Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank”, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh
Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á được thành lập từ năm 1994, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á là một trong những ngân hàng Thương mại cổ phần ra đời sớm nhất và hiện tại nằm trong Top 10 ngân hàng Thương mại cổ phần lớn nhất Việt Nam. Hiện nay Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á có vốn điều lệ 5.335 tỷ đồng, là một trong 07 ngân hàng Thương mại cổ phần có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam, trong đó đối tác chiến lược nước ngoài Societe Generale sở hữu 20% cổ phần. Societe Generale– tập đoàn tài chính ngân hàng hàng đầu Châu Âu với 145 năm kinh nghiệm, hơn 30 triệu tài khoản khách hàng cá nhân và 163.000 nhân viên tại 82 quốc gia trên thế giới. Societe Generale là đối tác chiến lược nước ngoài nắm giữ 20% cổ phần của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á. Việc hợp tác đầu tư vào Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á là hoạt động đầu tư đầu tiên trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ của Societe Generale tại Châu Á. Societe Generale đã cử các chuyên gia cao cấp từ Trụ sở chính tại Paris (Pháp) sang trực tiếp làm việc cổ phần, xây dựng mô hình ngân hàng bán lẻ
Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh được thành lập vào ngày 5 tháng 6 năm 2021 theo quyết định số 89/QĐ-HĐQT ngày 4/6/2021 của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á.
2.1.1 Tên gọi và trụ sở
- Tên đầy đủ: Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh
- Tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh: Southeast Asia Commercial Joint Stock Bank, Quảng Ninh Branch.
- Tên viết tắt: Seabank Quảng Ninh Branch.
- Địa chỉ: 476 – 478 Nguyễn Văn Cừ, Phường Hồng Hải, Tp. Hạ Long, Quảng Ninh.
- Số điện thoại: (+84 33) 3525 388
2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ
Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh là :
- Đơn vị trực thuộc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á, hoạt động theo mô hình chi nhánh cấp 1 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á.
- Đại diện uỷ quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á, là đơn vị hạch toán phụ thuộc trong hệ thống Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á.
2.1.3 Quyền hạn và nghĩa vụ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
2.1.3.1 Quyền tổ chức và quản lí kinh doanh
- Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh có quyền chủ động tổ chức quản lý, kinh doanh nhằm sử dụng vốn có hiệu quả, bảo toàn, phát triển vốn, tài sản và các nguồn lực khác được giao để thực hiện mục tiêu kinh doanh và nhiệm vụ do Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á giao hoặc được uỷ nhiệm phù hợp với quy định của pháp luật.
- Tuyển chọn lao động, ký kết hoạt động lao động đảm bảo đáp ứng hợp lý yêu cầu hoạt động kinh doanh của chi nhánh.
- Hợp tác với khách hàng trong quan hệ kinh tế, dân sự theo quy đinh của pháp luật; Khởi kiện các tranh chấp kinh tế dân sự liên quan tới hoạt động của chi nhánh.
- Ký kết các văn bản thoả thuận, các hợp đồng kinh tế, dân sự phục vụ mục đích kinh doanh trong phạm vi hoạt động của chi nhánh.
- Yêu cầu khách hàng vay vốn cung cấp tài liệu thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh và tài chính để xem xét cấp tín dụng, kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng.
- Từ chối các quan hệ tín dụng, các quan hệ kinh doanh khác với khách hàng nếu thấy các quan hệ này trái với các quy định của pháp luật hoặc không đem lại hiệu quả kinh tế cho chi nhánh hoặc không có khả năng thu hồi vốn.
- Trích lập và sử dụng các quỹ để phục vụ các yêu cầu kinh doanh theo quy định của ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á.
- Phối hợp, hợp tác với các đơn vị thành viên của ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á trong hoạt động huy động vốn, cho vay, thanh toán và các hoạt động khác.
2.1.3.2 Nghĩa vụ tổ chức và quản lí kinh doanh Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
- Thực hiện nghiêm túc các kế hoạch kinh doanh được giao và chiến lược định hướng phát triển chi nhánh Quảng Ninh đã được ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á phê duyệt.
- Triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản chế độ ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á ban hành trong các hoạt động nghiệp vụ.
- Chịu sự kiểm tra, giám sát toàn diện của ngân hàng Hội sở Thương mại cổ phần Đông Nam Á
- Tổ chức bộ máy của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh và quản lý lao động theo đúng quy định của ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á
- Sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn và các nguồn lực khác để thực hiện các mục tiêu kinh doanh và nhiệm vụ được giao ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á, chịu trách nhiệm về tính xác thực của các báo cáo.
- Chi nhánh Quảng Ninh có nghĩa vụ thực hiện đúng chế độ và quy định về quản lý vốn, tài sản, chế độ hạch toán kế toán, kiểm toán và các chế độ khác do Nhà Nước quy định đối với doanh nghiệp Nhà nước.
- Thực hiện các nghĩa vụ khác do ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á giao.
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh
Bộ máy tổ chức của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh hiện nay bao gồm:
- Sở giao dịch của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh gồm: Ban giám đốc và 12 phòng nghiệp vụ. (Địa chỉ: 476 – 478 Nguyễn Văn Cừ, Phường Hồng Hải, Tp. Hạ Long, Quảng Ninh.)
- 3 phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh gồm: Phòng giao dịch Uông Bí, Phòng giao dịch Hạ Long và Phòng giao dịch Cẩm Phả.
Cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh theo sơ đồ sau:
Hình 1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức Sở giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh
Chức năng nhiệm vụ của các Phòng, Ban tại Sở giao dịch của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh
Về mặt tổ chức Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh gồm có: 65 cán bộ công nhân viên được bố trí vào 12 phòng, ban (không tính các phòng giao dịch)
2.1.4.1 Ban giám đốc Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Ban giám đốc gồm 3 người: 1 giám đốc và 2 phó giám đốc là những nguời trực tiếp điều hành hoạt động của ngân hàng.
- Quyền hạn và nhiệm vụ của Giám đốc:
Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh là người đại diện theo uỷ quyền và là người điều hành cao nhất mọi hoạt động của chi nhánh Quảng Ninh, thực hiện công tác quản lý hoạt động tại chi nhánh Quảng Ninh trong phạm vi phân cấp quản lý, phù hợp với các quy chế của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á. Giám đốc Chi nhánh phải chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á, trước pháp luật về hoạt động kinh doanh, về các mục tiêu nhiệm vụ, về kết quả kinh doanh của chi nhánh Quảng Ninh
- Quyền hạn và nhiệm vụ của các Phó Giám đốc.
Giúp Giám đốc điều hành hoạt động của một hoặc một số đơn vị trực thuộc và một hay một số nghiệp vụ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh theo sự phân công của Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Giám đốc, trước pháp luật về kết quản công việc được phân công phụ trách. Các phó giám đốc đại diện Chi nhánh Quảng Ninh ký kết các văn bản hợp đồng, chứng từ thuộc phạm vi hoạt động kinh doanh của chi nhánh Quảng Ninh.
2.1.4.2 Phòng tổ chức hành chính
Phòng tổ chức hành chính gồm 4 người: 1 trưởng phòng và 3 nhân viên chịu trách nhiệm về các vấn đề như: công tác tổ chức – nhân sự; công tác hành chính; công tác quản trị, hậu cần và các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của giám đốc chi nhánh. Tham mưu cho Giám đốc trong việc thực hiện chủ trương, chính sách chế độ của Nhà nước và của ngành về tổ chức cán bộ, lao động và tiền lương, bảo hiểm xã hội đối với người lao động nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh của chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh. Phối hợp với các phòng nghiệp vụ để xây dựng kế hoạch phát triển mạng lưới, thành lập, giải thể các đơn vị trực thuộc chi nhánh.
Thực hiện công tác hành chính( quản lý, lưu trữ, bảo mật…); Thực hiện công tác hậu cần cho chi nhánh: lễ tân, quản lý phương tiện tài sản… phục vụ cho hoạt động kinh doanh; Thực hiện công tác bảo vệ an ninh cho con người, tài sản của chi nhánh và của khách hàng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
2.1.4.3 Phòng quản trị và hỗ trợ hoạt động
Phòng quản trị và hỗ trợ hoạt động gồm 5 người: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 3 nhân viên chịu trách nhiệm về công tác kế hoạch – tổng hợp; công tác nguồn vốn.
