Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Giải pháp hoàn thiện hoạt động Marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng Đông Á trong bối cảnh hội nhập cho các bạn.
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, các NHTMCP Việt Nam ngày càng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước. Nhờ những ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, các loại hình dịch vụ đa dạng của ngân hàng có thể khai thác tối ưu nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế. Trong giai đoạn hội nhập hiện nay, cạnh tranh giữa các ngân hàng, các tập đoàn tài chính lớn trong và ngoài nước ngày càng trở nên khốc liệt. Hơn thế nữa một số tổng công ty trong nước cũng đang mở rộng kinh doanh sang lĩnh vực ngân hàng.
Tuy nhiên, nhìn chung các NHTMCP Việt Nam hiện nay có năng lực cạnh tranh rất thấp, gặp rất nhiều bất lợi trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thương trường. Đặc biệt, việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đánh dấu bước hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế thế giới sẽ ảnh hưởng nhiều và trực tiếp hơn đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và các NHTMCP Việt Nam nói riêng. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cuối năm 2024 là một minh chứng. Chính vì vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các NHTMCP Việt Nam trong lúc này là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách. Trong bối cảnh đó, ngân hàng Đông Á đã áp dụng Marketing như một công cụ hữu hiệu trong cạnh tranh trên thị trường ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Nhằm có một cái nhìn tổng quát về các hoạt động marketing dịch vụ trong thời gian qua và các chiến lược marketing trong thời gian tới để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng Đông Á, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện hoạt động Marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng Đông Á trong bối cảnh hội nhập” cho khóa luận tốt nghiệp của mình với mong muốn từ đó nêu lên một số kiến nghị nhằm giúp ngân hàng Đông Á vững bước hội nhập thành công vào sân chơi thế giới.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Marketing
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở hệ thống những vấn đề lý luận về áp dụng marketing dịch vụ và đánh giá thực trạng áp dụng marketing dịch vụ ở ngân hàng Đông Á, mục đích nghiên cứu cuối cùng của đề tài là đưa ra giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng Đông Á trong bối cảnh hội nhập.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề liên quan đến việc hoàn thiện hoạt động marketing trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đông Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung đánh giá thực trạng hoạt động marketing dịch vụ ngân hàng của ngân hàng Đông Á, trong đó tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2022-2024. Phần giải pháp đề cập ở chương 3 được giới hạn thời gian nghiên cứu đến năm 2035.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp diễn giải và quy nạp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh.
5. Bố cục bài viết Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Ngoài lời mở đầu, kết luận, các danh mục chữ viết tắt, bảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận được chia thành 3 chương như sau:
- Chương 1– Một số vấn đề cơ bản về marketing ngân hàng và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
- Chương 2- Thực trạng áp dụng marketing vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đông Á
- Chương 3- Giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing ngân hàng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng Đông Á trong bối cảnh hội nhập
Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đã nỗ lực hết sức để có được những thông tin mới nhất, thu thập và phân tích những ý kiến, quan điểm, đánh giá của nhiều chuyên gia để hoàn thành đề tài một cách tốt nhất. Tuy nhiên do những hạn chế về thời gian, về tài liệu và năng lực của tác giả, nội dung khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, chia sẻ quan điểm từ các thầy cô và bạn đọc.
Qua đây tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến cô giáo hướng dẫn PGS.TS Đỗ Thị Loan – Giảng viên môn Giao tiếp Kinh doanh, trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội, người đã nhiệt tình giúp đỡ cũng như góp ý cho tác giả những ý kiến quý báu trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MARKETING NGÂN HÀNG VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm Marketing dịch vụ ngân hàng
1.1.1. Dịch vụ ngân hàng
1.1.1.1. Khái niệm
Dịch vụ trên thế giới hiện nay được phát triển phong phú theo nhiều ngành và nhiều loại khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa về dịch vụ, có thể nêu ra đây một vài định nghĩa tiêu biểu sau:
- Định nghĩa của giáo sư Philip Kotler:
Dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không có thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào. Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
- Định nghĩa của AMA (Hiệp hội Marketing Mỹ):
Dịch vụ là những hoạt động có thể riêng biệt nhưng phải mang tính vô hình nhằm thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của khách hàng, theo đó dịch vụ không nhất thiết phải sử dụng sản phẩm hữu hình, nhưng trong mọi trường hợp đều không diễn ra quyền sở hữu một vật nào cả.
Định nghĩa này, về cơ bản, tương đối giống với định nghĩa của P.Kotler. Việc tìm hiểu đầy đủ định nghĩa về dịch vụ sẽ giúp doanh nghiệp và khách hàng cũng như chúng ta thấy rõ bản chất của dịch vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên chủ thể trong quan hệ trao đổi dịch vụ hơn.
Theo David Cox trong tác phẩm “Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại” thì dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa: Trong khi một số ngân hàng chuyên đáp ứng các nhu cầu của nhóm khách hàng đặc biệt như các công ty hoặc người tiết kiệm nhỏ thì các ngân hàng thanh toán bù trừ lại cung cấp một loạt các dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu về tài chính của tất cả các loại khách hàng từ những tư nhân nhỏ nhất đến các công ty lớn nhất. [13]
Từ khái niệm nêu trên, có thể hiểu dịch vụ ngân hàng là sự đáp ứng mọi nhu cầu hợp lý về tài chính của tất cả các đối tượng khách hàng – nó có tác dụng hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả của ngân hàng.
1.1.1.2. Vai trò
Vai trò của dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thể hiện ở một số mặt chính sau:
- Đáp ứng nhu cầu của khách hàng và nền kinh tế
Dịch vụ thanh toán làm tăng khả năng luân chuyển vốn trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu về chuyển tiền cũng như chi trả của khách hàng một cách thuận lợi, nhanh chóng và chính xác, tiết kiệm chi phí lưu thông. Dịch vụ tài chính và tư vấn, dịch vụ bảo quản ký gửi đáp ứng các nhu cầu riêng của khách hàng.
- Tăng lợi nhuận và phân tán rủi ro Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Một trong những mục tiêu quan trọng của bất cứ một ngân hàng thương mại nào chính là lợi nhuận. Nếu theo nghiệp vụ truyền thống và cổ điển của ngân hàng thì lợi nhuận có được chủ yếu là từ nghiệp vụ tín dụng nhưng đây cũng là lĩnh vực gặp nhiều rủi ro nhất bởi mọi biến động trên thị trường đều liên quan đến tiền tệ. Kinh doanh nhiều lĩnh vực, đa dạng dịch vụ là một phương sách hiệu quả để phân tán rủi ro trong kinh doanh, giữ vững sự ổn định của ngân hàng, lợi nhuận thu được từ các dịch vụ khác nhau sẽ bổ sung cho nhau khi thị trường biến động, giúp cho ngân hàng ổn định được mức doanh lợi.
- Thúc đẩy các nghiệp vụ khác phát triển
Các nghiệp vụ của NHTM đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau tạo thành một thể thống nhất. Huy động vốn tạo điều kiện cho việc thực hiện nghiệp vụ tín dụng và phát triển dịch vụ, nhưng ngược lại thì nghiệp vụ tín dụng và dịch vụ thực hiện tốt cũng tạo điều kiện để thu hút khách hàng, đồng thời thu hút được nguồn tiền nhàn rỗi của họ.
- Tăng khả năng cạnh trạnh của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Trong môi trường cạnh tranh ngay từ đầu các ngân hàng đã đề cao chất lượng hoạt động dịch vụ như một đối sách lợi hại để chiếm phần thắng trong cạnh tranh. Bên cạnh việc cạnh tranh bằng lãi suất, các ngân hàng phải biết cạnh tranh bằng biện pháp phi giá (chất lượng dịch vụ và công nghệ bán hàng). Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì các giải pháp đó càng trở nên tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng hiện đại.
1.1.1.3. Phân loại
- Các dịch vụ truyền thống của ngân hàng
- Thực hiện trao đổi ngoại tệ
- Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại.
- Nhận tiền gửi
- Bảo quản vật có giá
- Cung cấp các tài khoản giao dịch.
- Cung cấp dịch vụ ủy thác
Dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây
- Cho vay tiêu dùng
- Tư vấn tài chính
- Quản Lý tiền mặt
- Dịch vụ thuê mua thiết bị
- Cho vay tài trợ dự án.
- Bán các dịch vụ bảo hiểm.
- Cung cấp các kế hoạch hưu trí.
- Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán.
- Cung cấp các dịch vụ tương hỗ và trợ cấp
1.1.2. Marketing dịch vụ ngân hàng Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
1.1.2.1. Khái niệm
Theo Viện Marketing Anh: “Marketing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động KD, từ việc phát hiện ra nhu cầu và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể đến việc đưa những hàng hóa đó tới người tiêu thụ cuối cùng bảo đảm cho công ty thu được lợi nhuận như dự kiến” [3, Tr.8-9].
Từ định nghĩa trên đây có thể thấy, bản chất của marketing là định hướng vào người tiêu dùng với những yêu cầu và mong muốn của họ. Hoạt động marketing bắt đầu từ việc xác định nhu cầu thị trường đến việc định hướng sản xuất và cách thức phân phối sản phẩm để tối ưu hóa lợi nhuận đạt được. Như vậy, trong hoạt động sản xuất, phân phối và trao đổi được nghiên cứu trong một thể thống nhất.
Liên quan đến Marketing NH cũng có nhiều quan niệm khác nhau, chẳng hạn:
-“Marketing NH là phương pháp quản trị tổng hợp dựa trên cơ sở nhận thức về môi trường KD, những hành động của NH nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của KH phù hợp với sự biến động của môi trường, trên cơ sở đó mà thực hiện các mục tiêu của NH” [8, Tr.8-9].
