Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank”, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Vốn là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Chúng ta cần khẳng định rằng không thể thực hiện được các mục tiêu kinh tế xã hội nói chung của Nhà nước, cũng như các mục tiêu kinh doanh khác của doanh nghiệp nói riêng nếu không có vốn. Đối với các ngân hàng thương mại với tư cách là một doanh nghiệp, một chế tài trung gian hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ thì vốn lại có một vai trò hết sức quan trọng. NHTM là đơn vị chủ yếu cung cấp vốn thu lãi. Nhưng để cung cấp đủ vốn để đáp ứng nhu cầu thị trường, ngân hàng sẽ phải huy động vốn từ bên ngoài. Vì vây, các NHTM rất chú trọng đến vấn đề huy động vốn để đáp ứng đầy đủ nhu cầu kinh doanh của mình. Có thể nói hoạt động huy động các nguồn vốn khác nhau trong xã hội là lẽ sống quan trọng nhất của các NHTM.
Tại Việt Nam việc huy động vốn thông qua việc khai thác lượng tiền tạm thời nhan rỗi trong dân cư, hộ gia đình, các tổ chức kinh tế xã hội hay các tổ chức tín dụng khác của NHTM còn nhiều bất hợp lí. Điều này dẫn tới chi phí vốn cao, quy mô không ổn định, việc tài trợ cho các danh mục tài sản không còn phù hợp với quy mô, kết cấu. Từ đó làm hạn chế khả năng sinh lời, buộc ngân hàng phải đối mặt với các rủi ro. Do đó việc tăng cường huy động vốn từ bên ngoài với chi phí hợp lí và ổn định là yêu cầu ngày càng trở lên cấp thiết và quan trọng.
Để tăng cường huy động vốn ta cần nghiên cứu các hình thức huy động, các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn như quy mô, cơ cấu nguồn huy động đủ lớn để tài trợ cho các danh mục tài sản và không ngừng tăng trưởng ổn định, nguồn vốn có chi phí hợp lí, huy động vốn phù hợp với sử dụng vốn về mặt kì hạn, quản lí tốt các loại rủi ro liên quan đến hoạt động huy động vốn, cũng như phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới công tác huy động vốn.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh trải qua hơn 5 năm hoạt động và phát triển đã đạt tăng trưởng đáng kể trong mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh nhưng thực tiễn đang đặt ra những thách thức mới ở phía trước. Do ảnh hưởng của tình hình kinh tế xã hội địa phương, những khó khăn từ môi trường kinh tế vĩ mô, từ nội tại của mình và cạnh tranh ngày càng gay gắt của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước… Mặt khác, trần lãi suất cho vay ngày càng giảm thấp và những đặc điểm riêng có của mình thì hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh cần áp dụng những giải pháp thích ứng.
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn cũng như những khó khăn mà Ngân hàng hiện nay đang gặp phải trong quá trình huy động vốn, tôi chọn đề tài: “ Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh”.
2. Mục tiêu nghiên cứu khóa luận Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Từ những vấn đề nghiên cứu trên lí thuyết, phân tích thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh, qua đó đề ra các giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn hiệu quả nhất tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Những vấn đề cơ bản về huy động vốn các Ngân hàng thương mại.
Đánh giá thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh trong 3 năm 2023, 2024 và 2025 qua các khía cạnh quy mô, cơ cấu huy động vốn, phân tích nguồn vốn huy động. Từ đó tìm ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại trong việc huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh
- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận
Hệ thống hóa các phương pháp huy động vốn tại ngân hàng.
Phân tích thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh tìm ra nhược điểm cần khắc phục.
Đề xuất các giải pháp tăng cường huy động vốn một cách hiệu quả với chi phí thấp nhất.
4. Bố cục của khóa luận Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Khóa luận tốt nghiệp của tôi gồm các phần chính như sau:
- Chương I : Những vấn đề về nguồn vốn và huy động vốn tại ngân hàng thương mại.
- Chương II: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh.
- Chương III : Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh.
Kết luận
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng khóa luận của tôi chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót. Tôi rất mong các thầy cô giáo nhiệt tình chỉ bảo, sửa chữa giúp khóa luận của tôi hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của giảng viên Thạc sĩ Hoàng Thị Hồng Lan cùng sự giúp đỡ, quan tâm của Ban lãnh đạo và cán bộ phòng Quản trị và hỗ trợ hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Quảng Ninh đã giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NGUỒN VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm, vai trò của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế
- Khái niệm
Hệ thống Ngân hàng thương mại (NHTM) ra đời là kết quả của quá trình hình thành và phát triển lâu dài của kinh tế hàng hoá, của quan hệ hàng hoá tiền tệ. Tuy khái niệm về NHTM ở mỗi nước có những điểm khác nhau nhưng đều thống nhất coi NHTM là doanh nghiệp chuyên kinh doanh tiền tệ và cung ứng những dịch vụ tài chính cho nền kinh tế, là một trong số những tổ chức tài chính trung gian, các tổ chức tài chính trung gian này được gọi chung là các định chế tài chính có chức năng giống nhau là dẫn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các loại hình doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể xã hội và cá nhân, bằng việc huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi hoạt kì, tiền gửi định kì, tiền phát hành kì phiếu, trái phiếu đồng thời sử dụng vốn huy động được để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên.
Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế. Sự có mặt của NHTM trong hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế xã hội đã chứng minh rằng: Ở đâu có hệ thống NHTM phát triển, thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ thật cao của nền kinh tế – xã hội.
Theo Luật số 02/1997/QH10 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam, Ngân hàng được hiểu là: “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.” Trong đó hoạt động của ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ của ngân hàng bao gồm huy động vốn dưới mọi hình thức, cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, chiết khấu chứng từ có giá, bao thanh toán, cho thuê tài chính, thấu chi, cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng, và cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng khác.
Như vậy có thể nói rằng NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất của nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế, xã hội.
1.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế
Trong nền kinh tế NHTM giữ một vai trò rất quan trọng:
NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và Nhà nước trong nền kinh tế. Vậy muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân, giảm nhịp độ tiêu dùng. Để tăng thu nhập quốc dân, tức là mở rộng quy mô chiều rộng lẫn chiều sâu của sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế cần thiết phải có vốn. NHTM là chủ thế đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh. NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời được giải pháp ra từ quá trình sản xuất và lưu thông, vốn từ nguồn tiết kiệm của các cá nhân trong xã hội. Bằng nguồn vốn huy động được, các NHTM cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Như vậy nhờ có hoạt động của hệ thống NHTM, các doanh nghiệp mới có điều kiện mở rộng phạm vi sản xuất, công nghệ, tăng năng suất lao động và nâng cao hiệu quả kinh tế.
NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… Để đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thị trường, các doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lượng lao động, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp. Thông qua hoạt động tín dụng, Ngân hàng đáp ứng vốn cho doanh nghiệp trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, tạo cho doanh nghiệp có chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.
NHTM đóng vai trò trung gian thanh toán cho các tổ chức kinh tế, cá nhân trong xã hội. Tổ chức công tác thanh toán trong nền kinh tế quốc dân, sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt góp phần tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. NHTM hoạt động hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của mình. Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán, các NHTM đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông, thông qua việc cấp các khoản tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế. NHTM thực hiện việc điều hoà các luồng tiền, tích tụ và phân phối cho các ngành. Với những nội dung hoạt động như vậy, Nhà nước đã sử dụng NHTM như là một công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế.
NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với hệ thống tài chính quốc tế. Trong nền kinh tế thị trường khi các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế – xã hội giữa các nước trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách. Việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó. Vì vậy, nền tài chính mỗi nước phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế. Ngân hàng thương mại cùng các hoạt động kinh doanh của mình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này. Với các nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền gửi cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ ngân hàng khác. NHTM đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng mở rộng thông qua các hoạt động thanh toán kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các Ngân hàng nước ngoài. Hệ thống NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của hệ thống tài chính thế giới.
