Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại NHTMCP An Bình – Chi nhánh Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời kỳ hiện nay, Doanh nghiệp nhỏ và vừa là nhóm chiếm đa số trong cộng đồng các doanh nghiệp ở Việt Nam (khoảng 90%)[6.8] cho nên nó có một sự ảnh hưởng lớn không chỉ đối với kinh tế đất nước mà còn đóng vai trò rất quan trọng trong vấn đề tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động,…Song, mặc dù chiếm số lượng lớn như vậy nhưng theo VCCI (Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam) [6.8] những doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ góp hơn 45% GDP trong cả nước. Thêm vào đó, kể từ năm 2023 mỗi năm có hàng ngàn doanh nghiệp nhỏ và vừa bị giải thể hoặc ngừng hoạt động. Điều đó cho thấy sự thiếu hiệu quả trong quá trình sản xuất, kinh doanh của Doanh nghiệp nhỏ và vừa. Để duy trì sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp rất cần có nguồn vốn của ngân hàng. Việc này cần có một sự tín nhiệm cao từ phía Ngân hàng thì các doanh nghiệp mới có thể vay vốn.

Chất lượng tín dụng là một trong những nhân tố phản ánh hoạt động kinh doanh của cả Ngân hàng và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nó có vai trò quan trọng trong việc đánh giá khả năng hoàn trả của các doanh nghiệp thông qua tỷ trọng nợ quá hạn, nợ xấu, hay việc đánh giá trình độ quản lý của ngân hàng,…Một khi chất lượng tín dụng được cho là tốt thì đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp có cơ hội phát triển quy mô vốn và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của mình. Còn đối với Ngân hàng thì là việc tăng thêm thu nhập, giảm được những tổn thất trong vấn đề thu hồi vốn và tăng tỷ suất sinh lời từ hoạt động tín dụng. Từ đó, Ngân hàng sẽ phát triển và mở rộng thêm được nhiều khách hàng, tăng tính hiệu quả của các hoạt động kinh doanh.

Do vậy, việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là điều vô cùng cần thiết đối với bất kỳ một ngân hàng nào và cả Ngân hàng TMCP An Bình Chi nhánh Hải Phòng cũng vậy. Giai đoạn 2023- 2025 là những năm khó khăn của toàn ngành ngân hàng trong công tác xử lý nợ xấu và những vấn đề liên quan đến quản lý tín dụng của các doanh nghiệp. Vậy, đối với Ngân hàng TMCP An Bình Chi nhánh Hải Phòng thì thực trạng về chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa như thế nào? Và cần có biện pháp gì để cải thiện nâng cao chất lượng tín dụng đối với các khách hàng đó tại chi nhánh? Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, em quyết định chọn đề tài : “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hải Phòng” cho khóa luận tốt nghiệp của mình. Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì nội dung chính của đề tài này có 3 chương:

  • Chương I: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại.
  • Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Hải Phòng.
  • Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Hải Phòng

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

1.1 Những vấn đề cơ bản của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Trước khi đi vào nội dung chính của phần này ta cần nói qua một số điều về “Doanh nghiệp”. Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2017: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

Trong nền kinh tế thị trường có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại. Dựa vào quy mô người ta chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Đối với một số quốc gia trên thế giới người ta còn phân thêm loại doanh nghiệp siêu nhỏ. Việc phân loại theo tiêu thức này giúp cho Nhà nước có những chiến lược và những chính sách hợp lý nhằm hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể, đặc biệt là trong lúc nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như lạm phát, khủng hoảng tài chính…

  • Vậy thế nào là doanh nghiệp nhỏ và vừa và nhận biết chúng như thế nào ?
  • Ta sẽ đi vào tìm hiểu doanh nghiệp nhỏ và vừa một cách cụ thể.

1.1.1 Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ mang tính chất tương đối.Việc quy định tiêu chí như thế nào là doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa là tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của từng nước trong từng giai đoạn cụ thể.

Theo thống kê của OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ) [6.5] năm 2016,trên thế giới, có rất nhiều các tiêu thức khác nhau để xác định quy mô của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng. Đó là người ta có thể dựa vào số lượng cán bộ công nhân viên bình quân, vốn đầu tư, tổng tài sản, doanh thu tiêu thụ…Ví dụ như ở liên minh châu âu EU thì người ta sử dụng định nghĩa pháp lý về những doanh nghiệp nhỏ và vừa (DN nhỏ và vừa) dựa trên doanh thu và số công nhân của doanh nghiệp. Cụ thể đối với Doanh nghiệp nhỏ khoảng từ 10 đến 49 công nhân, doanh thu hàng năm của doanh nghiệp đó dưới 10 triệu Euro và tổng tài sản nhỏ hơn 10 triệu EUR; đối với doanh nghiệp vừa thì có khoảng từ 50 đến 249 công nhân, doanh thu hàng năm của Doanh nghiệp nhỏ hơn 50 triêu EUR, tổng tài sản nhỏ hơn 43 triệu EUR. Tuy nhiên, một số nước châu Âu cũng thuộc EU thì không có một định chế pháp lý chung đối với những DN nhỏ và vừa đó là trường hợp của Netherlands và Tây Ban Nha. Cũng như vậy, New Zealand sử dụng các tiêu chí như thuế, tiền lương, hoặc những định chế khác. Ở Mỹ người ta thường lấy tiêu chí số lượng lao động để đồng nhất hóa độ lớn của doanh nghiệp ở phần lớn các ngành, trừ ngành sản xuất hàng hóa người ta sẽ dùng doanh thu tiêu thụ để xác định phân loại doanh nghiệp. Đối với những nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc do lực lượng lao động khá đồng đều nên đối với mỗi ngành người ta cũng sử dụng tiêu chí lượng nhân công để xác định; ngoài ra vốn đầu tư, số hàng hóa bán được cho làm tiêu chí xác định. Ví dụ ở Nhật Bản ( năm 2016) :

  • Bảng 1.1 Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Nhật Bản.

Như vậy, tùy thuộc vào quy định của từng nước, từng khu vực lãnh thổ doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được định nghĩa theo một thể chế pháp lý hoặc không có một định chế nào. Quy mô của Doanh nghiệp ở một số nước cũng có thể xác định do bình chọn đánh giá của các nhà phân tích kinh tế và nó phụ thuộc vào từng thời kỳ, từng giai đoạn của nền kinh tế. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được xác định dựa trên các tiêu chí khác nhau nhưng có một điểm chung ở hầu hết các quốc gia người ta dựa vào lượng công nhân để xác định quy mô của doanh nghiệp. Để dễ dàng phân chia và đánh giá người ta thường xác định quy mô doanh nghiệp theo ngành kinh tế và việc đó thường có ở các nước khu vực châu Á.

Ở Việt Nam, theo Điều 3 Nghị định số 56/2021/NĐ-CP [4.4] của Chính phủ ngày 30 tháng 06 năm 2021 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa: “DN nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm, ngoài các tiêu chi trên Nghị định này còn căn cứ vào ngành hoạt động để phân loại, cụ thể được thể hiện như sau:

  • Bảng 1.2 Phân loại DN nhỏ và vừa ở Việt Nam theo khu vực kinh tế.

1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay.

DN nhỏ và vừa chiếm đại đa số trong tổng số doanh nghiệp tại các quốc gia và có sự đóng góp lớn vào việc thực hiện chính sách kinh tế xã hội của đất nước đó. Nhìn chung, các DN nhỏ và vừa ở Việt Nam cũng có những đặc điểm giống các DN nhỏ và vừa ở các nước, những đặc điểm đó là: Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Một là DN nhỏ và vừa có vốn đầu tư ban đầu ít do đó chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường ngắn dẫn đến khả năng thu hồi vốn nhanh tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả.