“Marketing NH là dự đoán, quản lý và thỏa mãn nhu cầu thông qua quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân trên thị trường” [10, Tr.95].
Mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau nhưng nhìn chung các ý kiến đều thống nhất cho rằng hoạt động marketing NH cần xác định nhu cầu, mong muốn của khách hàng và cách thức đáp ứng nhu cầu mong muốn đó một cách hiệu quả để tối ưu hóa lợi nhuận và chiến thắng trong cạnh tranh.
Hoạt động marketing đã được các NHTM chú ý triển khai từ giữa những năm 1960, nhưng hoạt động này diễn ra còn đơn lẻ. Đến những năm 1970 thì hoạt động marketing NH đã diễn ra tích cực hơn, đặc biệt hoạt động này diễn ra rất rầm rộ từ những năm 1980 trở lại đây do các NHTM buộc phải cạnh tranh với nhau và với các định chế tài chính khác.
Hoạt động của marketing NH cần đạt 4 mục tiêu: (1) đạt mức tiêu thụ sản phẩm DV cao nhất; (2) thỏa mãn nhu cầu KH cao nhất; (3) giới thiệu nhiều loại sản phẩm DV NH để KH lựa chọn; (4) nâng cao chất lượng đời sống của thành viên trong xã hội.
1.1.2.2. Đặc điểm Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Marketing ngân hàng là một ứng dụng đặc biệt của ngành dịch vụ bởi vậy marketing ngân hàng mang đặc điểm của marketing dịch vụ
Thứ nhất: Marketing ngân hàng tuân theo yêu cầu của lý thuyết hệ thống, có nghĩa là toàn bộ các yếu tố của hệ thống không phân biệt ranh giới, mà có sự ràng buộc lẫn nhau. Bất kỳ một sự thay đổi nào của hệ thống đều tác động và làm thay đổi quan hệ cung ứng dịch vụ đến khách hàng.
Thứ hai: Sản phẩm của ngân hàng là hình thức dịch vụ, mang hình thái phi vật chất, quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được tiến hành đồng thời, không có sản phẩm tồn kho, với sự tham gia của cả 3 yếu tố: Khách hàng, nhân viên giao dịch với khách hàng và cơ sở vật chất, trang thiết bị.
Thứ ba: Hình ảnh của ngân hàng là tổng hợp của tất cả các yếu tố: Sản phẩm (loại hình, chất lượng, giá cả…), đội ngũ cán bộ nhân viên (trình độ chuyên môn, quản lý, khả năng giao tiếp…), cơ sở vật chất, trang thiết bị…
Tuy nhiên khác với doanh nghiệp khác, ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, do đó marketing ngân hàng cũng có một số đặc điểm riêng có:
Thứ nhất: Tiền là nguyên liệu chính, đồng thời là nguyên liệu đầu ra, trong việc tạo ra sản phẩm ngân hàng, bất kỳ sản phẩm nào cũng liên quan đến tiền. Nguyên liệu đặc biệt này không thể thay thế được và chịu tác động của nhiều yếu tố: chính trị, xã hội, kinh tế, thiên tai… và có thể tác động ngược trở lại đối với những yếu tố này.
Thứ hai: Ngân hàng có rất nhiều mối quan hệ đa dạng và phức tạp trên thị trường: Quan hệ giữa ngân hàng với nhau trong quan hệ hợp tác (thanh toán cho ngân hàng, đồng tài trợ cho ngân hàng, các hợp tác khác…), quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng (Doanh nghiệp, tổ chức, dân cư…). Các mối liên hệ này lại có liên quan đến nhau, tác động lẫn nhau, ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động kinh doanh. Chính vì thế, hoạt động marketing của ngân hàng nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng trở nên đa dạng, phức tạp, linh hoạt và sáng tạo.
Thứ ba: Ngân hàng hoạt động trên thị trường trong một “hành lang hẹp” bởi các quy định, quy chế, pháp lệnh và luật của nhà nước. Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Thứ tư: Thị trường của ngân hàng rất thông dụng, sản phẩm đơn điệu, dễ bị bắt chước và hợp pháp, việc đưa sản phẩm mới phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển của nền kinh tế và nhận thức của thị trường, vì thế hoạt động marketing ngân hàng mang tính sáng tạo cao.
Thứ năm: Sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mang tính công cộng, xã hội cao. Khách hàng tiền gửi của ngân hàng chủ yếu là dân cư, khi hoạt động kinh tế càng phát triển thì lượng khách hàng này càng tăng và mang tính phổ thông và đặc biệt khi đó nhờ nghiệp vụ thanh toán hộ thì khách hàng tổ chức cũng tăng. Khi có bất kỳ sai sót nào thì không những ảnh hưởng trực tiếp đến ngân hàng mà có khả năng gây ra phản ứng dây chuyền từ đó ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.
1.1.2.3. Vai trò của hoạt động marketing đối với các NHTM.
Hoạt động KD của các NHTM là KD trên lĩnh vực tiền tệ, TD, NH, đối diện với môi trường hoạt động bao trùm cả trong nước và quốc tế, môi trường KD không ngừng biến động và cuộc chiến dành giật thị trường ngày càng khốc liệt, điều đó đòi hỏi các NHTM phải lựa chọn cấu trúc và điều chỉnh cách thức hoạt động cho phù hợp nhằm tìm kiếm các cơ hội KD cũng như chiến thắng trong cạnh tranh.Vai trò quan trọng của hoạt động marketing đối với các NHTM thể hiện trên các giác độ sau đây [10, Tr.10-14]:
Thứ nhất, Marketing tham gia vào việc giải quyết những vẫn đề cơ bản trong hoạt động KD NH thông qua các hoạt động:
- Xác định loại sản phẩm DV mà NH cần cung ứng ra thị trường thông qua hoạt động tổ chức thu nhập thông tin thị trường, nghiên cứu các hành vi tiêu dùng, cách thức sử dụng sản phẩm DV và lựa chọn NH của KH…
- Tổ chức quá trình cung ứng sản phẩm DV và hoàn thiện mối quan hệ trao đổi giữa KH và NH trên thị trường
- Giúp giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa KH và NH thông qua các hoạt động: Tham gia xây dựng và điều hành chính sách lãi, phí, tiền lương, thưởng; Đưa ra chế độ ưu đãi phù hợp với từng loại KH; Khuyến khích nhân viên phát minh các sáng kiến, cải tiến hoạt động … Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Thứ hai, Marketing là cầu nối gắn kết hoạt động của NH với thị trường.
Thị trường vừa là đối tượng phục vụ, vừa là môi trường hoạt động của các NHTM, do vậy, việc nắm bắt được các nhu cầu thị trường, thông qua đó gắn kết hoạt động của NHTM với thị trường – sẽ giúp hoạt động KD của NHTM đạt hiệu quả cao. Thông qua hoạt động marketing sẽ giúp NH nhận biết được các yếu tố của thị trường, nhu cầu của KH về sản phẩm DVNH và sự biến động của chúng. Hơn nữa, marketing là công cụ giúp nguồn lực của NHTM sẽ được phân phối và sử dụng hiệu quả theo đúng tín hiệu thị trường thông qua phối kết hợp và định hướng hoạt động của tất cả các bộ phận và toàn thể nhân viên NH vào việc đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của KH.
Thứ ba, Marketing là công cụ giúp cho các NHTM tăng năng lực cạnh tranh trên thương trường.
Đặc trưng của hoạt động KD NH là các sản phẩm DV cung ứng tương đối giống nhau giữa các NHTM, cho nên việc tạo ra một sự khác biệt là rất quan trọng để tăng vị thế cạnh tranh của một NH. Quá trình tạo lập vị thế cạnh tranh của NHTM có liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra những sản phẩm DV khác biệt, đồng thời, phải làm cho KH thấy được lợi ích thực tế từ những sản phẩm DV đó. Do vậy, việc tạo lập vị thế cạnh tranh của sản phẩm DVNH phụ thuộc khá lớn vào khả năng, trình độ marketing của mỗi NH; Đồng thời, phải duy trì thường xuyên lợi thế về sự khác biệt thông qua hệ thống biện pháp chống lại sự sao chép của các đối thủ cạnh tranh.
1.2. Nội dung của hoạt động Marketing ngân hàng
1.2.1. Nghiên cứu môi trường Marketing ngân hàng
Nghiên cứu môi trường kinh doanh là công việc đầu tiên cần thiết và có tính chất quyết định của hoạt động Marketing ngân hàng nhằm xác định nhu cầu của thị trường và sự biến động của nó. Mọi yếu tố trong môi trường hoạt động đều có tác động ít nhiều tới ngân hàng, tuy nhiên ở đây chỉ tập trung vào một số nhân tố có tác động mạnh mẽ tới hoạt động của ngân hàng.
1.2.1.1. Môi trường bên ngoài
- Môi trường kinh tế Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Nền kinh tế càng phát triển hoạt động ngân hàng càng phát triển. Hay nói cách khác, trình độ phát triển kinh tế là tiền đề để mở rộng hoạt động ngân hàng. Sản xuất phát triển, nhu cầu vốn đầu tư ngắn, trung, dài hạn tăng lên, thu nhập người lao động tăng lên, một mặt tiền nhàn rỗi tăng, mặt khác nhu cầu chi tiêu càng đa dạng. Hệ thống ngân hàng lúc này là trung tâm của các giao dịch, điều chuyển vốn và thúc đẩy tốc độ giao dịch trong nền kinh tế. Vì vậy, đánh giá khả năng mở rộng ngân hàng, trước hết phải dựa vào các chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của kinh tế xã hội.
