Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần dây và cáp điện Việt Nam (CADIVI) cho các bạn.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. Vì vậy, nền kinh tế thị trường khi vận hành cũng phải theo những quy luật cạnh tranh. Các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau, phải không ngừng tiến bộ để đạt được ưu thế tương đối so với đối thủ cạnh tranh của mình.

Công ty cổ phần dây và cáp điện Việt Nam (CADIVI) là công ty chuyên sản xuất các loại dây và cáp điện phục vụ rộng rãi cho các ngành kinh tế quốc dân, tiêu dùng của xã hội và xuất khẩu. Trong thời gian qua hoạt động kinh doanh của công ty liên tục phát triển, có năng lực đáp ứng một cách nhanh nhất, tốt nhất mọi yêu cầu của thị trường, thương hiệu CADIVI được tin tưởng và ngày càng ăn sâu vào tình cảm người tiêu dùng, trở thành một trong những đơn vị sản xuất kinh doanh chủ lực trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Ngành sản xuất dây cáp điện đặc trưng là ngành thâm dụng vốn, giá cả chịu ảnh hưởng nhiều đến sự biến động nguyên vật liệu, vật tư. Vì vậy CADIVI gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc kinh doanh và giữ thị phần thị trường trong nước và mở rộng ra nước ngoài.

Trong thời gian thực tập tại công ty CADIVI và qua tìm hiểu thực tế em thấy đây là vấn đề cần nghiên cứu để góp một phần để làm tăng năng lực cạnh tranh của công ty nên đã mạnh dạn chọn đề tài : “Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần dây và cáp điện Việt Nam (CADIVI)”.

Khóa luận tốt nghiệp của em gồm những chương chính sau:

  • Chương 1 : Cơ sở lý luận chung về năng lực cạnh tranh.
  • Chương 2 : Phân tích thực trạng năng lực năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần dây và cáp điện Việt Nam (CADIVI).
  • Chương 3 : Một số giải pháp và kiến nghị đề xuất về năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần dây và cáp điện Việt Nam (CADIVI). Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

2. Mục tiêu nghiên cứu:

  • Khái quát cơ sở lý luận chung nhất về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
  • Phân tích và đánh giá thực trạng năng lực canh tranh tại công ty CADIVI.
  • Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty CADIVI.

3. Phương pháp nghiên cứu:

3.1 Nguồn số liệu, dữ liệu :

Số liệu thứ cấp được thu thập trong công ty cổ phần dây và cáp điện Việt Nam và các báo cáo ngành của tổng cục thống kê.

Số liệu sơ cấp được thu thập từ các lãnh đạo và công nhân viên trong công ty, thu thập số liệu sơ cấp bằng phương pháp phỏng vấn chuyên gia, hỏi ý kiến của ban lãnh đạo của công ty và các xí nghiệp trực thuộc, các nhân viên phòng thương mại sản xuất.

3.2 Phương pháp luận :

Bài khóa luận tốt nghiệp được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp thống kê mô tả để phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh tại công ty CADIVI, từ đó đưa ra các giải pháp đề xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu

  • Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần dây và cáp điện Việt Nam tại thị trường trong nước từ năm 2023 – 2025.
  • Các mối quan hệ của các yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh kinh doanh của công ty trong giai đoạn tới.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Bài khóa luận tốt nghiệp này giới hạn trong phạm vi công ty cổ phần dây và cáp điện Việt Nam trong giai đoạn 2023 – 2025.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH

1.1 Khái niệm và phân loại năng lực cạnh tranh:

1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường, có nền kinh tế thị trường là tồn tại cạnh tranh. Cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Để đơn giản hoá, có thể hiểu cạnh tranh là sự ganh đua giữa một (hoặc một nhóm) người mà sự nâng cao vị thế của người này sẽ làm giảm vị thế của người tham gia còn lại.

Trong nền kinh tế, khái niệm cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành lấy một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường. Cạnh tranh có thể đưa lại lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác, song xét dưới góc độ lợi ích toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực. (Ví dụ: chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn…). Giống như các quy luật sinh tồn và đào thải tự nhiên đã được Darwin phát hiện, quy luật của cạnh tranh là thải loại những thành viên yếu kém trên thị trường, duy trì và phát triển những thành viên tốt nhất và qua đó hỗ trợ đắc lực cho quá trình phát triển toàn xã hội.

Để thể hiện năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp người ta dùng khái niệm “ năng lực cạnh tranh”. Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp được hiểu như là một “ Mô men động lượng” phản ánh và lượng hóa tổng hợp thế lực, địa vị, cường độ, động thái vận hành sản xuất kinh doanh của công ty trong mối quan hệ tương tác với đối thủ cạnh tranh trực tiếp trên thị trường mục tiêu xác định và trong các thời gian xác định.

1.1.2 Phân loại năng lực cạnh tranh :

1.1.2.1 Năng lực cạnh tranh về sản phẩm :

Cạnh tranh về chất lượng sản phẩm : Được sử dụng rộng rãi hiện nay vì lợi ích và nhu cầu của ngưòi tiêu dùng ngày càng cao do đó họ đặt chất lượng lên hàng đầu, đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh phải chú trọng cao đến chất lượng sản phẩm sản xuất. Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

Cạnh tranh về trình độ của sản phẩm : chất lượng sản phẩm, tính hữu dụng, bao bì…Tùy thuộc vào đặc điểm của từng loại sản phẩm để doanh nghiệp lựa chọn nhóm chỉ tiêu khác nhau có tính chất quyết định trình độ của sản phẩm đó .

