Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư”, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư tại công ty cổ phần chứng khoán KimEng Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

3.1. Áp dụng mô hình Markowitz vào xây dựng danh mục đầu tư cổ phiếu theo ngành

3.1.1. Mục đích xây dựng DMĐT cổ phiếu theo ngành

Hiện tại, Công ty Kim Eng Hải Phòng đang áp dụng cho khách hàng vay đầu tư theo mã cổ phiếu. Tuy nhiên, việc cho vay theo mã cổ phiếu khó kiểm soát được rủi ro. Giới đầu cơ đã lợi dụng hình thức này để kiếm lời, gây thiệt hại cho công ty chứng khoán, nổi lên là hiện tượng đầu cơ nâng giá của cổ phiếu AAA trong thời gian vừa qua. Một nhóm nhà đầu tư đẩy giá cổ phiếu lên cao, sau đó lại sử dụng chính dịch vụ cho vay tiền của công ty chứng khoán với một tỷ lệ cao, để mua vào cổ phiếu. Cuối cùng, nhóm nhà đầu tư này bỏ tài khoản chạy cùng với khoản lợi nhuận lớn, và công ty chứng khoán trở thành nạn nhân. Khi đó, công ty chứng khoán vừa bị mất khoản tiền cho vay, vừa bị mất khách hàng. Vì vậy, công ty cần phải có giải pháp quản lý danh mục cho vay hiệu quả để giữ được chân khách hàng, tăng doanh thu cho công ty.

Giải pháp áp dụng mô hình Markowitz xây dựng danh mục đầu tư cổ phiếu theo ngành, thực hiện cho khách hàng vay đầu tư theo nhóm ngành nhằm hạn chế rủi ro cho vay theo mã cổ phiếu như trên. Việc nghiên cứu áp dụng lý thuyết này vào hoạt động đầu tư nói chung và hoạt động quản lý danh mục đầu tư nói riêng sẽ là sự bổ sung quan trọng vào các phương pháp phân tích, nâng cao hiệu quả đầu tư, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam.

3.1.2. Nguồn dữ liệu áp dụng mô hình Markowitz vào quản lý danh mục đầu tư.

Mô hình Markowitz và các lý thuyết đầu tư hiện đại được phát triển dựa trên các khái niệm như lợi nhuận kỳ vọng, phương sai kỳ vọng…Điều đó có nghĩa là phải dự kiến được các kịch bản có thể xảy ra đối với lợi nhuận của các chứng khoán trong tương lai và xác định xác suất xảy ra các kịch bản này. Tuy nhiên ngay cả tại các thị trường chứng khoán phát triển, việc dự kiến các kịch bản xảy ra cũng như dự kiến xác suất xảy ra là một việc làm khá khó khăn, đồng thời có mức độ tin cậy không cao. Chính vì vậy, sử dụng dữ liệu quá khứ vẫn là phương pháp thường được sử dụng nhất. Khi đó các thông số như lợi nhuận trung bình, phương sai, … được ước lượng từ dữ liệu quá khứ và coi các số liệu quá khứ này như lợi nhuận kỳ vọng, phương sai kỳ vọng,…

  • Nguồn dữ liệu

Tính đến cuối tháng 5 năm 2025, trên thị trường chứng khoán Việt Nam có khoảng 712 mã cổ phiếu niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, phân chia trong khoảng 10 nhóm ngành chính.

  • Cách thức áp dụng

Căn cứ vào thời hạn đầu tư, có thể tổ chức dữ liệu theo các thời kỳ khác nhau như 1 năm, 6 tháng, 1 quý, 1 tháng. Đề tài tiến hành lựa chọn thời hạn đầu tư theo tháng và tổ chức dữ liệu theo tháng.

3.1.3. Phân tích tình hình kinh tế Việt Nam Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư.

Kinh tế thế giới trải qua năm 2024 đầy sóng gió với dấu ấn sâu đậm là cuộc khủng hoảng kinh tế đã lan rộng trên phạm vi toàn cầu. Cùng với thế giới Việt nam vừa trải qua một năm khó khăn cho phát triển kinh tế:

Tăng trưởng GDP 5,89% thấp hơn năm 2023 (6,82%). Tuy mức tăng trưởng GDP không đạt mức cao như kì vọng nhưng điều đáng ghi nhận là mức tăng trưởng của khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng mạnh. GDP bình quân đầu người ước đạt 1,160 USD, Việt Nam đã ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình

Lạm phát tăng cao 18,58%, tuy nhiên có dấu hiệu cho thấy Chính phủ đang làm tốt công tác kiểm soát của mình: chỉ số CPI tăng cao trong những tháng đầu năm và giảm dần vào cuối năm. Trong 4 tháng cuối năm CPI chỉ tăng dưới 1% mỗi tháng và tháng sau thấp hơn tháng trước.

Nhập siêu có xu hướng giảm dần: ước tính nhập siêu năm 2024 khoảng 10 tỷ USD, trong đó, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt gần 96 tỷ USD, tổng kim ngạch xuất khẩu ước khoảng 87 tỷ USD. Mỹ vẫn là thị trường dẫn đầu xuất khẩu của Việt Nam, sau đó là châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc…

Cán cân thanh toán không những không bị thâm hụt mà còn đạt được thặng dư khoảng 3 tỷUSD, trong khi thâm hụt thanh toán năm 2022 là 8.8 tỷUSD và năm 2023 là 3.07 tỷUSD. Nhờ nguồn thặng dư này mà tình hình dự trữ ngoại hối quốc gia năm 2024 đã bớt căng thẳng hơn. Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư.

Tỷ giá VND/USD: Trong những tháng cuối năm 2024 nhà nước đã ban hành những chính sách mang tính chất kiềm chế tỷgiá, mang lại tâm lí bình ổn cho thị trường, giảm thiếu tính đầu cơ do kiềm chế chợ đen ngoại tệ thành công. Tính đến hết tháng 12 năm 2024, đồng nội tệ đã bị suy yếu ở mức 7% so với USD. Ngày 26/12, Ngân hàng Nhà nước đã giữ tỷ giá liên ngân hàng ở mức USD/VND = 20.828, cao nhất trong lịch sử.

