Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng GPBank

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng GPBank”, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần Dầu khí Toàn cầu – Chi nhánh Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu – Chi nháh Hải Phòng.

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

2.1.1.1 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu

Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu (GP.Bank), tiền thân là Ngân hàng TMCP nông thôn Ninh Bình, đã chính thức trở thành Ngân hàng TMCP đô thị, hoạt động tại Hà Nội từ ngày 07/11/2019. Từ một Ngân hàng mới chuyển đổi mô hình hoạt động, tổ chức bộ máy gọn nhẹ với đội ngũ cán bộ, nhân viên chưa đầy 10 người, đến nay, GP.Bank đã có sự phát triển mạnh mẽ, tăng mạnh cả về qui mô hoạt động, tổ chức mạng lưới, cán bộ.

Hiện nay mạng lưới của GP.Bank không ngừng mở rộng với gần 80 chi nhánh/phòng giao dịch/Quỹ tiết kiệm cùng hệ thống 78 máy ATM/POS trên toàn quốc. Tính đến nay, chủ thẻ của GP.Bank có thể giao dịch tại khoảng 10.000 máy ATM thuộc 3 hệ thống thẻ Smartlink, Banknet và VNBC

2.1.1.2 Ngân hàng Thương mại Cổ phẩn Dầu Khí Toàn Cầu – Chi nhánh Hải Phòng

Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu Hải Phòng được thành lập ngày 25/05/2021 trên cơ sở ngân hàng điều chỉnh, nâng cấp chi nhánh cấp 2 và là đơn vị phụ thuộc Ngân hàng cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu Việt Nam. Chi nhánh được thành lập trên địa bàn Quận Hồng Bàng. Hiện nay Quận được Thành phố hết sức quan tâm, tập trung đầu tư xây dựng cơ ngân hàng hạ tầng, kỹ thuật để thúc đẩy kinh tế xã hội của Quận phát triển, đã tạo nhu cầu sử dụng vốn, sử dụng dịch vụ ngân hàng có cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều khó khăn thử thách.

Ngân hàng Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Hải Phòng trực thuộc Ngân hàng Dầu Khí Toàn Cầu Việt Nam, hoạt động theo luật các Tổ chức tín dụng và điều lệ hoạt động của ngân hàng Dầu Khí Việt Nam. Ngân hàng Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Hải Phòng là một đơn vị hoạch toán độc lập nhưng vẫn có phần phụ thuộc vào Ngân hàng Dầu Khí Toàn Cầu Việt Nam, có quyền tự chủ kinh doanh, có con dấu riêng và được mở tài khoản giao dịch tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cũng như các tổ chức tín dụng khác trong cả nước. Kể từ ngày thành lập đến nay, Ngân hàng Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Hải Phòng đã và đang hoạt động kinh doanh trên ngân hàng tự kinh doanh, tự bù đắp và có lãi.

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng GPBank.

2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức

2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ các phòng ban

  • Ban Giám đốc

Giám đốc Chi Nhánh là người được Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc trực tiếp giao trách nhiệm tổ chức, quản lý và điều hành ổn định toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của Chi Nhánh nhằm thực hiện thành công các kế hoạch kinh doanh định kỳ và chiến lược phát triển của GP Bank.

  • Phòng dịch vụ khách hàng doanh nghiệp

Tham mưu cho Giám đốc Chi nhánh và tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh ngân hàng tại Chi nhánh trong các lĩnh vực: Khai thác nguồn vốn; cho vay ngắn, trung, dài hạn; khai thác các loại hình dịch vụ ngân hàng khác như thanh toán, bảo lãnh đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Thẩm định hoặc tái thẩm định các khoản cấp tín dụng cho các khách hàng doanh nghiệp vượt thẩm quyền của các đơn vị trực thuộc.

  • Phòng dịch vụ khách hàng

Tham mưu cho Giám đốc Chi nhánh và tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh ngân hàng tại Chi nhánh trong các lĩnh vực: cho vay kinh doanh, tiêu dùng và cung cấp các ngân hàng bán lẻ đối với các hộ gia đình, cá nhân. Thẩm định hoặc tái thẩm định các khoản cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân, hộ gia đình vượt thẩm quyền của các đơn vị trực thuộc.

  • Phòng kế toán và dịch vụ khách hàng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng GPBank.

Tham mưu cho Giám đốc và tổ chức thực hiện tại Chi nhánh các lĩnh vực: Hạch toán kế toán, thống kê, quản lý tiền lương, huy động tiết kiệm, cân đối nguồn vốn, quản lý kho quỹ và cung cấp các dịch vụ tài khoản, thanh toán cho tất cả các đối tượng khách hàng.

  • Tổ kiểm soát nội bộ

Tổ kiểm tra kiểm soát nội bộ là đơn vị thuộc Chi nhánh có chức năng giúp Giám đốc Chi nhánh tổ chức thực hiện tại Chi nhánh (kể cả các Phòng Giao dịch) các lĩnh vực: kiểm tra mọi nghiệp vụ kinh doanh và quản lý tài chính tại Chi nhánh nhằm thực hiện đúng các quy định hiện hành của Pháp luật, các quy chế quản lý của ngành; các quy định, quy trình nghiệp vụ của GB Bank.

  • Phòng hỗ trợ và Tái thẩm định

Tổ chức thực hiện công việc tại Chi nhánh trong lĩnh vực: Tái thẩm định các khoản cấp tín dụng, thanh toán quốc tế, hoàn thiện hồ sơ cấp tín dụng, hồ sơ đảm bảo tiền vay; Giám sát, đôn đốc việc thực hiện các quy định quản lý tín dụng và xử lý, hạch toán các giao dịch trực tiếp với khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng từ khi cấp tín dụng tới khi tất toán khoản cấp tín dụng.