Cạnh tranh về bao bì : đặc biệt là những doanh nghiệp có liên quan đến sản xuất lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thông thường. Hình thức và những thông tin trên bao bì giải đáp những thắc mắc của người tiêu dùng khi sử dụng chúng.

Cạnh tranh nhãn mác uy tín sản phẩm : Những nỗ lực trong một quá trình dài được khẳng định bởi tính hữu dụng của sản phẩm. Nhãn mác của sản phẩm đã được mặc định trong đầu của người tiêu dùng .

1.1.2.2 Năng lực cạnh tranh về nguồn lực :

Năng lực cạnh tranh về nguồn lực là năng lực cạnh tranh xuất phát từ nguồn lực của doanh nghiệp . Đó là năng lực tài chính, năng lực về kỹ thuật, nhân lực, uy tín, thông tin, kinh nghiệm thị trường… của doanh nghiệp.

Năng lực tài chính của doanh nghiệp là nguồn lực quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh. Nguồn tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói lên năng lực chi trả, thanh toán, đầu tư, mua mới…Năng lực về nguồn nhân lực – nguồn nhân lực có cao về chất lượng và số lượng, năng lực cạnh tranh mới cao.

Uy tín của công ty cũng là nguồn lực quan trọng trong năng lực cạnh tranh của mình. Danh tiếng của công ty là rất quan trọng trong công tác tạo lập lòng tin của khách hàng vào sản phẩm của công ty. Ngày nay trên thế giới các doanh nghiệp có xu hướng liên kết liên doanh nhằm dựa vào uy tín của nhau nhằm bán hàng hoá thuận lợi hơn.

Như vậy các doanh nghiệp căn cứ vào tiềm lực của mình để sử dụng một hoặc một vài vũ khí cạnh tranh ở trên nhằm tạo năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể duy trì và nâng cao vị trí một cách lâu dài trên thị trường, để đảm bảo đạt được lợi nhuận mục tiêu của doanh nghiệp .

1.1.2.3 Cạnh tranh về phương thức kinh doanh : Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

Mỗi doanh nghiệp có một phương thức kinh doanh đặc trưng riêng do đó tìm ra phương thức kinh doanh hợp lý là nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tăng lợi nhuận, doanh thu và thị phần. Cạnh tranh về phương thức kinh doanh được thể hiện qua một số chỉ tiêu như : giá cả, hệ thống phân phối sản phẩm, tiếp thị …

Cạnh tranh về giá : Trong giai đoạn đầu, khi doanh nghiệp bước vào một thị trường mới thì giá cả là một công cụ quan trọng trong cạnh tranh. Cạnh tranh bằng giá thường được thể hiện qua các biện pháp kinh doanh với chi phí thấp, bán với mức giá giảm so với thị trường. Tuy nhiên, bán hạ giá là biện pháp cuối cùng mà doanh nghiệp thực sự phải sử dụng trong cạnh tranh, bởi giá hạ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu của công ty. Đôi khi giá hạ không có năng lực thu hút người mua mà giá marketing sẽ đánh vào tâm lý người tiêu dùng. Khi mức sống cao người tiêu dùng thường có xu hướng tiêu dùng sản phẩm đắt tiền, nổi tiếng.

Cạnh tranh về phân phối bán hàng : đó là năng lực đa dạng hoá các kênh và lựa chọn kênh chủ lực. Bên cạnh đó hệ thống bán hàng phong phú, cơ sở vật chất hiện đại giúp cho doanh nghiệp bán hàng nhanh hơn. Doanh nghiệp còn cạnh tranh bởi năng lực kết dính các kênh lại với nhau, đặc biệt là những biện pháp quản lý người bán, năng lực hợp tác giữa người bán với nhau kết hợp một cách hợp lý giữa phương thức bán và dịch vụ sau bán.

1.1.3.4. Cạnh tranh về thời cơ thị trường :

Doanh nghiệp nào dự báo được thời cơ thị trường và nắm được thời cơ thị trường sẽ chiến thắng trong cạnh tranh. Thời cơ thị trường thường xuất hiện do các yếu tố sau:

  • Do sự thay đổi môi trường công nghệ.
  • Do sự thay đổi của yếu tố dân cư, điều kiện tự nhiên.
  • Do các quan hệ tạo lập được của từng doanh nghiệp.

Cạnh tranh về thời cơ thị trường thể hiện ở chỗ doanh nghiệp dự báo được những thay đổi của thị trường. Từ đó có các chính sách khai thác thị trường hợp lý và sớm hơn các doanh nghiệp khác.

1.1.3.5. Cạnh tranh về không gian và thời gian :

Loại cạnh tranh này xuất hiện những vấn đề về chính sách giá cả, chính sách sản phẩm. Giá cả của các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường chênh lệch là không lớn, chất lượng sản phẩm là tương đối ổn định. Trong trường hợp đó thời cơ và thời gian có vai trò quan trọng và nó quyết định đến việc buôn bán. Những doanh nghiệp nào có quá trình buôn bán thuận thiện nhất, nhanh nhất sẽ chiến thắng trong cạnh tranh. Và để thực hiện việc bán hàng nhanh nhất, thuận tiện nhất phải sử dụng các biện pháp sau :

  • Ký kết hợp đồng với điều kiện bán hàng nhanh và thuận tiện.
  • Thủ tục thanh toán nhanh.
  • Các hoạt động sau bán hàng phong phú.

Làm tốt được công tác này sẽ tạo điều kiện cho tiêu thụ được hoàn thiện.