Hai là DN nhỏ và vừa tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế: thương mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, nông lâm ngư nghiệp… và hoạt động dưới mọi hình thức như: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Ba là DN nhỏ và vừa có tính linh hoạt trước những thay đổi của thị trường, nên DN nhỏ và vừa có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển đổi mặt hàng nhanh. DN nhỏ và vừa thường có quy mô nhỏ và tồn tại ở mọi thành phần kinh tế nên sản phẩm của DN nhỏ và vừa thường đa dạng, phong phú. Với lợi thế đó, DN nhỏ và vừa dễ dàng thay đổi quy mô, thay đổi sản phẩm khi có sự thay đổi của thị trường. So với các doanh nghiệp lớn, DN nhỏ và vừa không gặp nhiều tổn thất khi thị trường biến động, vì quy mô nhỏ nên dễ dàng hơn các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn trong việc chuyển hướng sang loại hình khác cho phù hợp với thị trường. Hơn nữa, Việt Nam kể từ khi ra nhập WTO năm 2018 đã thực hiện chính sách tái cơ cấu kinh tế và cho đến bây giờ Việt Nam vẫn đang triển khai chính sách đó với tầm quốc gia được thể hiện ở nghị quyết 11-CP (24/2/2023) [4.1] Trong nghị quyết này khoản a điều 1 có ghi: “…tập trung ưu tiên vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa…”. Ta có thể hiểu một các đơn giản là tái cơ cấu là tăng cường kiểm soát và sử dụng các nguồn lực sao cho hiệu quả nhất, sao cho phù hợp với môi trường, chỗ nào thừa thì cắt gọt đi, chỗ nào thiếu thì gia cố thêm, thậm chí là cái nào lạc hậu phải thay đổi hoàn toàn, làm lại từ đầu…Về mặt hình thức, đối với quốc gia nó thể hiện ở Nghị quyết 11- CP (24/2/2023), còn đối với các doanh nghiệp đó là việc xem xét lại các hệ thống, lập lại kế hoạch kinh doanh, hệ thống quản trị chuỗi cung ứng, quản trị thông tin, hệ thống quản trị nhân lực, hệ thống quản trị tài chính và quản trị quan hệ khách hàng  Những doanh nghiệp nhỏ và vừa được ưu tiên hơn những doanh nghiệp mang tầm cỡ lớn vì khả năng, sắp đặt lại hệ thống để phù hợp với tình hình kinh tế thị trường sẽ diễn ra nhanh hơn, lượng chi phí dành cho việc tái thiết lại hệ thống cũng sẽ ít hơn. Ngược lại đối với những doanh nghiệp lớn thì hệ thống quản trị khá phức tạp, đồ sộ điều đó đồng nghĩa với việc thời gian và chi phí để thực hiện công việc đó sẽ lớn hơn và việc không nhanh chóng thay đổi và bắt kịp với thời đại sẽ ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế hơn. Đó cũng chính là lý do rất nhiều doanh nghiệp lớn bị phá sản vì không bắt kịp với thời đại. Điều này cho thấy, việc sản suất kinh doanh nhỏ và vừa đang được thúc đẩy và khuyến khích mạnh mẽ.

Bốn là Doanh nghiệp nhỏ và vừa được kỳ vọng là có thể đóng góp vào sự phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ, hoặc đóng vai trò là nhà cung ứng dịch vụ, sản phẩm đầu vào cho các doanh nghiệp nước ngoài hoặc các dự án lớn của Nhà nước. Quá trình này sẽ thúc đẩy cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trở thành trụ cột để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên hiện nay, đa số doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chưa tham gia vào được chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, trình độ khoa học công nghệ và năng lực đổi mới trong doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam còn thấp. Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ còn rất ít. Số lượng nhà khoa học, chuyên gia làm việc trong các doanh nghiệp chỉ chiếm 0,025% trong tổng số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp. Khoảng 80 – 90% máy móc và công nghệ sử dụng trong các doanh nghiệp của Việt Nam là nhập khẩu và 76% từ thập niên 1980 – 1990, 75% máy móc và trang thiết bị đã hết khấu hao.

Năm là hiệu quả sản xuất, kinh doanh thấp, hàng tồn kho lớn: Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, hầu hết giá nguyên liệu đầu vào của các ngành đều tăng, trong khi giá bán sản phẩm không tăng. Đối với ngành có tỷ trọng nội địa hóa thấp, phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nguyên liệu, phụ kiện nhập khẩu (ví dụ: sản xuất dây và cáp điện, điện tử, cơ khí…) bị ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh. Trong khi sức tiêu thụ của thị trường giảm sút, nhiều doanh nghiệp phải chủ động thu hẹp sản xuất, hoạt động cầm chừng. Hàng tồn kho trong một số ngành hàng tăng cao như bất động sản, vật liệu xây dựng, nông sản…, nhiều doanh nghiệp kinh doanh bất động sản phải đối mặt với các khoản vay lớn của ngân hàng, đến hạn trả nhưng không có nguồn thu, không còn tài sản và khả năng huy động vốn để duy trì kinh doanh, chi phí sản xuất các ngành chế biến và bảo quản rau, củ, quả tăng 123,2%; sản xuất các sản phẩm từ nhựa tăng 89,1%; sản xuất kim loại đúc sẵn tăng 62,8%; sản xuất xe có động cơ tăng 56,2%; sản xuất xi măng tăng 52,3%…[6.6] Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Sáu là bất cập về trình độ quản lý và chất lượng nguồn lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Theo số liệu thống kê của VCCI (Phòng Thương mại và công Nghiệp Việt Nam) [6.8], có tới 55,63% số chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp. Cụ thể, tiến sỹ chỉ chiếm 0,66%; thạc sỹ 2,33%; tốt nghiệp đại học 37,82%; tốt nghiệp cao đẳng chiếm 3,56%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33% và 43,3% có trình độ thấp hơn. Về lực lượng lao động, có tới 75% lực lượng lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật; việc thực hiện chưa đầy đủ các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động đã làm giảm đi chất lượng công việc trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, do vậy các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng rơi vào vị thế bất lợi.

Bảy là năng lực tiếp cận với các chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế trong kinh doanh: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn chưa tiếp cận được hiệu quả trong quá trình hội nhập quốc tế. Để phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam gia nhập tổ chức WTO, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các chính sách pháp luật, có thể nói hệ thống pháp luật trong kinh doanh ngày càng hoàn thiện, tuy nhiên, năng lực tiếp cận với các văn bản và hệ thống chính sách pháp luật của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều hạn chế. Việc tiếp cận hạn chế này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan, phần khách quan do nội tại nền kinh tế nước ta như cải cách hành chính diễn ra còn chậm, chính sách kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, gây mất lòng tin cho doanh nghiệp  Tuy nhiên, phần lớn là do chủ quan các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa thực sự tìm hiểu các chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế để nâng cao năng lực của chính mình trong kinh doanh. Đây là vấn đề rất đáng lưu tâm, đòi hỏi cả Nhà nước và doanh nghiệp phải có những giải pháp nhằm thay đổi tăng cường năng lực tiếp cận với các thông tin, chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế trong kinh doanh cho doanh nghiệp.

Tám là các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam thường thuê mặt bằng với diện tích hạn chế, cách xa trung tâm hoặc sử dụng những diện tích đất riêng của mình làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh.Vì vậy, các doanh nghiệp này gặp khó khăn trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh khi quy mô doanh nghiệp được mở rộng.

Chín là khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biết đối với thị trường nước ngoài. Đó là do các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường là những doanh nghiệp mới hình thành, khả năng tài chính cho các hoạt động marketing rất hạn chế và họ chưa có nhiều khách hàng truyền thống. Thêm vào đó, quy mô thị trường của các doanh nghiệp này thường bó hẹp trong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị thường mới là rất khó khăn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Mười là các doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, do đó họ thường sử dụng nguồn vốn vay từ bạn bè, người thân. Đó là do các doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu tài sản đảm bảo, sổ sách chứng từ kế toán không rõ ràng, minh bạch, chưa có uy tín trên thị trường. Cụ thể, trong năm 2025 theo nguồn tạp chí dân chủ và pháp luật (ngày 25/3/2026) [6.6], Chính phủ đã triển khai các chính sách, chương trình hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa như bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ tín dụng. Tuy nhiên, trên thực tế mới có một số lượng nhỏ các doanh nghiệp được thụ hưởng chính sách hỗ trợ. Phần lớn các doanh nghiệp còn lại gặp các trở ngại như sau: 55% trở ngại do thủ tục vay (hồ sơ vay vốn phức tạp, không đủ thủ tục vay vốn đơn giản cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa); 50% trở ngại yêu cầu thế chấp (thiếu tài sản có giá trị cao để thế chấp, ngân hàng không đa dạng hóa tài sản thế chấp như hàng trong kho, các khoản thu…); 80% tỷ trọng lãi suất chưa phù hợp; các điều kiện vay vốn hiện nay chưa phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khó khăn nhất vẫn là thiếu vốn cho sản xuất, kinh doanh. Hiện nay, chỉ có 30% các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được vốn từ ngân hàng, 70% còn lại phải sử dụng vốn tự có hoặc vay từ nguồn khác (trong số này có nhiều doanh nghiệp vẫn phải chịu vay ở mức lãi suất cao 15 – 18%). Điều kiện vay vốn hiện nay chưa phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, rất ít các doanh nghiệp đáp ứng được điều kiện không được nợ thuế quá hạn, không nợ lãi suất quá hạn.

1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế.