  • Phòng hành chính – tổng hợp

Tổ chức thực hiện các công việc hỗ trợ các phòng ban, ban chuyên môn nhằm đảm bảo điều kiện vật chất, kỹ thuật; Quản lý tài sản, văn thư lưu trữ; Đảm bảo an ninh, nội quy lao động… nhằm phục vụ công tác quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh tại Chi nhánh ngân hàng; Tổ chức tuyển dụng, đào tạo và quản lý nhân sự, quản lý tiền lương tại chi nhánh phù hợp với các quy định nội bộ của GP Bank và pháp luật lao động.

  • Mối quan hệ giữa các phòng ban

Các phòng ban tự chịu trách nhiệm tổ chức, triển khai nhiệm vụ quy định trong văn bản này. Những công việc liên quan đến nhiều phòng ban thì nhiệm vụ khởi đầu từ phòng ban nào thì phòng ban đó chủ trì. Các phòng ban khác phối hợp triển khai. Truờng hợp có vướng mắc trình Giám đốc Chi nhánh xem xét quyết định;

Đối với những nhiệm vụ quy định trên nhưng chưa có điều kiện triển khai thì mỗi phòng ban phải phân công người chịu trách nhiệm theo dõi, báo cáo cấp trên;

Các phòng ban có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và kịp thời hồ sơ, tài liệu, thông tin cho các phòng ban khác khi có yêu cầu từ trường hợp các phòng ban đó hoặc Giám đốc Chi nhánh theo quy định chung của ngân hàng;

Các trưởng phòng ban có quyền yêu cầu các phòng ban khác hỗ trợ về nhân sự trong thời gian 01 ngày làm việc để tăng cường giúp nhau hoàn thành công việc đột xuất đặc biệt. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng GPBank.

2.1.3 Kết quả hoạt động của ngân hàng trong ba năm 2023, 2024, 2025

Năm 2025 nền kinh tế của thế giới nói chung, của nước ta nói riêng phải đối đầu với nhiều khủng hoảng, khó khăn. Ngân hàng Nhà nước phải liên tục đưa ra các chính sách kinh tế, chính sách tiền tệ để cân bằng kinh tế. Nhưng bên cạnh những khó khăn chung của hệ thống Ngân hàng Việt Nam, của nền kinh tế thế giới, thì Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu – Chi nhánh Hải Phòng đã cố gắng để đạt những kết quả khá cao, đứng vững và phát triển an toàn trong hệ thống NHTM Việt Nam. Sau đây kết quả hoạt động của GPB – Hải Phòng của năm 2025 so với năm 2023 và 2024, thông qua hai hoạt động chính là huy động vốn và tín dụng.

2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn

Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phục vụ cho việc phát triển kinh tế trên địa bàn Thành phố Hải Phòng với phương hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư, phát triển kinh tế nhiều thành phần, Chi nhánh ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu – Hải Phòng đã tích cực thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức kinh tế như sau:

Bảng 1: Kết quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu – Chi nhánh Hải Phòng.

  • Như vậy trong 3 năm 2023, 2024 và 2025:

Qua bảng kết quả trên ta thấy tổng vốn huy động của năm 2023 đạt 698.635 triệu đồng, năm 2024 tổng vốn huy động tăng lên 878.502 triệu đồng, tương đương tăng 179.867 triệu đồng, nhưng đến năm 2025 thì ngân hàng huy động vốn lại giảm xuống còn 878.396 triệu đồng, chỉ giảm có 106 triệu đồng, mặc dù tổng nguồn vốn huy động trong năm 2024 không tăng so với năm 2023, nhưng xét trên sự khó khăn của nền kinh tế năm 2025 với nền kinh tế năm 2024 ở Việt Nam cũng như toàn thế giới thì con số tổng nguồn vốn huy động trong năm 2025 đạt 878.396 triệu đồng so với năm 2023 và năm 2024 của GPB – Hải Phòng thì công tác huy động vốn được coi là tích cực. Có được những hiệu quả về huy động vốn trong những năm vừa qua là do ngân hàng đã xác định được tầm quan trọng của vốn huy động, ngân hàng đó tổ chức, triển khai nhiều biện pháp huy động vốn như: tuyên truyền, quảng cáo, khai thác được những điều kiện thuận lợi, tiềm năng dư thừa trong dân, trưng bày các biển quảng cáo ở trụ sở ngân hàng trung tâm và các ngân hàng khu vực, vận động mọi người tham gia gửi tiền tiết kiệm, tạo dựng thói quen tiết kiệm trong nhân dân, tạo điều kiện cho mọi công dân có nhu cầu mở tài khoản tiền gửi cá nhân và thanh toán giao dịch qua ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng GPBank.

Có thể nói công tác huy động vốn trong những năm gần đây đạt được kết quả đáng khích lệ góp phần vào ổn định lưu thông tiền tệ, tạo lập được đủ nguồn vốn đáp ứng mở rộng đầu tư cho các thành phần kinh tế và tăng trưởng tín dụng.

2.1.3.2 Hoạt động tín dụng

Song song với nghiệp vụ huy động vốn thì nghiệp vụ cho vay đóng vai trò quyết định trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu – Chi nhánh Hải Phòng luôn nỗ lực trong việc kiềm chế tăng trưởng tín dụng nóng, đầu tư tín dụng được chủ động và tăng trưởng một cách hợp lý đi đôi với việc cải thiện, nâng cao chất lượng, thực hiện rà soát, sàng lọc, lựa chọn khách hàng làm ăn có hiệu quả, tình hình tài chính lành mạnh, đảm bảo điều kiện tín dụng, cho vay tiêu dùng nhằm phân tán rủi ro… Tiến hành phân loại lại nợ, xác định các món có tiềm ẩn rủi ro để thu hồi trong năm. Ngân hàng đã xây dựng cụ thể kế hoạch triển khai xử lý nợ đối với những đối tượng có tiềm ẩn rủi ro để thu hồi nợ bằng nhiều biện pháp. Nhờ đó dư nợ tín dụng của GPB – Hải Phòng tăng trưởng với khả năng có thể kiểm soát, cơ cấu dư nợ đã từng bước chuyển đổi theo hướng tăng dần tỷ trọng cho vay kinh tế tư nhân, cho vay tiêu dùng.