- Thực hiện nhiệm vụ kế hoạch.
Tổ chức thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường, phân tích môi trường kinh doanh, xây dựng chiến lược kinh doanh, các chính sách kinh doanh, chính sách khách hàng, chính sách lãi suất, chính sách huy động vốn.
- Tham mưu cho Giám đốc các vấn đề liên quan đến vấn đề về an toàn trong hoạt động của chi nhánh.
- Đầu mối tổng hợp, phân tích báo cáo, đề xuất về các thông tin phản hồi của khách hàng.
- Tổng hợp các báo cáo, cung cấp các thông tin kinh tế phòng ngừa rủi ro.
- Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới.
- Quản lý các hệ số an toàn trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh.
- Thực hiện nhiệm vụ huy động nguồn vốn kinh
- Tổ chức quản lý hoạt động huy động vốn, cân đối vốn và các quan hệ của chi nhánh.
- Nghiên cứu phát triển lựa chọn, ứng dụng sản phẩm mới về huy động vốn
- Thu thập thông tin báo cáo đề xuất phản hồi về chính sách, sản phẩm, biện pháp huy động vốn.
- Tham mưu cho giám đốc về việc chỉ đạo công tác huy động vốn tại chi nhánh.
- Thực hiện các giao dịch mua bán ngoại tệ với khách hàng doanh nghiệp như: Giao ngay, kì hạn, quyền chọn… theo quyền hạn của chi nhánh.
2.1.4.4 Phòng quản lí rủi ro
Phòng quản lý rủi ro gồm 5 người: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 3 nhân viên chịu trách nhiệm về công tác quản lý tín dụng, công tác quản lý rủi ro tín dụng, công tác quản lý rủi ro tác nghiệp và công tác phòng chống rửa tiền.
2.1.4.5 Phòng quản trị tín dụng
Phòng quản trị tín dụng gồm 6 người: 1 trưởng phòng và 5 nhân viên chịu trách nhiệm về việc thực hiện quản trị cho vay, bảo lãnh đối với khách hàng theo quy định; thực hiện việc tính toán trích lập dự phòng rủi ro; giám sát khách hàng tuân thủ đúng điều kiện hợp đồng và các nhiệm vụ khác. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
2.1.4.6 Phòng kế toán tài chính
- Phòng kế toán – tài chính gồm 9 người: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 7 nhân viên chịu trách nhiệm:
- Quản lý, thực hiện hạch toán, kế toán chi tiết và tổng hợp.
- Thực hiện công tác hậu kiểm tra đối với hoạt động tài chính tại chi nhánh.
- Thực hiện nhiệm vụ quản lý và giám sát tài chính.
- Đề xuất tham mưu cho Giám đốc chi nhánh về các vấn đề tài chính.
- Chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, chính xác, kịp thời, trung thực, hợp lý của số liệu kế toán, báo cáo kế toán, báo cáo tài chính…
2.1.4.7 Phòng quan hệ khách hàng 1
Phòng quan hệ khách hàng 1 gồm 6 người: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 4 nhân viên chịu trách nhiệm về công tác tiếp thị và phát triển quan hệ khách hàng cùng với công tác tín dụng có liên quan đến các khách hàng lớn và là đối tác quan trọng với ngân hàng.
2.1.4.8 Phòng quan hệ khách hàng 2
Phòng quan hệ khách hàng 2 gồm 7 người: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 5 nhân viên chức năng là giống phòng quan hệ khách hàng 1 nhưng là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
2.1.4.9 Phòng quan hệ khách hàng 3
Phòng quan hệ khách hàng 3 gồm 6 người: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 4 nhân viên chịu trách nhiệm như các phòng quan hệ khách hàng khác nhưng là với đối tượng cá nhân.
2.1.4.10 Phòng thanh toán quốc tế
Phòng thanh toán quốc tế gồm 4 người: 1 trưởng phòng và 3 nhân viên chịu trách nhiệm về thực hiện các giao dịch tài trợ thương mại; phối hợp với các phòng có liên quan để tiếp thị, phát triển khách hàng và giới thiệu các sản phẩm. Trên cơ sỏ các hạn mức, khoản vay, bảo lãnh, L/C đã được phê duyệt, phòng thanh toán quốc tế thực hiện các tác nghiệp trong tài trợ thương mại, phục vụ các giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu cho khách hàng.
2.1.4.11 Phòng dịch vụ khách hàng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Phòng dịch vụ khách hàng gồm 9 người: 1 trưởng phòng, 2 phó phòng và 6 nhân viên: Thực hiện giải ngân vốn vay trên cơ sở hồ sơ giải ngân được duyệt. Thực hiện tất cả các giao dịch nhận tiền gửi, chuyển, rút tiền bằng nội, ngoại tệ của khách hàng, cung cấp dịch vụ thẻ cho khách hàng
- Thực hiện giao dịch thu đổi mua bán ngoại tệ giao ngay trong quyền hạn được cho phép.
- Giới thiệu các sản phẩm dịch vụ mới với khách hàng
Tiếp nhận hồ sơ, thông tin phản hồi từ khách hàng chịu trách nhiệm về kiểm tra tính đầy đủ, đúng đắn của các chứng từ giao dịch; thực hiện đúng các quy định, các quy trình nghiệp vụ, thẩm quyền và các quy định về bảo mật trong mọi hoạt động giao dịch với khách hàng.
2.1.4.12 Tổ dịch vụ kho quỹ
Tổ dịch vụ kho quỹ gồm 4 người: 1 tổ trưởng, 1 tổ phó và 3 nhân viên với chức năng chính là trực tiếp thực hiện nghiệp vụ quản lý kho xuất/nhập quỹ; chịu trách nhiệm đề xuất, tham mưu với Giám đốc chi nhánh về các biện pháp đối với hoạt động kho quỹ.
2.1.5. Nội dung hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
2.1.5.1 Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh thực hiện huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ dưới các hình thức:
- Nhận tiền gửi không kì hạn, tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức và dân cư.
- Thực hiện các hình thức huy động vốn khác.
2.1.5.2 Hoạt động tín dụng
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ đối với các tổ chức và cá nhân.
- Đại lý cho thuê tài chính, chiết khấu thương phiếu, giấy tờ có giá.
- Tài trợ xuất nhập khẩu.
- Tư vấn đầu tư thương mại, thẩm định đối tác.
- Phát hành bảo lãnh các loại
2.1.5.3 Các hoạt động dịch vụ khác
- Dịch vụ thanh toán
Mở tài khoản cho cá nhân và tổ chức kinh tế, chuyển tiền nhanh, thanh toán trong nước.
Thu hộ, chi hộ, trả hộ lương, chi trả kiều hối.
- Dịch vụ ngân hàng điện tử
Chuyển tiền điện tử, dịch vụ thẻ ATM Ngân hàng trực tuyến SeANet SMS và Email Banking
- Dịch vụ ngân hàng đối ngoại Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Mua bán, chuyển đổi ngoại tệ, thanh toán quốc tế. Bảo lãnh vay vốn nước ngoài, tài trợ uỷ thác…
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi kỳ phiếu, trái phiếu trong nước quốc tế.
- Kinh doanh vàng bạc, đá quý.
- Thực hiện các hoạt động khác thuộc thẩm quyền của Tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á.
2.1.6 Kết quả hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh giai đoạn 2023 – 2025
Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh chính thức thành lập năm 2021, trải qua hơn 5 năm hoạt động và phát triển chi nhánh đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh. Tuy còn non trẻ và phải đối mặt với những khó khăn chung của nền kinh tế nhưng với những biện pháp chủ động, đoán trước thời cơ, linh hoạt trong vận dụng chính sách khách hàng, tích cực vượt qua khó khăn, áp dụng nhiều hình thức cho vay phong phú như cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, đa dạng hoá các sản phẩm, cung cấp cho nền kinh tế mới công nghệ tiên tiến đồng thời kết hợp với việc ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại, triển khai nhiều chính sách khách hàng hiệu quả, trong hơn 5 năm hoạt động Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh đã có những bước phát triển đáng ghi nhận như sau:
2.1.6.1 Kết quả kinh doanh
Trong những năm vừa qua, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh đã khắc phục khó khăn, mở rộng mạng lưới hoạt động, áp dụng nhiều hình thức cho vay phong phú như cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, đa dạng hoá các sản phẩm, cung cấp cho nền kinh tế mới công nghệ tiên tiến đồng thời kết hợp với việc ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại, triển khai nhiều chính sách khách hàng hiệu quả và đạt được kết quả tốt trong hoạt động kinh doanh.
