Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt Nam

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt Nam mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Một số bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt Nam cho các bạn.

I. BÀI HỌC TRONG VIỆC THU HÚT VÀ KHAI THÁC CÓ HIỆU QUẢ HƠN NỮA NHỮNG LỢI ÍCH TỪ CÁC TNCs

1. Tình hình hoạt động của các TNCs tại Việt nam

Cho đến nay, có thể thầy rằng bên cạnh những hạn chế không thể tránh khỏi, TNCs đã có những đóng góp to lớn trong quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa và tiến trình đổi mới của nước ta.

Nếu Coca-Cola được coi là TNCs đầu tiên có mặt tại Việt nam vào năm 2007-khi nước ta bắt đầu tiến trình đổi mới đất nước thì cho đến tháng 6-2019, tức là sau hơn mười năm đổi mới kinh tế, đã có 2700 dự án đầu tư trực tiếp của TNCs vào Việt nam với số vốn đăng ký là 35,9 tỷ USD . Đến 8-2025 con số này đã là 6.600 dự án FDI với tổng vốn cấp mới là hơn 62 tỷ USD, trong đó có 5.617 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là 48,15 tỷ USD , vốn thực hiện đạt gần 26 tỷ USD[36]. Vào năm 2023, tổng vốn FDI là 1,45 tỷ USD, năm 2024 là 1,6 tỷ, 2025 là hơn 5,8 tỷ, tăng 25% so với năm 2024 và vượt 29% so với kế hoạch thu hút 4,5 tỷ đã đề ra. Tính đến cuối tháng 4-2026, đã có 106 TNCs trong danh sách 500 công ty lớn nhất thế giới-theo xếp hạng của tạp chí Fortune năm 2026-đã có mặt tại Việt nam với 214 dự án, 11,09 tỷ USD vốn đăng ký và 8,59 tỷ vốn thực hiện [37]. Như vậy, chỉ những số liệu trên đã cho thấy TNCs mang lại một nguồn ngoại lực to lớn cho Việt nam trong quá trình phát triển nền kinh tế. Tuy vậy, thực trạng thu hút và khai thác nguồn lực to lớn này của nước ta vẫn còn nhiều hạn chế.

Theo biểu đồ số liệu đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt nam giai đoạn 2008-2025, có thể thấy dòng vốn FDI vào nước ta có xu hướng tăng liên tục cho đến năm 2016 và bắt đầu giảm liên tục do những ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á. Trong giai đoạn tiếp theo FDI vào Việt nam tăng giảm ở mức thấp do sự không ổn định của thị trường thế giới và tình hình chính trị bất ổn tại nhiều nước song đến năm 2024 dòng vốn vào này có xu hướng tăng trở lại và tăng mạnh trong năm 2025 lên mức 5,8 tỷ USD-mức tăng kỷ lục trong 8 năm liên tiếp. Trong tám tháng đầu năm 2026, Việt nam đã thu hút được đến 4 tỷ USD vốn mới và con số này hứa hẹn sẽ còn tăng trưởng rất nhiều trong thời gian tới. Việt nam đã trở thành một lựa chọn mới cho các nhà đầu tư nước ngoài với sự kiện Intel đầu tư 300 triệu USD vào nước ta trong năm qua.

Hình 13: Vốn FDI đăng ký vào Việt nam giai đoạn 2008-2025

Các TNCs ở Việt nam có nguồn gốc chủ yếu từ các nước đang phát triển Châu Á. Riêng trong giai đoạn 2018-2024, trong số 10 nước có TNCs đầu tư nước ngoài lớn nhất vào Việt nam thì có đến 7 là từ Châu Á-chiếm 66,66% tổng nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Theo UNCTAD, lượng vốn FDI mới từ các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi đã tăng 5% lên mức 133 tỷ USD trong năm 2025 [35]. Ngày càng có nhiều công ty của các nước đang phát triển mở rộng hoạt động của mình tại các thị trường nước ngoài, trong đó có Việt nam. Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

Hình 14: Mười nhà đầu tư lớn nhất vào Việt nam theo nguồn vốn đăng ký

TNCs hiện nay đang ngày càng đầu tư toàn diện vào Việt nam, trong đó chủ yếu là các lĩnh vực then chốt của ngành kinh tế quốc gia như dầu khí, điện-năng lượng, ôtô-xe máy, điện-điện tử, viễn thông, công nghiệp thực phẩm, công nghệ thông tin, tài chính ngân hàng, dịch vụ phân phối, giao thông vận tải ( hình 15 ). Hình thức đầu tư chủ yếu là đầu tư 100% vốn nước ngoài, chiếm 60% vốn đăng ký hiện nay và đang có xu hướng gia tăng[1].

Hình 15: Tỷ lệ các dự án FDI đầu tư vào Việt nam theo ngành

Mặt khác, với sự hiện diện của TNCs, tình hình kinh tế-xã hội Việt nam đã có những cải thiện đáng kể : khu vực FDI nói chung và TNCs nói riêng đã đóng góp tích cực cho nền kinh tế quốc gia: chiếm 37% giá trị sản xuất công nghiệp, 56% tổng kim ngạch xuất khẩu, 15,5% GDP và 1 tỷ USD cho ngân sách nhà nước trên tổng số vốn đưa vào thực hiện từ trước đến nay là 25,5 tỷ USD [37].

Qua tình hình hoạt động của TNCs tại Việt nam trong thời gian vừa qua có thể thấy rằng công ty xuyên quốc gia là một nguồn ngoại lực quan trọng để nước ta tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, cải thiện tình hình cán cân thương mại, vị thế và khả năng cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế. Trong giai đoạn mà quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa đang diễn ra sâu sắc hiện nay thì việc thu hút những nguồn lực từ bên ngoài là một bước đi quan trọng bên cạnh việc thúc đẩy, tăng cường và phát huy nội lực để chủ động phát triển đất nước trong ổn định và bền vững. Với những đóng góp to lớn về nâng cao trình độ công nghệ, trình độ quản lý, tăng nguồn vốn, cải thiện cán cân thanh toán trong quá trình thâm nhập và phát triển tại thị trường Việt nam, TNCs thực sự là một động lực to lớn từ bên ngoài nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta, góp phần quan trọng trong việc định hướng phát triển và chuyển giao công nghệ , tạo ra nguồn lực to lớn cho nền kinh tế phát triển.

Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực mà TNCs mang lại thì vẫn còn tồn tại một số yếu kém như: làm tăng tính phụ thuộc vào nước bản xứ về vốn, công nghệ, kỹ thuật, mạng lưới tiêu thụ hàng hóa, vấn đề chuyển giao những kỹ thuật cũ, lạc hậu, cạnh tranh không lành mạnh và trốn thuế .Mặc dù TNCs là một nguồn ngoại lực quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước song cũng không vì thế mà ta có thể xem nhẹ mặt này. Do đó, cần phải có những giải pháp, chính sách phù hợp để hạn chế hậu quả do TNCs nước ngoài mang lại. Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

Chính vì những điều trên mà ngày càng đặt ra cho nước ta một yêu cầu cấp bách là làm thế nào để có thể thu hút và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn ngoại lực này.