Bảng 2: Kết quả cho vay tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu – Chi nhánh Hải Phòng

Trong năm 2024 hoạt động tín dụng tăng khá mạnh, tăng 279%, từ 270.099 triệu đồng năm 2023 lên 1.023.935 triệu đồng trong năm 2024 . Bên cạnh việc tăng về tổng số cho vay, thì tổng thu nợ năm 2024 so với năm 2023 cũng tăng hơn 200%, và dư nợ cũng tăng hơn 60%. Do đó ta thấy tình hình cho vay khá hợp lý. Tuy nhiên để đảm bảo hoạt động kinh doanh được tốt nhất, ngân hàng cần có các chính sách hợp lý để giảm mức tổng dư nợ xuống mức thấp nhất và tránh các trường hợp nợ xấu. Cùng chung với khó khăn của nền kinh tế Việt Nam nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung, thì việc khả năng cho vay của ngân hàng giảm cũng là điều tất yếu, khi mà NHNN đưa ra các chính sách thắt chặt tiền tệ, hạn chế giải ngân cho các doanh nghiệp và tình hình làm ăn thua lỗ của các doanh nghiệp, khi hàng loạt các doanh nghiệp lâm vào phá sản thì việc GPB không cho vay để đảm bảo sự an toàn của đồng tiền là chính sách hợp lý. Vì vậy, đến năm 2025 con số tổng cho vay trong năm 2025 giảm 74% so với năm 2024 giảm khá mạnh, từ 1.023.935 triệu đồng xuống còn 261.376 triệu đồng, tương đương giảm đến 74%. Vì thế ngân hàng cần có các phương án hoạt động để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng mình.

Bảng 3: Doanh số cho vay theo loại tiền tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu – Chi nhánh Hải Phòng

Qua bảng số liệu ta thấy rằng cho vay bằng Việt Nam đồng luôn chiếm phần trăm chủ yếu, gần như 100%. Cụ thể trong năm 2023 cho vay bằng VNĐ chiếm đến 96,205% trong tổng số cho vay, còn cho vay bằng ngoại tệ và vàng chỉ chiếm 3,792% trên tổng số cho vay, và con số cho vay bằng ngoại tệ đến năm 2024 lại giảm xuống 0,1%, gần như chỉ thực hiện cho vay bằng nội tệ Việt Nam đồng, và tiếp tục đến năm 2025, tỷ lệ cho vay bằng VNĐ vẫn chiếm chủ yếu, đến 97,116%, còn ngoại tệ chiếm 2,884%. Như vậy trong 3 năm ta thấy tình hình cho vay bằng ngoại tệ diễn ra ở ngân hàng GPB – Hải Phòng rất thấp, mặc dù ngân hàng có huy động vốn bằng vàng và ngoại tệ. Như vậy, việc cho vay bằng ngoại tệ chiếm tỷ lệ kém không phải nguyên nhân do ngân hàng không có ngoại tệ – vàng, mà do ngân hàng chưa có các chính sách cho vay hay tìm kiếm nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ và vàng cho hợp lý, điều đó cũng gây ảnh hưởng nhiều đến việc huy động ngoại tệ và vàng của ngân hàng, vì huy động vào mà không cho vay, ngân hàng sẽ khó khăn cho việc trả lãi tiền gửi bằng vàng và ngoại tệ, vì thế ngân hàng cần có các chính sách tín dụng hợp lý, đẩy mạnh hoạt động tín dụng, đồng thời phải hợp lý giữa việc cho vay bằng ngoại tệ – vàng và bằng nội tệ Việt Nam đồng.

2.2. Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu – Chi nhánh Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng GPBank.

2.2.1 Quy mô huy động vốn

Bàng 4: Tổng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu – Chi nhánh Hải Phòng

Qua bảng 4 phân tích về quy mô huy động vốn của GPB – Hải Phòng, ta nhận thấy rõ tổng quy mô huy động vốn trong ba năm 2023, 2024 và năm 2025. Năm 2023 huy động được 698.653 triệu đồng, đến năm 2024 thì nguồn huy động vốn đã tăng lên 26%, nâng tổng huy động vốn của năm 2024 đạt 878.502 triệu đồng. Năm 2024 là năm kinh tế ổn định và dần phục hồi hơn năm 2023, sau khi xảy ra khủng hoảng kinh tế thế giới vào cuối năm 2022. Do đó, nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chức kinh tế tăng lên. Cùng với các biện pháp nhằm thu hút nguồn vốn huy động nên tổng huy động vốn năm 2024 đã tăng lên 26% so với năm 2023. Đó là dấu hiệu tốt cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, đến năm 2025 thì quy mô huy động vốn của ngân hàng đã giảm, tuy chỉ giảm xuống 0,01%, từ 878.502 triệu đồng, xuống 878.396 triệu đồng, một con số tăng giảm không nhiều, nhưng nó cũng phản ánh việc huy động vốn của ngân hàng trong năm 2025 giảm sút hơn. Tổng tiền huy động nhiều hay ít ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cụ thể là ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng. Vì hầu hết theo đúng tính chất của một ngân hàng thương mại các hoạt động kinh doanh của ngân hàng đều chịu chi phối nhiều bởi nguồn vốn huy động. Điều đó nó cũng phản ánh tình trạng khó khăn chung của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, khi rất nhiều các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, phá sản, NHNN Việt Nam thì thường xuyên thay đổi các chính sách tiền tệ. Do vậy, cùng trong nền kinh tế khó khăn, đòi hỏi ban lãnh đạo của Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu – Chi nhánh Hải Phòng cần đưa ra các chính sách huy động vốn hợp lý để khắc phục các khó khăn của ngân hàng và công tác huy động vốn hoạt động có hiệu quả hơn.

