Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lich sinh thái đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học và đề xuất giải pháp phát triển bền vững tại Vườn quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

TÓM TẮT

Đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái đến công tác bảo tồn Đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện tại Vườn quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, thời gian từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2025 nhằm mục tiêu hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động Du lịch sinh thái đến công tác bảo tồn tại Vườn quốc gia Tràm Chim và nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn Đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Tràm Chim. Đề tài tiến hành tìm hiểu các nội dung sau:

  • Khảo sát hiện trạng hoạt động Du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Tràm
  • Đánh giá nguy cơ tổn hại suy Đa dạng sinh học của hoạt động Du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Tràm
  • Đề xuất một số giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của hoạt động Du lịch sinh thái đến công tác bảo tồn Đa dạng sinh học.
  • Đề xuất các giải pháp phát triển Du lịch sinh thái theo hướng bền vững.

Đề tài có sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực địa, phỏng vấn bằng bảng câu hỏi, phỏng vấn trực tiếp, xử lý số liệu, phương pháp trình bày số liệu.

Qua nghiên cứu cho thấy tài nguyên du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Tràm Chim rất đa dạng, đặc sắc và có nét đặc trưng riêng tuy nhiên chưa được sử dụng đúng với tiềm năng. Tình hình hoạt động du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia hiện đang nằm trong tình trạng yếu kém, ít dịch vụ, doanh thu thấp. Ngoài ra, còn thấy được một số điểm còn hạn chế như trong vệ sinh môi trường, cơ sở vật chất hạ tầng và dịch vụ du lịch; trình độ chuyên môn của cán bộ công nhân viên công tác du lịch còn yếu, thiếu và sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Tràm Chim còn gặp nhiều khó khăn. Từ đó đề xuất một số giải pháp cho hoạt động du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Tràm Chim.

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU

1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

ĐDSH là cơ sở quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của các quốc gia. Do vậy, bảo tồn Đa dạng sinh học đã trở thành vấn để được cả xã hội quan tâm, đặc biệt là tại các Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN). Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trước sự tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, Đa dạng sinh học đã và đang bị ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng. Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái.

DLST được coi là một trong những cách thức vừa hỗ trợ bảo tồn Đa dạng sinh học, đồng thời vừa hổ trợ phát triển kinh tế xã hội một cách hiệu quả. Trong những năm gần đây, Du lịch sinh thái đã có những biến đổi mạnh mẽ, dần trở thành xu thế trên toàn cầu.

VQG Tràm Chim Đồng Tháp được thành lập ngày 29/12/1998 với cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, mênh mông sông nước, một màu xanh của rừng Tràm ngút ngàn và thảm thực vật phong phú với hơn 130 loài thực vật khác nhau. Vùng đất này cũng chính là nơi cư trú loài chim Sếu đầu đỏ nổi tiếng trên thế giới với những vũ điệu thiên nhiên làm mê hoặc lòng người.

Bên cạnh lợi ích thu được thì phát triển du lịch cũng gây ra những tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học và công tác bảo tồn của Vườn quốc gia. Để phát triển du lịch thì đòi hỏi phải tác động vào quá trình tự nhiên của hệ sinh thái,sự tác động này tạo ra những biến động bất thường trong xu hướng phát triển tự nhiên của các quy trình sinh thái, các áp lực của hoạt động du lịch lên công tác bảo tồn của Vườn quốc gia cũng gia tăng. Điều đó cho ta thấy, hoạt động du lịch và công tác bảo tồn có mối quan hệ qua lại hết sức gắn bó, mật thiết, tương hỗ lẫn nhau và nếu khai thác, phát triển hoạt động du lịch không hợp lý có thể sẽ là nguyên nhân làm suy giảm giá trị của các nguồn tài nguyên, suy giảm chất lượng môi trường và cũng có nghĩa là làm suy giảm hiệu quả của chính hoạt động du lịch. Và chúng đều tạo ra tác động đến công tác bảo tồn hiện nay. Việc phát triển du lịch nơi đây đã và đang trở thành áp lực cho Vườn quốc gia. Tuy nhiên, vẫn chưa các một đề án hay một hướng nghiên cứu nào cụ thể về mức độ tác động đó. Để có thể hiểu rõ về những tác động của hoạt động Du lịch sinh thái đến công tác bảo tồn tại Vườn quốc gia Tràm Chim cũng như góp phần thúc đẩy cho du lịch nơi đây phát triển một cách bền vững, tác giả đã thực hiện đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lich sinh thái đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học và đề xuất giải pháp phát triển bền vững tại Vườn quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp”.

