Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Giải pháp cam kết WTO về mở cửa dịch vụ phân phối mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Giải pháp để Việt Nam thực hiện tốt các cam kết trong WTO về mở cửa dịch vụ phân phối cho các bạn.
I: Dự báo sự phát triển của dịch vụ phân phối ở Việt Nam
1. Cơ sở để dự báo
1.1 Dân số đông, thu nhập tăng sẽ thúc đẩy DVPP phát triển.
Tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm là điều vô cùng quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Một thị trường có lượng cầu lớn, có khả năng thoả mãn nhu cầu luôn là mục tiêu cho sự lựa chọn của các nhà cung cấp. Hiện nay, Việt Nam có số dân hơn 86 triệu người và hằng năm tăng trên 1 triệu người (đứng thứ 3 trong 11 nước Đông Nam Á, đứng thứ 8 trong 50 nước và vùng lãnh thổ châu Á, đứng 13 trong 208 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới), trở thành thị trường có tiềm năng rất hấp dẫn đối với các nhà bán lẻ. Ngoài ra, dân số Việt Nam có tới 65% là dân số trẻ, có một số lượng lớn những công dân thành thị trẻ tuổi có thu nhập tăng đều với thị hiếu tiêu dùng đang thay đổi. Thu nhập bình quân đầu người dần được cải thiện và kéo theo đó là mức chi tiêu của người dân cũng tăng lên. GDP bình quân đầu người của Việt Nam cũng liên tục tăng, năm 2005 là 638,4 USD, năm 2006 là 725,3 USD, năm 2007 là 835 USD và năm 2008 đã đạt 1.024 USD. Tỷ lệ tiêu dùng so với GDP của Việt Nam thuộc loại cao so với các nước trong khu vực (Việt Nam trên 70%, Singapore là 55,9%, Malaysia là 58,2%, Thái Lan là 67,7%…). Thị hiếu tiêu dùng của người dân Việt Nam cũng đang thay đổi, tạo điều kiện cho các hình thức phân phối hiện đại phát triển. Khoảng 60-70% người dân ở Tp.HCM và 20% dân số ở Hà Nội cho rằng họ thích mua sắm ở các siêu thị hơn là các khu chợ ngoài trời. Dự đoán trong 10 năm tới, con số này có thể lên tương ứng đến 90% dân số ở TP.HCM và 50% ở Hà Nội.
Thị trường bán lẻ Việt Nam đang phát triển nhanh chóng, kinh doanh bán lẻ tăng với tốc độ trung bình khoảng 20%/năm. Theo đánh giá về sự phát triển thị trường bán lẻ toàn cầu của công ty tư vấn thị trường bán lẻ A.T.Kearney – USA được công bố năm 2008, Việt Nam đã vươn lên xếp thứ 1/30 quốc gia hấp dẫn đối với các nhà bán lẻ nước ngoài. Đây là điểm hấp dẫn thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước đồng thời thúc đẩy ngành phân phối Việt Nam phát triển. Mặc dù bước vào năm 2009, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính địa ốc ở Mỹ, nhưng chính phủ Việt Nam đã có nhiều biện pháp tích cực để vực dậy nền kinh tế và do đó chắc chắn năm 2010 dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng trở lại.
Căn cứ vào xu hướng và tình hình phát triển kinh tế, đặc biệt là khi Việt Nam tích cực thực hiện các cam kết về mở cửa DVPP trong WTO, trong những năm tới, DVPP của Việt Nam sẽ phát triển mạnh do nguyên nhân là sự gia tăng đáng kể của các chủ sản xuất và kinh doanh vào hệ thống phân phối. Với mục tiêu tăng trưởng bình quân GDP thời kỳ 2006-2010 là 7,5-8%/năm thì quy mô về tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và dịch vụ ở thị trường trong nước vào năm 2010 sẽ ở mức 900-1.000 nghìn tỷ đồng. Như vậy, sẽ có sự gia tăng lớn các chủ thể kinh tế vào hệ thống phân phối hàng hoá của Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Dự báo tỷ trọng bán lẻ theo thành phần kinh tế đến năm 2010 là khu vực kinh tế trong nước (bao gồm khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế ngoài nhà nước) chiếm khoảng 90% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 10%. Tỷ trọng này được dự báo vào năm 2020 sẽ tương ứng là 80% và 20%. Tỷ trọng mức bán lẻ hàng hoá qua loại hình thương mại hiện đại (trung tâm thương mại, siêu thị, mạng lưới cửa hàng tiện lợi…) đạt 20% (khoảng 160 nghìn tỷ đồng) vào năm 2010, phấn đấu đến năm 2020 đạt khoảng 40% (khoảng 640 nghìn tỷ đồng).
1.2 Hệ thống phân phối ngày càng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội cũng sẽ thúc đẩy dịch vụ phân phối phát triển hơn. Khóa luận: Giải pháp cam kết WTO về mở cửa dịch vụ phân phối.
Đối với thị trường Việt Nam, hệ thống phân phối truyền thống sẽ được duy trì, đặc biệt là khu vực nông thôn; hệ thống phân phối liên kết dọc ngày càng lớn mạnh và phát triển theo hướng hiện đại. Phương thức phân phối truyền thống, mua đứt bán đoạn vẫn tồn tại song song với các hình thức phân phối hiện đại nhưng sẽ dần thu hẹp và suy yếu. Các nhà phân phối trong nước sẽ học hỏi được nhiều kinh nghiệm tổ chức quản lý và hiện đại hoá hệ thống phân phối của các nhà phân phối nước ngoài để tự củng cố, phát triển hệ thống của mình. Người tiêu dùng cũng sẽ được hưởng lợi nhiều từ những cải cách này. Trước mắt, các tập đoàn phân phối nước ngoài sẽ tập trung vào mở các siêu thị bán buôn và bán lẻ, nhưng dần dần họ sẽ mở rộng sang các hình thức bán lẻ không có cửa hàng, chuyên kinh doanh bán hàng qua catalogue, điện thoại, internet, máy bán hàng và giao tận nhà…Các hình thức này bước đầu đã được du nhập, và hứa hẹn có nhiều phát triển ở nước ta. Các công ty sản xuất trong nước sẽ phân phối qua thị trường nước ngoài dưới các hình thức mới như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng chọn…Đối với thị trường trong nước thì hệ thống phân phối sẽ hình thành và phát triển các dạng liên kết dọc theo kiểu tập đoàn hoặc theo dạng hợp đồng.
1.3 Các nhà phân phối nước ngoài thâm nhập vào thị trường phân phối Việt Nam khiến cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn sẽ tác động tích cực tới chất lượng của dịch vụ phân phối.