1.2. Khái niệm, vai trò của nguồn vốn đối với ngân hàng thương mại, mục tiêu và nguyên tắc quản trị nguồn vốn Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
1.2.1. Khái niệm nguồn vốn
NHTM là doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng. NHTM là tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu trong nền kinh tế. Việc tạo lập, tổ chức và quản lí vốn của NHTM là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu không chỉ vì lợi ích riêng của bản thân các NHTM mà còn vì sự phát triển chung của nền kinh tế.
Nguồn vốn trong NHTM được định nghĩa là toàn bộ tài sản bên nợ trong Bảng cân đối Kế toán của ngân hàng. Nó bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn đi vay, trong đó nguồn vốn đi vay là chủ yếu và quan trọng bởi nguồn này tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Thông thường kết cấu nguồn vốn của các NHTM là như nhau nhưng xét về số lượng mỗi thành phần thì không ngân hàng nào giống nhau. Sự khác biệt đó xuất phát từ cách thức, mục tiêu huy động vốn của mỗi ngân hàng. Thông qua kết cấu nguồn vốn của mỗi ngân hàng người ta có thể đánh giá được rất nhiều điều về sự hoạt động cũng như khả năng quản trị ngân hàng của ban lãnh đạo.
1.2.2. Vai trò của nguồn vốn đối với ngân hàng thương mại
NHTM kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Vì vậy công tác huy động vốn- hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM đóng một vai trò hết sức quan trọng.
1.2.2.1 Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường bất kỳ doanh nghiệp nào muốn sản xuất kinh doanh cũng cần có vốn, vốn quyết định đến khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với NHTM vốn là đối tượng kinh doanh chủ yếu, vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Nếu thiếu vốn NHTM không thể thực hiện các hoạt động kinh doanh. Vì thế những ngân hàng có vốn lớn sẽ có thế mạnh trong kinh doanh. Vốn là điểm xuất phát đầu tiên trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.2.2.2 Vốn quyết định quy mô của hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của NHTM
Ngoài vai trò là cơ sở để ngân hàng tổ chức các hoạt động kinh doanh, vốn còn quyết định đến việc mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tín dụng và các hoạt động khác của NHTM. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Vốn tự có của ngân hàng ngoài việc sử dùng để mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị, góp vốn liên doanh…Vốn tự có của ngân hàng là căn cứ để giới hạn các hoạt động kinh doanh tiền tệ bao gồm cả hoạt động tín dụng. Việc quy định tỷ lệ cho vay, tỷ lệ huy động vốn trên vốn tự có của NHNN thể hiện vai trò quản lý, điều tiết thị trường của nhà nước, để đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.
Theo Điều 18 Quyết định số 1627/2001/QĐ- NHNN về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, mức huy động trên Vốn tự có như sau:
- Mức cho vay một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có
- Mức vốn huy động không được vượt quá 20 lần vốn tự có
- Mua cổ phần hoặc góp vốn liên doanh không được vượt quá 50% vốn tự có
Qua những quy định của NHNN đối với NHTM, vốn tự có quyết định đến khả năng cấp tín dụng, huy động vốn của NHTM vì thế những NHTM có vốn tự có lớn thì quy mô tín dụng càng lớn và ngược lại. Không những vốn tự có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh mà vốn huy động cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng và hoạt động khác.Vốn tự có rất quan trọng nhưng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng nguồn vốn, vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất và là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng tiến hành các hoạt động kinh doanh do đó ngân hàng nào có nguồn vốn huy động càng lớn thì khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế và các hoạt động khác càng được mở rộng.
1.2.2.3 Vốn quyết định khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thị trường
Một NHTM có thể thu hút được đông đảo khách hàng đến gửi tiền và sử dụng các dịch vụ của ngân hàng đó khi ngân hàng đó có uy tín trên thị trường. Uy tín của ngân hàng trước hết thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán cho khách hàng khi họ yêu cầu. Khả năng thanh toán của ngân hàng thông thường tỷ lệ thuận với khối lượng vốn mà ngân hàng đó có. Nếu có số lượng vốn nhiều thì năng lực thanh toán của ngân hàng sẽ được nâng cao, do đó uy tín của ngân hàng được nâng cao từ đó sẽ thu hút được nhiều khách hàng và nâng cao được vị thế của ngân hàng trên thị trường.
1.2.2.4 Vốn là một trong những yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Với mỗi ngân hàng, quy mô, trình độ công nghệ hiện đại là tiền đề để thu hút vốn. Đồng thời khả năng về vốn lớn là cơ sở để ngân hàng mở rộng khối lượng tín dụng và có thể quyết định cả mức lãi suất cho vay. Do đó có tiềm lực về vốn lớn ngân hàng có thể giảm mức lãi suất cho vay từ đó tạo cho ngân hàng ưu thế trong cạnh tranh, và giúp ngân hàng có tiềm lực trong việc mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết, cho thuê, mua bán nợ, kinh doanh chứng khoán…
Kết luận : Vốn có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng. Do đó ngân hàng phải luôn chú trọng đến việc phát triển nguồn vốn một cách ổn định cả về vốn huy động và vốn tự có.
1.2.3. Mục tiêu và nguyên tắc quản trị nguồn vốn Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
1.2.3.1. Khái niệm quản trị nguồn vốn
Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, với nhiệm vụ chủ yếu là thường xuyên nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân, đồng thời sử dụng số vốn huy động được để cấp tín dụng cho khách hàng của mình. Với nhiệm vụ đó, tài sản chủ yếu trong các NHTM là nguồn vốn, đó là tài sản của khách hàng, của các chủ sở hữu là các tổ chức, cá nhân mà ngân hàng đang quản lí và sử dụng. Luật pháp ngân hàng của các nước cũng như ở Việt Nam đều khẳng định “ Trách nhiệm hoàn trả” mà các ngân hàng phải thực hiện khi huy động vốn trong nền kinh tế xã hội. Với những lí do nêu trên, việc quản trị nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản trị kinh doanh ngân hàng.
Quản trị nguồn vốn là quản trị quá trình hoạt động huy động vốn, và nguồn vốn huy động để đảm bảo cho NHTM luôn có đủ nguồn vốn để duy trì và phát triển các hoạt động kinh doanh với chi phí hợp lí và đạt hiệu quả cao nhất, đồng thời đảm bảo mức độ an toàn cho các chủ sở hữu trong quá trình huy động vốn.
1.2.3.2. Mục tiêu của quản trị nguồn vốn
a.Tạo lập và giữ vững sự ổn định của nguồn vốn huy động, đảm bảo đủ nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh tiền tệ. Đây là mục tiêu quan trọng nhất và là mục tiêu có tính cạnh tranh nhất trong toàn bộ hoạt động ngân hàng. Trong điều kiện hệ thống NHTM phát triển rầm rộ về số lượng như hiện nay, thì vấn đề cạnh tranh trong huy động vốn là rất gay gắt, thậm chí còn mang ý nghĩa sống còn. Chính vì vậy việc giữ vững sự ổn định của nguồn vốn huy động có ý nghĩa rất quan trọng.
b, Gia tăng nguồn vốn huy động một cách hợp lí để không ngừng mở rộng quy mô hoạt động. Các NHTM đều có chiến lược không ngừng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, muốn vậy trước hết phải mở rộng hoạt động kinh doanh tiền tệ, từ đó mới có thể mở rộng các mặt hoạt động kinh doanh khác. Gia tăng nguồn vốn huy động là mục tiêu mà bất cứ ngân hàng nào cũng phải hướng đến. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Đảm bảo khả năng thanh toán và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Song song với hai mục tiêu nói trên, quản trị nguồn vốn còn phải đảm bảo duy trì khả năng thanh toán. Đây không những là mục tiêu mà còn là yêu cầu có tính bắt buộc trong quản trị nguồn vốn. Đảm bảo duy trì khả năng thanh toán của ngân hàng sẽ tạo niềm tin cho khách hàng, đó cũng là điều kiện để thu hút tiền gửi ngày càng nhiều hơn, ổn định hơn. Bên cạnh đó, vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh luôn phải được thấu suốt trong toàn bộ quá trình sử lí và sử dụng nguồn vốn huy động.