1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái.

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

Góp phần hạn chế ảnh hưởng của hoạt động Du lịch sinh thái đến công tác bảo tồn tại Vườn quốc gia Tràm Chim và nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn Đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Tràm Chim.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

  • Tìm hiểu hiện trạng hoạt động Du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Tràm
  • Xác định các loại tác động của Du lịch sinh thái đến công tác bảo tồn tại Vườn quốc gia Tràm
  • Đánh giá nguy cơ tổn hại suy giảm Đa dạng sinh học của hoạt động Du lịch sinh thái tại Vườn.
  • Đề xuất các giải pháp hạn chế tác động của Du lịch sinh thái đến công tác bảo tồn và giải pháp phù hợp phát triển Du lịch sinh thái theo hướng bảo tồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN).

1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

  • Tài nguyên Du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia.
  • Khách du lịch (KDL), cộng đồng địa phương và ban quản lý Vườn quốc gia Tràm
  • Hoạt động Du lịch sinh thái và mối quan hệ giữa hoạt động Du lịch sinh thái, công tác bảo tồn Tài nguyên thiên nhiên với đa dạng sinh học (ĐDSH) tại Vườn quốc gia.

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Giới hạn nghiên cứu: Đề tài chỉ xét đến khía cạnh là những tác động của Du lịch sinh thái đến công tác bảo tồn thiên nhiên tại Vườn quốc gia Tràm Chim, xem xét mức độ tác động tiêu cực và tích cực, từ đó đưa ra giải pháp thích hợp nhất.
  • Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện trong không gian Vườn quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 01/2025 đến tháng 06/2025

1.4. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái.

  • Kết quả của đề tài giúp các nhà quản lí Vườn quốc gia xem xét lại điều kiện hiện tại và hiện trạng phát triển Du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Tràm Chim
  • Góp phần xác định những mặt tồn tại trong hoạt động phát triển Du lịch sinh thái của Vườn.
  • Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn Đa dạng sinh học và phát triển Du lịch sinh thái, cân đối giữa hai mục tiêu bảo tồn và phát triển du lịch tại Vườn.
  • Đóng góp to lớn vào mục tiêu bảo tồn và phát triển Du lịch sinh thái bền vững tại Vườn quốc gia.

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI

2.1.1. Khái niệm

DLST là một khái niệm rộng, được hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau:

  • Hector Ceballos-lascurain (1987) đã đưa ra khái niệm: “DLST là du lịch tới những khu vực thiên nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”.
  • Honey (1999) mở rộng khái niệm Du lịch sinh thái: “là du lịch tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra tác hại và với quy mô nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị văn hóa và quyền con người”.
  • Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế nhấn mạnh Du lịch sinh thái: “là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện được phúc lợi cho người dân địa phương”.
  • Tổng cục du lịch Việt Nam, ESCAP, WWF, IUCN đã đưa ra định nghĩa về Du lịch sinh thái ở Việt Nam: “là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”.

2.1.2. Các nguyên tắc của du lịch sinh thái

Hoạt động Du lịch sinh thái cần tuân theo một số nguyên tắc sau:

  • Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn.
  • Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái.
  • Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá cộng đồng.
  • Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương.

2.1.3. Tài nguyên du lịch sinh thái Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái.

Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sức hấp dẫn du lịch. (Pháp lệnh du lịch Việt Nam, 1994).

Là loại hình du lịch phát triển dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, tài nguyên Du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hoá bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó.

Tuy nhiên, không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hoá bản địa đều được coi là tài nguyên Du lịch sinh thái mà chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hoá bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác sử dụng để tạo ra các sản phẩm Du lịch sinh thái, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung, Du lịch sinh thái nói riêng, mới được xem là tài nguyên Du lịch sinh thái.

2.1.4. Một số giải pháp cơ bản để phát triển du lịch sinh thái

  • Giải pháp về cơ chế chính sách.
  • Giải pháp về thị trường.
  • Giải pháp về quy hoạch.
  • Giải pháp về đào tạo.
  • Giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng .
  • Giải pháp về xã hội.

2.1.5. Du lịch sinh thái bền vững

DLST bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi đó vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên và phát triển du lịch trong tương lai.

