Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư”, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư tại công ty cổ phần chứng khoán KimEng – chi nhánh Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển của thị trường tài chính là một tất yếu khách quan. Với chức năng quan trọng là dẫn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, nó tác động đến hiệu quả đầu tư của cá nhân, của doanh nghiệp, đến hành vi tiêu dùng và tới động thái chung của nền kinh tế. Bởi vậy sự tồn tại của thị trường tài chính là một tất yếu gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán.

Trên thế giới thị trường chứng khoán đã hình thành từ rất lâu và đến nay đang phát triển mạnh mẽ. Nó được thiết lập ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường, có thể nói không một nước nào có nền kinh tế phát triển mà không có sự hoạt động của thị trường chứng khoán.

Nhận thức được tầm quan trọng của thị trường chứng khoán, Việt Nam đã chính thức đưa thị trường chứng khoán vào hoạt động với sự khai trương của trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 20/7/2000, và trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội vào tháng 3/2018. Tính đến nay thị trường chứng khoán Việt Nam đã hình thành được hơn 11 năm, đã có những bước tiến nhất định, mở ra những lĩnh vực kinh doanh và cơ hội làm ăn mới, góp phần phát triển thị trường tài chính Việt Nam. Nhưng thực chất môi trường đầu tư chưa thật sự chuyên nghiệp, còn nhiều yếu kém, quy mô thị trường còn nhỏ, thiếu những dịch vụ chuyên nghiệp cung cấp cho các nhà đầu tư.

Thị trường chứng khoán rất hấp dẫn, tuy nhiên nó cũng là một kênh đầu tư tiềm ẩn nhiều rủi ro, do vậy cần thiết phải có chiến lược đầu tư tốt để hạn chế rủi ro, bảo vệ nhà đầu tư, tối đa hóa thu nhập cho nhà đầu tư trong giới hạn rủi ro cho phếp. Đa dạng hoá danh mục đầu tư là nhu cầu của người đầu tư, có trường hợp giá cả của mọi chứng khoán được định giá đúng nhưng mỗi chứng khoán vẫn chứa đựng rủi ro và những rủi ro này có thể san sẻ thông qua việc đa dạng hoá danh mục đầu tư. Khi nhà đầu tư thực hiện đa dạng hóa danh mục đầu tư, họ sẽ lập được một danh mục có mức lợi nhuận kỳ vọng mong muốn ở mức rủi ro mà nhà đầu tư có thể chịu đựng.

Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư là nghiệp vụ phổ biến bậc nhất ở hầu hết các thị trường chứng khoán trên thế giới. Tuy nhiên, nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư còn khá mới mẻ ở thị trường chứng khoán Việt Nam cho nên em đã lựa chọn đề tài “Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư tại công ty cổ phần chứng khoán KimEng – chi nhánh Hải Phòng” để trình bày những hiểu được học tập về nghiệp vụ này tại trường và thời gian thực biết và kiến thức đã tập tại Công ty.

2. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

  • Nghiên cứu lý thuyết Markowitz vào quản lý danh mục đầu tư
  • Quan sát tìm hiểu thực tế hoạt động quản lý danh mục đầu tư tại Công ty cổ phần chứng khoán KimEng Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng.
  • Ứng dụng mô hình Markowitz trong điều kiện cụ thể tại công ty để xây dựng danh mục đầu tư.
  • Đề xuất một số giải pháp phát triển nghiệp vụ Quản lý danh mục đầu tư tại Công ty cổ phần chứng khoán KimEng Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Các số liệu phản ánh tính hình hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán tại Công ty cổ phần chứng khoán KimEng Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng từ khi thành lập đến nay.

Giá trung bình các ngành trên sàn giao dịch chứng khoán.

4. Ý nghĩa của đề tài

Việc thiết lập danh mục đầu tư có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó chính là vấn đề cốt lõi của việc ra quyết định của nhà đầu tư, việc thiết lập danh mục đòi hỏi nhà đầu tư phải nghiên cứu lý thuyết về chứng khoán và thực tế thông tin thị trường. Qua đó nhà đầu tư nắm rõ các thông tin về loại chứng khoán mà mình đã chọn, nhờ vậy mà nhà đầu tư có thể giảm thiểu những rủi ro trong đầu tư.

Ngoài ra, việc nghiên cứu và thiết lập danh mục còn giúp tối thiểu chi phí và gia tăng lợi nhuận. Việc nghiên cứu để thiết lập danh mục ngoài việc giúp nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro, còn giúp nhà đầu tư hiểu rõ về tình hình hoạt động của một số công ty, mở rộng thêm vốn kiến thức trong kinh doanh cho mình.

5. Kết cấu của đề tài

Luận văn được trình bày gồm 3 chương cơ bản như sau:

  • Chương I: Tổng quan về chứng khoán và nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.
  • Chương II: Thực trạng hoạt động quản lý danh mục đầu tư tai công ty cổ phần chứng khoán KimEng Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng. Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.
  • Chường III: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư tại công ty cổ phần chứng khoán KimEng Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng.

Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu và thu thập tài liệu, tuy nhiên do hạn chế về thời gian nghiên cứu và kiến thức nên khóa luận không tránh khỏi những sai sót. Tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy cô giáo để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.

Để hoàn thành được đề tài này, tôi xin chân thành cảm ơn Th.S Hoàng Thị Hồng Lan và các anh chị trong Công ty Cổ phần Chứng khoán KimEng – chi nhánh Hải Phong đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, giúp đỡ tôi trong thời gian làm khóa luận vừa qua..

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ NGHIỆP VỤ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ

1.1. Tổng quan về chứng khoán

1.1.1. Thị trường chứng khoán

Ngày nay mọi quốc gia phát triển và hầu hết các nước đang phát triển đều có thị trường chứng khoán, một thị trường không thể thiếu với mọi nền kinh tế muốn phát triển vững mạnh. Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng trong thị trường tài chính, là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán dài như các loại trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh – hợp đồng tương lai, quyền chọn, chứng quyền.

Thị trường chứng khoán là cầu nối vô hình nối liền giữa cung và cầu vốn trong nền kinh tế. Một thị trường chứng khoán lành mạnh và hoạt động có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho việc khai thác tốt các tiềm năng của nền kinh tế, tạo sự lành mạnh trong việc thu hút và phân phối vốn trong nền kinh tế một cách có hiệu quả nhất.

Chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán là công cụ huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế và tăng tiết kiệm quốc gia thông qua việc phát hành và luân chuyển chứng khoán. Việc mua đi bán lại chứng khoán trên thị trường chứng khoán đã tạo điều kiện di chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn, tạo điều kiện chuyển hướng đầu tư từ ngành này sang ngành khác, góp phần điều hòa vốn giữa các ngành kinh tế. Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

Khi ngân sách thu không đủ bù chi, Chỉnh phủ có thể bù đắp thâm hụt ngân sách bằng việc phát hành trái phiếu Chính phủ, vừa tạo được nguồn thu bù đắp mà vẫn quản lý được lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.

Thị trường chứng khoán là công cụ đánh giá hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và là phong vũ biểu của nền kinh tế. Thông qua thị trường hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó tạo ra được một môi trường cạnh tranh lành mạnh, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm. Thị trường chứng khoán phản ứng rất nhạy cảm với trước các chính sách kinh tế vĩ mô, các biến động của nền kinh tế. Vì vậy các nhà hoạch định chính sách và quản lý thường thông qua thị trường chứng khoán để phân tích, dự đoán, đề ra các chính sách điều tiết kinh tế và phương pháp quản lý kinh tế thích hợp.

1.1.2. Chứng khoán

Trên thị trường chứng khoán đối tượng giao dịch chính của nó là chứng khoán. Tuy nhiên, có rất nhiều loại chứng khoán khác nhau, nhiều nhà đầu tư chứng khoán không hiểu rõ rằng chứng khoán là gì? Câu hỏi đó làm cho các nhà đầu không thể chọn cho mình loại chứng khoán phù hợp.

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chứng khoán, theo giáo trình thị trường chứng khoán của Trường Đại Học Kinh Tế Hồ Chí Minh: “Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành, gồm: trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và chứng khoán phái sinh”.

Trong đó, hàng hoá giao dịch chủ yếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung vào các loại cổ phiếu và trái phiếu.

1.1.2.1. Cổ phiếu

Có 2 loại cổ phiếu cơ bản: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi

  • Cổ phiếu thường

Khi một công ty cổ phần huy động vốn để thành lập hoặc mở rộng, hiện đại hóa sản xuất, thì số vốn đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu.

“Cổ phiếu là giấy chứng nhận cổ phần, nó xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty cổ phần”.

Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường là một trong những người chủ doanh nghiệp nên là người trực tiếp thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh cũng như chịu mọi rủi ro trong kinh doanh. Khi công ty bị phá sản, cổ đông thường là người cuối cùng được hưởng giá trị còn lại của tài sản thanh lý. Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

Cổ phiếu là loại tài sản được đầu tư phổ biến trên thị trường, thu nhập có độ biến động cao nên đây cũng là loại tài sản có rủi ro cao. Giá cổ phiếu biến động rất nhanh nhạy, do nhiều nhân tố nhưng cơ bản nhất là hiệu quả kinh doanh và giá thị trường của công ty.

  • Các loại cổ phiếu thường:

Phần lớn cổ phiếu của các công ty cổ phần là cổ phiếu thường với những đặc điểm trên, nhưng đôi khi công ty cũng phát hành những loại cổ phiếu thường khác, với những đặc điểm riêng từ sự khác biệt liên quan đến quyền bầu cử hay quyền được hưởng cổ tức.

Cổ phiếu thường loại “A”: là loại cổ phiếu phát hành ra công chúng và được hưởng cổ tức nhưng không có quyền bầu cử, do đó loại này có giá hơi thấp hơn loại cổ phiếu thường được bỏ phiếu.

