Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông Huyện Sapa Tỉnh Lào Cai dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát chung về huyện SaPa tỉnh Lào Cai

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

Sa Pa là một thị trấn vùng cao, là một khu nghỉ mát nổi tiếng thuộc huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, Việt Nam. Nơi đây ẩn chứa nhiều điều kỳ diệu của tự nhiên, phong cảnh thiên nhiên với địa hình của núi đồi, màu xanh của rừng cây, tạo nên bức tranh có bố cục hài hoà, có cảnh sắc thơ mộng và hấp dẫn từ cảnh quan đất trời vùng đất phía Tây Bắc.

  • Lịch sử

Năm 1897, chính quyền thuộc địa Pháp quyết định mở một cuộc điều tra về người dân tộc thiểu số miền núi vùng cao. Những đoàn điều tra đầu tiên đến Lào Cai vào năm 1898.

Mùa đông năm 1903, trong khi tiến hành đo đạc xây dựng bản đồ, đoàn thám hiểm của Sở địa lý Đông Dương đã khám phá ra cảnh quan mặt bằng Lồ Suối Tủng.

Năm 1905, người Pháp đã thu thập được những thông tin đầu tiên về địa lý, khí hậu, thảm thực vật… SaPa bắt đầu được biết tới với không khí mát mẻ, trong lành và cảnh quan đẹp. Năm 1909, một khu điều dưỡng được xây dựng. Năm 1917, một văn phòng du lịch được thành lập ở Pa và một năm sau, người Pháp bắt đầu xây dựng những biệt thự đầu tiên. Năm 1920, tuyến đương sắt Hà Nội – Lào Cai hoàn thành, Sapa được xem như thủ đô mùa hè của miền bắc. Tổng cộng người Pháp đã xây dựng ở Sapa gần 300 biệt thự. Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông. 

SaPa bị tàn phá nhiều trong chiến tranh biên giới Việt – Trung 1979. Hàng ngàn ha rừng thông bao phủ thị trấn bị đốt sạch, nhiều toà biệt thự cổ do Pháp xây cũng bị phá huỷ. Vào thập niên 1990, SaPa được xây dựng, tái thiết trở lại. Nhiều khánh sạn, biệt thự mới được xây dựng. Từ 40 phòng nghỉ vào năm 1990, lên tới vào năm 1995. Năm 2003, SaPa có khoảng 60 khách sạn lớn nhỏ với 1.500 phòng. Lượng khách du lịch tới SaPa tăng lên từ 2.000 khách vào năm 1991 đến 60.000 khách vào 2002.

  • Nguồn gốc tên gọi

Tên Sa Pa có nguồn gốc từ tiếng Quan Thoại. Trong tiếng Quan Thoại phát âm là SaPả hay SaPá tức “bãi cát” do ngày trước khi có thị trấn Sa Pa thì nơi đây chỉ có một bãi cát mà dân cư bản địa thường họp chợ. Ngoài ra, Sa cũng có thể là cách nói lệch đi theo phiên âm tiếng Tàu là Sha (沙) cũng có nghĩa là Cát.

Từ hai chữ “Sa Pả”, người phương Tây phát âm không dấu, thành Sa Pa và họ đã viết bằng chữ Pháp hai chữ đó thành “Cha Pa” và một thời gian rất dài sau đó người ta dùng “Cha Pa” như một từ tiếng Việt. Về sau, từ này viết được thống nhất là Sa Pa

  • Vị trí

Sa Pa nằm trên một mặt bằng ở độ cao 1500 đến 1650 mét ở sườn núi Lô Suây Tông. Đỉnh của núi này có thể nhìn thấy ở phía đông nam của Sa Pa, có độ cao 2228 mét. Từ thị trấn nhìn xuống có thung lũng Ngòi Dum ở phía đông và thung lũng Mường Hoa ở phía tây nam

  • Địa hình – Khí hậu

Nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam, thị trấn Sa Pa ở độ cao 1.600 mét so với mực nước biển, cách thành phố Lào Cai 38 km và 376 km tính từ Hà Nội. Ngoài con đường chính từ thành phố Lào Cai, để tới Sa Pa còn một tuyến giao thông khác, quốc lộ 4D nối từ xã Bình Lư, Lai Châu. Mặc dù phần lớn cư dân huyện Sa Pa là những người dân tộc thiểu số, nhưng thị trấn lại tập trung chủ yếu những người Kinh sinh sống bằng nông nghiệp và dịch vụ du lịch.

Sa Pa có khí hậu mang sắc thái ôn đới và cận nhiệt đới, không khí mát mẻ quanh năm. Thời tiết ở thị trấn một ngày có đủ bốn mùa: buổi sáng là tiết trời mùa xuân, buổi trưa tiết trời như vào hạ, thường có nắng nhẹ, khí hậu dịu mát, buổi chiều mây và sương rơi xuống tạo cảm giác lành lạnh như trời thu và ban đêm là cái rét của mùa đông. Nhiệt độ không khí trung bình năm của SaPa là 15 °C. Mùa hè, thị trấn không phải chịu cái nắng gay gắt như vùng đồng bằng ven biển, khoảng 13 °C – 15 °C vào ban đêm và 20 °C – 25 °C vào ban ngày. Mùa đông thường có mây mù bao phủ và lạnh, nhiệt độ có khi xuống dưới 0 °C, đôi khi có tuyết rơi. Lượng mưa trung bình hàng năm ở đây khoảng từ 1.800 đến 2.200 mm, tập trung nhiều nhất vào khoảng thời gian từ tháng 5 tới tháng 8. Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Thị trấn Sa Pa là một trong những nơi hiếm hoi của Việt Nam có tuyết. Trong khoảng thời gian từ 1971 tới 2011, 15 lần tuyết rơi tại Sa Pa. Lần tuyết rơi mạnh nhất vào ngày 13 tháng 2 năm 1968, liên tục từ 3 giờ sáng đến 14 giờ cùng ngày, dày tới 20 cm.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2.1.2. Dân cư

Đây là nơi sinh sống của cư dân 6 tộc người Kinh, H’Mông, Dao đỏ, Tày, Giáy, Xã Phó.

Các dân tộc ở SaPa đều có những lễ hội văn hóa mang nét đặc trưng:

  • Hội roóng pọc của người Giáy vào tháng giêng âm lịch.
  • Hội sải sán (đạp núi) của người H’Mông.
  • Lễ tết nhảy của người Dao diễn ra vào tháng tết hàng năm.

Những ngày phiên chợ ở SaPa nhộn nhịp vào tối thứ bảy kéo dài đến chủ nhật hàng tuần. Chợ Sa Pa có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách từ phương xa tới. Người ta còn gọi nó là “chợ tình Sa Pa” vì ở đây nam nữ thanh niên người dân tộc H’Mông, Dao đỏ có thể nhờ âm thanh của khèn, sáo, đàn môi, kèn lá hay bằng lời hát để tìm hay gặp gỡ bạn tình.

2.2. Dân tộc H’Mông ở SaPa

2.2.1. Lịch sử hình thành và bức tranh phân bố

Người H’mông trước đây còn được gọi là người mèo. Ở Trung Hoa trước đây gọi họ là Miêu, ở Lào gọi là Mẹo. Tại Việt Nam họ sinh sống tại những vùng núi cao từ 800m- 1700m so với mực nước biển. Cộng đồng H’mông bao gồm nhiều nhóm địa phương: H’mông Đớ hay H’mông Đấu ( H’mông Trắng), H’mông Đú (H’mông Đen), H’mông Jua (H’mông Xanh), H’mông Lềnh (H’mông Hoa), Hmông Si (H’mông đỏ) , H’mông Súa ( H’mông Hán), La Mieo. Sự phân biệt giữa các nhóm chủ yếu dựa trên sự khác nhau về trang phục và ngôn ngữ.

Về tên gọi thì theo “ Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam’’ đã được Tổng cục Thống kê ra quyết định công bố ngày 2/3/1979 “ để sử dụng thống nhất trong các ngành, các cấp ở trung ương và địa phương trong cuộc tổng diều tra dân số’’…Tại điều 2 có ghi rõ “ Những bản danh mục dân tộc nào trái với bản danh mục này đều bị bãi bỏ’’. Theo đó, người có tộc danh chính thức là người H’mông. Từ sau quyết định nói trên, mọi ấn phẩm nghiêm túc đều viết theo danh mục của nhà nước.

Về nguồn gốc người H’mông hiện còn nhiều ý kiến khác nhau. Trong cuốn “ lịch sử người mèo”, học giả Savina cho rằng người H’mông xưa cư trú ở Xibêri-nơi quanh năm tuyết phủ, có 6 tháng ngày và 6 tháng đêm. Vào triều Hoàng đế-Trung Hoa thiên niên kỉ thứ 3 trước công nguyên, họ chuyển tới lưu vực sông Hoàng Hà, do xung đột với người Hán nên phải di cư về phương Nam.

Lại có ý kiến cho rằng người H’mông là một trong những tộc người nằm trong khối Bách Việt, có chung nguồn gốc với người Dao thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ H’mông- Dao. Tổ tiên của họ đã sớm biết trồng lúa nước ở vùng giữa hồ Bành Lãi và Động Đình thuộc nam Trung Hoa . Đến thế kỉ XIII sau công nguyên, hai tộc H’mông và Dao mới tách ra từ thế kỉ IX- XVI, người H’mông di cư về phía nam, tập trung ở Quý Châu- Trung Hoa, sau có một bộ phận di cư vào Việt Nam.

Trong một bài tạp chí gần đây, tác giả Vương Duy Quang khi viết về hiện tượng xưng vua ở cộng đồng H’mông, có đề cập đến lịch sử xa xưa của tộc người này như sau: “… dân tộc này đã từng là chủ nhân ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà cách đây hơn 3.000 năm, với nền văn hóa lúa nước phát triển khá cao. Họ đã từng có nhà nước, có chữ viết…Tuy nhiên sự bành trướng của người Hán đã đẩy họ ra khỏi quê hương xứ sở, phiêu bạt về phương Nam. Nhiều thế kỉ, dân tộc này liên tục nổi dậy chống lại người Hán nhằm tránh họa diệt vong và mong giành lại sứ sở của mình. Nhưng kết cục bi thảm của các cuộc khởi nghĩa càng đẩy người H’mông vào cảnh tha phương, ly tán để tới nay, với hơn 6 triệu người, chưa kể số ở Quý Châu, họ phải sống co cụm thành nhiều nhóm lớn, nhỏ rải rác khắp vùng biên giới năm quốc gia: Việt Nam, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Myanma, Thái Lan và nhiều quốc gia khác trên thế giới”. Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Hầu hết người H’mông ở nước ta đều có nguồn gốc từ tỉnh Quý Châu- Vân Nam( Trung Quốc) do 3 đợt thiên di lớn của tổ tiên họ vào Việt Nam.

Đợt đầu tiên có khoảng 80 hộ thuộc họ Vừ và họ Giàng, từ Quý Châu vào vùng Đồng văn, Mèo Vạc( Hà Giang), cách đây khoảng 300 năm.

Đợt thứ hai cách đây khoảng 200 trăm năm, có khoảng 100 hộ thuộc họ Vàng và họ Lý vào vùng Đồng Văn( Hà Giang) và khoảng 80 hộ thuộc các họ; Vàng, Lù, Chấu, Sùng, Vừ, Mùa vào vùng Simacai( Lào Cai), một bộ phân qua miền Tây Bắc.

Đợt thứ ba đông hơn cả, họ đi theo các đường vào Hà Giang, Lào Cai và các tỉnh vùng Tây Bắc.

Người H’mông là một trong những dân tộc thiểu số có nhân khẩu tương đối đông ở nước ta. Theo kết quả điều tra dân số ngay 1/4/1999 thì dân số H’mông có 787.604 người cư trú chủ yếu ở các tỉnh miền núi như: Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên…

Có thể nói rằng người H’mông ở SaPa là một trong số ít các dân tộc đặt chân lên gồm ba nhóm địa phương: H’mông Trắng, H’mông Đen, H’mông Hoa.

2.2.2. Văn hóa dân tộc H’mông ở SaPa

2.2.2.1.Văn hóa vật thể

Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam: “ Văn hóa vật thể là tất cả các sáng tạo hữu hình của con người mà xã hội học gọi chung là đồ tạo tác bao gồm nhà cửa, vũ khí, thức ăn,…”

  • Kiến trúc

Nhà ở của người H’mông là nhà trệt. Để chống gió, khí hậu lạnh, sương muối vùng cao, nhà của họ thường là nhà thấp, vững chắc, kín đáo. Nhà chủ yếu dược dựng trên các triền núi, phía trước có suối, phía sau là núi che chở, xung quanh có thể trồng trọt và chăn nuôi gia súc. Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Quy mô thường có ba gian hai chái, cửa chính mở ở gian giữa, cửa phụ mở ở hai gian bên hoặc đầu hồi nhà. Xung quanh nhà thưng ván, vách nứa, hoặc trình tường, mái lợp ván xẻ hoặc cỏ gianh. Nhà giàu thường làm khá rộng, cột gỗ kê đá tảng đẽo hình đèn lồng hoặc quả bí, vừa tạo sự vững chắc, không sụt lún, nghiêng lệch, vừa không bị mủn, mọt do ẩm ướt.