Tình hình kinh tế Việt Nam năm 2025 được dự báo tăng trưởng chậm lại. Theo Báo cáo triển vọng Phát triển chấu Á 2025 của Ngân hàng Phát triển châu (ADB), dự báo tăng trưởng GDP năm 2025 của Việt Nam sẽ giảm xuống mức 5,7%, thấp hơn các mức 6,3% và 6,5% như dự báo từ năm 2024.

Tuy nhiên, ADB cũng cho rằng tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể phục hồi lại mức 6,2% trong năm 2026 nhờ cải thiện triển vọng phát triển toàn cầu đối với thương mại và đầu tư, và khả năng tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ trong năm tới.

ADB cũng dự báo lạm phát trung bình của Việt Nam trong năm 2025 có thể giảm xuống mức sát dưới ngưỡng hai con số (khoảng 9,5%), với điều kiện các chính sách được tiếp tục duy trì chặt chẽ. Theo ADB, lạm phát trung bình trong năm 2026 của Việt Nam sẽ tăng lên mức 11,5%. Nguyên nhân là do tăng trưởng kinh tế và dự đoán về giá lương thực thế giới tăng cao, cũng như tăng giá điện và nhiên liệu trong nước.

Liên quan đến chính sách tiền tệ, một trong những cảnh báo được ADB đưa ra là tình trạng lãi suất thực âm (lãi suất huy động thấp hơn tỷ lệ lạm phát) sẽ tác động đến tính tiết kiệm thực của khách hàng gửi tiền VND. Tính từ đầu năm 2025 đến nay, lãi suất huy động của thị trường ngân hàng đã giảm từ 2 – 3% và lãi suất cho vay cũng giảm từ 1 – 4%. Cuối tháng 5, NHNN đã giảm trần lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 1 tháng trở lên từ 12% xuống 11%/năm, nhằm kích thích tăng trưởng tín dụng. Việc hạ lãi suất quá nhanh có thể đặt VND dưới những áp lực mới. Điều này sẽ giảm hiệu quả những nỗ lực ổn định kinh tế vĩ mô, ảnh hưởng đến niềm tin của nhà đầu tư và người tiêu dùng và làm suy yếu dự trữ ngoại hối. Dự trữ ngoại hối của Việt Nam tại thời điểm quý I năm nay vào khoảng 17 tỷ USD tương đương với 2 tháng nhập khẩu, vẫn là mức thấp hơn so với tiêu chí của World Bank là 2,5 tháng và thấp hơn tỷ lệ của các quốc gia trong khu vực. Trong số các đồng tiền khu vực, VND giảm giá mạnh nhất so với USD, giảm 7,2% khiến thâm hụt tài khoản vãng lai mở rộng và giảm dự trữ ngoại hối.

Ngoài ra, tiêu dùng cá nhân trong năm 2025 sẽ nhận được hỗ trợ từ việc lạm phát giảm nhiệt. Đầu tư nhiều khả năng sẽ vẫn suy yếu, trong bối cảnh những bất ổn của ngành tài chính, và chi tiêu vốn của chính phủ được dự đoán sẽ giữ nguyên. Tăng trưởng xuất khẩu sẽ chậm lại so với năm 2024, do thương mại toàn cầu yếu hơn. Theo ADB, tài khoản vãng lai được dự báo sẽ ở mức thâm hụt tương đương với 1,5% GDP trong năm 2025 và 2,2% trong năm 2026, chủ yếu do việc xuất khẩu sụt giảm. Xuất nhập khẩu tăng trưởng chậm do ảnh hưởng của giá cả và kinh tế thế giới, làm cho hoạt động của các doanh nghiệp càng gặp khó khăn hơn. Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư.

Trong năm 2025, điều kiện kinh tế thế giới đang trong giai đoạn khó khăn, chưa có tín hiệu phục hồi. Ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đang trong tình trạng đóng cửa, thiếu vốn vì lãi suất cao. Bên cạnh đó, năm 2025 cũng là năm bắt đầu thực hiện lộ trình tái cơ cấu kinh tế theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11. Có thể thấy triển vọng kinh tế – tài chính Việt Nam năm 2025 chưa mấy khả quan, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn hơn.

Năm 2024 cũng là một năm thực sự khó khăn của thị trường chứng khoán thế giới cũng như chứng khoán Việt nam. Diễn biến thị trường thể hiện xu hướng giảm điểm trong cả năm 2024, thị trường chứng kiến 2 làn sóng bán tháo vào tháng 5 năm 2024 do chính sách thắt chặt tiền tệ cũng như hạn chế và kiểm soát tín dụng phi sản xuất khiến các công ty chứng khoán đẩy mạnh việc bán ra cổ phiếu cho vay – đòn bảy tài chính. Làn sóng thứ 2 diễn ra trong cuối năm 2024 và những ngày đầu năm 2025, do ngân hàng nhà nước công bố chính sách thắt chặt tín dụng phi sản xuất về 22% cũng như hiệu ứng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu và triển vọng về kinh tế Việt Nam bị lung lay trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài khiến cho các quỹ cũng như nhà đầu tư đang tiến hành thoái vốn cũng như tái cơ cấu lại danh mục. Hiện tại các cổ phiếu đã đang đứng ở mức giá có thể coi là “rẻ nhất chưa từng thấy” nhưng vẫn chưa chứng tỏ được hấp dẫn của mình do bất ổn từ vĩ mô.

Không dễ để thị trường chứng khoán hồi phục trở lại sau giai đoạn giảm mạnh năm 2021 – 2023, khi kinh tế chung còn nhiều khó khăn, doanh nghiệp đang chịu nhiều áp lực. Tuy nhiên, việc nhìn ra những tồn tại yếu kém của thị trường và có hành động cụ thể của cơ quan quản lý đang được nhiều nhà đầu tư kỳ vọng sẽ giúp thị trường ổn định và khởi sắc hơn.