2. Các bài học kinh nghiệm trong thu hút và khai thác có hiệu quả TNCs của Việt nam.

Qua nghiên cứu vai trò của TNCs trong thương mại, đầu tư, công nghệ và mở cửa thị trường có thể nhận thấy được vai trò ngày càng to lớn của các công ty này đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng và nền kinh tế toàn cầu nói chung. Hơn thế nữa, những ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của các tập đoàn kinh tế này đặt ra cho mỗi quốc gia một câu hỏi: làm thế nào để có thể thu hút và sử dụng một cách có hiệu quả những nguồn ngoại lực quan trọng này trong phát triển kinh tế quốc gia và cải thiện môi trường marketing quốc tế. Chỉ khi có thể thu hút và sử dụng một cách có hiệu quả các TNCs tại Việt Nam thì ta mới có thể phát huy được một cách tích cực vai trò của các TNCs này tại nước ta. Ngày nay, khi tiến trình toàn cầu hóa đang diễn ra trên mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội của thế giới và cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ nhằm thu hút các TNCs trên thế giới thì Việt nam hơn bao giờ hết phải chứng minh được với thế giới đây là một môi trường đầu tư thuận lợi và an toàn với khả năng sinh lợi cao.

2.1. Bài học thứ nhất: Chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết ban đầu.

Việt nam cần tiếp tục giữ vững ổn định tình hình kinh tế-chính trị-xã hội, từng bước cải thiện môi trường đầu tư cho phù hợp hơn. Đây là mục tiêu quan trọng hàng đầu và cũng là cơ sở để thu hút và sử dụng TNCs nước ngoài. Có thể thấy rằng khi đưa ra quyết định đầu tư tại nước ngoài các TNCs đều phải xem xét đánh giá mức độ rủi ro xảy ra đối với khoản đầu tư đó. Với một nền kinh tế dù có tốc độ tăng trưởng cao song tình hình chính trị-xã hội không ổn định cũng sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư lớn như TNCs.

Việt nam từ trước đến nay luôn được đánh giá cao về mức độ ổn định tình hình kinh tế- chính trị-xã hội so với các nước khác trong khu vực vì vậy lợi thế này cần được phát huy cao độ trong thời gian tới nhằm tạo cơ sở thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là các TNCs. Song bên cạnh đó cũng phải thấy rằng ổn định chính trị-kinh tế không phải là yếu tố quyết định trong việc đưa ra lựa chọn địa điểm đầu tư của TNCs. Tình hình kinh tế – chính trị ổn định cần phải đi kèm theo nó là một môi trường đầu tư thông thoáng nhằm làm hài lòng các nhà đầu tư và cả TNCs. Về điểm này có thể thấy rằng môi trường đầu tư ở Việt nam tuy đã có nhiều cải thiện so với trước song nếu so với các nước khác trong khu vực thì vẫn còn nhiều yếu kém. Nếu như ở Thái Lan, Singapore, New Zealand, Ireland .. đều có một ủy ban thu hút đầu tư, quảng cáo hình ảnh nước mình cũng như tiếp xúc trực tiếp và thường xuyên với các tập đoàn lớn của nước ngoài để lắng nghe các yêu cầu cụ thể về cấp phép, sử dụng đất đai, đào tạo lao động[31] ..thì ở Việt nam các hoạt động này vẫn còn rời rạc và không thường xuyên, không được điều phối tốt. Do đó Việt nam cần xây dựng một bộ phận chuyên trách nhằm quảng bá hình ảnh đất nước cũng như tiếp xúc thường xuyên với các tập đoàn để tìm ra những bức xúc nhằm cải thiện tốt hơn môi trường đầu tư nội địa.

Bên cạnh đó, việc hoàn thiện thể chế pháp lý về bảo hộ sở hữu trí tuệ và công nghệ cũng là một giải pháp nhằm đảm bảo một môi trường đầu tư tốt cho các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là TNCs.

2.2. Bài học thứ hai: Hoàn thiện khung pháp lý và đơn giản hóa thủ tục hành chính để sử dụng có hiệu quả hơn các TNCs tại Việt nam. Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

Hoàn thiện khung pháp lý trong giám sát hoạt động của TNCs là yếu tố quan trọng nhằm sử dụng một cách có hiệu quả các TNCs đã, đang và sẽ hoạt động tại nước ta. Hiện nay một vấn đề nổi cộm trong quản lý hoạt động của TNCs tại Việt nam đó là vấn đề chuyển giá của TNCs để trốn thuế và do đó làm thất thoát ngân sách hàng tỷ đồng. Theo số liệu được phòng Quản lý Đầu tư nước ngoài công bố vào năm 2025: trong 1450 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh thì chỉ có hơn 190 doanh nghiệp báo cáo làm ăn có lãi(tương đương 13%); 1260 doanh nghiệp còn lại (tương đương 87%) hạch toán lỗ [34]. Trong thời gian gần sáu tháng đầu năm 2025, cục thuế thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành kiểm tra hơn 50 doanh nghiệp FDI và phát hiện nhiều doanh nghiệp khai man lợi nhuận trước thuế, số thuế truy thu là gần 60 tỷ đồng. Thực trạng hiện nay là khi doanh nghiệp lợi dụng hình thức chuyển giá để nâng chi phí đầu vào, hạ thấp giá đầu ra để giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp dẫn đến tình trạng lỗ “ảo” kéo dài và kết quả là doanh nghiệp Việt nam trong liên doanh không thể trụ nôỉ đành ôm nợ, xin rút và công ty liên doanh bị thôn tính thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.Trong khi đó, với trình độ hạn chế của Việt nam hiện nay thì dù Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã có quy định song phải cần đến ít nhất năm năm để kiểm tra xem một công ty xuyên quốc gia có đang tiến hành trốn thuế thông qua chuyển gía quốc tế không. Như vậy có thể thấy rằng năng lực thẩm định giá, khả năng theo dõi định giá nội bộ, kiểm soát chuyển giá quốc tế và quan trọng hơn cả là khung pháp lý liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp của nước ta còn nhiều hạn chế, yếu kém, thiếu chặt chẽ. Do đó, nhu cầu cấp bách hiện nay đối với Việt nam là bên cạnh việc thực hiện nhiều biện pháp nhằm thu hút TNCs thì cần phải hoàn thiện hơn nữa những quy định pháp luật liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp, cùng với đó là tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ đánh giá, thẩm định giá để tránh tình trạng trốn thuế của TNCs.

Mặt khác, có thể thấy rằng bên cạnh những lợi ích to lớn về vốn, công nghệ, quản lý mà TNCs mang lại thì cũng cần khẳng định rằng TNCs cũng gây ra một số tác động tiêu cực tới đời sống kinh tế- xã hội của một quốc gia.Vì vậy việc tăng cường kiểm tra giám sát của Nhà nước theo quy định của pháp luật đối với hoạt động của TNCs là cần thiết nhằm nhận biết được những điểm yếu, mặt trái mà TNCs gây ra làm nguy hại tới nền kinh tế để kịp thời có biện pháp xử lý. Thu hút được nhiều TNCs đầu tư vào trong nước là một nhiệm vụ lâu dài và khó khăn song để có thể sử dụng tốt và hiệu quả cácTNC đó còn khó khăn và đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn nữa của nước ta. Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