Gian giữa là nơi thờ tổ tiên và để dụng cụ sản xuất. Tùy từng dòng họ mà bếp lò và buồng chủ nhà được đặt bên trái hay bên phải nhưng bao giờ buồng ngủ của chủ nhà cũng phải đặt cạnh “ cột ma” ( cu ndêx đăng)- cột giữa của vỉ kèo thứ hai ngăn gian đầu hồi bên phải hoặc bên trái giữa. Hai gian bên, một bên là bếp lò và buồng ngủ, một bên là bếp khách, giường khách và có thể thêm một buồng ngủ, nếu gia đình có nhiều thế hệ cùng chung sống, phía trên là gác xép, nơi cất trữ lương thực. Một số gia đình còn làm kho lương thực bên ngoài nhà.

Cửa chính của ngôi nhà thường được treo một tấm vải đỏ hình chữ nhật, hoặc các tờ giấy bản có ý nghĩa cầu phúc. Một số nhà còn treo thêm ở trước cửa một chén nước nguồn tinh khiết bọc vải đỏ được múc vào ngày mùng một tết Nguyên Đán. Chén nước này sẽ được thay mới vào tết năm sau với ý nghĩa cầu mong bình yên, mát lành, phúc lộc đến nhà đầy đặn như chén nước ấy. Phía trước nhà là truồng Trâu, Lợn, Gà, Ngựa, tổ ong nuôi và có kho để lương thực. Ở những địa hình tương đối bằng phẳng, đồng bào còn trồng rau sau nhà và dựng hàng rào phía trước.

Nhà thường được cất vào mùa khô( từ tháng 11,12 đến tháng 3,4 năm sau). Để thử xem nơi đất dựng nhà có lành không, người H’mông thường đào 3 hố sâu khoảng 40cm ở ba vị trí: Nơi định đặt bàn thờ tổ tiên( ma nhà), nơi sẽ để bếp lò, nơi sẽ làm bếp khách, rồi cho vào mỗi hố ba hạt gạo hoặc ngô. Hạt thứ nhất tượng trưng cho con người, hạt thứ hai tượng trưng cho gia súc, hạt thứ ba tượng trưng cho cây trồng( một số dòng họ còn cắm thêm một cây nhỏ chính giữa ba hạt gạo( ngô) sau đó úp bát lên để qua đêm).

Sáng hôm sau mở ra nếu hạt gạo (hoặc ngô), không bị thay đổi vị trí, không bị mốc, không bị kiến tha thì được coi là nơi đất tốt, có thể ở được. Nếu hạt gạo di chuyển ra xa thì là nơi đất xấu, nếu bị mất một hạt là rất xấu không thể ở được. Công việc này do chủ nhà thực hiện. Đối với những gia đình cầu toàn hơn, lọ mời thầy đến cúng để làm lễ xem đất.

Hướng nhà thường là hướng đông hoặc tây, theo quan niệm để làm ăn tốt. Ngày giờ dựng nhà phụ thuộc vào tuổi của chủ nhà. Đồng bào H’mông thường dựng nhà vào ngày chẵn, kiêng dựng nhà vào ngày lẻ. Giờ dựng nhà thường là 4giờ hoặc 6 giờ. Có những nhà còn mổ gà xem chân ngày, giờ dựng nhà.

Sau khi san nền, chọn hướng đi cho cửa chính và căn nền vuông vức, họ đào hố chôn cột con và dựng xà ngang, làm thành khung nhà. Khi dựng nhà khâu quan trọng nhất là dựng “ cột ma”. Trước khi dựng cột chủ nhà mổ lợn, gà để cúng “ cột ma”. Theo quan niệm của đồng bào, việc san nền, dựng cột phải chọn ngày, giờ tốt. Làm nhà xong thì làm lễ cúng “ma nhà” và “cột ma”. Chủ nhà phải là người đầu tiên đích thân nhóm lửa vào các bếp để khai mở cho cuộc sống ở ngôi nhà mới.

  • Trang phục Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Sapa.

Không giống các nhóm H’mông khác thường mặc váy nhóm dân tộc H’mông sinh sống ở Sapa lại mặc quần, cả đàn bà và đàn ông đều mặc quần, họ chỉ mặc váy khi chết hoặc vào các dịp đặc biệt.

Bộ trang phục nữ gồm có y phục (khăn, áo, thắt lưng, xà cạp, quần) và đồ trang sức.

Trong đó khăn là tấm vải vải chàm hình chữ nhật khổ 18 x 50cm. Áo của phụ nữ H’mông có hai loại: Loại áo mặc trong màu chàm, xẻ ngực. Các loại áo khoác ngoài cộc tay, thân dài, cổ áo thêu các loại họa tiết hoa văn kỉ hà theo mô típ các họa tiết cổ móc câu kép biến thể như họa tiết trang trí mặt trống đồng Đông Sơn.

Thắt lưng được làm bằng vải có tua ở hai đầu, giữa thêu các họa tiết hoa văn. Người còn sống thắt dải hoa văn về phía sau lưng. Khi chết thắt dải hoa văn về phía trước bụng

Quần của phụ nữ mông là quần lửng qua gối, bắp chân quấn xà cạp bằng màu chàm

Đồ trang sức của phụ nữ khá phong phú, trong đó bao gồm: vòng khuyên tai to và vòng cổ, ngày thường thì đeo loại đơn, ngày lễ thì đeo loại kép có nhiều vòng biểu hiện của sự giàu có. Vòng cổ có hình hai đầu chim hoặc hai đầu rắn- Biểu tượng của vật tổ. Ngoài ra còn có vòng tay và xà tích.

Trang phục nam: Mũ bằng vải lanh hình quả dưa gồm tám miếng vải khâu ghép. Áo trong xẻ nách ngắn, áo ngoài dài. Cổ áo thêu hoa văn móc câu kiểu hoa văn đơn. Quần thì chàm màu đen ống rộng, đũng rộng.

  • Trang phục nữ mặc khi chết

Người H’mông khi về già đều chuẩn bị một bộ trang phục để khi chết sẽ mặc đẹp đi gặp tổ tiên.

Bộ trang phục nữ gồm có khăn, áo như ngày thường nhưng có thêm một áo khoác dài tay toàn bộ phía lưng vai, sau ống tay đều thêu, in sáp ong các băng dải hoa văn rực rỡ. Chiếc áo này thực sự là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Nền vải áo là vải lanh nhuộm chàm pha củ nâu tạo thành màu tím than. Nhằm tăng độ láng, bóng, tám vải may áo được miết sáp ong mài trên đá.

Khi sang thế giới bên kia, người phụ nữ Mông phải mặc váy bằng vải lanh. Thân váy in hoa sáp ong, gấu váy thêu các hoạ tiết hoa văn khổ to, phối nhiều gam màu nóng: Đỏ, vàng, da cam tạo vẻ rực rỡ.

Trong cộng đồng các dân tộc thiểu số của chúng ta thường có quan niệm rằng một phụ nữ có khéo léo hay không, có chăm chỉ hay không thì chỉ cần nhìn vào bộ trang phục họ mặc trên người, nhìn vào đường kim mũi chỉ là biết được phẩm hạnh cũng như tính nết của thiếu nữ làm ra bộ trang phục đó.

Từ đây có thể thấy, bộ trang phục đối với phụ nữ dân tộc không chỉ có ý nghĩa phụ trang bình thường mà nó còn phản ánh của thế giới quan, phản ánh cả một nền văn hoá rất sâu sắc bên trong đó và rất cần những định hướng cụ thể để giúp đồng bào gìn giữ những kĩ thuật chế tác trang phục độc đáo của mình.

  • Phương tiện vận chuyển Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Là cư dân sống trên vùng cao, địa hình hiểm trở, chia cắt mạnh, có sự đan xen giữa núi đất và núi đá nên giao thông gặp rất nhiều khó khăn. Người H’mông sử dụng sức người là chính trong giao thông vận chuyển. Khi lao động sản xuất, vận chuyển lương thực, hàng hóa thiết yếu phục vụ cuộc sống, đồng bào thường dùng cái gùi, cái địu hay mang vác trên vai. Bên cạnh đó họ còn sử dụng một phương tiện khá phổ biến nữa là con ngựa khi cần chuyên chở, những hàng hóa nặng, cồng kềnh, đi xa trên các địa hình phức tạp. Ngựa là con vật gần gũi và thân thiết với người H’mông hơn bất cứ con vật nào khác. Nó còn biểu hiện khả năng kinh tế của cá nhân hay gia đình.

Ngày nay do sự phát triển của kinh tế – xã hội nói chung và sự biến đổi trong đời sống ở vùng cao nói riêng mà đồng bào H’mông đã và đang sử dụng nhiều phương tiện cơ giới trong sinh hoạt. Tuy vậy sức người, sức ngựa vẫn là phương tiện vận chuyển chính của đồng bào H’mông ở SaPa.

2.2.2.2.Văn hóa phi vật thể

Theo từ điển tiếng việt: “ Văn hóa phi vật thể là một bộ phận của văn hóa nói chung. Đó là toàn bộ kinh nghiệm tinh thần của nhân loại, của các hoạt động trí tuệ cùng các kết quả của chúng, bảo đảm xây dựng con người với những nhân cách, tác động dựa trên ý trí và sáng tạo. Văn hóa phi vật thể tồn tại dưới nhiều hình thức. Đó là những tục lệ, chuẩn mực, cách ứng xử…đã được hình thành trong những điều kiện xã hội mang tính lịch sử cụ thể, những giá trị và lý tưởng đạo đức, tôn giáo, thẩm mĩ, xã hội, hệ tư tưởng…”

  • Ngôn ngữ – chữ viết Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Cho đến nay chúng ta đều biết đến tiếng Mông là một ngôn ngữ nằm trong hệ ngôn ngữ Miêu-Dao (hay Mông-Miền). Nhưng trên thực tế vấn đề phân loại theo quan hệ họ hàng của ngôn ngữ này đã từng có nhiều ý kiến khác nhau. Một số nhà ngôn ngữ học xếp ngôn ngữ Mông thuộc nhánh Miêu-Dao trong hệ Hán-Tạng (trong đó phải kể đến các nhà khoa học Trung Quốc). Trong những ý kiến đáng chú ý ta còn phải kể đến Paul K. Benedict với quan điểm quy các ngôn ngữ trong khu vực thành 2 hệ cơ bản: Hán-Tạng và Nam Thái (Austro-Thai). Trong đó vị trí các ngôn ngữ Miêu-Dao được định vị trong hệ Nam Thái.

Còn André G. Haudricourt từng bước đem so sánh cả hệ thống thanh điệu và cả lớp từ vựng cơ bản giữa các ngôn ngữ Miêu-Dao với các ngôn ngữ của hệ Hán-Tạng và hệ Nam Á. Ông đã cho rằng “các ngôn ngữ Miao-Yao hình như tạo nên mối liên hệ giữa các ngôn ngữ Nam Á và các ngôn ngữ Tạng-Miến”. Đây cũng chính là cơ sở để một hướng các nhà ngôn ngữ sau này không xếp các ngôn ngữ Miêu-Dao vào Nam Á hay Hán-Tạng mà là một họ ngôn ngữ độc lập vì những kiến giải của Haudricourt “không thuần tuý là sự so sánh từ vựng mà là sự phục nguyên, một thao tác thể hiện tính quy luật của những chuyển đổi âm thanh”. Kế thừa những nghiên cứu đi trước, Martha Ratliff đã đưa ra một bảng phân loại các ngôn ngữ Mông-Miền (hay Miêu-Dao) khá chi tiết trong đó tác giả đã định vị ngành Mông trắng (Mông Đơư) như sau:

  • Hệ ngôn ngữ (language family): Mông-Miền (Hmong-Mien)
  • Nhóm ngôn ngữ: Mông (Hmongic)
  • Nhánh: thuộc các phương ngôn Tứ Xuyên – Quý Châu – Vân Nam (Sichuan
  • Quizhou – Yunnan), còn gọi là nhánh Mông phía Tây (West Hmongic branch)
  • Tiểu nhánh: Tứ Xuyên – Quý Châu – Vân Nam
  • Phương ngữ: Mông trắng (White Mông)

Trong cuốn từ điển Bách khoa thư ngôn ngữ đã phân các ngôn ngữ Hmong-Miền (hay Miêu-Dao) thành hai nhánh chính:

Mông – gồm có: Dananshan Hmong, Hmong Đông, Hmong Bắc, Hmong Tây, Hmong Daw, Hmong Njua, Miao Đỏ, Pa Heng, Punu Miền (hay Dao) – gồm có: Ba Pai, Mien, Biao Mien, Iu mien, Mun, She

  • Văn học – nghệ thuật

Người H’mông có kho tàng văn học dân gian phong phú với các thể loại như: Truyện ngụ ngôn, truyện cười, dân ca, trường ca( tiếng hát làm dâu, tiếng hát tình yêu, tiếng hát mồ côi, tiếng hát cưới xin…), ca dao, tục ngữ, thành ngữ…phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và cuộc sống lao động, tranh đấu của dân tộc H’mông.

