lợi nhuận cụ thể của từng mặt hàng như sau: Áo sơ mi lãi 8.650.129VNĐ( chiếm 7.3% tổng lợi nhuận), Áo vest lãi 25.061.504VNĐ( chiếm 21.% tổng lợi nhuận), Quần âu lãi 20.190.111VNĐ ( chiếm 17% tổng lợi nhuận), áo chống nắng lãi 13.214.854( chiếm 11.1% tổng lợi nhuận), quần jean lãi 51.763.536VNĐ( chiếm 43.5% tổng lợi nhuận).
- Nhìn chung tất cả các mặt hàng công ty sản xuất ra trong tháng đều có lãi.
Tuy nhiên, mặt hàng mang lại lợi nhuận cao nhất cho công ty chính là mặt hàng quần jean và áo vest, vì thế em thấy công ty nên có những chính sách và chiến lược phù hợp để đẩy mạnh việc sản xuất và tiêu thụ 2 mặt hàng trên.
3.2. Đề xuất đơn vị áp dụng các chính sách bán hàng phù hợp hơn
Trong cơ chế thị trường hiện nay,có rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh cùng một ngành nghề,lĩnh vực. Vì vậy việc các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh để thu hút khách hàng là điều tất yếu. Việc công ty không áp dụng chính sách ưu đãi (chiết khấu thương mại) trong bán hàng phần nào sẽ làm giảm lượng khách hàng đến với công ty,từ đó làm giảm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.
Vì vậy để có thể thu hút được khách hàng mới mở rộng thị trường tiêu thụ và vẫn giữ được những khách hàng cũ nhằm tăng doanh thu lợi nhuận công ty nên xây dựng các chính sách ưu đãi (chiết khấu thương mại) phù hợp với tình hình tại công ty.
Chiết khấu thương mại: là khoản tiền chênh lệch giá bán nhỏ hơn giá niêm yết doanh nghiệp đã giảm trừ cho người mua hàng do người mua hàng đã mua sản phẩm,hàng hóa.dịch vụ với khối lượng lớn theo thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế hoặc cam kết mua bán hàng.
Chiết khấu thương mại do công ty xây dựng phải dựa trên:
- Công ty có thể tham khảo chiết khấu thương mại của DN cùng ngành
- Chính sách chiết khấu thương mại được xây dựng dựa theo chiến lược kinh doanh từng thời kỳ của doanh nghiệp.
Ví dụ:Ngày 11/6/2013, xuất bán cho công ty cổ phần thương mại Hoa Vinh 500 sản phẩm, bao gồm 200 áo sơ mi, đơn gá chưa thuế GTGT 10% là 230.000đ/sản phẩm,200 quần âu, đơn giá chưa thuế GTGT 10% là 250.000đ/sản phẩm, 100 áo vest, đơn giá chưa thuế GTGT 10% là 400.000đ/sản phẩm.
Công ty nên cho khách hàng hưởng chiết khấu thương mại là 2% trên tổng giá trị tiền hàng, CHTM trừ ngoài hóa đơn.Kế toán đơn vị lập phiếu kế toán phản ánh chiết khấu thương mại cho khách hàng hưởng.
KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán bán hàng và XĐKQ bán hàng tại Công ty may.
Đề tài đã hệ thống hóa được lý luận chung về tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định chính xác kết quả bán hàng cho từng mặt hàng.
Đề tài đã mô tả và phân tích thực trạng tổ chức kế toán bán hàng và xác định chính xác kết quả bán hàng cho từng mặt hàng năm 2013 tại công ty Cổ phần may Trường Sơn theo chế độ kế toán ban hành theo Quyết định 15/2006QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài Chính và các văn bản sửa đổi, bổ sung từ đó thấy được một số ưu điểm trong công tác kế toán tại đơn vị như sau:
- Về kế toán bán hàng: Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh về bán hàng đều được ghi chép một cách chi tiết, đầy đủ và kịp thời đảm bảo nguyên tắc phù hợp khi ghi nhận doanh thu và chi phí phát sinh.
- Về kế toán chi phí: Các chi phí phát sinh như giá vốn hàng bán,chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp được cập nhật nhanh chóng, chi tiết vào sổ sách. Công ty áp dụng kế toán hàng tồn kho và tính giá trị hàng xuất kho phù hợp với loại hình kinh doanh của công ty.
- Về kế toán xác định kết quả bán hàng: Cuối niên độ kế toán, kế toán tiến hành tập hợp doanh thu, chi phí và xác định kết quả bán hàng, vì thế hoạt động bán hàng luôn được cung cấp một cách chính xác, kịp thời.
Tuy nhiên, công ty vẫn còn một số hạn chế như sau:
- Về chính sách bán hàng: Công ty chưa có hình thức khuyến khích khách hàng mua nhiều với số lượng lớn, khách hàng thanh toán nhanh như chiết khấu thanh toán, chiết khấu thương mại.
- Về áp dụng tổ chức bộ máy kế toán quản trị:Công ty chưa áp dụng kế toán quản trị để phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp. Vì vậy những thông tin mà kế toán cung cấp cho nhà quản lý đôi khi chưa đầy đủ và còn nhiều bất cập trong việc điều hành quản lý nội bộ đơn vị.
Đề tài đã đưa ra một số biện pháp để hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định chính xác kết quả bán hàng cho từng mặt hàng tại công ty Cổ phần may Trường Sơn như sau:
- Về chính sách bán hàng: Công ty nên sử dụng chính chiết khấu thương mại với tỷ lệ hợp lý khuyến khích khách hàng mua hàng với số lượng lớn,mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng doanh thu, lợi nhuận.
- Về áp dụng kế toán quản trị trong công tác quản lý DN: Công ty nên áp dụng kế toán quản trị vào công tác quản lý doanh nghiệp, điều đó giúp cho công ty có thể nắm bắt được những thông tin quan trọng một cách chính xác và kịp thời, từ đó đưa ra được những quyết định đúng đắn đảm bảo sự tồn tại và phát triển của công ty trong nền kinh tế thị trường.
Trên đây là toàn bộ nội dung đề tài nghiên cứu khoa học “Tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng nhằm xác định chính xác kết quả bán hàng cho từng mặt hàng tại công ty Cổ phần may Trường Sơn”. Khóa luận: Kế toán bán hàng và XĐKQ bán hàng tại Công ty may.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Kế toán tài sản và nguồn vốn tại Tập đoàn Hapaco


Pingback: Khóa luận: Kế toán quản lý hàng tồn kho tại Công ty quốc tế