Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, để có thể tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải có phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả kinh tế nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Kinh tế Việt Nam đang ngày càng phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới, có nhiều cơ hội nhưng cũng có không ít những khó khăn thách thức vì vậy các doanh nghiệp luôn luôn phải có các biện pháp để đối phó kịp thời với mọi tình huống.

Hàng tồn kho (HTK) của doanh nghiệp là tài sản lưu động của doanh nghiệp dưới hình thức vật chất. Hàng tồn kho của doanh nghiệp có thể được mua từ bên ngoài, có thể doanh nghiệp sản xuất ra để dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh hoặc để thực hiện việc cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp hoặc để bán. Về mặt giá trị hàng tồn kho phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động hàng tồn kho của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên hoặc phản ánh giá trị hàng tồn kho đầu kì, cuối kì của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp thực hiên kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kì.

Hàng tồn kho có thể gồm nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dịch vụ, thành phẩm, hàng hóa…

Nhận thức được vai trò và vị trí của hàng tồn kho, trong quá trình thực tập tại công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng, em đã đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu hàng tồn kho tại công ty và đã chọn đề tài làm khóa luận cho mình là: “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán hàng tồn kho tại công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng”.

Cùng với sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của cô Bùi Thị Chung, các cô và anh chị trong phòng tài chính- kế toán, phòng tổ chức hành chính, phòng tiêu thụ sản phẩm của công ty, em đã hoàn thành khóa luận.

Nội dung của khóa luận:

  • PHẦN I: Vấn đề cơ bản về hàng tồn kho và kế toán hàng tồn kho trong các doanh nghiệp sản xuất.
  • PHẦN II: Thực trạng tổ chức công tác kế toán hàng tồn kho tại công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng.
  • PHẦN III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán hàng tồn kho tại công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng.

Mặc dù bản thân đã nỗ lực cố gắng để hoàn thành bài khóa luận một cách tốt nhất song do khả năng và thời gian có hạn nên em không thể tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được những nhận xét, đánh giá, góp ý của các cô, các anh chị trong phòng kế toán – tài chính, phòng tiêu thụ của Công ty, các thầy cô giáo để em có điều kiện bổ sung, hoàn thiện khóa luận và nâng cao kiến thức của mình, phục vụ tốt cho quá trình làm việc thực tế sau này.

PHẦN I VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HÀNG TỒN KHO VÀ KẾ TOÁN HÀNG TỒN KHO TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1.1. VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÀNG TỒN KHO(HTK) TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUÂT (DNSX). Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ.

1.1.1. Khái niệm về hàng tồn kho trong doanh nghiệp

HTK là toàn bộ số hàng mà DN đang nắm giữ với mục đích kinh doanh thương mại hoặc dự trữ cho việc sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ cho khách hàng.

HTK trong DNSX bao gồm: nguyên vật liệu (Raw materials), công cụ dụng cụ, sản phẩm đang chế tạo (Work in process) và thành phẩm (Finished products).

1.1.2. Đặc điểm hàng tồn kho trong doanh nghiệp.

HTK rất đa dạng và phong phú. Mỗi loại HTK có đặc tính lí hóa, sinh học riêng, ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng hàng trong quá trình thu mua, vận chuyển dự trữ,… HTK luôn thay đổi về chất lượng, mẫu mã,… Sự thay đổi này phụ thuộc vào trình độ phát triển của sản xuất, nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng.

Sau mỗi chu kì sản xuất kinh doanh của DN thì vốn lưu động lại thay đổi hình thái từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu sang vốn vật tư hàng hóa và sau cùng lại trở về hình thái ban đầu là hình thái tiền tệ. Như vậy, quá trình vận động của hàng là quá trình vận động của vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tăng tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh không thể tách rời việc dự trữ và tiêu thụ hàng một cách hiệu quả.

1.1.3. Vai trò của hàng tồn kho trong doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, HTK có vai trò như là một tấm nệm an toàn giữa các giai đoạn khác nhau: dự trữ – sản xuất – tiêu thụ sản phẩm.

1.1.4. Phân loại hàng tồn kho trong các doanh nghiệp.

Việc phân loại và xác định những gì thuộc hàng tồn kho của doanh nghiệp ảnh hưởng tới tính chính xác của hàng tồn kho phản ánh trên bảng cân đối kế toán và ảnh hưởng tới các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh. Các DNSX thường có ba loại hàng tồn kho ứng với các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, đó là hàng tồn kho ở khâu dự trữ (NVL, hàng mua đang đi đường, CCDC,…), hàng tồn kho ở khâu sản xuất (giá trị sản phẩm dở dang) và hàng tồn kho ở khâu lưu thông (thành phẩm, hàng hóa, hàng gửi bán). Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ.