2.3. Bài học thứ ba: Phát triển cơ sở hạ tầng để tạo thuận lợi hơn nữa cho các nhà đầu tư.

Một trong những vấn đề quan trọng để một nước được lựa chọn làm điểm đến đầu tư của TNCs đó là điều kiện cơ sở hạ tầng của khu vực đó. Thực tiễn cho thấy các nước NIEs có sức hấp dẫn lớn đối với TNCs là do các nước này đã đầu tư thích đáng cho phát triển cơ sở hạ tầng, chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho TNCs hoạt động. Hiện nay hệ thống cơ sở hạ tầng của Việt nam còn nhiều yếu kém như đường sá, cầu cống, bến cảng, sân bay, thông tin liên lạc….chưa đáp ứng được điều kiện sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường. Vì vậy, Nhà nước cần đầu tư xây dựng phát triển bằng nhiều hình thức và có các ưu đãi về thuế so với các lĩnh vực khác. Chính phủ cần dành một số lượng lớn tài chính để mở rộng, nâng cấp các tuyến đường giao thông và đặc biệt là các khu công nghiệp hiện đại, thuận tiện . Trước mắt cần tập trung các nguồn lực vào xây dựng cơ sở hạ tầng ở các vùng, ngành trọng điểm, đầu mối giao thông quan trọng có hiệu quả kinh tế- xã hội cao; những vùng ngành tạo ra nhiều công ăn việc làm để tăng thu nhập cho người dân, từ đó cũng có tác dụng thúc đẩy và tạo điều kiện cho các vùng, các ngành khác phát triển. Nước láng giềng Trung Quốc cùng với việc xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, các đặc khu kinh tế.. đã luôn là nước đi đầu trên thế giới về thu hút FDI nói chung và thu hút đầu tư từ TNCs nói riêng. Như vậy việc xây dựng và phát triển các khu chế xuất, khu công nghệ cao ở những vùng đô thị lớn, thuận tiện về giao thông liên lạc là một đòi hỏi khách quan, xuất phát từ thực tiễn của nền kinh tế thị trường và phù hợp với xu thế hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng.. là nơi hội tụ các cơ quan khoa học và các doanh nghiệp trong và ngoài nước việc xây dựng các ngành công nghiệp xuất khẩu là một giải pháp hữu hiệu thu hút TNCs.

Bên cạnh những khoản đầu tư của chính phủ và viện trợ từ nước ngoài thì việc kêu gọi chính các TNC trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo hình thức BT, BOT, BTO cũng là một giải pháp lớn nhằm hiện đại hóa cơ sở hạ tầng của Việt nam.

2.4. Bài học thứ tư: Đào tạo đội ngũ lao động có kiến thức và kỹ năng, lành nghề nhằm học hỏi được những kinh nghiệm và kỹ thuật tiên tiến của TNCs.

Đây là một giải pháp cực kỳ quan trọng, nhất là trong tình hình hiện nay khi quan hệ hợp tác, hội nhập giữa các nền kinh tế trong khu vực và thế giới ngày càng sâu rộng, không phân biệt đến chế độ chính trị- xã hội giữa các quốc gia dân tộc. Việt nam khá có sức hấp dẫn đầu tư là do mức tăng trưởng kinh tế cao, dân số đông và trẻ song lại có nhược điểm lớn là lao động không lành nghề, trình độ chuyên môn và quản lý thấp, không đồng đều. Tổng hợp kết quả điểu tra của TS. Trần Văn Thọ trong năm 2023 cho thấy các doanh nghiệp FDI tích cực chuyển giao công nghệ cho lao động ở nhà máy và chuyển giao tri thức điều hành quản lý cho kỹ sư, nhân viên quản lý các cấp người Việt nam. Chỉ khi người Việt nam không hoặc chưa thỏa mãn các điều kiện về chuyên môn thì doanh nghiệp nước ngoài mới đưa người ở các nước khác đến. Tiền lương của một kỹ sư người Việt nam bằng 1/4 người cùng trình độ từ Đài Loan và 1/2 người từ Trung Quốc[12]. Như vậy nếu Việt nam có thể đào tạo được một đội ngũ nhân lực giỏi chuyên môn, lành nghề thì cùng với lợi thế về nguồn lao động rẻ, nước ta sẽ có lợi thế to lớn trong thu hút đầu tư từ các TNCs và bên cạnh đó còn có thể học hỏi được thêm kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm kinh doanh và điều hành doanh nghiệp từ nước ngoài. Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

Khi hoạt động đầu tư nước ngoài của Việt nam đang đi vào chiều sâu trong cơ chế thị trường đầy biến động thì càng cần có đội ngũ nhân lực tiếp nhận và hướng dẫn đầu tư có trình độ, năng lực và am hiểu sâu sát để phân tích tình hình, lựa chọn đối tác đầu tư đúng mục tiêu đề ra. Do đó đội ngũ cán bộ này cần phải có khả năng kinh doanh, hiểu biết luật pháp, có trình độ ngoại ngữ và thích ứng nhanh với mọi biến động của thị trường và việc đào tạo nguồn nhân lực này phải đi trước một bước có như vậy mới bắt nhịp được sự tiến bộ về khoa học-kỹ thuật-công nghệ đang diễn ra trong khu vực và thế giới, tạo thế đứng vững chắc trong cạnh tranh thu hút các luồng đầu tư từ TNCs.

Môi trường kinh doanh thế giới nói chung và môi trường Marketing quốc tế nói riêng đã có nhiều thay đổi do tác động từ sự phát triển và bành trướng của các công ty xuyên quốc gia. Đánh giá được đúng vai trò to lớn của TNCs trong nền kinh tế thế giới nói chung và trong Marketing quốc tế nói riêng từ đó tìm ra những biện pháp nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn lực này trong phát triển kinh tế nội địa là một đòi hỏi khách quan, cấp bách của nước ta trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

Bên cạnh đó cũng cần phải thấy rằng ngoài việc không ngừng thu hút TNCs nước ngoài vào đầu tư tại thị trường Việt nam thì chính các doanh nghiệp trong nước cũng cần phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, đẩy mạnh quan hệ cạnh tranh và hợp tác với TNCs để có thể đứng vững và phát triển, tránh bị thua ngay trên sân nhà. Về vấn đề này, khóa luận căn cứ vào cơ cấu tổ chức điển hình của TNCs để đưa ra một số khuyên nghị ở phần II.

II. BÀI HỌC VỀ PHÁT TRIỂN CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ MẠNH ĐỂ CÓ THỂ CẠNH TRANH MỘT CÁCH HIỆU QUẢ VỚI CÁC TNCs Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

Vào những năm 2010- 2011, Việt nam đã thực hiện một cuộc cải tổ cơ bản đối với các Doanh nghiệp nhà nước, theo đó hàng loạt các Tổng công ty nhà nước đã được thành lập. Trong số này có một số Tổng công ty nhà nước trong những năm đầu đã hoạt động khá tốt và có đóng góp to lớn vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Có thể kể đến là các Tổng công ty 91 chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng nộp ngân sách nhà nước: năm 2016 là 65,9%; năm 2020 là 90%; năm 2022 là 88%; năm 2023 là 70%. Tuy vậy sự phát triển và do đó những đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân của các công ty này không đồng đều: nộp ngân sách của Tổng công ty Dầu khí, Bưu chính viễn thông, Điện lực và Thuốc lá chiếm đến gần 96% tổng nộp ngân sách của các Tổng công ty; lợi nhuận của các công ty này chiếm 78% tổng lợi nhuận của các công ty 91 [11].