Ba mục tiêu trên phải được thực hiện đồng thời, tuy nhiên tùy từng tình hình cụ thể mà nhấn mạnh mục tiêu này hay mục tiêu khác. Đây chính là sự linh hoạt trong quản lí nguồn vốn, sự linh hoạt này sẽ giúp ngân hàng đạt được hiệu quả tối ưu trong hoạt động kinh doanh.
1.2.3.3. Các nguyên tắc quản trị nguồn vốn
1, Tuân thủ pháp luật trong hoạt động huy động vốn
- Không che giấu các khoản tiền bất thường (chống rửa tiền).
- Giữ bí mật tài khoản và hoạt động trên tài khoản của khách hàng.
- Tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định
- Hoàn trả gốc và lãi cho khách hàng theo thời hạn đã cam kết.
- Không được cạnh tranh bất hợp pháp ( thông tin giả, đầu cơ…)
2. Thỏa mãn được yêu cầu kinh doanh với chi phí thấp nhất và hiệu quả cao nhất ( đa dạng hóa hình thức trả lãi…) Yêu cầu kinh doanh trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của NHTM là đảm bảo kinh doanh ổn định liên tục và tăng trưởng hợp lí với hiệu quả cao nhất. Để đáp ứng yêu cầu này trước hết phải đảm bảo huy động nguồn vốn một cách ổn định cả về dư lượng và kì hạn, chỉ có như vậy kinh doanh mới phát triển bình thường.
3. Phải đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản. Nhu cầu thanh khoản là nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng và các nhu cầu thanh khoản khác để thỏa mãn các giao dịch thanh toán. Nhu cầu thanh khoản phát sinh một cách thường xuyên, hàng ngày vì vậy nó luôn tạo áp lực rất lớn cho các ngân hàng. Ngân hàng nào không đáp ứng được nhu cầu thanh khoản , ngân hàng đó sẽ mất niềm tin đối với khách hàng, uy tín và thương hiệu của ngân hàng này sẽ bị giảm sút nghiêm trọng, nguy cơ xảy ra sụt giảm nguồn vốn là điều khó tránh khỏi. Đáp ứng nhu cầu thanh khoản là vấn đề sống còn và phải được nghiên cứu hàng đầu trong quản trị kinh doanh nói chung và quản trị nguồn vốn nói riêng.
4. Ngăn chặn sự sụt giảm bất thường về nguồn vốn. Đây là mục tiêu tuy ít quan trọng trong quản trị nguồn vốn vì sự sụt giảm bất thường về nguồn vốn có tần suất xuất hiện rất thấp, và chỉ xảy ra khi có những biến cố đặc biệt. Tuy nhiên trong quản trị nguồn vốn cần xem đây là một mục tiêu, để có những giải pháp khi có sự cố xảy ra.
1.3. Phân loại nguồn vốn huy động Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Nguồn vốn huy động của ngân hàng gồm các khoản như nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm); phát hành chứng chỉ tiền gửi, giấy tờ có giá; vay vốn của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước; vay vốn ngắn hạn của NHNN.
1.3.1. Tiền gửi
Tiền gửi là bộ phận nguồn vốn chủ yếu của bất kì một NHTM nào. Tiền gửi là tài sản bằng tiền mà khách hàng kí thác tại NHTM. Tiền gửi là nguồn vốn huy động từ bên ngoài đầu tiên và quan trọng nhất đối với mỗi NHTM. Trong cơ cấu vốn của các ngân hàng, tiền gửi luôn chiếm tỷ trọng lớn và có nhiều ảnh hưởng nhất tới các hoạt động của ngân hàng. Vì thế để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền gửi chất lượng ngày càng cao thì các ngân hàng đã đưa ra nhiều hình thức huy động khác nhau. Mỗi công cụ huy động tiền gửi mà các ngân hàng đưa ra đều có những đặc điểm riêng nhằm làm cho chúng phù hợp hơn với nhu cầu thanh toán của khách hàng trong việc tiết kiệm và thực hiện thanh toán. Tiền gửi được phân biệt thành các loại sau:
1.3.1.1 Tiền gửi không kì hạn Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Tiền gửi không kì hạn (còn được gọi là tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán) là loại tiền gửi mà người gửi tiền được quyền rút ra bất kì lúc nào trong thời gian ngân hàng làm việc. Tiền gửi không kì hạn bao gồm:
- Tiền gửi của các tổ chức kinh tế
- Tiền gửi của cá nhân
- Tiền gửi của các đoàn thể xã hội
Chủ tài khoản tiền gửi không kì hạn gửi tiền vào ngân hàng không nhằm mục đích thu lãi, mà để phục vụ cho nhu cầu giao dịch thanh toán. Chính vì vậy ngân hàng nào cung cấp dịch vụ ngân quỹ và thanh toán tốt nhất sẽ có điều kiện để thu hút nguồn vốn này nhiều hơn. Tiền gửi không kì hạn có mức lãi suất thấp, vì vậy đây là nguồn vốn kinh doanh mang lại hiệu quả cao cho ngân hàng, tuy nhiên do tính chất không kì hạn nên nguồn vốn này thường xuyên biến động theo diễn biến của tình hình kinh tế tài chính. Nói các khác, nguồn vốn tiền gửi không kì hạn có mức độ rủi ro thanh khoản rất cao, cần lưu ý khi khai thác và sử dụng nguồn vốn này tại các ngân hàng.
1.3.1.2. Tiền gửi vãng lai
Tiền gửi vãng lai cũng là loại tiền gửi không kì hạn, chủ tài khoản cũng được sử dụng để giao dịch thanh toán như tài khoản tiền gửi không kì hạn. Tuy nhiên , hai loại tiền gửi này có sự khác biệt: Đối với tài khoản tiền gửi thanh toán, chủ tài khoản chỉ được quyền thanh toán trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi. Còn đối với tài khoản tiền gửi vãng lai, chủ tài khoản có thể thực hiện thanh toán vượt quá số dư tài khoản tiền gửi của mình thông qua kĩ thuật cho vay thấu chi (Overdraft). Đây chính là lợi ích đối với chủ tài khoản tiền gửi vãng lai. Để mở được tài khoản tiền gửi vãng lai, khách hàng phải có uy tín trong giao dịch thanh toán, được ngân hàng tin tưởng thông qua hoạt động thực tế.
Tài khoản vãng lai là công cụ có tính chất cổ điển và riêng có của ngân hàng. Thông qua tài khoản vãng lai, ngân hàng vừa đẩy mạnh huy động vốn không kì hạn từ các doanh nghiệp, từ các cán bộ công nhân viên, đồng thời mở rộng cho vay đối với các đối tượng này, đặc biệt đối với cá nhân. Nhiều ngân hàng đã mạnh dạn cho vay thấu chi với hạn mức cao hơn nhiều lần so với thu nhập bình quân của các đối tượng mà mức độ rủi ro rất thấp, thậm chí không có rủi ro.
Tài khoản vãng lai dựa trên hợp đồng tài khoản vãng lai giữa ngân hàng và khách hàng. Trong đó hai bên thỏa thuận về hạn mức cho vay, thời hạn, lãi suất, các hình thức đảm bảo như tài sản thế chấp, cầm cố… Tuy nhiên tài khoản vãng lai phần lớn đều được các ngân hàng không yêu cầu phải có đảm bảo. Sự tin tưởng lẫn nhau là cơ sở cho việc mở và sử dụng tài khoản vãng lai.
1.3.1.3. Tiền gửi có kì hạn Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Tiền gửi có kì hạn còn gọi là tiền gửi định kì. Tiền gửi có kì hạn là loại tiền gửi có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền. Về nguyên tắc, người gửi chỉ có thể rút tiền theo thời hạn đã thỏa thuận, nhưng trên thực tế để thu hút loại tiền gửi này với kì hạn dài, các ngân hàng thường cho phép rút tiền trước thời hạn nhưng khách hàng chỉ được hưởng lãi suất không kì hạn hoặc hưởng mức lãi suất tương ứng theo kì hạn nhất định do ngân hàng quy định. Đối với loại tiền gửi này người gửi được ngân hàng cung cấp một sổ tiền gửi, trong đó ghi rõ kì hạn gửi và lãi suất. Người gửi tiền gửi định kì nhằm mục đích hưởng lãi và không được sử dụng tài khoản này để giao dịch, thanh toán.