Năm 2025, xu hướng giảm lãi suất được xem là động lực giúp đảo ngược được tình trạng thua lỗ của các doanh nghiệp và giúp thị trường chứng khoán tăng điểm mạnh mẽ. Mặt khác, ngày 1/3/2025, thủ tướng chính phủ đã ký quyết định số 252/QĐ – TTg, phê duyệt chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2024 – 2020 với các giải pháp tổng thể, dài hạn nhằm phát triển thị trường chứng khoán ổn định, vững chắc, tăng quy mô và chất lượng hoạt động, đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả và trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn của nền kinh tế. Khi ấy, thị trường chứng khoán sẽ sôi động trở lại, thu hút các nhà đầu tư tham gia vào thị trường.

3.1.4. Lựa chọn các ngành trong danh mục đầu tư Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư.

Mục đích của việc đầu tư chứng khoán là thu lợi nhuận từ cổ tức, trái tức nhưng cũng có thể là từ chênh lệch giá do kinh doanh chứng khoán đem lại. Vấn đề an toàn về vốn trong đầu tư chứng khoán rất quan trọng. Thực tế đã chứng minh, vấn đề nền kinh tế đang ở trong giai đoạn nào quyết định rất nhiều đến kết quả hoạt động của các ngành khác nháu. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng chậm, không ổn định theo như dự báo của Ngân hàng Phát triển Châu Á, các nhà đầu tư thường quan tâm nhiều hơn đến những ngành tăng trưởng, những ngành này thường ít phụ thuộc vào nền kinh tế.

Những ngành kinh doanh nhiều triển vọng là các ngành có chỉ số thu lời khá tốt hiện nay. Các nhóm ngành được kỳ vọng trong năm 2025:

Nhóm ngành hàng tiêu dùng: có yếu tố cơ bản tốt hơn mặt bằng chung, đặc biệt là tăng trưởng lợi nhuận và thu nhập cơ bản trên cổ phiếu (EPS). Đây là nhóm ngành thường có tỷ lệ vay thấp, thị trường và tỷ suất lợi nhuận ổn định, tăng trưởng cao. Việt Nam đang có dân số trẻ, thu nhập trung bình ngày càng tăng và tạo ra một thị trường tiêu dùng có mức tăng trưởng ổn định. Ngành hàng tiêu dùng, đặc biệt ngay cả trong giai đoạn kinh tế suy thoái, là lĩnh vực chịu tác động thấp nhất, vẫn giữ được mưc tăng trưởng, bởi dù có khó khăn đến mấy, người dân vẫn phải chi tiêu cho những nhu những cầu thiết yếu của mình. Một số ngành đáng chú ý như: thực phẩm, đồ uống, hàng gia dụng…

Nhóm ngành tài chính: được hưởng lợi khá nhiều từ các chính sách kích cầu cũng như sự hồi phục của nền kinh tế và thị trường. Một số ngành đáng chú như sau: ngành ngân hàng, tài chính, bất động sản (hiện nay mặt bằng giá vẫn khá thấp, và sẽ tăng mạnh hơn thị trường khi thị trường hồi phục). Đây là những ngành có giá trị vốn hóa thị trường lớn do đặc thù hoạt động kinh doanh. Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư.

Nhóm ngành nguyên vật liệu: hóa chất, khoáng sản…là một trong những ngành nhận được sự kỳ vọng của nhà đầu tư bởi tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh luôn cao hơn so với mức bình quân chung của thị trường và được Nhà nước thường xuyên có những chính sách ưu tiên hỗ trợ. Mặt khác, lạm phát không ảnh hưởng nhiều tới nhóm ngành này, bởi chi phí đầu vào, chi phí hoạt động không tăng nhiều khi lạm phát xảy ra. Nhưng với ưu thế khai thác độc quyền, sản lượng tăng mạnh, nhu cầu sử dụng lớn, giá các sản phẩm đầu ra như than đá, đồng, kẽm, cao su…lại tăng cao.

Nhóm ngành khác: du lịch, dầu khí, y tế, công nghệ thông tin… Sản phẩm của ngành y tế thuộc nhóm sản phẩm thiết yếu, nhu cầu luôn được duy trì tăng trưởng ở mức cao và ít biến động lớn ngay cả khi kinh tế suy thoái. Ngành dầu khí có kết quả kinh doanh những tháng đầu năm tương đối khả quan, doanh thu và sản lượng tiêu thụ tăng mạnh…..

3.1.4.1. Ngành Thực phẩm, đồ uống

Nền kinh tế Việt Nam được đánh giá khó khăn và ảm đạm trong năm 2024 khi lạm phát tăng cao, tăng trưởng chậm lại và các biện pháp thắt chặt chính sách tiền tệ, kiềm chế lạm phát của Chính phủ. Khi giá nguyên liệu đầu tăng ảnh hưởng hoạt động kinh doanh, các nguyên liệu đầu vào có xu hướng tăng, giá điện và xăng dầu tăng 10- 15%, giá bán sản phẩm đầu ra dự kiến giá tăng mức từ 15-22%, sẽ ảnh hưởng doanh thu và lợi nhuận doanh nghiệp hoạt động trong ngành. Lo ngại về tình hình lạm phát cao, kèm theo đó về chính sách tiền tệ được thực hiện gây khó khăn cho nền kinh tế. Nhà sản xuất (doanh nghiệp) sẽ đối mặt với chi phí đầu vào tăng, giá sản phẩm đầu ra tăng làm giảm nhu cầu và lợi nhuận của doanh nghiệp chững lại và giảm trong giai đoạn tới.