1.1.4.1.Nguyên vật liệu,công cụ dụng cụ .

Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ bao gồm các chủng loại hàng mà doanh nghiệp mua về để phục vụ cho quá trình sản xuất của mình. Bao gồm các loại nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ,công cụ dụng cụ đang đi đường hoặc trong kho.

Việc duy trì một lượng hàng tồn kho thích hợp sẽ mang lại cho doanh nghiệp sự thuận lợi trong hoạt động mua vật tư và hoạt động sản xuất. Mặt khác, trước những biến động của thị trường như giá cả vật tư tăng đột ngột hay trở nên khan hiếm mà doanh nghiệp nhanh nhạy dự đoán trước được thì việc lưu giữ lượng hàng tồn kho lớn sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp được cung ứng kịp thời

1.1.4.2. Sản phẩm dở dang.

Sản phẩm dở dang bao gồm tất cả các sản phẩm chưa hoàn thành hiện còn đang nằm tại một công đoạn nào đó của quá trình sản xuất hoặc sản phẩm hoàn thành chưa làm thủ tục nhập kho thành phẩm. Tồn kho sản phẩm dở dang là một phần tất yếu của hệ thống sản xuất công nghiệp hiện đại. Đơn giản vì nó sẽ mang lại cho mỗi công đoạn của quá trình sản xuất một mức độ độc lập nào đó. Bên cạnh đó, sản phẩm dở dang còn giúp lập kế hoạch sản xuất hiệu quả cho từng công đoạn và tối thiểu hóa chi phí phát sinh do ngừng trệ sản xuất hoặc có thời gian nhàn rỗi.

1.1.4.3. Thành phẩm.

Thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc quá trình chế biến, đã hoàn thành chu kỳ sản xuất của mình, đã được kiểm nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng kỹ thuật quy định, có thể nhập kho hay giao ngay cho khách hàng. Tùy theo đặc điểm sản xuất sản phẩm mà sản phẩm có thể chia thành nhiều loại với những phẩm cấp khác nhau gọi là chính phẩm, phụ phẩm, hay sản phẩm loại I, II…

Tồn kho thành phẩm nhằm đáp ứng mức tiêu thụ dự kiến trong tương lai, mang lại lợi ích cho cả bộ phận sản xuất (tăng số lượng sản phẩm sản xuất, giảm chi phí sản xuất) và bộ phận marketing của doanh nghiệp (tối thiểu hoá thiệt hại do không có hàng giao hoặc chậm trễ trong giao hàng).

1.2. KẾ TOÁN HÀNG TỒN KHO TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT.

1.2.1. Quy đinh chung về hạch toán hàng tồn kho.

1.2.1.1. Yêu cầu đánh giá hàng tồn kho Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Yêu cầu về tính chân thực: đòi hỏi việc tính giá HTK tiến hành dựa trên cơ sở tổng hợp đầy đủ, đúng đắn và hợp lý các chi phí thực tế cấu thành lên trị giá vốn của HTK và loại trừ được các chi phí bất hợp lý, giảm chi phí kém hiệu quả.

Yêu cầu tính thống nhất: nội dung và phương pháp tính giữa các niên độ kế toán của đơn vị phải thống nhất, nếu có bất kì thay đổi nào phải giải thích trên thuyết minh báo cáo tài chính. Cách tập hợp chi phí, cách tính toán phân bổ, tiêu thức phân bổ chung để xác định chỉ tiêu về giá vốn hàng tồn kho nhập kho và trị giá vốn xuất kho giữa các kì hạch toán phải nhất quán tránh ảnh hưởng của trị giá vốn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

1.2.1.2. Xác định giá trị nhập- xuất hàng tồn kho.

Việc tính giá hàng tồn kho sẽ tạo điều kiện cho kế toán tính toán chính xác và ghi chép kịp thời trị giá của hàng nhập kho, do đó sẽ cung cấp cho các nhà quản lý những thông tin đầy đủ, kịp thời, góp phần quản lý hoạt động thu mua, sản xuất hàng tồn kho có hiệu quả.

Thông qua tính giá HTK giúp kế toán ghi nhận, xử lý và cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác về sự biến động, sử dụng hàng của doanh nghiệp, đồng thời chi tiết theo từng chủng loại, … làm cơ sở cho việc quản lý dự trữ, sản xuất HTK.