1. So sánh mô hình Tổng công ty của Việt nam với cơ cấu tổ chức của TNCs

Từ nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của TNCs có thể nhận thấy rằng các TNCs này đều được hình thành dựa trên đòi hỏi của thị trường cũng như những yêu cầu trong quá trình phát triển và mở rộng ra thị trường thế giới. Trong cơ cấu tổ chức của TNCs thì công ty mẹ luôn nắm vai trò chủ chốt trong việc vạch ra những quyết định về chiến lược phát triển của công ty. Mức độ chi phối của công ty mẹ đối với các chi nhánh của mình phụ thuộc vào lượng cổ phần mà nó nắm giữ tại các chi nhánh đó. Hơn nữa, các chi nhánh tùy vào các mô hình khác nhau mà có mức độ độc lập tương đối với công ty mẹ song vẫn phụ thuộc vào nguồn vốn, công nghệ của công ty mẹ. Các quyết định liên quan đến lưu chuyển và điều phối vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu thông qua các kênh lưu chuyển vốn được thực hiện một cách hiệu quả do sự phụ thuộc của các chi nhánh đối với công ty mẹ về vốn và chiến lược phát triển.

  • So với các TNCs ở các nước thì Tổng công ty của Việt nam có một số điểm tương đồng như sau:

Đều có cơ cấu tổ chức bao gồm nhiều thành viên trong đó có một đơn vị chủ chốt đóng vai trò như một cơ quan điều khiển, là bộ máy lãnh đạo của các đơn vị thành viên khác. Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty cũng bao gồm một giám đốc tại trụ sở và tại mỗi đơn vị thành viên đều có các giám đốc chi nhánh. Ngay trong các Tổng công ty cũng như TNCs đều có các đơn vị thành viên hạch toán độc lập. Tại các Tổng công ty, các đơn vị thành viên này có thể được coi là công ty con do tổng công ty sở hữu toàn bộ vốn điều lệ. Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

Trong TNCs cũng như Tổng công ty cũng đều có sự chuyên môn hóa, hợp tác hóa trong sản xuất, tạo ra mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa các đơn vị thành viên. Đơn vị này tạo thị trường cho đơn vị kia. Sự phát triển của mỗi đơn vị tạo tiền đề cho nhau tồn tại, phát triển và từ đó tạo thế mạnh cho Tổng công ty, giúp Tổng công ty có khả năng cạnh tranh cao hơn và hội nhập kinh tế có hiệu quả hơn.

Vào những năm 90-91 nước ta đã tiến hành nhiều cải tổ cơ bản đối với các doanh nghiệp nhà nước. Hàng loạt tổng công ty nhà nước ra đời với hy vọng có thể phát triển thành các doanh nghiệp mạnh, tạo thế chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và cạnh tranh được với các tập đoàn lớn trên thị trường thế giới. Tuy vậy có thể thấy rằng mặc dù một số Tổng công ty nhà nước trong những năm thành lập đã hoạt động khá tốt và có đóng góp to lớn vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân song hầu hết đều đã bộc lộ ngày càng rõ những khiếm khuyết nội tại của mình.

Thứ nhất, các Tổng công ty không có sự minh bạch về tài chính.Vốn của Tổng công ty và công ty thành viên đều là vốn nhà nước-thuộc sở hữu toàn dân. Tổng giám đốc của các Tổng công ty, giám đốc các công ty thành viên là chủ tài khoản của một số tiền lớn song không phải do mình bỏ ra. Đây là nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến tệ tham nhũng, tham ô trong các Tổng công ty. Trong Tổng công ty, vai trò của công ty lãnh đạo là rất mờ nhạt. Do lượng vốn đầu tư vào các đơn vị thành viên là vốn của nhà nước rót thẳng đến, giá trị tài sản của Tổng công ty là do tổng hợp từ tài sản của các doanh nghiệp thành viên. Các quyết định từ công ty lãnh đạo tới doanh nghiệp thành viên đều mang tính hành chính mệnh lệnh, công ty này không có thực quyền do không nắm quyền chi phối về vốn, công nghệ của các đơn vị thành viên. Các đơn vị thành viên trong Tổng công ty có thể là pháp nhân độc lập hoặc hạch toán phụ thuộc. Sự không thống nhất trên ít nhiều cũng dẫn đến những khó khăn trong quản lý của Tổng công ty đối với từng đơn vị thành viên. Tại các thành viên có tư cách pháp nhân độc lập thì trên thực tế Tổng công ty không có khả năng điều phối vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu do chỉ quản lý về mặt hành chính chứ không phải về nguồn vốn. Việc hỗ trợ về công nghệ, tạo thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các công ty thành viên của Tổng công ty cũng không đạt được hiệu quả như mong muốn. Trong khi đó, tại TNCs, công ty mẹ và các công ty chi nhánh của mình là các pháp nhân riêng biệt và hạch toán độc lập với nhau. Công ty mẹ nắm giữ cổ phần tại các công ty con và kiểm soát các công ty chi nhánh này một cách hiệu quả thông qua tỷ lệ cổ phần của công ty chi nhánh mà mình nắm giữ. Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

Thứ hai, có thể thấy rằng các đơn vị thành viên hầu hết đều ra đời trước sự ra đời của Tổng công ty và được lắp ghép một cách cơ học thành một Tổng công ty. Do đó tuy về mặt hình thức đây là một thực thể thống nhất song trên thực tế thì các đơn vị thành viên hoàn toàn độc lập so với nhau và với đơn vị chủ quản. Chính vì vậy Tổng công ty không thể điều chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu một cách hiệu quả và nhanh chóng. Việc gộp các công ty độc lập đang hoạt động để thành lập các Tổng công ty một cách cơ học khiến hầu hết các Tổng công ty nước ta đều hoạt động đơn ngành và được hình thành theo mệnh lệnh hành chính. Mối quan hệ hành chính mệnh lệnh trên dẫn đến Tổng công ty và các công ty thành viên có mối quan hệ lỏng lẻo với nhau, hoạt động kinh doanh giữa các công ty thành viên khá tự phát, không có sự phối hợp nhịp nhàng và đôi khi có những mâu thuẫn đối với mục tiêu chung của Tổng công ty. Yếu tố này phần nào dẫn đến những hạn chế trong tích tụ, tập trung, tăng cường khả năng cạnh tranh của Tổng công ty Việt nam. Trong khi đó có thể thấy rằng hầu hết các TNCs trên thế giới hiện nay đều có cơ cấu đa ngành, kinh doanh trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau, chiến lược sản phẩm và hướng đầu tư luôn luôn thay đổi phù hợp với sự phát triển của công ty và môi trường kinh doanh nhưng mỗi ngành đều có định hướng chủ đạo, lĩnh vực đầu tư mũi nhọn với những sản phẩm đặc trưng của tập đoàn. Ngoài ra, việc công ty mẹ thiết lập các chi nhánh của mình tại nước ngoài hoàn toàn do nhu cầu phát triển tại thị trường đó quyết định. Chỉ khi một công ty hoạt động dưới những tác động của thị trường bên ngoài và phát triển dựa vào thị trường thì nó mới có thể thích nghi một cách tốt nhất với những biến động có thể có trên thị trường mà nó tiến hành sản xuất kinh doanh.

Hơn nữa việc kinh doanh đơn ngành dễ gặp phải những rủi ro trong quá trình kinh doanh, sản xuất do những biến động theo chiều hướng có hại của thị trường. Vì vậy, hầu hết các TNCs trên thế giới hiện nay đều hoạt động đa ngành nhằm phân tán rủi ro, mạo hiểm vào các mặt hàng. các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của công ty luôn hiệu quả và bền vững, đồng thời tận dụng được cơ sở vật chất và khả năng lao động của công ty.