- Môi trường công nghệ
Công nghệ là yếu tố đảm bảo sự phát triển bền vững của một ngân hàng hiện đại, với những vai trò:
Thứ nhất, công nghệ là nền tảng phát triển dịch vụ ngân hàng. Mỗi một tiến bộ công nghệ được ứng dụng, dịch vụ ngân hàng lại được đa dạng, cải tiến như dễ sử dụng hơn, nhanh hơn, chính xác hơn. Đó là sự ra đời của dịch vụ tự động, là sự “vươn dài cánh tay” của ngân hàng đi khắp mọi nơi trên thế giới bằng sự kết nối mạng toàn cầu.
Thứ hai, công nghệ hỗ trợ công tác quản lý và quản trị của ngân hàng. Cơ sở dữ liệu được lưu trữ và xử lý tập trung ngay mọi nơi mọi lúc, người quản lý có thể theo dõi tình trạng các chỉ tiêu của ngân hàng để đưa ra quyết định đúng đắn.
- Môi trường chính trị – pháp luật
Không giống như các ngành sản xuất, cung ứng dịch vụ khác, ngân hàng hoạt động trong một “hành lang hẹp”. Điều này ám chỉ sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng. Ngay từ việc thành lập, không phải ai cũng có thể dễ dàng làm chủ một ngân hàng, hoạt động không hiệu quả thì tuyên bố phá sản.
Ngân hàng tồn tại và phát triển trên cơ sở niềm tin của khách hàng không chỉ vào chính ngân hàng họ lựa chọn mà vào cả hệ thống ngân hàng. Một ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến cả hệ thống, đẩy nền kinh tế vào tình trạng mất ổn định, người dân mất niềm tin vào đồng tiền và chế độ chính trị hiện tại. Chính vì vậy, hoạt động ngân hàng phải tuân theo nhiều quy định bắt buộc như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, các quy trình nghiệp vụ chặt chẽ, hạn mức tín dụng đối với các thành phần khác nhau, quỹ dự phòng rủi ro…[5]
- Môi trường văn hóa Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Ảnh hưởng trực tiếp của văn hoá lên hoạt động marketing của ngân hàng là tác động lên chính hành vi của các chủ thể kinh doanh hay hành vi của các nhà hoạt động thị trường. Những hành vi đó sẽ in dấu lên các biện pháp marketing mà họ thực hiện. Ví dụ: những quy tắc xã giao, cách nói năng cư xử của một nền văn hoá nào đó mà các nhà hoạt động thị trường chịu ảnh hưởng sẽ đựơc họ mang theo và sử dụng trong quá trình giao tiếp, đàm phán, thương lượng với khách hàng. Trong trường hợp này văn hoá đã tác động hay chi phối trực tiếp đến loại công cụ thứ tư của marketing- công cụ xúc tiến hỗn hợp với ý nghĩa giao tiếp, truyền thông.
So với ảnh hưởng trực tiếp, ảnh hưởng gián tiếp của văn hoá mang tính thường xuyên hơn với diện tác động rộng hơn. Các giá trị văn hoá được truyền tải thông qua các tổ chức như: gia đình, các tổ chức tôn giáo, tổ chức xã hội, trường học, v.v… từ đó mà ảnh hưởng đến khách hàng để rồi quyết định các biện pháp marketing của ngân hàng. Tác động của văn hoá đến khách hàng không chỉ tập trung ở nhu cầu mong muốn của họ mà còn được thể hiện qua thái độ của con người đối với bản thân mình, đối với người khác, đối với các chủ thể tồn tại trong xã hội, đối với tự nhiên và vũ trụ… Tất cả những điều đó đều có ảnh hưởng đến các biện pháp marketing.
Văn hoá với tư cách là yếu tố của môi trường marketing ảnh hưởng toàn diện đến hoạt động marketing của các ngân hàng, cụ thể:
- Văn hoá ảnh hưởng đến hàng loạt các vấn đề có tính chất chiến lược trong marketing như: lựa chọn thị trường mục tiêu, lựa chọn các chiến lược marketing chung, các quyết định về nhiệm vụ mục tiêu tổng quát của ngân hàng và hoạt động marketing.
- Văn hoá cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện các chiến thuật, các sách lược, các biện pháp cụ thể, các thao tác, hành vi cụ thể của nhà hoạt động thị trường trong quá trình làm marketing.
- Văn hoá hầu như ảnh hưởng một cách toàn diện đến các công cụ khác nhau của hệ thống marketing- mix của ngân hàng trong đó đặc biệt đáng lưu ý là ảnh hưởng đến công cụ sản phẩm, phân phối và xúc tiến hỗn hợp.
Mỗi một biến số của văn hoá có ảnh hưởng khác nhau đến quá trình hoạt động marketing của ngân hàng. Thực tế đã cho thấy, có thể biến số này của văn hoá có ảnh hưởng mạnh mẽ đến một hoạt động nào đó của marketing, còn biến số khác lại ít có liên quan hoặc ảnh hưởng không đáng kể. Những giá trị văn hoá có ảnh hưởng rộng lớn trong phạm vi toàn xã hội và tạo nên những đặc tính chung trong nhu cầu, ước muốn, hành vi tiêu dùng của đông đảo khách hàng của ngân hàng trong một quốc gia, một dân tộc. Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
1.2.1.2. Môi trường bên trong
- Các yếu tố nội lực của ngân hàng
Các yếu tố nội lực của ngân hàng bao gồm vốn tự có và khả năng phát triển của nó, trình độ kỹ thuật công nghệ, trình độ cán bộ quản lý và đội ngũ nhân viên, hệ thống mạng lưới phân phối, số lượng các bộ phận và mối quan hệ các bộ phận trong hoạt động của ngân hàng. Các yếu tố trên không những là điều kiện đảm bảo cho hoạt động ngân hàng đáp ứng nhu cầu thị trường mà còn là yếu tố nâng cao vị thế cạnh tranh của ngân hàng. Hoạt động Marketing phải khơi dậy động lực làm việc của đội ngũ cán bộ nhân viên ngân hàng trong việc nâng cao chất lượng phục vụ nói chung và chất lượng sản phẩm dịch vụ nói riêng để ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng tăng cao của khách hàng.
- Đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh của một ngân hàng, bên cạnh các ngân hàng thuộc mọi loại hình sở hữu khác nhau, là các tổ chức có một số hoạt động tương tự như bảo hiểm, tiết kiệm bưu điện, các quỹ hỗ trợ… Kinh tế phát triển, nhiều thị trường khác nhau mở ra thu hút đầu tư của dân cư và các tổ chức cũng giảm thị phần của ngân hàng như thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán.
Cũng như bất cứ ngành sản xuất nào, cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động ngân hàng thúc đẩy việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng thông qua việc nâng cao trình độ nhân viên, trình độ công nghệ, tập trung nghiên cứu thị trường một cách sâu rộng. Điều này cũng đồng nghĩa với việc các ngân hàng ngày càng chú trọng đầu tư vào hoạt động Marketing [16].
1.2.2. Nghiên cứu khách hàng và phân đoạn khách hàng Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
- Khách hàng của ngân hàng
Khách hàng của ngân hàng là những cá nhân và tổ chức có nhu cầu về sản phẩm tài chính. Họ mong muốn trao đổi với ngân hàng để thỏa mãn các nhu cầu đó. Khách hàng được chia làm hai loại chính là khách hàng cá nhân và khách hàng tổ chức.
Khách hàng là thành phần có vị trí hết sức quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Bởi khách hàng vừa tham gia trực tiếp vào quá trình cung ứng dịch vụ ngân hàng, vừa trực tiếp sử dụng, hưởng thụ sản phẩm dịch vụ. Vì vậy, nhu cầu, mong muốn và cách thức sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng sẽ là yếu tố quyết định cả về số lượng, kết cấu, chất lượng sản phẩm dịch vụ và kết quả hoạt động của ngân hàng. Từ đó đòi hỏi bộ phận Marketing phải xác định được nhu cầu, mong đợi của khách hàng từ phía ngân hàng và cách thức lựa chọn sản phẩm dịch vụ của họ [4].
- Phân đoạn khách hàng
Phân đoạn khách hàng là kỹ thuật chia khách hàng thành những nhóm khác biệt và đồng nhất theo những tiêu thức nhất định mà mỗi nhóm khách hàng đó có thể được lựa chọn như là một mục tiêu cần đạt tới nhờ một chính sách Marketing hỗn hợp riêng biệt. [5]
Phân đoạn khách hàng giúp ngân hàng xác định rõ đặc tính khác nhau của nhu cầu khách hàng trên các đoạn thị trường. Từ đó, ngân hàng có điều kiện xây dựng chương trình Marketing tập trung vào đoạn thị trường hay nhóm khách hàng đã lựa chọn, đáp ứng tối ưu hơn đối thủ cạnh tranh và kiểm soát hơn kết quả hoạt động.
- Tiêu thức phân đoạn khách hàng.