Phát triển Du lịch sinh thái bền vững cần có sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế (tăng GDP), xã hội ( sức khỏe, văn hóa cộng đồng ) và môi trường (bảo tồn tài nguyên môi trường) trong khuôn khổ các nguyên tắc và các giá trị đạo đức.

2.2. ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái.

2.2.1. Đa dạng sinh học

Thuật ngữ Đa dạng sinh học được dùng lần đầu tiên vào năm 1988 (Wilson, 1988) và sau khi Công ước Đa dạng sinh học được ký kết (1993) đã được sử dụng phổ biến. Có nhiều định nghĩa về Đa dạng sinh học:

Trong Luật đa dạng sinh học của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2019, định nghĩa: “ Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên. Gen là một đơn vị di truyền, một đoạn của vật chất di truyền quy định các đặc tính cụ thể của sinh vật. Hệ sinh thái là quần xã sinh vật và các yếu tố phi sinh vật của một khu vực địa lý nhất định, có tác động qua lại và trao đổi vật chất với nhau. Hệ sinh thái tự nhiên là hệ sinh thái hình thành, phát triển theo quy luật tự nhiên, vẫn còn giữ được các nét hoang sơ. Hệ sinh thái tự nhiên mới là hệ sinh thái mới hình thành và phát triển trên vùng bãi bồi tại cửa sông ven biển, vùng có phù sa bồi đắp và các vùng đất khác (Điều 3, Luật đa dạng sinh học năm 2019).

Ngoài ra Đa dạng sinh học còn được định nghĩa trong Luật bảo vệ môi trường năm 2016 như sau: “Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái” (Khoản 16, Điều 3).

Theo WWF,1989: “ĐDSH là sự phồn vinh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường”.

Theo đó, Đa dạng sinh học được định nghĩa là sự đa dạng giữa các sinh vật từ tất cả các nguồn, vùng trời, vùng đất, vùng biển, các hệ sinh thái thủy vực nội địa và các phức hệ sinh thái mà chúng là thành viên, bao gồm sự đa dạng trong mỗi loài, giữa các loài và các hệ sinh thái (IUCN, 1994). Đây là định nghĩa về Đa dạng sinh học được nhiều quốc gia chính thức chấp nhận và được sử dụng trong Công ước Đa dạng sinh học.

2.2.2. Bảo tồn đa dạng sinh học Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái.

Bảo tồn Đa dạng sinh học (Conservation of biodiversity) là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của các thế hệ tương lai (Từ điển Đa dạng sinh học và phát triển bền vững, 2001).

Để có thể tiến hành các hoạt động quản lý nhằm bảo tồn Đa dạng sinh học, điều cần thiết là phải tìm hiểu những tác động tiêu cực, các nguy cơ mà loài hiện đang đối mặt và từ đó xây dựng các phương pháp quản lý phù hợp nhằm giảm đi các tác động tiêu cực của các nguy cơ đó và đảm bảo sự phát triển của loài và hệ sinh thái đó trong tương lai.

Hiện nay có các phương thức bảo tồn chủ yếu là bảo tồn tại chỗ (In-situ) và bảo tồn chuyển vị (Ex-situ).Trong khi phương thức bảo tồn tại chỗ là nhằm bảo tồn các hệ sinh thái và các sinh cảnh tự nhiên để duy trì và khôi phục quần thể các loài trong môi trường tự nhiên của chúng, phương thức bảo tồn chuyển vị bao gồm các hoạt động nhằm bảo tồn các loài mục tiêu bên ngoài nơi phân bố hay môi trường tự nhiên của chúng.

2.3. VAI TRÒ CỦA DU LỊCH SINH THÁI ĐỐI VỚI BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC

Theo các chuyên gia về lĩnh vực du lịch thì Du lịch sinh thái đích thực hoạt động tuân thủ các nguyên tắc của nó sẽ mang lại những lợi ích to lớn, mà cuối cùng và cao nhất là đảm bảo mục tiêu bảo tồn các giá trị tự nhiên và nhân văn. Bằng các hình thức khác nhau (hướng dẫn viên, tờ rơi, sách hướng dẫn, chỉ dẫn, các phương tiện truyền thông…), các hệ sinh thái điển hình, sự Đa dạng sinh học của hệ sinh thái được giới thiệu sẽ giúp du khách và người dân địa phương nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và có hành vi bảo vệ các giá trị đặc biệt của các hệ sinh thái.