Qua một số truyện, nhất là qua bài “ chỉ đường” (Khúa kê) có thể hiểu được ít nhiều về nhận thức vũ trụ, thế giới quan và nhân sinh quan, nguồn gốc dân tộc người H’mông. Theo quan niệm thì bầu trời, mặt đất, mặt trăng, các vì sao, con người, muông thú, cây cỏ đều do những đại diện trời sáng tạo và điều chỉnh. Hai anh em họ Hồ là tổ tiên của người H’mông, người Dao và loài người nói chung. Con người chết đi không sống lại được nhưng có thể đầu thai thành người hay sinh vật khác… vùng cao SaPa, việc sản xuất gặp nhiều khó khăn. Bên cạch những anh hùng văn hóa, truyện dân gian H’mông thường đề cập đến những con người làm lụng siêng năng, khỏe mạnh, biết đoàn kết với những con người tài ba, khắc phục thiên tai đem lại hạnh phúc cho con người. Nhiều truyện dân gian cũng chỉ ra những kinh nghiệm trồng, chăn nuôi, qua đó thấy rõ người H’mông là cư dân làm nghề nông từ lâu đời. Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Các truyện dân gian còn phản ánh mặt xấu của xã hội, sự đau khổ của những đứa trẻ mồ côi, cách đối xử nghiệt ngã giữa chị dâu em chồng, những mụ dì ghẻ độc ác, những tên quan tàn bạo. Đồng thời đề cao những người thông minh, tài giỏi xuất thân từ nhà nông, những mối tình duyên đẹp, những người chiến thắng bạo tàn bênh vực chính nghĩa…

Những chuyện giải thích về hiện tượng đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc H’mông cũng nhiều (làm ma, cúng mụ, phụ nữ không được lên sàn gác, cúng cột cái, múa khèn,…) được đồng bào nhớ như những điều chỉ dẫn trong sinh hoạt gia đình và cuộc sống nói chung.

Trong văn học dân gian của người H’mông, dân ca chiếm vị trí đáng kể. Dân ca có nhiều loại: Cúng ma, tình yêu, cưới xin, làm dâu…trong mỗi loại lại có những đề tài nhỏ. Nhiều bài dân ca mang nội dung tư tưởng tốt, cách diễn tả tế nhị, kín đáo, được lấy từ những hình ảnh gần gũi trong đời sống hàng ngày. Đặc điểm chung của những bài dân ca là không chỉ hát bằng lời mà còn có thể giãi bày bằng tiếng khèn, tiếng đàn môi, kèn lá…các loại nhạc cụ này gắn bó chặt chẽ với dân ca. Nghe điệu kèn lá, đàn môi người ta có thể hiểu được nội dung truyền cảm của người sử dụng nhạc cụ. Trong dân ca không chỉ có những bài ngắn mà đã có những liên khúc dài nổi tiếng như “ Tiếng hát làm dâu” được nhiều dân tộc biết đến. Mỗi người H’mông ít nhiền đều biết dân ca cũng như nhiều nam nữ thanh niên biết gảy đàn môi, thổi kèn lá rất điêu luyện.

Nhạc cụ của người H’mông khá độc đáo, có khèn, sáo và những nhạc cụ như kèn lá, đàn môi tuy giản dị nhưng lại phát ra những âm thanh kì bí, hấp dẫn. Khèn được sử dụng trong đám tang và một số nghi lễ trong gia đình. Những lúc đi đường hay thời khắc nghỉ ngơi trong đêm, dưới ánh trăng sau một ngày làm lụng mệt nhọc, các chàng trai cũng hay cất lên những điệu khèn da diết. Đàn môi, kèn lá cũng là phương tiện trao đổi tâm tình của nam, nữ. khác với khèn bè, tiếng vang vọng trên cả một vùng núi non cao rộng, kèn lá, đàn môi chỉ tạo nên những âm thanh thầm thì cho từng người trong cuộc.

Tín ngưỡng – tôn giáo

  • Tín ngưỡng Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:

Đây là một tín ngưỡng quan trọng của đồng bào H’mông, trong đó thờ cúng ông bà, cha mẹ và những người đồng tộc đã khuất mà theo quan niệm của họ là những người trong phạm vi ba đời trở lại.

Khác với người Việt, người Tày, đa số các dòng họ người H’mông không lập bàn thờ tổ tiên riêng. Nơi thờ cúng chỉ là một tờ giấy hình chữ nhật gián trên vách hậu nơi gian giữa nhà. Một số dòng họ có lập bàn thờ ở chính giữa gian cúng, cách mặt đất từ 1 – 1.5m. Trang trí trên đó chỉ là tờ giấy bản và ba ống hương. Một số nhà còn thờ cúng tổ tiên ở “ cột ma”.

Nơi thờ là chỗ thiêng, chỉ có chủ gia đình mới được cúng mời tổ tiên và con trai mới được đến gần. Người H’mông chỉ cúng tổ tiên vào dịp mừng năm mới, lễ cơm mới hoặc khi cúng chữa bệnh. Đối với linh hồn các bậc cha, ông, cụ…,con cháu tổ chức lễ cúng theo tục lệ tang ma như: lễ tiễn đưa hồn, lễ sửa mồ mả, lễ ma khô…Tổ tiên được coi là loại thiện thần (ma lành) luôn phù hộ con cháu. Tuy nhiên, đồng bào vẫn quan niệm nếu không thờ cúng phải đạo, tổ tiên cũng có thể trừng phạt, làm cho ốm đau. Người ta còn cho rằng đôi khi tổ tiên thiếu đói còn về đòi trâu, lợn.

Xã hội truyền thống ở đây cho rằng thế giới bên kia có một nơi dành cho tổ tiên cũng như con cháu dưới trần gian, cư trú theo dòng họ. Trong niềm tin cổ xưa, người H’mông quan niệm hồn của người chết còn đầu thai vào con cháu, hồn của ông thường đầu thai vào thế hệ thứ ba trong dòng họ.

  • Hệ thống ma nhà:

Bên cạnh việc thờ cúng tổ tiên, người H’mông vẫn song song tồn tại một hệ thống “ma nhà” với những lễ thức cúng bái riêng biệt.

Ma nhà (xưv cangz): là vị thần linh được người H’mông coi trọng nhất với quan niệm là vị thần cai quản không để tiền bạc, của cải mất mát, phù hộ gia đình làm ăn phát đạt, giữ gìn các hồn người trong gia đình, không cho hồn chạy lang thang ra ngoài. “ma nhà” còn được hiểu là vị thần kiêm tính mọi chức năng của tất cả các loại ma trong nhà.

Nơi thờ ma nhà đặt ở bức vách gian giữa, đối diện với cửa ra vào và trang trí rất đơn giản. Người H’mông cúng “ma nhà” vào dịp tết đón mừng năm mới, lễ cơm mới, lúc gia đình co người ốm đau, khi trồng trọt hoặc chăn nuôi gặp vận hạn, cần trừ tà và cầu xin được phù hộ. Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Ma cột chính (cu ndex dangz): Đó là cây cột giữa của vỉ kèo thứ hai ngăn gian đầu hồi bên phải hoặc bên trái vơi gian giữa, tùy theo từng dòng họ. Người H’mông quan niệm “ cột ma” là cột linh thiêng, người lạ không được dựa lưng vào cột ấy, không treo lên cột bất cứ thứ gì, không được gõ đập vào cột, mọi người luôn phải kiêng tránh gìn giữ.

Cột chính là nơi thờ “ma lợn” (buô dangz) – Nó tượng trưng cho sự hưng thịnh của gia đình, liên quan đến sức khỏe và vận mệnh của mọi người trong nhà. Cúng “ ma cột chính”, theo quan niệm của đồng bào H’mông vượt qua hoạn nạn để tìm lại chữ viết đã mất.

Ma cửa( khaor trôngx plangl): Đó là vị thần linh được quan niệm là chuyên việc canh giữ cửa, ngăn ngừa các ma ác vào nhà, bảo vệ gia súc, bảo vệ của cải, bảo vệ các linh hồn, giữ gìn không cho linh hồn của các thành viên trong gia đình bỏ đi.

Theo quan niệm của đồng bào, “ma cửa” thường ngự ở tấm vải đỏ dán trước cửa chính. Ma cửa thường được cúng vào dịp tết, khi có người ốm đau hoặc mất mát tài sản.

Ma buồng: Theo quan niệm của người H’mông, ma buồng liên quan tới việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe trẻ thơ, phát triển đàn gia súc. Khi một đôi vợ chồng gia ở riêng có con đầu lòng và làm lễ đổi tên lót cho người bố, gia đình đó mới có tư cách và đủ điều kiện thờ ma buồng.

Ma bếp lò(khaor txul): Ma bếp liên quan đến việc sinh nở của phụ nữ và luôn phù hộ cho việc chăn nuôi gia súc, gia cầm. Do đó tục kiêng dẫm chân lên bếp lò, kiêng làm hư hại lòng lò bằng đất, không được gõ và đánh vào bếp. Lúc lợn chửa thì kiêng không lấy tro trong bếp, muốn nhấc chảo cám ra phải để một hòn đá vào giữa bếp. Người ta tin rằng nếu không kiêng như thế thì lợn , gà, dễ bị dịch bệnh, phụ nữ khó đẻ hoặc đẻ quái thai, dị hình.

Ma bếp lửa(khaor chuz): Vị thần linh này được quan niệm là có tác dụng tiêu diệt ác ma. Sau lễ gọi hồn, người ta ném vào bếp lửa những con sâu bọ- được coi là hồn bệnh tật. Ma bếp lửa còn được tin là cũng dễ gây ra ốm đau bệnh tật.

  • Thần thổ địa

Trong phạm vi làng, người H’mong thường thờ cúng thổ địa. Thần được thờ ở gốc cây to hoặc hòn đá lớn trong khu rừng cấm. Có khi thổ thần của làng chỉ là hòn đá to có hình thù kì dị. Việc thờ thần cây, thần đá là hiện tượng phổ biến của cư dân vùng Đông Nam Á. Tuy nhiên, không chỉ có thế, những anh hùng lịch sử, anh hùng văn hóa, những người có công khai phá vùng đất mới, có công lập làng khi qua đời cũng được dân làng suy tôn làm thần bản địa. Các vị thần này thường trú ngụ trong một mái đá, hang đá hoặc một gốc cây to trong rừng cấm.

  • Tôn giáo Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Vật linh giáo:

Xã hội H’mong quan niệm con người và một số loài trong thế giới động thực vật đều có phần xác và phần hồn. Phần xác là thực thể hiện hữu, còn phần hồn rất quan trọng vì nó chi phối phần xác nhưng không thể tìm thấy.

Người H’mong còn tin chỉ người và các động vật lớn là có hồn còn các loài vật nhỏ bé như ruồi, muỗi là không có hồn. Trong thế giới thực vật, những cây trồng chủ yếu liên quan đến đời sống của người H’mong đều có hồn như cây lúa, ngô, thuốc phiện… và các loại gỗ quý dùng để làm nhà. Loài vật càng đặc biệt thì hồn càng đáng sợ. Những gốc cây có hình thù kì dị thì đều có “tinh”, luôn bày những trò mà quái để trêu chọc con người nên một số nơi người ta phải thờ cúng những “ tinh linh” này.

Xã hội cổ truyền H’mong quan niệm mỗi con người đều có ba linh hồn (pli). Hồn chính ở đỉnh đầu (trong thóp). Với trẻ em, hồn rất yếu do đó phải kiêng không được xoa đầu trẻ. Hồn thứ hai ở rốn cai quản thân thể và nội tạng. Ở phụ nữ, hồn này yếu hơn nên thường hay đau bụng. Hồn thứ ba ở ngực, thường rất ít bỏ đi, khi bỏ đi bệnh sẽ nặng. Vì vậy, người H’mong hay thường đeo vòng vía, tượng trưng cho chiếc chìa khóa, được thầy cúng phù phép ngăn cản hồn đi đây đó.

Người ta tin rằng hồn liên quan đến sức khỏe và sinh mệnh của con người. Nếu một trong ba hồn rời khỏi cơ thể, con người sẽ bị ốm đau. Trường hợp một trong ba hồn ra đi, gọi không về sẽ dẫn đến cái chết.

Khi tắt thở, ba linh hồn sẽ rời khỏi thể xác và đi ba nơi khác nhau. Hồn thứ nhất sẽ bay lên trời về với tổ tiên. Hồn thứ hai cũng bay lên trời nhưng để thưa kiện với trời là tại sao trời bắt người phải chết, linh hồn này sẽ ở tầng giữa, gác mộ và hay về quấy nhiễu người khác.

Các quan niệm về linh hồn nói trên đã ảnh hưởng đậm nét đến việc thờ cúng tổ tiên, đến Sa man giáo – một loại hình tín ngưỡng phổ biến của người H’mong.

  • Sa man giáo: Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Đây là hình thức tôn giáo chuyên biệt, có người chuyên nghiệp hành nghề, thường được gọi là thày Sa man – những người được xem là có khả năng phù phép đắm mình vào trạng thái hôn mê, trực tiếp giao thiệp với thần linh.

Bổn phận chủ yếu của thày Sa man là cầu cúng chữa bệnh, đi sang thế giới dụ dỗ, tìm bắt hồn người ốm trở về. Ngoài ra, họ còn biết bói toán, đoán tìm của cải bị mất, chủ trì một số nghi lễ tôn giáo. Các thày Sa man không chỉ là người cầu cúng chữa bệnh mà họ còn là những người am hiểu về luật lí, phong tục tập quán của người H’mong. Đó là những người có uy tín trong làng, từ việc chuyển nhà, làm lễ gọi hồn cho trẻ nhỏ, làm ma người chết… đều có sự hướng dẫn và tham gia của thày Sa man. Thày Sa man muốn giao tiếp được với thế giới bên kia phải có sự hỗ trợ của tổ sư. Tổ sư được quan niệm là người hiểu biết về thế giới bên kia và có khả năng dẫn đường cho thày cúng tìm hồn, trừng trị ác ma, giữ hồn người bệnh.