1.2 Vai trò của việc nâng cao năng lực cạnh tranh đối với sự tồn tại và phát triển: Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

1.2.1 Nâng cao năng lực cạnh tranh là một yếu tố để doanh nghiệp tồn tại và phát triển :

1.2.1.1 Nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại :

Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào hoạt động kinh doanh trên thị trường thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại, đứng vững được trong nền kinh tế thị trường. Ngày nay để tồn tại được và đứng vững, các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Nâng cao năng lực để dành giật khách hàng bằng việc tạo những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của mình là tốt nhất, phù hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng nhất và doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, cung cấp cho họ những dịch vụ thuận tiện và sản phẩm tốt nhất với giá phù hợp thì doanh nghiệp đó mới có năng lực tồn tại trong nền kinh tế thị trường. Do vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh là rất cần thiết.

Doanh nghiệp tồn tại được hay không được thể hiện qua doanh thu của doanh nghiệp. Lợi nhuận của doanh nghiệp có được khi bán được sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ. Lượng bán càng nhiều thì doanh thu càng cao, lợi nhuận càng lớn. Như vậy để thu hút được càng nhiều người mua buộc các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của khách hàng liên tục. Đối với giá cả, các doanh nghiệp đưa ra các mức giá thấp nhất có thể, chính điều này đã buộc các nhà sản xuất phải lựa chọn phương án sản xuất tối ưu với chi phí nhỏ nhất. Điều này lại liên quan đến việc áp dụng khoa học tiến bộ kỹ thuật, công nghệ hiện đại làm tăng chất lượng sản phẩm và giảm giá thành, tăng lượng bán, tăng doanh thu, lợi nhuận cao do đó doanh nghiệp mới tồn tại và đứng vững được.

1.2.1.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển :

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố thích kinh doanh. Theo quy luật cạnh tranh là động lực phát triển sản xuất. Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng hoá bán ra nhiều, số lượng người cung ứng ngày càng đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Kết quả của cạnh tranh là loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn không tốt. Khi đã tiến hành hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp nào cũng muốn tồn tại và phát triển lớn mạnh, để làm được điều đó doanh nghiệp cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, các doanh nghiệp phải phát huy hết những ưu thế của mình tạo ra những điểm khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. Mặt khác doanh nghiệp phải biết áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, kỹ thuật cao, cải tiến trang thiết bị, máy móc vào việc sản xuất hàng hoá, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp có năng lực giảm được các chi phí trong việc tạo ra sản phẩm. Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

Trong nền kinh tế thị trường mong muốn tồn tại và phát triển trong cạnh tranh luôn là mục đích của mỗi doanh nghiệp. Cũng trong nền kinh tế đó, khách hàng là người tự do lưa chọn nhà cung ứng, là người quyết định cho doanh nghiệp tồn tại hay không. Họ không phải tự tìm đến doanh nghiệp như trước đây nữa mà buộc các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải tự tìm đến khách hàng và khai thác nhu cầu nơi họ. Tức là muốn khách hàng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, các doanh nghiệp phải tự giới thiệu, quảng cáo sản phẩm của mình, làm cho người tiêu dùng biết đến sản phẩm của doanh nghiệp để họ cảm nhận và quyết định dùng hay không.

Trong điều kiện hiện nay, doanh nghiệp có được một khách hàng đã khó nhưng để giữ được khách hàng điều đó còn khó hơn. Do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để tự khẳng định mình, để tồn tại, phát triển từ đó doanh nghiệp sẽ đạt được những thành công trong kinh doanh.

1.2.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh góp phần thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp :

Mỗi doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều có những mục tiêu nhất định. Tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp mà doanh nghiệp cần đặt ra cho mình những mục tiêu khác. Nếu như giai đoạn mới bước vào kinh doanh thì mục tiêu của doanh nghiệp là muốn thị trường biết đến sản phẩm kinh doanh của mình (nói cách khác là xâm nhập thị trường) thì ở giai đoạn phát triển mục tiêu của doanh nghiệp là đạt được lợi nhuận tối đa và tăng thị phần, tạo uy tín và niềm tin cho khách hàng. Đến giai đoạn suy thoái thì mục tiêu của doanh nghiệp là thu hồi vốn và xây dựng chiến lược sản phẩm mới. Do đó, muốn đạt được mục tiêu của mình thì doanh nghiệp cần phải cạnh tranh. Vì chỉ có cạnh tranh mới có thể đưa doanh nghiệp đến sự phát triển. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh buộc các doanh nghiệp tìm ra những phương thức, biện pháp tốt nhất để sáng tạo, tạo ra những sản phẩm đạt chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, cung cấp những dịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh, thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng.

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và mối quan hệ giữa chúng: Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

Xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp, suy cho cùng nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm tăng lợi nhuận liên quan trực tiếp đến năng lực tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp và điều này có nghĩa rằng các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để tăng doanh số bán hàng của mình. Vậy để tăng số lượng hàng hoá bán ra thị trường thì buộc các doanh nghiệp phải tác động vào các yếu tố sau và điều này liên quan trực tiếp đến từng khâu, từng bộ phận của doanh nghiệp.

1.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh :

1.3.1.1 Nguồn nhân lực :

Nguồn nhân lực chính là những người tạo ra sản phẩm một cách trực tiếp, có thể gián tiếp. Đội ngũ cán bộ quản lý sẽ là người quyết định các hoạt động sản xuất kinh doanh. Sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? Như thế nào? và bao nhiêu ? Mỗi quyết định của họ có ý nghĩa quan trọng liên quan đến sự tồn tại và phát triển của công ty. Chính họ là người quyết định cạnh tranh như thế nào, năng lực cạnh tranh của công ty ở mức nào, bằng cách nào ?…

Bên cạnh những người quản lý, công nhân là người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm. Sản lượng sản phẩm cũng như chất lượng sản phẩm cũng là do họ quyết định bởi các thao tác công việc, những kinh nghiệm nhằm tiết kiệm nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm tốt ở họ, trình độ tay nghề cộng với lòng hăng say làm việc là cơ sở đảm bảo chất lượng sản phẩm và tăng năng suất lao động. Đây là tiền đề để doanh nghiệp có thể tham gia cạnh tranh và đứng vững trên thị trường.