Tuy nhiên, Thị trường Việt nam với dân số trẻ và đông, quá trình đô thị hóa tại Việt Nam đang diễn ra nhanh chóng, cũng như phát triển nhanh của nền kinh tế mới nổi. Hơn thế nữa, Việt Nam đang trong giai đoạn mở cửa và hội nhập, sự ảnh hưởng của lối sống phương Tây cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của thực phẩm đồ uống. Thu nhập của người dân được cải thiện nâng cao khuyến khích nhu cầu thực phẩm – đồ uống, đặc biệt những loại hàng hóa thực phẩm không phải thiết yếu như sữa, bánh kẹo tăng nhanh, đồng thời nhu cầu ngày càng đa dạng hơn và chất lượng cao hơn. Do đó, ngành này vẫn rất hấp dẫn và đầy tiềm năng trong trung và dài hạn. Năm 2025, ngành thực phẩm đồ uống vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức cao và ổn định trên 11%. Trong đó, tiêu dùng thực phẩm vẫn duy trì mức tăng 10 – 16% và thị trường đồ uống cũng duy trì mức tăng 12-17%, tuy nhiên đồ uống có cồn (bia duy trì tăng trưởng ổn định 18% trong giai đoạn này).

Khi giá nguyên liệu đầu vào tăng, ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh, giá điện và xăng dầu tăng 10 – 15%, giá bán sản phẩm đầu ra dự kiến tăng ở mức từ 15-22%, sẽ ảnh hưởng doanh thu và lợi nhuận doanh nghiệp hoạt động trong ngành.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành thực phẩm – đồ uống do ít bị ảnh hưởng bởi lãi suất và lạm phát nên các doanh nghiệp đã vượt qua khó khăn này và đạt được mức lợi nhuận tốt hơn những ngành khác. Ngành thực phẩm – đồ uống được đánh giá là một trong số những ngành an toàn để đầu tư khi vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức ổn định, do các doanh nghiệp chủ động trong khả năng thay đổi giá bán và cân bằng gia tăng chi phí đầu vào, đây là một lợi thế rất lớn của công ty hoạt động trong ngành này. Chỉ tính riêng giá trị sản xuất công nghiệp trong năm 2024 đạt ở khoảng 650.689 tỷ đồng, tăng 6,8% so với năm 2023, trong đó ngành thực phẩm – đồ uống chiếm tỷ trọng cao nhất khoảng 10%, tăng 11.6% so với năm 2023. Trong đó, ngành lương thực tăng 11.2%, còn đồ uống thì duy trì ở mức cao hơn, đồ uống có cồn tăng 20.9% và đồ uống không cồn tăng nhẹ ở mức 7.4% theo doanh số bán. Tốc độ này vẫn dự báo sẽ còn tăng trưởng mạnh mẽ trong giai đoạn từ nay đến năm 2016 mặc dù nền kinh tế thế giới và Việt Nam vẫn còn khó khăn. Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư.

Bên cạnh đó, thu nhập của người dân đang được cải thiện, nâng cao, khuyến khích nhu cầu thực phẩm – đồ uống, đặc biệt những loại hàng hóa thực phẩm không phải thiết yếu như sữa, bánh kẹo tăng nhanh, đồng thời nhu cầu ngày càng đa dạng hơn và chất lượng cao hơn. Năm 2025, Ngành thực phẩm – đồ uống sẽ vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng ở11%-17%.

3.1.4.2. Ngành tài chính ngân hàng

Năm 2024 tiếp tục là một năm khó khăn với ngành ngân hàng với những diễn biến kinh tế vĩ mô phức tạp trong 8 tháng đầu năm. NHNN và toàn ngành ngân hàng đã triển khai thực hiện các giải pháp, chính sách tiền tệ chặt chẽ và thận trọng. Các NHTM vẫn giữ được mức tăng trưởng tốt, lợi nhuận trung bình trên 20%.

Lãi suất huy động tăng cao ở những tháng đầu năm, nhưng từ tháng 9/2024, hầu hết các NHTM thực hiện nghiêm túc quy định của NHNN về trần lãi suất huy động bằng VND ở mức không quá 14%/năm.

Thị trường ngoại hối ổn định hơn sau khi tăng giá mạnh vào đầu năm, chênh lệch tỷ giá thị trường chính thức và thị trường tự do được thu hẹp, trạng thái ngoại hối của các ngân hàng được cải thiện. Dự trữ ngoại hối đã tăng từ 3,5 tuần nhập khẩu trong quý I/2024 lên khoảng 7,5 tuần nhập khẩu vào quý III/2024.

Năm 2025, nền kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng sẽ tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế thế giới dự báo vẫn còn nhiều bất ổn. Trong nước, lạm phát đã giảm, song vẫn đứng ở mức cao, sản xuất kinh doanh tiếp tục khó khăn. Ngày 13/03/2025, NHNN chính thức hạ trần lãi suất huy động xuống 13%/năm trên cơ sở CPI của tháng 3 chỉ ở mức 0,16%. Chưa đầy một tháng sau đó, NHNN tiếp tục hạ trần lãi suất huy động xuống 12% ngay trong đầu quý II theo đúng lộ trình mỗi quý giảm 1% lãi suất và dần đưa trần lãi suất về 10% vào thời điểm cuối năm, đi cùng với xu hướng giảm của tăng trưởng CPI. Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư.