Số liệu kết quả kinh doanh ở bảng trên đã phản ánh: Lợi nhuận sau thuế của chi nhánh tăng đều mỗi năm cùng với sự gia tăng nhanh của doanh thu và tổng tài sản. Điều đó thể hiện được hiệu quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh cũng như sự lãnh đạo sáng suốt của Ban Giám đốc cùng sự cố gắng của tập thể cán bộ nhân viên của chi nhánh. Riêng 2 hoạt động chính là huy động vốn và cho vay, kết quả đạt được rất tốt: chênh lệch thu chi từ lãi năm 2025 tăng 16,938.48 triệu đồng (tương đương 60.42%) so với năm 2024, năm 2024 tăng 9,082.27 triệu đồng (tương đương 47.92%) so với năm 2023. Tuy nhiên cùng với sự gia tăng thu nhập từ lãi là tăng lên của quỹ dự phòng rủi ro, điều này cũng dễ hiểu vì dư nợ tín dụng và nợ quá hạn tăng dẫn tới rủi ro cũng tăng( Nợ quá hạn năm 2025 chiếm 1.25% so với tổng dư nợ tín dụng). Việc trích lập dự phòng rủi ro là điều cần thiết để giảm tổn thất cho ngân hàng khi xảy ra rủi ro không thu được nợ.
2.1.6.2 Hoạt động huy động vốn Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Huy động vốn là một hoạt động mang tính chất truyền thống của mỗi ngân hàng, đóng vai trò khởi nguồn mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nhận thức được tầm quan trọng đó, chi nhánh Quảng Ninh rất chú trọng đến công tác huy động vốn. Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh nằm trên địa bàn đang có tiềm năng lớn về phát triền kinh tế, với ưu thế nổi bật về giao thông đặc biệt là hệ thống cảng biển, cảng sông, thành phố Hạ Long còn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của tỉnh Quảng Ninh, có vị trí thuận lợi trong việc phát triển ngành du lịch cũng như có điều kiện thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế…với vị trí rất thuận lợi (gần khu dân cư, thương mại tập trung,thuận tiện cho khách hàng giao dịch). Đây chính là điều kiện thuận lợi để phát triển các hoạt động, các nghiệp vụ một cách đa dạng. Cùng với uy tín và năng lực hoạt động tốt, chi nhánh đã thu hút được một lượng khách hàng lớn và thường xuyên.
Hình 2: Biểu đồ nguồn vốn huy động của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh theo hình thức huy động
Có thể thấy sự tăng trưởng của nguồn vốn của chi nhánh qua các năm ở một số chỉ tiêu như sau :
- Tổng nguồn vốn:
Năm 2025 đạt 1,489,386.45 triệu tăng 302,152.65 triệu đồng so với năm 2024.
Năm 2024 đạt 1,187,233.8 triệu tăng 199,908.66 triệu đồng so với năm 2023.
Trong đó đáng chú ý nhất là sự tăng trưởng nhanh chóng của lượng vốn huy động từ tiền gửi thanh toán của của cá nhân và tổ chức và tiền gửi tiết kiệm.
- Tiền gửi tiết kiệm :
Năm 2025 đạt 611,477.54 triệu tăng 25.88% so với năm 2024
Năm 2024 đạt 485,754.22 triệu tăng 22.96% so với năm 2023
- Tiền gửi thanh toán của cá nhân và tổ chức:
Năm 2025 đạt 866,423.46 triệu tăng 25,57% so với năm 2024 Năm 2024 đạt 689,978.94 triệu tăng 18.49%so với năm 2023
Có thể nói 2 loại hình thức huy động truyền thống này vẫn có sức thu hút mạnh mẽ người dân và các tổ chức. Điều này cũng cho thấy uy tín chi nhánh trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ngày càng tăng lên. Bên cạnh đó tiền gửi theo kì hạn 12 tháng của chi nhánh cũng chiếm số lượng lớn: hơn 40% tổng nguồn vốn huy động trở lên trong cả 3 năm. Sự tăng trưởng của nguồn vốn dài hạn sẽ giúp cho hoạt động cho vay trung, dài hạn của ngân hàng có điều kiện phát triển hơn, đồng thời giảm bớt rủi ro thanh khoản khi phải dùng nguồn ngắn hạn cho vay. Tuy nhiên,vẫn còn sự không ổn định của các nguồn tiền gửi khác như: chứng chỉ tiền gửi, kì phiếu…(3 năm qua đều giảm đi). Do đó chi nhánh cần có biện pháp khắc phục tình trạng mất cân đối trong cơ cấu vốn.
2.1.6.3 Hoạt động tín dụng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Sự hình thành và phát triển của các khu công nghiệp và khu dân cư mới trên địa bàn thành phố đã làm tăng nhu cầu về vốn đầu tư mở rộng sản suất, tạo thêm nhiều cơ hội cho vay đối với các ngân hàng trên địa bàn. Chi nhánh đã tích cực trong việc tìm kiếm và thu hút khách hàng bằng nhiều chính sách khách hàng hấp dẫn. Kết quả hoạt động tín dụng qua 3 năm như sau:
Bảng số liệu trên phản ánh:
Tổng Dư nợ tín dụng tăng nhanh: Tổng dư nợ tín dụng năm 2025đạt 807,558.04 triệu đồng tăng 292,963.68 triệu đồng tương ứng với tỉ lệ 56.93% so với năm 2024. Năm 2024 đạt 514,594.36triệu đồng tăng 58,359.02 triệu tương ứng 12.79% so với năm 2023. Chỉ trong 2 năm dư nợ tín dụng đã tăng gấp1.5 lần, điều này thể hiện chi nhánh đã thực hoạt động cho vay có hiệu quả hơn trong năm 2025, điều này đồng nghĩa với khả năng tạo lợi nhuận của chi nhánh cũng tăng lên.
Dư nợ theo kì hạn : Cho vay vốn ngắn hạn vẫn chiếm phần lớn trong tổng cho vay (trên 60 % ở cả 3 năm), tuy nhiên có xu hướng giảm nhẹ ở năm 2025.
Trong cho vay ngắn hạn, tiền VNĐ vẫn chiếm chủ yếu (trên 70% tổng dư nợ tín dụng) và ngày càng tăng lên. Ngược lại, trong cho vay trung và dài hạn thì ngoại tệ lại có xu hướng tăng, đặc biệt là năm 2025 tăng thêm 115,95% so với năm 2024. Qua đó ta thấy được sự thay đổi trong cơ cấu tiền trong dư nợ tín dụng của chi nhánh có xu hướng biến động theo nhu cầu vay của khách hàng. Nhu cầu vay vốn ngắn hạn tăng do nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu vốn lưu động trên địa bàn tăng lên, đồng thời ngân hàng tập trung vào mảng cho vay vốn đối với các đơn vị sản xuất hàng xuất khẩu (mảng khách hàng truyền thống của ngân hàng). Cũng có thể thấy điều này qua cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế: dư nợ tín dụng cá nhân dù có giảm nhẹ sau 3 năm nhưng vẫn chiếm phần lớn (từ 67% trở lên so với tổng dư nợ tín dụng)
2.1.6.4 Các hoạt động kinh doanh khác
Bên cạnh 2 hoạt động chính là huy động vốn và cho vay, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh cũng thực hiện các hoạt động dịch vụ khác như: thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ, bảo lãnh, bảo quản tài sản hộ… Các dịch vụ này không những góp phần đa dạng hoá hoạt động gia tăng doanh thu mà còn làm gia tăng thu nhập cho chi nhánh. Thu nhập ròng từ hoạt động dịch vụ của chi nhánh trong năm 2025 đạt 8,190.24 triệu chiếm 24.71% lợi nhuận trước thuế. Cụ thể là :
- Thanh toán quốc tế chiếm 47%
- Thanh toán trong nước chiếm 10%
- Hoạt động bảo lãnh chiếm 16%
- Kinh doanh ngoại tệ chiếm 22%
- Dịch vụ khác chiếm 5%
Hình 3: Biểu đồ thu nhập ròng từ hoạt động dịch vụ của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh năm 2025
Đáng chú ý nhất là hoạt động thanh toán quốc tế (chiếm 47% thu nhập ròng từ hoạt động kinh doanh ngoài huy động và cho vay). Thanh toán quốc tế được coi là một trong những thế mạnh của chi nhánh với đội ngũ nhân viên trẻ, năng động, thành thạo nghiệp vụ, tạo nhiều thuận lợi cho khách hàng. Vì vậy, lượng khách hàng sử dụng dịch vụ này của chi nhánh ngày càng đông.