Cổ phiếu thường loại “B”: thường được gọi là cổ phiếu sáng lập viên, có quyền bầu cử, nhưng chỉ được hưởng cổ tức khi khả năng sinh lợi của công ty đã đến một giai đoạn tăng trưởng nhất định.

Cổ phiếu thường có gộp lãi: người cầm loại cổ phiếu này sẽ không nhận cổ tức bằng tiền mặt mà sẽ nhận cổ tức bằng một số cổ phiếu có giá trị tương đương mới phát hành mà không phải góp thêm vốn.

  • Ngoài ra tùy vào đặc điểm công ty mà còn có những loại cổ phiếu thường khác:

Cổ phiếu “thượng hạng” (blue chip stocks): đây là loại cổ phiếu hạng cao của các công ty lớn có lịch sử phát triển lâu đời, lịch sử tài chính tốt, vững mạnh về khả năng sinh lợi và trả cổ tức, loại cổ phiếu này có giá trị cao trên thị trường.

Cổ phiếu tăng trưởng: được phát hành bởi công ty đang trên đà tăng trưởng nhanh. Công ty này quan tâm đến việc đầu tư cho mở rộng sản xuất, nghiên cứu chế tạo sản phẩm mới, nó thường giữ lại hầu hết tiền lời để dành vào việc đầu tư, do đó trả cổ tức thường chỉ một phần nhỏ hoặc không có.

Cổ phiếu thu nhập: là cổ phiếu mà cổ tức thường được trả cao hơn mức trung bình trên thị trường. Loại cổ phiếu này được những người hưu trí hoặc lớn tuổi ưa chuộng, vì khả năng nhận thu nhập hiện tại cao hơn trung bình.

Cổ phiếu chu kỳ: là cổ phiếu của các công ty mà thu nhập của nó dao động theo chu kỳ kinh tế. Khi điều kiện kinh tế phát triển ổn định, công ty có thu nhập khá, giá cổ phiếu cũng tăng cao trên thị trường. Ngược lại, khi kinh tế gặp khó khăn, việc kinh doanh cũng giảm sút và giá cổ phiếu cũng giảm. Các ngành công nghiệp mang tính chu kỳ gồm ngành kỹ nghệ thép, xi măng, thiết bị máy và động cơ. Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

Cổ phiếu theo mùa: các công ty mà thu nhập tăng cao vào những mùa nhất định trong năm (nghỉ hè, đầu năm học, năm mới…) ảnh hưởng đến thu nhập của cổ phiếu, cũng tăng cao chỉ theo mùa kinh doanh.

  • Cổ phiếu ưu đãi

Cổ phiếu ưu đãi là loại chứng khoán lai tạp có những đặc điểm vừa giống cổ phiếu thường vừa giống trái phiếu. Đó là một giấy chứng nhận cổ đông được ưu tiên so với cổ đông thường về mặt tài chính nhưng bị hạn chế về quyền hạn đối với công ty góp vốn, như: người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi không được tham gia ứng cử bầu cử vào Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát công ty, nhưng lại được ưu tiên chia cổ tức trước cổ đông thường, ưu tiên được trả nợ trước cổ đông thường khi thanh lý tài sản trong trường hợp công ty bị phá sản. Người mua cổ phiếu ưu đãi được xem là cổ đông của công ty do đó phần vốn góp qua việc mua cổ phiếu là góp vốn vĩnh viễn không được hoàn trả.

1.1.2.2. Trái phiếu

Thường cổ phiếu được nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn trái phiếu, đặc biệt trong giai đoạn thị trường cổ phiếu đang lên giá, lợi nhuận từ trái phiếu không đáng kể so với cổ phiểu. Tuy nhiên, đầu tư trái phiếu sẽ tốt hơn trong thị trường cổ phiếu đang rớt giá bởi các ưu điểm về sự ổn định và an toàn của trái phiếu.

“Trái phiếu là một hợp đồng nợ dài hạn được ký kết giữa chủ thể phát hành (chính phủ hay doanh nghiệp) và người cho vay, đảm bảo một sự chi trả lợi tức định kỳ và hoàn lại vốn gốc cho người cầm trái phiếu ở thời điểm đáo hạn”.

Trái phiếu cũng là tài sản quan trọng thứ hai sau cổ phiếu trong việc xác định danh mục đầu tư. Đầu tư trong trái phiếu là loại đầu tư có tỷ lệ rủi ro thấp. Người mua trái phiếu được hưởng lãi cố định và tỷ suất laic trái phiếu không cao nhưng không phụ thuộc và kết quả sản xuất kinh doanh, ít rủi ro. Trong trường hợp trái phiếu là công trái thì hầu như không có yếu tố rủi ro. Khi công ty bị giải thể thanh lý tài sản, người cầm trái phiếu được ưu tiên trả nợ trước cổ đông.

Trái phiếu bao gồm: trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu có thể chuyển đổi, trái phiếu có lãi suất ổn định, trái phiếu có lãi suất thả nổi và trái phiếu chiết khấu… Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

1.1.2.3. Chứng chỉ quỹ đầu tư

Chứng chỉ quỹ đầu tư là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư để đầu tư vào chứng khoán. Việc huy động vốn vào quỹ đầu tư chứng khoán được thực hiện theo 2 cách là phát hành cổ phần ra công chúng hoặc phát hành dưới dạng chứng chỉ quỹ.

1.1.2.4. Chứng khoán phái sinh

Các chứng khoán phái sinh được hình thành do nhu cầu giao dịch của người mua và người bán, phát triển phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường chứng khoán. Có nhiều loại chứng khoán phái sinh như:

Hợp đồng tương lai: là một cam kết bằng văn bản về việc chuyển giao một tài sản cụ thể hay chứng khoán vào một ngày nào đó trong tương lai với mức giá đã thỏa thuận ở thời điểm hiện tại.

Hợp đồng quyền chọn: quyền chọn là công cụ tài chính phái sinh, cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng hàng hóa nhất định với một mức giá xác định, và trong một thời hạn nhất định. Các hàng hóa cơ sở này có thể là cổ phiếu, trái phiếu, đồng tiền…

Quyền mua cổ phần: là loại chứng khoán ghi nhận quyền dành cho các cổ đông hiện tại của một công ty cổ phần được mua trước một số lượng cổ phần trong đợt phát hành cổ phiếu phổ thông mới tương ứng với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty.

Chứng quyền: là loại chứng khoán được phát hành kèm theo trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người nắm giữ chứng khoán đó được quyền mua một khối lượng cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong thời kỳ nhất định.

1.2. Rủi ro trong đầu tư chứng khoán Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

Thị trường chứng khoán ngày càng phát triển, và thực tế đã cho thấy ngày càng có nhiều các thành phần quan tâm đến lĩnh vực đầu tư này. Đầu tư chứng khoán được coi là một ngành kinh doanh đơn giản nhất (do ai cũng có thể đầu tư với thủ tục đơn giản nhất) nhưng cũng phức tạp nhất (do có nhiều rủi ro).

1.2.1. Khái niệm

Đầu tư chứng khoán là chỉ việc chủ đầu tư bỏ vốn ra mua các chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu…) để kiếm lời. Việc kiếm lời trong đầu tư chứng khoán có thể là từ thu nhập cổ tức, trái tức nhưng cũng có thể là từ chênh lệch giá do kinh doanh chứng khoán đem lại. Mục tiêu của đầu tư chứng khoán là nhằm kiếm lời từ 2 nguồn thu nhập nói trên, nhưng an toàn về vốn trong đầu tư chứng khoán là vấn đề quan trọng.

1.2.2. Rủi ro trong đầu tư chứng khoán

Thị trường chứng khoán mở cho tất cả mọi người muốn đầu tư. Tuy nhiên đầu tư chứng khoán cũng bất cứ một cuộc đầu tư nào khác cũng có những rủi ro. Mục tiêu đầu tư chứng khoán có đạt được như ý muốn trong chính sách đầu tư hay không hoàn toàn phụ thuộc vào các rủi ro trong đầu tư. Đối với các chủ đầu tư, rủi ro là yếu tố khách quan vượt ra ngoài tầm quản lý và khống chế của họ. Do đó, đầu tư chứng khoán phải là hành động có cân nhắc, có phân tích khoa học đến môi trường đầu tư, đến rủi ro có thể xảy ra trong thời gian đầu tư.

Rủi ro trong đầu tư chứng khoán là khả năng xảy ra nhiều kết quả ngoài dự kiến, hay nói cách khác, mức sinh lời thực tế nhận được trong tương lai có thể khác với dự tính ban đầu. Độ chắc chắn (độ dao động) của lợi suất càng cao thì rủi ro càng cao và ngược lại.

Sự dao động của thu nhập, dao động của giá chứng khoán hay cổ tức (lãi suất) là những yếu tố cấu thành rủi ro. Trong đầu tư, những rủi ro do các yếu tố nằm ngoài công ty, không kiểm soat được và có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thị trường và tất cả mọi loại chứng khoán được gọi là rủi ro hệ thống.

Ngược lại, những rủi ro do các yếu tố nội tại gây ra, nó có thể kiểm soát được, và chỉ tác động đến 1 ngành hay tới 1 công ty, 1 hoặc 1 số chứng khoán, gọi là rủi ro không hệ thống (rủi ro phi hệ thống).

1.2.2.1. Rủi ro hệ thống Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

Những công ty chịu ảnh hưởng cao của rủi ro hệ thống là những công ty mà doanh số, lợi nhuận và giá chứng khoán thường theo sát các diễn biến kinh tế và những diễn biến trên thị trường chứng khoán. Phần lớn các công ty trong những ngành công nghiệp cơ bản và khai khoáng, những ngành liên quan đến sản xuất tô chịu ảnh hưởng rất cao của rủi ro hệ thống, ví dụ ngành thép, cao su, kính,…

Rủi ro hệ thống gồm 3 loại rủi ro chính sau:

  • Rủi ro thị trường:

Hiện tượng: giá cổ phiếu có thể giao động mạnh trong một khoảng thời gian ngắn mặc dù thu nhập của công ty không thay đổi.