Theo lộ trình mà Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế (WTO, BTA, Hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt Nam – Nhật Bản, ASEAN cộng), các rào cản về việc gia nhập và rút khỏi hệ thống phân phối sẽ dần được loại bỏ. Bên cạnh đó, chính phủ cũng sẽ thực hiện những cải cách về môi trường kinh doanh nhằm tạo ra một môi trường đầu tư và kinh doanh thông thoáng cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Với việc mở cửa DVPP thì ngày càng có sự tham gia mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia vào hệ thống phân phối của Việt Nam. Sự thâm nhập ngày càng nhiều các Tập đoàn phân phối đa quốc gia trên thị trường Việt Nam, ngoài Big C, Metro Cash & Carry, Cora, Parkson…và trong những năm tới đây có khả năng sẽ có thêm Wal-mart của Mỹ, Carrefour của Pháp, các tập đoàn phân phối trong nước. Hệ thống phân phối không còn là mảnh đất đặc quyền của các doanh nghiệp trong nước, buộc các doanh nghiệp trong nước phải chủ động tham gia, đổi mới mình đáp ứng nhu cầu của thị trường nếu không muốn bị loại ra khỏi sân chơi.
Sự liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp và sự liên kết giữa hệ thống phân phối trong nước với nước ngoài để hình thành hệ thống phân phối lớn mạnh hơn ngày càng phát triển. Quá trình tích tụ và tập trung sẽ diễn ra mạnh mẽ giữa các nhà phân phối trong nước tạo thành các chuỗi liên kết với các nhà sản xuất, các ngân hàng để tăng cường sức cạnh tranh (đại lý phân phối độc quyền cho thương hiệu Việt Nam, đặt các điểm giao dịch, máy ATM tại các siêu thị, chợ…). Một số nhà phân phối có tiềm lực sẽ mở rộng hoạt động phân phối ra nước ngoài thông qua liên doanh, liên kết với các tập đoàn phân phối nước ngoài hoặc thông qua các trung tâm giới thiệu sản phẩm, trung tâm thương mại của Việt Nam tại nước ngoài. Lực lượng người Việt Nam kinh doanh ở Nga và các nước Đông Âu cũng sẽ trở thành những mắt xích quan trọng trong hệ thống dây phân phối hàng “made in Việt Nam” nhưng mang thương hiệu quốc tế thay vì hàng Trung Quốc như hiện nay. Nhiều doanh nghiệp, các hộ nông dân, ngư dân, các làng nghề truyền thống do không đủ khả năng xây dựng hệ thống phân phối riêng sẽ tìm cách vươn ra thị trường thế giới bằng hình giao dịch điện tử. Khóa luận: Giải pháp cam kết WTO về mở cửa dịch vụ phân phối.
Tóm lại, hệ thống phân phối ở nước ta mặc dù vẫn còn mang nặng đặc điểm của một nền thương nghiệp quy mô nhỏ nhưng đang chuyển mình theo hướng hiện đại hoá và dự báo sẽ phát triển mạnh mẽ về hình thức, phương thức, quy mô trong thời gian tới. Cùng với quá trình thực hiện các cam kết quốc tế và chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, trên “sân chơi” sẽ xuất hiện nhiều gã khổng lồ đến từ nước ngoài, các loại hình phân phối cũng sẽ phát triển đa dạng. Trong bối cảnh đó, yếu tố sống còn quyết định sự tồn tại của hệ thống phân phối quốc gia là ý thức liên kết của các doanh nghiệp và vai trò hỗ trợ của Nhà nước. Sự liên kết giữa các nhà sản xuất, các nhà phân phối trong nước cộng với ý thức thay đổi trong phương thức kinh doanh tập hợp thành một khối, đủ sức làm đối trọng với các nhà phân phối nước ngoài trong giai đoạn hậu WTO.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Số liệu dự báo
2.1 Sẽ xuất hiện ngày càng nhiều mô hình phân phối hiện đại.
Theo dự báo của Bộ Công Thương, với tình hình mở cửa DVPP khi chúng ta thực hiện các cam kết gia nhập WTO như hiện nay thì đến năm 2010, kênh phân phối hiện đại sẽ chiếm tỷ lệ 30-40% và đến năm 2020 kênh này sẽ chiếm đến 60% trong tổng số các kênh phân phối. Hệ thống phân phối ngày một phát triển đã thúc đẩy sự xuất hiện nhiều mô hình phân phối hiện đại, nhất là ở các thành phố lớn của Việt Nam. Theo thống kê, cả nước hiện có 400 siêu thị, 60 trung tâm thương mại và gần 2000 cửa hàng tiện ích. Hệ thống này đang ngày càng mở rộng về quy mô, nâng cao về chất lượng, đan xen, hỗ trợ nhau để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu tiêu thụ sản phẩm, góp phần thúc đẩy sản xuất, tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống cho người dân.
Như vậy, trong một vài năm tới, hình thức chợ nhỏ, chợ cóc truyền thống sẽ dần dần bị thu hẹp lại, thay vào đó là sự xuất hiện ngày càng nhiều của các siêu thị và đại siêu thị cũng như các cửa hàng tiện lợi. Người tiêu dùng sẽ dần hình thành thói quen đi “siêu thị” thay vì “đi chợ” để mua sắm hàng hoá tiêu dùng thiết yếu hàng ngày. Theo dự báo trong vòng 10 năm tới, số người dân ở 2 thành phố lớn nhất nước là thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội thích đi mua sắm ở siêu thị hơn là ở chợ sẽ tương ứng là 90% và 50%. Và Việt Nam sẽ từng bước trở thành một nước công nghiệp.
Lĩnh vực DVPP đang ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam trong những năm tới. Hiện tại, DVPP đã chiếm tỷ trọng lớn thứ 3 trong tổng mức GDP, khoảng từ 13-15%, chỉ đứng sau ngành công nghiệp chế biến (20%) và nông nghiệp (18%). Và theo dự báo của Bộ Công Thương thì DVPP sẽ chiếm từ 15-20% trong tổng GDP trong những năm tới.