Theo nguồn tạp chí dân chủ và pháp luật (ngày 25/3/2026) [6.6] DN nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng cao trong tổng số doanh nghiệp, vì thế giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, DN nhỏ và vừa đóng góp lớn vào thu nhập của nền kinh tế quốc dân và góp phần giải quyết công ăn việc làm và ổn định kinh tế xã hội.Cụ thể theo thống kê hiện nay, về lao động, hàng năm tạo thêm trên nửa triệu lao động mới; sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP… Số tiền thuế và phí mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân đã nộp cho Nhà nước đã tăng 18,4 lần sau 10 năm. Sự đóng góp đã hỗ trợ lớn cho việc chi tiêu vào các công tác xã hội và các chương trình phát triển khác. Do vậy, đã tạo tạo ra 40% cơ hội cho dân cư tham gia đầu tư có hiệu quả nhất trong việc huy động các khoản tiền đang phân tán, nằm trong dân cư, để hình thành các khoản vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh. DN nhỏ và vừa tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ, phụ trợ quan trọng hỗ trợ hiệu quả các khâu sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp lớn, DN nhỏ và vừa có thể thực hiện các khâu gia công, đóng gói, vận chuyển, phân phối ra thị trường, nhận thực hiện một phần của các dự án hoặc cung cấp nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế. Đây là sự phân phối khối lượng công việc một cách tất yếu khách quan, tiết kiệm thời gian và chi phí, tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong nền kinh tế thị trường và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho xã hội.

DN nhỏ và vừa là trụ cột kinh tế của địa phương đóng góp quan trọng vào ngân sách nhà nước, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm cho người dân ở địa phương. Khác với các doanh nghiệp lớn thường đặt tại các thành phố lớn hay những vùng kinh tế trọng điểm, các DN nhỏ và vừa hầu hết nằm dàn trải tại các địa phương. Do vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh và định hướng phát triển của DN nhỏ và vừa thường gắn với các đặc điểm kinh tế xã hội cũng như tiềm năng của địa phương, dựa trên các nguồn lực sẵn có. Bên cạnh đó, DN nhỏ và vừa chiếm đại đa số trong nền kinh tế địa phương nên đóng góp rất lớn vào sản lượng cũng như giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Việt Nam đang thực hiện công nghiệp hóa đất nước, vì vậy từng bước phát triển vững chắc các DN nhỏ và vừa dựa trên nguồn lực sẵn có là hướng đi đúng đắn. Đồng thời, DN nhỏ và vừa góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài và là trụ cột để nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương trong thời đại mở cửa và hội nhập.

Các DN nhỏ và vừa hầu hết nằm dàn trải tại các địa phương góp phần tạo ra sự cân đối giữa các vùng miền, các ngành nghề kinh tế. Bên cạnh các ngành nghề nông, lâm, nghiệp, thủy sản, còn có các dịch vụ mới phát triển giúp cho nền kinh tế năng động hơn. Đặc biệt, tại các vùng miền còn khó khăn, việc phát triển DN nhỏ và vừa là phương án tốt để từng bước thúc đẩy kinh tế. Đó là ưu điểm nhằm góp phần vào chính sách phát triển đồng bộ của nhà nước, giảm bớt khoảng cách kinh tế xã hội giữa các vùng miền, cân đối cơ cấu ngành kinh tế.

1.2 Tổng quan về tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

1.2.1 Khái niệm tín dụng Ngân hàng và điều kiện vay vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

  • Theo khoản 14 và 16 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2022/QH12 [4.6] định nghĩa rằng:

Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán,bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.

Tại Ngân hàng, hoạt động chủ yếu của tín dụng là nghiệp vụ cho vay. Do đó việc cho vay là hoạt động chính, giữ vai trò quan trọng trong việc đem lại doanh thu cho Ngân hàng.

Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ( Doanh nghiệp nhỏ và vừa) là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên đi vay (DNNVV) trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận; bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Đối với ngân hàng, nghiệp vụ tín dụng là một hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất, nó đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.

1.2.2 Phân loại tín dụng Ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Hoạt động tín dụng của Ngân hàng có nhiều hình thức đa dạng. Có thể phân loại tín dụng ngân hàng theo nhiều tiêu thức khác nhau.

1.2.2.1. Phân loại tín dụng theo kỳ hạn.

Dựa theo tiêu thức phân loại tín dụng theo kỳ hạn, tín dụng được chia làm ba loại : Tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn tối đa một năm,có lãi suất thấp, tính thanh khoản cao, dùng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn. Thông thường, tín dụng ngắn hạn chiểm tỷ trọng cao nhất trong tín dụng của NHTM.

Tín dụng trung hạn là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Tín dụng trung hạn có lãi suất cao hơn tín dụng ngắn hạn nhưng tính thanh khoản lại thấp hơn và thường dùng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh… nhằm phục vụ cho đời sống sản xuất, có thời hạn thu hồi vốn nhanh.

Tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạn lớn hơn 5 năm, có lãi suất cao nhất, đồng thời tính thanh khoản thấp nhất, chủ yếu dùng để xây các công trình dân dụng, các công trình công nghiệp (nhà máy, xí nghiệp) hoặc mua sắm các dây chuyền sản xuất, các thiết bị, phương tiện vận tải quy mô lớn. Đây là loại tín dụng có độ rủi ro cao nhất.

1.2.2.2 Phân loại tín dụng theo hình thái giá trị tín dụng.

Cấp tín dụng bằng tiền: là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được cung cấp bằng tiền. Đây là loại hình cho vay chủ yếu của các ngân hàng và thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau như: tín dụng ứng trước, tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp ….

Cấp tín dụng bằng tài sản: là hình thức cho vay tài sản phổ biến và đa dạng, đối với ngân hàng cho vay bằng tài sản được áp dụng phổ biến là hình thức tài trợ thuê mua. Theo phương thức cho vay này, ngân hàng hoặc công ty thuê mua cung cấp trực tiếp tài sản cho DN (bên đi thuê) theo định kỳ DN hoàn trả nợ vay bao gồm cả vốn gốc và lãi.

1.2.2.3 Phân loại theo hình thức cấp tín dụng

  • a. Hình thức cho vay Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Cho vay được coi là hoạt động tín dụng chính của Ngân hàng, chiếm tỷ trọng dư nợ cao nhất trong tổng dư nợ.

  • Các phương thức cho vay gồm có:

Cho vay từng lần: Áp dụng cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, không được ấn định hạn mức tín dụng. Cho vay từng lần có đặc điểm sau:

Vốn tín dụng chỉ tham gia vào một giai đoạn hay một quy trình nhất định trong chu kỳ sản xuất kinh doanh, chu kỳ luân chuyển vốn của đơn vị. Về phía Ngân hàng việc cho vay và thu nợ được xử lý theo từng món vay.

Mỗi lần phát sinh nhu cầu vay vốn bắt buộc bên vay phải tiến hành các thủ tục làm đơn xin vay kèm theo các chứng từ hóa đơn xin vay để cán bộ tín dụng kiểm tra đối tượng vay vốn, nếu đối tượng vay vốn phù hợp sẽ giải quyết cho vay.

Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi vượt trên số dư tài khoản thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. Đặc điểm thấu chi:

Đối tượng khách hàng: là khách hàng truyền thống, có tình hình tài chính lành mạnh, đáng tin cậy, có thu – chi thường xuyên, giao dịch thường xuyên qua ngân hàng.

  • Giải ngân theo tài khoản vãng lai, có thể dư nợ, có thể dư có.
  • Quản lý của Ngân hàng tiến hành sau cho
  • Hạn mức thấu chi được xác định xuất phát từ cả phía người vay và Ngân hàng.
  • Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ phải chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử dụng hình thức này.

Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng :Thẻ tín dụng là loại thẻ ngân hàng phát hành cho những khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, hoặc rút tiền mặt tại các ATM trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được ngân hàng chấp thuận trong hợp đồng tín dụng.

Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó Ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Cho vay theo hạn mức tín dụng có đặc điểm:

Đối với khách hàng: hoạt động kinh doanh ổn định; lập được kế hoạch sản xuất kinh doanh cho từng kỳ; có nhu cầu vay và trả nợ Ngân hàng thường xuyên; là khách hàng truyền thống và có tín nhiệm cao đối với Ngân hàng.

  • Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.
  • Định kỳ hạn nợ và thời hạn tín dụng Ngân hàng không xác định trước, tùy theo thỏa thuận, hợp đồng với khách hàng. Khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lí ngân quỹ cho khách hàng.

Cách xác định hạn mức tín dụng gồm có:

  • Hạn mức tín dụng = Nhu cầu VLĐ kỳ kế hoạch –Vốn tự có –Vốn khác
  • Nhu cầu vay vốn kỳ kế hoạch.
  • Giới hạn cho vay theo tài sản đảm bảo của khách hàng.
  • Khả năng nguồn vốn của Ngân hàng.
  • Các giới hạn quy định khác của nhà nước.