2.2.2 Cơ cấu nguồn vốn huy động Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng GPBank.

Bảng 5: Cơ cấu nguồn vốn huy động tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu – Chi nhánh Hải Phòng

Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò quan trọng của công tác huy động vốn, ngân hàng GPB nói chung, cũng như ngân hàng GPB – Hải Phòng nói riêng luôn quan tâm tới công tác này, coi tạo nguồn vốn là nhiệm vụ sống còn trong hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng. Một ngân hàng sẽ không thể vững mạnh nếu không có nguồn vốn vững chắc ổn định. Trong những năm qua, tập thể cán bộ công nhân viên toàn Chi nhánh đã cố gắng nỗ lực trong việc huy động vốn như: đổi mới phong cách tác phong làm việc, đơn giản hoá các thủ tục mở tài khoản cũng như thu chi tiết kiệm tạo tâm lý thoải mái cho khách hàng khi đến gửi tiền, giao dịch tại ngân hàng, bên cạnh đó vẫn đảm bảo tuân thủ chế độ nên công tác huy động vốn đã đạt kết quả đáng khích lệ.

Qua bảng trên ta thấy công tác huy động vốn của ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu – Chi nhánh Hải Phòng trong năm 2024 không ngừng tăng và tăng mạnh, tổng nguồn vốn huy động bình quân năm 2024 là 878.502 triệu đồng, tăng 179.849 triệu đồng, tỷ lệ tăng 26% so với năm 2023. Đến năm 2025 tổng vốn huy động có giảm nhẹ so với năm 2024, giảm 0,01%, từ 878.502 triệu đồng xuống 878.396 triệu đồng.

Cơ cấu nguồn vốn huy động thay đổi theo hướng tỷ trọng tiền gửi doanh nghiệp tăng. Đây là sự chuyển biến tích cực theo hướng có lợi cho hoạt động kinh doanh chung của toàn Chi nhánh. Sự gia tăng nguồn vốn đã tạo đà và mở đường thúc đẩy hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tạo ra sức mạnh trong kinh doanh giúp ngân hàng tăng trưởng lợi nhuận.

Trong những năm qua nguồn vốn của Chi nhánh huy động chủ yếu:

  • Huy động từ tiền gửi tiết kiệm dân cư.
  • Huy động từ tiền gửi các tổ chức kinh tế.
  • Phát hành giấy tờ có giá: kỳ phiếu, trái phiếu.
  • Tiền gửi tiết kiệm dân cư.

Đây là hình thức huy động truyền thống của các ngân hàng và luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn (thường từ 65 – 70%), thường là nguồn vốn tiền dưới 12 tháng chiếm tỷ lệ cao. Chính vì vậy sự biến động của nguồn vốn này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hiện nay Chi nhánh ngân hàng GPB – Hải Phòng huy động tiền gửi tiết kiệm cả VNĐ và ngoại tệ dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, thời hạn 1 tuần, 3 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng… trở lên. Để đạt được kết quả đó, Chi nhánh đã đưa ra được mức lãi suất hợp lý và đã thực hiện các biện pháp để khai thác tối đa nguồn vốn này như: thủ tục gửi tiền đơn giản, đội ngũ nhân viên có trình độ cao, không ngừng đổi mới phong cách giao dịch.

Trong tổng nguồn vốn huy động thì lượng tiền gửi tiết kiệm dân cư bằng đồng Việt Nam chiếm phần lớn. Nguồn tiền gửi này chia làm hai loại: Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng GPBank.

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: nguồn tiền này ngân hàng phải trả lãi suất cao nên số lượng huy động được rất lớn và ngày càng tăng cao: 440.428 triệu đồng năm 2023, 466.631 triệu đồng năm 2024. Và trong năm 2025 có giảm nhẹ so với tổng nguồn huy động của năm 2024, nhưng vẫn được nhìn nhận là con số huy động cao với mức huy động là 455.019 triệu đồng.

Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Trong tổng nguồn vốn huy động thì loại tiền gửi này chiếm tỷ lệ này rất thấp, vì đây là loại tiền gửi trả lãi suất thấp do nhu cầu gửi vào và rút ra của khách hàng là thường xuyên và ngân hàng không kế hoạch được. Cụ thể, năm 2023 tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn chỉ chiếm 8% trên tổng số nguồn tiền VNĐ huy động từ dân cư, năm 2024 tăng lên 28% và đến năm 2025 tỷ lệ này đã tăng cao đến 33%.

Như vậy, lượng tiền huy động từ dân cư chiếm tỷ trọng cao và ngày càng tăng qua các năm, và xu hướng huy động vốn cũng đang thay đổi. Cụ thể, trong năm 2024 so với năm 2025 tỷ lệ tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn đang tăng lên và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn đang giảm. Mặt khác nguồn tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền huy động vốn với mức chi phí thấp, nhưng lại khó xác định về thời gian đáo hạn, vì vậy ngân hàng cần có các giải pháp để nâng cao nguồn huy động không kỳ hạn và hợp lý thời gian đáo hạn của khoản tiền gửi này.

  • Tiền gửi các tổ chức kinh tế

Tiền gửi của các tổ chức kinh tế ở ngân hàng được gửi dưới hai hình thức là tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn. Đối tượng của loại vốn này là các doanh nghiệp kinh doanh thuộc mọi lĩnh vực. Khi các doanh nghiệp hoạt động ngày một hiệu quả thì đây là một nguồn vốn không phải nhỏ và ngày càng ổn định hơn.