Thứ ba, mặc dù nước ta đã có nhiều văn bản hướng dẫn hoạt động của các Tổng công ty song chính hệ thống quản lý hành chính cồng kềnh đã tác động xấu đến hoạt động kinh doanh của các công ty thành viên. Để quản lý nguồn vốn đầu tư vào các công ty này, về mặt vĩ mô, Nhà nước đã ban hành hàng loạt luật pháp, chính sách về tài chính, quản lý vốn, quản lý vật tư.. về mặt vi mô, có hội đồng quản trị (nếu là Tổng công ty), có giám đốc và kế toán trưởng thay mặt Nhà nước và được giao trách nhiệm quản lý vốn cho Nhà nước. Ngoài ra, còn rất nhiều đoàn thể tổ chức như tổ chức Đảng, công đoàn…. Mô hình trên tưởng như chặt chẽ song lại bộc lộ nhiều nhược điểm: đó là hạn chế nhiều quyền hạn đối với những lãnh đạo có tâm huyết, những công ty thành viên muốn bứt phá bằng những biện pháp mạnh mẽ nhằm đưa doanh nghiệp đi lên song lại vấp phải vật cản khi nhận thức chưa được tập thể chấp nhận. Đặc biệt với các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong quá trình tham gia đấu thầu luôn phải sử dụng tư cách pháp nhân của Tổng công ty, và kèm theo đó là cơ chế xin cho cùng những hạn chế tiêu cực khác đi kèm. Khi công trình đó kém hiệu quả, Tổng công ty phải chịu trách nhiệm pháp lý do đứng tên trong văn bản đấu thầu. Trong TNCs, tùy theo cách quản lý tập quyền hay phân quyền mà công ty mẹ quản lý và tham gia vào hoạt động kinh doanh của các công ty chi nhánh ở các mức độ khác nhau song các công ty chi nhánh luôn có quyền tự chủ nhất định đối với các hoạt động sản xuất- kinh doanh của mình. Hơn nữa do công ty mẹ chỉ nắm cổ phần tại công ty chi nhánh nên chỉ chịu trách nhiệm theo tỷ lệ vốn góp của mình. Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

Tóm lại, việc hình thành và quản lý các Tổng công ty đều được thực hiện bởi các biện pháp hành chính, đối lập với các quy luật khách quan của cơ chế thị trường. Vì vậy để phù hợp với yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện cũng như nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt nam thì việc tìm ra một phương pháp khắc phục những yếu kém nội tại của các Tổng công ty là một tất yếu khách quan.

Một trong những biện pháp quan trọng đang được thực hiện nhằm cải tổ hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước nói chung và Tổng công ty nhà nước nói riêng là thành lập các tập đoàn kinh doanh (tập đoàn doanh nghiệp) theo mô hình công ty mẹ- công ty con. Đây là một mô hình rất phổ biến đã được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng thành công, đặc biệt trong việc hình thành nên các công ty xuyên quốc gia lớn. Việc hình thành nên các tập đoàn theo mô hình công ty mẹ- công ty con phải được thực hiện căn cứ vào liên kết một cách tự nguyện của các công ty riêng lẻ chứ không phải liên kết cơ học thông qua các mệnh lệnh hành chính. Tập đoàn kinh doanh không phải là pháp nhân mà chỉ là sự liên kết giữa các doanh nghiệp độc lập với nhau theo phương thức kinh doanh khác nhau nhằm những mục đích nhất định. Vì vậy một quyết định hành chính được đưa ra để tiến hành thành lập một tập đoàn kinh doanh không thể giải quyết được những vướng mắc về bộ máy tập đoàn, bổ nhiệm chủ tịch tập đoàn, mức độ chi phối của tập đoàn với các công ty thành viên.

2. Bài học trong phát triển và hoàn thiện tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty mẹ-công ty con Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

Các doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển và hội nhập của nền kinh tế đất nước vì doanh nghiệp là những chủ thể kinh tế tạo ra của cải vật chất cho xã hội, là nơi diễn ra cả quá trình sản xuất và tiêu thụ, quá trình cung – cầu, quá trình mua bán. Do vậy, trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp là người đầu tiên tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đóng vai trò là cầu nối, gắn kết các quá trình kinh tế trong nước với kinh tế khu vực, kinh tế thế giới, các doanh nghiệp góp phần sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực của đất nước, là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Vì vậy việc đổi mới doanh nghiệp Việt nam là một đòi hỏi vô cùng cấp bách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp này trong điều kiện nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.

Các doanh nghiệp Việt nam không thể “chờ đợi” một cách thụ động khi nền kinh tế có đủ các điều kiện khách quan như ở các nước phương Tây phát triển mới xây dựng tập đoàn kinh tế mà cần chủ động sử dụng sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực kinh tế, đặc biệt là sức mạnh của khu vực doanh nghiệp Nhà nước để nhanh chóng xây dựng và phát triển các Tập đoàn kinh tế.

Từ việc nghiên cứu cơ cấu tổ chức của TNCs trong Marketing quốc tế, ta có thể thấy nhờ xây dựng cơ cấu tổ chức một cách hợp lý, TNCs đã phát triển thành hình thức tổ chức kinh tế tồn tại một cách năng động trong nền kinh tế thị trường và có vai trò ngày càng to lớn trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và marketing quốc tế nói riêng. Cơ cấu tổ chức của TNCs bao gồm công ty mẹ và các chi nhánh trong và ngoài nước, trong đó có một “ công ty mẹ” nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các chi nhánh về mặt tài chính và chiến lược phát triển. TNCs là một cơ cấu tổ chức vừa có chức năng kinh doanh vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận. Mô hình tập đoàn theo cơ cấu tổ chức TNCs hiện nay là một giải pháp chiến lược quan trọng để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, có hiệu quả, nâng cao sức cạnh tranh và đáp ứng được xu thế phát triển trên thế giới. Vậy hướng đi tất yếu là phát triển các tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty mẹ-công ty con nhằm thay thế các tổng công ty ngày nay đang làm ăn kém hiệu quả . Trong đại hội XI, Đảng Cộng sản Việt nam đã nêu rõ quan điểm phát triển tập đoàn kinh tế để phục vụ có hiệu quả nhất cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt nam (khóa XI) cũng đã nêu ra phương thức tiến hành việc phát triển tập đoàn kinh tế tại nước ta, đó là “ Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong nước và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, có sự gắn kết trực tiếp, chặt chẽ giữa khoa học công nghệ, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh”.