2.2 Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á Chi nhánh Quảng Ninh giai đoạn 2023-2025 Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
2.2.1 Chiến lược huy động vốn của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh giai đoạn 2023-2025
Xác định rõ được tầm quan trọng của nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh, Chi nhánh Quảng Ninh luôn luôn xây dựng chiến lược và kế hoạch huy động vốn mỗi năm kết hợp với những dự báo, phân tích về thị trường và bản thân chi nhánh trong năm mới. Trọng tâm của các chiến lược huy động vốn của chi nhánh Quảng Ninh tập trung vào các nội dung sau:
Thực hiện hiệu quả kế hoạch huy động vốn từ Ngân hàng TMCP Đông Nam Á giao xuống mỗi năm (bao gồm: tổng lượng vốn huy động kế hoạch, chính sách lãi suất, cơ cấu nguồn vốn huy động…). Đồng thời triển khai thành công các đợt huy động vốn theo quý cùng với Ngân hàng TMCP Đông Nam Á, đặc biệt là các đợt huy động vốn tiết kiệm dự thưởng, tặng quà khách hàng…
Đẩy mạnh hoạt động huy động vốn trên địa bàn bằng nhiều biện pháp như: tăng cường quảng cáo, tiếp thị các sản phẩm huy động vốn tới khách hàng (cá nhân và doanh nghiệp), nâng cao trình độ cán bộ nguồn vốn và nhân viên giao dịch, kiến nghị Ngân hàng TMCP Đông Nam Á điều chỉnh chính sách lãi suất hợp lý.
Tích cực tìm kiếm nguồn vốn có chi phí thấp, ổn định. Tăng tỷ trọng tiền gửi không kì hạn và có kì hạn của các tổ chức kinh tế, đẩy mạnh huy động vốn từ dân cư trên địa bàn.
2.2.2 Phân tích hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh giai đoạn 2023-2025 Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
- Tổng nguồn vốn huy động :
Vốn huy động là nguồn vốn quan trọng có ảnh hưởng lớn tới công tác mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh luôn coi trọng công tác huy động vốn dưới mọi hình thức để đảm bảo quy mô nguồn vốn luôn tăng trưởng mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình trên địa bàn.
Hình 4: Biểu đồ tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh giai đoạn 2023 – 2025
- Qua số liệu về sự thay đổi của tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh nhận thấy rằng:
Năm 2024: Tổng nguồn vốn huy động được là 1,187,233.8 triệu đồng, tăng thêm 199,908.66 triệu đồng (tương đương 20.24%) so với năm 2023. Đây là một tỷ lệ cao so với tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm (20%) của toàn hệ thống Ngân hàng TMCP Đông Nam Á. Lý do chính của sự tăng trưởng này là sau 5 năm thành lập, hoạt động của chi nhánh đã đi vào ổn định, công tác huy động vốn đã được chú trọng hơn trước. Mặc dù năm 2023, kinh tế nước ta phát triển trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn hơn các năm trước. Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động trực tiếp đến nhiều ngành kinh tế nước ta như công nghiệp, xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư, du lịch nhưng Việt Nam đã khắc phục những khó khăn và vẫn được thế giới đánh giá là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng cao (5,2%)trong khu vực châu Á (sau Trung Quốc tăng trưởng 7,8%). Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế cả nước, kinh tế tỉnh Quảng Ninh có nhiều thay đổi: một số dự án quy hoạch dân cư triển khai, khu công nghiệp Cái Lân, khu công nghiệp Việt Hưng có thêm nhiều nhà máy đi vào hoạt động,cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ về ngành công nghiệp du lịch tạo công ăn việc làm cho nhiều người dân, nhiều doanh nghiệp được thành lập trên địa bàn dẫn tới hoạt động thanh toán và thu nhập của người dân và các tổ chức kinh tế cũng tăng thêm. Đây chính là nguồn vốn dồi dào cho hoạt động huy động vốn của chi nhánh Quảng Ninh.
Năm 2025: Tổng nguồn vốn huy động là: 1,489,386.45triệu đồng, tăng thêm 302,152.65 triệu đồng tương ứng với 25,45% so với năm 2024. Mức tăng này cao hơn mức tăng trưởng của năm 2024. Mặc dù có sự cạnh tranh gay gắt trong huy động vốn của các ngân hàng và các tổ chức tài chính trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nhưng chi nhánh vẫn giữ vững được khả năng huy động vốn. Trong những năm qua có rất nhiều chi nhánh ngân hàng xuất hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Sự xuất hiện ồ ạt của các chi nhánh mới cùng nhiều chương trình huy động vốn hấp dẫn đã thu hút được nhiều tổ chức và cá nhân ở địa bàn, làm cho nguồn vốn huy động của chi nhánh Quảng Ninh hẹp hơn trước. Đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh đã rất cố gắng thực hiện các biện pháp huy động vốn, duy trì tốc độ tăng trưởng vốn 25,45%. Để đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn vào năm 2026 thì chi nhánh cần phải thực hiện nhiều biện pháp huy động vốn mới, giữ vững số lượng khách hàng truyền thống và thu hút thêm những khách hàng mới.
- So sánh tổng huy động vốn của chi nhánh với toàn hệ thống Ngân hàng TMCP Đông Nam Á
Hình 5. Biểu đồ so sánh nguồn vốn huy động giữa chi nhánh Quảng Ninh và ngân hàng TMCP Đông Nam Á
Biểu đồ trên phản ánh tỷ lệ vốn huy động trung bình của chi nhánh Quảng Ninh chiếm khoảng 1,2% tổng nguồn vốn huy động của cả hệ thống Ngân hàng TMCP Đông Nam Á. Ngân hàng TMCP Đông Nam Á bao gồm hơn 100 chi nhánh lớn nhỏ trải rộng trên khắp đất nước. Chi nhánh Quảng Ninh là một chi nhánh mới hoạt động hơn 5 năm nhưng được đánh giá là chi nhánh hoạt động hiệu quả đặc biệt là hoạt động huy động vốn. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
- Cơ cấu nguồn vốn huy động của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh theo sản phẩm
Hình 6: Biểu đồ huy động vốn theo sản phẩm của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh
Với mục tiêu đa dạng hóa các hình thức huy động nhằm thu hút ngày càng nhiều hơn nguồn vốn nhàn rỗi từ các tổ chức và dân cư trong xã hội, tăng cường nguồn vốn hoạt động cho ngân hàng, thời gian qua Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh đã áp dụng nhiều hình thức huy động với những kỳ hạn và lãi suất linh hoạt kết hợp với mở rộng mạng lưới để tăng doanh số huy động. Tiền gửi của tổ chức, cá nhân và tiền gửi tiết kiệm tăng qua các năm.
Tiền gửi thanh toán có sự gia tăng về qui mô và tỷ trọng qua các năm. Năm 2024 tăng 107,700.15 triệu đồng tương ứng 18.49% so với năm 2023. Năm 2025 tiền gửi thanh toán tăng 176,444.52 triệu đồng tương ứng 25.57% so với năm 2024. Điều này thể hiện sự quan tâm của chi nhánh Quảng Ninh trong việc tìm kiếm nguồn vốn huy động rẻ. Chi nhánh Quảng Ninh đã liên tục cải tiến tính năng, tiện ích của sản phẩm tiền gửi thanh toán cũng như giới thiệu đến khách hàng nhiều sản phẩm dịch vụ mới. Thêm vào đó là việc gia tăng mạng lưới giao dịch, mạng lưới dịch vụ thẻ ATM, MasterCard không ngừng được mở rộng, tăng cường tiếp thị dịch vụ trả lương qua tài khoản, ứng dụng internet vào giao dịch ngân hàng.