Chính vì vậy mà Chi nhánh Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu – Hải Phòng cần huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế, thoả thuận cùng khách hàng có nguồn chu chuyển về tài khoản tại Chi nhánh. Tiếp thị, tiếp cận bằng nhiều biện pháp nhằm thu hút các nguồn tiền nhàn rỗi từ các doanh nghiệp, đơn vị hành chính sự nghiệp… gửi vào Chi nhánh.

Trong những năm qua, Chi nhánh GPB – Hải Phòng đã huy động được vốn từ tổ chức kinh tế có số dư tiền gửi lớn trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Kết quả năm 2023 huy động số dư tiền gửi tổ chức kinh tế đạt 62.584 triệu đồng, chiếm 10% tổng nguồn huy động. Năm 2024 và 2025 tỷ lệ huy động từ các tổ chức kinh tế có giảm, cụ thể, năm 2024 chỉ chiếm 7% trong tổng số nguồn huy động tương đương 55.374 triệu đồng, còn năm 2025 lại tăng so với năm 2024 0,96%, chiếm 69.902 triệu đồng tổng số tiền huy động được. Tỷ lệ giảm 3% năm 2024 so với năm 2023 và chỉ tăng 0,96% năm 2025 so với năm 2024 là do nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế còn cần nhiều vốn để kinh doanh lên gửi lại ngân hàng đã giảm. Tuy nhiên trong tổng nguồn vốn huy động thì tỷ trọng nguồn tiền này còn rất nhỏ so với tiềm năng của nó, trong những năm tới Chi nhánh cần phải có các biện pháp để thu hút nguồn vốn này. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng GPBank.

  • Nguồn vốn bằng phát hành giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu.

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, nguồn vốn huy động được từ việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng nguồn vốn, đây là nguồn vốn không thường xuyên. Sử dụng kỳ phiếu, trái phiếu để huy động vốn là một phương thức huy động vốn tiên tiến nhưng lãi suất thường cao. Ngân hàng chỉ phát hành kỳ phiếu, trái phiếu khi cần huy động cho mục đích nào đó, chứ không phát hành thường xuyên.

Vốn huy động từ việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu năm 2023 là 44.425 triệu đồng, chiếm 6% tổng nguồn huy động, năm 2024 giảm xuống còn 43.804 triệu đồng, chỉ chiếm 5% tổng huy động, đặc biệt trong năm 2025, ngân hàng GPB – Hải Phòng không huy động vốn bằng hình thức này nữa. Qua điều đó lại càng khẳng định sự khó khăn của các tổ chức kinh tế trong năm qua. Vì hình thức cho vay qua phát hành giấy tờ có giá là hình thức GPB – Hải Phòng huy động nguồn vốn trung và dài hạn. Sự khó khăn và phá sản của các doanh nghiệp Việt Nam đã khiến các doanh nghiệp không thể đầu tư vào giấy tờ có giá của ngân hàng. Do đó ngân hàng phát hành giấy tờ có giá giảm dần trong năm 2024 và không phát hành vào năm 2025.

Mặt khác ta cùng xét xem cơ cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền bao gồm: VNĐ và ngoại tệ USD.

Bảng 5.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu – Chi nhánh Hải Phòng

Nội tệ: Năm 2023 số vốn huy động bằng VNĐ là 587.003 triệu VNĐ tương ứng với 84% trong tổng số vốn huy động được. Nguồn vốn huy động bằng tiền VNĐ ngày càng tăng, cụ thể năm 2024 tăng lên 85% trong tổng nguồn vốn huy động, đạt 748.554 triệu đồng, và năm 2025 nguồn vốn huy động tiền gửi bằng VNĐ đạt 753.011 triệu đồng, tương ứng chiếm 86%.

Ngoại tệ: Năm 2023 số vốn huy động được bằng ngoại tệ (quy ra VNĐ) là 111.650 triệu VNĐ chiếm 16% trong tổng số vốn huy động được. Đến năm 2024 số vốn huy động đã tăng lên là 129.948 triệu VNĐ nhưng tỷ trọng lại giảm xuống còn 15%, nguyên nhân là do tổng nguồn vốn huy động năm 2024 tăng khá cao so với năm 2023 nhưng huy động vốn bằng ngoại tệ lại tăng ít. Và đến năm 2025 thì cả tỷ lệ huy động và tỷ trọng huy động bằng ngoại tệ đều giảm xuống còn 15% tổng nguồn vốn huy động được, với số tiền huy động là 125.385 triệu đồng.

Qua đó cho thấy huy động vốn của GPB – Hải Phòng chủ yếu bằng VNĐ. Trong cơ cấu nguồn vốn, vốn VNĐ luôn có tỷ trọng lớn hơn vốn ngoại tệ. Nguyên nhân đó là đồng tiền nội tệ, và do các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, các cá nhân vẫn sử dụng hình thức thanh toán chủ yếu là VNĐ. Ngoài ra nó còn phản ánh tâm lý của người dân và các tổ chức kinh tế không còn tâm lý chuộng ngoại tệ như vài năm trước đây, nguyên nhân là do tỷ giá USD/VNĐ tương đối ổn định, lãi suất của USD duy trì ở mức thấp. Và lãi huy động tiền gửi bằng VNĐ rất cao, thậm chí gấp 7 lần, khi thời điểm đầu tháng 06/2025, mức lãi suất huy động VNĐ là 14%, trong khi đó ngoại tệ, cụ thể USD chỉ có 2%, điều đó đã dẫn đến tình trạng người dân đổ xô đi bán ngoại tệ, lấy tiền VNĐ để gửi ngân hàng. Vì thế nguồn huy động bằng nội tệ VNĐ luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động, mặt khác theo quy định của NHNN Việt Nam, người dân phải mua bán ngoại tệ qua ngân hàng thương mại, không được mua bán tự do, vì thế nguồn ngoại tệ lại tăng lên, điều đó cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng của ngân hàng liên quan đến ngoại tệ và vàng. Do đó ngân hàng cần có các chính sách phù hợp để cân bằng nguồn vốn cũng như sử dụng vốn tại ngân hàng.