Khách hàng của ngân hàng gồm hai nhóm tách biệt có quy mô lớn như nhau: khách hàng cá nhân và khách hàng tổ chức. Mỗi nhóm khách hàng có nhu cầu về dịch vụ ngân hàng khác nhau, và dựa theo các tiêu thức cụ thể khác nhau để đánh giá. Đối với khách hàng cá nhân, đó là độ tuổi, thu nhập, nghề nghiệp, vùng, tâm lý … Đối với khách hàng tổ chức, đó là ngành nghề kinh doanh, quy mô hoạt động, đặc điểm sở hữu, đặc điểm hoạt động, chính sách của Nhà nước đối với lĩnh vực hoạt động của tổ chức… Trong thực tế, các ngân hàng kết hợp các tiêu thức trong cùng một ma trận, mỗi đoạn thị trường được xem xét với các đặc tính cụ thể về dịch vụ khách hàng. Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
1.2.3. Các thành phần cơ bản của Marketing hỗn hợp dịch vụ ngân hàng
Chiến lược Marketing của các ngân hàng được xây dựng trên cơ sở phân tích các yếu tố môi trường kinh doanh để đưa ra các biện pháp phù hợp với đặc điểm điều kiện hoạt động kinh doanh trong từng thời kì của ngân hàng. Chiến lược Marketing ngân hàng bao gồm các mục tiêu trên 7 nội dung (7Ps): sản phẩm (Product), giá cả (Price), phân phối (Place), yểm trợ (Promotion), con người (Person), cơ sở hạ tầng (Physical Evidence), và quy trình (Process). [5]
1.2.3.1. Chiến lược sản phẩm (Product)
Sản phẩm của ngân hàng có thể kể đến là các dịch vụ tiết kiệm, tạo tài khoản giao dịch, thanh toán, thế chấp, cho vay cá nhân, các loại thẻ tín dụng…
Nội dung chiến lược sản phẩm của ngân hàng bao gồm các quyết định về sản phẩm cung ứng ra thị trường, đó là:
- Xác định danh mục sản phẩm dịch vụ ngân hàng sẽ cung ứng ra thị trường
Danh mục sản phẩm dịch vụ là tập hợp một số nhóm dịch vụ mà ngân hàng lựa chọn và cung cấp cho khách hàng mục tiêu của ngân hàng. Một danh mục sản phẩm dịch vụ được coi là có hiệu quả khi nó đảm bảo được tính đa dạng để đáp ứng nhu cầu, có sức cạnh tranh và duy trì được khả năng sinh lời.
- Hoàn thiện sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Việc hoàn thiện sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng hiện nay thường tập trung theo hướng:
- Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ bằng việc hiện đại hóa công nghệ, tăng cường thiết bị, phương tiện phục vụ khách hàng.
- Làm cho việc sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng trở nên dễ dàng, hấp dẫn hơn và đem lại cho khách hàng những giá trị và tiện ích mới. Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
- Thay đổi cách thức phân phối bằng việc mở cửa giao dịch ngoài giờ hành chính, tăng cường các giao dịch qua hệ thống phân phối ngân hàng hiện đại.
- Phát triển sản phẩm dịch vụ mới
Đây là nội dung quan trọng nhất của chiến lược sản phẩm ngân hàng. Quy trình phát triển sản phẩm dich vụ mới của ngân hàng được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Xây dựng chiến lược sản phẩm dịch vụ mới
Nội dung cơ bản của chiến lược là xác định các mục tiêu phát triển sản phẩm dịch vụ mới và xác định nội dung của sản phẩm dịch vụ mới.
Hình 1.1: Quá trình phát triển sản phẩm dịch vụ mới
Bước 2: Hình thành ý tưởng
Ý tưởng hình thành dịch vụ mới có thể xuất phát từ các nhân viên nghiệp vụ có kinh nghiệm trong quá trình giao dịch với khách hàng, hoặc từ kết quả của nghiên cứu thị trường và các thông tin thu nhập từ khách hàng, có thể được hình thành từ các nguồn bên ngoài ngân hàng thông qua việc thu nhập ý tưởng của các tổ chức phát triển sản phẩm mới, hoặc học tập từ kinh nghiệm của các ngân hàng, thậm chí có thể sao chép các ý tưởng sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng trong và ngoài nước.
Bước 3: Lựa chọn ý tưởng
Việc lựa chọn ý tưởng phát triển sản phẩm dịch vụ mới được các ngân hàng thực hiện một cách chặt chẽ thông qua việc đánh giá, xếp hạng các ý tưởng theo những tiêu chuẩn nhất định. Trên cơ sở đó, ngân hàng lựa chọn những ý tưởng phù hợp với nhu cầu của cả khách hàng và khả năng thực tế của ngân hàng để đảm bảo tính khả thi của nó.
Bước 4: Triển khai và kiểm định
Để đảm bảo hiệu quả của sản phẩm dịch vụ mới, ngân hàng thường tiến hành thử nghiệm và kiểm định sản phẩm dịch vụ mới trên một nhóm khách hàng và thị trường. Từ đó, ngân hàng điều chỉnh cho phù hợp, trước khi tung sản phẩm mới vào các thị trường. Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Bước 5: Tung sản phẩm dịch vụ mới vào thị trường
Khi tung một sản phẩm dịch vụ mới ra thị trường, các nhà Marketing ngân hàng thường tập trung giải quyết tốt một số vấn đề như xác định thời gian đưa sản phẩm dịch vụ mới vào thị trường, xác định địa điểm hay khu vực thị trường cần tập trung, thậm chí phải chỉ định chi nhánh, quầy giao dịch đầu tiên cung ứng sản phẩm mới. Đồng thời, ngân hàng cần sử dụng các biện pháp Marketing hỗ trợ như chiến dịch quảng cáo rầm rộ, khuếch trương sản phẩm dịch vụ mới trên các phương tiện thông tin đại chúng, họp báo giới thiệu sản phẩm dịch vụ, khuyến mãi …
1.2.3.2. Chiến lược giá cả (Price)
Giá của sản phẩm dịch vụ ngân hàng là số tiền mà khách hàng hay ngân hàng phải trả để được quyền sử dụng một khoản tiền trong thời gian nhất định hoặc sử dụng các sản phẩm dịch vụ do ngân hàng cung cấp.
Trong thực tế, giá sản phẩm dịch vụ ngân hàng được biểu hiện dưới ba hình thức phổ biến:
- Lãi là lượng tiền phải trả để được quyền sử dụng một khoản tiền nào đó trong một khoảng thời gian nhất định gồm lãi tiền gửi và tiền vay.
- Phí là khoản tiền khách hàng phải trả khi sử dụng dịch vụ của ngân hàng.
- Hoa hồng là khoản tiền khách hàng phải trả cho ngân hàng khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ môi giới cho khách hàng như hoa hồng cho các dịch vụ môi giới bất động sản, môi giới chứng khoán.
Quy trình định giá sản phẩm dịch vụ của ngân hàng
Tiến hành xác định giá sản phẩm của dịch vụ ngân hàng gồm 7 giai đoạn:
Bước 1: Xác định mục tiêu Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Chính sách giá sản phẩm dịch vụ phải góp phần vào việc thực hiện tốt các mục tiêu chung của Marketing ngân hàng, nhưng nó cũng có những mục tiêu riêng, đó là:
- Thu hút khách hàng mới và tăng sức cạnh tranh cho ngân hàng
- Tăng doanh số hoạt động.
- Tăng cường mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng.
Bước 2: Đánh giá cầu
Ngân hàng thường dự báo nhu cầu của sản phẩm dịch vụ ngân hàng dựa trên một số tiêu chí sau:
- Số lượng khách hàng hiện tại và xu hướng phát triển trong tương lai.
- Mức độ mong muốn của khách hàng về sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
- Mức giá sản phẩm dịch vụ ngân hàng dự kiến.
- Độ co giãn về cầu của các mức giá khác nhau đối với từng nhóm khách hàng.
Bước 3: Phân tích cơ cấu chi phí
Nhiệm vụ của phân tích chi phí trước hết là phải xác định được tổng chi phí, chi phí của ngân hàng và cơ cấu chi phí cho từng loại sản phẩm dịch vụ.
Bước 4: Phân tích giá của đối thủ cạnh tranh
Những thay đổi trong chiến lược giá của đối thủ cạnh tranh sẽ tác động mạnh mẽ đến tất cả các ngân hàng hoạt động trên thị trường. Do đó, trong chiến lược giá, các ngân hàng thường quan tâm đến mức giá của các sản phẩm dịch vụ tương tự của các đối thủ cạnh tranh. Trên cơ sở đó, các ngân hàng có thể duy trì một chiến lược giá cạnh tranh năng động hiệu quả.
Bước 5: Lựa chọn phương pháp định giá Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Để có được chiến lược giá hợp lý, nhà quản trị mạng Marketing ngân hàng phải lựa chọn được phương pháp xác định giá phù hợp. Các phương pháp xác định giá bao gồm:
- Phương pháp xác định giá theo chị phí bình quân cộng lợi nhuận.
- Phương pháp xác định giá trên cơ sở phân tích hòa vốn đảm bảo lợi nhuận.
- Phương pháp xác định giá trên cơ sở biểu giá thị trường.
- Phương pháp xác định giá trên cơ sở quan hệ với khách hàng.
- Phương pháp định giá thấp để thâm nhập thị trường – Phương pháp xác định giá trượt.
Bước 6: Xác định giá
Trên cơ sở các phương pháp xác định giá đã có, ngân hàng tiến hành xác định giá các sản phẩm dịch vụ để có thể tối ưu hóa lợi nhuận cho từng sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Bước 7: Các quyết định về giá
Việc định giá của ngân hàng hết sức linh hoạt, các ngân hàng thường điều chỉnh mức giá của mình thích ứng trong điều kiện cụ thể. Phương pháp thích ứng giá thường được sử dụng là phương pháp định giá địa lý, giảm giá (chiết khấu), trợ cấp, định giá phân biệt …[5]&[16]
Hình 1.2: Tiến trình xác định giá của ngân hàng
1.2.3.3. Chiến lược phân phối (Place)
Kênh phân phối là một tập hợp các yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình đưa sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đến khách hàng. Nó bao gồm tổ chức, cá nhân và các phương tiện thực hiện các hoạt động đưa sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đến với khách hàng. Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Thực tế, khi xác định quy mô chi nhánh, lựa chọn địa điểm, loại kênh phân phối sản phẩm dịch vu, các ngân hàng thường dựa vào các tiêu chí cụ thể như sau: quy mô, tốc độ phát triển của thị trường, tổng lượng khách hàng, mức độ tập trung của ngân hàng, triển vọng phát triển của khách hàng, tần số sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng của họ, số lượng đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm năng, mức độ tập trung của đối thủ cạnh tranh, các trở ngại trong quá trình tham gia và rút khỏi thị trường, các yếu tố môi trường vĩ mô thay đổi theo chiều hướng nào và có thể mang đến những thuận lợi hay khó khăn đối với hoạt động của ngân hàng trong cả ngắn và dài hạn …
Tuy nhiên một hệ thống kênh phân phối hợp lý của ngân hàng phải đảm bảo những yêu cầu sau:
- Thuận tiện cho khách hàng trong quá trình giao dịch và tiếp cận với ngân hàng.