Việc đảm bảo các phương tiện hỗ trợ giáo dục trên các tuyến điểm tham quan như thông tin, chỉ dẫn, biển báo có thuyết minh môi trường, các phương tiện cho nhu cầu vệ sinh, rác thải có vai trò quan trọng trong giảm thiểu tác động đến môi trường.

Mặt khác, Du lịch sinh thái đề cao sự tham gia của nhân dân vào việc hoạch định, quản lý du lịch sẽ tăng cường sự liên kết giữa phát triển du lịch với bảo tồn thiên nhiên và phát triển cộng đồng; sử dụng lao động là người địa phương vào việc tham gia quản lý, vận hành các hoạt động Du lịch sinh thái như các dịch vụ vui chơi, giải trí của khách, các cơ sở lưu trú, bán hàng gia công, lưu niệm sử dụng sản phẩm địa phương.

Du lịch sinh thái, thông qua hoạt động diễn giải môi trường giúp cho du khách và cộng đồng địa phương hiểu rõ hơn về những giá trị tự nhiên và nhân văn của nơi mình cư trú. Việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá là nguyên tắc quan trọng mà hoạt động Du lịch sinh thái phải tuân thủ, bởi các giá trị về văn hoá là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị môi trường tự nhiên.

2.4. TỔNG QUAN VỀ VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái.

2.4.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Năm 1985, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp thành lập Công Ty Nông Lâm Ngư Trường Tràm Chim với mục đích là trồng tràm, khai thác thủy sản, và vừa giữ lại được một phần hình ảnh của Đồng Tháp Mười xa xưa.

Năm 1986, loài sếu đầu đỏ (chim Hạc) được phát hiện ở Tràm Chim. Năm 1991 Tràm Chim trở thành khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Tràm Chim cấp tỉnh, nhằm bảo tồn loài sếu đầu đỏ (Grus antigone sharpii).

Năm 1994, Tràm Chim trở thành Khu bảo tồn thiên nhiên cấp Quốc Gia, theo Quyết định số 47/TTg ngày 02 tháng 02 năm 1994 của Thủ tướng Chính Phủ.

Năm 1998, khu Khu bảo tồn thiên nhiên Tràm Chim trở thành Vườn quốc gia Tràm Chim theo Quyết định số 253/1998/QĐ-TTg, ngày 29/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu:

  • Bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước điển hình của vùng Đồng bằng sông Cửu Long thành một mẫu chuẩn quốc gia về hệ sinh thái đất ngập nước vùng lụt kín Đồng Tháp Mười.
  • Bảo tồn những giá trị độc đáo về văn hóa, lịch sử và nghiên cứu, khai thác hợp lý hệ sinh thái của vùng vì lợi ích quốc gia và đóng góp vào việc bảo vệ môi trường sinh thái chung của vùng Đông Nam Á.

2.4.2. Chức năng và nhiệm vụ của Vườn quốc gia Tràm Chim Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái.

2.4.2.1. Chức năng

  • Bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước, bảo tồn nguồn gen sinh vật, đặc biệt là các loài chim nước quý hiếm (như Sếu cổ trụi).
  • Bảo tồn các giá trị lịch sử, văn hoá, xã hội của vùng Đồng Tháp Mười.
  • Phát huy các giá trị của hệ sinh thái đất ngập nước trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu khoa học, Du lịch sinh thái, giáo dục môi trường.

2.4.2.2. Nhiệm vụ

  • Xây dựng và thực thi phương án bảo vệ, tái tạo cảnh quan thiên nhiên của vùng Đồng Tháp Mười; bảo vệ đa dạng sinh học; cung cấp các khu cư trú thích hợp cho các loài chim quý hiếm và tạo điều kiện thích hợp cho các loài động vật hoang dã khác phát triển.
  • Quản lý sử dụng bền vững tài nguyên thuỷ sản trong Vườn.
  • Xây dựng và thực thi phương án quy hoạch quản lý điều tiết nước nhằm duy trì, tái tạo những đặc điểm địa mạo thuỷ văn và cảnh quan thiên nhiên làm cơ sở để bảo tồn, tái tạo nguồn gen thực vật, động vật, tạo điều kiện thích hợp cho các hoạt động du lịch ở vùng ngập nước. Nâng cấp hệ thống đê bao và các cống phục vụ cho việc quản lý điều tiết nuớc, nhu cầu giao thông, tuần tra canh gác bảo vệ và tham quan du lịch.
  • Quy hoạch cảnh quan kiến trúc của Vườn nhằm định hướng các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ trong một không gian kiến trúc có hoạch định trước. Đảm bảo kết hợp hài hoà giữa kiến trúc hiện đại và cảnh quan của Đồng Tháp Mười, đồng thời phải có sự thống nhất giữa các công trình giao thông, thuỷ lợi và các công trình phục vụ khách du lịch.
  • Xây dựng cơ chế thích hợp để nhân dân địa phương tự nguyện tham gia bảo vệ.
  • Xây dựng các chương trình nghiên cứu và thiết lập hệ thống quản lý giám sát môi trường và Đa dạng sinh học.
  • Bảo vệ tài nguyên rừng, tài nguyên cây bản địa, tài nguyên thuỷ sản, tài nguyên đồng cỏ, tài nguyên đất, nước, các loài rong, tảo và phiêu sinh thực vật…
  • Tổ chức tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng;
  • Thực hiện công tác hợp tác trong và ngoài nước về lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên môi trường.
  • Thực hiện tuyên truyền giáo dục đối với du khách, nhân dân địa phương, học sinh, sinh viên về công tác bảo vệ môi trường sinh thái Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái.