  • Nguyên nhân: có thể rất khác nhau, nhưng phụ thuộc chủ yếu vào cách nhìn nhận của các nhà đầu tư về cổ phiếu trên cơ sở phản ứng của họ đối với những sự kiện hữu hình hay vô hình.
  • Sự kiện hữu hình: các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội (GDP tăng giảm, lãi suất biến động, tốc độ lạm phát thay đổi…)
  • Sự kiện vô hình: các sự kiện nảy sinh do yếu tố tâm lý của thị trường (tâm lý sợ hãi, tham lam…)

Những thay đổi trong mức sinh lời đối với phần lớn các loại cổ phiếu thường chủ yếu là do sự đánh giá của các nhà đầu tư về chúng thay đổi và gọi là rủi ro thị trường.

Rủi ro thị trường thường xuất phát từ những sự kiện hữu hình, nhưng do tâm lý không vững vàng của các nhà đầu tư nên họ hay có phản ứng vượt quá các sự kiện đó. Chiều hướng sụt giảm lợi nhuận của các công ty nói chung có thể là nguyên nhân làm cho phần lớn các loại cổ phiếu thường bị giảm giá. Những sự sụt giảm đầu tiên trên thị trường là nguyên nhân gây sợ hãi đối với các nhà đầu tư và họ sẽ cố gắng rút vốn và sau đó kéo theo những phản ứng dây chuyền làm tăng vọt số lượng bán, giá cả chứng khoán sẽ rơi xuống thấp so với giá trị nội tại của chứng khoán. Tuy nhiên, cũng không loại trừ trường hợp nhà đầu tư mua vào nhiều khi có những sự kiện bất thường xảy ra, lúc đó giá chứng khoán sẽ tăng lên.

  • Rủi ro lãi suất Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

Rủi ro lãi suất nói nhập trong tương lai. lãi suất chuẩn (ví dụ đến sự không ổn định trong giá trị thị trường và số tiền thu Nguyên nhân cốt lõi của rủi ro lãi suất là sự lên xuống của : lãi suất trái phiếu chính phủ), khi đó sẽ có sự thay đổi trong mức sinh lời kỳ vọng của các loại chứng khoán khác, đó là các loại cổ phiếu và trái phiếu công ty.

Nhà đầu tư thường coi tín phiếu kho bạc là không rủi ro, các loại trái phiếu chính phủ kỳ hạn dài thì không có rủi ro thanh toán (nhưng vẫn có rủi ro về giá cả). Các mức lãi suất của trái phiếu chính phủ được dùng làm lãi suất chuẩn, để xác định lãi suất trái phiếu công ty có thời gian đáo hạn tương tự. Do đó, những thay đổi trong lãi suất trái phiếu chính phủ sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống chứng khoán, từ trái phiếu cho đến các loại cổ phiếu rủi ro nhất.

  • Rủi ro lãi suất tác động đến trái phiếu Chính phủ :

Ví dụ : khi ngân sách thâm hụt Chính phủ phải phát hành thêm chứng khoán để bù đắp, sẽ làm tăng mức cung chứng khoán trên thị trường. Các nhà đầu tư tiềm năng sẽ chỉ mua các trái phiếu mới này với điều kiện lãi suất cao hơn lãi suất các loại chứng khoán đang lưu hành. Như vậy những người đang nắm giữ trái phiếu Chính phủ trước đây có lãi suất thấp hơn (lãi suất cố định khi phát hành), chỉ có thể bán được nếu họ chịu giảm giá chứng khoán đảm bảo cho lãi suất đáo hạn của trái phiếu họ nắm giữ bằng lãi suất mới.

  • Rủi ro lãi suất tác động đến trái phiếu công ty :

Với cùng ví dụ trên, khi lãi suất trái phiếu Chính phủ tăng, nó trở nên hấp dẫn hơn, mọi người sẽ mua trái phiếu Chính phủ thay vì trái phiếu công ty, do vậy lãi suất trái phiếu công ty cũng phải tăng lên. Lãi suất trái phiếu công ty tăng sẽ làm giá trái phiếu giảm và làm cho giá của các loại chứng khoán khác giảm như phản ứng dây chuyền.

  • Rủi ro sức mua

Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư (tăng giá hàng hóa dịch vụ, đồng tiền mất giá, giảm lợi nhuận thực của khoản đầu tư).

Nếu chúng ta coi khoản đầu tư là một khoản tiêu dùng ngay, khi một người mua cổ phiếu, họ đã bỏ mất cơ hội để mua một hàng hóa hay dịch vụ trong thời gian nắm giữ cổ phiếu đó. Nếu trong khoảng thời gian nắm giữ cổ phiếu, giá cả hàng hóa hay dịch vụ tăng, các nhà đầu tư đã bị mất đi một phần sức mua. Giá cả hàng hóa dịch vụ tăng được gọi là lạm phát, giá cả hàng hóa giảm gọi là giảm phát. Yếu tố lạm phát (giảm phát) sẽ làm thay đổi mức lãi suất danh nghĩa và từ đó sẽ gây tác động tới giá cả chứng khoán. Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

1.2.2.2. Rủi ro không hệ thống

Rủi ro không hệ thống là một phần trong tổng rủi ro gắn liền với 1 công ty hay 1 ngành công nghiệp cụ thể nào đó, ngoài những rủi ro gắn liền với thị trường. Các yếu tố này có thể là khả năng quản lý, thị hiếu tiêu dùng, đình công và nhiều yếu tố khác là nguyên nhân gây ra sự thay đổi trong thu nhập từ cổ phiếu công ty.

Sự không chắc chắn đối với khả năng thanh toán của công ty có thể do môi trường của hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của công ty. Những rủi ro này gọi là rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính.

  • Rủi ro kinh doanh

Là do tình trạng hoạt động của công ty, khi có những thay đổi trong tình trạng này công ty có thể bị sút giảm lợi nhuận và cổ tức. Nguyên nhân gây nên tình trạng này có thể do các tác động từ bên trong hoặc bên ngoài doanh nghiệp.

Rủi ro kinh doanh nội tại phát sinh trong quá trình vận hành hoạt động của công ty. Mỗi công ty có một loại rủi ro nội tại riêng và mức độ thành công của mỗi công ty thể hiện qua hiệu quả hoạt động.

Trong phạm vi rộng hơn, rủi ro kinh doanh bên ngoài là những trường hợp nằm ngoài sự kiểm soát của công ty và làm ảnh hưởng đến tình trạng hoạt động của công ty. Các yếu tố bên ngoài, từ chi phí tiền vay đến sự cắt giảm ngân sách, từ mức thuế nhập khẩu tăng đến sự suy thoái của chu kỳ kinh doanh. .., và yếu tố quan trọng nhất là chu kỳ kinh doanh. Doanh số của một số ngành công nghiệp thép, ô tô có xu hướng bám sát chu kỳ kinh doanh trong khi doanh số của một số ngành khác lại có xu hướng đi ngược lại (nhà cửa). Các chính sách chính trị cũng là một phần của rủi ro bên ngoài, các chính sách tiền tệ và tài khoá có thể làm ảnh hưởng đến thu nhập thông qua tác động về chi phí và nguồn vốn.

  • Rủi ro tài chính:

Rủi ro tài chính liên quan đến việc công ty tài trợ cho hoạt động của mình. Người ta thường tính toán rủi ro tài chính bằng việc xem xét cấu trúc vốn của công ty. Sự xuất hiện của các khoản nợ trong cấu trúc vốn sẽ tạo ra cho công ty những nghĩa vụ trả nợ. Và những nghĩa vụ trả nợ này phải được thanh toán trước khi trả cổ tức cho cổ phiếu thường nên nó có tác động đến cổ tức. rủi ro tài chính là rủi ro có thể tránh được trong phạm vi mà các nhà quản lý có toàn quyền quyết định vay hay không vay.

1.2.3. Các hình thức đầu tư chứng khoán Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

1.2.3.1. Theo loại chứng khoán đầu tư

Nhà đầu tư chứng khoán có thể lựa chọn các loại chứng khoán khác nhau để đầu tư. Các chứng khoán đầu tư có nhiều loại như cổ phiếu (cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường), trái phiếu (trái phiếu thường, trái phiếu có khả năng chuyển đổi…), các chứng khoán phái sinh (hợp đồng tương lai, hợp đồng lựa chọn, chứng quyền…). Mỗi loại chứng khoán có khả năng sinh lời cũng như mức độ rủi ro, khả năng thanh khoản, quyền kiểm soát hoặc tham gia quản trị doanh nghiệp khác nhau. Vì vậy khi lựa chọn đầu tư, nhà đầu tư phải tính toán, cân nhăc kỹ các điểm lợi và bất lợi sao cho có thể tối đa hóa được lợi ích hoặc mục tiêu đầu tư của mình.

1.2.3.2. Theo phương thức đầu tư chứng khoán

Về cơ bản có 2 phương thức đầu tư chứng khoàn là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp thông qua các định chế tài chính đầu tư. Trong phương thức đầu tư trực tiếp, các nhà đầu tư cá nhân trực tiếp mua bán chứng khoán trên thị trường thông qua các nhà môi giới chứng khoán. Còn trong phương thức đầu tư gián tiếp, các nhà đầu tư chứng khoán cá nhân lại ủy thác cho các định chế tài chính đầu tư chuyên nghiệp như Qũy đầu tư chứng khoán, công ty chứng khoán…để thực hiện hoạt động đầu tư cho mình. Do các định chế tài chính chuyên nghiệp có đội ngũ các chuyên gia đầu tư và quản lý danh mục đầu tư chuyên nghiệp, có khả năng phân tích và đánh giá thị trường nên có thể giúp cho nhà đầu tư cá nhân tránh được các rủi ro không đáng có, và đạt được hiệu quả đầu tư chứng khoán cao hơn.