Cho vay trả góp đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Là hình thức tín dụng, theo đó Ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả góp có đặc điểm:

  • Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho các TSCĐ hoặc hàng lâu bền.
  • Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ.
  • Ngân hàng thường áp dụng cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn mức nhất định.

Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hóa mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay. Do vậy lãi suất cho vay trả góp thường cao nhất trong khung lãi suất cho vay của Ngân hàng.

  • b. Hình thức chiết khấu chứng từ có giá. Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Chiết khấu chứng từ có giá trong Ngân hàng thương mại là việc Ngân hàng đứng ra trả trước các hối phiếu hoặc các chứng từ có giá khác chưa đến hạn thanh toán theo yêu cầu của người thụ hưởng bằng cách khấu trừ ngay một số tiền nhất định được gọi là chiết khấu, số tiền khấu trừ được tính theo trị giá chứng từ, thời hạn chiết khấu, lãi suất và các tỷ trọng chiết khấu khác, số tiền còn lại thanh toán cho người thụ hưởng. Người thụ hưởng muốn nhận số tiền này thì bắt buộc phải làm thủ tục chuyển nhượng quyền hưởng lợi cho ngân hàng chiết khấu đối với các chứng từ xin chiết khấu.

Trong nghiệp vụ chiết khấu, ngân hàng cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp sở hữu chứng từ. Nhưng khi chứng từ đến hạn ngân hàng lại gửi chứng từ đi để đòi tiền từ người có nghĩa vụ trả tiền.

  • c. Hình thức cho thuê tài chính.

Cho thuê tài chính đối với DN nhỏ và vừa là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiên vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa Ngân hàng (Bên cho thuê) và Doanh nghiệp (bên thuê).

Khi đó, Ngân hàng cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của Doanh nghiệp và nắm quyền sở hữu đối với các tài sản thuê trong suốt quá trình thuê.

Doanh nghiệp sẽ được sử dụng tài sản thuê, thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và không được hủy bỏ hợp đồng thuê trước thời hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, Doanh nghiệp được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đó theo các điều kiện đã được hai bên thoả thuận. Phần lớn, các DN nhỏ và vừa vay vốn Ngân hàng chủ yếu nhằm mục đích đầu tư và mua sắm tài sản cố định trong DN. Nhưng có những trường hợp DN nhỏ và vừa không có hoặc chưa đủ điều kiện để vay. Để mở rộng hoạt động tín dụng thì NH sẽ mua tài sản theo yêu cầu của DN sau đó cho DN thuê lại. Từ đó, phát sinh nghiệp vụ cho thuê tài chính giữa Doanh nghiệp và Ngân hàng .

  • d. Hình thức bảo lãnh cho các DN nhỏ và vừa của Ngân hàng.

Bảo lãnh Ngân hàng là việc cấp tín dụng được thực hiện thông qua cam kết bằng văn bản của Ngân hàng với bên thụ hưởng bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho của mình (các DN nhỏ và vừa). Các DN nhỏ và vừa phải nhận nợ và hoàn trả lại cho ngân hàng số tiền đã được trả thay. Bảo lãnh Ngân hàng đối với DN nhỏ và vừa được phân chia thành nhiều hoạt động khác nhau, trong đó chủ yếu là bảo lãnh bảo đảm tham gia dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh vay vốn và bảo lãnh đảm bảo thanh toán. Với hình thức tài trợ bằng uy tín này thì Ngân hàng chưa cần xuất tiền ngay cho nên bảo lãnh được coi là tài sản ngoại bảng. Nhưng, trong trường hợp DN nhỏ và vừa không có khả năng chi trả thì chính Ngân hàng là bên thực hiện nghĩa vụ và khoản chi trả đó sẽ được xếp vào tài sản cấu thành nợ quá hạn trong nội bảng. Vì vậy mà hoạt động bảo lãnh chứa đựng rất nhiều rủi ro và đòi hỏi Ngân hàng phải phân tích DN nhỏ và vừa một cách kỹ lưỡng.

  • e. Hình thức cấp tín dụng khác Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Ngoài các hình thức cấp tín dụng được nêu ở trên Ngân hàng còn có các hình thức cấp tín dụng khác như bao thanh toán, thanh toán bằng tín dụng chứng từ (L/C), tín dụng cho thuê mua vượt biên giới, tạm ứng cho nhập khẩu hay tín dụng chấp nhận hối phiếu danh cho nhà nhập khẩu,…

1.2.3 Vai trò của việc cấp tín dụng đối doanh nghiệp nhỏ và vừa.

1.2.3.1 Tín dụng ngân hàng là nguồn cung cấp vốn để doanh nghiệp duy trì tồn tại và phát triển.

Trong nền kinh tế hiện nay, bất kỳ ai cũng muốn đồng vốn của mình sinh lời. Những người có vốn tạm thời nhàn rỗi thì sẵn sàng cho vay số tiền đó để lấy lãi, còn những nhà doanh nghiệp cũng vì mục đích sinh lợi của vốn mà cần vay thêm tiền để mở rộng sản xuất. Với tư cách là trung gian, Ngân hàng đã giải quyết được vấn đề đó. Với hoạt động chính đi vay để cho vay, Ngân hàng đã tạo cơ hội cho các chủ DN nhỏ và vừa muốn mở rộng sản xuất kinh doanh hay thực hiện một dự án kinh doanh có thể vay vốn để thực hiện.

Khi vốn được giải ngân, sức mạnh tài chính DN nhỏ và vừa tăng lên thì các DN nhỏ và vừa cũng có cơ hội thực hiện được mục đích của mình, mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh, chiếm lĩnh thị trường, tạo thế cạnh tranh.

1.2.3.2 Tín dụng Ngân hàng giúp cho doanh nghiêp có thể dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn nước ngoài và nâng cao khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.

Tín dụng ngân hàng có khả năng thu hút nguồn vốn nước ngoài dưới nhiều hình thức như trực tiếp vay bằng tiền, bảo lãnh cho các DN nhỏ và vừa mua thiết bị trả chậm, sử dụng hạn mức L/C…. Như vậy quan hệ quốc tế của các DN nhỏ và vừa đã được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN nhỏ và vừa đặc biệt là các DN nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.

Từ việc vay vốn của Ngân hàng DN nhỏ và vừa xác lập một cơ cấu vốn tối ưu đảm bảo kết hợp hiệu quả giữa nguồn đi vay với nguồn vốn tự có để sản xuất những sản phẩm có giá thành thấp hơn, nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng hàng hoá và được thị trường chấp nhận. Có như vậy thì DN nhỏ và vừa mới đạt mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của mình.

1.2.3.3 Tín dụng Ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DN nhỏ và vừa.

Tín dụng ngân hàng đã thúc đẩy các DN nhỏ và vừa nâng cao hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vốn. Để có tiền cho các DN nhỏ và vừa vay, ngân hàng phải tiến hành huy động vốn và có quy định thời hạn trả vốn rõ ràng, như vậy ngân hàng cũng phải cân đối giữa nguồn huy động và nguồn cho vay sao cho phù hợp, đảm bảo tính thanh khoản cho ngân hàng. Vì vậy, khi ký kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng đã cân nhắc nguồn có khả năng giải ngân, và thời hạn cần thiết để thu hồi vốn. Cho nên đến thời hạn trả nợ, dù DN nhỏ và vừa làm ăn có lãi hay không cũng phải thực hiện nhiệm vụ trả nợ của mình. Do đó bắt buộc hoạt động kinh doanh của DN nhỏ và vừa phải sinh lời. Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Ngoài ra, khi cho vay Ngân hàng thường xuyên kiểm tra tình hình kinh doanh cũng như tình hình tài chính của DN nhỏ và vừa, NH chỉ cho vay những DN nhỏ và vừa có kết quả kinh doanh tốt, tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, đảm bảo có khả năng trả nợ cho ngân hàng. Yếu tố này thúc đẩy DN nhỏ và vừa quan tâm hơn đến hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, tăng vòng quay vốn tạo điều kiện nâng cao khả năng tối đa hoá lợi nhuận của các DN nhỏ và vừa. Thông qua cho vay, vốn tín dụng được cung cấp kịp thời tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh và nâng cao trách nhiệm sử dụng vốn của các DN việc quản lý vốn thông qua quá trình hạch toán kinh tế góp phần củng cố chế độ hạch toán kinh tế trong các DN nhỏ và vừa thêm vững chắc.