Như vậy, một trong những biện pháp quan trọng đang được thực hiện nhằm cải tổ hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước nói chung và Tổng công ty nhà nước nói riêng là thành lập các tập đoàn kinh tế (tập đoàn doanh nghiệp) theo mô hình công ty mẹ- công ty con. Đây là một mô hình rất phổ biến đã được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng thành công, đặc biệt trong việc hình thành nên các công ty xuyên quốc gia lớn. Việc hình thành nên các tập đoàn theo mô hình công ty mẹ- công ty con phải được thực hiện căn cứ vào liên kết một cách tự nguyện của các công ty riêng lẻ chứ không phải liên kết cơ học thông qua các mệnh lệnh hành chính. Tập đoàn kinh doanh không phải là pháp nhân mà chỉ là sự liên kết giữa các doanh nghiệp độc lập với nhau theo phương thức kinh doanh khác nhau nhằm những mục đích nhất định. Vì vậy một quyết định hành chính được đưa ra để tiến hành thành lập một tập đoàn kinh doanh không thể giải quyết được những vướng mắc về bộ máy tập đoàn, bổ nhiệm chủ tịch tập đoàn, mức độ chi phối của tập đoàn với các công ty thành viên. Nếu phát triển các tập đoàn kinh tế mà không có định hướng đúng đắn thì cũng sẽ dẫn đến hình thức, “bình mới rượu cũ”, tên có thể thay đổi song phương thức hoạt động vẫn như cũ thì không thể tạo ra những biến đổi căn bản trong hoạt động của doanh nghiệp và nâng cao vị thế cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường thế giới. Như vậy, một số bài học cho quá trình thành lập các tập đoàn doanh nghiệp Việt nam có thể rút ra từ những so sánh và đánh giá trên đó là: Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

2.1. Bài học thứ nhất: Việc hình thành các tập đoàn phải trên cơ sở tự nguyện và theo những điều kiện của thị trường.

Quá trình hình thành và phát triển của TNCs cho thấy rằng việc hình thành các tập đoàn này hoàn toàn dựa trên những đòi hỏi của thị trường trên cơ sở sáp nhập, mua lại hay mở rộng thông qua tích lũy. Ngoài ra, những quyết định hành chính mệnh lệnh trong việc hình thành các Tổng công ty bộc lộ nhiều hạn chế cũng đã cho thấy sự cần thiềt phải hình thành các tập đoàn kinh tế trên cơ sở tự nguyện chứ không phải các mệnh lệnh hành chính. Sự hình thành và phát triển này cần có một quá trình lâu dài, không thể máy móc lắp ghép một cách cơ học mà tạo ra được một tập đoàn làm ăn có hiệu quả. Thông qua quá trình này , dần dần sẽ hình thành:

Công ty mẹ: là những công ty có quy mô lớn về doanh thu, máy móc, thiết bị và lao động, có uy tín lớn trên thị trường trong và ngoài nước, có hiệu quả kinh tế cao, kinh nghiệm quản lý sản xuất lớn, có chiến lược kinh doanh và phát triển lâu dài, phù hợp với đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu thế phát triển của thế giới.

Công ty con( công ty thành viên) là các công ty thuộc mọi thành phần kinh tế mà công ty mẹ có cổ phần lớn, có thể tác động quyết định đến chiến lược phát triển của công ty con này. Các công ty con có thể được hình thành thông qua sáp nhập, mua lại hoặc phát triển từ công ty mẹ khi mở rộng ra thị trường nước ngoài.

2.2. Bài học thứ hai: Cổ phần hóa doanh nghiệp là điều kiện cần thiết cho sự hình thành mô hình TNCs tại Việt nam.

Với định hướng phát triển của Việt nam, nước ta cần đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp thành viên mà tổng công ty nắm cổ phần khống chế nhằm tiến hành đầu tư để mở rộng hoạt động kinh doanh theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Hình thành các tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty mẹ -công ty con, trong đó công ty mẹ là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn cổ phần và điều hành các doanh nghiệp thành viên thông qua số cổ phần chi phối mà công ty mẹ nắm giữ. Quá trình hình thành và phát triển của TNCs nước ngoài cho thấy các công ty này đều phát triển một cách chủ động từ những xí nghiệp sản xuất kinh doanh nội địa vươn ra thị trường toàn cầu bằng các hình thức đầu tư mới, sáp nhập hay mua lại một cách tự nguyện do những đòi hỏi khách quan của thị trường và chiến lược kinh doanh của công ty. Các TNCs nước ngoài hầu hết đều là các công ty cổ phần. Các công ty mẹ nắm giữ cổ phần của các công ty con ( các chi nhánh ở nước ngoài) của mình. Nhờ đó, thông qua lượng cổ phần mình nắm giữ tại các cơ sở này, các công ty mẹ mới có thể tạo ra những ảnh hưởng một cách tích cực tới hoạt động kinh doanh của công ty con và định hướng các công ty này phát triển theo những chiến lược mà công ty mẹ đã vạch ra. Việc phát triển các công ty cổ phần còn là điều kiện quan trọng để các TNCs thế giới có thể tiến hành mở rộng và bành trướng thông qua các hoạt động M&As. Vì vậy, tại Việt nam, việc thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là một tiền đề quan trọng nhằm giúp các doanh nghiệp có thể tiến hành hoạt động sáp nhập hay mua lại nhằm hình thành các tập đoàn kinh tế lớn. Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

Ngoài ra, cổ phần hóa còn có thể khắc phục được một điểm yếu cố hữu của các doanh nghiệp nhà nước nói chung và Tổng công ty nói riêng hiện nay là tình trạng hành chính mệnh lệnh trong hoạt động sản xuất và kinh doanh. Như vậy, thông qua cổ phần hóa doanh nghiệp, việc hình thành và liên kết thành tập đoàn có thể được tiến hành theo cách thức tự nguyện, theo quy luật cạnh tranh bằng sáp nhập, thôn tính, mua lại chứ không áp dụng hình thức hành chính mệnh lệnh trong hình thành và phát triển các tập đoàn doanh nghiệp.

2.3. Bài học thứ ba: Minh bạch hóa tài chính, cơ cấu tổ chức nhất quán :chìa khóa thành công của các tập đoàn kinh tế.

Thứ nhất, mô hình công ty mẹ- công ty con của TNCs mà cốt lõi của nó là sự liên kết kinh tế theo mô hình cổ phần có thể khắc phục được nhược điểm lớn của Tổng công ty đó là thiếu tính minh bạch trong tài chính doanh nghiệp. Sự hình thành các tập đoàn kinh tế bao gồm nhiều công ty cổ phần là một yếu tố quan trọng nhằm khắc phục được điểm yếu này. Với sự có mặt của các cổ đông tư nhân trong công ty mẹ hoặc công ty con, tập đoàn sẽ có được sự quản lý rõ ràng, chặt chẽ về mặt tài chính, nhờ vậy, tăng tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của loại hình doanh nghiệp này. Do vậy, minh bạch hóa tài chính là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển của các tập đoàn kinh tế.

Thứ hai, tập đoàn phải hoạt động với tư cách là tổ hợp các doanh nghiệp độc lập liên kết , đầu tư vào nhau, và do đó không có tư cách pháp nhân. Công ty mẹ và các công ty con là các pháp nhân độc lập, bình đẳng trước pháp luật. Công ty mẹ là đầu mối thực hiện các hoạt động chung của tập đoàn. Bộ máy quản lý và lãnh đạo của công ty mẹ được coi là bộ máy quản lý và lãnh đạo của tập đoàn, đặc biệt đối với các tập đoàn có mức độ tập trung cao như điện lực, viễn thông. Trong TNCs, công ty mẹ và công ty con là những pháp nhân độc lập với nhau, ngang hàng nhau trong hoạt động kinh doanh và trước pháp luật. Nhờ vậy cơ cấu tổ chức nhát quán này có thể phát huy được tính tự chủ sáng tạo của các thành viên trong tập đoàn từ công ty mẹ đến các công ty con, hạn chế được sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các công ty trong cùng một tập đoàn, tạo ra được sức mạnh tổng hợp của cả tập đoàn.