1.2.3.3. Theo thời hạn đầu tư chứng khoán

Theo thời hạn thanh toán, các chứng khoán của doanh nghiệp có thể chia thành chứng khoán ngắn hạn và chứng khoán dài hạn. Các chứng khoán ngắn hạn là các chứng khoán có thời hạn từ dưới 1 năm (3 tháng, 6 tháng…) như các loại tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hang. Các loại chứng khoán có thời gian đáo hạn thanh toán từ 1 năm trở lên như trái phiếu Chính phủ, cổ phiếu hoặc trái phiếu công ty được goi là chứng khoán dài hạn. Các chứng khoán có thời gian đáo hạn càng dài thì mức độ rủi ro càng lớn và tính thanh khoản càng thấp. Vì vậy khi lựa chọn các loại chứng khoán đầu tư, các nhà đầu tư cũng cần chú ý lựa chọn cơ cấu đầu tư hợp lý giữa chứng khoán ngắn hạn và dài hạn.

1.3. Danh mục đầu tư và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

Để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tư thường không chỉ đầu tư vào 1 loại cổ phiếu, mà đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau theo tỷ trọng nhất định trong một danh mục đầu tư.

1.3.1. Danh mục đầu tư

Theo giáo trình Đầu Tư Tài Chính của TS.Phan Thị Bích Nguyệt “ Danh mục đầu tư ( Investment Portfolio) là sự kết hợp nắm giữ các loại chứng khoán, hàng hóa, bất động sản, các công cụ tương đương tiền mặt hay các tài sản khác bởi một cá nhân hay một nhà đầu tư thuộc tổ chức. Mục đích của danh mục đầu tư là làm giảm rủi ro bằng cách đa dạng hoá đầu tư”.

  • Đặc điểm

Danh mục đầu tư thực chất là tổ hợp các tài sản khác nhau của nhà đầu tư. Trong danh mục, các tài sản được phân bổ theo các tỷ trọng khác nhau. Và việc phân bổ các tài sản là việc lựa chọn các tài sản đầu tư, nhằm đạt được mức lợi nhuận dài hạn và mức rủi ro thấp tại mức chấp nhận được. Trong quá trình đầu tư, nhà đầu tư có thể thay đổi các tài sản trong danh mục, hay thay đổi tỷ trọng của các tài sản trong danh mục khi có những thông tin ảnh hưởng đến thị trường hay tài sản mà nhà đầu tư đang nắm giữ, nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư. Việc đó được gọi là cơ cấu lại danh mục đầu tư.

Danh mục đầu tư tốt hay không tốt phụ thuộc vào các yếu tố như trình độ của nhà đầu tư, tâm lý của từng nhà đầu tư, chính sách thuế và mức thuế của từng nhà đầu tư, lứa tuổi nhà đầu tư, tình hình kinh tế xã hội và xu thế thị trường…

Các nhà đầu tư khác nhau có mức độ yêu cầu về lợi suất, mức độ chấp nhận rủi ro và cách nhìn thị trường khác nhau nên danh mục được lập ra là khác nhau. Các nhà đầu tư ưa thích rủi ro thì chấp nhận một mức rủi ro cao nhưng lợi nhuận kỳ vọng cao. Ngược lại các nhà đầu tư e ngại rủi ro thì mức chấp nhận rủi ro là thấp tương ứng với mức lợi nhuận kỳ vọng thấp hơn. Từ đó các tài sản trong từng danh mục là khác nhau. Các nhà đầu tư ưa thích rủi ro thì đầu tư vào các tài sản có rủi ro cao như cổ phiếu, các nhà đầu tư e ngại rủi ro thì danh mục sẽ có tỷ trọng các tài sản ít rủi ro như trái phiếu cao hơn.

Các nhà đầu tư khác nhau thì mức thuế cũng khác nhau. Các nhà đầu tư có mức thuế cao thường không mong muốn trong danh mục của mình có những chứng khoán giống với các nhà đầu tư có mức thuế thấp.

Tính chất của các nhà đầu tư khác nhau thì danh mục đầu tư khác nhau. Đó là danh mục đầu tư cá nhân hay nhà đầu tư có tổ chức. Ví dụ, các nhà đầu tư trên thị trường thường tính đến đầu tư với lợi nhuận là hưởng chênh lệch giá, ít để ý tới mức cổ tức nhận được từ tổ chức phát hành. Với tư cách là một nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư có tổ chức rất quan tâm tới mức cổ tức được trả, chiến lược của các tổ chức phát hành trong dài hạn. Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

Mặt khác, các nhà đầu tư ở lứa tuổi khác nhau, danh mục đầu tư cũng khác nhau. Các nhà đầu tư trẻ tuổi thường hay đầu tư vào các tài sản có thời gian đáo hạn dài. Các nhà đầu tư nhiều tuổi thường hay đầu tư vào các tìa sản có thời hạn ngắn.

  • Sự cần thiết của đầu tư chứng khoán theo danh mục

Mục đích của việc đầu tư theo danh mục là giảm thiểu rủi ro bằng việc đa dạng hóa danh mục đầu tư. Dựa trên cơ sở các tài sản đầu tư, nhà đầu tư lập một danh mục đầu tư bao gồm các tài sản khác nhau. Trên nguyên tắc là “không bỏ trứng vào một giỏ”, các nhà đầu tư tạo ra một danh mục có rủi ro thấp nhất, đó là rủi ro của thị trường (rủi ro hệ thống). Khi đó, nhà đầu tư vẫn đạt được ở tại mức lợi nhuận kỳ vọng. Vì vậy, nhà đầu tư luôn cố gắng tạo ra một danh mục tối ưu.

  • Đối với nhà đầu tư cá nhân

Đối với nhà đầu tư trên thị trường, đầu tư chứng khoán là một hoạt động đầu tư mang lại lợi nhuận cao. Tuy nhiên, đầu tư chứng khoán lại hàm chứa rủi ro cao. Khi nhà đầu tư thực hiện đầu tư đơn lẻ vào một cổ phiếu, rủi ro rất lớn. Vì vậy, nhà đầu tư cần thiết phải xác định một danh mục đầu tư cho phù hợp với mức chấp nhận rủi ro của mình do các nhu cầu sau :

Đầu tư chứng khoán theo danh mục vẫn đảm bảo được được các yêu cầu của nhà đầu tư về lợi nhuận đầu tư. Khi nhà đầu tư tiến hành đầu tư theo danh mục, nhà đầu tư có thể điều chỉnh danh mục sao cho phù hợp với lợi nhuận yêu cầu.

Đầu tư bằng danh mục giúp nhà đầu tư có thể đa dạng hóa rủi ro. Khi đầu tư theo hình thức đơn lẻ, cổ phiếu đó biến động tốt sẽ mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư. Tuy nhiên khi cổ phiếu đó mất giá hoặc doanh nghiệp phát hành bị phá sản, nhà đầu tư sẽ bị mất lớn, thậm chí bị mất hết. Khi đầu tư theo danh mục, các rủi ro riêng của danh mục đã được đa dạng hóa.

Hình thức đầu tư qua các tổ chức chuyên nghiệp sẽ làm giảm chi phí giám sát cho nhà đầu tư. Nhà đầu tư với hình thức ủy thác cho công ty tài chính, quỹ đầu tư se không phải bỏ ra quá nhiếu chi phí giám sát đối với các chứng khoán. Đó là chi phí về tiền bạc, chi phí về thời gian, công sức bỏ ra để giám sát chứng khoán. Thay vào đó, các công ty được ủy thác sẽ quản lý danh mục đầu tư cho nhà đầu tư. Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

  • Đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán

Các tổ chức kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích thu được nguồn lợi nhuận từ hoạt động đầu tư chứng khoán. Đó là phần doanh thu từ hoạt động tài chính của công ty. Khi thị trường chứng khoán ngày càng phát triển và hoàn thiện, đầu tư chứng khoán là một lĩnh vực quan trọng giúp các tổ chức kinh doanh gia tăng nguồn lợi nhuận của mình.

Đầu tư bằng danh mục đầu tư giúp các tổ chức kinh doanh thu được các khoản lợi nhuận dự tính trong khi vẫn đảm bảo khả năng an toàn hoạt động. Khi đó, nhờ vào việc đa dạng hóa danh mục đầu tư mà các tổ chức kinh doanh chứng khoán vừa tạo ra khoản lợi nhuận cao vừa đáp ứng được yêu cầu về an toàn vốn đầu tư. Khi tham gia vào thị trường chứng khoán, các tổ chức kinh doanh có thể đầu tư bằng cách góp vốn vào công ty cổ phần với tư cách là cổ đông sáng lập, hoặc tham gia giao dịch trực tiếp trên thị trường chứng khoán. Ngoài ra, các công ty cũng có thể tăng doanh thu từ việc thu phí tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư.

Vì vậy, đầu tư bằng danh mục đầu tư là thật sự cần thiết đối với các nhà đầu tư, tổ chức khi tham gia vào thị trường chứng khoán.

1.3.2. Quản lý danh mục đầu tư

Quản lý danh mục đầu tư là một dạng nghiệp vụ tư vấn mang tính chất tổng hợp có kèm theo đầu tư, khách hàng ủy thác tiền cho công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay những nguyên tắc đã được khách hàng chấp nhận hoặc yêu cầu (mức lợi nhuận kỳ vọng, rủi ro có thể chấp nhận…).

Khi thực hiện nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư cho khách hàng, đối với các công ty quản lý quỹ danh mục đầu tư có thể bao gồm tất cả các loại tài sản (chứng khoán, bất động sản, tiền mặt…). Tuy nhiên đối với các công ty chứng khoán danh mục đầu tư chỉ gồm các loại chứng khoán.