Một số ngân hàng lớn hiện nay đã tiến hành giảm dần lãi suất cho vay với một số lĩnh vực vay nhất định. Ngoài ra, vấn đề thanh khoản của các ngân hàng nhỏ đang được NHNN từng bước tháo gỡ, từ đó hạn chế những ngân hàng này phụ thuộc vào nguồn vốn trên thị trường liên ngân hàng. Do đó nguồn thu nhập từ lãi trong năm 2025 của các NH có thể bị giảm bớt, đặc biệt là lãi từ hoạt động liên ngân hàng, khi giới hạn tăng trưởng tín dụng cao nhất chỉ ở mức 17%. Thay vào đó, nhiều ngân hàng sẽ đẩy mạnh các nguồn thu khác, trong đó có thu nhập từ hoạt động dịch vụ. Trong thực tế, một số ngân hàng gần đây đã bắt đầu tiến hành thu thêm một số loại phí như phí sử dụng internet banking với trường hợp của EIB và phí giao dịch ATM với trường hợp của VCB. Điều này cho thấy cơ cấu thu nhập của các ngân hàng có thể chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng thu lãi và tăng thu nhập phi lãi (mà cụ thể là phí dịch vụ) trong năm 2025. Sau những khó khăn của khủng hoảng thời gian vừa qua, các NHTM đã xem xét lại chiến lược hoạt động, tái cơ cấu cấu trúc hoạt động. Thêm vào đó, quá trình cải tổ hệ thống NHTM của NHNN đã giúp các NHTM nâng cao được chất lượng quản trị rủi ro.

Trong quý I/2025, nhóm cổ phiếu ngân hàng, đặc biệt cổ phiếu VCB (Vietcombank) trở thành cổ phiếu vốn hóa lớn nhất TTCK, VietinBank (CTG) được xem là cổ phiếu minh bạch, tăng giá mạnh nhất với mức trên 60%, ACB giữ giá cực tốt… là những điểm sáng của cổ phiếu ngân hàng khi TTCK suy giảm trong những ngày qua.

3.1.4.3. Ngành khoáng sản

Ngành khoáng sản là một trong những ngành nhận được sự kỳ vọng của nhà đầu tư bởi tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh luôn cao hơn so với mức bình quân chung của thị trường.

Tính đến ngày 09/02, doanh nghiệp ngành khoáng sản đều ghi nhận lãi trong năm 2024. Có những doanh nghiệp có lợi nhuận sau thuế gấp 9 lần cùng kỳ nhưng cũng có những doanh nghiệp lời chưa đến 1 tỷ đồng. Kết thúc năm 2024, nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác, chế biến khoáng sản đạt kết quả kinh doanh rất khả quan, chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế gấp đến 3, 4 lần, có doanh nghiệp gấp đến 9 lần năm 2023. Cụ thể, 4 doanh nghiệp đứng đầu ngành về lãi ròng năm 2024 tính đến ngày 09/02 là SQC (gấp 9 lần cùng kỳ), BGM (gấp 5 lần), BMC (gấp 4 lần) và HGM (gấp 3 lần).

Có thể nói, 2024 là một năm được mùa đối với các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) khi hầu hết các đơn vị này đều có lãi ròng tăng tương đối so cùng kỳ. Cụ thể, TVD tăng 80% so với năm trước, TC6 tăng 71%, TDN tăng 46%, THT tăng 17% và TCS tăng nhẹ 7%. Chỉ có hai doanh nghiệp lãi ròng giảm nhẹ là MDC (giảm 1%) và NBC (giảm 7%).

Triển vọng của ngành khai khoáng trong những tháng cuối năm 2025 và trong thời gian tới có khả năng tiếp tục tích cực. Với tiềm năng của ngành khoáng sản Việt Nam rất lớn khi sở hữu hơn 5,000 điểm mỏ với hơn 60 loại khoáng sản được phát hiện và khai thác trải dài khắp cả nước. Sự phục hồi của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là Trung Quốc – một trong những nước có nhu cầu khoáng sản lớn nhất hiện nay, là yếu tố thúc đẩy ngành khoáng sản trong nước.

Các cổ phiếu khoáng sản hấp dẫn và trở thành tâm điểm săn lùng của các nhà đầu tư. Theo các chuyên gia tài chính, hầu hết các công ty trong ngành này đều đang ở vị thế “độc quyền” trong một phạm vi nhất định nào đó. Đơn cử như BMC, công ty này gần như độc quyền trong việc khai thác titan tại tỉnh Bình Định, một tài nguyên được đánh giá là có mức lợi nhuận hấp dẫn và khai thác dễ hơn là gỗ. Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư.

3.1.4.4. Ngành Bất động sản

Việt Nam là một trong những nước có tốc độ đô thị hóa nhanh nên nhu cầu về nhà ở tại các thành phố lớn là rất cao. Theo dự báo, năm 2015 dân số đô thị khoảng 35 triệu người, tỷlệ đô thị hóa 38% với nhu cầu đất xây dựng đô thị 335.000ha. Năm 2020, dân số đô thị khoảng 44 triệu người, tỷ lệ đô thị hóa là 45% so với nhu cầu đất xây dựng đô thị khoảng 400.000 ha. Phân khúc căn hộ chung cư đang gánh chịu áp lực thanh khoản thấp. 70% nhà đầu tư bất động sản đang thay đổi chiến lược đầu tư với phân khúc nhà giá rẻ, diện tích nhỏ. Nguồn vốn FDI tính đến 20/11/2024 đạt gần 13 tỷ USD, tương ứng với 83.8% cùng kỳ năm 2023. Trong đó, vốn FDI đăng ký mới đối với ngành xây dựng năm 2024 là hơn 1 tỷ USD và đã suy giảm 1.8 tỷ USD so với năm 2023.

Nền kinh tế khó khăn khiến cho thị trường bất động sản rơi vào tình trạng ảm đạm, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bất động sản đang phải đối mặt với nhiều thách thức như nợ lớn, hàng tồn kho nhiều, không còn tài sản thế chấp để có thể tiếp cận vốn ngân hàng… Doanh thu và lợi nhuận chỉ hoàn thành 24% và 34% kế hoạch. Hàng tồn kho và chi phí xây dựng cơ bản dở dang bình quân đã tăng 23% và 103% so với đầu năm 2024.