Mỗi thày Sa man đều có bàn thờ riêng. Đó là một khối hình hộp chữ nhật dựng bên cạnh bàn thờ tổ tiên ở gian giữa. Ông tổ sư từ ngoài muốn vào bàn thờ hoặc thầy cúng muốn xuất thần du ngoạn sang thế giới bên kia phải qua cầu dẫn đường.

Cầu dẫn đường gồm ba cây tre dài nhỏ như cần câu đều còn lá. Một cây buộc ở chỗ giáp ranh giữa mái nhà và từ tiền đồng thời hướng về bếp lửa. Ba sợi cây lanh vắt qua ba ngọn cây tre nối chúng với bàn thờ thầy Sa man. Những sợi cây lanh này tượng trưng cho đường đi của tổ sư và hồn của thày Sa man. Qua ba sợi chỉ và ba cây tre, thày Sa man có khả năng đi từ thế giới bên này sang thế giới bên kia. Khi làm lễ, thày Sa man ngồi trên một cái ghế dài, lắc lư đầu, tìm cảm giác váng đất để dễ nhập đồng. Tấm ghế tượng trưng cho con ngựa thần. Nhờ ngựa này, thày Sa man mới có khả năng đi sang thế giới bên kia.

Tìm hiểu các bài cúng của thày Sa man, nhận thấy thế giới bên kia cũng đơn giản. Thế giới trên trời có Chử Lầu và các thần Sét, thần Mưa, thần Gió, thần Sương Mù. Các thần linh này có chức năng phán xét hồn người chết sẽ đâu thai thành người hay xúc vật – tùy theo đạo đức của người khi còn ở thế gian. Trên trời có nơi ở của tổ tiên, có hoa thơm cỏ lạ…

Quan niệm về thế giới dưới mặt đất của người H’mong dưới mặt đất cũng thật đơn giản. Họ không có từ chỉ địa ngục. Với người H’mong, hình ảnh về thế giới bên kia chỉ là hố sâu trong lòng đất tối tăm. Những người sống ở trần gian không có nhân đức thì lúc chết hồn xuống thế giới bên kia phải lao động cực nhọc trong bóng tối.

  • Tô Tem giáo:

Hình thức tô tem giáo của người H’mong khá mờ nhạt, thường chỉ thấy một số vết tích trong huyền thoại như kiêng không ăn một số loài vật. Họ Hờ có huyền thoại bà mẹ khỉ nuôi dưỡng con cái nhưng bị họ hàng nhà chồng phụ bạc. Họ Vừ có chuyện kể về người đàn ông bị ốm nặng, sắp chết thì đến đêm có hai vợ chồng con nai tới bảo vệ. Từ đó họ Vừ coi loài nai là họ hàng và kiêng không ăn thịt nai. Họ Lầu, họ Sùng kiêng không ăn thịt gấu…

Như vậy, trong năm đặc trưng của Tô Tem (biểu tượng về vật tổ, huyền thoại về vật tổ, tục kiêng cữ không ăn thịt vật tổ, nghi lễ liên quan đến vật tổ, niềm tin khi chết sẽ tái sinh trở lại kiếp của vật tổ) thì vùng người H’mong chỉ tìm thấy ba đặc trưng: huyền thoại về vật tổ, tục kiêng cữ không ăn thịt vật tổ và niềm tin khi chết sẽ tái sinh trở lại kiếp của vật tổ. Nhưng những đặc trưng này chỉ thấy biều hiện mờ nhạt, không có tính hệ thống. Phải chăng đây là những mảnh vụn còn rơi rớt lại của Tô Tem giáo của cộng đồng người H’mong.

  • Phong tục- tập quán Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Sinh nở và nuôi con

Khi sinh nở, người H’mong thường sinh tại nhà trong buồng riêng của vợ chồng, do mẹ chồng đỡ. Mẹ ruột không được đỡ vì là người họ khác, nên người ta quan niệm nếu mẹ ruột có mặt trong lúc con gái sinh sẽ mang lại những điều không tốt cho gia đình đứa trẻ và sản phụ. Lúc trở dạ, sản phụ ngồi dưới đất, phía cuối giường, tay vịn vào thành giường, người đỡ vào phía sau. Nếu khó đẻ, người nhà luộc cho sản phụ một quả trứng gà để ăn một nửa và bóp chân một nửa.

Trong một tháng đầu, sản phụ chỉ ăn cơm với thịt gà hoặc thịt lợn nạc. Một tuần sau khi đẻ sản phụ mới được tắm xong phải kiêng giặt giũ trong một tháng. Qua tháng đầu, sản phụ có thể làm những việc nhẹ nhàng như giặt giũ, nấu cơm. Sau hai tháng họ đi làm nương như bình thường.

Trong ba ngày trước khi làm lễ đặt tên, trẻ sơ sinh chưa được mặc áo vì theo quan niệm bé chưa có hồn (nên nếu thời gian này đứa trẻ sơ sinh không sống được thì không phải làm tang). Hai mẹ con không được nằm ngủ trên giường mà phải trải rơm nằm cạnh bếp lò và nấu ăn riêng.

Đến ngày thứ ba, gia đình làm lễ đặt tên – ru hồn (gênh pli) cho bé. Lúc này, gia đình mời một người hiểu biết về phong tục, có đầy đủ con cháu về làm lễ đặt tên. Người này sẽ ôm một đôi gà (một con trống, một con mái) cầm một bát gạo, một quả trứng, thắp ba nén hương ra đứng ngoài hiên trước cửa chính ru hồn cho đứa bé. Khi kết thúc phần ru hồn thì đem ba nén hương cắm vào cột chính nếu là con trai, cắm vào buồng nếu là con gái. Sau đó người ta làm lễ người tên với nghi thức cầm thìa gỗ và chén mời tổ tiên ăn trước, rồi mời tất cả mọi người nên mâm ăn. Đứa bé lúc này mới được vào mâm ngồi cùng mọi người coi như trở thành thành viên chính thức trong gia đình. Khi đã uống được ba chén rượu, chủ nhà lấy hai cái chén rót ra cho từng người uống, báo cho từng người biết cái tên mình đã nghĩ sẵn để đặt cho đứa bé mới sinh. Nếu mọi người và cả nội ngoại đồng ý thì cùng uống cạn. Tiếp đó lấy chiếc áo do người mẹ khâu mặc cho đứa bé. Lúc này đứa bé mới chính thức trở thành một con người thực thụ. Và hai mẹ con có thể vào buồng và lên giường nằm nghỉ.

Đứa trẻ đầy tháng người ta làm lễ ru hồn một lần nữa. Lúc này ông bà ngoại sẽ tặng một cái địu (nếu bố mẹ không còn thì người chị gái sẽ tặng thay). Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Đứa bé từ khi lọt lòng tới khi đầy tháng mà không khỏe mạnh thì mời thầy cúng về đuổi tà mà. Nếu bói thấy cần phải làm lễ sinh nhật hoặc lễ đeo vòng bạc thì khi đầy tháng mời thầy cúng về đeo vòng bạc cho bé. Và cứ đến ngày đó hàng năm lại làm lễ sinh nhật, mời người thân thích đến chúc sức khỏe cho bé.

Khi đứa bé tròn một tuổi, bố mẹ làm lễ tạ ơn ông bà ngoại, hiến sinh một con lợn khoảng 50 kg mới hai bên họ hàng đến ăn mừng cho đứa trẻ và đặt tên đệm “già” cho bố đứa trẻ. Lễ này gọi là lễ tạ ơn cái địu.

  • Cưới xin

Cưới xin là một việc trọng đại trong đời sống. Ở người H’mông nam, nữ thanh niên hẹn hò, gặp gỡ nhau thông qua các phiên chợ, dịp lễ tết…qua đó làm quen, thổ lộ tình cảm. Vào các đêm trăng, các chàng trai H’mông thường kéo thành từng tốp, mang theo khèn sang nhà bạn gái để gửi gắm tâm tình. Khi đã tìm được người ý hợp tâm đầu, các chàng trai thường mang kèn môi đến sau vách nhà cô gái “nói chuyện”, nghe tiếng nhạc cô gái mời chàng trai vào nhà tâm sự.

Trong khi tìm hiểu, người con trai tặng người con gái kỉ vật để làm tin. Nếu trong ba ngày kỉ vật không bị trả lại là người con gái đã ưng thuận, thì sẽ chuẩn bị cho việc cưới xin.

Chuẩn bị: Khi chàng trai và cô gái đã có tình yêu, chàng trai về thưa chuyện với bố mẹ và mọi người trong gia đình lập kế hoạch kéo dâu. Mọi chuyện được tính toán trong bí mật, gia đình nhà gái không hề hay biết điều gì, cô gái vẫn đi lấy củi, địu nước, làm nương. Rồi một ngày như đã hẹn chàng trai xuất hiện ở nhà nhà gái. Theo kế hoạch, đang lúc tâm sự thì bạn của Chàng trai đến giúp anh kéo cô gái về nhà.

Sau khi mang được người yêu về nhà, gia đình nhà trai mổ gà để làm lễ quét phép. Đồng thời gia đình nhà trai mời một người hàng xóm sang ăn cơm để chứng kiến việc kéo vợ và ngày hôm sau, người hàng xóm này mang 1 chai rượu, một đôi gà đến thông báo cho nhà gái biết rằng con gái nhà mình đã đi với Chàng trai đó.

Sau 3 ngày từ khi cô gái được kéo về ở nhà chàng trai, nếu cô gái không đồng ý, cô sẽ mời chàng trai uống 1 bát rượu, còn cô uống 1 bát để cảm ơn chàng trai đã yêu thương mình và xin được làm bạn. Trong trường hợp cô gái đồng ý làm vợ thì gia đình chàng trai sẽ chuẩn bị những thứ tiếp theo cho việc cưới xin.

Lễ ăn hỏi: Cô gái sau khi ở nhà trai 3 ngày cùng đi nương, sinh hoạt với gia đình, cô đã đồng ý nhận lời lấy chàng trai làm chồng. Sau đó bố mẹ chồng nhờ một người đàn ông đi làm mối cho con mình. “Tua lềnh xa” (người làm mối) sang nhà cô gái với mục đích hỏi nhà gái cần những thứ gì cho lễ ăn hỏi và lễ cưới. Trong lễ ăn hỏi, chủ hôn là chú của chàng trai cùng với các chàng trai trong bản (tất cả là 8 người) mang các lễ vật đã thỏa thuận trước giữa người làm mối và nhà gái. Trong lễ vật bắt buộc phải có một con gà trống, 1 chai rượu và chỉ màu. Lễ xin định ngày cưới (Nu hâu ché) có nghĩa là nối lời khi gia đình nhà Sùng đã chọn được ngày lành tháng tốt, trưởng họ sang nhà gái thỏa thuận định ngày cưới và lễ vật trong ngày cưới. Sau 1 tuần lễ cưới chính thức được tổ chức. Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Lễ cưới: Lễ cưới chính thức (Sì chin hâu ché), nhà chàng trai mang lễ vật sang nhà gái từ chiều hôm trước. Lễ dẫn cưới gồm có một khoản tiền, 60kg thịt lợn, 60 bát rượu, gạo… trong đó gà trống là lễ vật quan trọng nhất. Lễ đón dâu được tổ chức vào sáng hôm sau. Cô dâu mặc áo màu đỏ, váy hoa, đầu quấn khăn xanh. Lễ cưới diễn ra trong những cuộc mời rượu, đối đáp giữa các thanh niên, thiếu nữ. Sau đó cô dâu làm lễ cúng tổ tiên, ma nhà, ma cửa… để về nhà chồng. Khi về nhà chồng, gia đình nhà chồng bày một mâm cơm cúng tổ tiên để ra mắt con dâu.

Hiện nay, trai gái người H’Mông được tự do tìm hiểu và tự quyết định hôn nhân của mình. Nếu ưng thuận, họ sẽ về báo cáo với bố mẹ, dòng họ. Khi đó nhà trai sẽ mời ông mối sang đánh tiếng dạm hỏi. Nếu nhà gái ưng thuận, hai bên sẽ định ngày tốt rồi tiến hành lễ ăn hỏi (hẹn cưới) sau đó là lễ cưới (đón dâu).

  • Ma chay

Người H’mong quan niệm, chết là về với thế giới bên kia, ở đó con người vẫn tồn tại, vẫn có một đời sống bình thường… sau khi trọn đời ở nơi trần thế, con người trở về sống với tổ tiên. Khi có người chết, gia chủ báo cho anh em, làng xóm biết bằng cách bắn súng kíp (đối với người trẻ thì bắn ba phát, người giá thì bắn năm, bảy, chín phát) sau đó lấy tù và thổi ba hồi. Anh em dòng họ, bà con trong làng thấy tín hiệu sẽ nghỉ việc đến chia buồn và hợp sức với tang chủ.

Ngày đầu của tang lễ, họ kiêng không cho người lạ vào nhà. Người ta lấy một tấm áo cũ của chủ nhà (có dòng họ lấy bất cứ một tấm vải hoặc tờ giấy nào cũng được) che bàn thờ tổ tiên – nếu người chết là trẻ em hoặc đàn bà. Nếu chủ nhà chết thì không cần che mà dỡ bàn thờ ra đốt rồi gói tro đốt vào huyệt vì chủ nhà chình là “chủ ma”.

Người ta lấy một tấm vải lanh trắng vừa dệt xong, cắt thành hình vuông có chiều rộng theo khổ vải hoặc tờ giấy nào cũng được, khoảng từ 20-35 cm làm khăn lau mặt cho người chết. Dùng một thùng gỗ Pơ mu có chiều cao khoảng 40 cm đựng nước sôi rửa mặt và chân tay cho người chết. Rửa xong nước không được đổ ra ngoài mà phải đổ vào buồng của chủ nhà. Thùng gỗ đựng nước lau rửa được giữ lại để đựng cơm cho người chết.