Quản lý danh mục đầu tư là một nghiệp vụ quan trọng trong kinh doanh chứng khoán, là công cụ hữu hiệu để hạn chế rủi ro và tối đa hoá lợi nhuận. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để quản lý danh mục đầu tư một cách tối ưu nhất. Một danh mục đầu tư có thể bao gồm các chứng khoán được giao dịch trên thị trường như: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền chọn….

Quản lý danh mục đầu tư là nhu cầu cần thiết của người đầu tư, có trường hợp giá cả của mọi chứng khoán được định giá đúng nhưng mỗi chứng khoán vẫn chứa đựng những rủi ro và những rủi ro này có thể san sẻ thông qua việc đa dạng hoá danh mục đầu tư. Đồng thời, việc lựa chọn danh mục đầu tư phải tính đến ảnh hưởng của thuế. Nhà đầu tư phải chịu mức thuế cao thường không muốn trong danh mục của mình có những chứng khoán giống như danh mục của những người chịu thuế thấp. Các nhà đầu tư ở các lứa tuổi khác nhau thì nhu cầu đầu tư và mức chấp nhận rủi ro cũng khác nhau. Thông thường, nhà đầu tư lớn tuổi có nhu cầu đầu tư vào các loại chứng khoán có độ an toàn cao. Ngược lại, các nhà đầu tư trẻ tuổi lại có nhu cầu đầu tư vào các loại chứng khoán có độ rủi ro cao đồng thời mức lợi nhuận kỳ vọng cũng cao.

Do đó, sau khi tiến hành lựa chọn được một danh mục đầu tư theo nhu cầu của mình, nhà đầu tư cần tiến hành quản lý danh mục đầu tư. Nhà đầu tư cần theo dõi những biến động giá của các chứng khoán trên thị trường và mức lợi nhuận mong đợi. Từ đó, trong quá trình theo dõi các biến động của danh mục, nhà đầu tư tiến hành điều chỉnh danh mục cho phù hợp với diễn biến của thị trường và mục tiêu đã đề ra.

1.4. Lý thuyết về danh mục đầu tư – lý thuyết Markowitz Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

Lý thuyết Markowitz được xem là nền tảng của lý thuyết danh mục đầu tư còn gọi là lý thuyết đầu tư hiện đại. Ý tưởng đa dạng hoá rủi ro là một ý tưởng đã tồn tại từ rất lâu. Tuy nhiên phải đến năm 1952, Harry Markowitz mới đưa ra một mô hình chính thức trong việc lựa chọn danh mục đầu tư, trong đó phản ánh nguyên tắc về đa dạng hoá rủi ro. Khác với các phương pháp đầu tư truyền thống chủ yếu tập trung vào việc dự đoán xu hướng biến động về giá một chứng khoán dựa vào việc sử dụng các phương pháp phân tích cơ bản và phân tích kĩ thuật. Markowitz đã phát triển một phương pháp tập trung vào việc xây dựng một danh mục đầu tư gồm nhiều loại tại sản dựa trên việc kết hợp yếu tố rủi ro và lợi nhuận. Lý thuyết danh mục đầu tư tìm hiểu phương pháp để một nhà đầu tư ngại rủi ro xây dựng danh mục đầu tư nhằm tối đa hóa lợi nhuận kì vọng và tối thiểu hóa rủi ro. Và chứng minh được rằng một danh mục đầu tư được đa dạng hóa tối ưu có thể giảm thiểu được rất nhiều rủi ro mà không phải hy sinh hoặc hy sinh rất ít lợi nhuận.

1.4.1. Các giả thuyết của mô hình Markowitz

Mô hình Markowitz dựa trên những giả định cơ sở như sau:

  • Các nhà đầu tư đều là những nhà đầu tư ngại rủi ro. Với một mức rủi ro cho trước nhà đầu tư sẽ ưa thích phương án đầu tư nào có lợi nhuận kỳ vọng cao hơn. Tương tự, với một mức lợi nhuận kỳ vọng cho trước nhà đầu tư sẽ ưa thích những phương án đầu tư có rủi ro thấp hơn.
  • Các nhà đầu tư không đơn thuần theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận kỳ vọng mà là mục tiêu tối đa hóa mức hữu dụng của khoản đầu tư.
  • Việc lựa chọn và quyết định các phương án đầu tư của nhà đầu tư chỉ dựa trên hai yếu tố là thu nhập kỳ vọng và mức rủi ro của thu nhập. Mức độ hữu dụng của nhà đầu tư chỉ phụ thuộc vào 2 yếu tố này.
  • Các quyết định đầu tư được đưa ra và kết thúc trong một khoảng thời gian nhất định. Tất cả các nhà đầu tư đều có cùng thời hạn đầu tư như nhau.
  • Đường cong hữu dụng của nhà đầu tư là một phương trình tỷ suất sinh lời mong đợi và phương sai của tỷ suất sinh lời.

1.4.2. Mức ngại rủi ro và hàm hữu dụng Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

Khái niệm mức ngại rủi ro được coi là nền móng cơ bản trong việc phân tích quyết định đầu tư, lý do là hầu hết các nhà đầu tư đều có mức ngại rủi ro nhất định, song ở mức độ khác nhau. Một nhà đầu tư mạo hiểm sẽ dễ dàng chấp nhận quyết định đầu tư có mức độ rủi ro cao hơn một nhà đầu tư thông thường.

Người ta đã tìm cách lượng hóa mối quan hệ giữa lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro bằng lý thuyết hàm hữu dụng. Lý thuyết này phản ánh mối quan hệ giữa giá trị hữu dụng của một đơn vị tiền tệ kiếm thêm với mức độ rủi ro của khoản đầu tư và mức ngại rủi ro của nhà đầu tư.

Để xây dựng được công thức hàm hữu dụng, chúng ta giả định mỗi nhà đầu tư đều có thể gán cho một mức độ chấp nhận rủi ro nào đó (hay giá trị hữu dụng) vào các danh mục đầu tư ngang nhau dựa trên lợi suất đầu tư ước tính và rủi ro của những danh mục đầu tư đó. Mức độ chấp nhận rủi ro được sử dụng để sắp xếp thứ tự các danh mục đầu tư. Mức độ chấp nhận rủi ro (giá trị hữu dụng) cao hơn được gán cho các danh mục đầu tư có mức tương quan lợi suất – rủi ro hấp dẫn hơn. Đó là những danh mục có mức rủi ro bằng hoặc thấp hơn danh mục khác nhưng đem lại lợi suất ước tính cao hơn.

Trên cơ sở giả định trên, người ta xây dựng được công thức thể hiện mối tương quan giữa mức ngại rủi ro, lợi suất ước tính đạt được với mức độ rủi ro (phương sai của lợi suất này) như sau: U = E(r) – 0,5 . A . σ2

Trong đó :

  • U : là giá trị hữu dụng
  • E(r) : lợi suất ước tính bình quân
  • A : là chỉ số biểu thị mức độ ngại rủi ro của nhà đầu tư.
  • σ2 : phương sai của thu nhập trung bình
  • 0,5 : hằng số quy ước (thông lệ của xác suất thống kê phản ánh mối quan hệ giữa lợi suất ước tính bình quân và độ lệch chuẩn σ của giá trị bình quân đó). Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

Phương trình hàm hữu dụng này cho thấy sự nhất quán với quan điểm cho rằng giá trị hữu dụng sẽ tăng lên nếu kết quả tỷ suất lợi nhuận ước tính tăng và giá trị hữu dụng sẽ bị giảm đi nếu mức độ rủi ro tăng.

Chỉ số A biểu thị mức độ ngại rủi ro của nhà đầu tư, mỗi nhà đầu tư khác nhau sẽ có một chỉ số A khác nhau tùy thuộc vào tâm lý của nhà đầu tư và khối lượng của cải mà họ đang sở hữu.

  • A > 0 : nhà đầu tư ngại rủi ro
  • A = 0 : nhà đầu tư trung dung rủi ro
  • A < 0 : nhà đầu tư thích rủi ro

Thông thường, đối với cùng một khoản đầu tư thì các nhà đầu tư có mức ngại rủi ro cao hơn sẽ đòi hỏi mức đền bù rủi ro tương ứng nhiều hơn mới chấp nhận đầu tư. Các nhà đầu tư khi xem xét các danh mục đầu tư khác nhau sẽ chọn danh mục đầu tư nào đem lại cho họ giá trị hữu dụng U lớn nhất, nghĩa là có cặp “lợi nhuận ước tính – mức độ rủi ro” tốt nhất.

Trong hàm hữu dụng trên, đối với danh mục đầu tư không rủi ro, tức là phương sai bằng 0, thì giá trị hữu dụng của nó sẽ bằng với tỷ suất lợi nhuận ước tính: σ2 = 0 => U = E(r).

Điều này cung cấp cho chúng ta một tiêu chuẩn cho việc đánh giá các danh mục đầu tư. Một danh mục đầu tư có lợi suất ước tính khá cao thì chưa chắc giá trị hữu dụng đã lớn hơn đầu tư vào danh mục có mức lợi suất thấp hơn nhưng mức độ rủi ro thấp hơn hoặc không có rủi ro. Số trừ của lợi suất ước tính khi tính giá trị hữu dụng trên được coi là mức bù rủi ro (0,5.A.σ2). Nếu nhà đầu tư có mức ngại rủi ro thấp hơn (tức mức độ chấp nhận rủi ro cao hơn) thì mức bù rủi ro sẽ thấp hơn. Ngược lại, nhà đầu tư có mức ngại rủi ro cao sẽ có mức bù rủi ro cao hơn.