Theo Hiệp hội Bất Động Sản Việt Nam, cả nước hiện có khoảng 486 khu đô thị mới với tổng diện tích đất theo quy hoạch dự kiến là 74.057 ha, trong đó có nhiều dự án đã được phê duyệt quy hoạch nhưng chưa tiến hành triển khai. Có thể thấy, thị trường đang đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguồn cung do cạn kiệt nguồn vốn đầu tư khiến cho rất nhiều dự án bất động sản lớn bị tạm ngưng hoặc giãn tiến độ thi công. Đây sẽ là cơ hội cho doanh nghiệp đi đầu, đón được điểm rơi của thị trường khi thiếu hụt. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, đây cũng là cơ hội mua rất tốt cho người tiêu dùng do giá bất động sản thời điểm này gần như đã về vùng đáy và khó có cơ hội giảm hơn nữa khi mà các loại thuế tăng, đơn giá đền bù giải phóng mặt bằng cao… Hơn nữa, Chính phủ đang nỗ lực hỗ trợ tháo gỡ những khó khăn cho thị trường này và các giải pháp được đề cập là các chính sách hỗ trợ tín dụng. Chỉ thị 01 đề ra việc đưa tín dụng phi sản xuất về 16% vào cuối năm 2024.

Mặc dù hiện nay chưa phải là thời điểm thuận lợi cho ngành bất động sản, do những khó khăn trong nền kinh tế khiến cho cầu giảm và chi phí tài chính khá lớn. Tuy nhiên xét về dài hạn đây sẽ vẫn là ngành còn có tiềm năng tăng trưởng khi nhu cầu thực ở những thành phố lớn như Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh vẫn còn ở mức cao. Các chuyên gia cũng cho rằng, theo khách quan thì thị trường sẽ có khởi sắc vào cuối năm 2025 và thực sự đang là cơ hội cho những tổ chức có tài chính và quản trị tốt và là cơ hội hình thành một lớp nhà đầu tư bất động sản mới. Cổ phiếu thuộc nhóm ngành bất động sản đang được giao dịch ở mức giá có P/E và P/B bình quân theo kỳ vọng năm 2024 tương ứng là 5.35 và 0.8. Do vậy, đây là vùng giá hấp dẫn có thể mua vào với chiến lược đầu tư dài hạn. Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư.

3.1.5. Áp dụng mô hình Markowitz xây dựng DMĐT theo ngành

Dựa vào phân tích tình kinh tế vĩ mô trong nước, phân tích các ngành có khả năng tăng trưởng tốt, áp dụng mô hình Markowitz vào xây dựng danh mục đầu tư theo ngành.

Giá trung bình tháng của các ngành từ 1/5/2023 – 31/5/2023

  • Tính tỷ suất lợi nhuận của các ngành

Lợi nhuận từ đầu tư chứng khoán đến từ 2 nguồn: cổ tức và chênh lệch giá. Tuy nhiên do thời kỳ đầu tư được lựa chọn là hàng tháng, nên thu nhập từ cổ tức là không đáng kể. Giả định bỏ qua yếu tố này trong mô hình và chỉ quan tâm đến lợi nhuận từ chênh lệch giá.

  • Tỷ suất lợi nhuận trung bình của từng ngành tính theo phương pháp bình quân (dùng exel: hàm AVERAGE()).

Tỷ suất lợi nhuận của các ngành

Rủi ro của các ngành

  • Các chỉ tiêu đo lường rủi ro là phương sai và độ lệch chuẩn cũng được tính từ các dữ liệu quá khứ.
  • Trong đó: tính phương sai dùng hàm VAR(), độ lệch chuẩn dùng hàm SQRT().

Rủi ro của các ngành

  • Tính ma trận hệ số hiệp phương sai

Tính ma trận hệ số hiệp phương sai, dùng công cụ Data Analyst trong excel.

  • Xây dựng mô hình danh mục đầu tư với cơ cấu cho vay từng ngành
  • Mô hình 1: đầu tư nhóm ngành Thực phẩm và Khoáng sản, với tỷ trọng 50:50.

Thực phẩm là ngành ít chịu tác động của nền kinh tế, có mức tăng trưởng ổn định, rủi ro thấp hơn so với ngành khoáng sản. Khi khách hàng vay tiền đầu tư vào nhóm ngành này, công ty có thể cho vay 70% giá trị khoản đầu tư đối với thực phẩm, 30% còn lại đối với khoáng sản. Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư.

  • Áp dụng mô hình Markowitz để tính toán mô hình:
  • Tỷ trọng từng ngành: WTP = 50%, WKS = 50%
  • Tỷ suất lợi nhuận từng ngành: E(rTP) = 0,88%, E(rKS) = 0,55%
  • Rủi ro từng ngành: σTP = 7,97%, σKS = 7,21%
  • Hệ số tích sai của 2 ngành thực phẩm và khoáng sản: Cov(rTP,rKS) = 0,17%
  • Tỷ suất lợi nhuận của danh mục đầu tư: E(rp) = WTP . E(rTP) + WKS . E(rKS) = 50% x 0,88% + 50% x 0,55% = 0,68%
  • Rủi ro của danh mục đầu tư: σ2p = W2TP . σ2TP + W2KS . σ2KS + 2WTP.WKS. Cov(rTP,rKS) 0,52 x 0,07972 + 0,52 x 0,07212 + 2 x 0,5 x 0,5 x 0,0017 = 0,0037 σp = 6,1%

Mô hình 2: đầu tư nhóm ngành Thực phẩm (khoáng sản) và Ngân hàng, với tỷ trọng 50:50.