Nguồn vốn này có độ ổn định cao, ngân hàng chủ động trong quá trình sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn. Lãi suất cao và hấp dẫn là công cụ để các ngân hàng khai thác nguồn vốn này. Vì vậy để có thể thu hút nhiều hơn loại tiền gửi này, các ngân hàng thường đưa ra nhiều loại kì hạn khác nhau phù hợp với thời gian vốn nhàn rỗi ở các đơn vị, mỗi kì hạn có một mức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc kì hạn càng dài lãi suất càng cao.
1.3.1.4. Tiền gửi của các tổ chức tín dụng
Giữa các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác thường xuyên có mối liên hệ với nhau về nhiều mặt trong hoạt động kinh doanh. Các ngân hàng đều gửi một lượng tiền ở các ngân hàng khác nhằm mục đích tạo sự thuận tiện cho việc thanh toán hộ, chuyển khoản hay mua bán, giao dịch khác…Lượng tiền gửi này thường không lớn, biến động nhỏ nên ít ảnh hưởng tới nguồn vốn của ngân hàng.
1.3.2 Phát hành chứng từ có giá Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Đây là nguồn vốn mà các NHTM có được thông qua phát hành các giấy tờ có giá như kì phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi…
Đối tượng mua kì phiếu, trái phiếu ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi là các tổ chức, cá nhân. Ngoài việc dùng số vốn nhàn rỗi hay phần thu nhập tạm thời chưa sử dụng đến để mua, trên thực tế đây còn là một kênh đầu tư của người có vốn trong xã hội khi họ không có khả năng và cơ hội đầu tư trực tiếp. Các kì phiếu, trái phiếu này có khả năng chuyển đổi dễ dàng ra tiền khi cần thiết bằng cách bán, chuyển nhượng trên thị trường vốn hoặc chiết khấu tại ngân hàng.
Với việc phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn, ngân hàng có khả năng tập trung một khối lượng vốn lớn trong thời gian ngắn và hoàn toàn chủ động sử dụng. Hình thức này thường được thực hiện khi ngân hàng đã tiếp nhận được những dự án vay vốn lớn với thời hạn giải ngân nhanh của khách hàng, hay sau khi đã cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn trong toàn hệ thống mà vẫn còn thiếu và được sự đồng ý của Thống đốc ngân hàng Nhà nước.
1.3.2.1. Phát hành chứng chỉ tiền gửi hoặc kì phiếu ngân hàng
- Phát hành Chứng chỉ tiền gửi có kì hạn ( Certificates of Fixed Deposit ): Đây là những giấy tờ chứng nhận đã gửi tiền vào ngân hàng và hưởng với lãi suất cố định.
- Phát hành Kì phiếu ngân hàng ( Time Bill of Bank): Kì phiếu ngân hàng là giấy nhận nợ có kì hạn do ngân hàng phát hành, theo đó ngân hàng cam kết trả tiền ( vốn và lãi ) cho người mua kì phiếu khi đến hạn.
- Phát hành Chứng chỉ tiết kiệm (Certificates of Savings): Chứng chỉ tiết kiệm xác nhận số tiền tiết kiệm mà khách hàng gửi vào ngân hàng với thời hạn xác định và được hưởng lãi suất ghi trên chứng chỉ.
Những công cụ nói trên giúp các ngân hàng huy động vốn có kì hạn theo những mục đích được xác định.
1.3.2.2 Phát hành trái phiếu ngân hàng ( Bank Bond )
Trong trường hợp cần huy động một khối lượng vốn lớn, thời hạn dài để đáp ứng yêu cầu đầu tư, các ngân hàng có thể xin phép phát hành trái phiếu. Trái phiếu ngân hàng có thể là trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu không chuyển đổi. Trái phiếu ngân hàng thường có mệnh giá lớn 100.000VNĐ, 200.000 VNĐ, 500.000 VNĐ, 1.000.000 VNĐ và bội số của 1.000.000, có lãi suất cố định hoặc thả nổi, có thể trả lãi khi đáo hạn, trả lãi định kì hoặc trả lãi trước.
1.3.3 Vốn đi vay
Trong quá trình kinh doanh của các NHTM luôn có tình trạng tạm thời thiếu hay thừa vốn, đó là khi huy động vốn nhưng chưa cho vay hết, hay khi khách hàng có nhu cầu vay lớn nhưng lại không đủ, hoặc người gửi rút tiền trước thời hạn trong khi đó vốn cho vay chưa đến lúc thu hồi. Khi đó các NHTM có thể gửi vào các tổ chức tín dụng khác để hưởng lãi vay, hay đi vay vốn để tận dụng cơ hội kinh doanh, hoặc đảm bảo khả năng thanh toán. Ngân hàng có thể vay từ NHNN, vay từ các tổ chức tín dụng khác hoặc vay trên thị trường vốn…Nguồn vốn vay chỉ chiếm tỷ trọng vừa phải trong kết cấu nguồn song nó rất cần thiết và quan trọng đối với các ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
1.3.3.1. Vốn vay của ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước là ngân hàng của ngân hàng và là ngân hàng cho vay cuối cùng của nền kinh tế. Vì vậy, các NHTM có thể được NHNN cho vay vốn khi cần thiết. Ở Việt Nam hiện nay Ngân hàng nhà nước cho các NHTM vay vốn ngắn hạn dưới các hình thức sau:
- Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
- Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
Ngoài ra NHNN còn cho NHTM vay bổ sung vốn thiếu hụt trong thanh toán bù trừ. Trong trường hợp đặc biệt, khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, NHNN còn cho vay đối với các NHTM tạm thời mất khả năng chi trả có nguy cơ gây mất an toàn cho toàn hệ thống.
Vốn vay của NHNN và vốn vay của các tổ chức tín dụng thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh của NHTM, cho nên ngoài tác dụng góp phần gia tăng nguồn vốn, mở rộng kinh doanh của ngân hàng, nó còn có ý nghĩa trong việc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên và nâng cao hiệu suất sử dụng vốn của NHTM.
1.3.3.2. Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác
Khi vay tiền từ NHNN để đáp ứng thiếu hụt dự trữ hay chi trả cấp bách quá khó khăn( lãi suất chiết khấu cao, điều kiện vay mượn chặt chẽ..) các NHTM thường vay mượn lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng. Quá trình vay mượn này rất đơn giản. Ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng NHNN. Khoản vay có thể không cần bảo đảm hoặc được bảo đảm bằng các chứng khoán của kho bạc. Thông thường, các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay sẽ sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn. Ngược lại, các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản. Việc vay mượn giữa các ngân hàng là hoạt động thường xuyên và là một kênh huy động vốn tốt cho các ngân hàng trong những trường hợp khẩn cấp.
Hầu hết các NHTM được tổ chức thành hệ thống gồm nhiều chi nhánh và hạch toán kinh doanh toàn ngành, thực hiện điều chuyển vốn giữa các chi nhánh qua hội sở chính, khi thừa vốn các chi nhánh điều chuyển về hội sở chính, khi thiếu vốn các chi nhánh điều chuyển về hội sở chính. Vì vậy việc vay vốn của tổ chức tín dụng khác trong và ngoài nước thường chỉ thực hiện ở ngân hàng trung ương của từng hệ thống.
1.3.4. Nguồn vốn khác Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Bên cạnh các nguồn vốn nêu trên, trong quá trình hoạt động các NHTM còn có thể tạo lập vốn cho mình từ nhiều nguồn khác:
Vốn trong thanh toán: Vốn trong thanh toán là số vốn có được do ngân hàng làm trung gian thanh toán trong nền kinh tế.
- Cụ thể:
Số vốn trong thời gian đã trích khỏi tài khoản của người trả nhưng chưa chuyển vào tài khoản của người hưởng do phải luân chuyển, xử lí chứng từ thanh toán.