2.2 Chính sách của Đảng và Nhà nước sẽ có nhiều tác động tích cực đối với DVPP trong thời gian tới.
Để củng cố và phát triển thương mại nội địa trước thách thức của tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc xây dựng và phát triển hệ thống phân phối và bán lẻ. Cuối năm 2006, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt đề án “Chiến lược phát triển thương mại nội địa 2006-2010, định hướng đến năm 2015 và 2020”. Nội dung cơ bản của chiến lược phát triển thương mại nội địa đề ra 2 định hướng lớn:
Thứ nhất, là tổ chức lại thương mại nội địa, theo 2 hướng: Xây dựng các nhà phân phối gắn liền với địa bàn cụ thể và xây dựng các nhà phân phối có tính hệ thống, dựa trên các mối liên kết trong quá trình lưu thông và giữa lưu thông với sản xuất tiêu dùng. Trong đó có hệ thống phân phối chuyên ngành như xăng dầu, xi măng, sắt thép, phân bón…và hệ thống phân phối đa ngành như các trung tâm bán buôn hoặc chuỗi cửa hàng bán lẻ…
Thứ hai, hoàn chỉnh môi trường pháp lý để quản lý và điều tiết vĩ mô về thương mại nội địa, bảo đảm thị trường phát triển nhanh, mạnh và bền vững. Sau khi hoàn thiện chiến lược, Bộ Công Thương sẽ trình Thủ tướng chính phủ ban hành quyết định về một số chính sách hỗ trợ khuyến khích cho các nhà phân phối trọng điểm.
II. Các giải pháp cụ thể Khóa luận: Giải pháp cam kết WTO về mở cửa dịch vụ phân phối.
2.1 Nhóm giải pháp vĩ mô.
2.1.1 Cần tích cực cải cách hệ thống các chỉ tiêu thống kê đối với ngành dịch vụ phân phối
Hiện nay, sự không đồng nhất và thiếu chi tiết của các chỉ tiêu thống kê theo các phân ngành DVPP đã và đang gây khó khăn cho việc phân tích, đánh giá một cách chính xác các xu hướng phát triển và hoạch định chính sách phát triển của Nhà nước. Thực tế, các số liệu thống kê về ngành DVPP của Việt Nam hiện nay mới chỉ bao gồm chỉ tiêu về số lượng doanh nghiệp phân theo địa phương và phân theo loại hình doanh nghiệp. Trong khi đó, các chỉ tiêu quan trọng về các doanh nghiệp như chỉ tiêu về qui mô vốn, lao động, doanh số, phân ngành bán buôn, bán lẻ,…lại chưa được thống kê. Mặt khác, trong chỉ tiêu này lại bao gồm cả các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn, nhà hàng thuộc ngành du lịch. Những hạn chế này cũng tồn tại trong chỉ tiêu thống kê về tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ xã hội. Bên cạnh đó, trong các tài liệu thống kê ở phạm vi ngành và quốc gia hiện nay hoàn toàn thiếu vắng các chỉ tiêu liên quan đến các hoạt động của thương mại dịch vụ phân phối.
Do đó, Nhà nước cần cải cách hệ thống các chỉ tiêu thống kê nói chung và đối với ngành dịch vụ phân phối nói riêng đảm bảo thu thập thông tin và phản ánh sát thực các xu hướng phát triển: Đối với ngành DVPP, các chỉ tiêu thống kê đối với phân ngành dịch vụ bán buôn và bán lẻ phải phân tách được doanh số bán buôn, doanh số bán lẻ, phân tách theo hình thức sở hữu, theo lãnh thổ, cơ cấu, theo phương thức thực hiện giao dịch. Các chỉ tiêu thống kê liên quan đến các chủ thể hoạt động trong ngành dịch vụ phân phối phải phản ánh được cơ cấu theo quy mô, cơ cấu theo lãnh thổ, cơ cấu theo hình thức sở hữu.
2.1.2 Khẩn trương xây dựng cơ cấu ngành dịch vụ phân phối hợp lý theo một chiến lược mang tính dài hạn hơn.
Một thực tế là ngành dịch vụ phân phối ở nước ta hiện vẫn còn tồn tại nhiều điểm bất hợp lý như: 1) Thương nghiệp nhỏ hiện vẫn chiếm tỷ trọng quá lớn. Điều này là hoàn toàn trái ngược với xu hướng phát triển nhanh của sản xuất và tiêu dùng trong nước; 2) Sự suy giảm nhanh cả về số lượng và vai trò của các nhà bán buôn – các công ty thương nghiệp cấp I và cấp II – trước đây, trong khi khu vực tư nhân chưa đủ lớn mạnh, các nhà sản xuất chưa tự kiểm soát được hệ thống phân phối đã dẫn đến sự bất hợp lý trong việc kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng; 3) Cơ cấu ngành dịch vụ phân phối theo lãnh thổ cũng đang có sự bất hợp lý do sự phát triển các cơ sở kinh doanh tập trung quá mức tại các đô thị, các khu vực tập trung dân cư.
Để giải quyết vấn đề này, nhà nước cần phải nhanh chóng thiết lập cơ cấu ngành dịch vụ phân phối hợp lý theo hướng đẩy nhanh quá trình hình thành các nhà phân phối lớn trong nước có khả năng phát triển mạng lưới phân phối trong phạm vi cả nước và nước ngoài. Để hình thành các nhà phân phối lớn, Nhà nước cần dựa trên cơ sở đặc trưng phân phối sản phẩm của từng ngành hàng, từng khu vực thị trường và các xu hướng thay đổi phát triển của hệ thống phân phối. Trong đó, các xu hướng thay đổi, phát triển của hệ thống phân phối. Trong đó, các xu hướng phát triển chính của hệ thống phân phối bao gồm: 1) Lĩnh vực phân phối ngày càng trở nên tập trung hơn. Điều này có nghĩa là sẽ hình thành các nhà phân phối lớn có quan hệ gần gũi với các nhà sản xuất và các nhà bán lẻ; 2) Vai trò của các nhà bán buôn truyền thống trong một số ngành hàng, nhất là những ngành hàng tiêu dùng thông thường sẽ bị suy giảm trên thị trường do các hãng bán lẻ lớn mở rộng buôn bán tận gốc, hoặc do nhà sản xuất muốn kiểm soát việc phân phối. Trong giải pháp này các nội dung cụ thể cần được thực hiện bao gồm:
- Khuyến khích các nhà bán lẻ trong nước liên kết với nhau hoặc phát triển thành chuỗi cửa hàng bán lẻ đối với các mặt hàng tiêu dùng thông dụng, các mặt hàng thực phẩm;
- Hình thành các hãng cung cấp trọn gói hàng hoá trong các ngành hàng có giá trị cao như đồ nội thất, các mặt hàng thiết bị… Khóa luận: Giải pháp cam kết WTO về mở cửa dịch vụ phân phối.
- Hình thành các hãng bán buôn lớn đối với các mặt hàng nông sản tiêu thụ với khối lượng lớn.
2.1.3 Hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với hệ thống phân phối.
Để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của nền kinh tế và của người tiêu dùng do những thoả thuận trong mối quan hệ theo chiều dọc giữa nhà sản xuất và các nhà phân phối gây nên, Nhà nước có thể áp dụng các biện pháp như:
- Đưa ra quy định nhằm kiểm soát giá bán lẻ, các hình phạt đối với biểu hiện độc quyền qua giá bán lẻ;
- Quy định khung tỷ lệ chiết khấu giữa các nhà sản xuất với các nhà bán buôn và giữa các nhà bán buôn với các nhà bán lẻ.