1.3.1.2 Công tác quản trị của doanh nghiệp :

Công tác quản trị giữ một vị trí trung tâm trong các hoạt động của doanh nghiệp. Công tác quản trị bao gồm các công việc như lập kế hoạch, tổ chức thực hiện sản xuất kinh doanh, xây dựng bộ máy quản lý như thế nào vừa tinh giảm nhất vừa hiệu quả nhất. Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

Lập kế hoạch được xem như là xương sống của công tác quản trị, trong việc lập kế hoạch, việc đưa ra chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là rất quan trọng nó định hướng đường đi nước bước của doanh nghiệp, sự tồn tại của doanh nghiệp. Lập kế hoạch được xem như cầu nối giữa hiện tại với tương lai. Lập kế hoạch phải chặt chẽ và hợp lý nhất nhằm phân phối các hoạt động một cách nhịp nhàng dựa trên cơ sở kế hoạch nhằm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu kế hoạch không đi sát thực tế sẽ không những không tăng mà còn làm giảm đi năng lực cạnh tranh. Và hơn bao giờ hết, vai trò của ban lãnh đạo quyết định phần lớn đến sự sống còn của doanh nghiệp. Theo thống kê cho thấy, khoảng 30-40% sự thành công của doanh nghiệp là do quyết định của ban lãnh đạo.

1.3.1.3 Nguồn lực tài sản cố định :

Trong tài sản cố định gồm nhiều yếu tố như cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc thiết bị,…Cơ sở vật chất kỹ thuật sẽ phản ánh năng lực phát triển của công ty. Một doanh nghiệp với cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cùng với công nghệ tiên tiến chắc chắn sẽ làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Với một hệ thống máy móc thiết bị tân tiến, chất lượng và số lượng sản phẩm sẽ được nâng cao hơn, cùng với nó giá thành sản phẩm hạ kèm theo sự giảm giá bán trên thị trường, năng lực trong cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ là rất lớn, trái lại, mặc dù đội ngũ quản lý có năng lực và các yếu tố khác là khá tốt, doanh nghiệp sẽ khó có năng lực cạnh tranh cao khi mà công nghệ máy móc lạc hậu, vừa làm giảm chất lượng sản phẩm vừa làm tăng thêm chi phí sản xuất.

1.3.1.4 Sản phẩm và cơ cấu sản phẩm :

Đặc điểm của sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, sản phẩm phải thích ứng với thị trường một cách nhanh chóng thì mới có thể tiêu thụ trên thị trường. Mặt khác sự vượt trội về đặc điểm của sản phẩm sẽ làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp . Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

Chính sách sản phẩm là công cụ tốt để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đa dạng hoá sản phẩm giúp doanh nghiệp giảm áp lực cạnh tranh, cho phép doanh nghiệp kiểm soát được tình hình cạnh tranh ở mức nào. Sản phẩm của doanh nghiệp phải luôn được hoàn thiện không ngừng để có thể theo kịp nhu cầu thị trường bằng cách : cải thiện các thông số về chất lượng, mãu mã, bao bì, kiểu dáng…đa dạng hóa sản phẩm bao gồm nghiên cứu sản phẩm mới và cải tiến sản phẩm không chỉ để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu thị trường, thu nhiều lợi nhuận mà còn là biện pháp phân tán rủi ro trong kinh doanh. Song song với việc đa dạng hoá sản phẩm là trọng tâm hoá sản phẩm tức là đi sâu nghiên cứu một số loại sản phẩm chính (sản phẩm mũi nhọn) cho thị trường, nhu cầu khách hàng tiêu dùng nhất định. Khi đó, doanh nghiệp có thể phục vụ khách hàng một cách tốt hơn, có hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh khác. Ngoài ra chiến lược khác biệt hoá sản phẩm sẽ tạo ra nét độc đáo riêng trong việc thu hút tạo sự hấp dẫn cho khách hàng và nâng cao uy tín của doanh nghiệp.

1.3.1.5 Giá cả sản phẩm hàng hoá :

Yếu tố giá được hình thành thông qua quan hệ cung cầu. Người bán và người mua thoả thuận với nhau trên thị trường để từ đó đi tới mức giá cuối cùng đảm bảo hai bên cùng có lợi. Giá cả đóng vai trò quan trọng trong việc khách hàng quyết định mua hay không mua sản phẩm của doanh nghiệp. Đối với những sản phẩm cùng loại, chất lượng tương đương nhau thì mức giá bán thấp hơn sẽ làm tăng sản lượng tiêu thụ của sản phẩm.

Vì vậy chiến lược giá đóng một vai trò quan trọng như một thứ vũ khí để cạnh tranh. Tuy nhiên chiến lược này thường ít được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức. Việc định giá có một tác động rất lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp và vì vậy phải dành được sự quan tâm ngang bằng với các chiến lược quảng bá và khuyến mãi. Một mức giá cao hay thấp có thể tạo ra sự thay đổi lớn trong doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.