Tử thi lúc này được mặc quần áo mới bằng vải lanh. Theo quan niệm truyền thống của người H’mong thì chỉ mang y phục bằng vải lanh, người chết mới có thể trở về với tổ tiên và tổ tiên của họ mới nhận diện được con cháu.

Khâm liệm xong, người ta làm một cái cáng bằng tre hoặc gỗ để dưới bàn thờ tổ tiên rồi đặt thi hài lên đó. Lúc này, anh em họ hàng mới đi người làm chủ đám tang và làm thợ kèn. Chủ đám tang phải là người cùng dòng họ, am hiểu về phong tục trong họ. Sau khi người chết được khâm liệm chủ đám tang mới bắt đầu làm lễ “chỉ đường” (khúa kê) cho người chết.

Người nào không có con trai thì chỉ dùng sợi lanh, còn người có con trai thì con dâu dệt vải lanh trắng chưa nhuộm dài từ bốn đến năm sải tay làm dây buộc cáng nối với xà nhà và cũng dùng dây lanh buộc thi hài vào cáng. Đến đây, anh em, bạn bè, họ hàng lên tiếng khóc chia tay. Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Khi các thủ tục trong gia đình đã hoàn tất, tang chủ mới cho đánh trống báo hiệu mọi người trong làng có thể lần lượt vào thăm. Hôm trước ngày đưa đám, chủ tang, thợ khèn, ông cậu, ông rể cùng bàn bạc về việc hôm sau mổ trâu hay bò. Tối đóm người ta đem tiền vàng ra đốt. Đêm đến tất cả con cháu cúi rạp xuống quỳ lạy nghe ông chú đứng lên nói (nếu bố chết), hoặc ông cậu đứng lên nói (nếu mẹ chết) bài “phòng cảo”.

Sáng hôm sau, thi hài vẫn để nguyên trên cáng rồi đưa ra một bãi đất chưa có ai làm mà ở đó bao giờ. Ngoài bãi đã dựng sẵn một sàn cao 1m, thi hài được đặt lên đó, đầu hướng về nhà cũ. Giữa bãi dựng một cây còn cả ngọn có hai cành dùng để treo khèn, trống. Cây có ngọn tượng trưng cho vật trung gian nối giữa thế giới người sống và thế giới người chết, giữa trời và đất.

Người ta chọn giờ tốt để thầy cúng bắt đầu cúng bài đưa thi hài đi mai táng, khèn trống, giục giã giai điệu “lên đường”. Những trai tráng trong ban lễ tang khiêng cáng người chết chạy nhanh như ngựa đến huyệt. Đến huyệt, thày cúng ngắt ba ngọn cỏ ranh làm động tác quét quan tài với quan niệm xua đuổi tà ma sau đó mới đặt người chết vào quan. Con gà cúng buộc vào cáng thì đặt xuống đầu mộ. Thùng gỗ đựng cơm cho người chết thì đập vụn ra, rải các mảnh vỡ cũng cơm xung quanh quan tài rồi lấp đất lại.

Khi trở về, tất cả những người khiêng quan tài, tiếp xúc với thi hài đều phải rửa tay ở thùng nước đặt trước cửa nhà và hơ tay trên bếp lửa. Đó là dấu hiệu đề phòng hồn ma người chết bắt đi và cũng là tập tục tốt để gìn giữ vệ sinh. Mai táng được ba ngày, thì gia đình tang chủ tổ chức lấy cây về phủ mộ, rào dậu, che chắn bảo vệ cho mộ phần.

  • Lễ hội

Trong một năm, đồng bào H’mông có hai Tết lớn: Tết năm mới và Tết mồng 5 tháng 5.

Tết năm mới ở đây rơi vào khoảng đầu tháng Chạp âm lịch.

Tết đón mừng năm mới.

Đây là cái tết quan trọng nhất của cộng đồng H’mông, đó là thời khắc thiêng liêng để người H’mông tưởng nhớ tổ tiên, tỏ lòng biết ơn trời – đất đã cho thu hoạch mùa màng và cầu mong vụ mùa năm mới tươi tốt… Bắt đầu từ ngày 26 tháng 11 âm lịch, mọi người đã chuẩn bị các vật dụng cần thiết như rượu, hương, củi, mổ lợn và làm bánh dầy để đón mừng năm mới.

Đêm 30 rạng sáng ngày mồng 1, khi gà cất tiếng gáy chào ngày mới, một người trong nhà cầm 3 thẻ hương cùng giấy bản đến giếng hoặc khe lấy nước về nấu cơm. Nồi cơm ấy gọi là cơm mới để cúng. Cúng xong, người ta không ăn mà đem nhét vào các gốc cây quanh nhà với ý nghĩa cho cây sai hoa kết trái. Chủ gia đình cắt tiết một con gà để cúng các vị thần trong nhà như: thần nhà, thần cửa, thần cột, thần bếp… rồi thả ra xem gà quay đầu về hướng nào mà đoán định mọi việc trong năm.

Chủ nhà lấy một ít lông và tiết gà dính vào giấy rồi dán lên vách. Những vật dụng trong gia đình như: cái rìu, cái cuốc, khẩu súng… theo quan niệm của người H’mông chúng đều có công tạo ra của cải nuôi sống gia đình, nên vào ngày tết chúng được tập trung dựng cạnh bàn thờ. Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Những ngày sau đó mới đúng là ngày hội của nam nữ thanh niên với nhiều trò vui chơi cổ truyền như: ném pao, đánh cầu lông gà, đánh quay, đá bóng… trai gái còn thi hát đối đáp, múa khèn, thổi khèn lá, trẻ em thì chơi những trò như: rải đá, nhảy dây.

  • Hội Gầu tào

Cũng trong dịp tết đón mừng năm mớ nhiều gia đình còn đứng ra tổ chức “hội Gầu tào”. Lễ hội được tổ chức nhằm mục đích cho gia chủ cầu con, cầu cho bản làng được mùa màng bội thu. Thời gian mở hội thường trong khoảng từ ngày mồng 1 đến khoảng ngày 15 tháng Giêng. Nếu hội tổ chức 3 năm liền thì mỗi năm tổ chức 3 ngày liền, hội làm gộp một năm sẽ tổ chức 9 ngày. Ngày mở hội Gầu tào là do thầy cúng tế trong bản và gia chủ quyết định, thường chọn ngày Thìn, ngày Sửu trong tháng đầu tiên của năm mới.

Ngay từ cuối tháng Chạp, khi được thầy cúng bói xin mở hội, gia đình mở hội cầu phúc, cầu mệnh, cử ra một người chặt cây làm cây nêu. Lễ dựng nêu được tổ chức, nơi trồng nêu cũng là địa điểm mở hội. Cây nêu được chôn nơi cao nhất thường là đỉnh đồi. Khi dựng xong gia chủ còn làm lễ cúng ở ngay chân cột nêu. Mời tổ tiên các thần phù hộ cho có con, mọi thành viên đều khỏe mạnh, bằng an kế tục việc làm ăn theo dòng họ. Cây nêu được dựng lên, các làng gần, làng xa biết năm nay sẽ mở hội Gầu tào, nhà nhà háo hức chuẩn bị.

Sau khi làm lễ cúng cầu mong trời đất cho gia chủ và mọi người sức khỏe, mùa màng bội thu, mọi người tỏa ra các ngọn đồi thấp hoặc các bãi ruộng bằng xung quanh chơi xuân. Các thiếu nữ H’ Mông trong trang phục rực rỡ sắc màu, tái hiện phong tục, tập quán và văn nghệ dân gian của dân tộc mình. Sôi động và tưng bừng nhất là khu thi đấu các môn thể thao truyền thống dân tộc H’mông. Các chàng trai so tài cao thấp, thể hiện sức khỏe và bản lĩnh của người miền sơn cước.

Hết thời gian hội, gia chủ làm lễ kết thúc, cây nêu được hạ xuống, thầy mo đốt quẻ giấy, hốt than cho vào gáo nước, vừa đi vủa cầu khấn. Sau mỗi đoạn khấn vái, thầy lại hớp một hụm nước phun ra xung quanh, gia chủ cầm bầu rượu hạ từ trên cây nêu đi theo thầy mo cũng vẩy rượu ra khắp nơi. Mảnh vải đỏ thì treo trong nhà, cầu mong hồng phúc đời đời.

  • Văn hóa ẩm thực

Ăn uống của người H’mông dựa vào nguồn lương thực từ trồng trọt, chăn nuôi, khai thác các sản vật trong tự nhiên. Trước kia, họ thường ăn ngô xay nấu thành bột hoặc nấu chín nửa vời rồi đồ. Thường ngày, họ ăn cơm gạo tẻ theo cách chế biến đồ trong chõ gỗ. Đa số các món ăn chủ yếu được chế biến theo cách luộc hoặc xào. Các loại thịt nếu có nhiều ăn tươi không hết, họ thường để dành bằng cách sấy khô để trên rách bếp (giàn bếp). Người H’mông xúc thức ăn bằng thìa gỗ, dùng đũa chỉ là phụ. Khi có khách phụ nữ không được ngồi ăn chung, chủ nhà bao giờ cũng ngồi ở trên, lưng quay vào bức vách hậu gian giữa. Vào những ngày chợ phiên, đồng bào thường nấu thắng cố, người H’mông rất thích uống rượu nhất là rượu ngô do họ tự chưng cất.

Người H’mông có một số món ăn nổi tiếng như: Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

  • Thịt trâu khô

Khi thịt trâu tươi ăn không hết, người H’mông làm thịt khô để ăn dần. Thịt nạc đem thái thành miếng dài 15 – 20 cm, sau đó ướp muối và gia vị. Sau khi thịt đã ngấm muối và gia vị, người ta đem xâu thịt bằng nạt tre mỏng, mỗi xâu chừng 10 miếng rồi treo lên gác bếp. cứ như vậy thịt để khô rồi ăn dần.

Thịt trâu khô có thể chế biến thành nhiều món ăn. Khi có khách thịt trâu khô được chế biến theo hình thức: thịt trâu được cạo bỏ lớp đen bám bên ngoài, sau đó đem đập dập, nướng trên bếp than cho dậy mùi, sau đó pha nước tương gồm đường, chanh, mắm và thêm loại tương đặc biệt do đồng bào tự làm.

  • Món măng đắng

Ai đã từng một lần lên Tây Bắc không thể không thưởng thức món ăn này. Măng ngon là thứ mầm cây thuộc họ tre, trúc… mới nhú một hai đốt ngón tay trở xuống, phần thân còn lại ngập trong đất. Ở Sa pa măng đắng người ta có thể chế biến thành rất nhiều món hấp dẫn như hầm xương, xào mẻ, luộc chem, mẻ ớt, hay luộc chấm với mẻ chưng cùng trứng gà, muối. Đơn giản nhất là món măng đắng luộc chấm gia vị khiến ai đã từng ăn một lần thì khó có thể quên được hương vị của nó.

  • Mèn mén

Người H’mông và các cư dân trồng ngô ở đây ăn ngô theo kiểu đồ bột( màu của mèm mén) họ dùng nước rưới bột ngô rồi trộn đều sao cho vừa ẩm, sau đó cho vào cái hoong bằng gỗ ghép (lú chu) và đặt vào vạc đồ suốt, hết hơi thì đổ ra rưới nước, trộn đều và đồ lại một lần nữa. Như vậy, bột ngô mới chín kĩ và nếu để lại cho bữa sau thì “ mèn mén” vẫn không bị rắn. Mỗi ngày đồng bào chỉ làm “mèn mém” một lần và dùng cho cả ba bữa trong ngày. Do món “mèn mén” là bột ngô đồ khô nên trong bữa ăn đồng bào thường ăn kèm với món canh. Ngoài món “mèn mén” còn nhiều món ăn làm từ nguyên liệu ngô như: chua xía (bánh ngô non), chua phụ (bánh chua, làm bằng ngô già), giom lậu (bánh ngô nếp)…Bánh ngô non thường làm vào đầu vụ ngô, bánh chua thường làm bán trong các chợ phiên.