Để phân tích hành vi ra quyết định đầu tư, chúng ta có thể so sánh những giá trị hữu dụng đạt được với tỷ suất lợi nhuận trong trường hợp đầu tư không có rủi ro, khi tiến hành chọn lựa giữa một danh mục đầu tư có rủi ro và một danh mục đầu tư an toàn. Giá trị hữu dụng của một danh mục đầu tư theo thống kê học được gọi là tỷ lệ “tương đương chắc chăn” (certainty equivalent – CE) của danh mục đầu tư:

Tỷ lệ “tương đương chắc chắn” của một danh mục đầu tư là mức tỷ suất lợi nhuận đạt được chắc chắn của một danh mục đầu tư không rủi ro, được nhà đầu tư chấp nhận và xem nó như có mức dộ hấp dẫn tương đương để so sánh với danh mục đầu tư có rủi ro. Hay một danh mục đầu tư có rủi ro được coi là hấp dẫn nếu mức lợi suất chắc chắn tương đương (CE) của nó lớn hơn mức lợi suất dự tính của danh mục đầu tư không rủi ro được sử dụng làm chuẩn để so sánh (thường dùng lãi suất tín phiếu kho bạc Chính phủ). Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

Một nhà đầu tư có mức ngại rủi ro cao (A lớn), khi xem xét quyết định đầu tư có thể sẽ có một tỷ lệ lợi suất tương đương chắc chắn (CE) khá thấp đối với một danh mục có rủi ro nào đó. Nếu CE thấp hơn lợi suất đầu tư không rủi ro được dung làm chuẩn so sánh, ngay cả khi danh mục đầu tư rủi ro đó có mức đền bù rủi ro dương, thì nhà đầu tư cũng không thể chấp nhận danh mục đầu tư rủi ro đó. Ngược lại, một nhà đầu tư khác có mức ngại rủi ro thấp hơn (A thấp), sẽ có mức lợi suất CE cao hơn đối với cùng một danh mục đầu tư có rủi ro đó. Nếu CE cao hơn mức lợi suất chuẩn nêu trên, thì nhà đầu tư có thể sẽ thích danh mục đầu tư có rủi ro hơn là danh mục phi rủi ro.

Khác với những người đầu tư ngại rủi ro, những nhà đầu tư trung dung, bàng quan với rủi ro là những người đánh giá mức độ hữu ích của một danh mục đầu tư chỉ căn cứ trên tỷ suất lợi nhuận ước tính [E(r)], mà không quan tâm đến mức độ biến động, hay rủi ro của danh mục đầu tư đó. Họ chỉ quyết định dựa trên mức độ lợi nhuận: lợi nhuận càng cao thì càng tốt, bất kể danh mục đầu tư đó có mức độ rủi ro như thế nào. Đối với nhà đầu tư này, một tỷ lệ tương đương chắc chắn của danh mục đầu tư bằng chính tỷ suất lợi nhuận ước tính: A = 0 => U = CE = E(r) – 0,5.A.σ2 = E(r)

Với những nhà đầu tư thích rủi ro là những người coi rủi ro như môt cơ hội để họ thu được mức lợi suất cao, một động cơ để họ quyết định đầu tư. Một danh mục đầu tư có mức độ rủi ro càng cao sẽ càng làm họ ham thích, vì họ hy vọng vào khả năng thu lợi nhuận lớn. Vì thế họ điều chỉnh giá trị hữu dụng tỷ lệ thuận với mức độ rủi ro trong việc xem xét quyết định đầu tư.

Tuy nhiên, đại đa số các nhà đầu tư đều là những người ngại rủi ro. Do đó môi quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận thương được xây dựng trên cơ sở số đông này. Mối quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận ước tính và độ lệch chuẩn (mức rủi ro) của một danh mục đầu tư được thể hiện bằng đồ thị sau:

  • Đồ thị 1.1: Mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro

Trên đồ thị, danh mục đầu tư P có mức lợi suất ước tính E(rP) và độ lệch chuẩn σp được các nhà đầu tư ngại rủi ro thích hơn so với các danh mục đầu tư nằm trong phần IV của đồ thị vì nó có lợi suất ngang bằng hoặc lớn hơn bất cứ một danh mục đầu tư nào nằm trong phần IV và luôn có độ lệch chuẩn (mức rủi ro) ngang bằng hoặc thấp hơn. Ngược lại, bất cứ danh mục đầu tư nào trong phần I đều được các nhà đầu tư thích hơn danh mục đầu tư P vì mức lợi nhuận ước tính của nó luôn bằng hoặc lớn hơn và độ lệch chuẩn của nó luôn bằng hoặc nhỏ hơn. Như vậy, một cách tổng quát nếu một danh mục đầu tư này tốt hơn danh mục đầu tư kia thì danh mục đó phải có đồng thời mức lợi suất đầu tư lớn hơn và mức rủi ro nhỏ hơn.

Khi sắp xếp nhiều danh mục đầu tư để lựa chọn, dễ dàng nhận thấy những danh mục đầu tư nằm trong vùng I là có lợi thế nhất, vì các danh mục đầu tư nằm trong vùng này đều có ưu thế vượt trội cả về lợi suất đầu tư cao và độ rủi ro thấp so với vùng khác. Các danh mục đầu tư nằm ở vùng IV là kém lợi thế nhất (lợi suất đầu tư thấp nhưng độ rủi ro lại cao). Còn các danh mục đầu tư nằm trong vùng II và III lại chỉ được một trong hai yếu tố cần xem xét là lợi suất đầu tư hoặc mức độ rủi ro, do đó cần được xem xét thêm một yếu tố khác. Khả năng chấp nhận chúng sẽ phụ thuộc đáng kể vào mức ngại rủi ro của nhà đầu tư cao hay thấp. Nếu độ rủi ro càng cao thì giá trị hữu dụng càng thấp xuống và nó cần phải được bù đắp bằng sự tăng lên của mức lợi suất đầu tư [theo công thức U=CE=E(r)-0,5.A.σ2 = E(r)]. Để giá trị hữu dụng U không đổi, đối với các danh mục đầu tư có độ rủi ro cao hơn thì mức lợi suất đầu tư đạt được cũng phải cao lên tương ứng và ngược lại. Những danh mục đầu tư được lựa chọn yêu thích ngang nhau sẽ nằm trên cùng một đường cong trên đồ thị, nối tất cả các điểm này lại ta có đường đồng mức hữu dụng, hay còn gọi là đường “bàng quan”.

  • Đồ thị 1.2: Đường đồng mức hữu dụng (đường cong bàng quan)

Những người đầu tư có mức rủi ro khác nhau sẽ có các đường cong bàng quan phân bổ ở các vị trí khác nhau về phía vùng II hoặc III (vùng II dành cho những nhà đầu tư có mức ngại rủi ro thấp, vùng III dành cho những nhà đầu tư có mức ngại rủi ro cao, tức không dám chấp nhận rủi ro). Tuy nhiên, dễ nhận thấy khi đường bàng quan càng dịch chuyển lên theo hướng Tây Bắc thì mức hữu dụng của nhà đầu tư đó càng cao và càng dễ chấp nhận.

1.4.3. Lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro của danh mục đầu tư Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

1.4.3.1. Lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro của chứng khoán riêng lẻ

Lợi nhuận và rủi ro là hai phạm trù căn bản nền tảng trong đầu tư chứng khoán. Mô hình Markowitz đã phát triển phương pháp lựa chọn danh mục đầu tư dựa trên hai yếu tố lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro. Tuy nhiên, việc tính toán và định lượng hai yếu tố này lại không phải là vấn đề đơn giản. Markowitz là một trong những người đầu tiên khởi xướng việc ứng dụng các phương pháp toán học – xác suất thống kê vào việc tính toán lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro, trước hết là lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro của một chứng khoán riêng lẻ.

  • Lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán riêng lẻ

Thông thường sau khi kết thúc một khoản đầu tư, nhà đầu tư có thể dễ dàng tính toán được tỷ suất lợi nhuận của khoản đầu tư này. Nhưng vấn đề là ở chỗ trước khi đưa ra quyết định đầu tư vào một loại chứng khoán nhà đầu tư cần phải ước tính trước thu nhập mà nhà đầu tư sẽ có thể nhận được để quyết định có đầu tư hay không hoặc lựa chọn giữa các phương án đầu tư khác nhau. Đây là vấn đề rất khó khăn phức tạp, nhà đầu tư phải ra quyết định trong trường hợp bất định. Để giải quyết vấn đề này, Markowitz đã sử dụng khái niệm kỳ vọng trong lý thuyết xác suất thống kê để đưa ra một khái niệm mới trong tài chính đó là lợi nhuận kỳ vọng. “Tỉ suất lợi nhuận kỳ vọng là giá trị trung bình tính theo phương pháp bình quân gia quyền của tỷ suất sinh lời có thể xảy ra trong các tình huống”. Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

Trong đó:

  • E(R): tỷ suất sinh lời kỳ vọng của khoản đầu tư
  • ri: tỷ suất sinh lời của khoản đầu tư ở tình huống i
  • pi: xác suất tương ứng với tình huống i
  • n: số tình huống xảy ra

Nếu nhà đầu tư tin rằng trong tương lai sẽ chắc chắn thu được các lợi suất mong đợi hoặc nếu như quan sát trong quá khứ có thời gian đủ lớn để bộc lộ đầy đủ xu hướng thì có thể xác định lợi suất kỳ vọng bằng trung bình cộng các lợi suất thực hiện trong n thời kỳ quan sát:

Trong đó:

  • ri: tỷ lệ thu nhập trong thời kỳ i
  • số thời kỳ quan sát
  • Rủi ro của chứng khoán riêng lẻ

Rủi ro tồn tại khi có sự không chắc chắn về tương lai. Các nhà đầu tư gần như gặp rất nhiều khó khăn trong việc tính toán và lượng hoá rủi ro trong đầu tư chứng khoán. Cho đến khi các nhà toán học bước chân vào lĩnh vực này họ vận dụng các công cụ và phương pháp thống kê để tạo ra phương pháp đo lường rủi ro trong đầu tư chứng khoán. Trong tài chính rủi ro được định nghĩa là sự sai biệt giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng, được đo bằng độ lệch chuẩn của lợi suất thu được.