2.4.3. Các phân khu chức năng của Vườn quốc gia Tràm Chim

Theo Quyết định số 253/1998/QĐ-TTg, Vườn quốc gia Tràm Chim có 3 phân khu:

  • Phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt (vùng lõi): diện tích 889 ha, gồm các khu A1, A2, A3 và A4;
  • Phân khu Phục hồi sinh thái, diện tích 653 ha, gồm khu A5 và A6;
  • Phân khu Hành chính – Dịch vụ: diện tích 46 ha, gồm khu

2.4.4. Bộ máy tổ chức Vườn quốc gia Tràm Chim

(Theo Thông tư số 78/2022/TT-BNN BNNPTNT ngày 11/11/2022 của Bộ NN&PTNT về Quy định chi tiết thi hành Nghị định số 117/2021/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng)

  • Ban giám đốc: gồm 1 giám đốc, 2 phó giám đốc
  • Bốn phòng ban trực thuộc, gồm:
  • Phòng Tổ chức – Hành chính
  • Phòng Kế hoạch – Tài chính
  • Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế
  • Phòng Bảo tồn Đất ngập nước
  • Hai trung tâm trực thuộc, gồm
  • Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ môi trường rừng (được chuyển đổi tên từ Trung tâm dịch vụ du lịch sinh thái và giáo dục môi trường).
  • Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật.
  • Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Tràm Chim

2.4.5. Điều kiện tự nhiên Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái.

2.4.5.1.  Vị trí địa lý và ranh giới

  • Tọa độ địa lý: 10037’ đến 10046’ độ Vĩ Bắc, 105028’ đến 105036’ độ Kinh Đông.
  • Nằm lọt thỏm giữa vùng đất trũng ngập nước Đồng Tháp Mười nổi tiếng của miền Tây Nam Bộ. Huyện nằm ở phía bắc tỉnh Đồng Tháp, phía bắc giáp huyện Tân Hồng và Hồng Ngự, phía nam là huyện Thanh Bình, phía đông tỉnh Long An và huyện Tháp Mười, phía tây là con sông Tiền.
  • VQG Tràm Chim có diện tích tự nhiên 7.313 ha, dân số xung quanh Vườn khoảng 50.000 người, thuộc địa phận 5 xã: Tân Công Sính, Phú Đức, Phú Thọ, Phú Thành, Phú Hiệp và thị trấn Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

2.4.5.2. Đặc điểm về địa hình, địa mạo

Độ cao bình quân của Vườn quốc gia dao động trong khoảng từ 0,9 m đến 2,3 m so với mực nước biển bình quân.

Tràm Chim nằm trong vùng Đồng Tháp Mười nên các đặc điểm về địa mạo, thủy văn và thổ nhưỡng cũng mang những nét chung của vùng này. Đồng Tháp Mười vốn là một vùng đồng lũ kín, một bồn trũng dạng lòng máng, là một vùng sinh thái hoàn chỉnh gồm các thềm cao, gò giồng, các đồng trũng, lung và các sông bao quanh. Tràm Chim nằm trong vùng lòng sông cổ, thuộc đồng bồi trẻ, từ xa xưa tồn tại một lòng sông cổ mà dấu vết còn lại hiện nay là các rạch và các lung trũng tự nhiên. Lòng sông cổ dần dần bị bồi lấp hình thành hệ thống các rạch nhỏ chằng chịt, hình dạng và hướng chảy không theo một hướng nào rõ rệt, bị bao bọc bởi các thềm đất cao ở phía Tây và Tây Bắc của bậc thềm phù sa cổ.