1.2.3.4 Tín dụng Ngân hàng góp phần nâng cao khả năng trình độ của lãnh đạo và nhân viên trong doanh nghiệp.

Khi muốn nâng cao hiệu quản quản lý của doanh nghiệp và tăng năng suất lao động cần phải nâng cao trình độ quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp và trình độ tay nghề người lao động. Do vậy, nếu doanh nghiệp có thể tiếp cận được nguồn tín dụng từ ngân hàng sẽ làm tăng nguồn vốn hoạt động cho doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp mạnh dạn hơn trong công tác đào tạo của mình. Ngoài ra, Ngân hàng còn đưa ra những biện pháp, góp ý giúp doanh nghiệp có thể thực hiện công việc kinh doanh thuận lợi và tốt hơn. Do đó, Ngân hàng đã gián tiếp góp phần tăng năng lực quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp và trình độ công nhân

Qua những điều trên, ta thấy được vai trò to lớn của tín dụng Ngân hàng đối với các DN nhỏ và vừa. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa là vô cùng cần thiết để hoàn thiện một nền kinh tế, đặc biệt đối với nền kinh tế đang phát triển như nước ta hiện nay.

1.3 Chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

1.3.1 Khái niệm về chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Chất lượng tín dụng trong Ngân hàng là việc Ngân hàng đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu vay vốn của khách hàng. Các khoản tín dụng này sẽ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư đổi mới trang thiết bị nhằm nâng cao chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Kết quả là doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, mở rộng quy mô sản xuất, tăng doanh thu và lợi nhuận, đồng thời trả được gốc và lãi tiền vay cho Ngân hàng.

Chất lượng tín dụng được xem xét trên các phương diện:

  • Đối với Ngân hàng: chất lượng tín dụng thể hiện ở việc các khoản vay phải được hoàn trả đầy đủ, đúng hạn.
  • Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa: Chất lượng tín dụng thể hiện ở việc đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý của doanh nghiệp với lãi suất phù hợp và các thủ tục cần đơn giản để không làm mất cơ hội của doanh nghiệp.
  • Đối với nền kinh tế: Chất lượng tín dụng thể hiện ở việc phục vụ cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung sản xuất kinh doanh, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng kinh tế, phát triển kinh tế đất nước.

Tóm lại, chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với DN nhỏ và vừa là thước đo đánh giá khả năng kinh doanh của cả ngân hàng lẫn của DN nhỏ và vừa. Chất lượng tín dụng của Ngân hàng đối với DN nhỏ và vừa tốt hay xấu đều được đánh giá bởi những chỉ tiêu liên quan đến dư nợ, khả năng thu hồi vốn và mức độ rủi ro của khoản vay (liên quan đến vấn đề nợ quá hạn, nợ xấu,…). Thông qua chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa Ngân hàng có thể đưa ra những giải pháp khắc phục những vấn đề tiêu cực cũng như phát huy những mặt tích cực trong quá trình hoạt động tín dụng để giảm thiểu tối đa rủi ro trong kinh doanh của Ngân hàng cũng như vấn đề trả nợ của DN nhỏ và vừa.

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng DN nhỏ và vừa Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Để đánh giá chất lượng tín dụng DN nhỏ và vừa ta xét trên các góc độ khác nhau: Ngân hàng, Doanh nghiệp nhỏ và vừa, nền kinh tế – xã hội.

1.3.2.1 Xét trên góc độ của Ngân hàng

1.3.2.1.1 Chỉ tiêu định tính

Chỉ tiêu định tính là những chỉ tiêu mang tính tương đối thường được dùng để đánh giá chất lượng tín dụng một cách khái quát. Các chỉ tiêu định tính bao gồm:

Những việc đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc cho vay nhằm hạn chế đến mức tối đa rủi ro cho Ngân hàng và thực hiện tốt các chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ.

Uy tín của ngân hàng đối với khách hàng, sự hài lòng của khách hàng đối với các sản phẩm tín dụng mà ngân hàng cung cấp về quy mô, lãi suất, phí, thời gian phục vụ…

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng, khả năng ứng dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại trong quá trình cung cấp tín dụng nhằm rút ngắn thời gian phục vụ nhưng vẫn đảm bảo thu nhập, lưu trữ đầy đủ thông tin về giúp ngân hàng có thể khai thác, phát hiện và ngăn ngừa rủi ro.

Việc phối hợp tốt với các cơ quan chức năng như: Công chứng, trung tâm giao dịch đảm bảo, các tổ chức, đoàn thể làm tốt công tác cho vay.

Một trong những yếu tố đánh giá chất lượng tín dụng là hiệu quả xã hội mà nó đem lại. Hoạt động tín dụng không nên chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận mà còn phải đảm bảo hiệu quả xã hội. Nghĩa là hoạt động tín dụng phải phục vụ sản xuất và lưu thông theo đúng đường lối kinh tế của Chính phủ, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, hạn chế tệ nạn xã hội, khai thác có hiệu quả nguồn lực của quốc gia như: tài nguyên, con người, vốn, khoa học công nghệ thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ tập trung vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tín dụng và ổn định kinh tế xã hội. Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Các chỉ tiêu định tính chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của cán bộ tín dụng và người quản lý cũng như các mối quan hệ của họ với khách hàng do đó trên thực tế khi nói đến chất lượng tín dụng người ta chú ý nhiều đến các chỉ tiêu định lượng.

1.3.2.1.2 Chỉ tiêu định lượng.

  • a. Chỉ tiêu doanh số thu nợ.

Doanh số thu nợ là số tiền mà Ngân hàng thu hồi được từ hoạt động tín dụng trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này phản ánh năng lực của Ngân hàng trong công tác thu hồi nợ. Do đó, chỉ tiêu càng cao thì càng chứng tỏ hoạt động tín dụng của Ngân hàng có hiệu quả, chất lượng tín dụng có dấu hiệu tốt cần phát huy. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này bị giảm xuống thấp thì càng cho thấy doanh thu của Ngân hàng giảm, chất lượng tín dụng gặp vấn đề cần phải có biện pháp khắc phục. Như vậy, ta thấy chỉ tiêu doanh số thu nợ là một chỉ tiêu trực tiếp đánh giá hiệu quả tình hình hoạt động của Ngân hàng.

  • b. Chỉ tiêu doanh số cho vay.

Doanh số cho vay là số tiền mà Ngân hàng giải ngân được cho khách hàng trong một khoảng thời gian xác định. Con số này phản ánh khả năng Ngân hàng có thể giải ngân được trong một thời kỳ và nó có mối quan hệ ràng buộc với doanh số thu nợ và dư nợ tín dụng.

  • c. Chỉ tiêu dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Chỉ tiêu dư nợ tín dụng là lượng tiền mà Ngân hàng chưa thu hồi được từ hoạt động tín dụng tại một thời điểm nhất định.

Để phân tích một cách đúng đắn, kỹ càng. Ngân hàng có thể phân loại dư nợ tín dụng theo nhiều hình thức khác nhau như phân loại theo kỳ hạn, theo loại tiền hay các ngành hoặc thành phần kinh tế.

Trong đó, phân loại theo kỳ hạn người ta chia ra là dư nợ tín dụng ngắn hạn, dư nợ tín dụng trung hạn và dư nợ tín dụng dài hạn. Dư nợ tín dụng ngắn hạn là khoản dư nợ có thời hạn hoàn trả dưới 1 năm và thường là những khoản vay có giá trị thấp như cho vay vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp. Dư nợ tín dụng dài hạn có thời hạn hoàn trả trên năm năm, tín dụng dài hạn được sử dụng để cấp vốn cho các doanh nghiệp vào các vấn đề như: xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Dư nợ tín dụng trung hạn là loại dư nợ tín dụng có thời gian hoàn trả trong vòng khoảng 5 năm, loại tín dụng này được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.

Để phân loại dư nợ theo loại tiền người ta có dư nợ theo tiền nội tệ (VNĐ) và ngoại tệ (USD, EUR,…). Hình thức phân loại dư nợ này được áp dụng để phân tích so sánh tỷ trọng doanh nghiệp sử dụng vốn vay giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Thông thường dư nợ của đồng nội tệ thường cao hơn đồng ngoại tệ do tính thuận lợi trong việc giao dịch mua bán trong nước của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi các DN giao dịch với khách hàng nước ngoài để thuận lợi cho công việc buôn bán ngoài nước DN cũng sử dụng vốn vay bằng ngoại tệ để giao thương với bạn hàng. Do đó, việc phân tích phân loại dư nợ theo loại tiền là cần thiết để xem xét kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp cũng như các thành phần kinh tế khác.

Bên cạnh hai phương thức phân loại trên để đánh giá hoạt động tín dụng của Ngân hàng người ta cũng phân chia dư nợ theo các thành phần kinh tế như các doanh nghiệp và cá nhân… Phân chia dư nợ theo ngành kinh tế như thương mại dịch vụ, sản xuất hàng hóa, công nghiệp chế tạo,…. Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Khi phân tích chỉ tiêu dư nợ tín dụng và vừa để đánh giá chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ ta dựa vào những chỉ số sau :

  • Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng đối với DN nhỏ và vừa
  • Tỷ trọng dư nợ DN nhỏ và vừa trên tổng dư nợ:

Trong đó, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng đối với DN nhỏ và vừa thể hiện sự thay đổi tăng hay giảm dư nợ của kỳ này so với kỳ trước, quy mô tín dụng đối với DN nhỏ và vừa của Ngân hàng. Từ đó có thể biết được tình hình hoạt động tín dụng của Ngân hàng đang sôi động hay ảm đạm để đưa ra được những biện pháp khắc phục hay phát huy. Tỷ trọng dư nợ DN nhỏ và vừa trên tổng dư nợ thể hiện cơ cấu lượng dư nợ tín dụng đối với DN nhỏ và vừa chiếm bao nhiêu phần trăm trên tổng dư nợ. Từ đó, có thể biết được phân khúc khách hàng DN nhỏ và vừa có phải nhân tố tạo nên lượng lớn dư nợ hay không, hoặc tỷ trọng đó có ảnh hưởng gì đến chất lượng tín dụng,…

  • d. Chỉ tiêu nợ xấu, nợ quá hạn

Theo quyết định số 493/2017/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng có chính sách dự phòng rủi ro được Ngân hàng nhà nước chấp thuận thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể như sau:

Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.

Nhóm 2 (Nợ cần chú ý – Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ.

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn – Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ – Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao. Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn – Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Trong đó, ta có :

  • Tỷ trọng nợ quá hạn được tính theo công thức:
  • Tỷ trọng nợ xấu từ ( nhóm 3 đến nhóm 5 ) được tính theo công thức

Theo thông tư số 2 (tài liệu tham khảo số 4), đối với trích lập dự phòng rủi ro chung tỷ lệ là 0,75% cho các nhóm nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4. Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ quy định như sau: Nhóm 1: 0%; Nhóm 2: 5%; Nhóm 3: 20%; Nhóm 4: 50%; Nhóm 5: 100%. Với cách phân loại nợ

như trên thì nợ xấu sẽ thuộc nhóm 3, 4 và 5; nợ quá hạn thuộc nhóm 2, 3, 4 và 5. Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào tỷ trọng của các nhóm nợ, ngân hàng nào có tỷ trọng nhóm nợ 2, 3, 4, 5 đặc biệt là nhóm 3, 4, 5 càng cao thì chất lượng tín dụng càng thấp và ngược lại.

Công thức tính trích lập dự phòng rủi ro cụ thể được quy định theo thông tư số 02/2025/TT-NHNN [4.5]

Ri: là số tiền dự phòng cụ thể phải trích của từng khách hàng đối với số dư nợ gốc của khoản nợ thứ i. Ri được xác định theo công thức: Ri = (Ai – Ci) x r

Trong đó:

  • Ai: Số dư nợ gốc thứ i;
  • Ci: giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm, tài sản cho thuê tài chính (sau đây gọi chung là tài sản bảo đảm) của khoản nợ thứ i;
  • r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể theo nhóm được quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp Ci > Ai thì Ri được tính bằng 0

Trong đó, theo điều 6, Thông tư 02 [4.5] có ghi:

Tỷ lệ khấu trừ tối đa đối với tài sản bảo đảm:

  1. Tiền gửi của khách hàng bằng Đồng Việt Nam: 100%;
  2. Vàng miếng, trừ vàng miếng quy định tại điểm i khoản này; tiền gửi của khách hàng bằng ngoại tệ: 95%;
  3. Trái phiếu Chính phủ, công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá do chính tổ chức tín dụng phát hành; thẻ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác phát hành:
  • Có thời hạn còn lại dưới 1 năm: 95%;
  • Có thời hạn còn lại từ 1 năm đến 5 năm: 85%;
  • Có thời hạn còn lại trên 5 năm: 80%.

Chứng khoán do các tổ chức tín dụng khác phát hành được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán: 70%;

  • đ) Chứng khoán do doanh nghiệp khác phát hành được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán: 65%;

Chứng khoán chưa được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán, giấy tờ có giá, trừ các khoản quy định tại điểm c khoản này, do tổ chức tín dụng có đăng ký niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán phát hành: 50%;

Chứng khoán chưa được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán, giấy tờ có giá, trừ các khoản quy định tại điểm c khoản này, do tổ chức tín dụng không có đăng ký niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán phát hành: 30%;

Chứng khoán chưa được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán, giấy tờ có giá do doanh nghiệp có đăng ký niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán phát hành: 30%; Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Chứng khoán chưa được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán, giấy tờ có giá do doanh nghiệp không có đăng ký niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán phát hành: 10%;

  1. Bất động sản: 50%;
  2. Vàng miếng không có giá niêm yết, vàng khác và các loại tài sản bảo đảm khác: 30%.

e. Chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động tín dụng.

  • Chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động tín dụng được xác định bởi các công thức sau:
  • Chỉ tiêu này cho biết, nếu trong một đồng dư nợ cấp ra cho DN nhỏ và vừa thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận thu về.

Chỉ tiêu này cho biết, nếu trong một đồng của lợi nhuận của Ngân hàng thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận thì có bao nhiêu đồng từ hoạt động tín dụng DN nhỏ và vừa.

Thông qua những tỷ trọng về lợi nhuận từ hoạt động tín dụng của DN nhỏ và vừa,ta có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động cũng như chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng có tốt hay không. Sở dĩ, tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chính cho Ngân hàng nó mang tính chất trọng yếu và sống còn của Ngân hàng do đó lợi nhuận thu lại từ hoạt động tín dụng là một chỉ tiêu không thể thiếu trong việc đánh giá chất lượng tín dụng. Do vậy,nếu những tỷ trọng về hoạt động tín dụng đối với DN nhỏ và vừa cao, chứng tỏ lợi nhuận mang lại từ hoạt động tín dụng đối với DN nhỏ và vừa là nhân tố quan trọng mang lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng, giúp Ngân hàng phát triển tốt. Từ đó cần phát huy cũng như duy trì tốt mối quan hệ đối với đối tượng DN nhỏ và vừa và phương thức, chiến lược kinh doanh này. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này thấp, ta cần phải xem xét bổ sung những hạn chế, và thay đổi phương pháp kinh doanh để chỉ tiêu này cao hơn. Điều đó dẫn đến hiệu quả hơn, và chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa tốt hơn.

  • f. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Hiệu suất sử dụng vốn đối với DN nhỏ và vừa được tính theo công thức sau:

Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng tổng vốn huy động sẽ dành ra bao nhiêu đồng cho hoạt động tín dụng của DN nhỏ và vừa. Chỉ tiêu này phản ánh quy mô và khả năng tận dụng nguồn vốn của NH. Ngoài ra, tỷ lệ này cũng đánh giá sự phù hợp giữa nguồn vốn huy động và tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

  • g. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng, thời gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm. Vòng quay vốn càng nhanh (chỉ số vòng quay vốn tín dụng càng lớn) thì được coi là tốt và việc đầu tư càng được an toàn.

1.3.2.2 Xét trên góc độ Doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Để có thể vay vốn một cách hiệu quả và phù hợp với chính bản thân mình, các DN nhỏ và vừa cũng cần có những chỉ tiêu đánh giá riêng dành cho Ngân hàng mà mình vay vốn. Đó là những yêu cầu của Doanh nghiệp dành cho Ngân hàng như về mức lãi suất, các dịch vụ chăm sóc khách hàng, các phương thức cho vay của Ngân hàng,… Những chỉ tiêu đó là những tiêu chí quan trọng trong việc đưa ra quyết định lựa chọn Ngân hàng nào phù hợp với mình. Bởi vì, việc lựa chọn đó ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của Doanh nghiệp có tốt hay không. Chất lượng tín dụng dưới góc độ của Doanh nghiệp được thể hiện bởi những kết quả như: Doanh thu hay lợi nhuận của bản thân Doanh nghiệp có tăng lên, lao động hay cơ sở vật chất có được cải thiện từ những dự án được vay vốn từ Ngân hàng hay không,…

Do đó, ta có thể nói Doanh nghiệp có hoạt động tốt thì chất lượng tín dụng mới tốt. Chất lượng tín dụng của doanh nghiệp trong một Ngân hàng không chỉ được đánh giá từ phía Ngân hàng mà còn cả Doanh nghiệp nữa.

1.3.2.3 Xét trên góc độ nền kinh tế – xã hội.

Ngoài việc được xét trên góc độ của Ngân hàng và Doanh nghiệp thì chất lượng tín dụng của Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được đánh giá qua góc độ của nền kinh tế.

Như đã biết, Doanh nghiệp chịu ảnh hưởng khá nhiều từ nền kinh tế. Cụ thể từ những biến đổi của thị trường tài chính và các vấn đề xã hội và ngược lại. Chất lượng tín dụng của Doanh nghiệp nhỏ và vừa xét ở góc độ kinh tế xã hội thể hiện ở sức mua của người dân về mặt hàng mà doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh. Cụ thế những mặt hàng đó có thu hút được khách hàng không, nó có thể hiện được sự khác biệt và tính tiện lợi cần có trên một sản phẩm không?… Ngoài ra, doanh nghiệp đó có thu hút nguồn lao động vốn có trên thị trường? … Trong một nền kinh tế, một Doanh nghiệp có chất lượng tín dụng tốt là một Doanh nghiệp luôn có thể xoay chuyển một cách linh hoạt và vẫn đứng vững trên thị trường cho dù nền kinh tế có suy yếu và ngược lại.

Như vậy, khi đánh giá chất lượng tín dụng của Doanh nghiệp nhỏ và vừa ta cần đánh giá một cách tổng thể trên nhiều khía cạnh cả về vi mô lẫn vĩ mô để đưa ra kết luận một cách chính xác nhất.

1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

1.3.3.1 Các nhân tố chủ Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Khi xét đến các nhân tố tác động đến chất lượng cho vay của NHTM, trước tiên cần nghiên cứu các nhân tố chủ quan. Bởi cần phải tìm hiểu các nhân tố xuất phát từ chính bản thân Ngân hàng một cách cặn kẽ thì mới có thể đưa ra được các giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng cho vay của Ngân hàng.

  • a. Chính sách tín dụng của Ngân hàng đối với DN nhỏ và vừa.

Không chỉ riêng ngành Ngân hàng mà tất cả các ngành, các lĩnh vực muốn hoạt động có hiệu quả và phát triển đều cần phải có một chiến lược phù hợp với tình hình thực tế. Chính sách tín dụng của NHTM là hệ thống các chủ trương, định hướng, quy định chi phối hoạt động tín dụng do ngân hàng đưa ra nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn để tài trợ cho các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân. Từ đó đạt được những mục tiêu mà ngân hàng đã hoạch định. Chính sách tín dụng bao gồm các chính sách về quy mô và giới hạn tín dụng, chính sách lãi suất, chính sách về thời hạn nợ và chính sách về tài sản đảm bảo.

Trước mỗi kì kinh doanh, các NHTM thường đưa ra phương hướng đối với mọi hoạt động kinh doanh, trong đó có hoạt động tín dụng để xác định rõ chỉ tiêu đối với từng đối tượng khách hàng, như khách hàng doanh nghiệp, khách hàng cá nhân…Nếu ngân hàng xác định nâng cao chất lượng tín dụng với đối tượng DN nhỏ và vừa thì các chính sách thuộc chính sách tín dụng đối với DN nhỏ và vừa cần phải đảm bảo, phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của đối tượng khách hàng này. Có thể nói nhân tố tiên quyết và quan trọng nhất tác động đến hoạt động cho vay đối với DN nhỏ và vừa là phương hướng, thiện chí cho vay của NHTM.

  • b. Quy trình cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Quy trình cho vay là các bước mà cán bộ tín dụng và những người có liên quan, có thẩm quyền cần thực hiện trong quá trình cho vay. Quy trình cho vay bao gồm các bước thu thập, xử lý thông tin và thẩm định tín dụng, tái thẩm định và duyệt vay, đăng ký giao dịch bảo đảm và lập hồ sơ tín dụng, giải ngân, quản lý sau giải ngân, thanh lý hợp đồng tín dụng và giải toả tài sản.

Quy trình cho vay hợp lý sẽ giúp quá trình cho vay hiệu quả hơn và giảm bớt được thời gian và chi phí. Việc thực hiện tốt các nội dụng, quy định trong từng bước cùng với việc phân tích tín dụng hiệu quả sẽ giúp ngân hàng tránh được rủi ro cũng như nâng cao được chất lượng cho vay.

Một quy trình cho vay cụ thể và chi tiết sẽ là phương tiện đắc lực để ngân hàng kịp thời tìm ra các sai sót, kiểm soát được các khoản vay và theo đó có thể đưa ra các quyết định đúng đắn. Quy trình cho vay cần được xây dựng một cách thống nhất và cần có sự linh hoạt vời từng khoản vay. Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

  • c. Khả năng thu thập thông tin.

Ngân hàng thương mại phải nắm bắt kịp thời những thông tin cả bên trong lẫn bên ngoài để hoạt động cho vay hiệu quả. Những thông tin bên ngoài gồm có: Khách hàng, những biến đổi của môi trường kinh tế, dân số, văn hoá, xã hội, chính trị, luật pháp, đối thủ cạnh tranh, nhu cầu khách hàng,…

Ngân hàng sẽ đưa ra những phương hướng hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động cho vay nói riêng phù hợp nếu nắm đầy đủ, chính xác, kịp thời những thông tin về kinh tế, xã hội, thị trường. Những thông tin về khách hàng chính xác thì hoạt động cho vay của ngân hàng đối với từng khách hàng sẽ hợp lí hơn và chủ động hơn. Việc đó sẽ giúp cho ngân hàng không bỏ lỡ nhiều cơ hội cho vay tốt, đồng thời hạn chế được những rủi ro cho những khoản cho vay của mình.

  • d. Chất lượng thẩm định cho vay.

Công tác thẩm định có vai trò quan trọng trong quá trình cho vay cũng như trong việc phòng tránh rủi ro tín dụng vì cho vay là hoạt động sinh lời lớn nhất song cũng là hoạt động rủi ro nhất của các NHTM.

Trước khi cho vay, ngân hàng phải tiến hành phân tích, thẩm định khách hàng và phướng án vay vốn để quyết định có cho vay hay không. Ngân hàng tiến hành thu thập các thông tin về khách hàng, đánh giá và phân tích năng lực pháp lý, uy tín của khách hàng, năng lực tài chính của khách hàng, phân tích phương án vay vốn và dự đoán dòng thu nhập trong tương lai của khách hàng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng. Thêm vào đó, ngân hàng cũng phân tích và dự đoán ảnh hưởng của môi trường kinh doanh đến phương án vay vốn cũng như khả năng trả nợ củ khách hàng.

Thẩm định là bước đầu tiên trong quy trình cho vay, làm tốt bước này sẽ tạo cơ sở để thực hiện tốt các bước tiếp theo. Thẩm định được xem là một công cụ hữu hiệu để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, từ đó giúp nâng cao chất lượng của các khoản cho vay. Đối với những khách hàng không đủ điều kiện vay vốn và việc đảm bảo an toàn cho khoản vay thấp ngân hàng sẽ từ chối cho vay. Trong tường hợp ngân hàng chấp nhận cho vay, thông qua việc thẩm định ngân hàng có thể dự đoán được các nguy cơ có thể xảy đến đối với khoản vay. Nếu công tác thẩm định có chất lượng tốt, ngân hàng có thể đưa ra những quyết định tương đối chính xác về việc cho vay hay không, giảm thiểu được nguy cơ mất vốn. Thẩm định giúp cho ngân hàng lựa chọn được khách hàng tốt, loại bỏ ngay từ đầu những khoản cho vay có rủi ro cao. Ngoài ra, nó cũng giúp ngân hàng hiểu rõ được hoạt động của khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhất và nâng cao khả năng thu nợ gốc và lãi của mình. Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

  • e. Hệ thống thông tin tín dụng.

Hệ thống thông tin tín dụng là vô cùng quan trọng trong bất kỳ Ngân hàng nào. Thông tin về doanh nghiệp càng chi tiết, cụ thể, chính xác sẽ càng đảm bảo chất lượng các khoản vay. Thông tin tín dụng không chỉ giúp ngân hàng trong những quyết định cho vay mà còn hỗ trợ cho ngân hàng trong việc kiểm soát khoản vay và dự báo tình trạng kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó ngân hàng sẽ chủ động trong việc đưa ra các biện pháp giảm thiểu rủi ro. Đặc biệt, trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì việc nắm bắt thông tin về đối tác và đối thủ cạnh tranh là điều hết sức cần thiết.

Việc xây dựng hệ thống thông tin hữu hiệu, nắm bắt kịp thời, chính xác luồng thông tin về khách hàng với nhiều nguồn cung cấp là một trong những điều kiện quyết định sự thành công trong hoạt động kinh doanh cũng như nâng cao chất lượng cho vay của NHTM.

  • f. Công tác kiểm tra, kiểm soát.