Để đo lường mức độ rủi ro (độ phân tán của tỷ suất sinh lời) người ta dùng 2 chỉ tiêu:

  • Phương sai của lợi nhuận mong đợi:

Phương sai của thu nhập mong đợi của một tài sản là tổng bình phương độ lệch của thu nhập mong đợi có nhân trọng số. Gọi σ2 là phương sai của thu nhập kỳ vọng: Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

  • Trường hợp sử dụng số liệu thực nghiệm (Số liệu trong quá khứ).
  • Độ lệch chuẩn: Độ lệch chuẩn chính là căn bậc 2 của phương sai
  • Trường hợp sử dụng số liệu thực nghiệm (Số liệu trong quá khứ):

1.4.3.2. Đo lường mối quan hệ giữa các chứng khoán:

Trong lĩnh vực đầu tư cũng như nhiều lĩnh vực khác, người ta thường có nhu cầu khảo sát mối quan hệ của hai biến ngẫu nhiên. Để lượng hóa mối quan hệ này người ta dùng hai đại lượng hệ số hiệp phương sai (Covariance) và hệ số tương quan (Correlation).

  • Hệ số tích sai (Covariance Cofficient):

Hệ số tích sai (hiệp phương sai hay đồng phương sai) được dùng để đo lường kết quả lợi suất thu được của 2 chứng khoán rủi ro có cùng chiều hướng biến động.

Ý nghĩa của hệ số hệ số tích sai được diễn giải như sau:

  • Tích sai dương: lợi suất hay giá cả của 2 chứng khoán biến động cùng chiều tăng hoặc giảm
  • Tích sai âm: lợi suất hay giá cả của 2 chứng khoán biến động ngược chiều nhau (1 cái tăng 1 cái giảm hoặc ngược lại).

Công thức tính hệ số tích sai của 2 chứng khoán như sau:

Trong đó:

  • Cov (r1,r1) : tích sai của chứng khoán 1 và chứng khoán 2.
  • Pi : xác suất tương ứng với tình huống i.
  • r1i, r2i : lần lượt là tỷ suất lợi nhuận của chứng khoán 1 và chứng khoán 2 tình huống i.
  • E(r1), E(r2): lần lượt là tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán 1và 2.
  • Trường hợp tính toán dựa vào thực nghiệm:

Hệ số tương quan (Correlation Coefficient):

Do độ lớn của hệ số tích sai phụ thuộc vào đơn vị đo lường của các biến ngẫu nhiên, do vậy rất khó để sử dụng hệ số này trong việc so sánh mức độ tương quan của các biến số khi chúng áp dụng các đơn vị đo lường khác nhau. Mặt khác, hệ số tích sai chỉ cho thấy mối tương tác giữa 2 chứng khoán cùng chiều hay ngược chiều, mà chưa chỉ ra được mức độ biến động của chúng. Để định lượng mức độ biến động này, người ta sử dụng hệ số tương quan để giới hạn hệ số tích sai trong khoảng từ -1 đến +1. Công thức tính hệ số tương quan: Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

Trong đó:

  • Cor (r1, r2): Hệ số tương quan của chứng khoán 1 và chứng khoán 2
  • σ1, σ2: là độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời của chứng khoán 1 và 2
  • Cov (r1, r2): hệ số hiệp phương sai của chứng khoán 1 và 2
  • ρ1,2 > 0 : 2 chứng khoán có quan hệ cùng chiều.
  • ρ1,2 < 0 : 2 chứng khoán có quan hệ ngược chiều.
  • ρ1,2 = +1: 2 chứng khoán có dao động hoàn toàn giống nhau
  • ρ1,2 = -1: 2 chứng khoán có quan hệ hoàn toàn ngược chiều nhau.
  • ρ1,2 = 0 : 2 chứng khoán không có quan hệ tương quan với nhau.

1.4.3.3. Lợi suất kỳ vọng của danh mục đầu tư

Một danh mục đầu tư thường bao gồm nhiều loại tài sản đầu tư khác nhau. Mỗi loại tài sản lại có mức lợi suất đầu tư khác nhau. Vì thế lợi suất kỳ vọng của một danh mục đầu tư là bình quân gia quyền (theo tỷ trọng vốn đầu tư vào từng loại tài sản) của lợi suất thu được từ mỗi tài sản trong danh mục đầu tư đó:

Trong đó:

  • Wi : tỷ trọng của chứng khoán i trong danh mục đầu tư
  • E(ri) : lợi suất đầu tư từng tài sản tương ứng

1.4.3.4. Rủi ro của danh mục đầu tư và đa dạng hóa danh mục đầu tư

  • Rủi ro của danh mục đầu tư

Rủi ro của danh mục đầu tư được định nghĩa là khả năng biến động trong tương lai về kết quả thu được của việc đầu tư. Khi phân tích một danh mục đầu tư, chúng ta phải quan tâm đến rủi ro của cả danh mục chứ không chỉ đơn thuần của từng loại chứng khoán. Người ta không thể đánh giá rủi ro bằng việc chỉ đánh giá rủi ro của từng loại chứng khoán riêng lẻ, mà việc đánh giá là sự đo lường mức độ ảnh hưởng của từng loại chứng khoán riêng lẻ đó đối với danh mục đầu tư, và giữa chứng khoán đó với toàn bộ chứng khoán của thị trường. Thực tế, những chứng khoán có tính rủi ro lại có khả năng là những thành tố làm ổn định cho toàn danh mục đầu tư, góp phần làm giảm rủi ro của toàn danh mục đầu tư. Đây là lý do tại sao nhà đầu tư cần quan tâm đến việc đa dạng hóa danh mục đầu tư cũng như xác định phần rủi ro hệ thống (rủi ro không đa dạng hóa được) của chứng khoán. Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

  • Đa dạng hóa danh mục đầu tư

Theo đó, việc đầu tư nên được thực hiện qua nhiều loại tài sản khác nhau, tạo thành một danh mục đầu tư sao cho tổng mức rủi ro trên toàn bộ danh mục sẽ được giới hạn nhỏ lại. Nghĩa là “không nên bỏ trứng vào một giỏ”. Như vậy, rủi ro của những chứng khoán riêng lẻ trong danh mục đầu tư cần phải được đo lường trong hiệu quả tác động của chúng đối với toàn bộ danh mục đầu tư.

Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro, chúng ta đã chỉ ra rằng mỗi một loại chứng khoán đều tiểm ẩn hai loại rủi ro là rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Rủi ro hệ thống là rủi ro do thị trường gây ra và ảnh hưởng đến tất cả các chứng khoán trên thị trường. Do vậy, rủi ro hệ thống là rủi ro không thể tránh được bằng hình thức đa dạng hóa. Ngược lại, rủi ro phi hệ thống là loại rủi ro bắt nguồn từ chính tổ chức phát hành. Do đó, có thể hạn chế được bằng cách đa dạng hóa đầu tư. Khi một chứng khoán được đưa vào một danh mục đầu tư thì rủi ro của nó sẽ tương tác với các chứng khoán khác trong danh mục để tạo nên rủi ro của cả danh mục. Mức độ rủi ro của toàn danh mục là cao hay thấp là phụ thuộc vào mối tương tác của các chứng khoán với các chứng khoán khác trong danh mục. Nếu một danh mục càng có nhiều chứng khoán thì sự tương tác bù trừ giữa các chứng khoán càng lớn, càng có nhiều khả năng giảm thiểu rủi ro nhờ tối thiểu hóa rủi ro phi hệ thống.

  • Đồ thị 1.3: Mối quan hệ giữa số lượng chứng khoán và rủi ro của danh mục

Đồ thị trên biểu thị mối quan hệ giữa số lượng chứng khoán trong danh mục và rủi ro của danh mục. Tổng rủi ro của danh mục bằng tổng của rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Mối quan hệ này là ngược chiều nhau. Khi số lượng chứng khoán càng nhiều thì rủi ro phi hệ thống của danh mục càng nhỏ, kéo theo rủi ro của danh mục càng nhỏ. Rủi ro này sẽ có rủi ro bằng với rủi ro của thị trường. Vì vậy, đa dạng hóa giúp giảm thiểu rủi ro, tuy nhiên các danh mục vẫn phải chịu một mức rủi ro tiềm ẩn đó là rủi ro hệ thống.

  • Các thước đo rủi ro

Rủi ro của danh mục đầu tư cũng được xác định bằng phương sai (σ2) và độ lệch chuẩn (σ) của danh mục đầu tư.

  • Phương sai của danh mục đầu tư gồm 2 chứng khoán:

Khi 2 chứng khoán với phương sai tương ứng là σ12, σ22 được kết hợp trong một danh mục đầu tư với tỷ trọng tương ứng là w1, w2 thì phương sai của danh mục đầu tư chứng khoán đó được thể hiện bằng phương sai của toàn bộ danh mục đầu tư (σP2) gồm 2 chứng khoán 1 và 2 được xác định như sau: Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

  • Phương sai của danh mục đầu tư gồm n chứng khoán:

Danh mục đầu tư có 2 loại chứng khoán là một trường hợp đơn giản và cơ bản nhất. Trên thực tế có thể sẽ có những danh mục đầu tư mà ta lựa chọn với nhiều chứng khoán khác nhau. Công thức tính phương sai của danh mục đầu tư gồm n chứng khoán được trình bày như sau:

  • Phương pháp ma trận:

Trong trường hợp có nhiều chứng khoán trong một danh mục đầu tư, việc tính toán phương sai của danh mục đầu tư tương đối phức tạp, đòi hỏi phải có rất nhiều cặp hệ số tích sai giữa các chứng khoán và dễ dẫn đến nhầm lẫn. Để khắc phục vấn đề này, thông thường người ta sẽ sử dụng phương pháp ma trận để tính toán phương sai của danh mục đầu tư.