Tiền gửi tiết kiệm tăng về qui mô qua các năm lần lượt đạt 395.046.35 triệu đồng (năm 2023); 485,754.22 triệu đồng (năm 2024); 611,477.54 triệu đồng (năm 2025). Chứng tỏ Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh đã không ngừng đầu tư nghiên cứu nhiều sản phẩm tiết kiệm đáp ứng nhu cầu gửi tiền của khách hàng. Các sản phẩm này được khách hàng rất quan tâm và hưởng ứng như Chứng chỉ lộc xuân (năm 2023), 1000 năm Thăng Long – Rồng vàng gõ cửa( năm 2024)Xe mới đón tết, vàng lộc về nhà (năm 2025). Với các sản phẩm Tiết kiệm bậc thang – SeASave Elevator( bậc thang tiền gửi, lũy tiến sinh lời),Tiết kiệm rút gốc linh hoạt – SeASave Flexible (cho phép rút gốc linh hoạt),Tiết kiệm lĩnh lãi cuối kỳ – SeASave Term(Cho phép rút một phần gốc nhiều lần giúp chủ động về vốn.Khách hàng rút gốc trước hạn vẫn được hưởng lãi suất cao và hưởng lãi suất theo thời gian thực gửi), Tài khoản tiết kiệm thông minh – SeASave Smart, Tiết kiệm lãi suất thả nổi – SeASave Floating ( cho phép khách hàng dễ dàng tất toán trước hạn vẫn được hưởng lãi suất cao), Dịch vụ tiết kiệm online – SeASave online là một minh chứng điển hình cho các nổ lực cải tiến về công nghệ của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh, khách hàng có thể tiếp cận với các tiện ích toàn diện cho một cuộc sống hiện đại.
Tuy nhiên, tốc độ tăng của tiền gửi thanh toán cao hơn so với tiền gửi tiết kiệm. Điều này chứng tỏ Chi nhánh Quảng Ninh ngày càng quan tâm hơn tới việc thu hút nguồn tiền gửi thanh toán từ cá nhân và tổ chức doanh nghiệp nhằm gia tăng nguồn tiền gửi thanh toán với chi phí rẻ hơn so với tiền gửi tiết kiệm. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Trong khi đó tiền vốn huy động thông qua hình thức phát hành giấy tờ có giá ít biến động và giảm trong những năm gần đây. Năm 2024 đạt11,500.64 triệu đồng chiếm 0.97% tổng vốn huy động tăng 1,500.64 triệu đồng so với năm 2023. Năm 2025 đạt 11,485.45 triệu đồng giảm 15.19 triệu đồng tương ứng 0.13% so với năm 2024.
- Cơ cấu nguồn vốn huy động của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh theo đối tượng
Hình 7. Biểu đồ huy động vốn theo đối tượng của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh
Qua biều đồ trên có thể đưa ra nhận xét chung về tình hình huy động vốn theo đối tượng của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh như sau:
Nguồn vốn huy động từ dân cư luôn chiếm phần ít hơn nguồn vốn huy động từ tổ chức, cao nhất là năm 2023: tỷ lệ huy động vốn từ dân cư chiếm 46,23% tổng nguồn vốn huy động, tỷ lệ trên thấp nhất vào năm 2025: 35.48%. Khoảng cách giữa nguồn vốn huy động từ dân cư và từ tổ chức ngày càng rộng ra sau mỗi năm: từ 80,370.72 triệu đồng (năm 2023) lên tới 432,411.17 triệu đồng (năm 2025). Điều này trái ngược với tình hình chung về huy động vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay: tỷ lệ huy động vốn từ dân cư luôn chiếm hơn 50%.
Bên cạnh đó, sự tăng trưởng tiền huy động từ dân cư mỗi năm cũng thấp,năm 2024 đạt 9.22%, năm 2025 đạt 6.7%. Nguyên nhân của tình trạng này có thể do chính sách huy động những năm trước của chi nhánh Quảng Ninh chưa chú ý tới việc huy động vốn từ dân cư và tình hình tích luỹ tiết kiệm của người dân trên địa bàn chưa cao. Trong khi đó nguồn vốn huy động từ các tổ chức lại tăng mạnh và đều đặn, năm 2024 tăng 158,096.31triệu tương ứng 29.61% so với năm 2023. Năm 2025 tăng 268,954.57 triệu tương ứng 38.87%. Đây lại là điều đáng mừng cho hoạt động huy động vốn của chi nhánh, nó cũng thể hiện sự tập trung huy động vốn từ tổ chức doanh nghiệp của chi nhánh. Thực ra đây cũng là điều dễ hiểu bởi chi nhánh luôn có mối quan hệ tốt với khá nhiều tổ chức doanh nghiệp lớn trên địa bàn, nên lượng tiền gửi thanh toán của các tổ chức này tại chi nhánh nhiều, dẫn tới lượng vốn huy động lớn. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Tuy nhiên nếu cứ duy trì tình trạng không cân đối trong cơ cấu huy động vốn theo đối tượng và sụt giảm của lượng vốn huy động từ dân cư như vậy thì rất không tốt cho hoạt động của chi nhánh. Bởi nguồn vốn huy động từ dân cư có tính chất ổn định, lâu dài hơn nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế. Do vậy trong những năm tiếp theo Chi nhánh Quảng Ninh nên chú ý hơn tới việc huy động vốn từ dân cư, cơ cấu lại 2 thành phần vốn này cho hợp lý hơn.
- Cơ cấu nguồn vốn huy động của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh theo kì hạn
Hình 8: Biểu đồ huy động nguồn vốn theo kì hạn của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh
Thông qua các số liệu trong biểu đồ trên có thể thấy: nguồn vốn trung và dài hạn Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh huy động được luôn chiếm một tỷ lệ cao trong tổng số nguồn vốn mà Chi nhánh huy động được trong năm.
Trong năm 2023 tổng nguồn vốn trung và dài hạn mà Chi nhánh huy động được là 529,623.28 triệu đồng, chiếm 53,64% tổng nguồn vốn mà Chi nhánh huy động được. Và đến năm 2024, nguồn vổn trung và dài hạn huy động được của Chi nhánh đã tăng 129,353.34 triệu đồng tương ứng 24.42%. Nguồn vốn trung và dài hạn năm 2024 chiếm tỷ trọng 55.51% tổng nguồn vốn, và đến năm 2025 con số này đã lên đến 815,745.93 triệu đồng, chiếm 54.77% tổng nguồn vốn. Nguồn vốn trung và dài hạn của chi nhánh tăng trưởng đều qua các năm. Mức tăng trưởng này cho thấy những lỗ lực của Chi nhánh trong việc huy động vốn. Trong những năm qua Chi nhánh đã không ngừng đưa ra nhiều những chính sách để huy động nguồn này như các chương trình khuyến mại, các dịch vụ tiện ích…Từ đó nguồn này đã đạt đựoc mức tăng trưởng khá nhanh đạt hàng trăm tỷ đồng. Nguồn này có đặc điểm là mang tính chất ổn định cao, do đó nguồn này có thể đầu tư vào nhiều dự án ổn định.
Bên cạnh đó, nguồn vốn ngắn hạn của Chi nhánh cũng luôn chiếm một tỷ lệ không nhỏ so với tổng nguồn vốn. Năm 2023, nguồn vốn ngắn hạn mà Chi nhánh huy động được là 228.488.32 triệu đồng, chiếm 23.11% tỷ trọng tổng nguồn vốn, bước sang năm 2024 nguồn này đã tăng lên 342,711.55 triệu đồng, chiếm 28.87% tổng nguồn vốn. Và năm 2025 con số này lên đến 446,211.74 triệu đồng, chiếm 29.96% tổng nguồn vốn. Mức tăng trưởng một cách nhanh chóng của nguồn này cho thấy thành công của Chi nhánh trong việc huy động vốn bằng các hình thức như đưa ra các phương tiện thanh toán như séc, dịch vụ rút tiền tự động qua mạng máy tính, ATM, kết hợp với thái độ phục vụ nhiệt tình, khả năng tinh thông nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên Chi nhánh.