Số vốn trong thời gian khách hàng lưu kí tại ngân hàng nhưng chưa thanh toán trong một số hình thức thanh toán như séc bảo chi, thư tín dụng, thẻ thanh toán kí quỹ…
Khi công nghệ thanh toán của ngân hàng ngày càng hiện đại, quy trình, thủ tục thanh toán được cải tiến thì thời gian của mỗi khoản thanh toán giảm đi đáng kể, do đó vốn mà ngân hàng có được trong mỗi khoản thanh khoản cũng giảm. Nhưng do ngày càng nhiều khách hàng mở tài khoản và khoản thanh toán được thực hiện qua ngân hàng ngày càng tăng, làm cho số vốn này có điều kiện gia tăng.
Vốn ủy thác đầu tư, tài trợ của chính phủ hoặc của các tổ chức trong và ngoài nước cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Đây là nguồn vốn mà ngân hàng có được do làm đại lí nhận ủy thác của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện đầu tư cho những chương trình, dự án. Trong thời gian vốn đã được ngân hàng tiếp nhận nhưng chưa giải ngân hết theo kế hoạch, hoặc vốn cho vay đã thu hồi về nhưng chưa đến hạn chuyển lại cho chủ đầu tư, ngân hàng có được một số vốn để kinh doanh. Mặt khác khi thực hiện nghiệp vụ này ngân hàng sẽ được hưởng hoa hồng phí.
Các nguồn vốn khác của ngân hàng có thể không nhiều, thời gian sử dụng đôi khi rất ngắn, nhưng điều đáng quan tâm là nguồn vốn này ngân hàng không phải tốn kém chi phí huy động nhưng lại có điều kiện phát triển các nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng khác, phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vốn Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Trong nền kinh tế, các NHTM vừa đóng vai trò là một nơi tập trung vốn, vừa là nơi phân phân phối vốn trong xã hội, vì vậy mà hoạt động huy động vốn của NHTM không tồn tại một cách độc lập, mà nó luôn có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố khác. Có thể nói hoạt động huy động vốn của NHTM, chịu sự tác động của rất nhiều những yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau, các yếu tố này đều trực tiếp, hoặc gián tiếp đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
1.4.1. Nhân tố chủ quan
1.4.1.1. Lãi suất
Nhân tố tác động mạnh mẽ nhất đến quy mô nguồn vốn huy động chính là lãi suất đầu vào. Trong quản trị nguồn vốn, các nhà quản lí đều gặp khó khăn lớn trong việc định giá nguồn vốn huy động tiền gửi, sao cho vừa huy động được nhiều vốn để mở rộng quy mô, vừa phải tiết kiệm được chi phí một cách hợp lí nhất. Đây là một bài toán khó cho công tác huy động vốn trong NHTM. Nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng từ 70 % đến 90% tổng nguồn vốn của ngân hàng, vì vậy chỉ cần một sự thay đổi nhỏ trong lãi suất huy động không những làm ảnh hưởng mạnh đến chi phí kinh doanh, mà còn ảnh hưởng mạnh đến khả năng huy động vốn của ngân hàng. Nếu gia tăng lãi suất để thu hút và duy trì sự ổn định lượng tiền gửi của khách hàng thì có thể làm gia tăng chi phí, giảm thu nhập tiềm năng của ngân hàng. Ngược lại nếu ngân hàng cắt giảm lãi suất để tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh, thì lượng tiền gửi chắc chắn sẽ bị sụt giảm. Để giải quyết mâu thuẫn này, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, buộc các ngân hàng luôn phải duy trì lãi suất tiền gửi cạnh tranh để thu hút nguồn vốn tiền gửi không chỉ với các ngân hàng khác mà còn với các tổ chức tiết kiệm, với các công cụ của thị trường vốn như trái phiếu, kì phiếu, cổ phiếu. Sự cạnh tranh bằng lãi suất đầu vào sẽ làm cho mặt bằng lãi suất tăng lên. Đây là điều bất lợi cho sự phát triển của nền kinh tế. Để khắc phục tình trạng bất lợi này, NHNN cần có cơ chế tác động trực tiếp hoặc gián tiếp để giữ cho mặt bằng lãi suất ở mức hợp lí nhất.
1.4.1.2. Chất lượng dịch vụ của ngân hàng Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Chất lượng dịch vụ của ngân hàng phụ thuộc vào những yếu tố sau: Cơ sở hạ tầng kĩ thuật, mạng lưới hoạt động, sự đa dạng và tiện ích của sản phẩm dịch vụ và chất lượng đội ngũ nhân viên của ngân hàng.
Cơ sở hạ tầng kĩ thuật: Một ngân hàng muốn phát triển mặt chất lượng, chắc chắn phải có đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật và mạng lưới phục vụ. Ngân hàng nào có trụ sở khang trang, bề thế, hiện đại, tiện ích, chiếm giữ các vị trí địa lí đắc địa và thuận tiện chắc chắn sẽ tạo ấn tượng mạnh đối với khách hàng, nhờ đó có thể gia tăng vốn huy động mà không phải tăng lãi suất quá cao.
Mạng lưới hoạt động: Với những ngân hàng sát địa bàn dân cư hoặc gần với những trung tâm thương mại thì sẽ có thuận lợi khi thu hút vốn. Lẽ tự nhiên, khi dân chúng có tiền nhàn rỗi họ sẽ đến các chi nhánh ngân hàng gần nhà mình nhất để gửi, như thế vừa tiết kiệm thời gian đi lại vừa đảm bảo an toàn cho số tiền của họ. Ngày nay, các ngân hàng đều cố gắng mở thật nhiều chi nhánh để thu hút tiền gửi của người dân cũng như đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh khác. Với một mạng lưới chi nhánh rộng trải khắp đất nước, đến cả những vùng sâu vùng xa, các ngân hàng sẽ có điều kiện cấp các dịch vụ của mình cho người dân một cách chu đáo và tiện lợi nhất. Tuy nhiên để mở thêm nhiều chi nhánh thì các ngân hàng phải cân nhắc về khả năng vốn, khách hàng mục tiêu, địa điểm hoạt động và các yếu tố khác để tránh rơi vào tình trạng mất khả năng quản lý, kinh doanh không hiệu quả.
Sự đa dạng và tiện ích của sản phẩm dịch vụ: Các ngân hàng có dịch vụ tốt và đa dạng như dịch vụ điện tử Internet banking, Home banking, Mobile banking, Phone banking, đều đòi hỏi phải có đầu tư lớn để phát triển công nghệ ngân hàng tiên tiến. Sự phát triển của công nghệ điện tử và tin học sẽ là trợ thủ rất lớn cho ngân hàng phát triển nếu có sự đầu tư thỏa đáng.Công nghệ thông tin giữ một vai trò không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hoạt động ngân hàng luôn gắn liền với công nghệ thông tin ở hầu hết các nghiệp vụ từ việc nhận, nhập tiền gửi, hay thanh toán qua tài khoản khách hàng đến việc cho vay, đầu tư trên thị trường tài chính. Hệ thống công nghệ và thông tin càng hiện đại thì càng phục vụ hữu ích cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, giúp ngân hàng tiết kiệm thời gian, chi phí trong việc tìm kiếm, quản lý thông tin về khách hàng, thị trường cũng như toàn bộ ngân hàng. Đồng thời một hệ thống công nghệ và thông tin tốt cũng giúp cho việc triển khai các kế hoạch chiến lược huy động vốn của ngân hàng có hiệu quả tốt nhất, đồng thời sẽ gây được ấn tượng tốt đẹp với khách hàng.
Chất lượng đội ngũ nhân viên của ngân hàng: Chất lượng đội ngũ nhân viên của ngân hàng có vị trí quan trọng trong việc phát triển quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng. Với đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên nghiệp, khách hàng sẽ cảm thấy yên tâm hơn khi nhận được những lời khuyên nhủ và sự hướng dẫn của họ, và vì thế mà hình ảnh của ngân hàng sẽ có sức sống lâu dài hơn trong lòng khách hàng. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Về trình độ nghiệp vụ: Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng cao thì trong quá trình hoạt động kinh doanh, mọi thao tác nghiệp vụ đều được thực hiện nhanh chóng chính xác và có hiệu quả, từ đó ngân hàng có điều kiện mở rộng kinh doanh, giảm thấp chi phí hoạt động và thu hút được nhiều khách hàng.