  • Rượu ngô

Rượu ngô là món đặc sản nổi tiếng của vùng này. Rượu chẳng những được dùng trong những ngày lễ tết mà còn được dùng phổ biến hàng ngày. Bếp ở nhà người H’mông nào cũng có một chảo to để nấu rượu ngô. Để nấu thành rượu phải rất công phu. Ngô được nấu trong hai ngày, trong khi nấu, nếu ngô cạn nước thì phải cho thêm nước vào chảo ngô, công việc nay diễn ra liên tục trong hai ngày đun nấu. Sau đó họ đổ ngô ra để ráo và bắt đầu quá trình ủ men. Dụng cụ nấu rượu rất đặc biệt, được cấu thành bởi một cái nồi nấu rượu có vòi nối với một cái thùng nước lạnh, khi đun để cho hơi nước rượu đọng vào nắp nồi chảy qua vòi bắc qua thùng nước lạnh thì mới thành rượu. Muốn cho độ rượu nặng hay nhẹ tùy vào người nấu. Ai đến Sa Pa thì đều có ý định mua rượu ngô về làm quà cho bạn bè và người thân. Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

  • Thắng cố

Theo các cụ già người H’mông truyền lại: trước kia người ta chỉ chế biến thắng cố từ thịt ngựa và chỉ bằng thịt ngựa mới. Nhưng nay vì nhiều lý do nên thắng cố còn được chế biến bằng thịt trâu, thịt dê, thịt lợn…

Kĩ thuật chế biến thắng cố tương đối đơn giản: sau khi con vật được làm thịt sạch sẽ xong, tất cả lục phủ ngũ tạng của nó được chặt ra thành từng miếng. Trên bếp lửa rực hồng, một cái chảo cỡ lớn đặt sẵn. Tất cả các thứ như: thịt thủ, thịt mông, xương đầu, tim, gan, lòng, phổi của con vật sẽ được đổ vào chảo cùng một lúc, xào lăn. Đợi ít phút miếng thịt se se cạnh người ta đổ nước vào chảo và cứ thế ninh sôi sùng sục hàng tiếng đồng hồ. Ngoài muối là chủ yếu và một tí mì chính thì gia vị cho món thắng cố cần phải có thảo quả, địa điền nướng thơm, tán nhỏ, ướp vào thịt trước lúc đem xào. Khi thắng cố chín kỹ, các thứ gia vị bổ trợ cho nhau tạo nên một thứ hương vị đặc trưng quyến rũ. Theo làn gió mới, thắng cố lan tỏa từ đầu chợ đến cuối chợ như mời gọi, như chèo kéo mọi người. Không một lời rao bán và không một hình thức quảng cáo nào hiệu quả hơn, chinh phục vào “cái bụng” khách hơn thế.

  • Xôi ngũ sắc

Xôi ngũ sắc là loại xôi 5 màu mà đồng bằng thường làm trong dịp lễ tết hoặc trong những dịp ma chay, cưới hỏi, hội hè… Xôi ngũ sắc được làm rất công phu, các màu sắc trong đĩa xôi rất đặc trưng tạo nên sự hấp dẫn. Trong đó gồm có màu: tím, xanh, đỏ, vàng và màu trắng. Màu của xôi ngũ sắc được chế biến từ màu của các loại cây.

Để có được chõ xôi ngon trước hết phải chọn loại gạo nếp ngon, thơm, bỏ những hạt gãy, chọn lấy những hạt đều nhau, sàng sẩy sạch sẽ. Khâu chuẩn bị vật liệu màu là rất quan trọng, các loại cây lấy về phải tươi, không bị gãy và dập nát. Mỗi loại màu được chế biến một cách khác nhau.

  • Màu tím:

Đây là loại màu đặc trưng không thể thiếu được trong chõ xôi, đây là màu được chế biến từ cây “chẳm” hay “cẩm”. Cây này thường được các gia đình tự trồng để sử dụng. Cây chẳm sau khi được cắt đem rửa sạch rồi cho vào nồi đun khá lâu (đun sôi khoảng 20 phút), lượng nước cho vừa phải để cho nước có màu tím. Để ngâm gạo nếp thơm vào nước màu thì cần phải đãi sạch gạo trước rồi ngâm vào nước cây chẳm. Thời gian ngâm khoảng 4 – 6 giờ, sau đó bỏ gạo ngâm ra chuẩn bị đồ.

  • Màu đỏ nhạt:

Cũng là màu đặc trưng, cùng là cây chẳm nhưng cách chế biến màu thì khác. Cây chẳm được lựa chọn lấy loại cây thấp về rửa sạch rồi cho vào chậu hoặc máng gỗ vò kỹ. Để tạo loại màu này cần phải dùng rơm của bông lúa làm cốm phơi khô đốt kỹ rồi lấy tro đó cho lẫn vào cây chẳm đã rửa sạch vò lẫn. Sau đó cho nước vào và lọc lấy nước vò ra có màu đỏ nhạt. Cũng như màu tím, gạo được vo đãi sạch sẽ rồi ngâm vào nước đã được lọc. Do ngâm bằng nước nguội nên phải ngâm lâu hơn màu tím một chút. Xôi của màu này sau khi đồ chín màu rất đệp, nhất là sau khi trộn đều với các màu khác.

  • Màu vàng: Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Màu vàng của xôi ngũ sắc có thể dùng hai loại vật liệu thực vật khác nhau, đó là dùng củ nghệ vàng hoặc dùng cây “đoọc rả”. Mỗi loại vật liệu cho ta một màu vàng khác nhau về độ đậm nhạt.

Màu vàng của nghệ: Nghệ củ tươi sau khi được đào đem về để 5 – 7 hôm, sau đó rửa sạch, để vào trong rổ cho ráo nước. Khi làm xôi, nghệ được đem ra cối giã nhỏ, cho thêm nước vào khuấy đều rồi dùng một miếng vải mỏng để lọc nước nghệ.

Sau đó cho gạo vào chậu nước nghệ để ngâm, khoảng 6h đổ gạo ngâm ra rá cho sạch nước nghệ rồi mới chuẩn bị đồ.

Màu vàng của cây “đoọc rả”: Đây là loại cây khá hiếm mọc trong tự nhiên, cây này cao khoảng 40 cm, lá có gợn, thân cây nhỏ. Sau khi lấy cây cắt từng phần thân đem về rửa sạch rồi cho vào nồi đun, chỉ cho lượng nước vừa ngập sau đó đun sôi khoảng 30 phút, gạn lấy nước để nguội rổi đổ gạo vào ngâm. So với màu vàng của nghệ thì màu vàng cảu cây “đoọc rả” có màu đẹp hơn.

  • Màu xanh:

Màu xanh được tạo nên từ lá cây gừng. Lá cây gừng được hái về rửa sạch lọc lấy nước để ngâm gạo. Sau khi ngâm gạo vào nước gửng vò kỹ thì đổ gạo ra rá cho khô, chờ trộn với các màu khác để đồ xôi.

  • Màu trắng:

Đây là loại rất đơn giản, không dùng màu chỉ cần chọn gạo đều hạt như các loại gạo ngâm màu. Sau thời gian ngâm gạo được đãi sạch sẽ trộn đếu các loại màu rồi tiến hành đồ.

Sau khi ngâm gạo đủ thời gian, tất cả được đổ ra rổ để kiểm tra rồi đổ vào chậu to trộn đều các màu gạo với nhau, sau đó tiến hành cho gạo vào chõ gỗ. Đáy chõ đồ xôi được đan bằng nan tre vót nhỏ. Lúc này gạo được đổ đều trong chõ và san mặt trên phẳng và chuẩn bị cho nên chảo nước để đồ. Trên chõ được đậy kín bằng nắp gỗ.

Một chõ xôi từ 5 – 7 kg thường đồ khoảng một giờ, lượng nước để đổ vừa phải không để nước trào lên xôi. Đồng thời đun lửa vừa phải, sau khoảng 1h thì mở ra dùng đũa dài bới kiểm tra phía đáy chõ. Sau khi xôi chín, chõ xôi được nhấc hẳn ra và phải chuẩn bị sẵn một chiếc mẹt to để đổ toàn bộ xôi rồi mới đơm ra bát và xôi được đắp đầy hình tựa như trái núi.

Xôi ngũ sắc được nhuộm bằng các loại cây thực vật nên không ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Ngược lại còn có tác dụng chữa bệnh của lá gừng của nghệ tươi. Hơn nữa nhuộm bằng các nguyên liệu tự nhiên nên màu sắc không bị phai lẫn vào nhau, các hạt gạo màu được giữ nguyên vẹn rất hấp dẫn.

Xôi ngũ sắc là một trong những sản phẩm ẩm thực độc đáo, được truyền từ đời này qua đời khác, không những thế xôi ngũ sắc còn thể hiện yếu tố văn hóa, trong đó nổi bật yếu tố tâm linh trong các nghi lễ của gia đình và cộng đồng.

2.3. Hiện trạng khai thác du lịch tộc người H’mông tại huyện SaPa Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

SaPa là một huyện vùng cao ở Lào Cai, có 45.000 người dân. Trong đó người H’Mông chiếm 52% dân số. SaPa có 98 làng, thôn, bản trong đó có 61 làng người H’Mông. Du lịch SaPa được hình thành từ đầu thế kỷ 20 nhưng hơn 15 năm qua, du lịch SaPa mới phát triển khá mạnh. Năm 1992, SaPa đón 5.000 lượt khách, đến năm 2005, SaPa đón 200.000 du khách, trong đó có 63.333 khách quốc tế. Trong 9 tháng đầu năm 2006, có 190.000 lượt khách đến SaPa, trong đó khách quốc tế có gần 50.000 người của 81 nước và vùng lãnh thổ. SaPa trở thành một trong 15 trung tâm du lịch trọng điểm của cả nước. Hầu hết khách du lịch quốc tế đến SaPa đều đến thăm các bản làng. Vì vậy du lịch đã tác động mạnh mẽ đến nông thôn SaPa, nhất là các làng người H’Mông.

2.3.1. Hiện trạng các giá trị văn hóa tộc người

  • Hiện trạng nghề thủ công

Nói đến nghề thủ công của người H’mông nổi tiếng hơn cả là nghề dệt lanh và làm thổ cẩm. Nhưng thực tế thì nghề dệt lanh, làm thổ cẩm cũng như các nghề thủ công khác của người H’mông chưa được chú ý đúng mức. Do xã hội thay đổi quan niệm về trang phục truyền thống của người H’mông đã khác trước, thay những sản phẩm tự tay dệt bằng chất liệu truyền thống thì người H’mông sử dụng loại chất liệu công nghiệp may sẵn. Hiện nay người dân ở đây dần chuyển sang các hoạt động kinh doanh phục vụ cho du khách nên các nghề thủ công truyền thống dần mất đi, sản xuất dựa trên lợi nhuận kinh doanh, do chạy theo số lượng, không ít các mặt hàng truyền thống được chế tác lại để làm hàng lưu niệm, sự cẩu thả trong sản xuất đã làm méo mó giá trị chân thực của truyền thống, sai lệch hình ảnh của nền văn hóa bản địa. Đây là thực tế đáng buồn của hầu hết các địa điểm du lịch, không chỉ của du lịch SaPa. Vì vậy cần có cái nhìn bền vững trong du lịch, có trách nhiệm trong công tác quản lý du lịch, có như vậy địa phương mới phát triển và ngày càng thu hút khách.

  • Thực trạng các giá trị văn hóa khác

Du lịch lễ hội là một trong những điểm thu hút du khách đến tham quan và tham gia. Nhưng lễ hội tộc người ở đây vẫn chưa được chú trọng, các hoạt động du lịch chỉ mang tính tự phát và chưa được các cấp chính quyền quan tâm đúng mức.

Nhà cửa và các công trình phục vụ cho hoạt động du lịch của người H’mông chưa được quy hoạch, kể cả nhà của những người làm du lịch cũng xuống cấp, chưa đáo ứng được nhu cầu của du khách.

2.3.2. Tình hình du khách đến các làng ở SaPa Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Biểu 1- Số khách đi thăm làng bản ở SaPa năm 2008

Như vậy, du khách đến các bản làng chủ yếu là đi một ngày, không ngủ qua đêm ở làng. Số du khách có thời gian lưu trú vài ba ngày chiếm tỷ lệ thấp.

Biểu 2: Số người đi theo các tuyến du lịch làng bản chủ yếu năm 2008

Du khách đến các làng H’Mông chủ yếu xem cảnh quan làng, sinh hoạt văn hoá các dân tộc. Từ tháng 1 đến tháng 4 hàng năm là thời điểm khách nước ngoài đến thăm làng H’Mông đông nhất. Bình quân mỗi ngày có từ 40 – 70 du khách đến Lao Chải, 50 du khách đến Cát Cát, Sín Chải. Thời gian lưu tại các làng H’Mông từ 4 – 6 giờ. Một số làng, một năm đón đến 37.000 lượt khách. nhưng cũng có làng mỗi năm chỉ đón vài trăm lượt khách. Song số du khách đến các làng H’Mông tăng rất nhanh trong vài năm gần đây.

2.3.3. Tác động của du lịch đến các làng người H’mông ở SaPa

  • Tác động tích cực của du lịch đến các làng người H’mông ở SaPa

Du lịch làm nảy sinh và phát triển các ngành nghề mới, khôi phục các nghề truyền thống.

Trong văn hoá người H’Mông đã xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, thích ứng với điều kiện tự nhiên không thuận lợi.