2.2.3 Sự phù hợp giữa nguồn vốn huy động và sử dụng vốn Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng GPBank.

Hoạt động huy động vốn với tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định chưa đủ để đánh giá là hoạt động có hiệu quả. Hoạt động huy động vốn là hoạt động khởi đầu song phải gắn với hoạt động sử dụng vốn, hoạt động huy động vốn phải lấy nhu cầu sử dụng vốn là mục tiêu. Nếu nguồn vốn huy động thấp không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng vốn làm cho ngân hàng bỏ qua cơ hội đầu tư có hiệu quả, hơn nữa nó còn làm giảm uy tín của khách hàng đối với ngân hàng. Ngược lại nếu huy động vốn quá nhiều, vượt quá nhu cầu sử dụng vốn sẽ gây ra tình trạng ứ đọng vốn, khoản ứ đọng vốn này phải chịu chi phí huy động song lại không tạo ra thu nhập nên sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Vì vậy Ngân hàng luôn phải cố gắng duy trì sự cân đối giữa nguồn vốn huy động và nhu cầu sử dụng vốn. Ta cùng đi xem xét và phân tích 3 bảng:

  • Bảng 6: Mối quan hệ giữa tổng huy động và tổng dư nợ.
  • Bảng 7: Huy động vốn và cho vay ngắn hạn.
  • Bảng 8: Huy động vốn và cho vay trung dài hạn.
  • Bảng 6: Mối quan hệ giữa tổng huy động và tổng dư nợ

Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng vốn huy động của năm 2024 tăng cao so với năm 2023, cụ thể năm 2023 chỉ huy động được 698.653 triệu đồng, nhưng năm 2024 con số huy động này tăng lên 878.502 triệu đồng, tương đương tăng 179.849 triệu đồng, điều đó cho thấy hoạt động huy động vốn của ngân hàng đang hoạt động có hiệu quả, tuy nhiên tỷ lệ thuận với tổng vốn huy động tăng lên thì tổng dư nợ cũng tăng lên với năm 2024 tăng so với năm 2023 là 264.301 triệu đồng, do đó tỷ lệ dư nợ trên tổng vốn huy động cũng tăng theo, cụ thể năm 2023 tổng dư nợ trên tổng vốn huy động chiếm đến 61% và tăng cao trong năm 2024 khi tỷ lệ là 78%. Đây là một dấu hiệu không khả quan, vì tổng dư nợ được định nghĩa là khoản ngân hàng cho vay trong năm nay nhưng chưa thu hồi được cộng với khoản vay năm trước đến năm nay cũng chưa thu hồi được, như vậy tổng dư nợ mà cao sẽ gây nhiều khó khăn cho ngân hàng, cụ thể, ngân hàng khó thu hồi lại vốn, có khả năng xấu còn dẫn đến mất vốn. Mà tỷ lệ dư nợ này ngân hàng đa phần đều lấy từ hoạt động huy động vốn để cho vay, điều đó có thể dẫn đến mất cân bằng, nợ không thu được, khách hàng lại đáo hạn tiền gửi. Nếu ngân hàng không có biện pháp thích hợp phòng trường hợp khách hàng có nhu cầu đáo hạn bất ngờ, thì sẽ rất dễ dẫn đến tình trạng khủng hoảng, tình trạng này cứ kéo dài sẽ dẫn đến ngân hàng có thể bị phá sản. Vì vậy ngân hàng cần có các biện pháp phù hợp để giảm thiểu tỷ lệ dư nợ trên tổng nguồn vốn huy động, như xem xét kỹ các nhu cầu vay vốn có khả năng trả nợ, những khách hàng có tiềm năng tài chính… có các phương pháp dự trữ tiền thích hợp, tránh trường hợp người gửi tiền đến rút tiền hàng loạt. Và kết quả hoạt động có hiệu quả đó thể hiện trong năm 2025, tỷ lệ tổng dư nợ đã giảm đáng kể, từ 689.407 triệu đồng trong năm 2024 xuống còn 552.971 triệu đồng trong năm 2025, tương đương giảm đến 136.436 triệu đồng và tỷ lệ tổng dư nợ/tổng vốn huy động chỉ còn 63%, giảm 15% so với năm 2024. Điều đó cho thấy rằng ngân hàng đang đi đúng hướng và làm ăn có hiệu quả, khắc phục dần được tình trạng tổng dư nợ còn cao và lại tăng được khả năng huy động vốn của ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng GPBank.

  • Bảng 7: Huy động vốn và cho vay vốn ngắn hạn
  • Bảng 8: Huy động vốn và cho vay trung dài hạn