Bên cạnh các nguồn tiền ngắn, trung và dài hạn, thì nguồn tiền gửi không kỳ hạn mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ, song nó lại mang tính ổn định tương đối cao. Tiền gửi không kì hạn năm 2023 đạt 229,213.54 triệu đồng chiếm 23.22% tổng nguồn vốn huy động. Năm 2024 số tiền không kì hạn giảm 43,667.91 triệu đồng tương ứng 19.05% so với năm 2023. Sự sụt giảm này một lần nữa lại cho thấy sự cạnh tranh về huy động tiền gửi dài hạn của các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh là khá gay gắt.
Nhìn chung, trong cả 3 năm nguồn vốn kì hạn trên 12 tháng luôn chiếm phần lớn (trên 50%) trong tổng nguồn huy động và có mức tăng trưởng đều và ổn định. Điều này cũng thể hiện sự tập trung huy động vốn trung và dài hạn của chi nhánh và sự ưa thích, tin tưởng những sản phẩm huy động vốn dài hạn của dân cư và các doanh nghiệp trên địa bàn đối với Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh. Hơn nữa, khi có được nguồn vốn dài hạn lớn, chi nhánh Quảng Ninh sẽ có điều kiện giảm bớt được việc dùng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn, tức là giảm được rủi ro trong hoạt động.
- Cơ cấu nguồn vốn huy động của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh theo loại tiền tệ
Hình 9. Biểu đồ nguồn vốn huy động theo loại tiền tệ của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh
Số lượng vốn huy động và biểu đồ ở trên đã phản ánh được cơ cấu nguồn vốn huy động tiền cũng có nhiều biến động trong 3 năm qua. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Vốn huy động theo tiền VNĐ: Năm 2024 số lượng vốn huy động là 700,989,08 triệu đồng, chiếm 59.04% tổng nguồn huy động, tăng 53.54% so với năm 2023. Đây cũng là một mức tăng khá, thể hiện sự cố gắng trong huy động vốn của chi nhánh. Vì trong năm2023 các doanh nghiệp, công ty hoạt động trên địa bàn quận đều có mức tăng trưởng khá, có nhiều tiền nhàn rỗi chưa dùng đến cao nên họ gửi tiền vào ngân hàng hoặc mua các chứng chỉ tiền gửi của ngân hàng để hưởng lãi. Sang năm 2025, chi nhánh vẫn tiếp tục duy trì được tỷ lệ tăng trưởng của nguồn vốn bằng đồng Việt Nam trên 30% nhờ việc thực hiện nhiều chương trình tiết kiệm dự thưởng hấp dẫn đồng thời phát giữ vững mối quan hệ với các doanh nghiệp trên địa bàn.
Vốn huy động theo tiền ngoại tệ: Nhìn trên biểu đồ thấy được vốn huy động ngoại tệ của chi nhánh Quảng Ninh giảm dần trong cả 3 năm. Tỷ lệ vốn huy động bằng ngoại tệ luôn chiếm số ít trong tổng nguồn vốn huy động. Tuy nhiên đây là một tỷ lệ hợp lý vì chi nhánh chủ yếu tập trung huy động vốn bằng tiền VNĐ. Lượng vốn huy động ngoại tệ có xu hướng giảm dần theo thời gian. Số lượng ngoại tệ đã quy đổi: Năm 2023 đạt 530,801.27 triệu đồng chiếm 53.76% tổng nguồn vốn. Năm 2024 đạt 486,244.72 triệu đồng chiếm 40.96% tổng nguồn vốn, giảm 8.39% so với năm 2024. Năm 2025 nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ đạt 568,453.34 triệu đồng chiếm 38.17% so với tổng nguồn vốn. Sự giảm đi nhanh chóng này cho thấy khả năng huy động vốn ngoại tệ của chi nhánh đã kém hơn trước hơn trước, đòi hỏi chi nhánh phải có sự điều chỉnh trong chính sách huy động vốn bằng ngoại tệ để thu hút được lượng vốn bằng ngoại tệ nhiều hơn.
- Cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh theo hình thức huy động
Sự khác nhau về lượng vốn huy động theo từng hình thức huy động đã được thể hiện rõ nét trên bảng số liệu trên.
Trong cả 3 năm, 3 hình thức huy động là: Tiết kiệm, Tiền gửi không kì hạn và Tiền gửi có kì hạn của các tổ chức doanh nghiệp luôn chiếm số lượng lớn, cao gấp 2 đến 3 lần so với các hình thức còn lại. Tỷ lệ tăng trưởng chung của nhóm này cũng có xu hướng tăng lên, đặc biệt là sự tăng trưởng của tiền gửi thanh toán: năm 2024 tăng 23.68% so với năm 2023; năm 2025 tăng 24.85% so với năm 2024. Nguyên nhân của sự tăng trưởng nhanh này là do tình hình tài chính của các doanh nghiệp trên địa bàn khá dần lên và chi nhánh mối quan hệ tốt với các doanh nghiệp đó. Nếu năm 2026 chi nhánh vẫn tiếp tục phát huy thế mạnh đó thì lượng vốn huy động từ tiền gửi thanh toán sẽ tiếp tục tăng cao. Hình thức huy động bằng nhận tiền gửi tiết kiệm cũng tăng đều qua 3 năm, chứng tỏ người dân ngày càng ưa thích gửi tiết kiệm tại chi nhánh.
Ba hình thức huy động: Trái phiếu, Kì phiếu, Chứng chỉ tiền gửi đều chiếm 1 tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động và tăng rất chậm qua 3 năm. Cụ thể: lượng vốn thu được từ bán trái phiếu chỉ xấp xỉ 4 tỷ đồng trong cả 3 năm, lượng vốn từ kì phiếu thì giảm dần từ năm 2024 đến năm 2025, tuy nhiên chứng chỉ tiền gửi thì giảm mạnh ở năm 2024 (12.26%) nhưng lại tăng 38% ở năm 2025; đây là bất ngờ lớn, thể hiện người dân càng ngày càng ưa thích việc gửi tiết kiệm bằng chứng chỉ tiền gửi. Hai loại hình còn lại không tăng trong 3 năm có thể lí giải được do chi nhánh bị động một phần trong việc phát hành 2 loại hình tiền gửi này (phát hành theo kế hoạch của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á). Đây cũng là một hạn chế trong huy động vốn của chi nhánh.
- Chi phí huy động vốn. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Chiếm phần lớn trong chi phí huy động vốn là chi phí trả lãi cho nguồn vốn huy động được. Chí phí này của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh biến động ít trong 3 năm qua:
Chi phí trả lãi tăng vào năm 2024 (53.52%)so với năm 2023 nhưng lại giảm 5.94% so với năm 2025. Nguyên nhân của sự tăng giảm không ổn định này là do sự biến động không đều của các thành phần vốn trong tổng nguồn vốn huy động được của chi nhánh. Mặc dù tổng lượng vốn huy động được của năm 2025 vẫn lớn hơn năm 2024 nhưng chi phí trả lãi lại thấp hơn. Điều này phản ánh thực tế: lượng tiền gửi thanh toán và có kì hạn của các tổ chức kinh tế ngày càng chiếm phần lớn trong tổng nguồn vốn huy động; tiền gửi từ khu vực dân cư lại giảm đi. Chi nhánh Quảng Ninh đã tiết kiệm được chi phí trả lãi do lãi suất trả cho tiền gửi thanh toán thấp nhất trong các loại hình huy động vốn. Nhờ chi phí trả lãi thấp nên lợi nhuận trước thuế của chi nhánh năm 2025 đã tăng so với năm 2024. Đây cũng là một dấu hiệu tốt cho hoạt động của chi nhánh.
2.2.3. Đánh giá hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh
Qua phân tích thực trạng nguồn vốn huy động của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh giai đoạn 2023 – 2025, về cơ bản hoạt động huy động vốn có xu hướng tăng trưởng ổn định với cơ cấu tương đối hợp lý đảm bảo một hoạt động kinh doanh tổng thể, an toàn cho ngân hàng, từ đó mang lại kết quả kinh doanh tốt cho ngân hàng.
