Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của các thương nhân Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, mọi quốc gia trên thế giới muốn phát triển và trở nên thịnh vượng thì không thể không có sự giao lưu về chính trị, kinh tế cũng như văn hóa với cộng đồng thế giới. Sự thật này đã khiến nhiều quốc gia trên thế giới xóa bỏ hận thù, hiềm khích, vượt qua không gian và những bất đồng về về ý thức hệ để thực hiện hợp tác và phát triển các quan hệ kinh tế. Là một lĩnh vực quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đã ra đời và không ngừng phát triển. Tuy nhiên phải đến cuối thế kỷ 20, hoạt động này mới thực sự phát triển mạnh mẽ khi mà xu hướng quốc tế hóa kinh tế, tự do hóa thương mại là nhu cầu thực sự của đời sống kinh tế và xã hội toàn cầu.

Sau Đại hội VI của Đảng, hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam, trong đó bao gồm cả hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế thực sự được mọi cấp, mọi ngành coi trọng và có điều kiện phát triển nhờ sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy kinh tế. Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đã góp phần tạo nên một cục diện mới cho nền kinh tế trong khoảng gần 20 năm trở lại đây. Phải thừa nhận một thực tế là hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu to lớn, các mặt hàng mua bán ngày một đa dạng, phong phú, các thị trường được mở rộng ra hầu khắp các nước trên thế giới, góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng của nền kinh tế.

Tuy nhiên, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn làm phát sinh những nguy cơ có thể gây ra rủi ro, tổn thất, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả kinh tế – xã hội của các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thậm chí có thể dẫn đến sự phá sản của một doanh nghiệp hoặc một ngành sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt là trong một nền kinh tế mở, việc giao lưu, buôn bán với các đối tác nước ngoài tiềm ẩn những rủi ro phức tạp trong khi Việt Nam lại chưa có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh thương mại quốc tế thì những rủi ro này lại càng đa dạng và khó lường hơn. Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đã và đang làm cản trở hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam, làm cho hoạt động này tăng trưởng chưa xứng đáng với tiềm năng phát triển của nước ta. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể phòng ngừa và giảm thiểu những rủi ro này nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Muốn vậy, chúng ta cần phân tích và nghiên cứu những rủi ro có khả năng xảy ra đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam, từ đó có các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro. Đây là một việc làm rất có ý nghĩa đối với hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế trong điều kiện chúng ta đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ rủi ro cao như hiện nay. Đây cũng chính là lý do tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của các thương nhân Việt Nam” là đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.

Trong phạm vi khóa luận này, người viết đi sâu phân tích những rủi ro các doanh nghiệp Việt Nam thường gặp phải khi tham gia hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và qua đó, đề ra một số biện pháp cần thiết để phòng ngừa và hạn chế những rủi ro này.

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận có kết cấu như sau:

  • Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
  • Chương II: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam
  • Chương III: Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế

Với trình độ hạn chế, kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều, chắc chắn bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô giáo và các bạn để có thể hoàn thiện thêm vốn kiến thức về đề tài trên cũng như có một nền tảng vững chắc hơn cho việc học tập và nghiên cứu sau này.

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

1.1. Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế

1.1.1. Khái niệm hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế

Hoạt động mua bán hàng quốc tế là một bộ phận quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế.

  • Theo khoản 8 điều 3 Luật Thương mại Việt Nam 2023:

Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, trong đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.

  • Vậy thế nào là mua bán hàng hóa quốc tế?

Theo Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế, mua bán hàng hóa quốc tế là hoạt động mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau. Và tại khoản 1 điều 27, Luật Thương mại Việt Nam 2023 các hình thức mua bán hàng hóa quốc tế đã được liệt kê, bao gồm: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.

1.1.2. Đặc điểm của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

Trong phạm vi khóa luận, người viết nghiên cứu về hoạt động mua bán hàng hóa hữu hình. Xét về mặt đặc điểm, ngoài những đặc điểm cơ bản, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế khác với hoạt động mua bán hàng hóa trong nước ở những điểm sau đây:

Hàng hóa được di chuyển qua biên giới quốc gia. Ngày nay biên giới này được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là biên giới cứng mà còn bao gồm biên giới mềm. Ví dụ như: hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra giữa một doanh nghiệp trong khu vực chế xuất và một doanh nghiệp ngoài khu chế xuất được coi là hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, nhưng hàng hóa trong trường hợp này không di chuyển khỏi biên giới quốc gia.

Đồng tiền thanh toán là ngoại tệ của ít nhất một bên. Đây cũng không phải là điểm tất yếu. Khi một doanh nghiệp Việt Nam mua hàng hóa của một doanh nghiệp Mỹ, đồng tiền thanh toán là đôla Mỹ (USD) thì đồng tiền này là ngoại tệ đối với Việt Nam nhưng không phải là ngoại tệ đối với Mỹ.

Các bên tham gia hoạt động mua bán có trụ sở kinh doanh tại các nước khác nhau. Đây chính là đặc trưng quan trọng nhất của yếu tố quốc tế.

1.1.3. Vai trò của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế trong nền kinh tế quốc dân.

Ngày nay mọi người đều nhận thức được rằng một quốc gia không thể đầy đủ, ấm no nếu như không phát triển quan hệ kinh tế quốc tế và thương mại quốc tế trong đó không thể thiếu hoạt động mua bán hàng hóa giữa các quốc gia. Lịch sử đã chứng minh rằng: nhiều quốc gia với nền kinh tế đóng, sản xuất đã không có hiệu quả và buộc phải chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới. Vai trò của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế được thể hiện thông qua ảnh hưởng của hoạt động này tới sự phát triển kinh tế và những lợi ích kinh tế mà nó mang lại cho các quốc gia cũng như cho các doanh nghiệp. Vai trò của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đối với mỗi quốc gia được thể hiện ở một số mặt cơ bản sau đây:

Thứ nhất, đó là cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng sử dụng có hiệu quả cao nguồn lực hiếm hoi. Các quốc gia sẽ tập trung vào sản xuất những ngành mà mình có lợi thế tuyệt đối và tương đối, có nghĩa là một quốc gia sẽ tập trung vào sản xuất những sản phẩm mà chi phí hoặc chi phí cơ hội quốc gia này phải bỏ ra để sản xuất ra những sản phẩm đó thấp hơn so với các quốc gia khác. Một quốc gia có được những lợi thế này là do có lợi thế về tự nhiên, trình độ khoa học công nghệ, trình độ lao động, ngoài ra là do có sự khác biệt về nguồn lực giữa các quốc gia cũng như sự khác nhau trong tỷ lệ các yếu tố sản xuất được sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa. Khi các quốc gia tận dụng được những lợi thế này, năng suất lao động của quốc gia sẽ cao hơn, giá thành các sản phẩm cũng sẽ thấp hơn. Nhờ đó khi tham gia trao đổi mua bán với các quốc gia khác – xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế, nhập khẩu những sản phẩm kém lợi thế – họ sẽ có lợi. Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

Thứ hai, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế giúp mở rộng khả năng sản xuất của mỗi quốc gia thông qua thị trường quốc tế rộng lớn. Nhờ có thị trường tiêu thụ, các nhà sản xuất trong nước không ngừng đầu tư để phát triển sản xuất, từ đó không những mở rộng quy mô sản xuất mà còn góp phần nâng cao năng suất lao động cá biệt, hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm. Thứ ba, hoạt động này giúp tạo vốn và kỹ thuật từ bên ngoài. Việc tăng cường xuất khẩu để tự cân đối ngoại tệ trong cán cân thương mại, tạo nguồn cung cấp tài chính cho nhập khẩu kỹ thuật công nghệ, máy móc, thiết bị hiện đại từ bên ngoài đã góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển. Đây là điều kiện vật chất rất quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thứ tư, hoạt động xuất khẩu có tác dụng kích thích đổi mới trang thiết bị, công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, qua đó kích thích lực lượng sản xuất phát triển. Để đáp ứng yêu cầu cao của thị trường thế giới về quy cách, phẩm chất của sản phẩm, một mặt doanh nghiệp phải đổi mới trang thiết bị công nghệ, mặt khác phải nâng cao trình độ tay nghề của người lao động, học hỏi kinh nghiệm sản xuất và bản thân người quản lý phải không ngừng học tập nâng cao sự hiểu biết và trình độ quản lý.

Thứ năm, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đã góp phần giải quyết công ăn việc làm và nâng cao mức sống cho người lao động. Thông qua hoạt động xuất khẩu, các quốc gia tăng cường đầu tư phát triển sản xuất, từ đó tạo ra nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.

Thứ sáu, thông qua việc nhập khẩu những mặt hàng trong nước chưa sản xuất được hoặc phải sản xuất với chi phí cao, những khiếm khuyết của nền kinh tế đã được phần nào bổ sung, đáp ứng cho nhu cầu của sản xuất và nhu cầu sống ngày càng cao của nhân dân.

Và cuối cùng, thông qua hoạt động trao đổi hàng hóa đã tăng cường uy tín và vị thế của các quốc gia trên trường quốc tế. Nhờ có quan hệ giao dịch, trao đổi hàng hóa mà quốc gia này có thể hiểu thêm về sự phát triển, văn hóa, tập quán và con người của quốc gia khác.

Qua những phân tích trên ta có thể thấy, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế cũng như sự phát triển của một quốc gia, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay. Tuy nhiên, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế cũng có những hạn chế nhất định đối với mỗi quốc gia, gây ra những thiệt hại về kinh tế khi quan hệ trao đổi không bình đẳng và do những rủi ro gây ra.

1.2. Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

1.2.1. Rủi ro trong kinh doanh

  • Khái niệm rủi ro

Rủi ro là sự kiện không may mắn, hết sức đa dạng, phức tạp luôn gắn liền với môi trường hoạt động của con người, trong đó không loại trừ hoạt động kinh doanh. Người không dám chấp nhận rủi ro không thể tham gia vào kinh doanh, đây là một chân lý. Tuy nhiên, một nhà kinh doanh thành đạt không chỉ là người biết chấp nhận mạo hiểm trong kinh doanh mà còn là người biết phân tích, đánh giá, lường trước rủi ro và tìm ra các phương án thích hợp để phòng ngừa và hạn chế rủi ro. Vậy rủi ro là gì? Trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều nhà kinh tế, nhà kinh doanh bảo hiểm nghiên cứu, đưa ra những khái niệm khác nhau về rủi ro.

Inrving Pferfer (Mỹ) cho rằng : “Rủi ro là tổng hợp của những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”[4]. Theo nhà kinh tế này, rủi ro gắn liền với sự hiện diện ngẫu nhiên của sự vật, hiện tượng có thể đo lường được bằng xác suất, có nghĩa là rủi ro là sự cố ngẫu nhiên không phụ thuộc vào ý chí của con người.

Marilu Hurt MrCarthy thuộc viện khoa học kỹ thuật Georgia (Mỹ) lại cho rằng: “Rủi ro là một tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được”[4]. Theo đó, kinh nghiệm của một công ty có thể cung cấp chứng cứ về tần số của các biến cố riêng biệt trong quá khứ, do đó cho phép các nhà quản trị xác định phân bổ xác suất xuất hiện của các biến cố tương lai. Tuy vậy, sự xuất hiện của các biến cố còn bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tác động hiện tại.

Theo Từ điển kinh tế học hiện đại, “Rủi ro là hoàn cảnh trong đó một sự kiện xảy ra với một xác suất nhất định hoặc trong trường hợp quy mô của sự kiện đó có một phân phối xác suất”[4]. Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

Còn trong tác phẩm: “Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh”, tác giả Nguyễn Hữu Thân, có viết: “Rủi ro là sự bất trắc gây ra mất mát, thiệt hại”[4]. Bất trắc chính là những điều không lường trước được. Như vậy theo khái niệm này thì, rủi ro phải là bất trắc gây ra hậu quả cho con người, còn những bất trắc không gây ra tổn thất không phải là rủi ro.

Như vậy, đa số các nhà kinh tế và học giả đều cho rằng: rủi ro là những điều không chắc chắn về những gì xảy ra trong tương lai nhưng có thể đo lường được, xác định được ở một mức độ nào đó. Điều này có nghĩa là con người có thể lường trước được những rủi ro có khả năng xảy ra và phòng ngừa, hạn chế được những rủi ro ở mức tối đa.

  • Đặc điểm của rủi ro

Từ các khái niệm trên, ta thấy rủi ro trong kinh doanh có những đặc điểm sau:

  • Tính khách quan: rủi ro tồn tại khách quan, rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào và không phụ thuộc vào ý chí của con người.
  • Tính tương lai: rủi ro có tính tương lai vì khi tính đến rủi ro thì nó chưa xảy ra, chúng ta chỉ dự đoán và đo lường trước rủi ro.
  • Tính bất định: rủi ro mang tính bất định, con người chỉ có thể lường trước được rủi ro chứ không thể đánh giá một cách chính xác về mức độ của rủi ro cũng như khi nào thì rủi ro xảy ra.
  • Tính khả năng: rủi ro có thể trở thành hiện thực nhưng cũng có thể không xảy ra, không ai có thể khẳng định chắc chắn sẽ có hay không có rủi ro mà chỉ có thể tính được xác suất xảy ra rủi ro là lớn hay nhỏ.
  • Tính lịch sử: ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn khác nhau có những rủi ro khác nhau. Có thể lấy ví dụ như khi khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển, kỹ thuật đóng tàu hiện đại hơn đã khắc phục được nhiều yếu tố rủi ro thiên tai trong vận tải biển nhưng cũng đồng thời mở ra nhiều hình thức thương mại mới, thanh toán mới và nảy sinh những rủi ro mới.
  • Các nhân tố ảnh hưởng và nguyên nhân gây ra rủi ro trong hoạt động kinh doanh

Qua theo dõi, nghiên cứu và phân tích quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp cho thấy các nhân tố ảnh hường và nguyên nhân gây ra rủi ro trong kinh doanh có thể được chia thành hai nhóm như sau:

  • Các nhân tố ảnh hưởng và nguyên nhân khách quan: Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

Nguyên nhân khách quan gây ra rủi ro tổn thất cho doanh nghiệp là những nhân tố thuộc môi trường tự nhiên, chính trị, kỹ thuật, xã hội, đặc biệt là những nhân tố thuộc môi trường kinh tế tác động và nằm ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp.

Môi trường tự nhiên: Môi trường tự nhiên vừa là tiền đề cho sự phát triển kinh tế nhưng đôi khi lại là nhân tố tác động làm gia tăng nguy cơ rủi ro trong kinh doanh thông qua các hiện tượng tự nhiên bất lợi như bão lụt, động đất, núi lửa… Môi trường tự nhiên cũng là nhân tố làm giảm sút giá trị sử dụng và giá trị thương mại của hàng hóa qua đó làm hoạt động sản xuất kinh doanh trở nên khắc nghiệt, khó khăn hơn. Sự tác động của môi trường tự nhiên bất lợi làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đầy bất định và chứa nhiều rủi ro hơn.

Môi trường chính trị: Sự ổn định chính trị là điều kiện vô cùng quan trọng đảm bảo cho một quốc gia phát triển và thịnh vượng. Kinh doanh trong một môi trường chính trị ổn định là điều kiện cần cho sự thành công của các doanh nghiệp. Với một môi trường chính trị bất định, doanh nghiệp sẽ thường xuyên gặp phải những rủi ro không lường trước được. Hậu quả của những loại rủi ro này sẽ rất nghiêm trọng đối với doanh nghiệp bởi vì rủi ro chính trị thường là nguyên nhân của nhiều rủi ro khác và tạo ra chuỗi rủi ro.

Môi trường kỹ thuật: Kỹ thuật là nhân tố nền tảng quyết định sản xuất, quyết định phát triển năng suất lao động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Xét về phương diện nào đó, phát triển khoa học kỹ thuật cũng tạo ra những rủi ro trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh. Mặt khác, trong kinh doanh, khi khoa học mới ra đời và nhanh chóng được áp dụng sẽ là nguy cơ rủi ro trong đầu tư cho nhiều doanh nghiệp đang áp dụng kỹ thuật cũ. Để phòng chống rủi ro loại này, nhiều doanh nghiệp phải mua quyền sử dụng các phát minh, sáng chế nhằm tiếp cận kỹ thuật mới trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.

Môi trường xã hội: Trong kinh doanh không thể không đề cập đến môi trường xã hội. Nếu có những hiểu biết sâu sắc về xã hội, doanh nghiệp sẽ tạo dựng cho mình một nền tảng vững chắc trong kinh Nếu kinh doanh mà thiếu tri thức về xã hội sẽ gặp phải nhiều rủi ro và bất trắc. Môi trường xã hội có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh thông qua một số nhân tố thuộc quan hệ xã hội, tôn giáo, văn hóa, đạo đức, tập quán,… Sự khác biệt về tôn giáo, văn hóa, phạm trù đạo đức, tập quán luôn làm gia tăng tính bất định trong quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp.

Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý là toàn bộ những quy phạm, quy tắc ứng xử, quy định về phạm vi, quyền hạn của cá nhân, tổ chức được phép kinh doanh hành nghề trong một quốc gia, lãnh thổ. Môi trường pháp lý minh bạch là một trong những cơ sở quan trọng giúp cho các doanh nghiệp ổn định, yên tâm phát triển kinh doanh. Sự thay đổi theo hướng bất lợi của các quy phạm, quy định của văn bản pháp lý, ví dụ như: thắt chặt quản lý, tăng thuế xuất nhập khẩu, thuế nội địa,… hoặc có sự chồng chéo giữa các văn bản pháp luật, là nguyên nhân làm tăng tính bất định, rủi ro trong kinh doanh làm suy giảm niềm tin của các doanh nghiệp. Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

Sự biến động của chu kỳ kinh doanh: Chu kỳ kinh doanh chính là sự phát triển kinh tế theo chu kỳ, là quy luật kinh tế đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Một trong những biểu hiện của chu kỳ kinh doanh là khủng hoảng kinh tế, là nguyên nhân làm gia tăng nguy cơ rủi ro cho doanh nghiệp. Nhận thức được chu kỳ kinh doanh là điều cần thiết đối với các doanh nghiệp nhằm điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp, qua đó hạn chế được rủi ro trong kinh.

Cạnh tranh: Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường chính là những thủ pháp của các doanh nghiệp nhằm giành được nhiều thị phần, uy tín và lợi nhuận trong kinh doanh. Cạnh tranh có thể kích thích sản xuất phát triển bằng cách nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí, mang lại nhiều lợi ích cho xã hội nhưng cũng không tránh khỏi những biện pháp thiếu lành mạnh, cá lớn nuốt cá bé dẫn đến tiêu diệt lẫn nhau. Nếu như doanh nghiệp không xác định cho mình một chỗ đứng, không có chiến lược kinh doanh tốt, sách lược mềm dẻo, không ngừng cải tiến chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm… thì không có khả năng cạnh tranh trong một nền kinh tế mở và tất nhiên sẽ thất bại trên thương trường.

Lạm phát: Lạm phát được biểu hiện qua sự mất giá của đồng tiền trước khả năng thanh toán. Lạm phát ngoài tầm kiểm soát của chính phủ sẽ có ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh, làm cho hoạt động kinh doanh không có hiệu quả, làm tăng mức độ rủi ro trong đầu tư, khi doanh nghiệp bỏ một lượng vốn rất lớn nhưng sau một thời gian kinh doanh không thu hồi được vốn tính theo giá trị cũ. Nếu lạm phát quá nhanh, mọi người sẽ đầu cơ nhiều hàng hóa, từ đó hạn chế lưu thông , trao đổi hàng hóa, đương nhiên sản xuất cũng không thể phát triển.

Cung cầu và giá cả hàng hóa: Sự biến đổi của giá cả hàng hóa là do tác động giữa cung và cầu trên thị trường, là một trong những nhân tố thường nằm ngoài tầm kiểm soát của các cá nhân và tổ chức. Nằm ngoài ý chí của con người, giá cả có thể làm cho các cá nhân, tổ chức này gặp may mắn nhưng cũng có thể làm cho các cá nhân, tổ chức khác gặp rủi ro.

Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là sự thể hiện một đơn vị tiền tệ này đổi được bao nhiêu đơn vị tiền tệ khác. Sự biến đổi tỷ giá hối đoái ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của các doanh nghiệp. Khi xuất khẩu nếu tỷ giá giảm hoặc khi nhập khẩu nếu tỷ giá tăng thì sẽ làm giảm lợi nhuận trong kinh Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

Thiếu thông tin về kinh tế, xã hội: Khi doanh nghiệp không tiếp cận được nguồn thông tin hoặc sai lệch thông tin dẫn đến những sai lầm trong công tác xây dựng chiến lược đầu tư, lựa chọn thị trường, ngành hàng… khi ra quyết định kinh Tuy đây không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra rủi ro nhưng nó có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động của các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự ảnh hưởng này còn phụ thuộc vào quy mô hoạt động kinh doanh, từ đó quyết định đến mức độ nghiêm trọng của rủi ro.

Khách hàng hoặc người thứ ba gây ra rủi ro: Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, cá nhân và tổ chức phải quan hệ với rất nhiều người và tổ chức khác nhau. Chính từ mối quan hệ này đã phát sinh các nhân tố có thể gây ra rủi ro, tổn thất cho cá nhân hoặc tổ chức.

  • Các nhân tố ảnh hưởng và nguyên nhân chủ quan:

Thái độ của doanh nghiệp đối với rủi ro: Đây rất có thể là một nhân tố quan trọng làm tăng hoặc giảm rủi ro trong kinh doanh. Nếu như doanh nghiệp chủ quan, xem thường, không quan tâm, mất cảnh giác… thì rủi ro sẽ xảy ra thường xuyên hơn và hậu quả của nó cũng nặng nề hơn. Ngược lại, nếu doanh nghiệp luôn quan tâm, cảnh giác thì rủi ro sẽ ít xảy ra ít hơn. Khi lo sợ và quan tâm đến rủi ro thì doanh nghiệp sẽ nghiên cứu và có biện pháp phòng chống tốt hơn từ đó có thể hạn chế rủi ro xảy ra.

Sai lầm trong lựa chọn chiến lược kinh doanh, chính sách và cơ chế hoạt động của doanh nghiệp. Những sai lầm của cá nhân, tổ chức về việc lựa chọn chiến lược kinh doanh thường gây ra những hậu quả nặng nề kéo dài. Đây có thể được coi là nguyên nhân lớn nhất gây ra rủi ro cho doanh nghiệp, dẫn đến lãng phí về tiền bạc, sức người và khủng hoảng niềm tin.

Sự yếu kém về năng lực quản trị và trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Trình độ, năng lực quản lý của các nhà quản trị chưa tương xứng với trách nhiệm được phân công, với quy mô của tổ chức, trình độ năng lực chuyên môn của các chuyên gia, chuyên viên, đội ngũ hành chính… chưa đáp ứng được yêu cầu, trình độ tay nghề của công nhân không đảm bảo cho sản xuất luôn là nguyên nhân gây ra rủi ro cho doanh nghiệp, sự thành bại của các doanh nghiệp phần lớn phụ thuộc vào năng lực quản trị, trình độ chuyên môn và tay nghề của người lao động. Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

Thiếu đạo đức trong kinh doanh: Tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp… của mọi thành viên tổ chức không theo chuẩn mực chung luôn đe dọa đến mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thiếu tinh thần trách nhiệm thường không hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, gây trở ngại đến công việc chung, làm mất uy tín cho doanh nghiệp. Không có đạo đức dẫn đến biển thủ, lừa đảo, chiếm dụng, vi phạm cam kết trong hoạt động kinh

  • Phân loại rủi ro:

Trên thực tế tồn tại rất nhiều loại rủi ro. Ở mỗi lĩnh vực khác nhau, ngoài những rủi ro chung còn gặp phải những rủi ro riêng. Trong hoạt động kinh doanh cũng như trong đời sống kinh tế xã hội, việc phân loại rủi ro là hết sức cần thiết để hiểu và nắm bắt được rủi ro, từ đó có thể đưa ra những phương pháp quản trị rủi ro tốt nhất. Có nhiều tiêu thức để phân loại rủi ro. Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu:

  • Căn cứ vào tính chất của rủi ro

Theo căn cứ này, có hai loại rủi ro: rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán.

Rủi ro thuần túy: là rủi ro chỉ mang lại những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm như: mất cắp, hỏa hoạn, tai nạn giao thông,… làm phát sinh một khoản chi phí để bù đắp thiệt hại nên cần phải phòng tránh hoặc hạn chế.

Rủi ro suy đoán: là rủi ro mà trong đó những cơ hội tạo ra thuận lợi gắn liền với những nguy cơ gây ra tổn thất. Loại rủi ro này là động lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh và có tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.

  • Căn cứ vào khả năng bảo hiểm

Trên góc độ của người kinh doanh bảo hiểm, rủi ro được chia thành rủi ro được bảo hiểm, rủi ro không được bảo hiểm và rủi ro phải bảo hiểm riêng. Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

  • Rủi ro được bảo hiểm: là những rủi ro có tính bất ngờ, ngẫu nhiên, xảy ra ngoài ý muốn của người được bảo hiểm.
  • Rủi ro không được bảo hiểm: là những rủi ro không được người bảo hiểm nhận bảo hiểm hoặc không được người bảo hiểm bồi thường trong mọi trường hợp. Đó là rủi ro đương nhiên xảy ra, chắc chắn xảy ra, hoặc các thiệt hại do nội tỳ, bản chất của hàng hóa, do lỗi của người được bảo hiểm, thiệt hại mà nguyên nhân trực tiếp là chậm trễ, những rủi ro có tính chất thảm họa mà con người không lường trước được quy mô, mức độ và hậu quả.
  • Rủi ro phải bảo hiểm riêng: là những rủi ro mà muốn được bảo hiểm thì phải thỏa thuận thêm, thỏa thuận riêng.

Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh rủi ro:

Đây là những rủi ro do các yếu tố thuộc môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa- xã hội, môi trường kinh tế, môi trường tác nghiệp… gây ra. Sự thiếu ổn định của các yếu tố này có thể dẫn đến rủi ro cho các doanh nghiệp.

Rủi ro do thiên nhiên: là rủi ro do các hiện tượng thiên nhiên như: bão, lũ lụt, hạn hán, sóng thần, sét đánh, núi lửa… gây ra. Những rủi ro này thường dẫn đến những thiệt hại to lớn về người và của và làm cho các doanh nghiệp bị tổn thất nặng nề.

Rủi ro do môi trường văn hóa – xã hội: là những rủi ro do sự thiếu hiểu biết về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lối sống, nghệ thuật, đạo đức… của các dân tộc khác cũng như việc không nắm được sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, hành vi của con người, cấu trúc xã hội, các định chế,… từ đó dẫn đến cách hành xử không phù hợp, gây thiệt hại, mất mát, mất cơ hội kinh doanh cũng như giảm uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.

Rủi ro do môi trường chính trị – pháp luật: Môi trường chính trị – pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, nếu môi trường này ổn định sẽ giúp giảm thiểu rất nhiều rủi ro cho các doanh nghiệp. Chỉ có những doanh nghiệp biết nghiên cứu kỹ, nắm vững và có chiến lược, sách lược phù hợp với môi trường chính trị – pháp luật mình đang kinh doanh thì mới có cơ hội thành công.

Rủi ro do môi trường kinh tế: Mọi hiện tượng diễn ra trong môi trường kinh tế như: tốc độ phát triển kinh tế, khủng hoảng, lạm phát,… đều ảnh hưởng trực tiếp hoạt động của doanh nghiệp, gây ra những rủi ro, bất ổn. Đặc biệt các hiện tượng như: tỷ giá hối đoái thay đổi, giá cả hàng hóa biến động… sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

Rủi ro do môi trường hoạt động của doanh nghiệp: Rủi ro có thể phát sinh ở cả môi trường hoạt động bên trong như tổ chức bộ máy, văn hóa doanh nghiệp, tuyển dụng, đãi ngộ nhân viên, tâm lý của người lãnh đạo…hay bên ngoài doanh nghiệp như quan hệ với khách hàng (cả nhà cung cấp đầu vào lẫn người tiêu thụ đầu ra), đối thủ cạnh tranh…

1.2.2. Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

  • Đặc điểm riêng của rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế

Ngoài những đặc điểm chung đã nêu ở trên, rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế còn có những điểm khác biệt cơ bản sau đây:

Tần suất rủi ro: Trong quá trình kinh doanh mua bán hàng hóa quốc tế, mỗi doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ rủi ro ở tất cả các lĩnh vực khác nhau thuộc môi trường kinh doanh trong và ngoài nước, tức là bao gồm rất nhiều nhân tố ảnh hưởng thuộc nguyên nhân khách quan, chủ quan tác động làm gia tăng rủi Qua đó cho thấy rằng rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế thường xảy ra với tần suất lớn hơn.

Mức độ nghiêm trọng của rủi ro: Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế thường được thực hiện giữa các đối tác có khoảng cách địa lý xa, với những thương vụ có giá trị lớn nên khi xảy ra rủi ro thường rất nghiêm trọng, khó có thể nhanh chóng hạn chế tổn thất và gây thiệt hại lớn về tài sản cho các cá nhân và tổ chức. Mặt khác trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp thường gặp phải những hiểm họa, nguy cơ nghiêm trọng như: hiểm họa tự nhiên, sự cầm giữ của chính quyền, chiếm đoạt của các thế lực chính trị, khủng hoảng kinh tế, sụt giá, cạnh tranh kinh tế… cũng làm gia tăng mức độ nghiêm trọng của rủi ro.

Tính đa dạng, phức tạp của rủi ro: hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế là hoạt động rất phức tạp liên quan đến các yếu tố như: chủ thể kinh doanh, ngôn ngữ, luật áp dụng, tạp quán thương mại quốc tế, sự di chuyển hàng hóa và chứng từ, tiền tệ và thanh toán quốc tế… nên rủi ro xảy ra trong quá trình mua bán hàng hóa quốc tế diễn ra hết sức đa dạng, phức tạp. Thực tế cho thấy hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế thường xảy ra những rủi ro mang tính bất ngờ cao, thậm chí chưa hề gặp bao giờ trong kinh doanh đã gây ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp.

  • Một số rủi ro thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế

Trong quá trình mua bán hàng hóa quốc tế, các doanh nghiệp có thể gặp phải rất nhiều rủi ro, những rủi ro này có thể chia thành hai nhóm cơ bản sau: Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

Rủi ro phát sinh do sự thay đổi môi trường kinh doanh Nhóm rủi ro này bao gồm một số rủi ro sau:

  • Rủi ro chính trị, pháp luật:

Đây là rủi ro được các nhà xuất nhập khẩu rất quan tâm và là rủi ro khó lường trước được mà những tổn thất lại rất nghiêm trọng. Những rủi ro này phát sinh do sự thay đổi về môi trường chính trị và pháp luật như: bị phong tỏa hay cấm vận về kinh tế, chiến tranh hay đình công mà không thể ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với các quốc gia đó, hoặc đã ký kết hợp đồng nhưng không thực hiện được, hoặc đã giao hàng nhưng không nhận được thanh toán,… hoặc sự thay đổi về môi trường chính trị, pháp luật có thể tạo ra những khó khăn cho các quốc gia khác, từ đó tạo ra các rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu. Đặc biệt đối với các quốc gia giữ vị trí quan trọng trong việc xuất khẩu hay nhập khẩu một ngành hàng nào đó trên thị trường thế giới thì khi môi trường chính trị pháp luật ở quốc gia đó thay đổi theo hướng bất lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu thì có thể làm giá cả về ngành hàng này trên thị trường thế giới thay đổi dẫn đến các tác động gián tiếp gây ra những rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa.

  • Rủi ro do tỷ giá hối đoái thay đổi:

Rủi ro hối đoái là sự không chắc chắn về giá trị của một khoản thu nhập hay thanh toán do sự biến động tỷ giá hối đoái gây ra, có thể làm tổn thất đến giá trị dự kiến của hợp đồng.

Đặc điểm của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế là từ khi ký kết hợp đồng cho đến khi tiến hành thanh toán và giao hàng là một khoảng thời gian khá dài. Trong khoảng thời gian đó tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền tính giá hay đồng tiền thanh toán trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế so với các đồng tiền khác có thể bị thay đổi. Sự thay đổi này sẽ tạo ra rủi ro cho hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế. Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

  • Rủi ro do giá cả thị trường thay đổi:

Rủi ro này rất dễ xảy ra đối với các mặt hàng nhạy cảm như hàng nông lâm sản, hàng thủy hải sản chưa qua chế biến, hàng nguyên liệu… Từ khi giao dịch ký kết hợp đồng cho đến khi giao hàng, giá cả hàng hóa đó trên thị trường thế giới có thể thay đổi gây nên những tổn thất trực tiếp cho hợp đồng đã ký kết. Hoặc do giá cả hàng hóa thay đổi làm cho đối tác có ý định trì hoãn hoặc không muốn thực hiện hợp đồng, gây khó khăn cho doanh nghiệp làm doanh nghiệp phải tăng chi phí dẫn đến giảm hiệu quả trong hoạt động kinh doanh.

  • Rủi ro do chính sách ngoại thương thay đổi:

Chính sách ngoại thương là hệ thống các nguyên tắc, các biện pháp kinh tế, hành chính, luật pháp nhằm thực hiện điều tiết các hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của một Nhà nước trong một giai đoạn nhất định. Trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, do sự thay đổi của chính sách ngoại thương, doanh nghiệp có thể gặp rất nhiều rủi ro khác nhau nhưng cơ bản nhất vẫn là những rủi ro do các quy định về hạn ngạch, thủ tục hải quan, thuế xuất nhập khẩu và một số các quy định hành chính khác.

Đây là loại rủi ro mà các nhà kinh doanh, nhất là các nhà xuất nhập khẩu lo ngại nhất. Một biến động mạnh về chính trị, pháp lý xảy ra có thể làm đảo lộn các kế hoạch của các doanh nghiệp, khiến cho các doanh nghiệp bị động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

  • Rủi ro phát sinh từ quá trình thực hiện các nghiệp vụ mua bán hàng hóa quốc tế

Những rủi ro có thể gặp phải trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm:

  • Rủi ro trong đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

Rủi ro này có thể phát sinh do kỹ thuật chào hàng, do quá trình đàm phán không thỏa thuận rõ tên hàng, lựa chọn điều kiện về phẩm chất, số lượng, điều kiện kiểm tra số lượng, chất lượng, lựa chọn đồng tiền tính giá, phương pháp quy định giá, phương thức thanh toán, lựa chọn điều kiện cơ sở giao hàng, bảo hành, khiếu nại, trọng tài… không tối ưu hoặc khó thực hiện. Trong khi soạn thảo hợp đồng lại sử dụng những từ ngữ không rõ ràng dẫn đến sự hiểu nhầm, không dẫn chiếu đến các tập quán hoặc văn bản pháp luật có liên quan, thiếu các điều khoản cần thiết của một hợp đồng, đặc biệt là các điều khoản bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp.

  • Rủi ro trong quá trình tổ chức thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

Đây là nhóm rủi ro nghiêm trọng, thường xuyên xảy ra, gây nên những tổn thất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp. Nhóm rủi ro này bao gồm những rủi ro trong quá trình đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng như trong quá trình thực hiện các hợp đồng này.

1.3. Quản trị rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

1.3.1. Khái niệm quản trị rủi ro

Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm dự phòng – với chi phí thấp nhất – các nguồn lực tài chính, cần và đủ tùy theo từng tình huống cụ thể. Đó cũng chính là kiểm soát và loại trừ nếu có thể các rủi ro bằng cách giảm thiểu hay chuyển giao chúng, tối ưu hóa cách thức sử dụng các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp [2]. Như vậy rủi ro chính là dự phòng và sắp xếp ổn thỏa các hậu quả của rủi ro về phương diện con người, tài chính, thương mại sao cho chúng trở nên ít gây tổn thương nhất cho doanh nghiệp.

1.3.2. Vai trò của quản trị rủi ro với hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế

Rủi ro luôn tồn tại song hành và có mối quan hệ tương tác với hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế cũng như hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế. Tăng quy mô xuất nhập khẩu đồng thời sẽ làm gia tăng quy mô và xác suất rủi ro. Ngược lại, rủi ro là nguyên nhân trực tiếp cũng như gián tiếp hạn chế sự tăng trưởng của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế. Do vậy hạn chế rủi ro có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao hiệu quả của hoạt động này.

Hơn thế nữa, các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đều nhằm đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nhưng vẫn đảm bảo được an toàn trong kinh doanh. Muốn vậy, doanh nghiệp chỉ có cách là phải nghiên cứu những rủi ro mà mình có thể phải đối mặt và đưa ra phương hướng giải quyết một cách chủ động nhất. Vì vậy, có thể nói quản trị rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế là vô cùng quan trọng và cần thiết nhằm mang lại an toàn cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

Quản trị rủi ro nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro có thể xảy ra. Nếu doanh nghiệp kinh doanh trong một môi trường bất định mà không có những biện pháp quản trị rủi ro tốt thì doanh nghiệp rất dễ thất bại. Quản trị rủi ro có vai trò to lớn với doanh nghiệp, được thể hiện như sau:

  • Quản trị rủi ro là chức năng được hình thành một cách khách quan, xuất phát từ lợi ích mang lại cho doanh nghiệp.
  • Quản trị rủi ro nhằm nhận dạng, dự báo và triệt tiêu những nguyên nhân gây ra rủi ro, nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp có được môi trường kinh doanh thuận lợi, ít bất trắc.
  • Quản trị rủi ro là biện pháp nhanh chóng ứng biến, khắc phục, khoanh vùng hậu quả rủi ro mỗi khi có tổn thất xảy ra, giúp doanh nghiệp nhanh chóng phục hồi, ổn định và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.
  • Quản trị rủi ro làm giảm bớt những thiệt hại khi rủi ro xảy ra đồng thời làm giảm chi phí thực tế và chi phí cơ hội trong kinh doanh.
  • Quản trị rủi ro còn có vai trò chia sẻ rủi ro bằng cách tham gia bảo hiểm một cách có hiệu quả, giúp doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh.

Như vậy, trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, doanh nghiệp nào cũng phải đối mặt với rủi ro. Tuy nhiên, đối với mỗi ngành hàng thì lại khác nhau. Nắm vững các nhân tố có thể là nguyên nhân gây ra rủi ro tổn thất trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế là vô cùng cần thiết để quản trị rủi ro một cách chủ động và có hiệu quả. Nếu các doanh nghiệp nắm bắt được những điều này thì các nhà quản trị rủi ro sẽ có được những biện pháp thích hợp đối phó với những rủi ro có thể xảy ra. Trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, các doanh nghiệp có khả năng chủ động ứng phó với những rủi ro xảy ra với doanh nghiệp mình qua rất nhiều nghiệp vụ khác nhau, trong phạm vi khóa luận chỉ xin đưa ra một số ví dụ trong các trường hợp cụ thể như sau:

  • Mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu

Bảo hiểm chính là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm đối với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thỏa thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm [1]. Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

Trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, khi các doanh nghiệp tham gia mua bảo hiểm thì đối tượng bảo hiểm chính là chính là hàng hóa xuất nhập khẩu. Tùy vào những rủi ro mà doanh nghiệp dự đoán có thể xảy ra, doanh nghiệp sẽ mua bảo hiểm theo những điều kiện sao cho số chi phí bảo hiểm bỏ ra là nhỏ nhất có thể nhưng một khi có rủi ro xảy ra thì doanh nghiệp có thể nhận được đền bù có giá trị tương đương với những tổn thất doanh nghiệp gặp phải từ phía người bảo hiểm, ví dụ như trong trường hợp doanh nghiệp mua bán hàng hóa với quốc gia đang có chiến tranh hoặc hàng hóa của mình xuất khẩu có qua khu vực có xung đột, chiến tranh thì doanh nghiệp nên mua bảo hiểm rủi ro chiến tranh cho hàng của mình…

Bảo hiểm là cần thiết với hoạt động kinh doanh vì nó có những tác dụng cơ bản sau:

  • Bồi thường: tác dụng quan trọng nhất của bảo hiểm là bồi thường tổn thất về tài sản cho những người được bảo hiểm mỗi khi có rủi ro xảy ra, nhằm nhanh chóng khắc phục khó khăn về tài chính cho các doanh nghiệp trong quá trình phục hồi sản xuất, kinh doanh.
  • Phòng ngừa rủi ro: thông qua những biện pháp chủ động phòng ngừa rủi ro, các công ty bảo hiểm góp phần hạn chế rủi ro xảy ra.

Tuy nhiên bảo hiểm không phải là biện pháp hoàn hảo, duy nhất để phòng ngừa, hạn chế rủi ro xảy ra trong kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vì:

Các công ty bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm và bồi thường cho những tổn thất là hậu quả trực tiếp của những rủi ro được bảo hiểm. Ví dụ, công ty bảo hiểm chỉ bồi thường cho những tổn thất về hàng hóa do rủi ro tàu mất tích nhưng không bồi thường cho những tổn thất phát sinh từ tổn thất trên như: nguồn lợi mất hưởng, bị phạt hợp đồng vì không giao hàng, mất uy tín trước khách hàng…

Có rất nhiều rủi ro bị từ chối bảo hiểm cho dù người tham gia bảo hiểm muốn được bảo hiểm (gọi là rủi ro loại trừ).

Để khắc phục những khoảng trống của bảo hiểm để lại, các nhà quản trị nên nghiên cứu và áp dụng các biện pháp khác để doanh nghiệp có thể chủ động hơn trong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro, tạo ra sự phát triển bền vững.

  • Quản trị rủi ro tỷ giá hối đoái Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

Một trong những rủi ro doanh nghiệp rất dễ gặp phải trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, đó là rủi ro về tỷ giá hối đoái. Các doanh nghiệp sẽ gặp phải rủi ro này vì họ thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu, thanh toán bằng một đồng tiền khác với đồng tiền sử dụng trong báo cáo kế toán, tài chính. Nếu tỷ giá hối đoái thay đổi thì những thay đổi này có thể là nguồn gốc của những khoản lời hoặc lỗ nghiêm trọng. Ví dụ, nếu tỷ giá giữa USD và VND thay đổi từ 16.000 VND sang 17.000 VND hay ngược lại, từ 16.000 VND xuống còn 15.000 VND trong vòng một tháng thì nhất thiết các công ty xuất nhập khẩu phải xem xét vấn đề quản trị rủi ro hối đoái.

Quản trị rủi ro hối đoái nhằm mục đích giảm thiểu tối đa những tổn thất có thể có do những biến động của tỷ giá hối đoái với chi phí thấp nhất.

Đối với nhà xuất khẩu, rủi ro hối đoái sẽ xảy ra khi tỷ giá hối đoái vào kỳ đáo hạn thanh toán giảm so với tỷ giá lúc ký kết hợp đồng thương mại, và rủi ro này sẽ xảy ra với nhà nhập khẩu trong tình huống ngược lại, đó là khi tỷ giá hối đoái vào kỳ đáo hạn thanh toán tăng so với tỷ giá lúc ký kết hợp đồng thương mại.

Để có thể hạn chế được rủi ro do sự thay đổi tỷ giá hối đoái, doanh nghiệp có thể áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật khác nhau, sau đây là một số kỹ thuật mà doanh nghiệp có thể áp dụng:

Giải pháp đơn giản nhất mà doanh nghiệp có thể áp dụng,đó là ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với điều khoản thanh toán bằng đồng nội tệ. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được vì lợi ích của nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu hoàn toàn đối lập nhau, bên cạnh đó đối với một số hàng hóa xuất nhập khẩu, người ta không có nhiều đồng tiền thanh toán để lựa chọn, ví dụ: đối với nguyên vật liệu, đồng tiền được dùng để thanh toán chủ yếu là USD hoặc đồng bảng Anh.

Doanh nghiệp cũng có thể áp dụng việc thỏa thuận ký kết điều khoản giá linh hoạt. Việc áp dụng điều khoản giá linh hoạt cho phép doanh nghiệp xuất khẩu giảm thiểu phần nào những rủi ro do biến động tỷ giá. Có bốn loại điều khoản giá cả linh hoạt:

Áp dụng giá tỷ lệ với sự biến động của tỷ giá hối đoái. Khi áp dụng điều khoản này, nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu chấp nhận điều chỉnh giá theo sự biến động tỷ giá của đồng tiền thanh toán.

Áp dụng điều khoản giá cả linh hoạt tỷ lệ với sự biến động của tỷ giá có miễn trừ. Với điều khoản này, nhà xuất nhập khẩu chấp nhận sự tăng và giảm giá của đồng tiền thanh toán được tính nhập vào giá hàng nhưng chỉ trong một mức giới hạn được miễn trừ do các bên trong hợp đồng cùng tự thỏa thuận.

Áp dụng điều khoản chia sẻ rủi ro. Theo điều khoản này, nhà xuất khẩu và nhập khẩu cam kết với nhau mỗi bên sẽ chịu một phần hậu quả của rủi ro do biến động của tỷ giá hối đoái gây nên trong khoảng thời gian từ lúc lập hóa đơn đến lúc thanh toán thực tế. Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

Áp dụng điều khoản quyền chọn. Điều khoản này cho phép nhà xuất nhập khẩu sử dụng một đồng tiền khác với đồng tiền thanh toán dưới một số điều kiện.

Một biện pháp khác mà doanh nghiệp có thể áp dụng đó là lựa chọn kỳ hạn thanh toán. Đây là một phương thức tương đối thủ công, liên quan đến việc điều chỉnh từng tình huống một, thanh toán trước hay chậm lại các lô hàng xuất nhập khẩu.

Tuy nhiên việc điều chỉnh kỳ hạn thanh toán cũng phải được cân nhắc và so sánh lợi ích từ tỷ giá hối đoái với chi phí tài chính do những điều chỉnh kỳ hạn gây ra.

Đặc biệt, có một kỹ thuật giảm rủi ro hối đoái có thể nói rất hiệu quả, đó là tham gia vào thị trường ngoại hối, nghiệp vụ này hiện nay chưa phổ biến tại Việt Nam do thị trường ngoại hối tại nước ta chưa thực sự phát triển.

Thị trường hối đoái phát triển một cách nhanh chóng kể từ khi chế độ tỷ giá thả nổi được thiết lập. Đây là nơi diễn ra sự trao đổi, mua bán các chứng từ tài chính có thời hạn tương đối ngắn, và chủ yếu giao dịch bằng các loại tiền tệ khác nhau. Hiện nay những trung tâm tài chính lớn với mức giao dịch khổng lồ trên thế giới phải nhắc đến đó là thị trường ngoại hối London, New York, Tokyo.

Trên thị trường ngoại hối, doanh nghiệp có thể tham gia các thị trường: thị trường giao ngay, thị trường kỳ hạn, thị trường giao sau và thị trường quyền chọn để quản trị rủi ro hối đoái.

Việc áp dụng kỹ thuật nào trong việc hạn chế rủi ro do thay đổi tỷ giá hối đoái gây ra phụ thuộc vào từng hoàn cảnh, điều kiện của các doanh nghiệp khác nhau và còn phụ thuộc vào năng lực của chính những cán bộ thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.

Qua nghiên cứu những lý luận cơ bản về rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và quản trị rủi ro, có thể thấy rằng rủi ro là một sự kiện xảy ra bất ngờ, gây nên những tổn thất cho con người và tồn tại khách quan. Đặc biệt, trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, những rủi ro có tính đa dạng, phức tạp hơn với mức độ nghiêm trọng hơn so với những rủi ro xảy ra trong hoạt động kinh doanh nói chung. Do vậy các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp tham gia hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng cần có những biện pháp thích hợp để hạn chế những rủi ro xảy ra trong quá trình kinh doanh của mình. Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế

One thought on “Khóa luận: Hạn chế rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp hạn chế rủi ro về mua bán hàng hóa quốc tế

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537