Bằng những nỗ lực không ngừng trong công tác huy động vốn, ngân hàng đã cơ bản đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng. Đó là điều đáng khích lệ. Ngân hàng luôn xem xét đánh giá, thẩm định dự án đầu tư của các khách hàng một cách khoa học, đúng đắn để đánh giá đúng các khách hàng có năng lực tài chính thực sự, đó chính là chìa khóa quan trọng trong hoạt động tín dụng. Ngân hàng vẫn khuyến khích khách hàng vay vốn ngắn hạn, cố gắng để tỷ lệ vay vốn trung và dài hạn ở mức thấp hơn, cụ thể, tỷ lệ vay vốn ngắn hạn trên tổng nguồn vốn ngắn hạn trung bình trên 50%, còn cho vay trung dài hạn chỉ chiếm trên 20%. Tránh trường hợp khách hàng vay và dẫn đến nợ xấu, đồng thời tỷ lệ khách hàng đến đáo hạn nhiều. Đó chính là một chính sách hoạt động an toàn của ngân hàng. Trong ba năm 2025, 2024 và năm 2023, thì năm 2024 tỷ lệ cho vay tăng rất cao lên đến 146% vượt qua cả tỷ lệ huy động vốn ngắn hạn. Nguyên nhân năm 2024 tỷ lệ vay vốn ngắn hạn tăng cao đó là do nền kinh tế Việt Nam lúc đó đang bắt đầu ổn định hơn, sau cuộc khủng hoảng xảy ra cuối năm 2022, vì thế các doanh nghiệp bắt đầu phát triển và tăng cao nhu cầu vay vốn của mình tại ngân hàng. Tuy nhiên đến năm 2025, nền kinh tế và các doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, cùng với chính sách của NHTƯ không cho giải ngân quá nhiều cho các doanh nghiệp. Vì vậy đến năm 2025 tỷ lệ cho vay ngắn hạn giảm đáng kể, chỉ chiếm 31%. Do đó ngân hàng cần xem xét kỹ các nhu cầu vay vốn của khách hàng, nâng cao khả năng thẩm định dự án, để hoạt động cho vay được nâng cao, tăng cường công tác theo dõi và thu hồi nợ tránh xảy ra tình trạng nợ xấu tăng.

2.2.4 Chi phí huy động vốn

  • Bảng 9: Các chỉ tiêu về chi phí trả lãi, thu lãi

Qua bảng số liệu trên ta thấy một nhận định chung, đó là thu lãi tiền gửi, tiền vay qua ba năm đều tăng, cụ thể năm 2023 thu nhập từ tiền gửi, tiền vay chỉ đạt 57.990 triệu đồng, năm 2024 là 86.016 triệu đồng, tăng 28.062 triệu đồng, và tăng vọt vào năm 2025 với thu nhập từ tiền gửi, tiền vay đạt 121.620 triệu đồng, tăng 63.630 triệu đồng so với năm 2023 và tăng 35.640 triệu đồng, so với năm 2024. Điều đó cho thấy thu nhập của ngân hàng càng ngày càng tăng lên đồng nghĩa với việc hoạt động kinh doanh của ngân hàng hoạt động có hiệu quả, đồng thời tỷ lệ trả lãi tiền gửi và tiền vay cũng tăng lên, cụ thể năm 2023 là 41.538 triệu đồng, năm 2024 tăng so với năm 2023 là 21.298 triệu đồng, tương đương chi phí trả lãi tiền gửi tiền vay đạt 62.836 triệu đồng, và năm 2025 tăng lên 87.426 triệu đồng, tương đương tăng so với năm 2024 là 24.590 triệu đồng, điều đó cho thấy hoạt động huy động vốn của ngân hàng tăng lên, chứng tỏ ngân hàng thu hút được nhiều vốn huy động, đó là một dấu hiệu tốt, vì nguồn vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với sự sống còn của ngân hàng. Tuy nhiên, khi nhìn vào tỷ lệ thu lãi/trả lãi, ta lại thấy tỷ lệ này không tăng nhiều, thậm chí còn giảm vào năm 2024 so với năm 2023 từ 139,61% xuống còn 136,89% tương đương giảm 3%. Mà năm 2024 thu lãi/trả lãi ít nhất trong ba năm, chứng tỏ trong năm 2024, chi phí ngân hàng bỏ ra chưa được hợp lý với các hoạt động kinh doanh của mình, nhận thức được những bất cập đó, ban lãnh đạo ngân hàng GPB – Hải Phòng, đã có các biện pháp can thiệp cụ thể nhằm sử dụng chi phí một cách hợp lý, và kết quả đó đã được thể hiện khi tỷ lệ thu lãi/trả lãi năm 2025 tăng so với năm 2024 từ 136,89% lên đến 139,11%. Ngân hàng cần tiếp tục phát huy và phát triển các phương pháp lãnh đạo, các chính sách để phù hợp để hoạt động kinh doanh đạt kết quả tốt nhất.

2.3 Đánh giá chung về công tác huy động vốn tại ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu khí Toàn cầu – CN Hải Phòng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng GPBank.

Qua nghiên cứu những chỉ tiêu cụ thể về công tác huy động vốn tại ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu – Chi nhánh Hải Phòng ta có thể đưa ra những nhận xét đánh giá sau:

2.3.1. Những thành quả đạt được

Cùng với sự nỗ lực phát triển chung của nền kinh tế đất nước và toàn hệ thống NHTM Việt Nam, ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu – Chi nhánh Hải Phòng đã từng bước khẳng định vị thế của mình trên địa bàn Thành phố Hải Phòng với những thành tích đáng khích lệ. Đặc biệt trong công tác huy động vốn, khối lượng huy động vốn năm sau luôn cao hơn năm trước, dù năm 2025 có giảm so với năm 2024, nhưng giảm với tỷ lệ nhỏ, và so với tình hình khó khăn chung của hệ thống NHTM Việt Nam thì đó vẫn được coi là kết quả tốt. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi để tăng tỷ lệ vốn cho vay và điều hoà vốn cho toàn hệ thống. Đạt được những thành tựu trên là do một số nguyên nhân sau:

Chi nhánh luôn làm theo kế hoạch và có phát huy những kế hoạch của Hội sở đưa xuống, giúp ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu hoạt động theo một thể thống nhất. Đạt được nhiều thành tích không chỉ cho chi nhánh Hải Phòng, mà góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống.