Thái độ phục vụ khách hàng: Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến tâm lý cũng như tình cảm của người gửi tiền. Nếu các nhân viên ngân hàng luôn cởi mở nhiệt tình trong giao dịch với khách hàng, luôn tạo điều kiện tốt cho khách hàng thì sẽ gây được thiện cảm và uy tín đối với họ, sẽ ngày càng có nhiều khách hàng đến giao dịch, gửi tiền tại ngân hàng hơn.
1.4.1.3. Chính sách khách hàng
Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh ngân hàng, ngân hàng nào có chính sách khách hàng đúng đắn, ngân hàng đó sẽ thành công trong cả huy động vốn và cho vay. Chính sách khách hàng liên quan đền nguồn vốn, cần đặt khách hàng lên trên hết, tư tưởng coi khách hàng là Thượng đế cần được quán triệt sâu rộng trong mọi hoạt động của ngân hàng.
Trong công tác khách hàng, Ngân hàng thường chia khách hàng ra làm nhiều loại để có cách thức đối xử phù hợp. Với những khách hàng lâu năm giao dịch thường xuyên, có số dư tiền gửi lớn, được ngân hàng tín nhiệm, thì ngân hàng sẽ có một chính sách ưu đãi về lãi suất, kỳ hạn của món vay, cũng như thực hiện việc xét thưởng đối tác, có như vậy ngân hàng mới có khả năng thu hút khách hàng và tăng nhanh khả năng hoạt động vốn của mình. Để xây dựng được chiến lược khách hàng đúng đắn thì ngân hàng cần tìm hiểu động cơ thói quen mong muốn của người gửi tiền, thậm chí từng đối tượng khách hàng thông qua phân tích lợi ích của khách hàng. Trên cơ sở thông tin của khách hàng ngân hàng có thể đưa ra một hệ thống chính sách và biện pháp để có được quy mô và chất lượng nguồn vốn mong muốn. Hệ thống chính sách có thể gồm:
- Chính sách về giá cả lãi suất tiền gửi: tỷ lệ hoa hồng, chi phí dịch vụ hay còn gọi là chính sách giá cả các sản phẩm và dịch vụ tài chính.
- Chính sách trong phục vụ giao tiếp.
1.4.2. Các nhân tố khách quan Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Các nhân tố khách quan thường tác động trên diện rộng bao trùm toàn hệ thống ngân hàng. Nhân tố này bao gồm: Chính sách chỉ đạo của NHNN, hoạt động kinh tế xã hội, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường vốn…Tuy có tác động trên diện rộng, nhưng ngân hàng nào có nhận định và đánh giá đúng tình hình, dự báo sát thực sẽ tác động tích cực đến huy động vốn của ngân hàng
1.4.2.1 Chính sách chỉ đạo của ngân hàng Nhà nước.
NHNN ban hành các chính sách chỉ đạo về hoạt động nhằm đảm bảo các NHTM hoạt động theo đúng định hướng của nó, phù hợp và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Các chính sách của NHNN thay đổi theo từng thời kì, tùy thuộc vào chính sách kinh tế chung của nhà nước và sự phát triển của thị trường tài chính. Để kiểm soát việc huy động vốn của các NHTM, NHNN có các quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu… Tất cả những quy định, chính sách này được áp dụng cho tất cả các NHTM nên ảnh hưởng của chúng tới mỗi ngân hàng là rất khác nhau. Cụ thể:
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Các NHTM vừa phải đảm bảo tỷ lệ dữ trữ theo yêu cầu của NHNN vừa phải đáp ứng nhu cầu cho vay nên tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao sẽ khiến các ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy động vốn để cho vay. Khi đó chi phí huy động vốn của các NHTM sẽ phải cao hơn để thu hút càng nhiều vốn càng tốt, đồng thời vốn huy động để cho vay sẽ nhỏ hơn. Các ngân hàng nhỏ, vốn ít, khả năng huy động hạn chế thì tỷ lệ dự trữ cao sẽ trở thành một gánh nặng khó giải quyết.
Lãi suất chiết khấu: NHNN thực hiện tái chiết khấu vốn để cung ứng tiền ra lưu thông bằng biện pháp tái chiết khấu. Nếu chính sách tiền tệ nhằm chống lạm phát thì lúc đó NHNN cung ứng tiền ra lưu thông với lãi suất chiết khấu cao. Và như vậy, nguồn vốn vay từ NHNN của các NHTM sẽ bị hạn chế. Khi đó, các ngân hàng muốn tăng lượng vốn huy động sẽ phải tìm cách huy động từ các nguồn khác chứ không nên trông chờ vào việc đi vay NHNN.
1.4.2.2 Hoạt động kinh tế, xã hội của đất nước Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Hoạt động của các NHTM nằm trong hoạt động kinh tế chung của đất nước nên dĩ nhiên chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ sự tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế. Khi nền kinh tế vào thời kì tăng trưởng, sản suất phát triển tạo điều kiện tích luỹ nhiều hơn, do đó tạo môi trường cho việc thu hút vốn của ngân hàng thuận lợi hơn. Mặt khác , nó cũng tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi cho ngân hàng, từ đó ngân hàng phải tìm biện pháp để huy động vốn sao cho có hiệu quả thiết thực cho hoạt động kinh doanh của mình. Khi môi trường đầu tư mở rộng thì thu nhập của ngân hàng không ngừng phát triển, tạo tiền để cho việc mở rộng vốn tự có của ngân hàng. Khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát tăng làm thu nhập của người dân giảm khiến cho họ không muốn gửi tiền vào ngân hàng mà chuyển sang tích luỹ bằng các tài sản khác như: vàng, ngoại tệ mạnh… Lượng tiền gửi của ngân hàng sẽ sụt giảm cùng với việc môi trường đầu tư của ngân hàng bị thu hẹp do các doanh nghiệp không muốn vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh trong điều kiện sản suất thua lỗ.
Lạm phát làm giảm sức mua của đồng tiền. Lạm phát tác động tiêu cực đến tình hình huy động vốn của ngân hàng. Nó làm xói mòn sức mua lên mỗi đơn vị tiền tệ. Ngân hàng chỉ có thể khắc phục tác động này bằng cách duy trì một mức lãi suất thực dương hoặc đảm bảo bằng giá trị hiện vật.
Sự ổn định về chính trị có tác động rất lớn vào tâm lí và niềm tin của người gửi tiền. Nếu chính trị quốc gia ổn định, người dân sẽ tin tưởng gửi tiền vào hệ thống ngân hàng nhiều hơn. Ngân hàng sẽ là cầu nối hữu hiệu giữa tiết kiệm và đầu tư.
Môi trường kinh tế được hiểu là các yếu tố như tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập quốc dân, tỉ lệ thất nghiệp, lạm phát…có ảnh hưởng rất lớn tới nguồn tiền gửi tại các NHTM. Môi trường kinh tế ổn định thì nguồn tiền gửi tại các ngân hàng sẽ tăng cao. Ngược lại, nếu môi trường kinh tế không ổn định thì các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội sẽ chuyển thành các dạng đầu tư khác có giá trị bền vững và ổn định hơn như: vàng, nhà đất
1.4.2.3 Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường vốn
Trong quá trình thu hút vốn, các ngân hàng luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh không những của các ngân hàng trong ngành mà còn của các tổ chức tài chính khác. Sản phẩm tiền gửi của ngân hàng dễ bắt chước đòi hỏi các ngân hàng phải rất cố gắng trong việc đưa thêm những tiện ích vào sản phẩm cũng như triển khai những chương trình huy động vốn hấp dẫn nhằm thu hút được khách hàng. Bên cạnh đó, các ngân hàng còn bị cạnh tranh bởi các tổ chức tài chính khác như : Các công ty tài chính, quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm… Các tổ chức này tuy không có chức năng nhận tiền gửi như ngân hàng song lại có nhiều dịch vụ phong phú thu hút tiền đầu tư của người dân và các doanh nghiệp. Ngày này, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán lại càng khiến cho thị trường vốn của các ngân hàng thu hẹp lại, tạo nên sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút vốn. Do vậy để có thể thu hút được những nguồn vốn có chất lượng, các ngân hàng phải không ngừng đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn và nâng cao chất lượng phục vụ để thu hút và thoả mãn nhu cầu khách hàng.