- Quy định các hình thức và phương thức khuyến mại của các nhà sản xuất dành cho các nhà phân phối bán buôn và bán lẻ;
- Đưa ra các quy định cụ thể về điều kiện tham gia thị trường đối với các chủ thể bán buôn và bán lẻ;
- Các quy định nhằm tăng cường tính pháp lý trong quan hệ giữa các đối tượng trong hệ thống phân phối…
2.1.4 Chủ động xây dựng các biện pháp phi thuế quan phù hợp để quản lý hoạt động của DVPP nước ngoài.
Giờ đây các nhà phân phối nước ngoài đã hoàn toàn có thể thành lập công ty 100% vốn ở Việt Nam trong lĩnh vực phân phối. Với những ưu thế về kinh nghiệm, vốn, công nghệ…họ đang là mối lo ngại đối với các doanh nghiệp phân phối trong nước. Nếu như Việt Nam không có những biện pháp quản lý chặt ngay từ đầu thì thị trường phân phối của Việt Nam rất có khả năng bị thâu tóm bởi các công ty phân phối nước ngoài. Việt Nam cần phải đặt ra những quy định “bản lề” khi xem xét cấp phép cho DN nước ngoài. Đó là ưu tiên khuyến khích các DN có công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến; có tiềm lực kinh tế (đặt ra mức tối thiểu về vốn đầu tư); giám sát chặt việc xây dựng hệ thống cửa hàng bán buôn, bán lẻ của DN nước ngoài theo quy hoạch; khi cấp phép cơ sở bán lẻ thứ nhất phải xem xét các tiêu chí như việc xin phép mở cơ sở thứ hai; ngoài ra, cần quy định rõ nếu trong thời gian 6 tháng sau khi cấp phép mà DN nước ngoài không hoạt động thì các địa phương có quyền thu hồi giấy phép XNK.
2.2 Nhóm giải pháp đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ phân phối Khóa luận: Giải pháp cam kết WTO về mở cửa dịch vụ phân phối.
2.2.1 Chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên cho doanh nghiệp mình.
Là thành viên chính thức của WTO, bước vào một sân chơi thương mại toàn cầu bình đẳng, lãnh đạo các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp phân phối nói riêng cần phải nâng cao nhận thức và am hiểu pháp luật về thương mại quốc tế, nâng cao trình độ quản lý và khả năng nhanh nhạy đáp ứng với tình hình kinh doanh theo môi trường và thông lệ quốc tế. Muốn thế, mỗi doanh nghiệp DVPP phải xây dựng cho mình kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực đủ về số lượng, tốt về chất lượng.
Các doanh nghiệp phân phối cũng phải chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho nguồn nhân lực của mình phù hợp với từng mục tiêu phát triển của doanh nghiệp.
Cần chủ động và tích cực đổi mới mô hình tổ chức, công nghệ quản lý và phương thức kinh doanh theo hướng chuyên nghiệp hoá, hiện đại hoá; có chiến lược phát triển doanh nghiệp theo những mô hình thích hợp như xây dựng thành tập đoàn, công ty mẹ – con, công ty cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh hàng hoá chuyên ngành hay tổng hợp; thức hiện dịch vụ phân phối hay logistics…
2.2.2 Tìm kiếm các giải pháp đột phá để nâng cao năng lực cạnh tranh của bản thân doanh nghiệp.
Hiện nay, tỷ lệ giữa kênh phân phối truyền thống và hiện đại của Việt Nam có sự chênh lệch khá cao. Kênh phân phối truyền thống ở Việt Nam đang chiếm tới 85%. Đây cũng chính là sức hấp dẫn của thị trường tiêu thụ ở Việt Nam. Tuy nhiên, nếu đối tác nước ngoài nắm giữ được 85% thị phần hệ thống phân phối vẫn còn rời rạc và manh mún này, thì họ có thể thống lĩnh được thị trường tiêu thụ của Việt Nam. Các tập đoàn bán lẻ nước ngoài có thể vượt qua được các rào cản về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia của Việt Nam thông qua các cuộc đàm phán thương mại quốc tế nhưng họ sẽ vấp phải một rào cản vô hình và khó khăn hơn rất nhiều là văn hoá tập quán và thói quen tiêu dùng của người dân nước ta. Đây chính là lợi thế mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng và phát huy.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng phải nhận thức được sức mạnh của sự liên kết với nhau thành những tập đoàn phân phối, bán lẻ lớn, phát triển rộng khắp ở mọi phân đoạn thị trường để tiến tới xây dựng hệ thống phân phối và bán lẻ đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn nước ngoài.
Trong xây dựng chiến lược cạnh tranh cả ngành trước hết phải phù hợp với chiến lược phát triển tổng thể của đất nước, đồng thời phải phù hợp với chiến lược phát triển của từng vùng, miền và phù hợp với chiến lược phát triển các ngành khác như chiến lược xây dựng sản phẩm quốc gia, chiến lược xây dựng thương hiệu…để tạo sự đồng bộ, nhất quán, từ đó sẽ tạo sức mạnh tổng hợp và tăng năng lực cạnh tranh của ngành trong bối cảnh mới.
Ngoài sự hỗ trợ của nhà nước, bản thân các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ cần nắm bắt các mô hình bán lẻ trên thế giới và định hướng đúng hình thức đầu tư sao cho phù hợp với đặc trưng của thị trường nội địa. Đây là lợi thế cạnh tranh duy nhất. Các đại gia quốc tế dù có phung phí tiền bạc cho công tác nghiên cứu thị trường, thì cũng không ai hiểu sân nhà bằng chính doanh nghiệp trong nước. Khóa luận: Giải pháp cam kết WTO về mở cửa dịch vụ phân phối.
Không giống như những dịch vụ hay sản phẩm khác, bản thân điểm bán lẻ chính là nơi quảng bá thương hiệu bán lẻ hiệu quả nhất. Việc đầu tư vào một hệ thống nhận diện thương hiệu bán lẻ (bao gồm logo, màu sắc, cách thức và vật liệu trang trí) rất quan trọng, vì không chỉ đóng vai trò như quảng cáo ngoài trời mà còn gắn liền ngày với hình ảnh cửa hiệu. Hình ảnh này cũng gắn liền với cách trưng bày hàng hoá bên trong, vốn là những công cụ quảng bá kinh điển của cửa hàng bán lẻ. Các hình thức khuyến mãi là chiêu thức không thể thiếu, đặc biệt là các tác nghiệp giảm giá theo mùa, thu hút khách đến bằng những mặt hàng đại hạ giá.