Chi nhánh đã củng cố và tăng cường phát huy mối quan hệ chặt chẽ với các đơn vị khách hàng truyền thống từ nhiều năm. Đồng thời, Chi nhánh cũng mở rộng quan hệ với khách hàng mới nhằm huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ các cá nhân, tổ chức này.

Chi nhánh đã phát huy tốt vai trò của công cụ lãi suất, nắm bắt kịp thời sự biến động lãi suất của thị trường, áp dụng biểu lãi suất linh hoạt trong phạm vi quyền hạn được phép của chi nhánh để thu hút được khách hàng mới, vừa đảm bảo yêu cầu hiệu quả trong kinh doanh để phát triển ổn định lâu dài.

Chi nhánh luôn làm tốt công tác thu chi tiền mặt và thanh toán nhanh nhạy, an toàn, chính xác theo đúng yêu cầu của các đơn vị kinh tế và nhân dân. Giúp khách hàng đến giao dịch với ngân hàng luôn hài lòng về cả tốc độ và chất lượng làm việc.

Chi nhánh đã có nhiều biện pháp tích cực cải tiến quy trình nghiệp vụ, đổi mới tác phong giao dịch. “GP.Bank hết sức chú trọng thu hút và xây dựng nguồn nhân lực mới, trong đó chú trọng tập hợp đội ngũ nhân lực trẻ được đào tạo chính quy từ các trường đại học và nguồn lao động giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng. Hiện nay, trên 97% cán bộ nhân viên của GP.Bank đã có trình độ đại học, trên đại học và thành thạo nghiệp vụ chuyên môn”. Điều đó đã góp phần đưa tốc độ phát triển nguồn vốn huy động của Chi nhánh GP.Bank – Hải Phòng ngày một tăng cao. Trong công tác huy động vốn Chi nhánh đã có nhiều biện pháp tổ chức thực hiện các mục tiêu chiến lược khách hàng như khuyến khích khách hàng bằng lợi ích vật chất, bằng cách tặng quà cho cho khách hàng đến gửi tiền.

Ngân hàng cũng tăng cường công tác quảng cáo, quảng bá các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đến khách hàng. Dịch vụ chăm sóc khách hàng luôn tận tình. Nâng cao cơ sở hạ tẩng vật chất. Giúp khách hàng luôn đặt niềm tin vào GPB – Hải Phòng: “Hiện đại hoá hệ thống Công nghệ thông tin là một trong những ưu tiên hàng đầu của GP.Bank nhằm tăng sức cạnh tranh và hơn thế là mang lại cho khách hàng những dịch vụ và tiện ích ngân hàng hàng đầu. GP.Bank là một trong những ngân hàng đầu tiên ứng dụng thành công phần mềm Hệ thống Ngân hàng lõi T24 (Core Banking) của hãng Temenos của Thụy Sỹ, với khả năng xử lý trên 10.000 giao dịch/giây. Hiện nay, GP.Bank đang triển khai nâng cấp phần mềm ngân hàng lõi T24 lên phiên bản R9 – phiên bản mới nhất, T24-R9 giúp cho ngân hàng tối ưu hóa được các quy trình hoạt động trong khi vẫn duy trì được sự linh hoạt trước các thay đổi trong kinh doanh”.

2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng GPBank.

Cơ cấu vốn huy động của Chi nhánh chưa hợp lý. Tỷ lệ huy động vốn cao nhưng không cho vay được nhiều, gây tình trạng ứ đọng vốn, rồi nguồn vốn ngắn hạn năm 2024 lại không đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn. Gây ra sự mất cân bằng.

Vốn huy động của ngân hàng chủ yếu vẫn là huy động của dân và các tổ chức kinh tế trong địa bàn thành phố. Các hình thức huy động vốn chưa phong phú, chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm. Nguyên nhân do hình thức huy động vốn trên thị trường tiền tệ chưa được khích lệ không chỉ trong bản thân Chi nhánh mà cả trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức sản xuất ở nước ta hiện nay.

Các hoạt động đầu tư của ngân hàng chưa phong phú. Chủ yếu là cho vay tín dụng. Ngoài hoạt động cho vay tín dụng, ngân hàng chưa đầu tư sang các lĩnh vực khác như đầu tư bất động sản, chứng khoán… điều đó làm giảm thu nhập hoạt động khác của ngân hàng.

Tỷ lệ dư nợ cho vay vẫn còn khá cao: ngân hàng thương mại với bản chất kinh doanh tiền tệ, đi vay và cho vay, vì thế ngân hàng dùng tiền đi huy động được cho vay, nhưng tỷ lệ thu hồi lại không cao, dư nợ lại nhiều, dẫn đến nguồn vốn bị ứ đọng, gây nhiều khó khăn cho ngân hàng đến hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hoạt động huy động vốn, cụ thể việc khách hàng có nhu cầu đáo hạn tiền gửi tại ngân hàng.

Tóm lại: Trong những năm qua, Chi nhánh Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu – Hải Phòng đã không ngừng đổi mới, hoàn thiện các nghiệp vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ, hiện đại hoá công nghệ ngân hàng…Với sự nỗ lực của Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân viên, Chi nhánh Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu – Hải Phòng đã đạt được những thành tích trong công tác nguồn vốn, đặc biệt là công tác huy động vốn. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, chi nhánh vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Vì vậy, để có được cơ cấu nguồn vốn huy động ổn định và vững chắc, chi nhánh cần phải nghiên cứu để đưa ra các biện pháp thiết thực, có tính khả thi cao, được phối hợp đồng bộ nhằm phát huy những thành tựu đạt được, đồng thời khắc phục những khó khăn, tồn tại tạo điều kiện cho sự phát triển an toàn và hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng GPBank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp hiệu quả hoạt động vốn Ngân hàng GPBank

One thought on “Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng GPBank

  1. Pingback: Khóa luận: Hiệu quả hoạt động huy động vốn Ngân hàng GPBank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537