1.4.2.4 Tâm lí, thói quen của người tiêu dùng Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Môi trường văn hóa là các yếu tố quyết định đến các tập quán sinh hoạt và thói quen sử dung tiền của người dân. Tùy theo đặc trưng văn hóa của mỗi quốc gia người dân có tiền nhàn rỗi sẽ quyết định hình thức giữ tiền ở nhà hay, gửi vào ngân hàng hay đầu tư vào lĩnh vực khác. Ở các nước phát triển, việc thanh toán không dùng tiền mặt và các dịch vụ tiện ích khác của ngân hàng đã khá quen thuộc, nhưng ở những nước đang phát triển như Việt Nam, người dân có thói quen giữ tiền hoặc tích trữ dưới dạng vàng hoặc ngoại tệ mạnh… làm cho lượng vốn được thu hút vào ngân hàng còn hạn chế.
Mức thu nhập và chu kì chi tiêu của người dân cũng là những yếu tố trực tiếp tác động đến lượng tiền gửi vào ngân hàng. Nhìn chung thu nhập của người dân càng cao; nhu cầu đầu tư và giao dịch của họ tăng lên tương đối so với nhu cầu tiêu dùng thì nhu cầu mở tài khoản cũng như gửi tiền vào ngân hàng sẽ tăng lên. Chu kì chi tiêu ảnh hưởng tới quy mô và tính ổn định của nguồn tiền. Vào những dịp nghỉ lễ trong năm, nguồn tiền tiết kiệm cũng như tiền gửi của doanh nghiệp có xu hướng giảm sút, đặc biệt là trong điều kiện thanh toán bằng tiền mặt còn phổ biến.
Có thể nói đây không phải yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới hiệu quả huy động vốn của ngân hàng những lại có giá trị ở chỗ nó khiến cho gần hết tiền nhàn rỗi trong dân cư được luân chuyển vào ngân hàng
1.5. Các phương pháp quản lý nguồn vốn
1.5.1. Thực hiện các biện pháp đồng bộ để khơi tăng nguồn vốn ngân hàng
1.5.1.1. Biện pháp kinh tế
Biện pháp kinh tế được coi là biện pháp quan trọng hàng đầu để gia tăng nguồn vốn huy động. Đây là biện pháp cho phép ngân hàng sử dụng các đòn bẩy kinh tế như lãi suất và công cụ khác để có thể gia tăng nguồn vốn huy động. Biện pháp này linh hoạt, nhạy bén có thể giúp ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn trong trường hợp cần thiết, cấp bách. Tuy nhiên, nếu sử dụng chính sách này không đúng sẽ gây ra những tổn hại cho ngân hàng, gia tăng chi phí.
1.5.1.2. Biện pháp kỹ thuật
Đây là biện pháp được sử dụng trong lâu dài, mang tính chiến lược, mang lại hiệu quả trong ngắn và dài hạn. Biện pháp này bao gồm các nội dung sau:
Cải tiến, nâng cấp máy móc thiết bị nhằm đảm bảo cho việc thanh toán được nhanh chóng, chính xác.
Đa dạng các sản phẩm huy động. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Hoàn thiện và phát triển mạng lưới huy động (mạng lưới này sử dụng con người làm hạt nhân; gồm các chi nhánh, phòng giao dịch, máy ATM, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…).
1.5.1.3. Biện pháp tâm lý
Biện pháp tâm lí là biện pháp tác động vào tâm lý, tình cảm khách hàng nhằm tạo lập và duy trì mối quan hệ tốt đẹp, lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng. Biện pháp này bao gồm:
Tuyên truyền, quảng bá về sản phẩm, hình ảnh ngân hàng. Từ đó nâng cao uy tín, bề thế và hình ảnh ngân hàng trong mắt khách hàng. Hình ảnh và thương hiệu mạnh mang lại niềm tin cho khách hàng khiến khách hàng không ngần ngại khi quyết định gửi tiền.
Phát triển đội ngũ cán bộ vừa thành thạo về chuyên môn vừa nắm vững chủ trương chính sách và có khả năng giao tiếp, ứng xử tốt với khách hàng. Điều này tạo nên sự thoải mái cho khách hàng; và tạo nên “điểm khác biệt” so với các ngân hàng bạn.
1.5.2. Sử dụng các công cụ cơ bản để tìm kiếm nguồn vốn
Khi nhu cầu vốn phát sinh vượt quá khả năng thanh khoản, ngân hàng vay theo thứ tự sau:
- Vay qua đêm: thực hiện trong trường hợp qua ngày tiếp theo, ngân hàng sẽ có nguồn thu tương ứng.
- Vay tái cấp vốn của
- Sử dụng các hợp đồng mua lại, chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn, vay Đôla châu Âu.
1.5.3. Đa dạng hoá các nguồn vốn huy động và tạo cơ cấu nguồn vốn sao cho phù hợp
Đối với các ngân hàng bán lẻ chủ yếu là cho vay ngắn hạn để bổ sung nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu vốn lưu động của cá nhân, doanh nghiệp nên trong tổng nguồn vốn, tiền gửi không kỳ hạn phải chiếm tỷ trọng cao để đảm bảo chi phí huy động vốn thấp. Đối với các ngân hàng thương mại quy mô lớn thì chủ yếu cho vay trung và dài hạn nên đòi hỏi nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao là các loại tiển gửi định kỳ, tiền gửi có kỳ hạn. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
1.5.4. Sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn
Để khuyến khích các ngân hàng thương mại mở rộng cho vay trung dài hạn, nhằm khuyến khích đầu tư, xây dựng các cơ sở sản xuất chế biến, khai thác tăng năng lực sản xuất, tăng khối lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cho nền kinh tế. Luật tổ chức tín dụng cho phép các ngân hàng thương mại được phép sử dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Trong từng thời kì và tùy theo tình hình thực tế mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định cụ thể tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn. Nếu nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại, có tỉ trọng vốn huy động có kì hạn cao,nhu cầu vay trung và dài hạn không tăng thì tỉ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn sẽ thấp, ngược lại tỉ lệ này sẽ được điều chỉnh tăng lên.
Hiện nay tỉ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn của tổ chức tín dụng được sử dụng để cho vay trung và dài hạn được quy định như sau:
- Đối với ngân hàng thương mại tỉ lệ tối đa là 40%
- Đối với các tổ chức tín dụng khác (công ty tài chính, Quỹ tín dụng nhân dân) tỉ lệ này là 30%
1.5.5. Thực hiện đầy đủ các nội dung cơ bản trong quản lí nguồn vốn
1.5.5.1. Xây dựng kế hoạch nguồn vốn
Các ngân hàng thương mại cần xây dựng kế hoạch nguồn vốn một cách đầy đủ chi tiết bao gồm: Số lượng, cơ cấu, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn so với năm trước, các phương án huy động vốn, chính sách lãi suất, công cụ sử dụng.
Việc xây dựng kế hoạch nguồn vốn phải đảm bảo cân đối giữa nguồn vốn với sử dụng vốn và đảm bảo khả năng thanh toán, đảm bảo cân đối ở trạng thái động. Do đó khi lập kế hoạch nguồn vốn nhà quản trị phải xuất phát từ cơ cấu và quy mô tài sản Có để quyết định cơ cấu quy mô tài sản nợ, phù hợp với khả năng quản lí và đảm bảo được hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Kế hoạch nguồn vốn của toàn bộ hệ thống ngân hàng phải được xây dựng trên cơ sở tổng hợp kế hoạch nguồn vốn của các chi nhánh và hội sở chính. Sau khi kế hoạch được duyệt sẽ giao chỉ tiêu tới các chi nhánh.
1.5.5.2. Tổ chức thực hiện công tác điều hành vốn trong toàn hệ thống
- Giao kế hoạch nguồn vốn trong kì cho từng chi nhánh và đơn vị trực thuộc
- Xác định hạn mức điều chuyển vốn trong nội bộ hệ thống và lãi suất điều chuyển vốn.
1.5.5.3. Phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Thực hiện phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch nguồn vốn trong từng thời kì của từng chi nhánh và toàn hệ thống, qua đó rút ra bài học thực tiễn trong quản trị nguồn vốn, khắc phục khó khăn tồn tại, phát huy ưu điểm và lợi thế để ổn định và gia tăng nguồn vốn huy động.