Hầu hết các thương hiệu bán lẻ thành công đều có quy mô lớn với mạng lưới bán lẻ rộng khắp. Hoạch định mạng lưới bán lẻ vì thế là công tác chiến lược của ngành kinh doanh này. Việc hình thành mạng lưới không chỉ hữu ích trong công tác định vị và quảng bá thương hiệu mà còn giúp thương hiệu có sức mạnh quy mô.
Các nhà bán lẻ Việt Nam nên mở rộng và khai thác thương hiệu riêng. Một khi đã tạo dựng được thương hiệu đủ mạnh, nhà bán lẻ hoàn toàn có thể dùng chính thương hiệu của mình để mở rộng sang cung ứng các sản phẩm. Người tiêu dùng khi đó sẽ hoàn toàn yên tâm với các sản phẩm mang thương hiệu của trung tâm mua sắm mà mình tin tưởng.
Thời điểm 01/01/2009 cho phép các nhà phân phối nước ngoài được thành lập công ty 100% vốn tại Việt Nam đã được thực hiện theo đúng cam kết gia nhập, do vậy tình hình đòi hỏi chính phủ và các nhà phân phối và bán lẻ nước ta rất phải rất khẩn trương trong việc xây dựng, củng cố hệ thống phân phối và bán lẻ nhằm tăng sức cạnh tranh với các tập đoàn bán lẻ hùng mạnh trên thế giới.
2.3. Một số giải pháp khác.
2.3.1. Tăng cường vai trò của hệ thống phân phối của từng doanh nghiệp
- Đối với hệ thống phân phối liên kết dọc
Phát triển liên kết là phát triển sự phân công theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu dùng, trong đó các hệ thống được chuyên môn hoá nhằm thực hiện phân phối, tiêu thụ hàng hoá có hiệu quả trên thị trường.
Để phát triển được các hệ thống phân phối liên kết dọc, các doanh nghiệp phải đặt phân phối ở trung tâm của chiến lược kinh doanh, coi phân phối là nhiệm vụ trọng yếu trong dài hạn và đầu tư nguồn lực đầy đủ cho phân phối. Để có các hệ thống phân phối liên kết dọc hiệu quả, các doanh nghiệp phải tuân thủ đầy đủ các qui trình tổ chức hệ thống phân phối. Đó là kết quả của quá trình tư duy chiến lược, quá trình làm thích ứng các hoạt động bên trong doanh nghiệp với các tổ chức bên ngoài có liên quan trong kinh doanh. Đặc biệt, tổ chức hệ thống phân phối phải là kết quả của quá trình đàm phán thiết lập các quan hệ trong kinh doanh. Khóa luận: Giải pháp cam kết WTO về mở cửa dịch vụ phân phối.
Doanh nghiệp cần xác định cụ thể cấu trúc của hệ thống phân phối với các thành viên cụ thể và những công việc tương ứng phù hợp với năng lực của họ, cần xác lập mức độ và kiểu liên kết giữa các thành viên trong hệ thống. Có nhiều kiểu tổ chức hệ thống phân phối theo những mô hình liên kết giữa các thành viên khác nhau. Các doanh nghiệp phải tuỳ thuộc điều kiện cụ thể của mình để lựa chọn mô hình tổ chức hệ thống thích hợp. Yêu cầu có tính quy luật là các doanh nghiệp nên liên kết với nhau theo mức độ từ thấp đến cao, từ liên kết ở một số cấp độ phân phối đến liên kết trong toàn bộ hệ thống.
Tuỳ thuộc điều kiện cụ thể, doanh nghiệp có thể lựa chọn 4 loại hình tổ chức như sau:
- Tổ chức các hệ thống liên kết dọc được quản lý
Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong hệ thống phân phối truyền thống cần tăng mức độ phụ thuộc lẫn nhau và khả năng điều khiển hệ thống để dần chuyển thành hệ thống liên kết dọc được quản lý. Nghĩa là mức độ phụ thuộc lẫn nhau và các hoạt động liên kết trong hệ thống ngày càng phổ biến hơn. Nhiều doanh nghiệp nhỏ gồm cả các nhà sản xuất và các trung gian thương mại cần tăng mức độ quản lý các quan hệ kinh doanh. Nhiều kênh phân phối truyền thống qua các trung gian thương mại ở các chợ có thể chuyển sang hệ thống liên kết dọc do một nhà bán buôn giữ vai trò lãnh đạo hệ thống. Doanh nghiệp sẽ phải xác định những hoạt động phối hợp chung trong hệ thống liên kết dọc được quản lý.
Hệ thống phân phối liên kết dọc được quản lý có thể phát triển từ thấp đến cao và có thể phát triển từ một số khâu trong quá trình lưu thông hàng hoá cho tới toàn bộ quá trình từ sản xuất tới bán buôn, bán lẻ và tiêu dùng. Tuỳ theo diễn biến của thị trường và thực trạng cũng như khả năng của mình, doanh nghiệp cần chủ động phát triển hệ thống liên kết doanh nghiệp được quản lý để mở rộng và phát triển hệ thống phân phối một cách hiệu quả nhất.
- Tổ chức hệ thống phân phối hợp đồng dưới hình thức tổ chức hợp tác bán lẻ và chuỗi bán lẻ do người bán buôn đảm bảo.
Đối với các doanh nghiệp nhỏ thì cần phải tổ chức hệ thống phân phối kiểu tổ chức hợp tác bán lẻ để tạo ra sức mạnh đàm phán trong hệ thống. Khi tham gia các tổ chức hợp tác, họ có thể ký hợp đồng mua theo số lượng lớn với giá và điều kiện cung cấp ưu đãi từ nhà sản xuất hoặc cùng hợp tác để thực hiện xúc tiến trên thị trường. Những nhà bán buôn cần phát triển các hợp đồng cung cấp hàng hoá cho một số người bán lẻ nhất định ở từng khu vực thị trường để đảm bảo kinh doanh ổn định.
Vấn đề quan trọng trong tổ chức hệ thống phân phối này là cần có qui hoạch tổng thể các thành viên của toàn hệ thống. Mỗi đại lý hay nhà bán lẻ mới tham gia vào hệ thống đều phải nằm trong kế hoạch phát triển của doanh nghiệp để hàng hoá tới đúng thị trường mục tiêu, để các thành viên không giẫm chân lên nhau.
Nội dung hợp đồng phải chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi giữa các thành viên.