- Phù hợp với phạm vi quy mô hoạt động của ngân hàng trong cả hiện tại và tương lai.
- Tạo được sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng.
- Phù hợp với mô hình tổ chức của ngân hàng. [5]&[9]
1.2.3.4. Chiến lược xúc tiến hỗn hợp (Promotion)
Xúc tiến hỗn hợp là một công cụ quan trọng của Marketing, được các ngân hàng sử dụng để tác động vào thị trường. nó bao gồm một tập hợp các hoạt động nhằm kích thích việc sử dụng sản phẩm dịch vụ hiện tại và sản phẩm dịch vụ mới, đồng thời làm tăng mức độ trung thành của khách hàng, thu hút khách hàng tương lại, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ, đặc biệt làm tăng uy tín, hình ảnh của ngân hàng.
Để đạt được các mục tiêu đã xác định, bộ phận Marketing của ngân hàng thường triển khai chiến lược xúc tiến hỗn hợp thông qua các hình thức sau:
- Quảng cáo: là phương thức truyền thông không trực tiếp nhằm giới thiệu sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện truyền tin và ngân hàng phải trả chi phí.
- Giao dịch cá nhân: là những giao dịch trực tiếp được thực hiện giữa nhân viên ngân hàng và khách hàng.
- Tuyên truyền hoạt động của ngân hàng trong xã hội: bao gồm các hoạt động nhằm tạo dựng và duy trì sự hiểu biết rộng rãi trong xã hội về ngân hàng đặc biệt là đối với những đối tượng sẽ giao dịch với ngân hàng.
- Hoạt động khuyến mãi: sử dụng nhóm các công cụ nhằm tác động trực tiếp và tích cực vào việc sử dụng và định hướng cho việc sử dụng và lựa chọn ngân hàng của khách hàng, có tác dụng làm tăng doanh số hoạt động và tạo lợi thế cạnh tranh của ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
- Marketing trực tiếp: là việc sử dụng một hệ thống các phương tiện nhằm thiết lập và mở rộng những việc đối thoại trực tiếp giữa ngân hàng và khách hàng.
- Các hoạt động tài trợ: hoạt động nhằm tăng cường sự hiểu biết của khách hàng về ngân hàng và những đổi mới của ngân hàng, thu hút sự chú ý của các phương tiện thông tin đại chúng tăng cường các mối quan hệ trong cộng đồng xã hội …[5]&[16]
1.2.3.5. Chiến lược con người (People)
Trong lý thuyết khung về marketing dịch vụ 7Ps của tác giả Booms and Bitner, con người được hiểu là tất cả những đối tượng trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến sự tiêu dùng dịch vụ, bao gồm nhân sự của doanh nghiệp và các khách hàng của doanh nghiệp. Do tính không tách rời giữa quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ các ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tiếp xúc với nhân viên để cung cấp dịch vụ. Những nhân viên này góp phần lớn vào chất lượng dịch vụ của ngân hàng bằng việc tạo ra những ấn tượng tốt về ngân hàng đó thông qua lời nói, cử chỉ, thái độ khi giao dịch với khách hàng của ngân hàng và do đó có thể cung cấp dịch vụ tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác trong lĩnh vực ngân hàng.
Các ngân hàng phải tìm cách thức quản lý một cách hiệu quả các nhân viên của mình để đảm bảo thái độ và cách cư xử của nhân viên có lợi cho việc phân phối chất lượng dịch vụ. Điều này đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng bởi vì mỗi nhân viên có một cách thức làm việc riêng dẫn đến sự khác nhau về chất lượng dịch vụ. Chất lượng dịch vụ (một lần mở tài khoản tại ngân hàng, vay vốn, mở thẻ…) có thể khác nhau giữa các ngân hàng và khách hàng bởi rất nhiều yếu tố. Sự thiếu đồng nhất trong dịch vụ gây ra rất nhiều khó khăn cho các nhà cung cấp. Khi việc cung cấp dịch vụ được tiến hành trong suốt sự tương tác giữa nhân viên giao dịch và khách hàng, thái độ và cách cư xử của nhân viên giao dịch có thể ảnh hưởng rất lớn đến sự nhận thức của khách hàng về dịch vụ.
Khách hàng là yếu tố con người đặc biệt quan trọng nữa trong marketing dịch vụ ngân hàng. Mỗi khách hàng có một nhu cầu riêng, có cách đánh giá khác nhau về chất lượng dịch vụ. Ví dụ: khi tiến hành một giao dịch vay tiền ngắn hạn, sẽ có khách hàng cho rằng việc mất 7 ngày để chờ trả lời xét duyệt thủ tục từ ngân hàng là rất mất thời gian do đó họ tìm sang ngân hàng khác có thời gian xét duyệt hồ sơ ngắn hơn, tuy nhiên những khách hàng khác lại cho rằng 7 ngày là cần thiết và không phải là thời gian quá dài. Điều này rất quan trọng bởi vì nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ và giá cả dịch vụ có thể ảnh hưởng đến chính sự thõa mãn của họ và do đó ảnh hưởng đến xu hướng sử dụng các dịch vụ ngân hàng của họ.
1.2.3.6. Chiến lược cơ sở hạ tầng (Physical Evidence) Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Cơ sở hạ tầng được hiểu là môi trường trong đó dịch vụ được tập trung lại và tại đó người bán và người mua tương tác với nhau, kết hợp với các hàng hóa hữu hình tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất và tiêu dùng dịch vụ. Cơ sở hạ tầng của dịch vụ ngân hàng bao gồm tất cả những mô tả hữu hình về dịch vụ, ví dụ: Trang phục nhân viên, trang thiết bị, cơ sở vật chất, các brochure, tiêu đề thư, danh thiếp, bản báo cáo, dấu hiệu nhận biết, hiện diện trên internet… Ví dụ; trong một ngân hàng cách bố trí các phòng ban, quầy giao dịch, các thiết bị máy móc, đồ nội thất hệ thống chiếu sáng và trang trí trong phòng giao dịch cũng như trang phục và cách cư xử của nhân viên ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến sự nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Bởi vì tính đồng thời trong việc sản xuất và tiêu dùng của dịch vụ mà những điều kiện vật chất đóng một vai trò quan trọng trong quyết định tiêu dùng dịch vụ của khách hàng.
Vì các dịch vụ có tính vô hình nên các khách hàng thường kiếm tìm các dấu hiệu hữu hình để tìm hiểu bản chất của dịch vụ. Một dịch vụ có tính vô hình càng cao thì nhu cầu làm cho dịch vụ trở nên hữu hình càng lớn. Thẻ tín dụng là một ví dụ khác về việc sử dụng các bằng chứng hữu hình tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch của khách hàng thông qua địa điểm chấp nhận thẻ tín dụng và các ngân hàng. Trong thực tế, môi trường vật chất là một phần của chính sản phẩm. Tóm lại, cơ sở vật chất tạo cho khách hàng ấn tượng về một ngân hàng và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của cả nhân viên ngân hàng và khách hàng của ngân hàng.
1.2.3.7. Chiến lược quy trình (Process)
Quy trình được hiểu là các thủ tục, quy trình dịch vụ, các bước thực hiện, cơ chế và thứ tự các hoạt động theo đó dịch vụ được phân phối ví dụ như dịch vụ chuyển phát và hệ thống vận hành. Bởi vì các dịch vụ chính nó cũng được thực hiện cho và với sự giúp đỡ của khách hàng, chúng lại liên quan một cách điển hình tới một chuỗi các bước đi và các hoạt động. Sự kết hợp của những bước này tạo ra một quy trình dịch vụ được đánh giá bởi chính khách hàng. Hơn thế nữa, trong khi mua một dịch vụ các khách hàng hầu như phải xếp hàng chờ đợi trước khi được phục vụ và chính sản phẩm dịch vụ này cũng phải mất một khoảng thời gian chờ đợi để đến tay người sử dụng. Điều này cho phép các nhà làm marketing đảm bảo chắc chắn rằng khách hàng của mình hiểu rõ các quy trình đạt được dịch vụ và thời gian dịch vụ được chuyển phát tới khách hàng. Việc thiết lập và quản lý các quy trình dịch vụ một cách có hiệu quả là nhiệm vụ thiết yếu đối với bất kỳ một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ.