2.4.5.3.  Đặc điểm về đất

Đất xám trên phù sa cổ: phân bố ở phía Bắc và những nơi có địa hình cao như giồng Găng, giồng Phú Đức, giồng Phú Hiệp, giồng Cà Dăm,…

Đất phèn tiềm tàng: phân bố ở địa hình trũng, thấp, ngập nước, yếm khí. Hình thái phẫu diện có màu xám xanh, xám sẫm hoặc xám đen, lẫn xác bã thực vật bán phân hủy. Đất có thành phần cơ giới nặng, tỷ lệ sét cao, tích lũy nhiều hữu cơ, chua (pH= 1,5-2), hàm lượng nhôm di động (Al3+) ở tầng mặt cao và có trị số tăng gấp đôi ở các tầng sâu.

Đất phèn hoạt động: phân bố ở nơi có địa hình trung bình và có khả năng thoát nước nhanh. Đất có thành phần cơ giới nặng, tỷ lệ sét cao (>50%), các tầng đều chua (pH<3,5), hàm lượng hữu cơ và đạm tổng số cao, nhưng hàm lượng lân tổng số và lân dễ tiêu thấp, hàm lượng sắt và nhôm di động cao. Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái.

2.4.5.4. Đặc điểm về thủy văn

Chế độ thủy văn của vùng Đồng Tháp Mười trong đó có Tràm Chim bị chi phối bởi chế độ dòng chảy của sông Tiền, chế độ thủy triều biển Đông, chế độ mưa và điều kiện địa hình.

Chế độ thủy văn nổi bật của vùng Đồng Tháp Mười là có 2 mùa trái ngược nhau, mùa lũ (hay còn gọi là mùa nước nổi) và mùa cạn, dẫn đến đặc điểm hoặc quá thừa nước hoặc thiếu nước. Mùa lũ thường kéo dài từ tháng 7 đến tháng 12, đỉnh lũ thường xuất hiện vào cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10. Tràm Chim nằm trong vùng lũ đến sớm, rút muộn và ngập lũ sâu. Thời gian ngập nước lũ thường khoảng 4-5 tháng. Độ sâu ngập lũ khoảng 2-3 mét.

2.4.6. Điều kiện kinh tế – xã hội

2.4.6.1. Hành chính – Dân số

Huyện Tam Nông có 13 đơn vị hành chính, gồm 12 xã: Tân Công Sính, Phú Thọ, Phú Thành A, Phú Thành B, Phú Ninh, Phú Hiệp, Phú Đức, Phú Cường, Hòa Bình, An Long, An Hòa và 1 thị trấn Tràm Chim. Tổng số có 53 ấp.

Dân số toàn huyện năm 2022 có 105.277 người với 26.732 hộ (bình quân 4 nhân khẩu/hộ), trong đó nam là 52.496 người nữ là 52.781 người. Mật độ dân số: 222 người/km2. Mật độ dân số cao nhất là ở thị trấn Tràm Chim (835 người/km2). Mật độ dân số thấp nhất là xã Tân Công Sính (76 người/km2).

2.4.6.2. Kinh tế

Theo số liệu cập nhật của Phòng Lao động-Thương binh-Xã hội huyện Tam Nông năm 2022, tổng số hộ dân sinh sống ở 5 xã và 1 thị trấn giáp ranh với Vườn quốc gia Tràm Chim là 12.271 hộ. Trong đó, hộ nghèo là 1.993 hộ, chiếm 15,75%; hộ cận nghèo 1.452 hộ, chiếm 11,83%; còn lại là hộ trung bình, khá và giàu, chiếm 72,41%. Các nghề nghiệp chính của các hộ dân là làm nông, làm thuê, công nhân, buôn bán, trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ, đánh bắt thủy sản, …

Nhìn chung, điều kiện sống của một số không nhỏ cư dân địa phương quanh Vườn quốc gia Tràm chim còn rất khó khăn. Phần lớn các hộ dân trong vùng đều sống bằng nghề trồng lúa trong mùa khô, săn bắt cá và động vật hoang dã trong mùa lũ. Sinh kế chính của người dân địa phương dựa vào 3 nguồn tài nguyên chính là: đất đai (canh tác nông nghiệp, chủ yếu là làm lúa); tài nguyên thiên nhiên (đánh cá, săn bắt động vật hoang dã, khai thác và chế biến gỗ, thu hái lâm sản ngoài gỗ); và lao động giản đơn (làm thuê, buôn bán nhỏ, dịch vụ). Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái.