2.2.3.1. Những thành tựu đạt được của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh
Nguồn vốn huy động của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh luôn giữ được tốc độ tăng trưởng cao, thu hút được một lượng vốn lớn từ các tổ chức doanh nghiệp trên địa bàn (bao gồm cả tiền gửi thanh toán và tiền gửi có kì hạn). Nguồn vốn này tuy không ổn định như nguồn vốn từ dân cư nhưng nó có tính chất năng động, tạo điều kiện giúp mối quan hệ giữa chi nhánh và các tổ chức kinh tế trên địa bàn bền chặt hơn thông qua các hoạt động giao dịch tài khoản thanh toán, cho vay kí quỹ bằng tiền của chính tổ chức kinh tế… Trong tương lai, nếu duy trì được lượng tiền gửi đó cao thường xuyên thì chi nhánh có khả năng phát triển được nhiều dịch vụ ngân hàng khác để phục vụ các tổ chức doanh nghiệp hơn.
Ngoài việc đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong huy động nguồn vốn, thì cơ cấu nguồn vốn trong huy động của Chi nhánh cũng đã đạt được nhiều thay đổi quan trọng. Tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn ngày càng tăng, vốn uỷ thác đầu tư ngày càng nhiều. Đó chính là những điều kiện hết sức thuận lợi cho quá trình mở rộng hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Chi nhánh- một lĩnh vực đem lại lợi nhuận cao và ổn định cho các Ngân hàng thương mại.
Chi nhánh đã triển khai khá thành công các đợt huy động vốn do ngân hàng TMCP Đông Nam Á phát động: Các chương trình tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm bậc thang, các chương trình Chứng chỉ lộc xuân (năm 2023), 1000 năm Thăng Long – Rồng vàng gõ cửa( năm 2024), Xe mới đón tết, vàng lộc về nhà (năm 2025)… Các chương trình này đã thu hút được một lượng vốn lớn từ dân cư trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Vốn huy đồng từ hình thức tiết kiệm năm 2024 tăng 22.96% so với năm 2023, năm 2025 tăng 25.88 % so với năm 2024. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Quá trình mở rộng mạng lưới chi nhánh của một ngân hàng thương mại là một yếu tố tất yếu trong quá trình tăng trưởng, phát triển và mở rộng quy mô. Vì vậy, trong những năm qua, Chi nhánh đã rất quan tâm đến việc mở rộng, phát triển mạng lưới đi đôi với việc củng cố nâng cấp mạng lưới. Hiện nay, Chi nhánh đã có 3 phòng giao dịch: Phòng giao dịch Uông Bí. Phòng giao dịch Hạ Long và phòng giao dịch Cẩm Phả. Điều này cho phép khả năng mở rộng hoạt động huy động vốn của Chi nhánh.
Chi nhánh đã đưa ra nhiều mức lãi suất hấp dẫn cho từng kì hạn tiền gửi tiết kiệm bằng VNĐ và số kì hạn đa dạng (từ không kì hạn, 1 tháng, 2 tháng…60 tháng). Chính điều này đã tạo ra nhiều lựa chọn cho khách hàng, góp phần thu hút được lượng tiền gửi lớn từ dân cư cho chi nhánh.
2.2.3.2. Những hạn chế của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục để có thể giảm thiểu chi phí huy động vốn nhằm tối đa hoá lợi nhuận trong kinh doanh.
Mặc dù chi nhánh đã đa dạng hoá hình thức huy động nhưng trên thực tế tiền gửi dân cư và tiền gửi của các tổ chức kinh tế chiếm phần lớn trong tổng nguồn vốn huy động còn các nguồn khác không đáng kể mặc dù chi phí của các nguồn này không cao so với huy động từ tiền gửi dân cư và tiền gửi của các doanh nghiệp.
Cơ cấu nguồn vốn huy động chưa hợp lý. Tỷ lệ vốn huy động từ dân cư quá thấp so với tỷ lệ vốn huy động từ tổ chức. Trong khi tiền gửi từ dân cư có tính chất ổn định và lâu dài hơn, có thể giúp giảm rủi ro trong hoạt động tín dụng cho chi nhánh. Cơ cấu nguồn vốn huy động giữa VND và ngoại tệ chưa hợp lý: Tỷ lệ vốn huy động bằng ngoại tệ luôn chiếm số ít trong tổng nguồn vốn huy động. Vốn huy động ngoại tệ của chi nhánh Quảng Ninh giảm dần trong cả 3 năm. Sự giảm đi nhanh chóng này cho thấy khả năng huy động vốn ngoại tệ của chi nhánh đã kém hơn trước, đòi hỏi chi nhánh phải có sự điều chỉnh trong chính sách huy động vốn bằng ngoại tệ để thu hút được lượng vốn bằng ngoại tệ nhiều hơn.
Hoạt động marketing chỉ mới được cải thiện trong thời gian gần đây, tuy nhiên chưa thật sự chuyên nghiệp và hiệu quả. Hoạt động marketing của ngân hàng còn thiếu, còn rất nhiều điểm cần tiếp tục cải tiến. Hoạt động nghiên cứu thị trường, nhu cầu của khách hàng, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh chưa được tiến hành thường xuyên và có hệ thống. Chưa xác định được chiến lược khách hàng phù hợp với tình hình thực tế của ngân hàng, chưa có chính sách khách hàng thống nhất trong toàn hệ thống. Ngân hàng chưa có bộ phận chuyên trách nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, các hoạt động quảng cáo, marketing dường như chưa rõ nét, chưa phục vụ những mục tiêu cụ thể. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Hoạt động tiếp thị sản phẩm huy động vốn của chi nhánh còn chưa đạt hiệu quả cao. Mỗi một đợt huy động vốn được triển khai thì chủ yếu lượng khách hàng cũ, truyền thống của chi nhánh tham gia phần lớn, nhiều khách hàng mới, tiềm năng không hề biết đến. Nguyên nhân của việc này là do thông tin về sản phẩm, dịch vụ mới chưa được truyền tải rộng rãi đến họ. Chi nhánh chưa khai thác triệt để các kênh truyền thông tin hiện có.
Dịch vụ khách hàng của ngân hàng thiếu tính cạnh tranh, dịch vụ “giao dịch một cửa” chưa triển khai rộng cho toàn hệ thống, chưa có kênh cung cấp dịch vụ khách hàng, do vậy hạn chế trong việc phát triển và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới. Quy trình, thủ tục giao dịch tuy có cải thiện nhưng vẫn chưa thuận tiện cho khách hàng. Kênh phân phối không đa dạng, hiệu quả thấp, phương thức giao dịch và cung cấp các dịch vụ chủ yếu vẫn là “tiếp xúc trực tiềp tại quầy”. Các hình thức giao dịch từ xa dựa trên cơ sở nền tảng công nghệ thông tin và điện tử chưa phổ biến. Mặc dù, hiện nay, các dịch vụ ngân hàng điện tử (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, ATM, SeAnet, Autobank…) và kênh phân phối điện tử đang trên đà phát triển nhưng chưa được triển khai rộng rãi, lượng khách hàng sử dụng còn ít.
2.2.3.3. Một số nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế
- Nguyên nhân khách quan
Môi trường kinh tế – xã hội có nhiều biến động: Trong những năm qua, tuy nền kinh tế Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng khá nhưng còn có nhiều diễn biến phức tạp không có lợi cho hoạt động ngân hàng. Bước sang năm 2023, tình hình kinh tế xã hội không mấy sáng sủa. Tốc độ tăng trưởng kinh tế có biểu hiện chậm lại, lạm phát tiếp tục tăng cao vượt xa dự báo của cơ quan chức năng, lạm phát năm 2025 lên tới 18.85%. Cùng với đó là thị trường tài chính, tiền tệ có nhiều biến động. NHNN thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất cơ bản điều chỉnh liên tục từ 8.75% đến 12% đến 14 %). Những yếu tố trên dẫn đến nhiều bất lợi, gây khó khăn cho sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân, nhất là người có thu nhập thấp.
Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam nói chung và địa bàn tỉnh Quảng Ninh còn chưa phát triển, người dân chưa có thói quen giao dịch qua ngân hàng nhiều.Theo thống kê của ngân hàng đại đa số người dân Việt Nam vẫn còn thanh toán bằng tiền mặt. Thanh toán bằng tiền mặt chiếm đến 30% trong bán buôn và 95% trong hoạt động bán lẻ ở Việt Nam. Những tiện ích về dịch vụ ngân hàng bán lẻ nhất là dịch vụ thẻ thanh toán hầu như còn xa lạ đối với tầng lớp dân cư.