  • Với mô hình này, khi khách hàng vay tiền để đầu tư, công ty có thể cho vay theo tỷ lệ 60% giá trị đầu tư đối với thực phẩm, 40% còn lại đối với ngân hàng.
  • Áp dụng mô hình Markowitz để tính toán mô hình: Tỷ trọng từng ngành: WTP = 50%, WNH = 50%
  • Tỷ suất lợi nhuận từng ngành: E(rTP) = 0,88%, E(rNH) = 0,42%
  • Rủi ro từng ngành: σTP = 7,97%, σNH = 8,84%
  • Hệ số tích sai của 2 ngành thực phẩm và khoáng sản: Cov(rTP,rNH) = 0,46%
  • Tỷ suất lợi nhuận của danh mục đầu tư: E(rp) = WTP . E(rTP) + WNH . E(rNH) = 50% x 0,88% + 50% x 0,42% = 0,65%
  • Rủi ro của danh mục đầu tư: σ2p = W2TP . σ2TP + W2NH . σ2NH + 2WTP.WNH. Cov(rTP,rNH) = 0,52 x 0,07972 + 0,52 x 0,08842 + 2 x 0,5 x 0,5 x 0,0046 = 0,0058 σp = 7,6%

Mô hình 3: đầu tư nhóm ngành Thực phẩm (khoáng sản) và Bất động sản, với tỷ trọng 50:50.

Bất động sản là ngành đem lại lợi nhuận cao nhưng cũng kèm theo là rủi ro lớn. Vì vậy, với mô hình này, khi khách hàng vay tiền để đầu tư, công ty có thể cho vay theo tỷ lệ 70% giá trị đầu tư đối với thực phẩm, 30% còn lại đối với bất động sản.

  • Áp dụng mô hình Markowitz để tính toán mô hình:
  • Tỷ trọng từng ngành: WTP = 50%, WBĐS = 50%
  • Tỷ suất lợi nhuận từng ngành: E(rTP) = 0,88%, E(rBĐS) = 0,32%
  • Rủi ro từng ngành: σTP = 7,97%, σKS = 18,57%
  • Hệ số tích sai của 2 ngành thực phẩm và khoáng sản: Cov(rTP,rKS) = 0,39%
  • Tỷ suất lợi nhuận của danh mục đầu tư: E(rp) = WTP . E(rTP) + WBĐS . E(rBĐS) = 50% x 0,88% + 50% x 0,32% = 0,60%
  • Rủi ro của danh mục đầu tư: σ2p = W2TP . σ2TP + W2BĐS . σ2BĐS + 2WTP.WBĐS. Cov(rTP,rBĐS) = 0,52 x 0,07972 + 0,52 x 0,18572 + 2 x 0,5 x 0,5 x 0,0039 = 0,0122 σp = 11,05%

Mô hình 4: đầu tư nhóm ngành Thực phẩm (Khoáng sản) và ngành khác, với tỷ trọng 50:50.

Với mô hình này, khi khách hàng vay tiền để đầu tư, công ty có thể cho vay theo tỷ lệ 60% giá trị đầu tư đối với thực phẩm, 40% còn lại đối với ngành khác. Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư.

  • Áp dụng mô hình Markowitz để tính toán mô hình: Tỷ trọng từng ngành: WTP = 50%, WKHAC = 50%
  • Tỷ suất lợi nhuận từng ngành: E(rTP) = 0,88%, E(rKHAC) = 0,50%
  • Rủi ro từng ngành: σTP = 7,97%, σKHAC = 7,06%
  • Hệ số tích sai của 2 ngành thực phẩm và khoáng sản: Cov(rTP,rKHAC) = 0,14%
  • Tỷ suất lợi nhuận của danh mục đầu tư: E(rp) = WTP . E(rTP) + WKHAC . E(rKHÁC) = 50% x 0,88% + 50% x 0,50% = 0,69%
  • Rủi ro của danh mục đầu tư: σ2p = W2TP . σ2TP + W2KHAC . σ2KHAC + 2WTP.WKHAC. Cov(rTP,rKHAC) = 0,52 x 0,07972 + 0,52 x 0,07062 + 2 x 0,5 x 0,5 x 0,0014 = 0,0035 σp = 5,94%

Mô hình 5: đầu tư nhóm ngành Ngân hàng (bất động sản) và ngành khác, với tỷ trọng 50:50.

Với mô hình này, khi khách hàng vay tiền để đầu tư, công ty có thể cho vay theo tỷ lệ 60% giá trị đầu tư đối với thực phẩm, 40% còn lại đối với ngành khác.

  • Áp dụng mô hình Markowitz để tính toán mô hình: Tỷ trọng từng ngành: WNH = 50%, WKHAC = 50%
  • Tỷ suất lợi nhuận từng ngành: E(rNH) = 0,42%, E(rKHAC) = 0,50%
  • Rủi ro từng ngành: σNH = 8,84%, σKHAC = 7,06%
  • Hệ số tích sai của 2 ngành thực phẩm và khoáng sản: Cov(rNH,rKHAC) = 0,34%
  • Tỷ suất lợi nhuận của danh mục đầu tư: E(rp) = WNH . E(rNH) + WKHAC . E(rKHAC) = 50% x 0,42% + 50% x 0,50% = 0,46%
  • Rủi ro của danh mục đầu tư: σ2p = W2NH . σ2NH + W2KHAC . σ2KHAC + 2WNH.WKHAC. Cov(rNH,rKHAC) 0,52 x 0,08842 + 0,52 x 0,07062 + 2 x 0,5 x 0,5 x 0,0034 = 0,0049 σp = 7%

Khi tình hình kinh tế thay đổi, việc lựa chọn các nhóm ngành và cơ cấu cho vay cũng được điều chỉnh cho phù hợp với những biến động của thị trường.

3.2. Một số kiến nghị Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư.

3.2.1. Kiến nghị đối với tổng công ty cổ phần chứng khoán Kim Eng Việt Nam

Tổng công ty KEVS cần tạo điều kiện giúp chi nhánh trong công tác giới thiệu sản phẩm quản lý danh mục đầu tư đến khách hàng: có thể giúp chi nhánh trong việc cung cấp thêm thông tin về tình hình tài chính, nhu cầu đầu tư, để chi nhánh có thể chủ động trong việc giới thiệu sản phẩm đến các khách hàng.

Thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn đang trong giai đoạn sơ khai, do đó một số ngành nghề mới như quản lý danh mục đầu tư cần rất nhiều về mặt nhân sự chất lượng cao, để có thể theo kịp sự phát triển của thị trường, chi nhánh cần có chiến lược đẩy mạnh phát triển nhân sự cả về số lượng lẫn chất lượng. Do đó kiến nghị với tổng công ty tạo điều kiện để có thể cử cán bộ tham gia các khóa học dài hạn để nâng cao nghiệp vụ.

3.2.2. Kiến nghị đối với nhà nước

  • Hoàn thiện cơ sở pháp lý:

Hiện nay nghị định 144/2003/NĐ-CP được coi là văn bản pháp luật mới đầy đủ nhất về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Nhưng trong nghị định này cũng chỉ đề cập nhiều đến hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán mà chưa quy định rõ ràng về nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư của công ty chứng khoán. Mà chúng ta đã biết đây là một nghiệp vụ vô cung quan trọng đối với hoạt động đầu tư chuyên nghiệp. Do đó cần chỉnh sửa và bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động quản lý danh mục đầu tư. Trên cơ sở đó, tạo ra một cơ sở pháp lý minh bạch, phân biệt rõ ràng giữa hoạt động quản lý danh mục đầu tư của công ty chứng khoán với các quỹ đầu tư chứng khoán.

Việc tạo lập cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể và ổn định có tác dụng khuyến khích nhà đầu tư ủy thác tài sản cho các tổ chức quản lý đầu tư chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, cần nâng cao hiệu lực thi hành của các quy phạm pháp luật trong ngành chứng khoán, tránh tình trạng xử lý không triệt để các vi phạm như việc chậm trễ trong công tác công bố thông tin của các công ty niêm yết, công bố thông tin sai lệch…gây ảnh hưởng lớn tới kết quả của hoạt động đầu tư và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.

Phát triển và nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức trung gian tài chính: Ngân hàng lưu ký, các công ty chứng khoán…, đặc biệt cần phải triển khai phát triển các tổ chức đánh giá định mức tín nhiệm nhằm tạo thuận lợi cho công tác đánh giá lựa chọn xây dựng danh mục đầu tư của các chuyên viên quản lý danh mục đầu tư.

Tăng cường giám sát hoạt động của các tổ chức niêm yết chứng khoán, hoạt động giao dịch chứng khoán: Trên thị trường thời gian qua có không ít trường hợp lãnh đạo các công ty niêm yết đã dùng nhiều hình thức khác nhau để giữ giá, đẩy giá hoặc tạo thanh khoản cho cổ phiếu của công ty mình. Các trường hợp này cơ quan chức năng rất khó phát hiện nếu không quyết tâm xử lý. Vì vậy, cơ quan chức năng cần thực hiện chế độ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, tăng cường kiểm tra, giám sát việc công bố thông tin của các doanh nghiệp, có chế tài xử lý nghiêm những sai phạm trong công bố thông tin của doanh nghiệp, từ đó nâng cao tính hiệu quả của thị trường chứng khoán và giúp cho việc thu thập thông tin của các chuyên viên quản lý danh mục đầu tư dễ dàng, chính xác để có những quyết định đầu tư đúng đắn.

Tăng cường các cán bộ có chuyên môn cao và có kinh nghiệm trong quản lý danh mục đầu tư. Do UBCKNN còn hạn chế về nguồn lực tài chính cũng như nhân sự để đáp ứng toàn bộ nhu cầu đào tạo của thị trường, vì vậy sự phối hợp giữa ủy ban chứng khoán, hiệp hội chứng khoán và các tổ chức trung gian chứng khoán là cần thiết để đạt thành công trong lĩnh vực đào tạo cán bộ chuyên môn cao cho hoạt động quản lý danh mục đầu tư.

Ngoài ra UBCKNN cần xây dựng, soạn chương trình đào tạo chuyên sâu cho cán bộ điều hành quản lý danh mục đầu tư. Củng cố nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, chú trọng mời các chuyên gia nước ngoài đã tham gia hoạt động thực tiễn tại thị trường Việt Nam tham gia giảng dạy.

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư.

Sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam đã mở ra nhiều cơ hội cho nhà đầu tư cá nhân, tuy nhiên đây cũng là một sân chơi đầy khắc nghiệt. Nhà đầu tư cá nhân rất cần sự giúp đỡ từ các nhà chuyên môn thông qua các dịch vụ tài chính chuyên nghiệp như dịch vụ quản lý danh mục đầu tư.

Trên thị trường chứng khoán, lợi nhuận và rủi ro luôn tồn tại song song không thể tách rời. Do đó, quản lý danh mục đầu tư là một nghiệp vụ vô cùng quan trọng, nó không chỉ giúp nhà đầu tư tối đa hóa lợi nhuận, giới hạn rủi ro, tạo ra một nguồn thu nhập đáng kể cho các công ty chứng khoán mà còn giúp cho thị trường chứng khoán hoạt động một cách chuyên nghiệp, hiệu quả hơn.

Trong quyết định số 252/QĐ – TTg ngày 1/3/2025 , Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2024 – 2020 với các giải pháp nhằm đưa thị trường chứng khoán trở thành mộ kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế. Các công ty chứng khoán đóng vai trò là định chế tài chính trung gian chủ yếu tham gia thị trường chứng khoán hiện nay, cần phải phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư và coi đây là một nghiệp vụ chiến lược của công ty mặc dù trước mắt nghiệp vụ này khó có thể đem lại thu nhập cho công ty.

Đối với công ty chứng khoán Kim Eng- Chi nhánh Hải Phòng, hiện tại chi nhánh vẫn còn đang trong thời kỳ tiếp cận thị trường, thu hút nhà đầu tư, quảng bá loại hình dịch vụ mới này, còn rất nhiều vấn đề khó khăn cần phải khắc phục. Em hy vọng những ý tưởng trong đề tài của mình có thể giúp ích cho chi nhánh dù chỉ một phần rất nhỏ. Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư

One thought on “Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư

  1. Pingback: Khóa luận: Thực trạng hoạt động quản lý danh mục đầu tư

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537