2.4 Bài học thứ tư : Chính sách nhất quán và phù hợp là trên hết.

Quá trình phát triển mạnh mẽ của TNCs trên thế giới không thể tiến hành nếu không có sự trợ lực mạnh mẽ từ các chính sách kinh tế quốc gia. Chính những chính sách phù hợp trong từng thời kỳ kinh tế là một điều kiện ban đầu cho quá trình tích tụ và tập trung tư bản cho sự ra đời của các TNCs cũng như quá trình phát triển và bành trướng ra thị trường thế giới của những “ người khổng lồ” này. Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

Ở Việt nam, một yếu tố không kém phần quan trọng đó là Nhà nước cần có những chính sách tạo thuận lợi cho việc chuyển đổi tổng công ty nhà nước sang cơ cấu tập đoàn. Các chính sách này bao gồm: Chính sách thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư ra ngoài doanh nghiệp và liên kết kinh doanh; chính sách khuyến khích hợp tác, liên kết tạo tiền đề hình thành tập đoàn đồng thời với chính sách khuyến khích cạnh tranh và hạn chế độc quyền của tập đoàn kinh tế.

2.5. Bài học thứ năm: Nhận thức đúng đắn là động lực thúc đẩy sự phát triển thuận lợi của các tập đoàn kinh tế Việt nam.

Để đảm bảo thực hiện một cách tích cực và vững chắc việc khuyến khích hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế, cần tăng cường công tác tuyên truyền về mô hình công ty mẹ-công ty con và sự cần thiết phải chuyển đổi mô hình tổng công ty nhà nước sang mô hình công ty mẹ- công ty con; thông qua việc tổng kết thí điểm mô hình công ty mẹ- công ty con, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho sự phát triển của tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty mẹ – công ty con; gắn việc chuyển đổi mô hình với việc thay đổi tổ chức, nhân sự để tạo nên sức mạnh mới cho doanh nghiệp. Nhà nước cần đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành, hoạt động và phát triển của Tập đoàn kinh tế. Ở những mức độ khác nhau, vai trò của Nhà nước cần được thể hiện ở việc tạo dựng nền tảng ban đầu, hỗ trợ những điều kiện môi trường kinh tế vĩ mô đồng thời ngăn chặn những tiêu cực có thể nảy sinh từ sự phát triển của Tập đoàn kinh tế gây ra cho nền kinh tế.

2.6. Bài học thứ sáu: Nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành của các tập đoàn kinh tế thông qua áp dụng linh hoạt các mô hình quản lý phân quyền hay tập quyền.

Như đã phân tích ở trên, hai mô hình quản lý tiêu biểu được các TNCs trên thế giới áp dụng một cách thành công và mang lại hiệu quả cao hiện nay là mô hình quản lý phân quyền và mô hình quản lý tập quyền.

Mô hình quản lý phân quyền nên được xem xét áp dụng tại những tập đoàn doanh nghiệp có quy mô không lớn, bộ máy lãnh đạo gọn nhẹ và có hoạt động sản xuất- kinh doanh tương đối đồng nhất. Do khả năng tập trung quyền lực trong tay ban lãnh đạo cấp cao mà mô hình quản lý này tỏ ra rất có hiệu quả khi áp dụng cho những tập đoàn kiểu này bởi ban lãnh đạo có thể thâu tóm, bao quát được toàn bộ hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp, nhất là các chiến lược của tập đoàn. Như vậy tập đoàn có thể đảm bảo các hạng mục đầu tư quan trọng của mình được quan tâm đúng mức và kịp thời, có tính nhất quán cao. Khi tập đoàn bao gồm nhiều công ty có quy mô không lớn và tính chất kinh doanh không phức tạp thì áp dụng mô hình quản lý phân quyền là tương đối cồng kềnh và lãng phí nhân lực. Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

Ngược lại, khi tập đoàn có quy mô lớn, kinh doanh trên một phạm vi rộng lớn và kinh doanh các tuyến sản phẩm đa dạng thì lựa chọn mô hình quản lý phân quyền là một lựa chọn tối ưu. Bởi khi phát triển một tập đoàn lớn theo mô hình công ty mẹ- công ty con và áp dụng phân quyền trong quản lý thì việc phân chia quyền hạn và trách nhiệm của các bộ phận chức năng càng trở nên quan trọng hơn. Phân quyền giúp giảm bớt gánh nặng cho các nhà quản lý cấp cao và tăng tính chủ động cho các cấp quản lý thấp hơn trong điều hành doanh nghiệp. Như vậy mô hình này có thể khuyến khích được tính chủ động sáng tạo của các thành viên trong tập đoàn, tăng khả năng thích ứng của mỗi đơn vị thành viên với những biến động của thị trường.

Trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thì bên cạnh những cơ hội là những khó khăn và thách thức trong môi trường kinh doanh nói chung và môi trường marketing quốc tế nói riêng. Khi xây dựng mô hình quản lý phân quyền, tập đoàn có thể tăng tính linh hoạt cho các đơn vị thành viên và nhờ vậy mà giảm thiểu được những rủi ro khi tham gia vào môi trường kinh doanh ngày càng có nhiều biến động này.

2.7. Bài học thứ bảy: Mô hình tổ chức công ty phù hợp là điều kiện tăng hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.

Qua việc nghiên cứu một số mô hình cơ cấu tổ chức điển hình của TNCs trên thế giới, có thể thấy các TNCs đã có những bước phát triển vượt bậc trong thích ứng mô hình tổ chức của mình cho phù hợp với những thách thức của thị trường thế giới đa dạng và nhiều biến động. Việc nghiên cứu một số mô hình trên cho thấy các tập đoàn kinh tế Việt nam bên cạnh phát triển công ty theo cơ cấu công ty mẹ-công ty con thì cũng cần nghiên cứu và ứng dụng những mô hình cơ cấu tổ chức cơ bản của TNCs trên nhằm hoàn thiện hơn nữa những hoạt động kinh doanh của mình một cách hiệu quả hơn nữa. Tuy hầu hết các tập đoàn kinh tế của Việt nam mới trong giai đoạn phát triển ban đầu của mô hình công ty mẹ- công ty con và chưa bước chân ra thị trường thế giới song có thể xem xét mô hình trên tại bình diện hoạt động trên nhiều khu vực địa lý, nhiều tỉnh thành của các công ty này mà có những ứng dụng phù hợp. Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

Các mô hình cơ cấu tổ chức công ty xuyên quốc gia đã được thể nghiểm trên thị trường quốc tế, thực tế đã mang lại cho các công ty này những hiệu quả tốt trong quản lý và điều hành. Tuy mỗi mô hình có cả điểm yếu và điểm mạnh song với cách tổ chức công ty bài bản, các TNCs đã ngày càng gia tăng được tầm ảnh hưởng của mình trên thị trường thế giới.

Hiện nay, tại Việt nam đã có một số công ty phát triển cơ cấu tổ chức của mình theo hướng học tập các mô hình tổ chức quản lý của TNCs trên thế giới và bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan, cần được rút kinh nghiệm và nhân rộng cho các doanh nghiệp khác, đặc biệt là với các tổng công ty đã và đang phát triển theo mô hình công ty mẹ- công ty con. Với việc áp dụng bài bản các mô hình này, công ty sẽ tránh được tình trạng chồng chéo trách nhiệm và quyền hạn giữa các bộ phận, các phòng ban. Sự phân chia rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm còn đảm bảo cho công ty giảm thiểu được tình trạng tham nhũng do minh bạch trong hoạt động và các cá nhân có trách nhiệm rõ ràng với từng phần việc của mình, không thể chối bỏ trách nhiệm trong trường hợp có những sai phạm trong quản lý và điều hành công ty.