Giữa các khách hàng và các NHTM còn một khoảng cách: có nhiều loại hình dịch vụ nhưng khách hàng lại thiếu hiểu biết về chúng (hiểu biết về sản phẩm dịch vụ, về các văn bản, quy định hiện hành, quyền và nghĩa vụ khi sử dụng dịch vụ, thông tin không đầy đủ). Từ đó tạo nên tâm lý e ngại tìm hiểu, tiếp cận và sử dụng các sản phẩm ngân hàng điều đó cản trở việc sử dụng séc cá nhân, thanh toán thẻ…tạo khó khăn hạn chế khả năng huy động vốn của chi nhánh.
Sự cạnh tranh gay gắt giữa các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 28 tổ chức tín dụng hoạt động, trong đó có 5 tổ chức tín dụng lớn có vốn nhà nước và có lịch sử hoạt động lâu năm tại điạ bàn Quảng Ninh thường chiếm khoảng 70% thị phẩn, 30% thị phần còn lại thuộc về 22 tổ chức tín dụng khác,điêu này khiến cho sự cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng ngày càng gay gắt. Trong quá trình cạnh tranh để giữ và mở rộng thị phần, thu hút được vốn, các tổ chức này đua nhau tăng lãi suất huy động không dựa trên cơ sở cung – cầu về vốn làm cho mặt bằng lãi suất trên thị trường tăng lên, gây khó khăn cho công tác tìm kiếm nguồn vốn huy động rẻ. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Do đặc trưng về địa hình, địa lí của tỉnh Quảng Ninh 80% là đồi núi, dân cư nằm dải rác, không tập trung nên rất khó tiếp cận người dân, khó giới thiệu đến người dân các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng.
- Nguyên nhân chủ quan
Công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á còn có lúc chưa chủ động, chưa có biện pháp thiết thực để đẩy nhanh tốc độ tiền gửi của dân cư, tỷ trọng vốn các tổ chức tín dụng và tổ chức kinh tế vẫn còn cao, lãi suất đầu vào ngày càng tăng lên làm cho chênh lệch lãi suất ngày càng giảm khó có thể đạt được tỷ lệ như mong muốn. Các hình thức huy động vốn chưa thực sự đa dạng, nguồn huy động chủ yếu thông qua hình thức tiền gửi. Tuy nhiên, phương thức nhận tiền gửi còn đơn giản, nên cơ cấu vốn chưa hợp lý giữa kỳ hạn, loại đồng tiền gửi.
Chính sách thu hút khách hàng còn chưa phù hợp, công tác quảng cáo tiếp thị thu hút khách hàng để tạo uy tín mở rộng thị phần trên thị trường còn chưa đạt được hiệu quả mạnh mẽ. Chi nhánh chưa có dịch vụ chăm sóc khách hàng mà mới chỉ có quầy khách hàng, vì vậy còn nhiều hạn chế trong vấn đề thu hút khách hàng.
Công nghệ ngân hàng vừa ứng dụng vừa cải tiến. Hệ thống phần mềm giao dịch vẫn còn đang trong quá trình nâng cấp. Do vậy, quá trình thao tác nghiệp vụ vẫn còn một số lỗi. Nhiều phần chưa hạch toán trực tiếp trên mạng mà phải theo dõi tay như phong giải toả sổ tiết kiệm, séc; tra cứu thông tin khách hàng ở nhiều phòng giao dịch khác nhau trong chi nhánh Quảng Ninh còn trải qua nhiều bước, thời gian chờ đợi trong giao dịch của khách hàng tăng lên. Ngoài ra, việc trang bị cơ sở vật chất, máy móc thiết bị còn chậm. Nhiều màn hình vi tính và CPU đã qua nhiều năm sử dụng nên tốc độ xử lý thông tin chậm.
Quy mô về mạng lưới, cũng như cơ sở hạ tầng của mạng lưới còn nhiều hạn chế .Hiện nay, Chi nhánh có 3 phòng giao dịch: Phòng giao dịch Uông Bí. Phòng giao dịch Hạ Long và phòng giao dịch Cẩm Phả.. Với mạng lưới chi nhánh chưa được vững mạnh như vậy thì sẽ hạn chế rất nhiều cho khả năng huy động vốn của Chi nhánh.
Năng lực và trình độ của nhân viên ngân hàng còn bất cập. Đội ngũ nhân viên tuy trẻ, nhanh nhẹn nhưng trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa đồng đều, chưa đáp ứng các yêu cầu trong quá trình hội nhập. Các phòng giao dịch mới được thành lập, nhân sự không đáp ứng kịp thời. Hầu hết các quầy giao dịch là nhân viên mới vừa học vừa giao tiếp khách hàng nên phong cách phục vụ hầu như không chuẩn, tốc độ xử lý yêu cầu khách hàng chưa nhanh, chức năng tư vấn khách hàng chưa được chú trọng. Hầu hết các nhân viên giao dịch chưa nhận thức được việc bán sản phẩm cho khách hàng là việc trọng tâm. Hơn nữa, chưa có những khoá đào tạo ngắn hạn cho nhân viên về những sản phẩm mới, hầu như họ tự nghiên cứu qua văn bản. Do đó dẫn đến nhiều cản trở trong quá trình bán sản phẩm. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Tóm lại, trong những năm vừa qua Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh luôn cố gắng tìm mọi biện pháp để khơi tăng nguồn vốn huy động như đề ra nhiều loại kỳ hạn với những hình thức trả lãi khác nhau, mở rộng các hình thức huy động: tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đa dạng hóa các sản phẩm huy động vốn đồng thời hoàn thiện và tăng thêm tiện ích đối với các sản phẩm tiền gửi thanh toán. Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh đã giữ được tốc độ tăng trưởng nguồn vốn cao, huy động được một lượng vốn lớn từ các doanh nghiệp. Tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn ngày càng tăng tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho quá trình mở rộng hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Chi nhánh – một lĩnh vực đem lại lợi nhuận cao và ổn định cho Ngân hàng. Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện thành công các chương trình huy động tiền gửi tiết kiệm do Ngân hàng TMCP Đông Nam Á phát động. Mạng lưới hoạt động của ngân hàng ngày càng được mở rộng.
Mặc dù hoạt động huy động vốn của Chi nhánh trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tuy nhiên bên cạnh đó hoạt động của Chi nhánh vẫn còn có những hạn chế cần được khắc phục. Cơ cấu nguồn vốn huy động chưa hợp lý, tỷ lệ vốn huy động từ dân cư quá thấp so với tỷ lệ vốn huy động từ tổ chức. Tỷ lệ vốn huy động bằng ngoại tệ luôn chiếm số ít trong tổng nguồn vốn huy động. Nguyên nhân là do chưa có biện pháp thiết thực để đẩy nhanh tốc độ tiền gửi của dân cư và các hình thức huy động vốn chưa thực sự đa dạng, nguồn huy động chủ yếu thông qua hình thức tiền gửi. Tuy nhiên, phương thức nhận tiền gửi còn đơn giản, nên cơ cấu vốn chưa hợp lý giữa kỳ hạn, loại đồng tiền gửi. Do vị trí địa lí của tỉnh Quảng Ninh 80% là đồi núi, dân cư không tập trung, mạng lưới giao dịch chưa được mở rộng nên rất khó để ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh tiếp cận người dân và giới thiệu đến người dân các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Hoạt động tiếp thị sản phẩm huy động vốn của chi nhánh chưa đạt hiệu quả cao do chính sách thu hút khách hàng, công tác quảng cáo tiếp thị sản phẩm còn chưa phù hợp, chi nhánh chưa khai thác triệt để các kênh truyền thông tin hiện có, nên thông tin về sản phẩm, dịch vụ mới chưa được truyền tải rộng rãi đến khách hàng. Ngoài ra, cơ sở vật chất, công nghệ ngân hàng chưa thật sự hiện đại, hệ thống phần mềm giao dịch vẫn còn đang trong quá trình nâng cấp, quá trình thao tác nghiệp vụ vẫn còn một số lỗi khiến, chế độ giao dịch một cửa chưa triển khai rộng cho toàn hệ thống khiến thời gian chờ đợi của khách hàng tăng, gây khó khăn cho khách hàng tới giao dịch. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp huy động vốn tại Ngân hàng SeABank


Pingback: Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank