Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

2.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình- Chi nhánh HP

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh HP

2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình

Ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình (ABBANK) được thành lập theo giấy phép số 535/GP-UB do Ủy Ban Nhân Dân TP.HCM cấp vào ngày 13 tháng 05 năm 1993, có tên là Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn An Bình, số vốn điều lệ 1 tỷ và trụ sở đặt tại 138 Hùng Vương, thị trấn An Lạc, huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh. Sau 13 năm thành lập, ngày 15/11/2018 ngân hàng tiến hành đăng ký thay đổi tên lần hai như sau:

  • Tên công ty : Ngân hàng TMCP An Bình
  • Tên giao dịch: An Binh Commercial Joint Stock Bank
  • Tên viết tắt: ABBANK
  • Địa chỉ trụ sở chính: 170 Hai Bà Trưng, Phường Đa Kao, Quận 1, HCM
  • Website: abbank.

Ngành nghề kinh doanh: Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn dưới các hình thức tiền gửi có kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chức, vay vốn của ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng khác, cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn nhằm mục đích phát triển kinh tế, chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá, hùn vốn và liên doanh, làm dịch vụ thanh toán giữa các ngân hàng,…

  • Các mốc phát triển.

Năm 2014: Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong nền kinh tế ngày càng phát triển, cùng với nhu cầu mong muốn ABBANK phát triển, tháng 3/2014, ABBANK tiến hành cải cách mạnh mẽ về cơ cấu và nhân sự để tập trung vào chuyên ngành kinh doanh ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư.

Năm 2016: ABBANK tăng vốn điều lệ lên 70,04 tỷ đồng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

Năm 2017: Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) trở thành cổ đông chiến lược của ABBANK. Các cổ đông lớn khác gồm: Tổng công ty tài chính Dầu khí (PVFC), tổng công ty xuất nhập khẩu Hà Nội (GELEXIMCO).

Năm 2018: Vốn điều lệ tăng từ 165 tỷ vào đầu năm lên 1.131 tỷ đồng vào cuối năm.

Năm 2019: ABBANK ký kết hợp tác chiến lược với Agribank và các công ty thành viên của EVN như: PC1, PC2, PC3. ABBANK trở thành thành viên của mạng thanh toán PAYNET. Đồng thời vốn điều lệ của ABBANK tăng lên 2.300 tỷ đồng.

Năm 2020: ABBANK triển khai thành công phần mềm ngân hàng lõi (core banking) vào hoạt động trên toàn hệ thống. Maybank chính thức trở thành cổ đông chiến lược nước ngoài của ABBANK với tỷ trọng sở hữu là 15%. Ngân hàng thương mại cổ phần ABBANK tăng vốn điều lệ lên 2.705 tỷ đồng.

Năm 2021: Tháng 7/2021, ABBANK chính thức tăng vốn điều lệ lên 2.850 tỷ đồng, ABBANK công bố hợp tác với Prudential VN và ngân hàng Deutsche. Tháng 9/2021, ABBANK chính thức khai trương Hội sở mới tại 170 Hai Bà Trưng, P.ĐaKao, Q.1 và triển khai giao dịch ngoài giờ tại Sở giao dịch. Tháng 12/2021, ABBANK chính thức tăng vốn điều lệ lên 3.482 tỷ đồng.

Năm 2022: Tháng 12/2022, ABBANK chính thức tăng vốn điều lệ lên 3.830 tỷ đồng. Mạng lưới ABBANK đạt trên 110 điểm giao dịch phủ khắp 29 tỉnh thành trên toàn quốc. ABBANK đã kết nối thành công với hệ thống mạng lưới VNBC thông qua Smartlink. ABBANK thành lập trung tâm tài trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và tham gia dự án tài trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn III (SMEFP III).

Năm 2023: Tháng 9/2023, ABBANK ra mắt thẻ tín dụng quốc tế -ABBANK Visa Credit. Ngày 30/11/2023, ABBANK chính thức tăng vốn điều lệ lên gần 4.200 tỷ đồng thông qua việc phát hành cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu từ nguồn vốn quỹ thặng dư vốn cổ phần. Tính đến tháng 12/2023, mạng lưới giao dịch của ABBANK đạt 133 điểm trải rộng khắp 29 tỉnh thành trên toàn quốc.

Năm 2024: Mạng lưới của ABBANK đạt trên 140 điểm giao dịch tại 29 tỉnh thành trên toàn quốc, số lượng khách hàng mới của ABBANK tiếp tục tăng, đạt gần 350.000 khách hàng cá nhân, và gần 16.400 khách hàng doanh nghiệp tại thời điểm 30/06/2024.

Năm 2025: Ngân hàng đã tăng vốn điều lệ lên gần 4.800 tỷ đồng và mạng lưới lên tới 144 điểm giao dịch, ABBANK tự tin phục vụ hơn 400.000 khách hàng cá nhân và gần 17.000 khách hàng doanh nghiệp tại 29 tỉnh thành trên toàn quốc.

Đặc biệt, ABBANK là một trong những ngân hàng đầu tiên thành lập riêng một Trung tâm dịch vụ khách hàng SME, với chức năng phục vụ chuyên biệt nhóm khách hàng là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Xác định đây chính là phân khúc khách hàng chiến lược, ABBANK đã xây dựng gói giải pháp tài chính tối ưu cho SME và ra mắt Trung tâm SME nhằm phục vụ riêng cho nhóm khách hàng này với sự tư vấn và hỗ trợ kinh nghiệm từ cổ đông nước ngoài IFC vào năm 2024. Tại ABBANK, khách hàng SME sẽ được tư vấn và cung cấp một gói sản phẩm bao gồm toàn bộ các sản phẩm dịch vụ ngân hàng từ tiền vay, bảo lãnh, tiền gửi đến các dịch vụ thanh toán quốc tế, quản lý tiền tệ… Các sản phẩm trong mỗi “gói” sản phẩm được chọn lọc theo loại hình hoạt động của doanh nghiệp (kinh doanh trong nước hay xuất nhập khẩu; doanh nghiệp sản xuất hay thương mại, dịch vụ; nhà thầu…), sau đó sẽ được cấu trúc lại để phù hợp với đặc điểm riêng của mỗi doanh nghiệp (tình hình tài chính, chu kỳ phát triển, phương thức kinh doanh…) cùng với một mức giá trọn gói hợp lý giúp tối đa hóa hiệu quả tài chính cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, ABBANK còn tiếp tục tham gia dự án SMEFP III do chính phủ Nhật Bản tài trợ, cũng như thường xuyên triển khai các gói ưu đãi nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

2.1.1.2 Lịch sử hình thành của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hải Phòng.

NHTMCP An Bình – Chi nhánh Hải Phòng được thành lập vào ngày 12/5/2021 tại địa chỉ số 9 Trần Hưng Đạo, P. Minh Khai, Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng. Vào thời điểm đó Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hải Phòng do ông Phạm Thống nhất làm giám đốc chỉ có 39 cán bộ nhân viên trực tiếp chịu sự quản lý điều hành của Hội sở chính 170 Hai Bà Trưng, Phường. Đakao, Q1, TP HCM. Tính đến năm 2025, đã có thêm 3 phòng giao dịch trực thuộc đó là: Phòng giao dịch Ngô Quyền, Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn, Phòng giao dịch Lạch Tray. Đồng thời, số lượng cán bộ công nhân viên đã tăng lên thành 62 người phân bổ đều cho từng đơn vị.

Chi nhánh tập trung đa dạng hóa nguồn khách hàng đầu tiên phải kế đến nhóm khách hàng chiến lược Evn. Hiện Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hải Phòng đang quản lý khách hàng Điện Lực Hải Phòng và 07 chi nhánh Điện Lực thành viên tại Hải Phòng. Tiếp đến là các nhóm khách hàng xi măng, đóng tàu, sắt thép…..

2.1.2 Bộ máy tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các bộ phận Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

  • Sơ đồ 2.1 : Cơ cấu tổ chức Ngân Hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Hải Phòng

Hiện tại chi nhánh có tổng số 62 cán bộ nhân viên. Ban lãnh đạo gồm 1 GĐ và 1 PGĐ quản lý chi nhánh và 03 Phòng giao dịch trực thuộc tại các Phòng giao dịch đứng đầu là trưởng phòng giao dịch và các cán bộ nhân viên hoạt động như một tổ chức độc lập.

Giám đốc

  • Trực tiếp điều hành và thực hiện các nhiệm vụ của chi nhánh.
  • Thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình theo phân cấp, ủy quyền của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP An Bình, giám đốc chi nhánh cấp trên về các quyết định của mình.
  • Đề nghị các vấn đề liên quan đến tổ chức, cán bộ, đào tạo, lao động, tiền lương và nghiệp vụ kinh doanh lên giám đốc chi nhánh cấp trên xem xét và quyết định theo phân cấp ủy quyền của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP An Bình.

Phó giám đốc

  • Được thay mặt giám đốc điều hành một số công việc khi giám đốc vắng mặt (theo văn bản ủy quyền của giám đốc)
  • Giúp giám đốc chỉ đạo điều hành một số nghiệp vụ do giám đốc phân công phụ trách và chịu trách nhiệm trước giám đốc về các quyết định của mình.
  • Bàn bạc và tham gia ý kiến với giám đốc trong việc thực hiện các nhiệm vụ của chi nhánh theo nguyên tắc tập trung, dân chủ và chế độ thủ trưởng.

Các phòng ban nghiệp vụ.

  • a, Bộ phận kế toán – ngân quỹ.

Kế toán giao dịch: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

  • Phối hợp với hệ thống giao dịch trên máy, thực hiện mở, đóng giao dịch chi nhánh hàng ngày..
  • Thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng: Mở/đóng các tài khoản ( Ngoại tệ và VNĐ), thực hiện các giao dịch gửi/rút tiền tài khoản,….

Kế toán ngân quỹ:

  • Có chức năng kế toán nội bộ và kế toán khách hàng và trực tiếp hạch toán kế toán, hạch toán thống kê và thanh toán theo quy định của chi nhánh.
  • Xây dựng chỉ tiêu kế hoạch tài chính, quyết toán kế hoạch thu chi tài chính, quỹ tiền lương.
  • Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán trong và ngoài nước.
  • Theo dõi nghiệp vụ phát sinh hàng ngày tại ngân hàng.
  • Tổng hợp, lưu trữ hồ sơ tài liệu về hạch toán kế toán, quyết toán theo quy định.
  • Quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng theo quy định của ABBANK,…

b, Bộ phận hành chính nhân sự.

Xây dựng chương trình công tác hàng tháng, hàng quý và có trách nhiệm đôn đốc việc thực hiện các chương trình đã được Giám Đốc chi nhánh phê duyệt.

  • Lưu trữ các văn bản pháp luật có liên quan đến ngân hàng và văn bản định chế của ABBANK
  • Thực hiện công tác thông tin tuyên truyền quảng cáo tiếp thị theo chỉ đạo của Ban giám đốc.

c, Bộ phận quan hệ khách hàng.

Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là cá nhân hoặc doanh nghiệp, để khai thác vốn bằng VNĐ và ngoại tệ. Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu, và bán các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho khách hàng cá nhân. Có nhiệm vụ:

Khai thác nguồn vốn bằng VNĐ và ngoại tệ từ khách hàng là cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và ABBANK.

Thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng trong nghiệp vụ huy động vốn cá nhân. Kiểm soát tất cả các bút toán giao dịch thuộc thẩm quyền và phạm vi phòng quản lý.

Thực hiện tiếp thị, hỗ trợ, chăm sóc khách hàng, tư vấn cho khách hàng về sản phẩm dịch vụ của ABBANK: Tín dụng, đầu tư, chuyển tiền, mua bán ngoại tệ, thẻ, dịch vụ ngân hàng…Làm đầu mối bán các sản phẩm dịch vụ của ABBANK đến các khách hàng cá nhân. Nghiên cứu đưa ra các đề xuất về cải tiến sản phẩm dịch vụ hiện có, cung cấp những sản phẩm dịch vụ mới cho khách hàng là cá nhân. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

Thẩm định, xác minh, quản lý các giới hạn tín dụng cho các khách hàng có nhu cầu giao dịch về tín dụng và tài trợ thương mại, trình cấp có thẩm quyền quyết định theo quy định của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình.

  • d, Bộ phận quản lý tín dụng.

Quản lý tín dụng : quản lý theo dõi, phát hiện xử lý dấu hiệu rủi ro các khoản nợ vay, …

Quản lý rủi ro: là phòng có nghiệp vụ tham mưu cho giám đốc chi nhánh về công tác quản lý rủi ro của chi nhánh. Quản lý giám sát thực hiện danh mục cho vay đầu tư, đảm bảo tuân thủ các giới hạn tín dụng cho từng khách hàng, dự án, phương án, đề án cấp tín dụng. Thực hiện chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn bộ các hoạt động ngân hàng theo hướng dẫn của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình

  • e, Phòng giao dịch trực thuộc.

Các Phòng giao dịch Lạch Tray, Phòng giao dịch Ngô Quyền và Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn là đơn vị hạch toán báo sổ trực thuộc chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hải Phòng, hoạt động trên địa bàn TP. Hải Phòng chịu sự quản lý giám sát trực tiếp của Giám đốc chi nhánh; có chức năng thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn tiết kiệm, cho vay khách hàng là các cá nhân, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán dịch vụ vãng lai trên địa bàn và các nghiệp vụ liên quan đến tài khoản tiền gửi của các pháp nhân.

2.1.3 Các hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh HP

2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn

Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội để cho vay đối với nền kinh tế. Ngân hàng TMCP An Bình huy động vốn dưới các hình thức sau: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

  1. Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm VND đảm bảo giá trị theo giá USD, tiền gửi tiết kiệm VND đảm bảo giá trị theo giá vàng, chứng chỉ tiền gửi và các loại tiền gửi khác.
  2. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài.
  3. Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
  4. Vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật.
  5. Ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
  6. Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn.
  7. Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng nhà nước. ( Nguồn: Điều lệ Ngân hàng TMCP An Bình – 2025)

Hoạt động huy động vốn của Chi nhánh được thể hiện qua bảng sau:

  • Bảng 2.1 : Tình hình huy động vốn của ABBANK – CN HP

Nhìn vào bảng 2.1 ta thấy nguồn vốn của CN được hình thành chủ yếu từ vốn huy động và vốn điều chuyển từ hội sở chính. Đó là do Chi nhánh thành lập không lâu, số vốn huy động được của chi nhánh vẫn còn thấp chưa đủ để đáp ứng nhu cầu hoạt động của ngân hàng nên cần có vốn điều chuyền từ hội sở. Tuy nhiên, nguồn vốn huy động có xu hướng tăng cả về số lượng lẫn tỷ trọng trên tổng vốn qua các các năm. Đặc biệt, tới năm 2025 tỷ trọng này có một sự tăng trưởng mạnh mẽ là 85,1% ( độ tăng tuyệt đối so với 2024 là 20,4% ). Điều này cho thấy khả năng huy động vốn của Chi nhánh có chiều hướng tốt hơn.

Xét một cách cụ thể, năm 2023 huy động vốn là 229,27 tỷ đồng chiếm 55,2% trên tổng vốn. Ta có thể nhận xét năm 2023 khả năng huy động vốn của ngân hàng chưa cao nên cần thêm nhiều vốn điều chuyển từ hội sở để hoạt động. Năm 2024, lượng vốn huy động đã tăng lên thành 460,31 tỷ đồng chiếm 64,7% trên tổng nguồn vốn, tăng 45,3 tỷ đồng ( tức 10,9%) so với năm 2023 làm giảm lượng vốn điều chuyển xuống còn 162,72 tỷ. Đến năm 2025, lượng vốn huy động đạt 382,13 tỷ tăng 84,5tỷ so với năm 2024. Đồng thời lượng vốn điều chuyển từ hội sở chính giảm còn 66,80 tỷ đồng, giảm mạnh so với 2024 là 58,9%.

Sở dĩ có sự thay đổi như vậy vì năm 2023 là năm khó khăn của ngành Ngân hàng với việc lạm phát ở mức cao, giá cả tăng cao, đồng Việt Nam dần mất giá người dân có xu hướng tích trữ vàng do đó lượng vốn huy động của năm 2023 bị giảm thấp. Vậy nên, để thúc đẩy lượng vốn huy động tăng Ngân hàng phải kéo lãi suất huy động lên cao vào cuối năm 2023. Cho đến tận năm 2024, thị trường tài chính có phần ổn định hơn, Ngân hàng nhà nước cũng hạ lãi suất huy động nhưng không thể giảm lãi suất đột ngột nên lãi suất của Ngân hàng đầu năm 2024 vẫn ở mức cao, song đến cuối năm 2024 lãi suất đã được giảm dần do đó khiến cho lượng vốn huy động của Chi nhánh có tốc độ tăng không quá cao. Năm 2025, cùng với những chính sách ưu đãi, dịch vụ của Chi nhánh đã triển khai tốt chiến lược quảng bá sản phẩm thẻ và các ưu đãi tiết kiệm tiền gửi đên khách hàng nên lượng vốn huy động cũng tăng lên. Mặc dù vậy, bên cạnh việc huy động vốn có dấu hiệu tăng nhưng qua những con số về tổng vốn không có sự tăng trưởng nào thậm chí là giảm nhẹ ( giảm 2,5% so với năm 2024) và lượng vốn điều chuyển giảm đi một cách rõ ràng ta có thể cảm nhận được tình hình kinh doanh của ngân hàng đang có vấn đề trong việc sử dụng vốn. Đó có thể do tình trạng chung của nền kinh tế khi các Ngân hàng đang gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề cho vay cũng như các hoạt động kinh doanh dịch vụ mang đầy tính cạnh tranh. Điều này sẽ vô cùng ảnh hưởng đến vấn đề huy động vốn của ngân hàng trong những năm tiếp theo. Vì một ngân hàng sử dụng vốn tốt, có sự tăng trưởng nguồn vốn rõ ràng mới được coi là một ngân hàng hoạt động kinh doanh tốt, từ đó mới tạo niềm tin và hấp dẫn khách hàng gửi tiền vào. Và đồng nghĩa với việc đó, nguồn vốn huy động mới có thể tăng trưởng một cách rõ rệt. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

2.1.3.2 Tình hình hoạt động tín dụng.

Hoạt động tín dụng chủ yếu của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hải Phòng là hoạt động cho vay, do đó nguồn hình thành dư nợ tín dụng cũng chủ yếu là từ hoạt động cho vay.

Các sản phẩm cho vay của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hải Phòng là:

Đối với khách hàng cá nhân có các nghiệp vụ như: Cho vay tín chấp cho vay có tài sản đảm bảo,cho vay trả góp,cho vay tiêu dùng, cho vay mua nhà đất/ sửa chữa nhà, cho vay du học, cho vay mua cổ phiếu lần đầu evn,…

Đối với doanh nghiệp: Cho vay bổ sung vốn kinh doanh trả góp, cho vay dự án đầu tư nâng cao năng lực kinh doanh sản xuất, tài trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho vay cầm cố hàng hóa cho vay mua xe ô tô, cho vay nhà thầu điện lực…

  • Bảng 2.2 Các chỉ tiêu tín dụng tại ABBANK Hải Phòng

Nhìn vào bảng 2.2 cho thấy các chỉ tiêu tín dụng tăng giảm không đều qua các năm, biên độ giao động mỗi chỉ tiêu của các năm không cao. Cụ thể trong năm 2024 doanh số cho vay đạt 413,75 tỷ chỉ tăng 8,4% so với năm 2023. Điều đó có thể lý giải do lãi suất cho vay của ngân hàng đạt ở mức khá cao vào cuối năm 2023 và đầu năm 2024 đồng thời các doanh nghiệp gặp khó khăn trong vấn đề kinh doanh, thu hồi vốn nên ngân hàng cẩn trọng và sát sao hơn khi cho vay làm cho doanh nghiệp hoặc cá nhân khó tiếp cận được nguồn vốn. Việc này khiến cho doanh số cho vay tăng trưởng thấp. Đến năm 2025, Ngân hàng nhà nước áp dụng giảm lãi suất trần cho các doanh nghiệp, lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hải Phòng cũng đã giảm mạnh từ 12%-17% đến 9%- 12%, thêm vào đó Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hải Phòng cũng áp dụng nhiều gói vay ưu đãi được phát động từ Ngân hàng tổng dành cho các doanh nghiệp như Chương trình “Khởi đầu thành công mới” với tổng hạn mức 1.500 tỷ đồng và lãi suất từ 7,9%/năm; Chương trình “Hợp tác nội địa – Nâng tầm quốc tế” với tổng hạn mức 70 triệu USD và lãi suất vay từ 3,2%/năm,…nhưng doanh số cho vay của Chi nhánh vẫn tăng trưởng thấp ( chỉ đạt 2,9%). Điều đó thể hiện, những chính sách hỗ trợ đó thực sự vẫn chưa được áp dụng một cách hiệu quả. Bởi vì nhiều doanh nghiệp vẫn chưa dám đi vay do dư nợ tại ngân hàng vẫn chưa trả được hết, hàng tồn kho vẫn còn ứ đọng khá nhiều… Thêm vào đó, hầu hết vốn tín dụng được giải ngân tập trung vào những khách hàng lâu năm, độ tin cậy cao, có tài sản đảm bảo đạt tiêu chuẩn đề ra do ngân hàng cũng đang dè chừng với những khoản nợ quá hạn vẫn còn tồn đọng và đang dần chuyển nhóm. Do vậy doanh số cho vay của Chi nhánh đạt mức tăng trưởng chưa cao (chỉ cao hơn so với 2024 2,9%). Tuy nhiên, một số chương trình như ưu đãi đặc biệt dành cho các khách hàng cá nhân được mở ra như chương trình “Vay siêu tốc – Lộc liền tay”, với mức lãi suất cố định 8,99%/ năm trong 6 tháng giải ngân đầu tiên của khoản vay trị giá lên đến 1000 tỷ đồng, gói 300 tỷ đồng cho cá nhân vay sản xuất kinh doanh ….hay Chương trình “Đồng hành cùng nhà thầu EVN” với tổng hạn mức 500 tỷ đồng và lãi suất từ 7,9%/năm thì lại mang nhiều khách hàng cho chi nhánh làm cho tổng doanh số cho vay tăng nhẹ. Có lẽ, đây cũng là một nguyên nhân làm cho dư nợ cho vay của ngân hàng tăng lên. Từ đây ta có thể thấy được, Ngân hàng vẫn định hướng tập trung vào những nhóm khách hàng cũ, có sẵn tài sản đảm bảo mang tính an toàn cao mà chưa dám mở rộng vì sợ rủi ro.

Doanh số thu nợ năm 2024 là 378,61 tỷ đồng tăng so với năm 2023 13,4%. Năm 2025 doanh số thu nợ là 351,67 tỷ đồng giảm so với năm 2024 là 7,1 %. Điều này cho thấy tình hình thu hồi nợ của ngân hàng có vấn đề. Nguyên nhân là do các nhóm nợ bắt đầu chuyển nhóm dẫn đến khó khăn trong vấn đề thu hồi vốn, điều này cũng lý giải vì sao doanh số cho vay của chi nhánh không có sự tăng trưởng mạnh mặc dù ABBANK đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ. Do đó, không chỉ xem xét chặt chẽ trong vấn đề giải ngân mà ngân hàng cần phải chú ý hơn trong khâu quản lý chất lượng tín dụng của khách hàng vì nó có liên quan đến vấn đề thu hồi nợ sau này. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

Dư nợ cho vay năm 2024 là 283,34 tỷ đồng tăng so với năm 2023 14,2%. Năm 2025 dư nợ cho vay đạt 357,55 tỷ đồng tăng 26,2% so với năm 2024, tốc độ tăng này cao hơn so với năm 2024. Đó là do doanh số cho vay trong năm 2025 tăng trong khi đó các khoản thu hồi nợ lại có chiều hướng giảm dẫn đến tình trạng dư nợ tăng cao. Điều này không thể nói là một tín hiệu tốt cho ngân hàng vì lượng dư nợ này có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro như khó thu hồi nợ và có thể dẫn đến nguy cơ mất vốn cao. Bởi vì những doanh nghiệp nhỏ và vừa trong những năm gần đây làm ăn không được tốt, bên cạnh đó có một số cá nhân, doanh nghiệp lớn như trong ngành xi măng, bất động sản,…sử dụng vốn không hiệu quả. Điều đó dẫn đến việc dư nợ cuối năm 2024 của một số đối tượng khách hàng bị chuyển thành nợ quá hạn và tồn đọng trong dư nợ 2025 của chi nhánh. Tuy nhiên, do doanh số cho vay cũng có chiều hướng tăng nên những khoản nợ chưa đến hạn cũng làm cho dư nợ tăng. Do đó với mức tăng trưởng dư nợ như này chưa phải là đáng lo ngại vì nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tình hình nợ xấu của chi nhánh, thời gian thu hồi nợ,… Điều này ngân hàng cần phải lưu ý.

Tóm lại, với tình hình khó khăn chung của kinh tế trong năm 2025 thì ít nhiều Chi nhánh cũng bị ảnh hưởng. Thêm vào đó, sự cạnh tranh tăng trưởng và chất lượng tín dụng giữa các ngân hàng ngày càng tăng cao. Điều đó làm cho hoạt động tín dụng của Chi nhánh càng thêm nhiều thử thách, khó khăn. Chi nhánh cần có những biện pháp sử dụng vốn hiệu quả để đảm bảo an toàn cho các khoản tín dụng.

2.1.3.3 Hoạt động kinh doanh khác.

Ngoài hoạt động kinh doanh ngoại tệ Chi nhánh còn có:

Hoạt động kinh doanh dịch vụ

  • Ngân hàng điện tử online banking
  • Dịch vụ nạp tiền VNTOPUP
  • Dịch vụ chuyển tiền trong nước
  • Dịch vụ thanh toán tiền điện
  • Dịch vụ thu cước VIETTEL
  • Dịch vụ SMS Banking
  • Dịch vụ chứng minh tài chính du học
  • Dịch vụ thu hộ tiền điện
  • Nhắn tin truy vấn thông tin qua dịch vụ SMS Banking
  • Dịch vụ nhận kiều hối WESTERN UNION
  • Dịch vụ giao nhận tiền gửi tận nơi
  • Chuyển và nhận tiền kiều hối
  • Dịch vụ chuyển tiền ra nước ngoài qua WESTERN UNION

Hoạt động kinh doanh thẻ.

  • Thẻ ghi nợ quốc tế ( YOUcard Visa Debit)
  • Thẻ ghi nợ nội địa ( YOUcard Debit)

Trong những năm vừa qua, Chi nhánh đã đạt được nhiều vượt trội trong công tác phát triển dịch vụ ngân hàng. Doanh thu từ những hoạt động kinh doanh như phát hành thẻ, chuyển tiền, mua bán ngoại tệ tăng mạnh qua các năm, mang lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng. Điều đó thể hiện sự phát triển trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ ngân hàng, khả năng thu hút khách hàng lớn. Đây là thành quả của sự nỗ lực phát động các phong trào nhẳm quảng bá sản phẩm, thương hiệu ABBANK của đội ngũ cán bộ nhân viên Chi nhánh. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

2.1.3.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hải Phòng

  • Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh Chi nhánh Hải Phòng

Nhìn vào bảng 2.3 ta thấy năm 2024 thu nhập là 42,91 tỷ đồng tăng 7,1% so với năm 2023,trong đó thu nhập từ lãi là 31,32 tỷ đồng chiếm phần lớn trong tổng thu nhập và tăng so với năm 2023 là 27 %. Năm 2025 thu nhập giảm còn 37,86 tỷ đồng, trong đó thu từ lãi giảm thành 24,61 tỷ đồng. Điều đó cho thấy sự ảnh hưởng của lãi suất cho vay đến thu nhập của Ngân hàng. Năm 2025, lãi suất cho vay giảm mạnh do đó kéo theo thu nhập từ lãi của Ngân hàng giảm, mà thu nhập từ lãi lại chiếm phần lớn thu nhập của ngân hàng do đó dẫn đến tổng thu nhập giảm theo. Bên cạnh đó thu nhập ngoài lãi như thu từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thẻ ưu đãi, dịch vụ thanh toán chuyển tiền,… có xu hướng tăng dần qua các năm và tốc độ tăng đẩy lên cao hơn trong năm 2025. Đó là do trong khoảng thời gian này Ngân hàng tích cực đẩy mạnh phát triển dịch vụ thẻ thanh toán và một số dịch vụ tiện ích, đồng thời trong năm 2024 và đặc biệt năm 2025 chính phủ có thêm 3 đợt thử lửa tỷ giá ngoại tệ làm cho lượng ngoại tệ được mua bán trao đổi cao do đó làm cho thu ngoài lãi tăng.

Tổng chi phí năm 2024 là 36,64 tỷ đồng tăng so với năm 2023 7,1 %. Trong đó chi phí hoạt động bao gồm chi trả lãi khách hàng, trả lương cán bộ công nhân viên, chi cơ sở vật chất, phát triển thị phần  là 33,13 tỷ đồng tăng so với năm 2023 là 6,3% , song đến năm 2025 chi hoạt động lại giảm xuống 16,1% tức chỉ còn 27,80 tỷ đồng. Đó là do lãi suất huy động trong năm 2025 giảm dẫn đến chi trả lãi giảm, đồng thời do thực hiện tái cơ cấu tổ chức thực hiện chính sách tiết kiệm, cắt giảm nhân sự do đó khiến cho chi cho lương nhân viên cũng giảm làm cho tổng chi phí giảm. Chi dự phòng rủi ro chung chiếm thiểu số trong tổng chi phí nhưng cũng là một phần phản ánh tình hình hoạt động của Ngân hàng. Trong năm 2024 chi cho dự phòng rủi ro tăng do các khoản nợ quá hạn có chiều hướng tăng lên. Song, đến năm 2025 do tình hình khó khăn chung, kinh tế chưa có nhiều khởi sắc mặc dù có nhiều gói cho vay ưu đãi của Chính phủ, của tổng Ngân hàng nhưng doanh nghiệp làm ăn vẫn gặp khó khăn trong việc tái cơ cấu vì các món nợ từ năm 2024 tiếp tục chuyển nhóm làm cho lượng nợ quá hạn, nợ xấu tăng khiến cho lượng trích lập dự phòng rủi ro tăng 23,3 % so với năm 2024.

Lợi nhuận trước thuế nhìn chung không có biến động nhiều, như trên đã phân tích năm 2024 do tổng thu nhập tăng, chi phí tăng nhưng lượng tăng không bằng thu nhập do đó làm cho lợi nhuận trước thuế năm 2024 tăng hơn so với năm 2023 là 6,8%. Đến năm 2025, thu nhập và chi phí giảm dẫn đến lợi nhuận trước thuế năm 2025 giảm so với năm 2024 là 8,4 %.

Tóm lại, tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh qua các năm (từ năm 2023 đến năm 2025) không có quá nhiều biến động. Tuy nhiên, qua các mức độ tăng giảm của các chỉ tiêu ta thấy tình hình hoạt động của Chi nhánh ít nhiều vẫn bị tác động của thị trường, ảnh hưởng chung của toàn hệ thống Ngân hàng.

2.2 Một số quy định về cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh HP. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

2.2.1. Nguyên tắc vay vốn

Điều kiện cấp tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hải Phòng được thực hiện theo quy định trong luật các tổ chức tín dụng. Sau đây là một số điểm cần lưu ý trong nguyên tắc vay vốn như: Khách hàng phải có năng lực pháp luật dân sự, hành vi dân sự và chị trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật, có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết, có dự án, phương án đầu tư, sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu quả, hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống kèm phương án trả nợ khả thi. Khách hàng phải thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy đinh của Chính phủ, Ngân hàng nhà nước Việt Nam và hướng dẫn của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hải Phòng

2.2.2 Thời hạn cấp tín dụng

Theo cuốn cẩm nang tín dụng ABBANK thì ngân hàng cho vay và khách hàng thỏa thuận thời hạn cho vay căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án hoặc phương án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của ngân hàng cho vay.

Đối với các pháp nhân Việt Nam và nước ngoài, thời hạn cho vay không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động tại Việt Nam; đối với cá nhân nước ngoài, thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn được phép sinh sống, hoạt động tại Việt Nam.

2.2.3 Lãi suất cho vay. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

  • Mức lãi suất cho vay do ABBANK và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của ngân hàng nhà nước Việt Nam.
  • Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do ABBANK ấn định và thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng.

Trên thực tế hiện nay, ABBANK đã có một số gói ưu đãi lãi suất hỗ trợ các doanh nghiệp song do nền kinh tế thị trường vẫn còn khó khăn, và so với một số ngân hàng khác mức lãi suất vẫn cao. Do tính cạnh tranh gay gắt trên thị trường nên vấn đề thu hút các doanh nghiệp vay vốn của Ngân hàng vẫn còn là một bài toán khó.

2.2.4 Quy trình xét duyệt cho vay

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quy trình tín dụng

Bước 1: Tiếp cận khách hàng/lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng

  • Đối tượng thực hiện: chuyên viên quan hệ khách hàng (CV QHKH) và hỗ trợ QHKH (nếu có).

Nội dung thực hiện:

  • CV QHKH/hỗ trợ QHKH tiếp nhận hồ sơ, tiếp nhận nhu cầu cấp tín dụng của khách hàng, hướng dẫn khách hàng lập và cung cấp các hồ sơ đề nghị cấp tín dụng theo quy định.
  • Các hồ sơ cấp tín dụng theo quy định của

Bước 2: Thẩm định tín dụng

Đối tượng thực hiện: Chuyên viên quan hệ khách hàng/CV tín dụng/CV phê duyệt thực hiện tái thẩm định tín dụng / các cấp được giao nhiệm vụ thẩm định tái thẩm định tín dụng.

Nội dung thực hiện: Sau khi tiếp cận khách hàng và thu thập các thông tin cần thiết, CVQHKH/CV tín dụng/CV phê duyệt tiến hành thẩm định tái thẩm định các nội dung sau: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

  • Tư cách pháp lý, uy tín của khách hàng.
  • Năng lực hoạt động kinh doanh và tài chính của khách hàng.
  • Phương án kinh doanh/dự án đầu tư, mục đích sử dụng vốn vay và khả năng trả nợ của khách hàng.
  • Các nguồn vốn tự có, vốn vay khác tham gia vào dự án, phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng.
  • Tài sản đảm bảo.
  • Các vấn đề rủi ro có thể phát

Việc thẩm định tín dụng của Chuyên viên quan hệ khách hàng phải được thể hiện bằng báo cáo thẩm định khách hàng. Sau khi hoàn thành báo cáo thẩm định, Chuyên viên quan hệ khách hàng trình báo cáo thẩm định và toàn bộ hồ sơ đề nghị cấp tín dụng lên trưởng Phòng giao dịch/QHKH thực hiện kiểm soát nội dung thẩm định tín dụng.

Trường hợp từ chối cấp tín dụng, Chuyên viên quan hệ khách hàng lập báo cáo từ chối cấp tín dụng nêu rõ lý do từ chối, trình lãnh đạo phòng/ban xem xét.

Lưu ý:Khi phát sinh hồ sơ vượt hạn mức được ủy quyền của tổng giám đốc, các trưởng Đơn vị kinh doanh báo cáo (báo cáo sơ bộ/gửi hồ sơ photo) lên các phòng/ban thực hiện công việc tái thẩm định hồ sơ (trung tâm thẩm định giá, phòng tín dụng tại chi nhánh/Sở giao dịch (SGD)/khối quản trị tín dụng (QTTD)) để cùng thực hiện thẩm định/tái thẩm định nhằm tránh làm phiền khách hàng và rút ngắn thời gian thẩm định và phê duyệt.

  • Bước 3:Quyết định/phê duyệt tín dụng.

Trưởng/phó phòng giao dịch thực hiện kiểm soát lại nội dung thẩm định tín dụng của Chuyên viên quan hệ khách hàng.

Nội dung kiểm soát: các thông tin trên báo cáo của Chuyên viên quan hệ khách hàng, yêu cầu Chuyên viên quan hệ khách hàng điều chỉnh, bổ sung thêm các hồ sơ/thông tin cần thiết (nếu cần) để đảm bảo cho hồ sơ khách hàng và các thông tin cung cấp trong báo cáo thẩm định đầy đủ và chính xác.

  • Nêu rõ ý kiến của người kiểm soát thống nhất với ý kiến của Chuyên viên quan hệ khách hàng hay không thống nhất với ý kiến của Chuyên viên quan hệ khách hàng và có thêm các điều kiện kèm theo (nếu có).
  • Yêu cầu khách hàng cung cấp thêm hồ sơ theo mẫu biểu đề nghị bổ sung hồ sơ cấp tín dụng của ABBANK.
  • Trường hợp hồ sơ cấp tín dụng vượt hạn mức thẩm quyền phê duyệt của Phòng giao dịch/phòng QHKH, sau khi có ý kiến thống nhất của trưởng/phó phòng GD/phòng QHKH, Chuyên viên quan hệ khách hàng tiếp tục trình hồ sơ đến phòng tín dụng (nếu hồ sơ phải thực hiện tái thẩm định)/các cấp thẩm quyền phê duyệt cao hơn sau khi đã kiểm soát của trưởng Phòng giao dịch/QHKH.
  • Các cấp phê duyệt thực hiện xem xét, phê duyệt cấp tín dụng trong thẩm quyền phê duyệt được tổng giám đốc/HĐQT ABBANK ủy quyền từng thời kỳ. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.
  • Trường hợp từ chối cấp tín dụng, Chuyên viên quan hệ khách hàng lập thông báo từ chối cấp tín dụng gửi khách hàng

Bước 4:Thủ tục tín dụng và giải ngân

  • Đối tượng thực hiện:

CV Quản lý tín dụng/CV QHKH có trách nhiệm hỗ trợ CV Quản lý tín dụng trong việc hoàn thiện hồ sơ tín dụng theo đúng phê duyệt cấp tín dụng và các quy định của ABBANK. Các trưởng đơn vị được ủy quyền giải ngân trong từng thời kỳ.

Nội dung thực hiện:

  • Thực hiện theo quy trình giải ngân của ABBANK quy định trong từng thời kỳ
  • Trường hợp từ chối cấp tín dụng: Đơn vị kinh doanh soạn thông báo từ chối cấp tín dụng gửi khách hàng.
  • Mẫu biểu thông báo từ chối cấp tín dụng (theo mẫu biểu của ABBANK).

Bước 5:Giám sát, thanh lý tín dụng và quản lý nợ có vấn đề.

Sau khi giải ngân, Chuyên viên quan hệ khách hàng phải thường xuyên theo dõi khoản cấp tín dụng, kiểm tra tình hình sử dụng vốn theo quy định của ABBANK trong từng thời kỳ, đôn đốc, nhắc nợ khách hàng, yêu cầu khách hàng thực hiện các điều kiện sau giải ngân theo phê duyệt (nếu có).

Định kỳ thực hiện đánh giá khoản cấp tín dụng, kịp thời phát hiện các dấu hiệu có thể dẫn đến rủi ro trong việc trả nợ của khách hàng để có biện pháp xử lý kịp thời.

CV Quản lý tín dụng phối hợp với Chuyên viên quan hệ khách hàng trong việc theo dõi thực hiện các điều kiện phê duyệt, bổ sung chứng từ/hồ sơ, thông báo nhắc nợ khách hàng.

Ghi chú: Các nội dung thực hiện và trách nhiệm của từng cá nhân đơn vị liên quan trong bước 4, 5 nêu trên: thực hiện theo văn bản quy định về hướng dẫn thủ tục tín dụng, giải ngân và thanh lý tín dụng tại ABBANK và các văn bản về quản lý nợ có vấn đề theo từng thời kỳ.

2.2.5. Thẩm định giá tài sản đảm bảo Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

2.2.5.1 Các nguyên tắc thẩm định giá.

  1. Nguyên tắc sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất: Việc sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất của bất động sản là đạt được mức hữu dụng tối đa trong những hoàn cảnh kinh tế – xã hội thực tế phù hợp, về mặt pháp lý, tài chính và đem lại giá trị lớn nhất cho bất động sản.Một bất động sản đang được sử dụng tại thực tế không nhất thiết đã thể hiện khả năng tốt nhất và hiệu quả nhất của tài sản đó.
  2. Nguyên tắc dự kiến lợi ích tương lai: Giá trị bất động sản có thể được xác định bằng việc dự tính khả năng sinh lợi trong tương lai.
  3. Nguyên tắc thay thế: Hai bất động sản có tính hữu ích như nhau thì được xem là có thể thay thế cho nhau trong quá trình sử dụng, giá trị của bất động sản này được xác định bởi sự tác động lẫn nhau của bất động sản khác và ngược lại. Một người thận trọng sẽ không thể trả giá cao hơn chi phí mua một bất động sản thay thế tương tự trong cùng một thị trường và một thời điểm.
  4. Nguyên tắc đóng góp: Mức độ của mỗi bộ phận của bất động sản đống góp vào tổng thu nhập từ toàn bộ bất động sản có tác động đến giá trị của bất động sản đó
  5. Nguyên tắc cung cầu : Giá trị một bất động sản được xác định bởi mối quan hệ cung cầu về tài sản đó trên thị trường. Ngược lại, giá trị của bất động sản đó cũng tác động đến cung và cầu về bất động sản trên thị trường

2.2.5.2 Quy trình thực hiện thẩm định giá.

Bước 1: Nhận hồ sơ tài sản đảm bảo cần thẩm định giá. Xác định tổng quát về tài sản cần thẩm định giá, cơ sở thẩm định giá.

Bước 2: Lập kế hoạch thẩm định giá, liên hệ đến các bên liên quan để hẹn ngày khảo sát hiện trạng tài sản thẩm định

  • Xác định thời gian thu thập, xử lý thông tin
  • Xác định phương tiện đi lại
  • Thống nhất thời gian, địa điểm khảo sát tài sản
  • Liên hệ với khách hàng để sắp xếp lịch

Bước 3: Thẩm định hiện trạng tài sản, thu nhập tài liệu, thông tin thị trường.

  • Ghi chép hiện trạng, đánh giá tình trạng chất lượng…
  • Chụp hình ( tối thiểu 6 hình thể hiện các góc cạnh )
  • Vẽ sơ đồ vị trí tài sản tọa lạc
  • Thu thập thông tin tài sản
  • Kiểm chứng các số liệu thu thập được
  • Tìm kiếm thông tin, quy hoạch , thông tin mua bán, tình hình an ninh trật tự.. tại khu vực.

Bước 4: Phân tích điều chỉnh thông tin thu nhập thị trường.

Bước 5: Xác định giá trị tài sản đảm bảo cần thẩm định giá , lập báo cáo kết quả thẩm định giá

Bước 6: Người có thẩm quyền ký duyệt vào báo cáo thẩm định giá TSBĐ và chuyển báo cáo kết quả thẩm định về đơn vị đề nghị thẩm định. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

2.3. Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại ABBANK CN Hải Phòng

2.3.1. Chất lượng tín dụng DNVVN tại ABBANK CN Hải Phòng

2.3.1.1. Tình hình cho vay đối với DNVVN tại ABBANK CN Hải Phòng

  • Bảng 2.4 : Tình hình cho vay đối với DNVVN tại Chi nhánh
  • Biểu đồ 2.1: Tình hình cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi nhánh.

Nhìn vào bảng 2.4 và biểu đồ 2.1 ta nhận thấy các chỉ tiêu doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ cho vay của doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng giảm không đồng đều qua các năm.

Cụ thể, năm 2024 doanh số cho vay đạt 324,58 tỷ tăng 26,7 % so với năm 2023. Đó là do trong năm 2024 lãi suất của các ngân hàng bắt đầu hạ, ABBANK vẫn tiếp tục mở rộng hệ thống trung tâm SMEs hỗ trợ doanh nghiệp khiến cho các doanh nghiệp có cơ hội vay vốn nên làm cho doanh số cho vay trong năm 2024 tăng. Tuy nhiên, đến năm 2025 doanh số cho vay đạt 253,86 tỷ đồng giảm 21,79% so với năm 2024. Mặc dù trong năm 2025 ngân hàng áp dụng nhiều gói lãi suất ưu đãi hỗ trợ DN nhỏ và vừa vào năm 2025, mức lãi suất này được đánh giá là giảm từ 3- 5% so với cuối năm 2024 nhưng con số lại có chiều hướng giảm. Điều này thể hiện sự thiếu hiệu quả trong việc áp dụng trương trình ưu đãi khách hàng. Nguyên nhân là do mặc dù đã ra những chương trình đó nhưng mức lãi suất của ngân hàng so với các ngân hàng khác vẫn ở mức cao hơn, ngân hàng vẫn còn khá cứng nhắc về vấn đề tài sản đảm bảo khi cho vay các doanh nghiệp nên một số doanh nghiệp không vay được vốn do không có tài sản đảm bảo đạt yêu cầu. Ngoài ra, nhận thấy tình trạng chuyển nhóm nợ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng, nên mặc dù đưa ra các gói hỗ trợ nhưng Chi nhánh ngân hàng vẫn cẩn thận, đề phòng khi cho vay vì sợ nguy cơ mất vốn. Do đó doanh số cho vay đối với các DN nhỏ và vừa bị giảm đi rất nhiều so với năm 2024.

Về doanh số thu nợ và dư nợ cho vay của DN nhỏ và vừa, năm 2024 đạt 273,08 tỷ đồng tăng 20,1% so với năm 2023. Điều này cho thấy năm 2024 Chi nhánh đã thực hiện tốt công tác thu hồi vốn, đem lại nguồn thu lớn cho Ngân hàng. Đến năm 2025 doanh số thu nợ chỉ đạt 250,38 tỷ đồng giảm đi so với 2024 là 8,31%. Đây là một tín hiệu không tốt từ phía Chi nhánh. Vì doanh số thu nợ là nhân tố quan trọng mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho Ngân hàng. Trong khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm phần lớn trong dư nợ cho vay của Ngân hàng (phần 2.3.1.2.1, bảng 2.5 sẽ nói rõ) thì sự ảnh hưởng doanh số thu nợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Chi nhánh lại càng lớn. Tuy nhiên, tốc độ giảm doanh số thu nợ không quá cao và thấp hơn so với mức giảm doanh số cho vay nên dẫn đến dư nợ cho vay đối với DN nhỏ và vừa tăng với tốc độ tăng trưởng thấp. Điều này cho thấy, nếu trong tương lai ngân hàng có các biện pháp khắc phục về chất lượng vốn vay tốt thì Chi nhánh vẫn có thể thu hồi được khoản nợ đã bị chuyển nhóm. Do đó, Chi nhánh cần tập trung xử lý nợ vay của các doanh nghiệp và đưa ra các giải pháp giúp đỡ tháo gỡ khó khăn cho các khách hàng của mình. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

2.3.1.2 Tình hình dư nợ tín dụng đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ABBANK CN Hải Phòng.

2.3.1.2.1 Tình hình dư nợ tín dụng DN nhỏ và vừa ABBANK CN Hải Phòng.

Bảng 2.5 Tình hình dư nợ tín dụng DN nhỏ và vừa tại Chi nhánh

  • Xét về chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng dự nợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa:

Nhìn vào bảng 2.5 ta có thể thấy tốc độ tăng trưởng dư nợ DN nhỏ và vừa tăng qua các năm. Cụ thể năm 2024 dư nợ DN nhỏ và vừa đạt 213,1tỷ đồng tăng 31,9% so với năm 2023. Đó là do trong năm 2024 lãi suất ngân hàng đã giữ được mức độ ổn định không quá cao, cùng với những biện pháp kiềm chế tăng lãi suất của Ngân hàng nhà nước do đó các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận vốn của Ngân hàng. Mức độ tăng trưởng này là điều hiển nhiên trong thời kỳ kinh tế hiện nay khi chính phủ, Ngân hàng tích cực đưa ra các gói tín dụng hỗ trợ các doanh nghiệp, giúp cho các doanh nghiệp phát triển. Đến năm 2025 dư nợ DN nhỏ và vừa đạt 216,5 tỷ đồng tăng 1,63% so với năm 2024. Đây là mức độ tăng trưởng tín dụng khá thấp. Không trừ trường hợp dư nợ có thể vẫn tăng nhưng chưa chắc chất lượng tín dụng DN nhỏ và vừa của Chi nhánh là tốt. Bởi vì như phần 2.3.1.1 đã nói, năm 2025 dư nợ tín dụng chỉ ở mức tăng trưởng thấp (1,63 % so với năm 2024) trong khi doanh số thu nợ và doanh số cho vay giảm. Điều này ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn trong tương lai của ngân hàng. Do đó cần phải phân tích kỹ hơn ở phần nợ xấu DN nhỏ và vừa của Chi nhánh và các chỉ tiêu khác mới có thể đưa ra được kết luận đúng đắn.

  • Xét về chỉ tiêu tỷ trọng dự nợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa:

Tỷ trọng dư nợ tín dụng của DN nhỏ và vừa trên tổng dư nợ biến động biến động nhẹ qua các năm . Năm 2023 tỷ trọng dư nợ DN nhỏ và vừa trên tổng dư nợ đạt 65,1 % chiếm hơn nửa tỷ trọng dư nợ tín dụng của toàn Chi nhánh. Năm 2024 tỷ trọng dư nợ tín dụng có chiều hướng tăng nhẹ lên thành 75,2%. Như ta cũng thấy, nguyên nhân là năm 2024 tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng DN nhỏ và vừa lớn hơn tốc độ tăng trưởng của tổng dư nợ nên làm cho tỷ trọng của dự nợ đối với DN nhỏ và vừa tăng. Đây là kết quả của việc hạ lãi suất ngân hàng vào cuối năm 2024 và mở rộng trung tâm SMEs hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa của NH. Điều này cho thấy năm 2024, là một năm tăng trưởng tín dụng tốt của Ngân hàng. Đến năm 2025 tỷ trọng này giảm chỉ còn 60,6 % thấp hơn cả năm 2023. Điều này thể hiện sự thiếu hiệu quả của Chi nhánh trong công tác sử dụng các gói hỗ trợ lãi suất của Ngân hàng nhà nước và của ngân hàng tổng, đi ngược với chương trình đề ra của tổng Ngân hàng là tập trung cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây cũng có thể là do tình hình khó khăn chung của nền kinh tế. Thêm vào đó trong năm 2025 Chi nhánh có thêm nhiều hợp đồng từ các doanh nghiệp lớn (điển hình là công ty Điện lực Hải Phòng) và tín dụng cá nhân, biểu hiện ở chỗ chương trình ưu đãi tín dụng cá nhân cho thấy hoạt động hiệu quả hơn các chương trình ưu đãi doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc này đã đẩy dư nợ tín dụng nhóm doanh nghiệp lớn và tín dụng cá nhân trong năm 2025 tăng cao, trong khi đó dư nợ dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa không có sự tăng trưởng vượt trội nên dẫn đến tình trạng tỷ trọng dư nợ DN nhỏ và vừa trên tổng vốn sụt giảm nghiêm trọng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

Tóm lại, tình hình dư nợ tín dụng của DN nhỏ và vừa trong năm 2025 chưa có sự tăng trưởng cao. Ngân hàng cần chú trọng hơn cho nhóm khách hàng này vì đây vẫn là khách hàng tiềm năng nhất, mang lại nguồn lợi lớn nhất cho Ngân hàng và cả xã hội.

2.3.1.2.2 Tình hình dư nợ tín dụng Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo kỳ hạn tại ABBANK CN Hải Phòng.

  • Bảng 2.6: Tình hình dư nợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo kỳ hạn tại Chi nhánh
  • Biểu đồ 2.2 : Cơ cấu dư nợ DN nhỏ và vừa theo kỳ hạn tại Chi nhánh

Qua bảng 2.6 và biểu đồ 2.2 ta thấy: Từ năm 2023 đến năm 2025 dư nợ ngắn hạn của DN nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn hơn dư nợ trung và dài hạn và tỷ trọng này tăng dần qua các năm. Cụ thể, năm 2024 dư nợ ngắn hạn của DN nhỏ và vừa đạt 169,75 tỷ đồng chiếm 79,7 % so với tổng dư nợ. Đến năm 2025 dư nợ ngắn hạn DN nhỏ và vừa đạt tỷ đồng làm cho tỷ trọng của nhóm này trên tổng dư nợ DN nhỏ và vừa tăng lên đến 83,26 % và làm giảm tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn của doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ ở mức 16,7 %. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong những năm gần đây kinh doanh kém, khả năng trả nợ không cao nên Chi nhánh hạn chế giải ngân những món lớn như cho vay trung và dài hạn để đảm bảo khả năng quay vòng vốn nhanh do đó hầu hết các khoản cho vay là ngắn hạn để giữ mức an toàn trong tín dụng. Những khoản vay trung và dài hạn chỉ áp dụng cho khách hàng lâu năm, có sự tín nhiệm cao của chi nhánh. Điều này đi ngược với nhu cầu đa số của các doanh nghiệp. Vì vấn đề hàng tồn kho cao nên doanh nghiệp vừa khó có thể sản xuất tiếp nên chỉ còn cách là cải cách cơ cấu, tái thiết lại hệ thống máy móc, cũng như thay đổi công nghệ mới nên rất cần lượng tiền lớn như vốn trung và dài hạn để thực hiện dự án có tiềm năng tạo nhiều doanh thu hơn. Nhưng để vay vốn trung và dài hạn, doanh nghiệp phải có tài sản đảm bảo lớn. Trong khi đó, vấn đề tài sản đảm bảo lại là yếu điểm của doanh nghiệp. Thêm vào đó Chi nhánh còn khá cứng nhắc trong việc cho vay, chưa thể hiện sự linh hoạt của mình trong vấn đề lãi suất và tài sản thế chấp cho doanh nghiệp. Do vậy, đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến doanh số cho vay trong năm giảm, dư nợ đạt mức độ tăng trưởng thấp.

2.3.1.2.3 Tình hình dư nợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo ngành kinh tế ABBANK CN Hải Phòng.

  • Bảng 2.7 Dư nợ tín dụng DN nhỏ và vừa theo ngành kinh tế Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hải Phòng
  • Biểu đồ 2.3: Cơ cấu dư nợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo ngành kinh tế tại CN

Qua biểu đồ 2.3 và bảng 2.7 ta thấy nhóm ngành thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng dư nợ tín dụng nhiều nhất trong tổng dư nợ của DN nhỏ và vừa.Năm 2024, dư nợ ngành thương mại dịch vụ đạt 126,9 tỷ đồng tăng 40,83% so với năm 2023, chiếm 59,57% trong tổng dư nợ. Năm 2025 dư nợ ngành này đạt 135,7 tỷ đồng tăng 6,89 % so với năm 2024 và tỷ trọng trên tổng dư nợ DN nhỏ và vừa cũng tăng lên thành 62,65%. Điều đó chứng tỏ nhóm ngành thương mại dịch vụ là ngành kinh doanh có quy mô gia tăng nhất trong tất cả các ngành. Sở dĩ như vậy vì trong những năm gần đây xã hội phát triển, nhu cầu đáp ứng sự tiện lợi và giải trí của người dân ngày càng cao do đó những ngành thuộc nhóm thương mại dịch vụ như du lịch, cửa hàng quán ăn,vận chuyển hàng hóa, tư vấn thiết kế… ngày càng phát triển mạnh mẽ.

Tiếp theo sau nhóm ngành thương mại dịch vụ, là ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng trong cơ cấu dư nợ lớn thứ hai. Nhìn vào biểu đồ cơ cấu ta thấy rõ cơ cấu dư nợ của nhóm này giảm đi qua các năm: năm 2023 là 22,8%, năm 2024 là 20,78%, năm 2025 là 19,85%. Về độ tăng dư nợ của nhóm này, năm 2024 dư nợ của nhóm này tăng lên là 20,19 % so với năm 2023, đến năm 2025 độ tăng dư nợ bị giảm đi so với năm 2024 là 1,29 tỷ (2,92%). Đó là do sự ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến ngành công nghiệp chế biến. Sức mua hàng hóa, thực phẩm của người dân trong những năm gần đây khá thấp do giá cả đắt đỏ, cộng thêm những vấn đề tiêu cực trong an toàn thực phẩm. Vì vậy người dân mua hàng hóa có chọn lọc và hạn chế. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực sản xuất chế biến chưa có thương hiệu mạnh nên càng khó khăn trong vấn đề tiêu thụ dẫn đến hàng tồn kho tăng, Chi nhánh ngân hàng càng khó chấp nhận cho vay, do đó quy mô dư nợ DN nhỏ và vừa thuộc nhóm này ngày một giảm. Tuy nhiên, số doanh nghiệp thuộc nhóm ngành này được CN cho vay có số lượng không nhỏ và đã làm ăn lâu năm với Ngân hàng, cộng thêm việc lãi suất cho vay năm 2025 của Ngân hàng hạ xuống, cùng với một số gói lãi suất ưu đãi giúp DN nhỏ và vừa phát triển. Do đó số dư nợ cho vay của những DN thuộc nhóm ngành sản xuất chế biến cũng không bị giảm đi nhiều tốc độ giảm chỉ ở mức 2,9% so với năm 2024. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

Ngành khai thác xây dựng và kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng thấp nhất trong cơ cấu dư nợ các ngành kinh tế. Năm 2023 ngành này chỉ đạt 8,5% trong tổng dư nợ DN nhỏ và vừa, năm 2024 tỷ trọng này giảm đi còn 7,4%, năm 2025 tiếp tục giảm xuống còn 5,11%. Qua bảng 2.7 ta thấy mặc dù dư nợ năm 2024 có chiều hướng tăng nhưng năm 2025 thì ngành này dư nợ lại giảm xuống một cách rõ rệt thậm chí còn thấp hơn năm 2023 rất nhiều, làm cho tốc độ tăng trưởng của năm 2025 so với 2024 bị âm 31,12%. Trong những năm trước ngành kinh doanh bất động sản và xây dựng là những ngành đem lại doanh thu và lợi nhuận rất cao và luôn là ngành được Ngân hàng xếp vào hàng top về dư nợ cho vay. Tuy nhiên, sau khủng hoảng tài chính năm 2020, bất động sản đóng băng kéo theo sự suy giảm trong đầu tư các ngành xây dựng có liên quan, dẫn đến sự sụt giảm lợi nhuận nghiêm trọng. Do đó một số DN thuộc những ngành như xi măng, gạch ngói, sắt thép xây dựng ,… bị thua lỗ thậm chí dẫn đến dừng hoạt động tạm thời vì sự đóng băng của bất động sản. Do thị trường không có nhu cầu nhiều về bất động sản, nên các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng, sắt thép, gạch ngói,…không có lý do để vay thêm để sản xuất vì hàng tồn còn khá nhiều hoặc nếu không vì lý do đó thì cũng do lãi suất ngân hàng năm 2023 khá cao nên doanh nghiệp cũng khó tiếp cận vốn để tiếp tục duy trì sản xuất. Điều đó dẫn đến cơ cấu dư nợ của các doanh nghiệp này trong tổng dư nợ DN nhỏ và vừa giảm đi rõ rệt. Việc này thể hiện sự ảnh hưởng lớn của tình hình kinh tế chung. Hy vọng trong năm 2026, tình trạng này có nhiều chuyển biến tốt để các doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng tồn kho quá nhiều như năm 2025.

Từ năm 2023 đến năm 2025, dư nợ DN nhỏ và vừa của các nhóm ngành khác có chiều hướng tăng mạnh. Cụ thể dư nợ của nhóm này năm 2024 đạt 25,8 tỷ đồng tăng 23,6% so với năm 2023, năm 2025 đạt 26,8 tỷ đồng tăng lên 3,98% so với năm 2024. Trong cơ cấu dư nợ cuối năm 2025, thì nhóm này cũng không có sự thay đổi nhiều, đạt ở mức tỷ trọng 12,39% xấp sỉ với tỷ trọng năm 2024 (12,11%). Trong nhóm này bao gồm các ngành như: Sản xuất, kinh doanh vật liệu dẫn điện, cơ khí, xơ sợi, dệt may, thủ công mỹ nghệ, nông nghiệp, thủy sản, đồ điện dân dụng,… Trong những ngành này thì ngành kinh doanh đồ điện dân dụng hoặc vật liệu dẫn điện chiếm tỷ trọng cao, các ngành còn lại trong nhóm chiếm tỷ trọng thấp và độ tăng giảm dư nợ cũng không đồng đều. Về cơ bản các ngành này cần vốn để sản xuất, kinh doanh và ngày càng có nhiều doanh nghiệp mở ra hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này do đó khi Ngân hàng áp dụng gói lãi suất hỗ trợ vào năm 2025 thì dư nợ của nhóm ngành này cũng tăng.

Tóm lại,trong cơ cấu dư nợ DN nhỏ và vừa theo ngành kinh tế thì ta có thể thấy rõ được nhóm ngành thương mại dịch vụ và một số nhóm ngành khác như điện dân dụng tăng thể hiện dấu hiệu Chi nhánh đang tập trung mở rộng hợp tác với những ngành này, đó cũng có thể coi là một chiến lược trong việc phát triển kinh doanh ngân hàng để đạt được chất lượng tốt trong cho vay DN nhỏ và vừa.Bên cạnh những nhóm ngành đang phát triển tốt thì những nhóm ngành còn lại có cơ cấu dư nợ thấp hơn và kém phát triển hơn. Tuy nhiên, những con số dư nợ thuộc những ngành đó không phải quá cao, đồng thời đó cũng là những ngành có tiềm năng phát triển, đem lại nguồn lợi lớn trong tương lai nếu kinh tế ổn định hơn nên Chi nhánh không phải quá lo lắng về vấn đề nợ xấu của các DN thuộc những lĩnh vực bị ảnh hưởng quá nhiều bởi nền kinh tế như bất động sản hay sắt thép,…. Việc nợ xấu hay nợ quá hạn không chỉ rơi riêng vào một hoặc hai nhóm ngành kinh tế vì vậy Chi nhánh vẫn phải cẩn trọng trong việc kiểm soát và theo dõi các khoản vay của tất cả các doanh nghiệp không trừ một nhóm ngành kinh tế nào.

2.3.1.2.4 Tình hình dư nợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo đơn vị tiền tệ tại ABBANK CN HP

  • Bảng 2.8: Dư nợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo đơn vị tiền tệ tại CN Hải Phòng
  • Biểu đồ 2.4 :Cơ cấu dư nợ DN nhỏ và vừa theo đơn vị tiền tệ tại Chi nhánh

Qua bảng 2.8 và biểu đồ 2.4 ta thấy dư nợ cho vay của DN nhỏ và vừa theo hai đơn vị tiền tệ tăng qua các năm. Trong đó, dư nợ bằng đồng nội tệ chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ cho vay đối với DN nhỏ và vừa. Đó là do phần lớn các DN nhỏ và vừa vay tại CN đều là các doanh nghiệp kinh doanh trong nước. Tuy nhiên, ta thấy tỷ trọng và tốc độ tăng dư nợ theo đồng ngoại tệ qua các năm tăng mạnh hơn đồng nội tệ. Cụ thể, năm 2024 dư nợ theo ngoại tệ quy ra VNĐ đạt 45 tỷ đồng tăng 59,55 % so với năm 2023, đến năm 2025 con số này tăng lên thành 52,8 tỷ đồng tăng 17,33 % so với năm 2024. Dư nợ theo đồng ngoại tệ có sự tăng vượt bậc này là do dư nợ của các doanh nghiệp trong ngành sản xuất kinh doanh thương mại xuất nhập khẩu tăng, đồng nghĩa với việc cần nhiều tiền ngoại tệ để chi trả những hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài. Không những vậy, trong năm 2024 và 2025 tỷ giá đồng ngoại tệ so với VNĐ có nhiều đợt tăng cao, như trong năm 2024 được đánh giá là năm thử lửa vàng vì lạm phát tăng cao làm cho tỷ giá đồng ngoại tệ so với nội tệ tăng cao, năm 2025 mặc dù lạm phát kiềm chế thấp nhất trong 10 năm trở lại nhưng đã có ba lần tỷ giá ngoại tệ tăng đột ngột do chính sách thử lửa của Ngân hàng nhà nước do đó làm cho lượng tiền quy đổi từ ngoại tệ sang VNĐ có một số lần tăng cao. Qua đó, ta có thể thấy Chi nhánh đang mở rộng quan hệ với những doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

2.3.1.3 Tình hình nợ quá hạn, nợ xấu của Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ABBANK CN HP

  • Bảng 9 Tình hình nợ quá hạn và nợ xấu của DNVVN và của toàn CN

Nhìn vào bảng 2.9 ta thấy: Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu của DN nhỏ và vừa luôn lớn hơn so với nợ quá hạn và nợ xấu toàn Ngân hàng và những tỷ lệ này tăng dần qua các năm. Cụ thể năm 2024 tỷ lệ nợ quá hạn của DN nhỏ và vừa là 5,02% lớn hơn so với nợ quá hạn của toàn Ngân hàng là 0,72%, đến năm 2025 tăng lên thành 6,26% lớn hơn nợ quá hạn của NH là 2,7%. Tương tự như vậy, nợ xấu trong dư nợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2024 là 2,31% cao hơn so với nợ xấu toàn Ngân hàng là 0,51%, năm 2025 nợ xấu Doanh nghiệp nhỏ và vừa là 3,56% cao hơn so với nợ xấu toàn Ngân hàng là 1,17%. Điều này cho thấy, phần lớn nợ xấu hay nợ quá hạn của Ngân hàng đều tập trung vào nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do vậy, tình trạng nợ xấu của DN nhỏ và vừa đang là một vấn đề rất đáng cần được chú ý. Vậy tại sao lại có tình trạng như thế? và ta cần có kết luận gì cho vấn đề này? Để phân tích được sâu hơn vấn đề này của DN nhỏ và vừa ta sẽ xét trên góc độ nợ quá hạn và nợ xấu trên tổng dư nợ của Doanh nghiệp nhỏ và vừa qua các bảng 2.10 và 2.11.

  • Bảng 2.10 Tỷ trọng dư nợ quá hạn và nợ xấu của Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại CNHP
  • Bảng 2.11 Tốc độ tăng trưởng nợ quá hạn và nợ xấu của Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại CN

Nhìn vào bảng 2.10 và 2.11 ta thấy số lượng nợ quá hạn DN nhỏ và vừa của Chi nhánh tăng dần qua các năm. Năm 2024 nợ quá hạn DN nhỏ và vừa là 10,70 tỷ đồng tăng 29,30 % so với năm 2023. Điều này cho thấy năm 2024 là năm khó khăn trong vấn đề xử lý nợ quá hạn của ngân hàng. Mức độ tăng nợ quá hạn trong năm 2024 thể hiện tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp đã gặp rất nhiều khó khăn. Một số món nợ từ năm 2023 vẫn chưa được giải quyết và dần chuyển nhóm do đó làm dư nợ quá hạn năm 2024 tăng mạnh. Tiếp đến năm 2025, tình trạng dư nợ quá hạn vẫn tiếp tục tăng. Cụ thể, năm 2025 tỷ trọng dư nợ quá hạn DN nhỏ và vừa đạt 6,26% cao hơn so với năm 2024 1,24%. Việc gia tăng tỷ trọng nợ quá hạn cho thấy tình hình nợ quá hạn của chi nhánh vẫn chưa được cải thiện và nếu không có biện pháp khắc phục kịp thời thì con số đó vẫn có thể tiếp tục tăng trong tương lai. Chi nhánh NH cần phải chú ý hơn trong việc thu hồi và giám sát những khoản nợ quá hạn tránh tình trạng chuyển nhóm nợ với số lượng lớn. Bởi vì, tình trạng dư nợ quá hạn cao rất dễ dẫn đến chuyển sang nhóm nợ xấu làm mất khả năng thu hồi nợ dẫn đến giảm uy tín chất lượng tín dụng của Chi nhánh cũng như toàn Ngân hàng.

Về nợ xấu DN nhỏ và vừa tại Chi nhánh, năm 2024 tỷ lệ nợ xấu có chiều hướng cải thiện hơn so với năm 2023. Cụ thể, số lượng nợ xấu năm 2024 ở mức 3,31% giảm 0,04% so với năm 2023. Mặc dù có dấu hiệu giảm về tỷ trọng nhưng số lượng nợ xấu vẫn tiếp tục tăng (năm 2024 tăng hơn năm 2023 1,64 tỷ đồng). Đến năm 2025 tỷ trọng nợ xấu của Chi nhánh tăng lên thành 3,56% với số tiền là 7,71 tỷ đồng tăng so với năm 2024 là 9,3%. Điều đó thể hiện chất lượng tín dụng của Chi nhánh đang có dấu hiệu không tốt. Sở dĩ, có sự thay đổi tăng nợ xấu DN nhỏ và vừa như vậy là do một số DN nhỏ và vừa vay vốn vẫn còn yếu kém về năng lực kinh doanh và cũng do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường. Bởi vì hầu hết nợ quá hạn, nợ xấu đều tập trung vào các ngành chế biến thực phẩm, sản suất kinh doanh vật liệu xây dựng như sắt thép, xi măng…., đó là những ngành đang gặp tình trạng khó khăn về vấn đề dư thừa hàng tồn kho. Về phía ngân hàng, ngay trong vấn đề công tác quyết định cho vay chưa thực sự khách quan nên có thể đưa ra những quyết định tín dụng sai lầm cho các doanh nghiệp kinh doanh có độ rủi ro cao. Do vậy, Chi nhánh cần phải chú ý hơn trong công tác thẩm định chất lượng và khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Nếu không có những cải thiện về công tác tín dụng thì dự báo con số nợ xấu của chi nhánh sẽ vẫn tăng trong tương lai vì tình hình bất động sản và sức mua của người dân vẫn chưa được cải thiện nhiều. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

Tuy nhiên, mức nợ xấu như vậy chưa phải là mức quá cao so với tình hình nợ xấu của các ngân hàng hiện tại và vẫn đạt mức nợ xấu dưới 5%. Và hiện nay, vấn đề sắp xếp phân loại các nhóm nợ hiện vẫn chưa được rõ ràng trong hệ thống pháp lý. Các thông tư và các quyết định vẫn còn có lối mở cho các Ngân hàng trong việc gia hạn nợ như quyết định 780 của chính phủ. Do đó chưa thể nói những món nợ xấu hiện tại là hoàn toàn có nguy cơ mất khả năng chi trả.

Để đảm bảo an toàn vốn Ngân hàng cũng đã trích lập dự phòng rủi ro chung và dự phòng rủi ro cụ thể cho các món nợ của Doanh nghiệp nhỏ và vừa.

  • Bảng 2.12 Bảng phân loại các nhóm nợ và trích lập dự phòng chung.

Nhìn vào bảng 2.12 ta thấy trong năm 2023 và năm 2024 không phát sinh dư nợ nhóm 5 của khách hàng Doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng năm 2025 thì đã xuất hiện. Dư nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn), như ta thấy có tỷ trọng giảm dần qua các năm nhưng vẫn ở mức cao. Cụ thể đến năm 2025 vẫn chiếm 93,7% trong tổng dư nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên nợ từ nhóm 2 trở đi có chiều hướng tăng qua các năm đặc biệt đến năm 2025 mặc dù nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) giảm nhưng lại xuất hiện nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) là nhóm chiếm phần lớn dư nợ trong cơ cấu nợ xấu của Doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhóm này cũng chiếm tỷ lệ cao nhất trong nợ quá hạn. Những con số này chứng minh cho việc các món nợ đang dần chuyển nhóm và hầu hết nợ quá hạn đều tập trung vào nhóm 3. Tuy nhiên, ta không trừ trường hợp do cách phân loại nợ của Chi nhánh làm cho dư nợ xấu của DN trở nên tăng cao. Ví dụ nếu áp dụng theo thông tư 02 một cách chặt chẽ thì một khoản nợ quá hạn 91 ngày, doanh nghiệp không trả được 1 đồng tiền lãi hoặc một đồng tiền gốc thì lập tức toàn bộ dư nợ gốc bị chuyển thành nhóm nợ xấu (nhóm 3) trong khi doanh nghiệp chỉ cần thêm một khoảng thời gian ngắn nữa là trả được. Nhưng với quyết định 780 thì Ngân hàng lại được phép gia hạn thêm cho doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp đảm bảo được khả năng trả nợ của mình. Như vậy, Ngân hàng cần chú ý xem xét việc phân loại nợ cho thật linh hoạt mà vẫn đảm bảo đúng luật để có thể đạt được kết quả tốt cho cả hai bên tránh tình trạng nợ xấu ngân hàng tăng cao dẫn đến chi phí rủi ro tăng ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng.

  • Bảng 2.13 Bảng tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể cho từng nhóm nợ trên dư nợ từng nhóm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi nhánh. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

Nhìn vào bảng 2.13 ta thấy: Nợ xấu của ngân hàng tăng khiến cho lượng trích lập dự phòng cụ thể của các nhóm nợ cũng tăng. Cụ thể năm 2025 tổng trích lập dự phòng cụ thể của Doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 1,338 tỷ đồng tăng 279 triệu đồng so với năm 2024. Như đã biết, tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể không những phụ thuộc vào tỷ lệ trích lập riêng cho từng nhóm mà còn phụ thuộc vào giá trị khấu trừ tài sản đảm bảo quy đổi. Giá trị khấu trừ tài sản đảm bảo càng cao thì lượng trích lập dự phòng càng thấp và chi phí cho trích lập dự phòng rủi ro sẽ giảm đi. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của ngân hàng. Nhìn vào tỷ lệ số tiền trích lập từng nhóm trên tổng dư nợ DN nhỏ và vừa từng nhóm ta thấy các tỷ lệ này đều thấp hơn tỷ lệ trích lập cụ thể được quy định: Nhóm 2: 5%, nhóm 3:20%, nhóm 4: 50%, nhóm 5 100%. Ta lấy ví dụ năm gần nhất là năm 2025, tỷ lệ số tiền trích lập dự phòng rủi ro trên dư nợ của nhóm 2 đạt 2,4% thấp hơn so với trích lập dự phòng quy định 2,6%, nhóm 3 đạt 9,6% thấp hơn so với mức trích lập dự phòng rủi ro quy định là 19,094%, nhóm 4 là 24% thấp hơn so với mức trích lập dự phòng quy định là 26%, nhóm 5 là 48% thấp hơn so với mức trích lập dự phòng quy định là 52%. Điều này cho thấy lượng trích lập dự phòng của ngân hàng khá thấp so với mức quy định. Nguyên nhân có thể do giá trị khấu trừ tài sản đảm bảo của ngân hàng quy đổi khá cao. Theo như chương 1 đã nhắc đến, giá trị khấu trừ tài sản đảm bảo bằng giá trị tài sản đảm bảo nhân với tỷ lệ quy đổi. Trong đó tiền gửi và tiết kiệm được khấu trừ cao nhất (100%), bất động sản (50%) và các tài sản khác (từ 30 đến 95% ). Nếu tính theo công thức này, thì ta thấy được giá trị của tài sản đảm bảo cao dẫn đến việc lượng tiền được khấu trừ từ tài sản đảm bảo trong trích lập dự phòng dư nợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa cao. Như vậy nếu tài sản được đánh giá đúng giá trị thực của mình thì đó có thể coi là một điều tốt cho ngân hàng vì đây là những con số an toàn làm cho lợi nhuận không bị thấp vì chi phí rủi ro. Nhưng, nếu tài sản được ngân hàng đánh giá quá cao so với giá trị thực thì sẽ gây ra một lợi nhuận ảo cho Chi nhánh. Bởi vì, ta có thể lấy ví dụ cách đây 2 năm một tài sản đảm bảo bằng bất động sản có giá trị 1 tỷ đồng nhưng 2 năm sau (tức là hiện tại) giá trị thực tài sản đó chỉ đáng giá 500 triệu chưa kể việc bất động sản vẫn đang đóng băng khó bán được. Như vậy, nếu ngân hàng vẫn tiếp tục giữ giá trị tài sản đảm bảo theo giá cũ mà không có sự đánh giá lại giá trị thực của nó thì sẽ rất dễ gây nên tình trạng lợi nhuận ảo cho ngân hàng. Do đó việc trích lập dự phòng rủi ro cụ cho các khoản dư nợ của Doanh nghiệp nhỏ và vừa không hề đơn giản.

Tóm lại, ABBANK chi nhánh Hải Phòng đã thực hiện tốt công tác trích lập dự phòng rủi ro cho các nhóm nợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa đúng theo quy định của Ngân hàng nhà nước. Tuy nhiên, cần phải chú ý hơn về lượng trích lập dự phòng cụ thể. Nó có nên điều chỉnh lại để tăng lên không? Và tài sản đảm bảo đã được xác định lại đúng giá trị hiện tại chưa?

2.3.1.4 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Chi nhánh ABBANK – Hải Phòng.

  • Bảng 2.14. Hiệu suất sử dụng vốn vốn đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại CN

Nhìn vào bảng 2.14 ta thấy hiệu suất sử dụng vốn DN nhỏ và vừa tăng khá đều qua các năm. Cụ thể, năm 2024 hiệu suất sử dụng vốn DN nhỏ và vừa đạt 46,29% tăng tuyệt đối là 7,36% so với năm 2023, năm 2025 tỷ lệ này đạt 48,24% độ tăng tuyệt đối so với năm 2024 là 1,95%. Mức tăng trưởng hiệu suất sử dụng vốn này chưa phải là cao đối với Chi nhánh ngân hàng. Thêm vào đó nguồn vốn này có dấu hiệu giảm mà tổng dư nợ DN nhỏ và vừa lại tăng nên khiến cho hiệu suất sử dụng vốn tăng theo. Như trên đã phân tích, tỷ lệ dư nợ quá hạn và nợ xấu trong tổng dư nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng mạnh vào năm 2025 nên chưa thể kết luận hiệu suất sử dụng vốn tăng có thể làm cho thu nhập của ngân hàng tăng được. Tuy nhiên, nếu trong tương lai Chi nhánh có thể thu hồi sớm những khoản nợ quá hạn thì đây vẫn có thể coi là một tín hiệu tốt trong thời kỳ kinh tế khó khăn.

Tóm lại, ta cần xem xét nhiều mặt để có thể đánh giá sự tăng trưởng trong hiệu suất sử dụng vốn này có được coi là thực sự tốt hay không. Từ đó có thể đưa ra một kết luận chính xác và một giải pháp đúng đắn cho vấn đề dư nợ tín dụng DN nhỏ và vừa của Ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

2.3.1.5 Chỉ tiêu lợi nhuận đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

  • Bảng 2.15: Mức sinh lời từ HĐTD đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại CN

Nhìn vào bảng 2.15, ta thấy mức sinh lời từ hoạt động tín dụng đối với DN nhỏ và vừa giảm dần qua các năm. Thể hiện ở năm 2024 mức sinh lời từ HĐTD của DN nhỏ và vừa đạt 2,21% thấp hơn năm 2023 0,05%, nhưng lợi nhuận và cả tổng dư nợ đều vẫn tăng cao. Điều này là do tốc độ tăng lợi nhuận từ HĐTD đối với DNVVN thấp hơn tốc độ tăng dư nợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa làm cho mức sinh lời từ hoạt động tín dụng của Doanh nghiệp nhỏ và vừa giảm. Tuy nhiên mức sinh lời này chỉ giảm nhẹ. Đến năm 2025 mức sinh lời tiếp tục giảm xuống còn 1,55% (tức giảm đi tuyệt đối so với năm 2024 0,66%). Điều đó phản ánh chất lượng tín dụng của Chi nhánh Ngân hàng đang có chiều hướng đi xuống. Nguyên nhân có thể do lượng dư nợ lợi nhuận và cả tổng dư nợ DNVVN đều tăng qua các năm, trong đó các món nợ từ năm trước bắt đầu chuyển nhóm, khiến cho khả năng thu hồi nợ trở nên khó khăn dẫn đến tình trạng ứ đọng dư nợ đối với các DN nhỏ và vừa. Điều đó đồng nghĩa với việc, trong năm 2025, lợi nhuận từ HĐTD giảm đi làm cho mức sinh lời từ HĐTD giảm. Chi nhánh cần phải chú ý hơn vấn đề thẩm định các khoản vay và quản lý nợ sao cho để mức sinh lời từ hoạt động tín dụng trở lên hiệu quả hơn.

  • Bảng 2.16: Tỷ trọng lợi nhuận từ HĐTD đối với DN nhỏ và vừa

Nhìn vào bảng 2.16, ta thấy tỷ trọng lợi nhuận từ HĐTD đối với DN nhỏ và vừa tăng giảm không đều qua các năm. Cụ thể năm 2024 tỷ trọng sinh lời từ HĐTD DN nhỏ và vừa đạt 75,13% tăng so với năm 2023 12,92% so với năm 2023. Nhìn chung với mức tỷ trọng lợi nhuận như vậy thì ta có thể nhận định lợi nhuận cho vay đối với khách hàng DN nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi nhuận của Chi nhánh. Mặt khác tỷ suất dư nợ trên tổng vốn đạt 75,2% con số này cũng gần bằng với tỷ trọng lợi nhuận của từ HĐTD. Điều này thể hiện việc cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt hiệu quả trong năm 2024. Nhưng trong năm 2025 do dư nợ doanh nghiệp nhỏ và vừa không có sự tăng trưởng đột phá. Cụ thể, tỷ trọng này chỉ đạt 58,48% giảm tuyệt đối 16,73% so với năm 2024. Ngoài ra, như trên đã phân tích (phần 2.3.1.1) tình hình thu nợ giảm dẫn đến lợi nhuận từ việc cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa giảm theo. Mặt khác, trong năm 2025 tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng vốn đạt 60,6% mà tỷ trọng lợi nhuận từ HĐTD chỉ đạt 58,48%. Điều này cho thấy sự thiếu hiệu quả trong việc sử dụng vốn cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa vay của ngân hàng. Do đó, Chi nhánh nên tích cực quan tâm phát triển tín dụng các DN nhỏ và vừa một cách toàn diện và cần phải có công tác thẩm định cũng như quản lý nợ cẩn thận và sát sao hơn.

2.3.1.6 Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi nhánh

  • Bảng 2.17: Chỉ số vòng quay vốn tín dụng Doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Nhìn vào bảng 2.17 ta thấy vòng quay vốn tín dụng có sự thay đổi tăng giảm không đồng đều qua các năm. Trong đó, vỏng quay vốn tín dụng năm 2024 là 1,46 vòng, tăng so với năm 2023 0,23 vòng; nhưng sang đến năm 2025 vòng quay vốn tín dụng giảm xuống còn 1,17 vòng. Điều này cho thấy thời gian cho vay vốn tín dụng đã bị kéo dài hơn trong năm 2025. Hay nói cách khác là việc sử dụng vốn của ngân hàng đang hoạt động rất chậm. Đó là do năm 2025 doanh số thu nợ DN nhỏ và vừa giảm trong khi dư nợ cho vay DN nhỏ và vừa lại cao hơn so với năm 2024. Không những vậy, như trên phân tích lượng dư nợ trong năm 2025 tăng mà trong đó nợ quá hạn chiếm tỷ trọng cao hơn so với năm 2024. Trên thực tế trung bình vòng quay vốn tín dụng của một doanh nghiệp làm ăn tốt phải đạt ít nhất 2 vòng quay trở lên nhưng Chi nhánh ngân hàng chỉ đạt cao nhất 1,46 vòng trong 3 năm gần đây. Việc giảm vòng quay vốn tín dụng có thể gây ra một số hậu quả như tăng trưởng tín dụng thấp; Ngân hàng mất đi khả năng đáp ứng linh hoạt, nhanh chóng kịp thời trong việc giải ngân cho khách hàng, dễ dẫn đến tình trạng mất cân bằng nguồn vốn: Nơi cần thì không kịp có vốn để dùng còn nơi có vốn rồi thì lại làm ăn không hiệu quả dẫn đến không trả được nợ cho ngân hàng; chất lượng dịch vụ ngân hàng suy giảm, dễ làm mất uy tín cho ngân hàng… Điều này cho thấy chất lượng cho vay DN nhỏ và vừa dần có chiều hướng không tốt. Do vậy, Chi nhánh cần phải có biện pháp phù hợp để làm tăng vòng quay vốn tín dụng để tránh đem lại hậu quả xấu cho Ngân hàng

2.3.2 Đánh giá chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh HP Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

Đúc kết từ những kết quả phân tích thực trạng hoạt động cho vay đối với DNV&N tại Ngân Hàng TMCP An Bình –Chi nhánh HP, ta có thể tổng kết những những kết quả đạt được, những điểm yếu và cơ hội và thách thức của hoạt động cho vay đối với DN nhỏ và vừa tại Chi nhánh.

2.3.2.1 Kêt quả đạt được.

Nhìn chung tình hình kinh tế trong năm 2025 tương đối khó khăn, nhưng ABBANK Chi nhánh Hải Phòng vẫn đạt được kết quả đáng nghi nhận trong công tác huy động vốn và phát triển dịch vụ sản phẩm thẻ. Điều này càng khẳng định thương hiệu của ABBANK tại Hải Phòng ngày càng có vị thế vững chắc và phát triển.

Ngoài ra, Chi nhánh đã biết phát huy được thế mạnh của mình với sự am hiểu sâu sắc trong lĩnh vực ngành Điện từ đó triển khai được tốt Chương trình “Đồng hành cùng nhà thầu EVN” với tổng hạn mức 500 tỷ đồng và lãi suất từ 7,9%/năm… do ABBANK phát động. Trong gói sản phẩm nhà thầu Điện lực các doanh nghiệp được ngân hàng tư vấn và cung cấp các giải pháp tài chính phù hợp nhất với đúng chuyên ngành kỹ thuật.

Trong thời buổi kinh tế vẫn đang khó khăn, Chi nhánh đã điều tiết các chiến lược phân khúc cho vay một cách linh động. Chi nhánh đã áp dụng mức lãi suất thả nổi và có điều chỉnh để tạo điều kiện phát triển hơn cho các doanh nghiệp. Chi nhánh cũng đã sử dụng chiến lược tập chung các khoản cho vay ngắn hạn của khách hàng để tránh tình trạng nợ lâu mất vốn. Các khoản cho vay dài hạn Ngân hàng tập trung vào các khách hàng lâu năm với chi nhánh và có lĩnh vực kinh doanh đang trên đà phát triển như kinh doanh, sản xuất vật liệu dẫn điện, thiết bị điện ,…Bên cạnh đó vốn cho vay cũng hầu hết tập trung vào phân khúc khách hàng theo các ngành tiềm năng như thương mại dịch vụ nên có kỳ vọng khả năng thu hồi vốn cao.

Mức dư nợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đa số trong tổng dư nợ, tỷ trọng lợi nhuận từ HĐTD của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt được tương đối cao, chiếm phần lớn trong tổng lợi nhuận của Ngân hàng, hiệu suất sử dụng vốn tăng theo các năm cho thấy tình hình sử dụng vốn tương đối tốt. Đó chính là nhờ các khoản hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp. Tuy năm 2025 là một năm khó khăn của các ngân hàng trong vấn đề sử quản lý và sử dụng vốn nhưng Chi nhánh ABBANK Hải Phòng vẫn giữ được mức nợ xấu cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa là 3,56 % tức là dưới 5%. Đây cũng có thể coi là một thành công trong việc kiềm chế và kiểm soát nợ quá hạn, nợ xấu. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

Các nhân viên của Chi nhánh có ưu điểm là trẻ, năng động, giàu nhiệt huyết, luôn tích cực làm việc, tuân thủ đúng quy trình tín dụng giúp cho Chi nhánh có thêm nhiều nguồn khách hàng tiềm năng và làm cho thương hiệu ABBANK ngày càng mở rộng.

Cơ sở vật chất kỹ thuật của chi nhánh đã được cải tiến và đổi mới, luôn đáp ứng được nhu cầu cung ứng dịch vụ cho khách hàng một cách tốt nhất.

2.3.2.2 Điểm hạn chế và nguyên nhân.

2.3.2.2.1 Hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt dược thì Chi nhánh vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần phải khắc phục.

Một là tình trạng nợ quá hạn và nợ xấu của Doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn tồn tại và tăng lên vào năm 2025. Việc gia tăng tỷ trọng nợ quá hạn cho thấy tình hình nợ quá hạn và nợ xấu của chi nhánh vẫn chưa được cải thiện và nếu không có biện pháp khắc phục kịp thời thì con số đó vẫn có thể tiếp tục tăng trong tương lai.

Hai là công tác định giá tài sản của Ngân hàng còn chưa khách quan, giá trị tài sản đảm bảo được định giá cách xa giá thị trường. Chi nhánh đã quá chú trọng vào tài sản đảm bảo nên đã bỏ lỡ nhiều cơ hội cho vay tốt đối với những khách hàng có khả năng trả nợ tốt nhưng có ít hoặc không có tài sản đảm bảo. Các quyết định cho vay chưa thực sự khách quan. Trong quá trình xét duyệt và phán quyết cho vay, chưa đi sát vào tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên nhiều khi doanh nghiệp có rủi ro mà chưa phát hiện kịp thời.

Ba là các thủ tục cho vay còn khá cứng nhắc, nhất là các thủ tục về cầm cố và thế chấp tài sản đảm bảo, thời gian xét duyệt cho vay còn kéo dài làm lỡ kế hoạch, cơ hội kinh doanh của khách hàng.

Bốn là các hình thức và phương thức cho vay đối với DN nhỏ và vừa của Chi nhánh còn chưa phong phú, đa dạng, làm giảm tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay.

Năm là mặc dù trong năm 2025 Ngân hàng nhà nước đã giảm trần lãi suất và ổn định lạm phát, đồng thời đưa ra gói hỗ trợ lãi suất 30.000 tỷ và một số ưu đãi được phát động trong năm như: Chương trình “Khởi đầu thành công mới” với tổng hạn mức 1.500 tỷ đồng và lãi suất từ 7,9%/năm; Chương trình “Hợp tác nội địa – Nâng tầm quốc tế” với tổng hạn mức 70 triệu USD và lãi suất vay từ 3,2%/năm;…cùng với việc mở rộng trung tâm hỗ trợ DN nhỏ và vừa (SMEs) do ABBANK phát động nhưng Chi nhánh chưa thực sự triển khai một cách hiệu quả. Biểu hiện là doanh số cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa không tăng.

Sáu là công tác phối hợp trong mối quan hệ tác nghiệp giữa các đơn vị trong chi nhánh còn chưa đạt kết quả cao. Vì thế, Chi nhánh còn thiếu thông tin về khách hàng do đó gây khó khăn cho công tác thẩm định và xét duyệt hồ sơ vay vốn, khó tránh khỏi những rủi ro tổn thất cho Chi nhánh. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

2.3.2.2.2. Nguyên nhân

  • a. Nguyên nhân từ phía Ngân hàng.

Một là mức lãi suất của Ngân hàng mặc dù đã có nhiều đãi ngộ nhưng vẫn cao hơn so với các ngân hàng khác dẫn đến tình trạng giảm doanh số cho vay.

Hai là do thời gian cho vay kéo dài, thủ tục rườm rà và vẫn mang nặng vấn đề tài sản đảm bảo.

Ba là công tác thẩm định tín dụng chưa được tốt. Trong đó, quy trình và năng lực thẩm định còn một vài hạn chế đã gây trở ngại cho việc tiếp cận nguồn vốn vay của các DN nhỏ và vừa. Các nội dung thẩm định của Chi nhánh vẫn còn tình trạng không đầy đủ, quá chú trọng đến việc thẩm định về mặt tài chính mà bỏ qua nhiều yếu tố quan trọng khác. Nó thể hiện sự đánh giá khả năng tín dụng của doanh nghiệp không được khách quan. Một thực tế của các DN nhỏ và vừa là thường chủ doanh nghiệp, những người bỏ vốn cũng đồng thời là người điều hành và quản lý doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc đánh giá trình độ, kinh nghiệm và khả năng quản lý của chủ doanh nghiệp là rất quan trọng. Ngoài ra còn cần phải đánh giá dựa trên cả tầm vĩ mô và môi trường cạnh tranh. Tuy nhiên, nôi dung này còn chưa được thực sự quan tâm trong quá trình thẩm định. Ngoài ra, việc phân tích, đánh giá về ngành hàng, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp và thị trường cũng chưa thật sự được chú trọng, thậm chí đôi khi bị bỏ qua. Chính những điều này đã làm cho chất lượng thẩm định bị hạn chế. Dẫn đến việc tăng rủi ro và làm giảm chất lượng của các khoản cho vay.

Bốn là do chính sách tín dụng kém linh hoạt. Theo quy định, Ngân hàng phải luôn tuân thủ theo các nguyên tắc nhằm đảm bảo an toàn cũng như giảm rủi ro xuống mức thấp nhất. Vì vậy, Ngân hàng thường đòi hỏi các yêu cầu về tài sản đảm bảo cũng như năng lực tài chính của khách hàng khi cho vay. Nhưng, việc thực hiện quá cứng nhắc các quy định đó đã làm hạn chế khả năng mở rộng và nâng cao chất lượng cho vay đối với DN nhỏ và vừa của Ngân hàng. Trên thực tế, nhiều khách hàng hoạt động kinh doanh tốt nhưng vì giá trị tài sản đảm bảo không đủ lớn nên số tiền được vay thấp, không đáp ứng được nhu cầu kinh doanh. Ngoài ra, phần lớn tài sản đảm bảo mà ngân hàng đưa ra là bất động sản, trong khi bất động sản trong thời điểm hiện tại vẫn đang đóng băng, không có biểu hiện của một sự tăng trưởng tốt nên việc dè dặt cho vay của Ngân hàng càng tăng. Điều đó dẫn đến thời gian giải ngân các khoản vay kéo dài làm chậm tiến độ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Năm là do sự thiếu quan tâm trong công tác kiểm soát nội bộ. Các công tác kiểm soát nội bộ cũng như kiểm tra, giám sát khách hàng đôi khi còn mang tính câu nệ, hình thức nên chưa phát hiện kịp thời được những sai phạm trong quá trình cho vay của cán bộ tín dụng và của khách hàng vay vốn. Việc theo dõi các khoản vay chưa thường xuyên chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc tăng các khoản nợ quá hạn của Ngân hàng trong thời gian qua.

Sáu là do hạn chế về công tác lấy thông tin khách hàng. Hệ thống thông tin khách hàng là một yếu tố vô cùng quan trọng trong quá trình cấp tín dụng và quá trình kiểm soát sau khi cho vay. Việc thiếu thông tin về khách hàng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng khoản cho vay. Những thông tin về khách hàng chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của Ngân hàng. Nguồn cung cấp thông tin chủ yếu được thu thập qua các báo cáo tài chính mà doanh nghiệp cung cấp. Điều này thiếu tính khách quan. Việc tìm hiểu thông tin về khách hàng từ bên thứ ba (tức là các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng khác) còn hạn chế. Điều này làm cho những thông tin về khách hàng còn thiếu, vẫn còn mang tính một chiều và độ chính xác là chưa cao.

Bảy là do ngũ cán bộ nhận viên còn non trẻ và chưa đồng đều.Trong thời buổi hiện nay, yêu cầu đối với một cán bộ tín dụng không chỉ đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải chịu được áp lực công việc cao đồng thời phải nắm bắt được tâm lý của khách hàng, nắm rõ về tình hình tài chính, năng lực quản lý và tư cách đạo đức của khách hàng. Bên cạnh đó, cán bộ tín dụng còn phải có những sự hiểu biết nhất định về thị trường và lĩnh vực kinh doanh của khách hàng. Những đòi hỏi khá cao này không phải cán bộ tín dụng nào cũng có thể đáp ứng được. Thực tế hiện nay, chất lượng các bộ tín dụng của Chi nhánh chưa đồng đều. Một số cán bộ tín dụng vẫn chưa đáp ứng được những đòi hỏi của thực công việc. Ngoài ra còn một bộ phận cán bộ trẻ, có nghiệp vụ tốt nhưng thiếu kinh nghiệm và kỹ năng mềm nên vẫn gặp một số khó khăn khi tiếp cận các DN nhỏ và vừa. Việc này có thể gây ra hậu quả sai lệch trong vấn đề thu thập thông tin và thẩm định tín dụng.

Tám là Chi nhánh chỉ tập trung cho nhóm khách hàng lâu năm như các nhà thầu điện lực mà chưa dám mở rộng tín dụng cho những nhóm khách hàng mới. Vẫn chỉ tập trung cho vay với một số lĩnh vực thuộc về chuyên môn am hiểu sẵn và những khách hàng lâu năm như các nhà thầu điện lực mà vẫn hạn chế mở rộng ra nhiều loại hình lĩnh vực kinh tế khác.

  • b. Nguyên nhân thuộc về các doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

Khả năng tự lập dự án đầu tư của doanh nghiệp còn chưa chuyên nghiệp, thiếu độ chính xác và hầu hết không mang tính hiệu quả. Các DN nhỏ và vừa có quy mô vốn tự có nhỏ, vốn tự có lại thường dùng để đầu tư vào trang thiết bị, máy móc… do đó nguồn vốn phục vụ sản xuất và thanh toán còn thiếu. Vì vậy, khả năng sản xuất kinh doanh của những doanh nghiệp này còn chưa có sự phát triển ổn định và có hiệu quả cao.

Các doanh nghiệp vẫn đang gặp khó khăn về vấn đề tài sản đảm bảo. Các DN nhỏ và vừa chủ yếu là đi thuê mặt bằng để sản xuất kinh doanh trong khi đó quyền sử dụng đất luôn là tài sản đảm bảo quan trọng. Bên cạnh đó, các DN nhỏ và vừa thường không có nhiểu tài sản để thế chấp mà ngân hàng thường đánh giá giá trị tài sản đảm bảo thấp hơn so với thực tế gây tâm lý e ngại khi thế chấp của các DN nhỏ và vừa.

Một số doanh nghiệp chưa chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về kế toán doanh nghiệp, công tác kế toán chưa khoa học, khó khăn cho cán bộ ngân hàng trong công tác kiểm tra, thẩm định. Thậm chí, nhiều doanh nghiệp còn làm những báo cáo tài chính giả, báo cao sai tạo ra tâm lý e ngại trong hoạt động cho vay của Ngân hàng, đặc biệt là cho vay trung, dài hạn.

Trình độ chuyên môn và năng lực quản lý của doanh nghiệp chưa cao. Khả năng tiếp thu công nghệ còn thấp do đó gây trở ngại trong việc đưa ra quyết định tín dụng của Ngân hàng.

Doanh nghiệp gặp vấn đề lớn trong việc giải quyết hàng tồn kho, và sức mua khách hàng. Chưa có giải pháp kinh doanh hiệu quả để thuyết phục được ngân hàng.

  • c. Nguyên nhân khách quan khác. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

Do sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trên địa bàn Hải Phòng còn khá cao. Chi nhánh ngân hàng mới thành lập năm 2021 nên nhắc đến tên Ngân hàng An Bình nhiều người còn lạ lẫm. Nhiều người dân ở xa trung tâm còn chưa biết sự hiện diện của ABBANK có ở Hải Phòng. Theo tâm lý người dân vân nghĩ ngân hàng là nhỏ nên độ tin cậy chưa cao.

Các văn bản pháp luật vẫn nhiều khuyết điểm, hệ thống pháp lý chưa thực sự ổn định vẫn mang nhiều tính lý thuyết và chưa phù hợp với thực tiễn và có nhiều mâu thuẫn. Điển hình là các ý kiến phản đối trong nhiều buổi thảo luận giữa các CEO của ngân hàng và đại diện pháp luật khi Chính phủ có ý định áp dụng thông tư số 2 về vấn đề cơ cấu lại nợ như tiến sĩ Nguyễn Đức Hưởng ( chủ tịch Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Quản trị LienVietPostBank) tại Hội thảo “CEO và bài học đắt giá trong tiến trình phát triển Doanh nghiệp” tại Hà Nội ngày 6/12/2025 [6.9] có nói “…Tôi lấy ví dụ, một doanh nghiệp đang có khoản vay 1 tỷ đồng tại ngân hàng, trước đây, đến hạn phải trả một khoản gốc nếu không trả được thì ngân hàng gia hạn và giữ nguyên nhóm nợ như cũ (theo QĐ 780 v/v phân loại nợ đối với nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ). Nhưng khi áp dụng thông tư 02, nếu doanh nghiệp không trả được dù chỉ một đồng tiền lãi (hoặc 1 đồng tiền gốc) đến hạn phải gia hạn nợ lần đầu tiên thì toàn bộ dư nợ gốc 1 tỷ đồng cũng bị chuyển nhóm thành nợ xấu (nhóm 3). Như vậy, một loạt các khoản nợ của các doanh nghiệp sẽ chuyển thành nợ xấu ngay lập tức tại thời điểm áp dụng thông tư 02. Có những khoản chưa xấu (bởi chậm trả lãi gia hạn nợ trong thời điểm này là chuyện thường ngày của doanh nghiệp khi nền kinh tế đang gặp khó khăn chung) nhưng sẽ thành rất xấu vì doanh nghiệp bị tê liệt, có nợ xấu không được vay vốn kinh doanh… Nếu áp dụng thông tư 02 vào tháng 6 cũng đồng nghĩa với việc tiếp tục trói doanh nghiệp lại, dồn doanh nghiệp, ngân hàng và cả nền kinh tế vào ngõ cụt, hết cơ hội phục hồi và làm phát sinh nợ xấu ồ ạt, doanh nghiệp không những không thể hồi phục được mà còn xảy ra sự đổ bể của doanh nghiệp lớn…” Ngoài ra các thủ tục xác nhận như quyền sở hữu, công chứng giấy tờ còn rườm rà gây mất thời gian trong việc lập hồ sơ vay vốn của các doanh nghiệp. Các quy định về ngành nghề kinh doanh, về phá sản doanh nghiệp, về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu, cơ chế về chuyển nhượng, phát mại tài sản… còn nhiều bất cập ảnh hướng tới tiến độ xử lý nợ đọng.

Chất lượng tín dụng còn bị ảnh hưởng nhiều bởi tình hình kinh tế vĩ mô từ sau đợt khủng hoảng tài chính năm 2020, bất động sản có chiều hướng suy giảm đến nay vẫn tiếp tục đóng băng mà vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi. Việc này kéo theo nhiều hệ lụy cho các ngành liên quan đến kinh doanh bất động sản và xây dựng. Ngân hàng cũng khó khăn trong vấn đề giải quyết thanh lý phát mại tài sản đảm bảo vì chủ yếu tài sản đảm bảo là bất động sản. Điều này làm chậm phát triển tín dụng.

Cũng chính vì khủng hoảng tài chính nên giá cả tiêu dùng tăng làm cho sức mua của người dân giảm dẫn đến tình trang tồn kho hàng hóa của các doanh nghiệp tăng. Điều này mang lại nhiều hậu quả xấu trong vấn đề thu hồi nợ của Ngân hàng vì lợi nhuận của doanh nghiệp không cao, thậm chí là bị lỗ nên không thể trả hết nợ. Biểu hiện ở chỗ rất nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa, tạm ngừng sản xuất hay tuyên bố phá sản năm 2025. Việc này làm mất tính quyết đoán trong việc giải ngân cho các doanh nghiệp của Ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa

One thought on “Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN nhỏ và vừa

  1. Pingback: Khóa luận: Chất lượng tín dụng của DN nhỏ và vừa tại NH An Bình

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537