2.4.6.3. Giáo dục – Y tế

Hệ thống giáo dục từ mầm non đến phổ thông của huyện Tam Nông được mở rộng về quy mô và nâng cao chất lượng. Năm 2018 – 2019, có 20.065 học sinh/101.788 dân với 58 trường từ Mầm non, mẫu giáo đến Trung học phổ thông, 647 phòng học và hơn 1.300 giáo viên. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường cao, tỷ lệ học sinh bỏ học giảm, số học sinh khá, giỏi tăng dần.

Hằng năm có từ 96 – 98% học sinh được xét công nhận hoàn thành chương trình tiểu học, 97% – 98% học sinh được công nhận tốt nghiệp Trung học cơ sở và 70 – 71% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông; huyện đã đạt và duy trì tốt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục Tiểu học, đúng độ tuổi và chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục bậc Trung học cơ sở.

2.4.6.4. Giao thông, thông tin liên lạc

  • Giao thông bộ còn trong quá trình hình thành.
  • Giao thông thủy thuận lợi do có nhiều kênh rạch, nhưng chưa được khai thác đúng với tiềm năng.

2.4.7. Đa dạng sinh học và công tác bảo tồn tại Vườn quốc gia Tràm Chim

Vườn có nguồn tài nguyên Đa dạng sinh học phong phú, cảnh quan thiên nhiên đẹp với nhiều quần xã thực vật đặc trưng đã tạo điều kiện khai thác phát triển Du lịch sinh thái. Việc thành lập TT. Du lịch sinh thái&GDMT nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc hợp tác đầu tư với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trong lĩnh vực phát triển Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường. Đặc biệt, tầm quan trọng của Hệ sinh thái Đất ngập nước Tràm Chim đã được thế giới công nhận, đó là Vườn quốc gia Tràm Chim thành Ramsar thứ 2000 của thế giới vào ngày 02/02/2023.

2.4.7.1. Thực vật

Sự đa dạng của hệ sinh thái đất ngập nước ở Tràm Chim thể hiện ở sự đa dạng của các kiểu quần xã thực vật. Các quần xã thực vật sinh sống trên những điều kiện địa hình, địa mạo và đất đai khác nhau và đã hoàn toàn thích hợp với điều kiện môi trường mà chúng sinh sống. Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái.

Đồng cỏ ngập nước theo mùa thường phân bố ngay sau đai rừng tràm, có thời gian ngập nước khoảng 5-6 tháng/năm và dễ bị cháy vào mùa khô. Tổ thành thực vật ở các đồng cỏ hiện nay thường bao gồm nhiều loài thân thảo sống chung với nhau.

VQG Tràm Chim có trên 130 loài thực vật bậc cao, 185 loài thực vật nổi (Dương Văn Ni, Trần Triết, 2021).

Có 6 quần xã thực vật chính xuất hiện ở Vườn quốc gia Tràm Chim, đó là:

  • Quần xã rừng Tràm (Memaleuca cajuputy)
  • Quần xã Sen (Nulumbo nucifera)
  • Quần xã Mồm mốc (Ischaemum rugosum)
  • Quần xã Cỏ óng (Panicum repens)
  • Quần xã Lúa ma (Oryza rufipogon)
  • Quần xã Cỏ năn (Eleocharis dulcis)

2.4.7.2. Động vật

VQG Tràm Chim có 233 loài chim nước, 130 loài cá, 93 loài động vật nổi, 90 loài động vật đáy, 15 loài thú, khoảng 44 loài lưỡng cư và bò sát (Dương Văn Ni, Trần Triết, 2021). Trong các loài chim nước có 16 loài có tên trong Sách Đỏ của IUCN ở các mức độ (EN, VU, R, T, V, E), có 14 loài có tên trong Sách Đỏ của Việt Nam, 6 loài thuộc Danh sách các loài nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 32/2017/NĐ-CP của Chính phủ; 14 loài nằm trong danh mục của Công ước CITES.

  • Các loài chim nước

Tràm Chim là Vườn quốc gia có số lượng các loài chim nhiều nhất so với các khu rừng đặc dụng khác ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Về môi trường sống, có 42% số loài sử dụng đầm lầy nước ngọt, 10% sử dụng các đồng cỏ, 8% sử dụng rừng ngập nước, 2% sử dụng các con kênh có cây bụi, cây gỗ và 38% còn lại sử dụng tổng hợp các môi trường sống nói trên.

Sếu đầu đỏ (Grus antigone) là loài chim quý hiếm có tầm quan trọng toàn cầu, hàng năm xuất hiện ở Vườn quốc gia Tràm Chim trong mùa khô. Trong 30 Vườn quốc gia nói riêng và 164 khu rừng đặc dụng nói chung của Việt Nam, chỉ duy nhất Vườn quốc gia Tràm Chim có xuất hiện loài Sếu đầu đỏ.

  • Các loài lưỡng cư, bò sát

Đã xác định được tổng cộng 29 loài lưỡng cư, bò sát ở Vườn quốc gia Tràm Chim, thuộc 3 bộ, 11 họ và 25 giống, chiếm 53,7% tổng thành phần loài lưỡng cư, bò sát nước ngọt vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Lớp lưỡng cư (Amphibia) có 1 bộ không đuôi (Anura), 3 họ, 6 giống và 6 loài, chiếm 20,69% thành phần loài. Trong khi đó lớp bò sát (Reptilia) có thành phần loài đa dạng hơn với 23 loài (chiếm 79,31%) thuộc 2 bộ, 8 họ và 19 giống.

Có 8 loài được xếp vào danh mục loài đang bị đe dọa và cần được bảo vệ, chiếm 15% tổng số loài đang bị đe dọa ở Việt Nam (theo Sách Đỏ Việt Nam, 2018). Trong đó một loài xếp ở mức rất nguy cấp (CR) là trăn đất (Python molurus); 2 loài ở mức nguy cấp (EN): rùa răng (Hieremys annandalei) và rắn ráo (Ptyas korros); 5 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU): rùa hộp (Cuora amboinensis); rùa ba gờ (Malayemys subtrijuga); ba ba Nam bộ (Trionyx cartilaginea); rắn sọc dưa (Coelognathus radiatus); và rắn bồng voi (Enhydris bocourti) Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái.

2.4.7.3. Tài nguyên thủy sản và cá

  • Thành phần các loài cá

So với các vùng khác ở Đồng Tháp Mười nói riêng và Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung, Vườn quốc gia Tràm Chim vẫn còn nguồn tài nguyên thủy sản nước ngọt rất phong phú. Đất ngập nước của Vườn quốc gia Tràm Chim đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn tài nguyên thủy sản cho các vùng lân cận. Các loài cá có giá trị kinh tế cao ở Tràm Chim là cá lóc (Channa straita), cá thát lát (Notopterus notopterus), cá trê vàng (Clarias macrocephalus), cá trê trắng (Clarias batrachus), cá rô đồng (Anabas testudineus), cá dày (Channa lucius), lươn (Monopterus albus) và các loại cá sông khác (cá trắng).

Kết quả điều tra của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 2 (năm 2022) đã ghi nhận có 129 loài cá thuộc 11 bộ, 31 họ, và 79 giống ở Vườn quốc gia Tràm Chim. (Xem thêm danh sách các loài cá quý hiếm ở Bảng 4 PHỤ LỤC 3).

  • Thành phần loài giáp xác

Đã xác định được tổng cộng 8 loài tôm nước ngọt và 2 loài cua thuộc bộ Decapoda. Tôm nước ngọt chủ thuộc về giống tôm Macrobrachium (7 loài). Trong đó có sự phân bố của tôm càng xanh (Macrobrachium rosensbergi).

Nhìn chung nhóm tôm sông (Caridea) ở Vườn quốc gia Tràm Chim khá phong phú với 8 loài, chiếm 44% thành phần loài tôm nước ngọt vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

2.4.7.4. Chương trình hoạt động

  • Chương trình bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn Đa dạng sinh học
  • Chương trình phục hồi sinh thái rừng
  • Chương trình phòng cháy chữa cháy rừng
  • Chương trình nghiên cứu khoa học
  • Chương trình phát triển Du lịch sinh thái
  • Chương trình tuyên truyền giáo dục về bảo vệ môi trường và Bảo tồn thiên nhiên
  • Chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn vùng đệm
  • Chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo phát triển nguồn nhân lực và trang thiết bị kỹ thuật
  • Chương trình hợp tác quốc tế. Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: PPNC ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái

One thought on “Khóa luận: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái

  1. Pingback: Khóa luận: KQNC ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537