Tương ứng với mỗi loại sản phẩm lại có một quy trình riêng. Hiện nay trong dịch vụ ngân hàng có khoảng 40 loại quy trình tất cả (Quy trình cho vay, huy động vốn, mở thẻ,…). Cụ thể trong mỗi hoạt động lại có mỗi quy trình cụ thể hơn ví dụ như đối với hoạt động cho vay lại có các quy trình về cho vay ngắn hạn, dài hạn, cho vay tiểu thương, cho vay trả góp, cho vay mua nhà… Có thể lấy một ví dụ về quy trình mở thẻ ATM tại ngân hàng như sau:
- Bước 1: Phát hồ sơ để khách hàng điền đầy đủ thông tin
- Bước 2: Tiếp nhận hồ sơ và thu phí
- Bước 3: Nhập máy mở tài khoản thẻ
- Bước 4: Chuyển hồ sơ về trung tâm điện toán để sản xuất thẻ
- Bước 5: Trả về nơi mở thẻ để trả thẻ cho khách hàng Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Việc quản lý một yếu tố trong quy trình cũng rất cần thiết bởi tính “dễ hỏng” của dịch vụ điều này được giải thích là bởi các dịch vụ ngân hàng không thể được cất trữ, tái sử dụng hay trả lại cho nhà cung cấp. Vì dịch vụ ngân hàng không thể cất trữ nên đây là một thử thách đối với chính bản thân các ngân hàng trong việc quản lý mọi tình huống khi xảy ra việc thừa hay thiếu nhu cầu về dịch vụ của mình. Một đặc tính khác biệt nữa của quy trình dịch vụ ngân hàng được cung cấp cho khách hàng các bằng chứng đó là quy trình để tiêu chuẩn hóa và tùy biến dịch vụ dựa trên nhu cầu thực tiễn và sự mong đợi của khách hàng. Vì dịch vụ được tạo ra cũng là lúc chúng được tiêu dùng và vì khách hàng cũng thường xuyên liên quan tới các quy trình dịch vụ nên có nhiều hơn các cơ hội để tùy biến dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Đầu tiên đó là sự liên quan về quy mô theo đó các đặc tính của dịch vụ và hệ thống phân phối cho phép chúng tùy biến theo quy mô của nhu cầu của khách hàng. Điều thứ hai liên quan đến quy mô về tính linh hoạt của nhân viên ngân hàng bởi các nhân viên ngân hàng đều được đào tạo các kĩ năng cơ bản để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng.
Tóm lại, cả 3Ps của marketing dịch vụ: con người, cơ sở hạ tầng vật chất và quy trình đều ảnh hưởng đến quyết định mua hàng ban đầu của khách hàng cũng như mức độ thỏa mãn và quyết định sử dụng tiếp dịch vụ của khách hàng. Các ngân hàng cần thường xuyên củng cố việc cung cấp dịch vụ với chất lượng tốt nhất và việc giữ chân khách hàng cũng như việc thiết kế các quy trình dịch vụ theo kịp với sự thay đổi liên tục nhu cầu của khách hàng.
1.3. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
1.3.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh của NHTM
Khi nghiên cứu về kinh tế thị trường, K. Marx đã phát hiện ra các quy luật chi phối sự vận động của nó, đó là quy luật giá trị, quy luật cung – cầu và quy luật cạnh tranh. Cạnh tranh xuất hiện và gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận cao nhất”. [2, tr164]
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là động lực thúc đẩy các nhà sản xuất, kinh doanh sử dụng các biện pháp để tiết kiệm chi phí, làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa của họ thấp hơn giá trị xã hội (giá trị thị trường) của hàng hóa đó [2, tr 165,166].
Năng lực cạnh tranh của NHTM là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh khả năng tự duy trì lâu dài một cách có ý thức các lợi thế của chúng trên thị trường, trên cơ sở thiết lập mối quan hệ bền vững với khách hàng để đạt được một số lượng lợi nhuận nhất định hoặc đó là khả năng chống lại một cách thành công sức ép của các lực lượng cạnh tranh”. Năng lực cạnh tranh của NHTM phụ thuộc đồng thời vào nhiều nhân tố khác nhau (Các nguồn lực khác nhau) và năng lực của bản thân NHTM. Việc đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM cũng dựa trên khả năng duy trì lợi thế cạnh tranh của NHTM.
1.3.2. Một số chỉ tiêu đo lường NLCT của ngân hàng thương mại.
1.3.2.1. Các chỉ tiêu về nguồn lực của NHTM
- a) Các chỉ tiêu về tình hình tài chính của NHTM
Chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của NHTM bao gồm chỉ tiêu về vốn tự có, chỉ tiêu nợ quá hạn và chỉ tiêu về khả năng chống đỡ rủi ro.
- Chỉ tiêu vốn tự có
Vốn tự có là vốn thuộc sở hữu riêng có của doanh nghiệp. Vốn tự có của NHTM, theo luật các TCTD, điều 20 có nêu: “Vốn tự có gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác của TCTD theo quy định của NHNN. Vốn tự có là căn cứ để tính toán các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng” [14].
Vốn tự có của NHTM (bao gồm vốn tự có cơ bản hay vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, quỹ dự phòng rủi ro, quỹ đặc biệt, lợi nhuận để lại chưa chia…) là vốn của bản thân NHTM, luôn được xác định có vị trí cốt lõi. Tính cốt lõi của vốn tự có không phải ở việc tham gia vào hoạt động kinh doanh mà ở chỗ nó quyết định qui mô, tầm vóc và làm nền tảng của mỗi NHTM ngay từ khi khai trương hoạt động. Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Xuất phát từ quyền năng của NHTM đối với vốn tự có nên chức năng và mục tiêu của vốn tự có không phải để tạo ra lợi nhuận mà nó làm nền móng bảo đảm cho hoạt động của NHTM được an toàn, cụ thể là chống đỡ rủi ro, bảo vệ người gửi tiền khi NHTM gặp khó khăn, đóng vai trò “kháng thể” trong kinh doanh… Nội dung tính chất cốt lõi của vốn tự có được xác định là xuất phát điểm và làm nền tảng, căn cứ của quá trình xây dựng các văn bản pháp luật, các quy chế về hoạt động quản lý và giám sát, đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thông ngân hàng. Những quy định này bao gồm:
- Vốn tự có quyết định quy mô huy động vốn của NH: Theo quy định của ủy ban Bassel, vốn tự có của NHTM phải đạt tỷ lệ tối thiểu 8% trên tổng tài sản Có. Ở Mỹ, các NHTM không được huy động vốn gấp quá 10 lần vốn tự có.
- Vốn tự có quyết định tỷ lệ hùn vốn kinh doanh của NH
- Vốn tự có quyết định mức cho vay cao nhất đối với một khách hàng của NHTM. Điều này có nghĩa là mức cho vay cao nhất đối với một khách hàng không được vượt quá một tỷ lệ phần trăm nhất định so với vốn tự có, tùy theo quy định của từng nước.
Ngoài ra, dựa trên cơ sở vốn tự có mà NHTM được thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế như nghiệp vụ bảo lãnh, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, mở chi nhánh, văn phòng…[14]
- Chỉ tiêu nợ quá hạn
Chỉ tiêu nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu cơ bản đánh giá tình hình tài chính của một NHTM. Nợ quá hạn, hay còn gọi là nợ xấu là một loại rủi ro tín dụng gây ra sự tổn thất về tài chính cho NH (trực tiếp hoặc gián tiếp) do người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán.
Do đặc thù hoạt động của NHTM là đi vay để cho vay, và như đã đề cập ở trên, số tài sản NHTM sử dụng trong kinh doanh lớn gấp nhiều lần số vốn tự có của NH nên nợ quá hạn ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của NHTM. Thông thường, để quản lý và đánh giá khả năng thu hồi những khoản nợ quá hạn người ta thường dùng chỉ tiêu sau:
Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Nợ quá hạn/ Tổng tài sản hoặc nợ quá hạn/ Vốn tự có
- Khả năng chống đỡ rủi ro
Như phần trên đã đề cập, hoạt động kinh doanh của ngân hàng sử dụng vốn huy động từ các nguồn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội là chính, phần vốn tự có của NH chỉ đóng vai trò “kháng thể”. Vì vậy, để duy trì hoạt động của NH, các NH đều trích lập dự phòng bù đắp rủi ro để trang trải cho những rủi ro xảy ra trong hoạt động kinh doanh của mình. Nếu rủi ro quá lớn, vượt cả phần dự phòng này thì các NHTM phải trích từ vốn tự có ra để trang trải cho những rủi ro và có thể dẫn tới phá sản.
b) Các chỉ tiêu về hoạt động và thị phần của NHTM
- Chỉ tiêu về thị phần huy động vốn (Các nghiệp vụ bên tài sản Nợ)
Huy động vốn là một trong những hoạt động quan trọng của NHTM. Trên bảng cân đối tài sản của NHTM, vốn huy động nằm trong danh mục tài sản nợ. Tài sản nợ diễn tả những khoản mà NHTM mắc nợ thị trường, hay là nguồn vốn kinh doanh chủ yếu của NHTM. Theo thông lệ quốc tế, giá trị của tài sản Nợ thường lên đến 90% hoặc hơn 90% tổng nguồn vốn của NHTM. Như vậy huy động vốn có ý nghĩa quan trọng đối với NHTM, là nguồn chủ yếu để NHTM thực hiện hoạt động kinh doanh của mình và cũng là cơ sở để NHTM mở rộng hoạt động kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh.
Để đánh giá hoạt động huy động vốn của NHTM, ta sử dụng chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu này cho biết NHTM này chiếm vị trí nào trên thị trường trong hoạt động huy động vốn.
Hai chỉ tiêu này cho biết sự tăng trưởng theo mức tương đối và tuyệt đối của hoạt động huy động vốn của NHTM. Thông qua chỉ tiêu này so sánh với mức tăng trưởng chung của NHTM để có những nhận xét về khả năng cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn của NHTM.