Giả sử nếu danh mục đầu tư bao gồm n chứng khoán, trước hết ta thiết lập ma trận bao gồm n hàng ngang tương ứng với các chứng khoán 1,2,3…n và n hàng dọc tương ứng với các chứng khoán 1,2,3….n. Giá trị của mỗi ô trong ma trận sẽ bằng hệ số tích sai của hai chứng khoán ở hàng ngang và hàng dọc nhân với tỷ trọng của chứng khoán ở hàng ngang và tỷ trọng của chứng khoán ở hàng dọc. Ví dụ, ô (1,n) tương ứng với hàng dọc là chứng khoán 1, hàng ngang là chứng khoán n, giá trị của ô này sẽ bằng: W1 × Wn × Cov (r1, rn).

Ta thấy các ô nằm trên đường chéo Tây Bắc – Đông Nam do là giao điểm của các chứng loại chứng khoán giống nhau nên có giá trị lần lượt là: W12 σ12, W22 σ22, …, Wn2 σn2. Hệ số hiệp phương sai của cùng một chứng khoán cũng chính là phương sai của chứng khoán đó. Ví dụ: Cov (r1, r1) = σ12

Phương sai của danh mục đầu tư chính bằng tổng các ô của ma trận này:

Bảng 1.1: Phương pháp ma trận

1.4.4. Danh mục đầu tư hiệu quả và đường cong hiệu quả Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

Một danh mục đầu tư được gọi là hiệu qủa, nếu không tồn tại một danh mục đầu tư nào khác có cùng độ lệch chuẩn nhưng lại có tỷ suất lợi nhuận cao hơn và không tồn tại danh mục đầu tư khác có cùng tỷ suất lợi nhuận nhưng có độ lệch chuẩn thấp hơn. Tập hợp những danh mục đầu tư này được gọi là tập hợp danh mục đầu tư hiệu qủa.

Đường cong nối tất cả những danh mục đầu tư hiệu qủa trong hệ trục tọa độ với trục tung thể hiện tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng, trục hoành thể hiện độ lệch chuẩn được gọi là đường cong hiệu qủa. Như vậy, những danh mục đầu tư nằm trên đường cong hiệu qủa là những danh mục đầu tư được đa dạng hóa một cách tối ưu. Tại đây không thể giảm tỉ lệ rủi ro xuống mà lại không hi sinh tỉ lệ lợi nhuận hay không thể có được một tỉ suất lợi nhuận cao hơn mà không chấp nhận mức độ rủi ro lớn hơn.

Đường cong hiệu qủa của danh mục đầu tư là tập hợp tất cả các danh mục đầu tư cho phép mang lại tỉ suất lợi nhuận cao hơn với cùng mức độ rủi ro, có rủi ro ít hơn ở cùng mức độ lợi nhuận. Đường biên hiệu qủa có dạng cong lồi bởi vì với tất các các danh mục đầu tư nằm trên đường cong này chúng đều có mức lợi nhuận kỳ vọng cao nhất với cùng mức rủi ro, và có mức rủi ro thấp nhất nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư tại Công ty Cổ phần Chứng khoán KimEng – Chi nhánh Hải Phòng với cùng mức lợi nhuận kỳ vọng. Các danh mục nằm trên đường cong biên hiệu quả này được gọi là danh mục tối ưu Markowitz (Đồ thị 1.4)

Những kết hợp đầu tư nằm trên đường biên hiệu quả chiếm ưu thế hơn với những kết hợp bên dưới. Ví dụ xét điểm B và C, mặc dù B và C có cùng mức độ rủi ro nhưng B có ưu thế hơn do cho tỷ suất sinh lợi cao hơn C. Tương tự như vậy A có ưu thế hơn C do có cùng tỷ suất sinh lợi với C nhưng A lại cho rủi ro thấp hơn C. Nhà đầu tư sẽ lựa chọn một danh mục nằm trên đường biên hiệu quả. Nhà đầu tư không thích rủi ro sẽ lựa chọn danh mục trên đường biên hiệu quả gần về phía điểm A, nhà đầu tư ưa thích rủi ro hơn sẽ lựa chọn danh mục đầu tư trên đường biên hiệu quả gần về phía điểm B hơn hoặc xa dần về phía bên phải điểm B. Những danh mục đầu tư như vậy sẽ có những ước lượng tỷ suất sinh lợi và rủi ro khác nhau, khi nhà đầu tư muốn gia tăng tỷ suất sinh lợi thì rủi ro cũng tăng theo.

Tóm lại, theo Markowitz đường biên hiệu quả bao gồm những kết hợp tốt nhất, vì nó xác định những danh mục đầu tư có tỷ suất sinh lợi cao nhất với mức độ rủi ro cho trước hoặc sẽ cho rủi ro thấp nhất đối với mỗi tỷ suất sinh lợi cho trước.

Như vậy, nếu một nhà đầu tư muốn lựa chọn một danh mục đầu tư cổ phiếu để đầu tư thì trước hết người đó phải chọn lựa trong số các danh mục nằm trên đường biên hiệu quả. Tiếp đến, tùy thuộc vào khả năng chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư để xác định danh mục cổ phiếu đầu tư tối ưu cho mình. Chúng ta đã xác định được rằng mỗi nhà đầu tư đều có mức ngại rủi ro riêng và khả năng chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư được thể hiện trong mối quan hệ với lợi suất ước tính đạt được, và được diễn đạt bằng đường bàng quan. Điểm tiếp xúc giữa đường bàng quan và đường biên hiệu quả (điểm 0 trong đồ thị) chính là định vị danh mục đầu tư tối ưu của nhà đầu tư đó (Đồ thị 1.5) Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

1.4.5. Truy tìm danh mục đầu tư hiệu quả

Cho danh mục đầu tư gồm n chứng khoán. Mỗi chứng khoán có một tỉ suất lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn xác định, mỗi cặp chứng khoán có hệ số tích sai xác định. Tìm tỷ trọng phân bổ của từng chứng khoán W1, W2, W3…Wn trong danh mục đầu tư sao cho danh mục đầu tư mà chúng tạo thành:

  • Có độ lệch chuẩn nhỏ nhất với mức tỷ suất lợi nhuận là r* cho trước.
  • Hoặc có lợi nhuận kỳ vọng lớn nhất với độ lệch chuẩn là σ* cho trước. Mỗi cặp chứng khoán có hệ số tương quan xác định, tạo thành ma trận hệ số tương quan. Tỷ suất lợi nhuận và phương sai của danh mục đầu tư được xác định như sau:

Tìm các tỉ lệ phân bổ chứng khoán W1, W2, W3…Wn sao cho với mức lợi nhuận kỳ vọng E(rp) = r* cho trước, danh mục đầu tư có độ lệch chuẩn σp nhỏ nhất. Hoặc với độ lệch chuẩn: σp = σ* cho trước danh mục đầu tư có lợi nhuận kỳ vọng E(rp) lớn nhất. Ta có 2 mô hình toán như sau:

Mô hình 1: Mô hình tối thiểu hoá rủi ro dựa trên mức thu nhập cho trước

  • Hàm mục tiêu phương sai:

Mô hình 2: Mô hình tối đa hóa thu nhập trên rủi ro cho trước

  • Hàm mục tiêu lợi nhuận:
  • Các điều kiện ràng buộc:

1.4.6. Truy tìm danh mục đầu tư tối ưu

  • Nguyên tắc xác định DMĐT tối ưu: Theo nguyên tắc, việc xác định danh mục đầu tư tối ưu được thực hiện như sau:
  • Xác định đường cong hiệu quả: Danh mục đầu tư tối ưu là một trong những danh mục đầu tư nằm trên đường cong hiệu quả. Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.
  • Trong những danh mục đầu tư hiệu quả lựa chọn 1 danh mục đầu tư đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư, phù hợp với mức ngại rủi ro của nhà đầu tư, tức là mang lại cho nhà đầu tư mức hữu dụng cao nhất.

Xác định DMĐT tối ưu bằng thuật toán: Tương tự như bài toán truy tìm danh mục đầu tư hiệu qủa nhưng hàm mục tiêu không còn là hàm lợi nhuận lớn nhất hay phương sai nhỏ nhất. Hàm mục tiêu là hàm hiệu dụng của nhà đầu tư. Tức là đi tìm các tỉ lệ phân bổ chứng khoán sao cho mức độ hữu dụng của danh mục đầu tư là tối đa. Mô hình toán được lập như sau:

  • Hàm mục tiêu mức hữu dụng của nhà đầu tư:

Đây chính là bài toán phương án tối ưu của hàm bậc hai. Giải bài toán này ta sẽ tìm được danh mục đầu tư theo yêu cầu bằng công cụ solver của Exel.

Mô hình Markowitz cho chúng ta một kỹ thuật lựa chọn danh mục đầu tư tối ưu và những phân tích từ kết quả của mô hình này là rất bổ ích. Với số loại tài sản tương đối ít chúng ta có thể sử dụng trực tiếp mô hình này và từ đó mà định giá tài sản. Trong trường hợp thị trường quá đa dạng người ta sử dụng một mô hình đơn giản hơn, mô hình có tên CAPM (Capital Asset Pricing Model).

  • Mô hình này sử dụng hệ số beta của các tài sản.

Tuy nhiên, lý thuyết Markowitz được coi là nền tảng lý luận quan trọng có tính ứng dụng cao trong việc phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư ở các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ. Bên cạnh các phương pháp phân tích đầu tư truyền thống như phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật, lý thuyết Markowitz và các lý thuyết đầu tư tài chính hiện đại cũng đã khẳng định được chỗ đứng tại các thị trường chứng khoán phát triển. Việc nghiên cứu áp dụng các lý thuyết này vào hoạt động đầu tư nói chung và hoạt động quản lý danh mục đầu tư nói riêng sẽ là sự bổ sung quan trọng vào các phương pháp phân tích, nâng cao hiệu quả đầu tư, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam. Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động quản lý danh mục đầu tư

4 thoughts on “Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư

  2. Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư says:

    Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư

  3. Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư says:

    Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư

  4. Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư says:

    Khóa luận: Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537