Việc kiểm tra, kiểm soát cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro cho khoản cho vay. Công việc này phải được tiến hành đồng thời giữa thanh tra, kiểm tra nội bộ ngân hàng và kiểm tra, giám sát doanh nghiệp. Công tác kiểm soát tốt và theo dõi sát sao khách hàng là việc làm rất cần thiết trong mục tiêu giảm thiểu rủi ro của ngân hàng. Đối với những khoản vay được kiểm tra thường xuyên sẽ hạn chế được tình trạng sử dụng vốn sai mục đích, không hiệu quả của doanh nghiệp, giúp kịp thời phát hiện và xử lý sai phạm, giảm nguy cơ mất vốn của ngân hàng. Bên cạnh đó, nếu hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ, khách quan và trung thực sẽ làm tăng tinh thần trách nhiệm của cán bộ tín dụng và xử lý kịp thời những sai sót, giảm bớt rủi ro góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

  • g. Hiệu quả huy động vốn.

Huy động vốn là hoạt động tạo vốn của ngân hàng thương mại nó đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng muốn thực hiện được hoạt động cho vay thì điều kiện đầu tiên là phải phát triển được công tác huy đông vốn vì ngân hàng hoạt động trên cơ sở đi vay để cho vay. Hoạt động huy động vốn có tốt và vốn huy động được có chất lượng cao thì mới có thể có được những khoản vay có chất lượng. Khi ngân hàng có được chính sách tín dụng hợp lý, thu hút được nhiều khách hàng vay vốn nhưng số vốn huy động được không đủ để cấp tín dụng cho khách hàng thì không những không thể có được các khoản vay có chất lượng mà thậm chí còn không thể cho vay được. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng phải đảm bảo huy động được số vốn đáp ứng đầy đủ và kịp thời với nhu cầu vay vốn của khách hàng.

  • h. Công nghệ và trang thiết bị của ngân hàng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Công nghệ thông tin phát triển là công cụ hữu hiệu trong việc phân tích và quản lý các khoản cho vay nói chung và cho vay đối với DN nhỏ và vừa nói riêng. Công nghệ và trang thiết bị hiện đại là điều kiện để đơn giản hoá các thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch, đem lại sự tiện lợi tối đa cho cả khách hàng và ngân hàng. Ngoài ra, công nghệ hiện đại cũng làm tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến việc thu hút khách hàng, mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng

  • i. Trình độ cán bộ tín dụng.

Đối với các ngân hàng thì trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp… của đội ngũ cán bộ tín dụng là điều hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng của ngân hàng vì đội ngũ cán bộ nhân viên là những người trực tiếp làm việc với khách hàng, là cầu nối giữa khách hàng và ngân hàng và họ cũng chính là người tạo lập các mối quan hệ với khách hàng. Do đó, chất lượng và hiệu quả cho vay cao hay thấp phụ thuộc khá nhiều vào công tác tuyển chọn và đào tạo đội ngũ cán bộ của mỗi NHTM.

Công tác quản lý và tổ chức cán bộ của ngân hàng cũng rất quan trọng. Việc phân công việc làm hợp lý, chế độ đãi ngộ tốt sẽ giúp phát huy được hết khả năng của mỗi cá nhân, khuyến khích nhân viên làm việc hết mình cho ngân hàng. Những chính sách quản lý con người luôn luôn có tác động lâu dài và ảnh hưởng lớn đến chất lượng hoạt động kinh doanh cũng như chất lượng hoạt động cho vay của ngân hàng.

1.3.3.2 Nhân tố khách quan

Các nhân tố khách quan chủ yếu là các nhân tố thuộc về DN nhỏ và vừa ngoài ra còn một số nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh, môi trường chính trị, pháp lý cũng ảnh hưởng đến hoạt chất lượng hoạt động cho vay DN nhỏ và vừa của NHTM.

  • a. Các nhân tố thuộc về phía doanh nghiệp

Hiệu quả trong kinh doanh, năng lực tài chính và khả năng quản lý của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là cơ sở để đánh giá khả năng sinh lời, sức mạnh tài chính và triển vọng của doanh nghiệp, là căn cứ chứng tỏ khả năng trả nợ của DN nhỏ và vừa, chi phối lớn quyết định cho vay của ngân hàng. Nếu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thấp, doanh thu không cao và lợi nhuận thấp sẽ gây khó khăn cho chính các doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng cũng như hoạt động cho vay của ngân hàng.

Năng lực tài chính và khả năng quản lý doanh nghiệp cũng là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng cho vay và nó cũng thể hiện khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Năng lực tài chính yếu kém dẫn đến doanh nghiệp có thể sẽ không trả được nợ dẫn đến gia tăng các khoản nợ quá hạn cho ngân hàng và làm tăng rủi ro đối với hoạt động cho vay của ngân hàng. Năng lực quản lý doanh nghiệp thể hiện trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và khả năng điều hành doanh nghiệp. Nếu năng lực quản lý tốt sẽ giúp doanh nghiệp hoạt động tốt, từ đó sẽ có hiệu quả kinh doanh cao đồng thời có năng lực tài chính tốt.

  • Sự minh bạch rõ ràng trong hệ thống kế toán tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Sự minh bạch được hiểu là sự công khai rõ ràng và tính chính xác trong hệ thống tài chính. Hệ thống kế toán của doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến chất lượng các khoản vay của ngân hàng. Sự minh bạch trong hệ thống kế toán tài chính chứng tỏ doanh nghiệp đã tạo được sự tin tưởng và an toàn cho ngân hàng khi cho doanh nghiệp vay vốn. Hệ thống kế toán được thực hiện theo đúng chuẩn mực kế toán, tuân thủ pháp luật sẽ giúp ngân hàng đánh giá doanh nghiệp chính xác hơn, giúp ngân hàng trong việc sàng lọc khách hàng, làm tăng chất lượng các khoản cho vay.

  • Tài sản đảm bảo của DN nhỏ và vừa Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

Các DN nhỏ và vừa vốn tự có thường thấp, vì vậy để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh thì nhu cầu vay vốn ngân hàng là rất lớn. Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có thể đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng, đặc biệt là vấn đề về tài sản đảm bảo. Tài sản đảm bảo sẽ là nguồn thu của ngân hàng khi khách hàng không thể trả được nợ, giảm bớt khả năng mất vốn của ngân hàng. Việc DN nhỏ và vừa không có những tài sản có giá trị thế chấp sẽ gặp khó khăn trong việc huy động vốn đặc biệt là vay vốn của ngân hàng.

  • b. Nhân tố thuộc về môi trường pháp lý- kinh tế – xã hội.

Thứ nhất là về pháp lý bao gồm các quy định của pháp luật và các cơ quan có thẩm quyền. Các quy định về hoạt động cho vay có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cho vay của ngân hàng. Với một môi trường pháp lý thống nhất, ổn định sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng lập kế hoạch phát triển, chủ động trong kinh doanh, ngược lại, nếu các quy định, chính sách thường xuyên thay đổi sẽ gây nên những khó khăn cho các ngân hàng, gây thiệt hại cho ngân hàng, ảnh hưởng tới hoạt động cho vay.

Bên cạnh đó, đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là DN nhỏ và vừa, nếu môi trường pháp lý thông thoáng, ổn định, các văn bản, quy định của pháp luật đồng bộ, kịp thời sẽ là cơ sở cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, mang lại thu nhập cao hơn qua đó tăng khả năng trả nợ cho ngân hàng.

Thứ hai là về môi trường kinh tế, để tạo cơ hội phát triển cho cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng, tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp cần có một môi trường kinh tế ổn định. Điều đó giúp cho DN nhỏ và vừa sản xuất kinh doanh hiệu quả, đạt lợi nhuận cao và nhu cầu mở rộng sản xuất qua đó thúc đẩy hoạt động cho vay của ngân hàng được mở rộng và có chất lượng hơn. Khi doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả thì khả năng trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng đúng hẹn giúp nâng cao chất lượng khoản vay. Môi trường kinh tế có tính cạnh tranh cao sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng hoạt động của mình là đảm bảo cho những khoản vay.

Thứ ba là môi trường chính trị – xã hội, khi một đất nước có môi trường chính trị – xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển, các thành phần kinh tế hoạt động có hiệu quả, các doanh nghiệp chủ động trong kinh doanh và làm ăn có hiệu quả. Sự biến động về chính trị hay xã hội sẽ gây ra sự xáo động cho toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy mà sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng, làm tác động đến hoạt động của ngân hàng trong đó có hoạt động tín dụng.

Tóm lại,có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động cho vay cũng như chất lượng cho vay của ngân hàng, tuỳ thuộc vào từng ngân hàng, từng hoàn cảnh mà các nhân tố có tác động khác nhau tới hoạt động cho vay DN nhỏ và vừa của NHTM. Vì vậy, mỗi ngân hàng cần tận dụng những nhân tố thuận lợi cũng như hạn chế các nhân tố bất lợi để nâng cao chất lượng cho vay, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa

One thought on “Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537