Một thị trường đầy tiềm năng mà các các doanh nghiệp còn chưa quan tâm đúng mức là nông thôn. Các doanh nghiệp có thể thông qua việc tổ chức các liên kết theo hợp đồng để thực hiện trao đổi, mua bán sản phẩm với thị trường nông thôn và qua đó trở thành động lực thúc đẩy nông thôn phát triển. Trước hết những doanh nghiệp kinh doanh vật tư nông nghiệp, thu mua nông sản chế biến và xuất khẩu, hàng công nghệ phẩm cần phải thiết lập được những quan hệ hợp đồng với nông dân để cung cấp vật tư nông nghiệp và tiêu thụ được nông sản của họ. Các doanh nghiệp cần phát triển các quan hệ hợp đồng với nông dân để đảm bảo quan hệ buôn bán bình đẳng với họ. Các hợp tác xã kiểu đại lý mua và bán cho nông dân có thể đóng vai trò là thành viên quan trọng trong các kênh trao đổi với nông dân. Khóa luận: Giải pháp cam kết WTO về mở cửa dịch vụ phân phối.
- Tổ chức hệ thống phân phối bằng hợp đồng kiểu đặc quyền kinh tiêu
Phát triển các hệ thống phân phối theo hợp đồng đặc quyền kinh tiêu sẽ mang lại sức mạnh quản lý và điều hành hệ thống, tăng hiệu quả hoạt động của hệ thống. Nội dung hợp đồng của liên kết dọc đặc quyền kinh tiêu tạo cho người sản xuất cơ sở pháp lý để thực hiện quản lý hệ thống. Người chủ quyền có sức mạnh quan trọng để điều khiển các đại lý đặc quyền theo truyền thống. Các doanh nghiệp Việt Nam cần thấy đây là quan hệ kinh doanh hai bên cùng có lợi để cùng nhau đàm phán hình thành các hợp đồng đặc quyền kinh tiêu hiệu quả. Các doanh nghiệp lớn, sản phẩm có tiếng tăm trên thị trường cần chủ động phát triển các quan hệ đặc quyền kinh tiêu để khai thác thị trường có hiệu quả. Các doanh nghiệp cần biết đầu tư, tạo lập uy tín hình ảnh cho nhãn hiệu của mình, phát triển bí quyết công nghệ, kinh nghiệm quản lý để có thể khai thác phát triển thị trường qua phương thức đặc quyền kinh tiêu.
Những người nhận quyền cần biết khai thác quyền kinh doanh của mình đã mua sao cho có hiệu quả. Để các hợp đồng đặc quyền kinh tiêu có sức sống lâu dài đòi hỏi cả hai bên người chủ quyền và người nhận quyền phải nghiên cứu về nhau và về điều kiện thị trường cẩn thận. Những điều khoản của hợp đồng phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để tránh thiệt hại cho mỗi bên.
- Tổ chức hệ thống phân phối tập đoàn hiện có và phát triển hệ thống tập đoàn của các doanh nghiệp có điều kiện.
Trong tổ chức hệ thống phân phối tập đoàn, doanh nghiệp phải xác định bao nhiêu đơn vị thành viên, qui mô mỗi thành viên thế nào? Bố trí trên các khu vực thị trường ra sao và phân chia công việc phân phối cụ thể, phạm vi trách nhiệm cho từng đơn vị.
- Các mặt hàng công nghiệp thiết yếu đối với đời sống kinh tế xã hội như thép, than, xi măng, xăng dầu, hoá chất cơ bản cần phát triển các hệ thống tập đoàn do doanh nghiệp Nhà nước làm nòng cốt. Tuy nhiên, các tổng công ty đã tổ chức theo hình thức này cần nghiên cứu tổ chức lại theo qui trình thiết kế hệ thống để đảm bảo các công việc phân phối được phân chia khoa học, giảm bộ máy quản lý.
- Các doanh nghiệp sản xuất có quy mô lớn, tạo lập được các cơ sở sức mạnh và có nguồn lực lớn có thể phát triển các hệ thống phân phối do họ làm chủ để cạnh tranh và chi phối thị trường. Các doanh nghiệp thương mại lớn, có sức mạnh sẽ phát triển hoà nhập ngược và xuôi để làm chủ các hệ thống của họ như tự xây dựng các cở sở sản xuất hoặc lắp ráp, xây dựng các cửa hàng bán lẻ của họ.
- Một số doanh nghiệp có thể thiết lập và điều hành một hệ thống phân phối khép kín từ nghiên cứu nhu cầu thị trường, tự tổ chức việc mua nguyên liệu, vật tư sản xuất, tổ chức phân phối và lưu thông sản phẩm, tổ chức các hoạt động dịch vụ phục vụ khách hàng. Khóa luận: Giải pháp cam kết WTO về mở cửa dịch vụ phân phối.
Đa dạng hoá các hình thức của hệ thống dịch vụ phân phối liên kết ngang
Để phát triển hệ thống phân phối hàng hoá Việt Nam trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế có thể phát triển các mối liên kết ngang khác nhau như sau:
Trước hết đó là mối liên kết ngang dưới hình thức Câu lạc bộ. Đó là tổ chức của những người cùng sản xuất, kinh doanh bán buôn hoặc bán lẻ một ngành hàng tại các chợ hoặc các địa bàn hành chính (xã) phường. Nội dung hoạt động Câu lạc bộ là để thông tin, trao đổi với nhau những vấn đề về thị trường, giá cả và kinh nghiệm kinh doanh. Qua đó mà các thương nhân có thể học hỏi và tiếp thu được các kinh nghiệm quí về phát triển hệ thống phân phối. Mô hình liên kết ngang dưới dạng Câu lạc bộ điển hình ở nước ta đó là “Câu lạc bộ bè cá ở An Giang”. Câu lạc bộ này có khoảng 100 thành viên và câu lạc bộ đã thay mặt các thành viên đứng ra ký hợp đồng với Agifish hợp đồng bao tiêu sản phẩm và thoả thuận lịch giao hàng. Do biết trước lịch giao sản phẩm và giá cả nên việc tiêu thụ cá nguyên liệu cho việc chế biến diễn ra thuận lợi, hiệu quả kinh tế tăng rõ rệt.
Thứ hai là liên kết ngang dưới hình thức Hiệp hội: Cho tới nay nước ta có khoảng gần 30 hiệp hội doanh nghiệp ngành hàng hoạt động. Các hiệp hội được thành lập và hoạt động với các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu như: 1) Tập hợp các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong ngành nhằm liên kết, tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển sản xuất, kinh doanh. 2) Thực hiện chức năng là cầu nối giữa các hội viên và các cơ quan quản lý Nhà nước, phổ biến về cơ chế, chính sách của Nhà nước tới các hội viên và phản ánh kiến nghị của hội viên tới cơ quan quản lý Nhà nước. 3) Thực hiện nhiệm vụ thông tin, xúc tiến thương mại nhằm hỗ trợ các hội viên trong mở rộng thị trường và tiêu thụ sản phẩm. 4) Thực hiện chức năng tư vấn, đào tạo. 5) Thực hiện chức năng đối ngoại và thay mặt các thành viên của hiệp hội tham gia tranh tụng quốc tế.
Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam (AVR) cũng đã được thành lập với gần 100 thành viên. Hiệp hội đã đề ra mục tiêu hoạt động đến năm 2010 là tập trung hỗ trợ và nâng cao năng lực cho các nhà bán lẻ Việt Nam, từng bước hình thành hệ thống bán lẻ Việt Nam với quy mô lớn và tính chuyên nghiệp cao. Hiệp hội cũng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia xây dựng cơ chế chính sách, quy hoạch phát triển loại hình kinh tế bán lẻ. Trước mắt, hiệp hội đề xuất và soạn thảo Luật Bán lẻ trình Quốc hội phê duyệt. Và trong thời gian sắp tới đòi hỏi phải tăng cường vai trò không chỉ AVR mà còn bất kỳ hiệp hội nào mang tính liên kết của các nhà phân phối để cạnh tranh với nhà phân phối nước ngoài.
Thứ ba là liên kết ngang thông qua hoạt động tại các chợ, trung tâm thương mại. Chợ bán buôn hay chợ bán lẻ là một loại hình tổ chức hoạt động thương mại đã xuất hiện rất lâu trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Đây là một dạng liên kết mang tính chất ngẫu nhiên do tập hợp của những người kinh doanh hoặc hội tụ tập trung của nhu cầu mà hình thành. Chợ bán buôn hoặc bán lẻ cũng có thể là chợ chuyên doanh theo ngành hàng, mặt hàng hoặc chợ kinh doanh tổng hợp. Cùng với sự phát triển của các mối liên kêt dọc hợp đồng hoặc đại lý độc quyền thì vai trò của các chợ sẽ giảm đi nhưng với điều kiện hiện nay và những năm tới vấn đề phát triển hệ thống phân phối liên kết ngang tại các chợ còn chiếm vị trí quan trọng. Do đó mà phát triển mạng lưới chợ như là một loại hình phổ biến của các mối liên kết ngang và chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống thị trường trung tâm, nhất là ở địa bàn nông thôn. Khóa luận: Giải pháp cam kết WTO về mở cửa dịch vụ phân phối.
Hệ thống các thị trường trung tâm bao gồm phần lớn là các sàn giao dịch hàng hoá, trung tâm thương mại…cũng là một trong những mô hình về sự liên kết ngang cần được phát triển. Do những hạn chế về vốn và cơ sở vật chất, các doanh nghiệp có thể liên kết với nhau để cùng phát triển các trung tâm giao dịch bán buôn hoặc trung tâm bán lẻ. Việc phát triển các liên kết ngang như vậy vừa tiết kiệm chi phí cho từng doanh nghiệp, vừa tạo điều kiện để phát triển các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh như tài chính, bảo hiểm, tư vấn, giao nhận hàng hoá, bao bì và bao gói. Mặt khác, khi uy tín của các trung tâm như trên được nâng cao thì việc phát triển hệ thống phân phối và tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp sẽ ngày một thuận lợi.
Thứ tư là liên kết ngang dưới dạng các tập đoàn, hãng: Ngày nay trên thế giới đã hình thành nhiều tập đoàn, hãng thương mại và đó là bước phát triển cao của các mối liên kết ngang. Lợi ích của phát triển các mối liên kết ngang chủ yếu dựa vào sự chuyên môn hoá và lợi thế về qui mô.
Một số doanh nghiệp trong nước như Tổng công ty thương mại Sài gòn, Coop Mart, Hapro…đã phát triển được một số siêu thị bán lẻ hiện đại và có uy tín, hiệu quả kinh doanh tăng lên rõ rệt. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, siêu thị hiện là nơi tiêu thụ khoảng 70% hàng hoá sản xuất trong nước và là một trong những nơi bán lẻ nhiều mặt hàng có chất lượng đảm bảo, dịch vụ phục vụ khách hàng chu đáo. Đây là một loại mô hình liên kết ngang có nhiều triển vọng phát triển trong tương lai, nó phù hợp với các loại hình doanh nghiệp thương mại chỉ hoạt động trong một khâu (bán buôn hoặc bán lẻ) nhưng kinh doanh tổng hợp nhiều mặt hàng. Nếu doanh nghiệp tập trung vào số ít các mặt hàng chuyên doanh thì mô hình cần phát triển sẽ là các liên kết dọc tập đoàn.
Tăng cường dịch vụ phân phối liên kết dọc ngang hỗn hợp
Trong thực tế ít có thị trường hàng hoá và dịch vụ đồng nhất. Sẽ là cực kỳ không chắc chắn nếu chỉ có một hệ thống phân phối duy nhất tới thị trường để thoả mãn nhu cầu dịch vụ đầu ra của tất cả các phân đoạn thị trường hiện tại và tiềm năng. Các doanh nghiệp có thể thiết kế hệ thống phân phối bao gồm các hệ thống cấu trúc phối hợp các điều kiện liên kết với nhau. Sự phối hợp này có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau. Có ba hướng cơ bản sau:
Xây dựng các hệ thống phân phối hỗn hợp. Đây chính là sự vận dụng hệ thống phân phối đa kênh bao gồm cả kênh liên kết dọc và liên kết ngang. Với những điều kiện có thể và cho phép, doanh nghiệp cần chú trọng phát triển các mối liên kết dọc và khi điều kiện chưa cho phép thì có thể phát triển hệ thống phân phối theo liên kết ngang. Doanh nghiệp phải lựa chọn hình thức nào để tiết kiệm chi phí và thực hiện hiệu quả nhất. Chẳng hạn, doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng nhưng có mặt hàng mà khả năng phát triển lớn và uy tín sản phẩm đã có thì trước hết tập trung vào các liên kết dọc. Bên cạnh đó, cần phát triển các liên kết ngang để củng cố và mở rộng hệ thống phân phối khi có điều kiện.
Xây dựng hệ thống đa cấp độ. Các cách tổ chức hệ thống phân phối có thể được phối hợp theo nhiều cách khác nhau như doanh nghiệp làm chủ một số cơ sở phân phối của nó (hệ thống phân phối tập đoàn) và nhượng quyền cho những người khác (các kiểu liên kết mềm). Một doanh nghiệp cần sử dụng nhiều hệ thống phân phối khác nhau cho cùng một sản phẩm. Mỗi cấp độ rộng lớn và dài sâu của hệ thống phân phối tuỳ theo tình hình cụ thể của thị trường và môi trường kinh doanh.