Cơ cấu kinh tế truyền thống của người H’Mông gồm 03 bộ phận chính: trồng trọt, chăn nuôi và hái lượm, tiểu thủ công nghiệp và trao đổi. Cơ cấu kinh tế này tạo ra thế “chân kiềng” trong phát triển, nhờ nó người H’Mông xác lập được thế cân bằng, duy trì sự bền vững tương đối ở môi trường thiên nhiên có nhiều bất lợi cho sản xuất lương thực. Trong cơ cấu kinh tế truyền thống, trồng trọt luôn đóng vai trò chính, chăn nuôi, nghề thủ công chỉ đóng vai trò phụ và luôn phụ thuộc vào trồng trọt. Chăn nuôi nhằm cung cấp sức kéo vận chuyển cho trồng trọt (trâu, bò, ngựa) và cung cấp nguồn phân hữu cơ phục vụ thâm canh. Ngoài ra các sản phẩm của chăn nuôi chỉ đáp ứng nhu cầu ăn thịt và các sinh hoạt tôn giáo, văn hoá. Sản phẩm chăn nuôi chưa trở thành hàng hoá. Ngược lại, khả năng trồng trọt không chỉ hỗ trợ mà còn trực tiếp chi phối đến chăn nuôi. Thức ăn tinh chủ yếu nuôi lợn, gia cầm là ngô, gạo nên những năm được mùa ngô, lúa lợn gà đều phát triển và ngược lại năm mất mùa đàn lợn, gà bị giảm sút nghiêm trọng. Hoạt động các ngành nghề thủ công chỉ đóng vai trò phụ và luôn phụ thuộc vào kinh tế nông nghiệp. Vì thế thời gian dành cho nghề thủ công là những lúc nông nhàn. Nghề thủ công tăng thêm nguồn thu nhập cho nông nghiệp, phục vụ nông nghiệp (nhất là nghề rèn đúc). Ngoài ra kinh tế hái lượm, trao đổi hàng hoá ở chợ phiên cũng thực hiện chức năng hỗ trợ cho nông nghiệp. Cơ cấu kinh tế này tồn tại như một hệ thống chỉnh thể, thực hiện các chức năng hỗ trợ cho nhau, khuyết một trong những yếu tố đó, toàn bộ đời sống H’Mông sẽ mất cân đối (xem sơ đồ). Như vậy có thể nói cơ cấu kinh tế truyền thống người H’Mông gồm 3 bộ phận cấu thành (trồng trọt, chăn nuôi và hái lượm, nghề thủ công và trao đổi hàng hoá) như hình tam giác cân có đỉnh là trồng trọt. Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Trong cơ cấu kinh tế truyền thống này, trồng trọt là chủ yếu, hầu hết mức sống, nguồn thu nhập của người H’Mông là nhờ vào trồng lúa, ngô, thảo quả, còn chăn nuôi, hái lượm ở rừng Hoàng Liên, nghề thủ công chỉ đóng vai trò phụ và luôn phụ thuộc vào trồng trọt. Loại hình canh tác chủ yếu là nương rẫy và khai khẩn ruộng bậc thang đòi hỏi phải huy động được nhiều lao động. Khi khai phá được ruộng bậc thang phải có sự tham gia của cả dòng họ, cả làng cùng lao động.

Hiện nay do du lịch phát triển, các làng H’Mông ở gần thị trấn có cảnh quan đẹp, giữ được bản sắc văn hoá trở thành những điểm du lịch hấp dẫn. Do đó du lịch đã tác động làm biến đổi đời sống kinh tế của các gia đình người H’Mông.

Trước hết là sự xuất hiện hàng loạt nghề mới phục vụ du lịch như bán hàng thổ cẩm, đồ trang sức, chở xe ôm, dẫn khách du lịch….

Biểu 3: Số người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch

Làng Cát Cát có 360 người H’Mông mà có tới 112 người tham gia hoạt động du lịch chiếm tỷ lệ 31,11% dân số. Làng Lý Lao Chải có 561 người H’Mông có 102 người tham gia dịch vụ du lịch chiếm tỷ lệ 18,18% dân số nhưng tính theo đơn vị hộ gia đình tỷ lệ số hộ có người tham gia hoạt động du lịch rất cao. Khảo sát 28 hộ ở thôn Lao Chải 1 có 22 hộ (chiếm 78,6%) số hộ có người tham gia dịch vụ du lịch. Như vậy là số người trực tiếp tham gia dịch vụ du lịch khá đông. Đó là chưa kể số người gián tiếp tham gia các dịch vụ này như sản xuất, đi mua thổ cẩm, hàng lưu niệm….

Trong các ngành nghề mới xuất hiện, có nghề hướng dẫn viên du lịch và phục vụ khách du lịch( mang đồ, dẫn đường cho khách du lịch) phát triển khá nhanh, nhất là trong tầng lớp thanh niên. Mỗi một làng người H’Mông có một vài thanh niên làm nghề hướng dẫn viên tự phát. Đặc biệt, một số công ty du lịch đã tuyển người H’Mông ở các làng đào tạo trở thành đội ngũ hướng dẫn viên chuyên nghiệp. Làng Cát Cát có 5 hướng dẫn viên người H’Mông chuyên nghiệp, làng Lao Chải có 12 hướng dẫn viên, xã Hầu Thào có 7 hướng dẫn viên….v.v. 16 làng

người H’Mông còn thành lập các đội văn nghệ phục vụ khách du lịch, thu hút khoảng 200 nam nữ diễn viên không chuyên tham gia. Một số đội ở Lao Chải, Sa Pa, San Sả Hồ không chỉ biểu diễn ở làng mà còn trở thành đội văn nghệ không chuyên của các khách sạn Victorya, BamBeo, khách sạn Châu Long, khách sạn Hàm Rồng…. Bên cạnh việc xuất hiện các ngành nghề mới, một số ngành nghề truyền thống được khôi phục và phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá như nghề thêu dệt thổ cẩm, làm đồ chạm khắc bạc. Các sản phẩm chăn nuôi của các làng H’Mông trước kia chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu ăn uống và tín ngưỡng của từng gia đình thì nay đã bước đầu trở thành các sản phẩm hàng hoá cung cấp cho các nhà hàng, khách sạn. Thông qua trao đổi hàng hoá, giao dịch với du khách, khả năng nắm bắt nhu cầu, giá cả thị trường của người H’Mông được nâng cao.

Du lịch góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống người H’Mông, giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo ở các làng người H’Mông Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Trong thập kỷ 50 của thế kỷ 20, nguồn thu của các hộ gia đình người H’Mông có tới 80% đến 90 % nhờ nông nghiệp (trong đó chủ yếu là trồng trọt và khai thác lâm sản). Nhưng hiện nay, nguồn thu từ dịch vụ du lịch đã chiếm tỷ lệ quan trọng. Trong đợt điều tra khảo sát về nguồn thu của người H’Mông ở làng Lý Lao Chải huyện Sa Pa (từ ngày 29/9 đến 12/10/2005) cho thấy vai trò dịch vụ du lịch tăng khá mạnh. Trong tổng số 30 hộ trong thôn được điều tra, nguồn thu từ dịch vụ du lịch vượt lên vị trí thứ hai đã chiếm tới 35,17% tổng nguồn thu. Nguồn thu từ trồng trọt trước kia là nguồn thu chủ yếu, hiện nay tuy vẫn là nguồn thu quan trọng nhất (vị trí t,hứ nhất) nhưng chỉ chiếm 39,5% (xem biểu 4).

Biểu số 4 : Tỷ lệ nguồn thu của làng Lý Lao Chải-tháng 10/2008

Bình quân mỗi hộ gia đình người H’Mông ở Lao Chải được khảo sát 1 năm có thu nhập 15.834.000 đồng, cao gần gấp đôi so với các làng trong vùng không tham gia hoạt động du lịch. Trong số 30 hộ ở Lý Lao Chải được khảo sát, có tới 25 hộ tham gia các hoạt động du lịch. Thu nhập của các hộ này ít nhất là gần 3 triệu đồng/1 năm, cao nhất là 14.700.000 đồng/1 năm (Xem biểu 5).

Biểu số 5 – Nguồn thu nhập của các hộ người H’Mông

Bảng thống kê cho thấy, số hộ có thu nhập du lịch dưới 3 triệu đồng 1 năm là rất ít (có 2 hộ chiếm 8%). Có tới 40% số hộ thu nhập từ 3 đến 5 triệu đồng/1 năm từ du lịch. Số hộ có thu nhập từ du lịch năm 2006 có xu hướng tăng cao. Trong số 7 hộ thu nhập từ trên 7 triệu đồng đến 14.700.000 đồng ở thôn Lý Lao Chải (điều tra tháng 10/2008) thì đến nay (tháng 9/2010) có 3 hộ đã tăng từ 14.700.000 đồng lên trên 20.000.000 đồng/1 năm, nhất là các gia đình có 2 – 3 người tham gia hướng dẫn viên du lịch, chở xe ôm, bán hàng. Các làng H’Mông có người tham gia dịch vụ du lịch nhiều (Cát Cát, Lý Lao Chải, Sín Chải, Bản Pho… ) thì tỷ lệ hộ đói nghèo cũng giảm gần gấp đôi so với các làng H’Mông không tham gia du lịch. Trong 9 tháng đầu năm 2010, số hộ đói nghèo theo tiêu chí mới ở làng Cát Cát giảm 4,73%, ở Sín Chải giảm 4,01%, ở Lý Lao Chải giảm 4,52%.

Du lịch tác động tích cực đến nếp sống ở các làng người H’Mông

Người H’Mông trước đây chi tiêu thiếu kế hoạch. Khi thu hoạch vụ mùa xong, lương thực thực phẩm chi dùng nhiều cho các nghi lễ tín ngưỡng. Bình quân năm, mỗi hộ gia đình chi phí cho các nghi lễ cầu cúng sức khoẻ, chữa bệnh, làm lễ cúng ma hết 1/10 tổng thu nhập của gia đình. Nếu gia đình có người chết phải chi cho làm ma trước 1 con trâu, 3 con lợn và hàng chục con gà. Nếu làm ma khô, gia đình cũng phải giết 1 con trâu, 2 con lợn… như vậy chi phí cho đám tang rất lớn, các gia đình phải đi vay và nhiều năm sau mới trả hết nợ. Sản phẩm chăn nuôi của gia đình người H’Mông trước đây chủ yếu chỉ chi dùng cho tín ngưỡng và ăn uống, không có sản phẩm đem trao đổi, buôn bán. Năm 1995, khi kinh tế du lịch chưa phát triển mạnh, cơ cấu chi tiêu của người H’Mông chủ yếu chỉ đảm bảo ăn uống và tín ngưỡng. Còn các mức chi cho sinh hoạt văn hoá, y tế, giáo dục thấp, không đáng kể. Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Du lịch tác động đến quan hệ cộng đồng làng về nhiều mặt kinh tế, văn hoá, xã hội. Trong xã hội nông nghiệp, cư dân thuần nông, vai trò của già làng được đề cao, già làng đóng vai trò quyết định trong một số quan hệ của làng như việc chuyển làng di cư, bầu trưởng làng, tổ chức các nghi lễ chung của làng…. Nhưng hiện nay, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xuất hiện hàng loạt giống cây mới, cây con mới, kỹ thuật gieo trồng mới cũng như kinh nghiệm bán hàng, giao tiếp khách hàng phức tạp diễn ra hàng ngày đôi khi phải cập nhật thông tin, tiếp cận thông tin mới. Nhưng già làng ít có điều kiện tiếp cận (ít giao tiếp với xã hội và hệ thống thông tin đại chúng, ít quan hệ với khách du lịch….). Việc tiếp cận thông tin mới hầu hết do lớp trẻ đảm nhiệm. Do đó, vai trò của già làng trong các làng làm dịch vụ du lịch giảm sút. Lớp trẻ ít tham khảo kinh nghiệm của người già (vì người già ít tiếp cận thông tin mới).

Ngược lại với vai trò của già làng, vai trò của trưởng làng được đề cao hơn trước rất nhiều. Làng người H’Mông trong xã hội nông nghiệp thuần tuý bình lặng, khép kín, việc công của làng không nhiều. Mỗi năm trưởng làng chỉ triệu tập hội nghị toàn thể dân làng vào ngày Thìn tháng Giêng làm lễ ăn uớc “Nào xồng”, kiểm điểm các công việc của làng, thông qua quy ước chung của làng. Nhưng hiện nay, âm hưởng cuộc sống sôi động thường xuyên dội xuống làng. Nếp sống tĩnh lặng của làng bị phá vỡ. Với việc xây dựng làng thành các điểm du lịch, với việc thực hiện các dự án làm đường giao thông liên thôn, trồng rừng, lập các tổ sản xuất phục vụ du lịch…. đòi hỏi sự điều hành của trưởng làng, sự tham gia của toàn dân

làng ngày càng lớn. Trưởng làng phải tổ chức các cuộc họp chung dân làng thường xuyên nhằm bàn bạc phân công dân làng tham gia các chương trình dự án.

Làng ở vùng du lịch, trở thành điểm du lịch cũng xuất hiện các kiểu tập hợp người khác với làng cổ truyền. Ở đây xuất hiện các tổ sản xuất thổ cẩm, tổ du lịch xe ôm, nhóm những người tham gia bán hàng rong, trồng hoa…. Các nhóm người này thời kỳ đầu hình thành tự phát nhưng dần dần do nhu cầu cạnh tranh của thị trường, do nhu cầu tiếp cận vốn tài trợ, đầu tư cũng như tiêu thụ sản phẩm đã hình thành các tổ chức có bộ máy điều hành như tổ thêu dệt thổ cẩm ở Cát Cát, Tả Phìn, tổ trồng hoa ở làng Má Cha, tổ hướng dẫn khách du lịch ở Cát Cát, đội văn nghệ ở làng Cát Cát, làng Sín Chải xã San Sả Hồ huyện Sa Pa… Các tổ chức này làm phong phú thêm kết cấu của thiết chế làng. Sự vận hành của các tổ chức này trong một làng người H’Mông vừa là vấn đề phức tạp nhưng cũng là vấn đề tích cực củng cố sự cố kết của làng. Quan hệ cộng đồng làng về kinh tế, văn hoá, xã hội cũng không ngừng được đề cao. Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Tác động tiêu cực của du lịch đến các làng người H’mông ở SaPa

Bên cạnh các yếu tố tác động tích cực đến các làng người H’Mông, du lịch còn một số ảnh hưởng tiêu cực. Trước hết, du lịch là nhân tố quan trọng gây ra tình trạng bất bình đẳng về thu nhập ngày càng cao giữa người H’Mông và các dân tộc khác.