- Chỉ tiêu về thị phần cho vay và đầu tư của Ngân hàng thương mại (Một số nghiệp vụ bên tài sản Có)
Hoạt động cho vay và đầu tư nằm trong danh mục tài sản Có trên bảng cân đối tài sản của NHTM. Khi đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM về các hoạt động bên Tài sản Có chỉ chủ yếu liên quan đến các tài sản có sinh lời, tức là các hoạt động cho vay và đầu tư. Đối với các NHTM Việt Nam, họat động của hệ thống NHTM chưa phát triển, chưa đa dạng, vẫn chủ yếu là hoạt động tín dụng (cho vay) nên việc đánh giá này chủ yếu thông qua các chỉ tiêu:
- Đánh giá về thị phần tín dụng của NH thông qua việc so sánh dư nợ của NH với tổng dư nợ của nền kinh tế
Chỉ tiêu này cho biết vị trí của NH trong hoạt động cho vay Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
- Đánh giá mức tăng trưởng tuyệt đối và tương đối của chỉ tiêu này:
Tỉ lệ này cho biết mức tăng trưởng tuyệt đối và tương đối của chỉ tiêu này, so sánh với mức tăng trưởng chung của nền kinh tế để có những nhận xét, đánh giá về hoạt động tín dụng của NHTM.
- Chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động của NHTM
Chỉ tiêu thu nhập và chi phí hoạt động phản ánh kết qủa hoạt động của NHTM, thông qua chỉ tiêu này, người ta có thể đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM vì đây là một trong những nhân tố tạo nên giá thành của sản phẩm dịch vụ mà NH cung ứng cho khách hàng, qua đó tạo nên lợi thế cạnh tranh của NH. Các chỉ tiêu thường dùng để đánh giá kết quả hoạt động của NHTM bao gồm: Tổng chi phí, tổng thu nhập, lợi nhuận
Các chỉ tiêu phản ánh mức sinh lời của các NHTM: Đây là những chỉ tiêu rất quan trọng, đánh giá chất lượng hoạt động của NHTM. Những chỉ tiêu này thông thường bao gồm:
- Lợi nhuận hàng năm: càng lớn, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận đều đặn và cao trong các năm thể hiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng ngày một nâng cao, quy mô hoạt động của ngân hàng ngày một mở rộng. Đây là nguồn quan trọng để ngân hàng tăng quy mô vốn trong tương lai.
- Tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản (ROA- Return On Assets): Thể hiện một đồng tài sản của ngân hàng sẽ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một thời gian nhất định ( thường là một năm).
Tỷ lệ sinh lời tính trên tài sản (ROA) càng cao thể hiện khả năng quản lý, khai thác, sử dụng các tài sản của ngân hàng càng có hiệu quả để tăng thu nhập cho ngân hàng.
Tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE- Return On Equity): thể hiện một đồng vốn chủ sở hữu của ngân hàng sẽ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một thời gian nhất định (thường là một năm).
Tỷ lệ sinh lời tính trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng càng cao thể hiện sử dụng vốn của ngân hàng trong đầu tư, cho vay càng hiệu quả.
- Khả năng cho vay đối với khách hàng Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Các NHTM đang hoạt động trong một môi trường đầy sự cạnh tranh. Việc tìm kiếm được những khách hàng vay an toàn, hiệu quả, những dự án tốt, khả thi luôn là mục tiêu của các NH. Nhưng những dự án mang lại hiệu quả thường là những dự án lớn thuộc những ngành kinh tế mạnh như dầu khí, bưu chính viễn thông hoặc dự án xây dựng nhà máy mới, cơ sở hạ tầng, đòi hỏi những khoản cho vay lớn. Các NHTM lại chịu sự ràng buộc của pháp luật về doanh số cho vay tối đa đối với một khách hàng và một nhóm khách hàng nên nếu vốn tự có của NH không đủ lớn để cho vay dự án đó thì ngân hàng lại phải chia sẻ với những ngân hàng khác, làm giảm lợi nhuận tiềm năng của ngân hàng.
- Khả năng mở rộng thị trường và đa dạng hóa hoạt động
Một ngân hàng có sức cạnh tranh phải biết phân chia rủi ro kinh doanh của chúng một cách hợp lý. Hoạt động kinh doanh tiền tệ của NHTM bao giờ cũng tiềm ẩn những rủi ro. Những rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn.
Vì vậy, các NHTM phải có chiến lược kinh doanh hợp lý, đa dạng hóa danh mục đầu tư để vừa đạt được mục tiêu an toàn, vừa đảm bảo lợi nhuận. Hoạt động đầu tư dài hạn của NHTM liên quan chặt chẽ với vốn tự có vì vốn tự có chứng tỏ khả năng thanh toán dài hạn của NHTM. Các NHTM chỉ được dùng một tỉ lệ nhất định của vốn tự có để tham gia các hoạt động đầu tư dài hạn như tham gia liên doanh hoặc đầu tư vào doanh nghiệp dưới dạng góp vốn cổ phần, hoặc đầu tư vào các công ty tài chính…
- Khả năng đổi mới tài sản, công nghệ và thực hiện các dịch vụ ngân hàng
Trong thời đại ngày nay, công nghệ là chìa khóa của thành công. Kinh doanh của NHTM cũng không nằm ngoài xu hướng này. Công nghệ ngân hàng có tác dụng quan trọng trong việc năng cao năng lực cạnh tranh của NHTM, làm cho NHTM có thể giảm được phần lớn chi phí hoạt động của mình, đa dạng hóa sản phẩm cũng như hạ giá thành sản phẩm dịch vụ.
Kết quả này lại tác động trở lại vốn tự có của ngân hàng: Với hiệu quả hoạt động cao, rủi ro hoạt động giảm sẽ làm tăng lợi nhuận của ngân hàng, mà đây chính là nguồn thu nhập của ngân hàng để trích lập các quỹ và tăng vốn tự có của mình. Trong thành phần vốn tự có của các NHTM trên thế giới, lợi nhuận của các NHTM dưới hình thức giá trị thặng dư, lãi không chia và các khoản dự phòng rủi ro tín dụng chiếm tới 80% số vốn. Nghiên cứu của các nhà kinh tế và các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng đã chỉ ra rằng nguồn quan trọng nhất trong hình thành vốn tự có của ngân hàng trong thập niên vừa qua xuất phát từ lợi nhuận để lại, khoảng 70% sự gia tăng về vốn tự có là từ nguồn gốc này [4]. Vì vậy, việc các ngân hàng đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ, hiên đại hóa sản phẩm dịch vụ để tăng lợi nhuận có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
- Chất lượng nguồn nhân lực
Đối với NHTM chất lượng nguồn nhân lực hiện nay đang là một nhân tố tạo nên sự khác biệt, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của NH.
Như phần trên đã trình bày, sản phẩm kinh doanh của NH là các sản phẩm dịch vụ, có tính vô hình. Sự khác biệt về chất lượng của các sản phẩm này giữa các NHTM khác nhau là rất khó phân biệt. Vì vậy, nhân lực của NHTM, của các nhân viên giao dịch trực tiếp với khách hàng của NH chính là điểm tạo nên sự khác biệt giữa các ngân hàng, có vai trò quan trọng trong việc tạo nên hình ảnh của NH đối với khách hàng, một trong những yếu tố tạo nên uy tín của NH trên thị trường.
Hơn nữa, một ngân hàng có đầu tư công nghệ thiết bị hiện đại mà không có nguồn nhân lực chất lượng cao, có tri thức để khai thác, vận hành thiết bị này thì việc đầu tư cũng coi như không có hiệu quả hoặc hiệu quả thấp, làm giảm năng lực cạnh tranh của NH.
- g) Danh tiếng và uy tín của ngân hàng
Danh tiếng và uy tín của NH chính là nguồn lực vô hình của NH, được tạo ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của NH.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế như hiện nay, danh tiếng và uy tín của một doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng, được biểu hiện bằng thương hiệu hàng hóa của doanh nghiệp. Thương hiệu hàng hóa của doanh nghiệp đã trở thành một nhân tố tạo ra sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì thế, các doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế đều yêu cầu pháp luật bảo vệ cho thương hiệu hàng hóa của doanh nghiệp mình nhằm bảo vệ và củng cố uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, tránh bị các doanh nghiệp khác đánh cắp thương hiệu.
Các NHTM cũng là một doanh nghiệp uy tín trong nền kinh tế. Vì vậy, việc không ngừng nâng cao uy tín của mình trong kinh doanh, tạo sự tin tưởng của công chúng vào “thương hiệu” các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mình là một trong những nhân tố làm tăng sức mạnh cạnh tranh của NH.
1.3.2.2. Năng lực quản trị điều hành Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Trên cơ sở các học thuyết về quản trị học và lý thuyết quản trị kinh doanh, có thể hiểu: Quản trị ngân hàng thương mại là việc thiết lập các chương trình hoạt động kinh doanh để đạt được mục đích, mục tiêu kinh doanh dài hạn và ngắn hạn của ngân hàng, là việc xác định và điều hòa các nguồn tài nguyên để thực hiện chương trình, các mục tiêu kinh doanh, đó là việc tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra nhân viên của ngân hàng thực hiện chương trình, mục tiêu đã đề ra. [7]
Như vậy, quản trị NHTM bao gồm những nội dung:
- Thiết lập các mục tiêu kinh doanh của NH và thời hạn để thực hiện các mục tiêu đó;
- Xác định nguồn tài nguyên cho việc thực hiện các mục tiêu;
- Bố trí, phân bổ các nguồn tài nguyên vào các khâu công việc để thực hiện các kế hoạch, các chương trình mục tiêu đã hoạch định.
- Hoạt động lãnh đạo của các cấp quản trị và họat động kiểm tra của họ đối với hoạt động của các thuộc cấp, để đảm bảo rằng những mục tiêu, chương trình, kế hoạch đã được chọn đang và sẽ được hoàn thành.