Liên kết giữa người tiêu dùng, thương mại và sản xuất còn được gọi là liên kết ngược. Phần lớn các máy móc chuyên dụng, các mặt hàng tươi sống có thời hạn bảo quản ngắn và các điều kiện vận chuyển phức tạp, chi phí cao đề phải thực hiện theo phương thức trên. Các doanh nghiệp cần chủ động khai thác hệ thống phân phối dưới dạng trên để phát triển hệ thống phân phối hàng hoá cho mình một cách có hiệu quả. Khóa luận: Giải pháp cam kết WTO về mở cửa dịch vụ phân phối.
2.3.2. Tăng cường sự hỗ trợ từ phía nhà nước đối với doanh nghiệp phân phối.
Đối với một lĩnh vực kinh tế còn non trẻ, năng lực cạnh tranh còn thấp như lĩnh vực phân phối thì sự hỗ trợ từ phía nhà nước đối với các nhà phân phối trong nước là điều vô cùng cần thiết và quan trọng.
Từ năm 2008, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối sẽ nhận được sự hỗ trợ được triển khai bởi Viện Phát triển Doanh nghiệp thuộc Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) qua dự án hỗ trợ hỗ trợ kỹ thuật về phát triển lĩnh vực dịch vụ phân phối. Về mặt nội dung, Dự án này sẽ tiếp cận toàn diện các chủ đề và khía cạnh liên quan tới phát triển dịch vụ phân phối và kênh phân phối trong DN. Các nội dung được đề cập trong kế hoạch triển khai bao gồm: Những nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng hệ thống phân phối, Thiết kế kênh phân phối, Quản trị kênh phân phối (Vận hành kênh phân phối, Quản trị nhân lực, Quản lý chi phí, Quản lý chất lượng, Bao bì, đóng gói và hậu cần, Công nghệ trong quản lý hệ thống phân phối), Quản trị thương hiệu và sở hữu trí tuệ, Xây dựng các mối liên kết hiệu quả giữa người mua – người bán, Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng và phát triển hệ thống phân phối, Các chiến lược và phương pháp tiếp cận khác nhau trong phát triển kênh phân phối, Kinh nghiệm xử lý các tình huống trong quá trình phát triển và điều hành hệ thống phân phối, Các nội dung liên quan tới phát triển dịch vụ phân phối tại các vùng khó khăn, vùng xa, Các vấn đề về cạnh tranh, thâu tóm hệ thống phân phối, Dịch vụ phân phối và việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong phát triển dịch vụ, Các nội dung về hạ tầng trong việc xây dựng hệ thống phân phối, Phát triển dịch vụ phân phối nhìn từ góc độ cơ quan quản lý.
Tuy nhiên đây mới chỉ là những hỗ trợ đơn thuần về mặt kỹ thuật, để tăng tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp thì Nhà nước cần phải có những ưu tiên khác như về vốn, lãi suất, về mặt bằng kinh doanh, về thuế, phối hợp hỗ trợ đào tạo nhân lực trong ngành phân phối. Cần cụ thể hóa những ưu tiên cho các nhà phân phối Việt Nam, chẳng hạn như chính sách ưu đãi thuế phải thực sự công bằng bởi hiện Nhà nước miễn thuế 2 năm đầu và giảm 50% thuế 3 năm tiếp theo cho nhà đầu tư nước ngoài mà DN trong nước không được hưởng). Hay trong việc quy hoạch địa điểm, mặt bằng kinh doanh (diện tích và vị trí đất) đai cho doanh nghiệp. Nhà nước cần phải thống nhất sự hỗ trợ với các địa phương có những ưu tiên, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong nước khi thực tế những địa điểm đẹp, diện tích rộng lại thường cho phép các doanh nghiệp nước ngoài sử dụng.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp cam kết WTO về mở cửa dịch vụ phân phối.
Ngành phân phối được coi là một ngành kinh tế rất nhạy cảm vì nó có ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu người bán hàng và hàng chục triệu người tiêu dùng, đặc biệt là hệ thống phân phối của một số mặt hàng thiết yếu và những đóng góp của ngành này đối với nền kinh tế quốc dân. Khi Việt Nam gia nhập WTO thì dịch vụ phân phối cũng chính là một trong những vấn đề được đàm phán căng thẳng nhất
Sự phát triển của ngành phân phối nước ta chưa đủ mạnh với những hoạt động còn manh mún, sức liên kết yếu, năng lực cạnh tranh thấp thì đã phải đối mặt với sức ép cạnh tranh mạnh mẽ từ phía các nhà phân phối nước ngoài khi chúng ta thực hiện các cam kết mở cửa dịch vụ phân phối trong WTO. Đặc biệt, thời điểm chính thức mở cửa hoàn toàn lĩnh vực này đã qua 4 tháng kể từ 01/01/2009 thì lĩnh vực này lại càng chịu thêm nhiều áp lực.
Trong những năm tới, dịch vụ phân phối của Việt Nam sẽ phát triển theo hướng các rào cản gia nhập cũng như rút lui khỏi hệ thống phân phối sẽ dần được loại bỏ khi Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế và các cải cách của chính phủ; thị trường phân phối Việt Nam cũng sẽ đón nhận sự thâm nhập ngày càng nhiều của các tập đoàn phân phối đa quốc gia như Walmart, Carrefour…; các nhà phân phối trong nước cũng sẽ liên kết, hợp tác mạnh mẽ hơn nữa; đồng thời đặc điểm nổi bật của ngành phân phối Việt Nam vẫn sẽ lưu giữ đó là sự tồn tại song song giữa phương thức phân phối truyền thống và các hình thức phân phối hiện đại tuy có sự thu hẹp dần của phương thức phân phối truyền thống.
Để khắc phục, cải thiện những yếu kém hiện tại của ngành phân phối đồng thời tận dụng được cơ hội phát triển theo những dự báo về sự hấp dẫn của thị trường Việt Nam thì phải có sự hỗ trợ, phối hợp thực hiện các giải pháp phát triển từ cả phía Nhà nước và doanh nghiệp. Nhà nước sẽ thực hiện các biện pháp quản lý vĩ mô tạo môi trường hoạt động thuận lợi, dành cho các doanh nghiệp phân phối những ưu đãi cần thiết. Các doanh nghiệp cần phải tự mình nâng cao năng lực cạnh tranh cho chính mình. Khi các giải pháp được thực hiện đồng bộ thì sẽ dần hình thành được các tập đoàn phân phối thương hiệu Việt, thị trường phân phối trong nước sẽ do chính doanh nghiệp trong nước nắm giữ. Khóa luận: Giải pháp cam kết WTO về mở cửa dịch vụ phân phối.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