Mỗi năm có hơn 200.000 lượt khách du lịch đến Sa Pa, doanh thu từ du lịch

Sa Pa từ 250 đến 300 tỷ đồng. Nhưng nguồn thu này chủ yếu tập trung vào các hãng lữ hành, các công ty du lịch, khách sạn ở Hà Nội và thị trấn Sa Pa. Điều tra năm 2008 có tới 56% số khách nước ngoài mua tour từ các công ty lữ hành quốc gia họ. Do đó nguồn thu của các công ty nước ngoài cũng chiếm tỷ lệ khá lớn. Khi đến SaPa, du khách phải chi nhiều nhất cho dịch vụ ăn nghỉ, ở khách sạn, vận chuyển đi lại. Còn mua hàng thủ công chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Nhằm thu được nhiều nguồn lợi, hơn nữa do các nhóm du lịch quá đông nên các hãng lữ hành, các công ty du lịch thường xây dựng tuyến tham quan 1 ngày, không để du khách ngủ qua đêm ở bản làng. Trong tháng 8 năm 2010, có 1.179 nhóm du lịch với tổng số 4.572 lượt khách đi tham quan các bản làng, nhưng có tới 729 nhóm và 2.927 người đi trong 1 ngày. Năm 2008, có 55.501 du khách nước ngoài đến bản làng thì có tới 37.877 người đi trong ngày, không ngủ ở bản làng, chiếm tỷ lệ 68,2% số du khách. Không ngủ tại làng bản, đồ ăn của du khách cũng mang theo nên người dân ở các bản làng không có thu nhập gì ngoài việc bán một số đồ uống, hàng thủ công cho du khách. Đặc biệt ở hầu hết các làng H’Mông trở thành điểm du lịch lại chưa có dịch vụ nghỉ tại làng nên nguồn thu của người H’Mông từ du lịch rất thấp so với người Tày, người Dao. Điều tra năm 2008, bình quân 1 hộ gia đình người Kinh ở thị trấn tham gia kinh doanh du lịch một năm thu nhập từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng. Người Tày ở Bản Hồ có thu nhập từ du lịch 1 năm từ 15 triệu đến 20 triệu đồng 1 hộ. Người Dao ở Tả Phìn thu nhập từ 7 đến 9 triệu đồng/1hộ còn người H’Mông ở Lao Chải chỉ thu nhập từ 4 đến 6 triệu đồng/1hộ. Như vậy mức thu nhập bình quân từ du lịch của người Kinh cao gấp từ 12 đến 25 lần người H’Mông. Còn người Tày ở Bản Dền có mức thu nhập từ du lịch cao gấp 3 đến `5 lần người H’Mông. Người Dao cũng thu nhập từ du lịch cao hơn từ 1,5 đến 2 lần người H’Mông. Như vậy, so với các dân tộc khác, người H’Mông là cộng đồng chỉ được hưởng lợi rất thấp từ du lịch. Hầu hết các dịch vụ, các nguồn thu đều do ngành du lịch từ nơi khác đến quản lý. Còn người H’Mông cũng nhu đa số người địa phương ở Sa Pa – những chủ nhân của nguồn lực du lịch bản làng lại bị gạt ra ngoài lề của vòng quay du lịch. Ngay từ thập kỷ 90, khi du lịch mới bắt đầu phát triển ở Sa Pa, tổ chức IUCN đã cảnh báo Sa Pa chỉ là nơi cung cấp dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng còn các doanh nghiệp bên ngoài thu lợi nhuận. Hiện nay, tình trạng này vẫn diễn ra khá gay gắt.

Du lịch đã tác động mạnh mẽ đến phân công lao động trong xã hội người H’Mông, xuất hiện một số ảnh hưởng tiêu cực như tệ nạn trẻ em lang thang bỏ học và phụ nữ bán hàng rong bám đuổi du khách.

Trẻ em ở các làng người H’Mông là điểm du lịch không đi học hoặc bỏ học nhiều hơn các làng không nằm trong tuyến du lịch. Làng Séo Mí Tỉ nằm trên sườn núi Phan Xi Păng, tỷ lệ trẻ em đến tuổi không đi học chỉ chiếm 17,8% nhưng ở xã Lao Chải, điều tra vào đầu tháng 10 – 2008 có tới 49,6% số học sinh từ 6 đến 14 tuổi không đến lớp học. Trong đó số học sinh nữ đi học cấp I chỉ chiếm 45% số học sinh nữ đi học cấp II chỉ còn 33,5% (3). Nguyên nhân chủ yếu là các em học sinh cấp II, nhất là học sinh nữ là lực lượng chủ lực tham gia đội quân bán hàng cho khách du lịch. Nguồn thu từ việc phục vụ du khách khá hấp dẫn nên càng kích thích các em bỏ học, giảm tỷ lệ chuyên cần ở các lớp có học sinh lớn.

Biểu số 6: Tỷ lệ chuyên cần từ 26/9 đến 1/10 năm 2008 của học sinh trường Lao Chải Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

Như vậy, qua biểu thống kê trên, nhận thấy tỷ lệ chuyên cần học sinh rất thấp, trung bình trong tuần chỉ đạt 67,9%. Điều đặc biệt là thứ 7 cuối tuần và thứ hai đầu tuần tỷ lệ học sinh chuyên cần thấp nhất, chỉ đạt trung bình 57,2% toàn trường. Trong đó, học sinh từ lớp 4 đến lớp 8 (lứa tuổi bán hàng rong), cứ đến thứ và thứ hai bỏ học nhiều nhất, có lớp chỉ có 33,3 % số em đi học (lớp 8) vào thứ 7. Ngày thứ 7 cuối tuần và thứ hai đầu tuần là những ngày có đông du khách đến thị trấn và đến Lao Chải. Do đó các em bỏ học nhiều để đi bán hàng rong, tăng thêm thu nhập cho gia đình.

Tình trạng học sinh bỏ học, lang thang trên thị trấn Sa Pa xuất hiện từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ 20 (4). Chính quyền các cấp ở Sa Pa đã có nhiều cố gắng giải quyết vấn đề này. Hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh của huyện Sa Pa được một số tổ chức phi chính phủ tài trợ kinh phí lập các dự án đào tạo việc làm, mở lớp học cho các em. Tuy nhiên, hiện tượng các em bỏ học bán hàng rong lang thang ở các điểm du lịch, ở các thị trấn vẫn tồn tại khá phổ biến.

Số phụ nữ bán hàng rong, đeo bám khách cũng diễn ra thường xuyên ở mọi địa điểm du khách tham quan. Hiện tượng chèo kéo, ép mua đồ lưu niệm thường xuyên xảy ra. Vào ngày thứ 7, chủ nhật có tới gần 200 phụ nữ, trẻ em các làng người H’Mông đổ về thị trấn bán hàng rong. Ở các làng Tả Van, Lao Chải, Bản Pho cũng có tới 30 đến 40 phụ nữ chéo kéo khách mua đồ thổ cẩm. Hiện tượng chèo kéo này du khách rất phản đối, gây ảnh hưởng tiêu cực đến vấn đề phát triển du lịch và đời sống văn hoá các làng người H’Mông.

Du lịch tác động tiêu cực đến đời sống văn hoá người H’Mông, nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể truyền thống bị biến dạng, nghèo nàn hoặc bị “đóng giả”, lợi dụng phục vụ mục đích “thương mại hoá”, tạo nhiều nguồn thu. Điển hình là du khách ồ ạt đến xem các sinh hoạt giao duyên của trai gái H’Mông, Dao tối thứ 7 khiến cho các sinh hoạt giao duyên biến mất. Chợ phiên ở vùng cao không chỉ là nơi trao đổi hàng hoá mà còn là nơi giao lưu tình cảm. Chợ là nơi gặp mặt của tình yêu. Người H’Mông ở Sa Pa đi chợ phải đi từ chiều hôm trước. Buổi tối trước phiên chợ là ngày hội của nam nữ thanh niên. Họ thổi sáo, gẩy đàn môi, hát giao duyên. Nhưng từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, dòng người du lịch ồ ạt đổ về xem sinh hoạt “chợ tình”. Những tình cảm sâu kín của nam nữ thanh niên luôn bị chụp ảnh, quay phim, hoặc trở thành một trò vui kỳ lạ cho du khách. Sinh hoạt giao duyên buổi tối trước hôm chợ không còn diễn ra ở thị trấn. Trước nhu cầu của du khách, một số người đóng giả sinh hoạt văn hoá giao duyên bằng múa khèn, thổi sáo. Các sinh hoạt này mang nặng tính chất thương mại, trở thành một sản phẩm làm giả để thu tiền.

Người H’Mông có nghề thổ cẩm tinh xảo. Một tấm thổ cẩm được sản xuất phải qua nhiều công đoạn dệt, nhuộm, tạo hoa văn công phu. Dệt xong tấm vải lanh, người H’Mông phải nhuộm từ 12 đến 15 lần mới tạo thành tấm vải bền màu. Nhưng muốn tạo sự láng bóng của vải, người H’Mông còn phải bôi sáp ong lên vải và lăn trên phiến đá. Người lăn đứng trên phiến đá dùng chân day đi day lại, cho đến khi vải mềm, ánh bóng màu tím than. Tạo được vải, phụ nữ H’Mông còn phải áp dụng cả ba thủ pháp nghệ thuật in sáp ong, thêu, ghép vải tạo hoa văn. Các mẫu hoa văn truyền thống giàu tính biểu tượng phản ánh cả tín hiệu văn hoá tộc người, lịch sử di cư. Nhưng hiện nay, do nhu cầu cần “nhanh, nhiều, rẻ” nên người H’Mông dùng máy khâu thêu hoa văn. Các mô típ hoa văn đơn giản đã thay thế hoa văn đặc sắc cổ truyền. Vì vậy giá trị nghệ thuật trong thổ cẩm H’Mông bị mai một, đứt đoạn với truyền thống. Các hoạ tiết hoa văn giàu tính biểu tượng đã nhường chỗ cho các hoa văn đơn giản loè loẹt phổ biến khắp từ Côn Minh Vân Nam Trung Quốc đến Hà Nội. Bản sắc nghệ thuật thổ cẩm H’Mông đang có nguy cơ suy tàn, kho tàng hoa văn thổ cẩm H’Mông ở Sa Pa không còn nét độc đáo, mất tín hiệu văn hoá tộc người.

Tương tự như vậy, các sản phẩm thủ công như chạm khắc bạc, làm đỗ gỗ, làm nhạc cụ …. cũng chạy theo số lượng, làm sản phẩm kém chất lượng, thậm chí còn là đồ giả bán cho du khách. Điển hình nhất là các đồ trang sức bằng bạc được thay thế bằng nhôm. Thậm chí, ở nhiều làng, người H’Mông không làm đồ chạm khắc bạc mà đi mua đồ trang sức của người Kinh ở miền xuôi đem bán kiếm lời. Nhưng nguy cơ đứt đoạn văn hoá, đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc còn diễn ra nghiêm trọng khi một bộ phận người H’Mông qua sự tuyên truyền của du khách chối bỏ tín ngưỡng truyền thống theo đạo Tin lành. Đạo Tin lành theo bước chân của du khách len lỏi đến các làng người H’Mông Sa Pa dẫn đến tình trạng gây mất ổn định trong một làng, một dòng họ. Mâu thuẫn giữa người theo đạo với người theo tín ngưỡng cổ truyền liên tiếp xảy ra ở khắp các làng H’Mông gắn với các điểm du lịch. Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

2.3.4. Hiện trạng các nhà quản lý và đội ngũ lao động

Mặc dù thấy rõ tầm quan trọng của nguồn tài nguyên văn hóa không chỉ đối với xã hội và tín ngưỡng tinh thần mà còn liên quan đến du lịch, song cho đến nay vấn đề quản lý tổ chức khai thác những giá trị này vẫn còn hạn chế.

Vấn đề tổ chức kinh doanh các hoạt động lưu trú tại các bản, xã du lịch đã được ban quản lý các cấp nghành quan tâm, chỉ đạo, hướng dẫn người dân. Song việc kinh doanh, đón tiếp khách vẫn do người dân tự đứng ra tổ chức.

Đội ngũ lao dộng du lịch khá đông đảo, chủ yếu là dân cư địa phương, họ hiểu biết rõ về nền văn hóa của địa phương, nhiệt tình tuy nhiên họ lại không qua đào tạo chính quy nên nghiệp vụ vẫn còn hạn chế.

Tiểu kết chương 2

Việt Nam với lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, nước ta có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú đậm dà bản sắc dân tộc, cùng với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên đa dạng, là nền tảng cho việc phát triển du lịch và có giá trị cao đối với việc thu hút khách đến tham quan tìm hiểu.

Chương 2 với việc đánh giá được rút ra từ việc tìm hiểu, phân tích một số khía cạnh văn hóa của tộc người H’mông ở Sapa. Văn hóa của tộc người H’mông rất phong phú, đa dạng tuy nhiên vẫn chưa được khai thác hết tiềm năng để phát triển du lịch. Người H’mông có nhiều nét đẹp về văn hóa như: trang phục, phong tục tập quán, ẩm thực…Trong chương 2 em cũng nêu nên những thực trạng, tác động của du lịch tới văn hóa tộc người H’mông ở SaPa. Trên cơ sở đó em sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm gìn giữ, khai thác văn hóa tộc người H’mông vào việc phát triển du lịch tại huyện Sapa ở chương 3. Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông

One thought on “Khóa luận: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H’mông

  1. Pingback: Khóa luận: Phát triển du lịch văn hóa tộc người H`mông ở Lào Cai

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537