Như vậy, năng lực quản trị ngân hàng là khả năng tổ chức và thực hiện tốt tiến trình quản trị nói trên của các cấp quản trị trong NH (cấp cao, cấp trung gian, cấp cơ sở). Tiến trình quản trị NH được thực hiện tốt sẽ là yếu tố cực kỳ quan trọng, đảm bảo cho NHTM thực hiện được mục tiêu kinh doanh an toàn và lợi nhuận tối đa- là yếu tố quyết định để NH đứng vững trong cạnh tranh. Do vậy, nâng cao năng lực quản trị và điều hành NHTM cũng là một nhân tố đảm bảo cho NH đứng vững trong cạnh tranh.
1.4. Hội nhập và sự cần thiết phải áp dụng Marketing nhằm nâng cao NLCT của các NHTM . Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
1.4.1. Hội nhập kinh tế quốc tế
Ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu của các nước kinh tế đang phát triển muốn tiếp cận nhanh nền kinh tế tiên tiến. Đối với VN, hội nhập quốc tế là một hướng đi đúng và quan trọng làm tiền đề cho việc tạo dựng vị thế trên trường quốc tế, đồng thời mang lại nhiều cơ hội để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế đất nước.
Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng đặt ra cho các doanh nghiệp VN, đặc biệt là các ngân hàng thương mại – Doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ – tín dụng đứng trước những thách thức lớn. Cụ thể là:
Thứ nhất, các NHTMVN ngày càng chịu áp lực trong việc giữ và mở rộng thị phần của mình ngay trên lãnh thổ VN. Hiện nay, các NHTM phải chịu áp lực cạnh tranh gay gắt không chỉ bởi các NHTM nước ngoài mà còn phải chịu áp lực cạnh tranh với các tổ chức tài chính trung gian khác và các định chế tài chính khác như thị trường chứng khoán, cho thuê tài chính, bảo hiểm, vv.. Ngoài ra, việc phải loại bỏ dần những hạn chế đối với NHTM nước ngoài có nghĩa là các NHTM nước ngoài sẽ từng bước tham gia đầy đủ vào mọi lĩnh vực hoạt động ngân hàng tại VN.
Thứ hai, cạnh tranh trong việc huy động vốn ngày càng gay gắt. Thực hiện hội nhập đòi hỏi chúng ta phải thực hiện lộ trình dỡ bỏ những hạn chế đối với các ngân hàng nước ngoài trong việc huy động vốn. Ngày 16.9.2020, Ngân hàng Nhà nước VN (SBV) đã điều chỉnh tỷ lệ huy động tiền gửi VND đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động ở VN từ 25% lên 50%. VN cũng đang cam kết mở cửa thị trường dịch vụ tài chính – ngân hàng theo lộ trình nới lỏng dần và tiến tới xoá bỏ các hạn chế đối với hoạt động ngân hàng. Giai đoạn từ 2017 đến 2030, các ngân hàng Mỹ sẽ được thành lập các ngân hàng liên doanh với số vốn từ 30% – 49%, tới năm 2030 được thành lập ngân hàng với vốn 100% của Mỹ. Hội nhập ngân hàng đòi hỏi các NHTM VN phải nhanh chóng tăng quy mô, đầu tư công nghệ, cải tiến trình độ quản lý. Công nghệ hiện đại và trình độ quản lý cũng như tiềm lực tài chính dồi dào của những ngân hàng nước ngoài sẽ là những ưu thế cơ bản tạo ra sức ép cạnh tranh trong ngành ngân hàng và buộc các ngân hàng VN phải tăng thêm vốn, và đầu tư kỹ thuật, cải tiến phương pháp quản trị, hiện đại hoá hệ thống thanh toán để nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh.
Thứ ba, cạnh tranh trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng cũng ngày cành quyết liệt. Ngày nay, ngoài những nghiệp vụ truyền thống như tín dụng và đầu tư thì dịch vụ ngân hàng cũng tạo nên sắc thái mới cho ngân hàng trong chiến lược cạnh tranh vào tạo thị phần cho mình. Do đó, các NHTMVN cũng phải chịu áp lực tạo nên phong cách văn hoá cho ngân hàng mình, tạo nên phong cách phục vụ riêng thể hiện nét đặc thù của mình mới hy vọng tạo thế đứng vững chắc trên thị trường.
Thứ tư, cạnh tranh trong việc sử dụng lao động ngày càng gay gắt. Mọi sự thành công của một doanh nghiệp đều xuất phát từ yếu tố con người. Hiện nay, chế độ đãi ngộ cho lao động đặc biệt là lao động có trình độ cao ở các NHTMVN chưa đủ sức thuyết phục để lôi kéo những lao động có trình độ chuyên môn cao. Hiện tượng chảy máu chất xám là căn bệnh nan y không chỉ đối với ngành tài chính – ngân hàng mà đối với tất cả các ngành kinh tế ở VN.
1.4.2. Sự cần thiết phải áp dụng Marketing nhằm nâng cao NLCT của NHTM. Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Như đã phân tích ở trên, hệ thống các NHTMCP Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trước ngưỡng cửa nhìn ra thế giới. Hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng sẽ đào thải những NHTMCP có năng lực cạnh tranh yếu, do vậy các ngân hàng cần phải áp dụng Marketing vào hoạt động kinh doanh của mình để tiếp tục tồn tại và mở rộng thị phần trong thị trường tài chính. Bởi hệ thống NHTMCP Việt Nam còn có rất nhiều điểm yếu, cụ thể là:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật trong nước, thể chế thị trường còn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ nhất quán,… là một trong những thách thức lớn trong tiến trình hội nhập. Hội nhập quốc tế làm tăng giao dịch vốn và rủi ro của hệ thống ngân hàng, trong khi đó cơ chế quản lý và hệ thống thông tin tỷ giá, giá cả của ngân hàng còn rất sơ khai, không phù hợp với thông lệ quốc tế, chưa có hiệu quả và hiệu lực để đảm bảo việc tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật về ngân hàng và sự an toàn của hệ thống ngân hàng.
Thứ hai, quy mô về vốn của các ngân hàng thương mại VN còn nhỏ, quy mô về tín dụng chưa cao, trình độ công nghệ, trình độ quản lý của các NHTMVN còn thấp. Nhóm NHTM nhà nước tuy chiếm gần 70% tổng nguồn vốn huy động và gần 80% thị phần tín dụng nhưng chỉ có tổng số vốn tự có chưa tới 1 tỷ USD, từng NHTM trong nhóm các NHTM nhà nước đạt tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản chưa tới 5% (thông lệ tối thiểu của ngân hàng quốc tế đạt tỷ lệ vốn tự có/tổng tài sản là 8%). Khối NHTM cổ phần với 36 ngân hàng chỉ chiếm 11% tổng nguồn vốn huy động và 10% thị phần tín dụng. Nhóm chi nhánh các ngân hàng nước ngoài và liên doanh (30 ngân hàng) có tiềm lực khá mạnh với 30% vốn chủ sở hữu trong hệ thống NHTM đang hoạt động tại VN nhưng nhìn chung họ có ưu thế hơn các NHTMVN về công nghệ, loại hình dịch vụ, chiến lược khách hàng, hiệu quả hoạt động và chất lượng tài sản.
Thứ ba, dịch vụ ngân hàng của các NHTMVN, còn đơn điệu, nghèo nàn, tính tiện ích chưa cao, chưa tạo thuận lợi và bình đẳng cho khách hàng thuộc các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ khách hàng. Tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh chủ yếu tạo thu nhập cho các ngân hàng, các nghiệp vụ như môi giới, thanh toán dịch vụ qua ngân hàng, môi giới kinh doanh, tư vấn dự án chưa phát triển. Cho vay theo chỉ định của Nhà nước còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tín dụng của NHTMVN. Việc mở rộng tín dụng cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã có những chuyển biến tích cực nhưng còn nhiều vướng mắc khác. Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Thứ tư, đội ngũ lao động của các NHTMVN khá đông nhưng trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa đáp ứng các yêu cầu trong quá trình hội nhập. Không có hệ thống khuyến khích hợp lý để thu hút nhân tài và áp dụng công nghệ hiện đại. Cơ cấu tổ chức trong nội bộ nhiều NHTM còn lạc hậu, không phù hợp với chuẩn mực quản lý hiện đại đã được áp dụng phổ biến nhiều năm nay ở các nước.
Thứ năm, phần lớn các NHTM thiếu chiến lược kinh doanh hiệu quả và bền vững. Hoạt động kiểm tra kiểm toán nội bộ còn yếu, thiếu tính độc lập hệ thống thông tin báo cáo tài chính, kế toán và thông tin quản lý còn chưa đạt tới chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Đặc biệt là các NHTM Nhà nước là tình trạng nợ xấu khá phổ biến, mặc dù đã cố gắng khắc phục nhưng hiện nay tỷ lệ nợ xấu khoảng 4,1%. Ngoài ra, tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng mặc dù đã được nâng lên từ 3,5% lên 5% nhưng vẫn chưa đạt tới các tiêu chuẩn quốc tế.
Thông qua việc áp dụng Marketing dịch vụ vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ giúp cho các ngân hàng có định hướng chiến lược rõ ràng trong kinh doanh trên thị trường tài chính. Nhờ có việc áp dụng các chiến lược marketing trong Marketing dịch vụ (7Ps) các ngân hàng có thể đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ, tối ưu hoá giá và lãi suất các dịch vụ, mở rộng kênh phân phối, phát triển cơ sở hạ tầng, hiện đại hóa công nghệ và mở rộng mạng lưới khách hàng. Qua đó nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của mình so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường. Khóa luận: Hoạt động Marketing năng lực cạnh tranh ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng marketing năng lực cạnh tranh ở ngân hàng

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