Các doanh nghiệp Việt nam, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế đã và đang hình thành cần căn cứ vào tình hình hiện tại của doanh nghiệp để tìm thấy cho mình một mô hình cơ cấu tổ chức công ty phù hợp. Như đã nói ở trên, với một dòng sản phẩm hẹp, chủng loại sản phẩm có tính đồng nhất và bộ máy điều hành không quá cồng kềnh, công ty có thể lựa chọn cho mình mô hình cơ cấu tổ chức theo chức năng. Mô hình này có thể xem xét để áp dụng trong các tập đoàn than, khai thác mỏ hoặc dầu khí.

Đối với các doanh nghiệp hoạt động trên một thị trường có cạnh tranh cao và tương đối bão hòa, doanh nghiệp có danh mục sản phẩm đa dạng thì cần nghiên cứu áp dụng cơ cấu tổ chức theo sản phẩm. Khi đó các bộ phận chuyên trách phụ trách từng dòng sản phẩm và đảm bảo hiệu quả kinh doanh của dòng sản phẩm này trên thị trường. Mô hình này có thể đảm bảo cho doanh nghiệp vừa tập trung hóa sản phẩm vừa đa dạng hóa sản phẩm cho thị trường nhằm mở rộng kinh doanh và lợi nhuận. Mô hình này phù hợp với các công ty thực phẩm, kinh doanh trên thị trường có tính cạnh tranh cao như hiện nay.

Trong khi đó, mô hình cơ cấu tổ chức công ty theo khu vực địa lý cũng có những ưu điểm nhất định đối với hoạt động của doanh nghiệp. Khi tổ chức công ty theo mô hình này, doanh nghiệp sẽ có thể tập trung các nguồn lực của mình vào từng khu vực thị trường một cách nhanh chóng khi cần thiết.

Mô hình cơ cấu tổ chức công ty theo ma trận đòi hỏi ban lãnh đạo công ty phải có tầm nhìn chiến lược cao, có kỹ năng quản lý chuyên nghiệp và trình độ cũng như kỹ năng toàn diện hơn. Những đòi hỏi này là do tính phức tạp trong cơ cấu tổ chức công ty dẫn đến những phức tạp trong quá trình quản lý điều hành doanh nghiệp. Chính vì vậy mô hình này cần được cân nhắc kỹ lưỡng trước khi áp dụng cho các tập đoàn doanh nghiệp Việt nam.

Các tập đoàn doanh nghiệp Việt nam đang trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành và phát triển để có thể trở thành những tập đoàn kinh tế vững mạnh, có tiềm lực kinh tế lớn, có trình độ nhân lực và công nghệ hiện đại , có khả năng cạnh tranh cao để có thể đương đầu và chiến thắng trong cạnh tranh với các công ty xuyên quốc gia tại thị trường nội địa cũng như từng bước vươn ra thị trường thế giới. Vì vậy, ngay trong giai đoạn này, các tổng công ty cũng như các tập đoàn kinh tế cần phải nghiên cứu áp dụng một cách có hiệu quả các mô hình quản lý và cơ cấu tổ chức của TNCs để từ đó có thể rút ra hướng đi đúng cho mình trong phát triển để trở thành những tập đoàn vững mạnh, khai thác được những cơ hội và tránh được những rủi ro của thị trường . Những bài học trong khóa luận này được rút ra từ nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển, các mô hình quản lý và mô hình cơ bản về cơ cấu tổ chức của TNCs thế giới và do đó chỉ mang tính điển hình, và cần có những điều chỉnh cho phù hợp với từng giai đoạn cũng như điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp nước ta.

KẾT LUẬN Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

Với 87 trang của toàn khóa luận, người viết đã cố gắng tạo dựng một bức tranh tổng thể về TNCs, từ đó hy vọng có thể thấy rõ được quá trình hình thành, phát triển, vai trò và cơ cấu tổ chức của chúng trong nền kinh tế thế giới và đặc biệt là trong marketing quốc tế.

Trong chương I, người viết đưa ra một số khái niệm hiện nay về TNCs, quá trình hình thành và xu hướng phát triển của chúng trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, chương I tập trung làm rõ vai trò quan trọng của TNCs trong marketing quốc tế, chủ yếu là vai trò của TNCs trong thúc đẩy sự phát triển của thương mại toàn cầu, thúc đẩy sự phát triển của đầu tư quốc tế, đẩy mạnh quá trình mở cửa thị trường của các nền kinh tế trên thế giới và tác động tích cực tới quá trình phát triển của khoa học công nghệ của thế giới.

Chương II của khóa luận đề cập tới một số cơ cấu tổ chức cơ bản của TNCs trong đó có một số điểm đáng lưu ý:

  • Cơ cấu tổ chức cơ bản của TNCs là cơ cấu tổ chức theo mô hình công ty mẹ- công ty con.
  • TNCs tổ chức quản lý các hoạt động sản xuất-kinh doanh toàn cầu của mình theo lối tập quyền hoặc phân quyền.
  • Các mô hình cơ cấu tổ chức cơ bản của TNCs là một yếu tố quan trọng mang lại những thành công cho các công ty này trong quá trình phát triển và mở rộng trên thị trường quốc tế.

Trong chương III của khóa luận, thông qua những đánh giá về vai trò quan trọng của TNCs tại chương I, người viết đưa ra một số bài học kinh nghiệm trong thu hút và khai thác một cách có hiệu quả các TNCs của Việt nam. TNCs là một nguồn ngoại lực quan trọng mà nước ta cần khai thác một cách có hiệu quả để có thể tạo ra được những tác động tích cực tới nền kinh tế của Việt nam. Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

Ngoài ra, với việc xem xét một số mô hình quản lý và mô hình cơ cấu tổ chức cơ bản và của TNCs ở chương II, phần hai của chương III, thông qua việc so sánh cơ cấu tổ chức của TNCs và tổng công ty Việt nam, người viết xin đưa ra một số bài học nhằm phát triển các tổng công ty của Việt nam theo hướng phát triển thành các tập đoàn kinh tế và hoàn thiện hơn nữa mô hình tập đoàn kinh tế tại nước ta theo cơ cấu tổ chức và mô hình quản lý của TNCs.

Việt nam cần đẩy mạnh phát triển các tập đoàn kinh tế mạnh theo mô hình công ty mẹ-công ty con và nghiên cứu áp dụng các mô hình cơ cấu tổ chức cơ bản cũng như các mô hình quản lý trên của TNCs nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả với các TNCs trên sân nhà cũng như khi mở rộng kinh doanh trên thị trường thế giới.

Khi trở thành thành viên của WTO, các doanh nghiệp Việt nam phải đối mặt với cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn do kết quả của quá trình mở cửa thị trường ngày càng cao. Vì vậy, phát triển các tập đoàn kinh tế theo mô hình cơ cấu tổ chức và quản lý của TNCs là một hướng đi đúng đắn nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này.

Như đã nói ở trên, những bài học đưa ra trong khóa luận này chỉ mang tính điển hình và sẽ có những biến động, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp cũng như từng giai đoạn khác nhau của quá trình vận động của nền kinh tế thế giới và chiến lược của TNCs. Vì vậy, để có cái nhìn cụ thể hơn về vai trò và cơ cấu tổ chức của TNCs trong marketing quốc tế cũng như những bài học rút ra có thể áp dụng cho Việt nam trong từng thời điểm thì cần phải có những nghiên cứu sâu sắc hơn để thấy những nét khác biệt. Khóa luận: Bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu cho Việt nam.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Vai trò cơ cấu tổ chức của các công ty xuyên quốc gia

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537