Theo dõi việc thực hiện chính sách lãi suất trong toàn bộ hệ thống, xác định mức lãi suất bình quân cho vay và huy động của từng chi nhánh cũng như toàn bộ hệ thống, để điều chỉnh kịp thời các mức lãi suất phù hợp với diễn biến của thị trường tiền tệ và yêu cầu kinh doanh trong từng thời kì
1.5.5.4. Thực hiện đúng quy trình Quản lí nguồn vốn của ngân hàng
Mỗi ngân hàng thương mại đều phải xây dựng quy trình quản lí nguồn vốn cho riêng mình. Quy trình quản lí nguồn vốn của mỗi ngân hàng đều có nét riêng, dựa trên đặc điểm và lợi thế của mỗi ngân hàng. Tuy nhiên về cơ bản, quy trình này có những nét chung như sau :
- Tại Hội sở chính
- Xây dựng dự thảo kế hoạch kinh doanh tổng thể:
Cơ quan đầu lão của toàn bộ hệ thống, cần có kế hoạch tổng thể về phát triển hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống. Dự thảo kế hoạch nhằm đưa ra định hướng và mục tiêu trong kế hoạch kinh doanh tổng thể. Dự thảo kế hoạch kinh doanh tổng thể cũng là căn cứ để xây dựng kế hoạch nguồn vốn của ngân hàng.
- Chiến lược phát triển dài hạn của toàn hệ thống
Các mục tiêu cần đạt được: Tăng trưởng hàng năm về tổng tài sản, nguồn vốn, dư nợ tín dụng. Các chỉ tiêu về chất lượng và hiệu quả kinh doanh: Tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và các chỉ tiêu liên quan đến nguồn vốn: Nguồn vốn không kì hạn, nguồn vốn có kì hạn, phát hành kì phiếu, trái phiếu, tỷ trọng vốn huy động bằng VNĐ và ngoại tệ…
- Giao kế hoạch nguồn vốn cho các chi nhánh.
- Lập kế hoạch nguồn vốn Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Đầu năm phòng nguồn vốn xây dựng kế hoạch nguồn vốn cho cả hệ thống gồm số lượng, cơ cấu nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng so với năm trước, đồng thời đề ra các biện pháp để thực hiện kế hoạch.
Sau khi tổng hợp, phân tích kế hoạch nguồn vốn của các chi nhánh, phòng nguồn vốn sẽ xây dựng chỉ tiêu nguồn vốn nói chung và chỉ tiêu huy động vốn nói riêng đến từng chi nhánh và các phòng tại Hội sở chính, lên kế hoạch cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn chung toàn ngành, chi tiết từng chi nhánh.
- Thực hiện huy động vốn và điều hòa vốn trong hệ thống
Phát triển kênh huy động vốn truyền thống: Nhận tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn của cá nhân và doanh nghiệp, tiền gửi tiết kiệm của cá nhân, phát hành kì phiếu, trái phiếu chủ yếu với các khách hàng lớn về vốn, các tổ chức tín dụng khác. Vay vốn của NHNN, các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác trong và ngoài nước. Huy động vốn qua thị trường mở…
- Thực hiện điều hòa vốn trong toàn hệ thống:
Phòng nguồn vốn chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện công tác điều hòa vốn trong toàn hệ thống, đồng thời chịu trách nhiệm đảm bảo khả năng thanh toán nhanh của toàn hệ thống.
Triển khai thực hiện công tác điều hòa vốn đối với các chi nhánh, xác định hạn mức điều chuyển vốn đối với từng chi nhánh cụ thể. Hạn mức điều chuyển vốn là giới hạn tối thiểu của số vốn chi nhánh điều chuyển về Hội sở chính và giới hạn tối đa của số vốn chi nhánh nhận điều chuyển từ Hội sở chính.
Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch và tiến độ thực hiện công tác nguồn vốn từng thời kì qua cân đối vốn.
Kiểm tra việc thực hiện chính sách lãi suất, mức chênh lệch lãi suất bình quân tại các chi nhánh.
Điều chỉnh chỉ tiêu nguồn vốn cho chi nhánh cần thiết.
- Tại các chi nhánh
- Lập kế hoạch nguồn vốn
Kế hoạch nguồn vốn của chi nhánh phải được dựa vào các nội dung như chính sách phát triển kinh tế của địa phương kết hợp với mục tiêu tăng trưởng nguồn vốn của toàn hệ thống ngân hàng, mục tiêu kinh doanh của chi nhánh, kết quả huy động vốn của kì trước, thị phần huy động vốn trên địa bàn, chu kì tăng trưởng vốn trong các năm trước và dự đoán xu hướng tăng trưởng nguồn vốn trong năm kế hoạch. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
Kế hoạch nguồn vốn của chi nhánh được xây dựng trên cơ sở kế hoạch huy động vốn của các đơn vị kinh doanh trực tiếp, như chi nhánh khu vực và các phòng giao dịch, phòng tín dụng, phòng nguồn vốn và các phòng có liên quan khác.
Phòng nguồn vốn là đơn vị chuyên trách trong việc xây dựng kế hoạch nguồn vốn của chi nhánh. Trên cơ sở tổng hợp kế hoạch huy động vốn có kèm theo các giải pháp thực hiện của các đơn vị trực thuộc, kết hợp với việc phân tích môi trường kinh doanh, phân tích các mặt mạnh, mặt yếu của chi nhánh, phòng nguồn vốn tiến hành xây dựng kế hoạch nguồn vốn. Kế hoạch nguồn vốn này khi xây dựng phải chú trọng đến kế hoạch huy động vốn của toàn chi nhánh, tính toán tổng nguồn vốn huy động, cơ cấu kì hạn, loại tiền phù hợp với tổng số, cơ cấu kì hạn và loại tiền dự kiến của tài sản có.
- Thực hiện công tác huy động vốn và nhận điều chuyển vốn
Xây dựng chính sách lãi suất phù hợp với chính sách tín dụng, chính sách khách hàng đồng thời dự kiến các biện pháp và công cụ huy động vốn.
Xác định lãi suất huy động vốn căn cứ vào chính sách lãi suất, phù hợp với mặt bằng lãi suất của hệ thống ngân hàng và yêu cầu kinh doanh.
Điều chỉnh kế hoạch nguồn vốn cho phù hợp với chỉ tiêu Hội sở chính giao.
Giao chỉ tiêu huy động vốn cho các đơn vị trực thuộc phù hợp với khả năng của từng đơn vị.
Triển khai thực hiện huy động vốn theo kế hoạch tại chi nhánh: Các đơn vị thuộc chi nhánh lập bảng ước tính nhu cầu chi trả hàng ngay, tuần, tháng, quý, từ bảng dự kiến đó phòng nguồn vốn xây dựng dự báo lưu chuyển dòng tiền mặt làm căn cứ điều hòa vốn trong toàn chi nhánh. Chi nhánh điều chuyển về hội sở chính, hoặc nhận điều chuyển từ Hội sở chính theo hạn mức điều chuyển và lãi suất điều chuyển đã được giao. Hàng ngày, phòng nguồn vốn lập bảng cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn gửi ban giám đốc để điều hành, riêng bảng cân đối tháng gửi phòng nguồn vốn Hội sở chính để tổng hợp cân đối chung toàn hệ thống.
Trong quá trình triển khai, căn cứ vào tình hình thực hiện cụ thể, trên cơ sở phân tích đánh giá nguyên nhân , chi nhánh có thể đề nghị hội sở chính điều chỉnh các chỉ tiêu nguồn vốn.
Định kì chi nhánh thực hiện đánh giá công tác thực hiện kế hoạch nguồn vốn, so sánh tiến độ thực hiện với các năm trước, chỉ rõ mặt được, chưa được để rút kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp và các điều kiện để chuẩn bị cho việc xây dựng kế hoạch nguồn vốn và thực hiện cho năm sau. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SeABank


Pingback: Khóa luận: Giải pháp huy động vốn tại Ngân hàng SeABank
Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng SeABank