Có nhiều yếu tố tác động đến việc xây dựng các chiến lược định giá của doanh nghiệp. Trước tiên là các lực lượng ảnh hưởng đến các quyết định khác của doanh nghiệp trong kinh doanh: các đối thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp, các sản phẩm thay thế và khách hàng của doanh nghiệp. Tiếp đến là chiến lược định vị của doanh nghiệp (positioning). Nếu định giá quá thấp, khách hàng có khả năng đánh đồng sản phẩm hay nhãn hiệu của doanh nghiệp với các sản phẩm hay nhãn hiệu kém chất lượng hơn. Ngược lại, nếu định giá quá cao, doanh nghiệp sẽ gặp nguy cơ mất khách hàng. Dưới đây là một số cách thức định giá có thể giúp doanh nghiệp cải thiện lợi nhuận : Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

Định giá theo cạnh tranh là cách sử dụng giá bán của các đối thủ cạnh tranh làm cơ sở để định giá bán sản phẩm của mình. Tùy theo chiến lược định vị của doanh nghiệp, giá bán có thể thấp hơn hay cao hơn một chút so với giá của đối thủ cạnh tranh.

Định giá dựa trên chi phí là cách ngược lại với cách trên. Thay vì nhìn ra thị trường, doanh nghiệp nhìn vào cấu trúc giá thành sản phẩm của mình để định giá, sau đó xác định tỷ lệ lợi nhuận mong muốn rồi cộng thêm vào giá thành để hình thành giá bán. Cách định giá này một mặt giúp doanh nghiệp đảm bảo mức lợi nhuận trên mỗi sản phẩm bán ra, nhưng nó có thể tạo ra một mức giá bán ngoài sự mong đợi của khách hàng nên phải lưu ý điều chỉnh ngay khi thấy phản ứng tiêu cực từ thị trường.

Định giá để bán hàng nhanh, dù chịu lỗ là cách doanh nghiệp định giá bán thấp dưới mức chi phí để thu hút nhiều khách hàng và mở rộng thị phần. Trong trường hợp này, khách hàng không chỉ mua một sản phẩm có giá thấp, mà sẽ mua thêm những sản phẩm khác, đem lại doanh số cao cho doanh nghiệp. Cách làm này thường chỉ được áp dụng trong một thời gian ngắn.

Định giá để giải phóng hàng tồn kho được áp dụng khi doanh nghiệp đang có một lượng hàng tồn kho quá mức, cần phải giảm bớt lượng hàng trong kho. Trong trường hợp này, mục tiêu của doanh nghiệp là giảm thiểu lỗ.

Định giá để nhắm đến những khách hàng sinh lợi cao bằng cách dành cho các nhóm khách hàng này những mức giá ưu đãi đặc biệt, hoặc cấp thẻ hội viên cho họ để họ có cơ hội mua hàng giảm giá hay tham gia các đợt khuyến mãi. Thông thường, doanh nghiệp có thể giảm giá khi khách hàng mua hàng với số lượng lớn, mua nhiều mặt hàng cùng một lúc hoặc mua hàng theo gói. Chẳng hạn, có thể tạo ra một gói hàng có giá bán đặc biệt bằng cách kết hợp một mặt hàng đang tồn kho nhiều với một mặt hàng đang thịnh hành hoặc tạo ra một sản phẩm mới để đẩy mạnh việc giới thiệu sản phẩm mới ra thị trường.

Định giá theo phiên bản thường được áp dụng cho các sản phẩm hay dịch vụ mang tính kỹ thuật cao. Một sản phẩm thuộc phiên bản cơ bản hay thử nghiệm thường được bán với giá thấp, thậm chí có khi được tặng miễn phí, còn những phiên bản nâng cấp sẽ được bán với giá cao hơn. Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

Như vậy, chính sách giá cả là quan trọng ảnh hưởng đến ưu thế cạnh tranh và do đó doanh nghiệp phải định giá phù hợp cho từng loại sản phẩm, từng giai đoạn trong chu kỳ sản phẩm hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của thị trường.

1.3.1.6 Chất lượng sản phẩm:

Với xu thế hiện nay trên thế giới, chỉ tiêu chất lượng sản phẩm nó trở thành yếu tố cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh. Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm tốt vừa đáp ứng yêu cầu của khách hàng, vừa nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp, tăng năng lực cạnh tranh với các đối thủ.

Chất lượng sản phẩm mang tính chất nội tại của sản phẩm. Nó được xác định bằng các thông số có thể đo được thông qua việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng và xã hội. Chất lượng sản phẩm quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó là việc làm tăng năng lực tiêu thụ sản phẩm, thị phần doanh nghiệp chiếm lĩnh lớn, năng lực cạnh tranh cao.

1.3.1.7 Năng lực tài chính của doanh nghiệp :

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của tài sản diễn ra rất đa dạng dựa vào việc tính toán một cách hiệu quả và sự phân chia xác lập các bộ phận tài sản theo quan hệ tỷ lệ hợp lý dẫn đến các doanh nghiệp có doanh thu kinh doanh, không những có thể bù đắp được chi phí bỏ ra mà còn có cả lợi nhuận. Qua đó doanh nghiệp hình thành và bổ sung các quỹ bù đắp, quỹ dự phòng tài chính, quỹ phát triển sản xuất kinh doanh…đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiếp tục được tiến hành và tăng trưởng. Vì vậy năng lực tài chính là một trong những vấn đề quan trọng nhất quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nó có thể thúc đẩy hoặc hạn chế sự phát triển của sản xuất kinh doanh.

Vì vậy việc phân tích năng lực tài chính là công cụ không thể thiếu để phục vụ cho công tác phân phối quản lý và huy động một cách có hiệu quả các loại vốn cần thiết cho nhu cầu kinh doanh. Việc phân tích năng lực tài chính thường dựa vào các công cụ như: Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

  • Bảng cân đối kế toán (cơ cấu vốn và tài sản) :

Là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một cách tổng quát toàn bộ tài sản của doanh nghiệp theo hai cách đánh giá: vốn và nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Như vậy bảng cân đối kế toán nhằm mô tả sức mạnh tài chính của doanh nghiệp bằng cách trình bày những thứ mà nó có và những thứ mà nó nợ tại một thời điểm. Người ta coi bảng cân đối kế toán như một bức ảnh chụp nhanh, bởi vì nó được lập vào thời điểm cuối niên độ kế toán. Đây cũng chính là nhược điểm của bảng cân đối kế toán khi chúng ta sử dụng số liệu của nó phục vụ cho phân tích tài chính.

  • Kết cấu : gồm hai phần :

Phần tài sản: phản ánh giá trị toàn bộ tài sản hiện có tới thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp. Về mặt kinh tế, các số liệu của phần tài sản phản ánh quy mô và kết cấu của các loại vốn, tài sản của doanh nghiệp hiện có tới thời điểm lập báo cáo đang tồn tại dưới hình thái vật chất : vốn bằng tiền, hàng tồn kho, tài sản cố định, các khoản phải thu…thông qua đó có thể đánh giá một cách tổng quát quy mô tài sản, tính chất hoạt động và trình độ sử dụng vốn. Về mặt pháp lý, số liệu ở phần tài sản thể hiện số vốn đang thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp.

Phần nguồn vốn: phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Về mặt kinh tế, số liệu ở phần nguồn vốn thể hiện cơ cấu các nguồn vốn được huy động đầu tư vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua đó có thể đánh giá một cách khả năng và mức độ chủ động về tài chính của doanh nghiệp. Về mặt pháp lý, số liệu ở phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với người cho vay về các khoản nợ phải trả, đối với khách hàng về các khoản phải thanh toán, đối với chủ sở hữu về số vốn đã đầu tư, đối với nhà nước về khoản phải nộp, đối với cán bộ công nhân viên về các khoản phải trả…

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh một cách tổng hợp tình hình và kết quả kinh doanh trong một niên độ kế toán. Số liệu trong báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp nhất về phương thức kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ và chỉ ra rằng các hoạt động kinh doanh đó đem lại lợi nhuận hay gây lỗ vốn, đồng thời nó còn phản ánh tình hình sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là bản báo cáo tài chính được các nhà phân tích tài chính rất quan tâm, vì nó cung cấp các số liệu về hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp đã thực hiện trong kỳ. Nó còn được sử dụng như một bản hướng dẫn để dự tính xem doanh nghiệp sẽ hoạt động ra sao trong tương lai. Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

Việc phân tích tài chính sẽ giúp cho doanh nghiệp biết được tiềm lực tài chính của mình. Nếu như doanh nghiệp có tiềm lực tài chính cao thì sẽ có năng lực thu hút khách hàng từ đối thủ cạnh tranh nhờ sử dụng một số chính sách chẳng hạn ban đầu bán với mức giá cùng hoặc thấp hơn giá của đối thủ cạnh tranh, chịu chấp nhận không có lợi nhuận hoặc có thể hỗ trợ trong thời gian đầu. Sau đó khi đã chiếm được thị trường rộng lớn và tạo được lòng tin từ phía khách hàng mới quay trở lại thu hồi vốn.

1.3.1.8 Hoạt động phân phối tiêu thụ sản phẩm :

Phân phối tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, nó cũng là khâu quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và khách hàng là người mua sản phẩm thông qua kênh tiêu thụ, hoặc trực tiếp. Việc xây dựng các kênh phân phối tiêu thụ vững chắc sẽ giúp cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Đó là việc tăng sản lượng hàng hoá, tăng lợi nhuận với tốc độ thu hồi vốn nhanh, kích thích phát triển sản xuất.

Thông thường kênh phân phối tiêu thụ của doanh nghiệp được chia thành 5 loại:

  • Kênh cực ngắn: Người sản xuất => Người tiêu dùng
  • Kênh ngắn: Người sản xuất => Người bán lẻ (người phân phối công nghiệp) => Người tiêu dùng
  • Kênh dài: Người sản xuất => Người buôn bán => Người bán lẻ (người phân phối công nghiệp) => Người tiêu dùng
  • Kênh cực dài: Người sản xuất => Đại lý => Người buôn bán => Người bán lẻ (người phân phối công nghiệp) => Người tiêu dùng.
  • Kênh rút gọn: Người sản xuất => Đại lý => Người bán lẻ (người phân phối công nghiệp) => Người tiêu dùng.

Tuỳ theo từng mặt hàng kinh doanh, tuỳ theo vị trí địa lý, tuỳ theo nhu cầu của người mua và người bán, tuỳ theo quy mô kinh doanh của doanh nghiệp mà sử dụng các kênh phân phối tiêu thụ khác nhau cho hợp lý và mang lại hiệu quả bởi nhiều khi kênh phân phối tiêu thụ có tác dụng như những người môi giới nhưng đôi khi nó lại mang lại những trở ngại rườm rà.

1.3.1.9 Uy tín của doanh nghiệp trên thị trường : Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh là doanh nghiệp khẳng định được vị trí của mình trên thị trường. Vị trí này có được đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp. Uy tín của doanh nghiệp không chỉ đơn thuần với khách hàng mà còn uy tín với bạn hàng, với nhà cung ứng, với tổ chức cá nhân có liên quan, với nhà nước. Những công ty có uy tín sẽ có những bạn hàng lâu dài và tin tưởng trong việc cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh, sẽ tạo ra nhiều mối quan hệ mới đặc biệt trong vấn đề liên doanh, liên kết.

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi phải có sự liên doanh liên kết, tương trợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp. Liên doanh với nhau nhằm tận dụng thế mạnh của nhau và uy tín đã được lượng hoá để tính phần vốn góp vốn của công ty. Dựa vào những uy tín sẵn có của hãng kinh doanh mà công ty có năng lực bán được nhiều hơn sản phẩm của mình. Như vậy, uy tín ảnh hưởng rất lớn tới năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp. Tất cả các nhân tố đều gián tiếp, trực tiếp ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nói đến năng lực cạnh tranh mặc dù bằng nỗ lực bên trong của mỗi doanh nghiệp. Song kết quả lại là thể hiện bên ngoài đó chính là năng lực tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Và như vậy, để có một vị thế cạnh tranh tốt doanh nghiệp còn phải đối đầu với những áp lực bên ngoài mà liên quan gần nhất là những áp lực thuộc ngành – năm thế lực cạnh tranh:

Hình 1.1 : Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter.

  • Đối thủ cạnh tranh hiện tại :

Đây là lực lượng thứ nhất trong số năm lực lượng của mô hình này là quy mô cạnh tranh trong số các doanh nghiệp hiện tại vừa là một ngành sản xuất, nếu các đối thủ cạnh tranh càng yếu thì doanh nghiệp có cơ hội để tăng giá bán và kiếm được nhiêù lợi nhuận hơn. Ngược lại khi có các đối thủ cạnh tranh hiện tại thì sự cạnh tranh về giá cả là đáng kể, mọi cuộc cạnh tranh về giá cả đều dẫn đến tổn thương. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong một ngành sản xuất thường bao gồm các nội dung chủ yếu như: Cơ cấu cạnh tranh, thực trạng cầu của ngành, các hàng rào lối ra …

  • Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh cùng một ngành sản xuất, nhưng có năng lực cạnh tranh nếu họ được lựa chọn và quyết định gia nhập ngành.Đây là đe dọa cho các doanh nghiệp hiện tại .

  • Nhà cung ứng:

Nhà cung ứng có thế coi là áp lực đe dọa khi họ có năng lực tăng giá đầu vào hoặc giảm chất lượng sản phẩm dịch vụ mà họ cung cấp, áp lực này xảy ra khi là nhà cung ứng độc quyền, không có sản phẩm thay thế, doanh nghiệp mua yếu tố sản phẩm không phải là khách hàng quan trọng và ưu tiên của họ, cũng có thể loại đầu vào của nhà cung ứng là quan trọng đối với doanh nghiệp hay các nhà cung ứng vật tư cũng có chiến lược liên kết dọc, tức là khép kín sản xuất.

  • Khách hàng:

Đây là lực lượng tạo ra năng lực mặc cả của người mua. Người mua có thể mặc cả thông qua sự ép giá giảm từ khối lượng hàng hoá mua của công ty hoặc đưa ra yêu cầu chất lượng tốt hơn nhưng họ cũng có thể tạo cơ hội cho doanh nghiệp tăng giá kiếm lợi nhuận. Các nhân tố gây sức ép đó là mua khối lượng lớn, nắm bắt được thông tin của doanh nghiệp, thị trường… thậm chí họ có thể vận dụng chiến lược liên kết dọc, xu hướng khép kín sản xuất.

  • Sản phẩm thay thế:

Là sản phẩm khác có thể thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Đặc điểm cơ bản của nó thường có những ưu thế hơn sản phẩm bị thay thế bởi đặc trưng riêng biệt hay giá rẻ hơn. Tạo điều kiện ưu đãi hơn về dịch vụ hoặc các điều kiện tài chính.

Như vậy, trong một ngành kinh doanh luôn có những đe dọa buộc các doanh nghiệp phải nghiên cứu phân tích nhằm đưa ra những chiến lược cho mình để đối phó với các thế lực trên nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong nền kinh tế thị trường.

1.3.2 Mối quan hệ giữa các nhân tố trên : Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

Năng lực cạnh tranh phụ thuộc và rất nhiều nhân tố. Ngoài các nhân tố kể trên đó chỉ là các điển hình còn có rất nhiều nhân tố khác. Tuy nhiên các nhân tố ảnh hưởng này không phải là ảnh hưởng một cách đơn lẻ, mà giữa chúng có sự liên kết, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau cùng tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp .

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chúng kết hợp với nhau tạo lên một năng lực tốt nhất cho hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp.

Để nâng cao năng lực cạnh tranh nguồn nhân lực phải được đào tạo về chất lượng, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp. Để có được điều này đòi hỏi phải trang bị máy móc công nghệ kỹ thuật cao cho hoạt động tay nghề của công nhân, phải có năng lực về tài chính để trang bị máy móc, thiết bị, bồi dưỡng cán bộ.

Công tác quản trị của doanh nghiệp trong đó đặc biệt là chiến lược cho hoạt động của công ty. Để hoạch định, đưa ra một chiến lược cho hoạt động của công ty có khả thi đòi hỏi cán bộ quản lý phải giỏi về chuyên môn nghiệp vụ có tầm nhìn rộng và sâu, năng lực phân tích cao, tư duy sắc bén, logic. Song có được điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý, công tác phát triển nguồn nhân lực phải đặt lên trên.

Nguồn lực tài sản cố định nói chung và công nghệ máy móc thiết bị nói riêng ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh trong công nghiệp. Bởi công nghệ máy móc thiết bị hiện đại thì tạo ra năng suất lao động cao chi phí giảm, tăng lợi nhuận, ảnh hưởng đến sản phẩm và cơ cấu sản phẩm, tới giá cả sản phẩm, tới uy tín của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để trang bị máy móc thiết bị công nghệ hiện đại đòi hỏi năng lực tài chính phải cao mới có đủ năng lực trang bị cho hoạt động sản xuất, mua sắm của doanh nghiệp.

Sản phẩm và cơ cấu sản phẩm, yếu tố này chịu tác động của công tác quản trị của doanh nghiệp, của nguồn nhân lực, của công nghệ máy móc thiết bị. Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong đó cơ cấu sản phẩm như thế nào, giá sản phẩm ra sao cho phù hợp với chi phí bỏ ra, với giá trên thị trường.

Giá cả của sản phẩm lại ảnh hưởng bởi máy móc công nghệ thiết bị. Công nghệ có hiện đại thì mới giảm được chi phí sản xuất khi đó giá mới giảm đồng thời chất lượng sản phẩm lại tốt do đó khách hàng sử dụng yên tâm hoạt động tiêu thụ mạnh mẽ, lợi nhuận tăng, doanh nghiệp mở rộng thị phần, năng lực cạnh tranh được nâng cao.

Khi uy tín doanh nghiệp được khẳng định thì năng lực cạnh tranh rất cao bởi khách hàng và bạn hàng đã biết đến. Để tạo dựng được uy tín đòi hỏi sản phẩm của doanh nghiệp phải tốt, đáp ứng các nhu cầu của người tiêu dùng, giá cả hợp lý, cơ cấu sản phẩm đa dạng.

Như vậy tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thúc đẩy nhau cho hoạt động của doanh nghiệp diễn ra tốt đẹp nhất.

1.4 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả cạnh tranh: Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

1.4.1 Thị phần và vị thế cạnh tranh:

Thị phần là chỉ tiêu mà các doanh nghiệp thường dùng để đánh giá mức độ chiếm lĩnh thị trường của mình so với đối thủ cạnh tranh. Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Thị phần càng lớn càng thể hiện rõ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh. Biểu hiện cụ thể là thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh, uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng, bạn hàng thậm chí cả với đối thủ cạnh tranh.

Khi xem xét người ta đề cập đến các loại thị phần sau :

  • Thị phần của công ty so với toàn bộ thị trường : Đây chính là tỉ lệ phần trăm giữa doanh số của công ty so với doanh số của toàn ngành.
  • Thị phần của công ty so với phân khúc mà nó phục vụ : Đó là tỉ lệ phần trăm giữa doanh số của doanh nghiệp đối với doanh số của toàn phân khúc.
  • Thị phần tương đối : Đây là tỉ số giữa doanh số của công ty so với doanh số của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất. Nó cho biết vị thế của công ty trong cạnh tranh trên thị trường như thế nào.
  • Thị phần tuyệt đối là so với toàn ngành :
Thị phần của doanh nghiệp = Doanh thu của công ty
Tổng doanh thu toàn ngành

Để đạt được vị trí vững mạnh trên thị trường, tất cả các doanh nghiệp phải có những tiểu xảo, thủ pháp để tận dụng các cơ hội kinh doanh, nắm bắt được các thông tin từ thị trường, từ người tiêu dùng hay từ phía đối thủ cạnh tranh. Luôn đổi mới chất lượng, đẩy lùi sự xâm lấn của đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Ngoài ra, sự lãnh đạo tài tình của ban lãnh đạo làm cho bầu không khí trong nội bộ doanh nghịêp luôn thoải mái. Nó là cơ cấu vô hình, nhưng đủ mạnh để hình thành phong cách về lối làm việc trong doanh nghiệp, là nhân tố quyết định hiệu quả, lợi nhuận của doanh nghiệp hay là yếu tố quan trọng quyết định đối với vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp.

1.4.2 Doanh thu và lợi nhuận: Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

Ngoài việc đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu, thị phần và vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp, người ta còn đánh giá kết quả cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được trong sự cạnh tranh gay gắt với các đối thủ cạnh tranh.

Doanh thu : là tổng doanh thu của doanh nghiệp so với tổng doanh thu của đối thủ cạnh tranh, khi chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tốt, sức cạnh tranh mạnh. Và ngược lại nếu chỉ tiêu này nhỏ cũng có nghĩa năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là không cao.

Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp thu được phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Nếu hiệu quả cao sẽ đem lại lợi nhuận lớn, tăng năng lực tái sản xuất, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhờ vào quy mô sản xuất ngày càng mở rộng tạo lợi thế vượt trội so với đối thủ cạnh tranh .

  • Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận
  • Doanh thu

Ngoài 2 chỉ tiêu trên để đánh giá năng lực cạnh tranh người ta còn có thể dựa vào các chỉ tiêu khác như : năng suất lao động và lợi thế về chi phí, công nghệ và giá cả sản phẩm, hệ số sinh lời, số vòng quay của vốn…..

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 trình bày những kiến thức cơ bản về năng lực cạnh tranh mà doanh nghiệp cần phải có trong xu thế hiện nay gồm : những khái niệm và phân loại cơ bản về năng lực cạnh tranh; nêu lên được vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh đối với sự tồn tại và phát triển; các nhân tố ảnh hướng đến năng lực cạnh tranh và mối quan hệ giữa chúng.

Trên đây là cơ sở lý luận chung về năng lực cạnh tranh. Chương 2 sẽ trình bày về thực trạng năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần dây và cáp điện Việt Nam. Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại công ty dây cáp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537