Hơn nữa, việc tính giá HTK giúp cho kế toán tính toán được trị giá vốn của HTK, kết hợp với việc ghi nhận doanh thu hàng bán, kế toán sẽ xác định được kết quả tiêu thụ sản phẩm và kết quả kinh doanh, phân tích hiệu quả kinh doanh của DN giúp cho việc quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả hơn.

  • Nguyên tắc đánh giá:

Nguyên tắc giá gốc: (Theo chuẩn mực 02 HTK) HTK phải được đánh giá theo giá gốc. Giá gốc hay được gọi là trị giá vốn thực tế của HTK là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có được các ở địa điểm và trạng thái hiện tại.

Giá gốc HTK bao gồm: chi phí thu mua, chi phí chế biến,và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh có được hàng tồn kho ở địa điểm hiện tại.

  • Nguyên tắc thận trọng:

HTK được đánh giá theo giá gốc, nhưng trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất kinh doanh trừ (-) đi chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng.

Thực hiện nguyên tắc thận trọng bằng cách trích lập dự phòng giảm giá HTK, kế toán đã ghi sổ theo giá gốc và phản ánh khoản dự phòng giảm giá HTK.

Nguyên tắc nhất quán: các phương pháp kế toán sử dụng trong đánh giá hàng tồn kho phải đảm bảo tính nhất quán. Kế toán đã chọn phương pháp nào thì phải áp dụng phương pháp đó nhất quán trong suốt niên độ kế toán. Doanh nghiệp có thể thay đổi thông tin kế toán một cách trung thực và hợp lý hơn, đồng thời phải giải thích được ảnh hưởng của sự thay đổi đó.

Trị giá nhập- xuất hàng tồn kho các DNSX hàng tồn kho gồm NVL, giá trị sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng gửi bán. Giá thực tế từng loại hàng tồn kho được xác định như sau:

  • NVL, CCDC mua chuẩn bị cho sản xuất: Giá thực tế nhập kho được xác định:
  • Giá mua theo hóa đơn trừ(-) các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng mua, giá trị hàng mua bị trả lại.
  • Các khoản thuế không được Nhà nước hoàn lại ( thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp)
  • Chi phí thu mua có liên quan ( chi phí vận chuyển, bảo quản, bốc dỡ,…)

Với thành phẩm nhập kho: Giá thực tế là giá thành phẩm sản xuất thực tế tức bao gồm ba khoản mục chi phí là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.

Trị giá vốn thực tế xuất kho: theo chế độ hiện hành, doanh nghiệp đánh giá theo giá thực tế, hàng ngày kế toán dùng giá thực tế để ghi sổ kế toán các nghiệp vụ nhập, xuất hàng tồn kho. Doanh nghiệp áp dụng một trong các phương pháp sau: Phương pháp bình quân gia quyền, phương pháp nhập trước – xuất trước (FIFO), phương pháp nhập sau – xuất trước (LIFO), Phương pháp thực tế đích danh.

1.2.1.3. Xác định giá trị hàng tồn kho cuối kỳ. Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ.

HTK cuối kỳ phải được đánh giá theo giá trị thấp nhất giữa giá phí và giá thị trường hiện tại: Trong điều kiện có lạm phát, giá trị HTK phải được báo cáo theo giá phí; Trong điều kiện ngược lại, giá trị HTK phải được báo cáo theo giá thị trường.

HTK cuối kỳ phải được đánh giá theo giá trị thấp nhất giữa giá phí và giá thị trường hiện tại có ý nghĩa tuân thủ được nguyên tắc thận trọng và nguyên tắc phù hợp.

Nguyên tắc xác định giá thị trường: giá thị trường hiện tại được hiểu như là giá phí để thay thế một loại HTK tương ứng tại thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, giá thị trường không được vượt quá giá trị hiện tại thuần của hàng tồn kho – được định nghĩa như giá bán ước tính của hàng tồn kho trong điều kiện kinh doanh bình thường trừ đi chi phí hợp lý để hoàn tất và đem bán. Giá thị trường không được thấp hơn giá trị thuần trừ đi khoản lợi nhuận trung bình tính theo giá bán.

1.2.1.4. Đối với hàng tồn kho mua vào bằng ngoại tệ.

Đối với hàng mua vào bằng ngoại tệ phải căn cứ vào tỷ giá giao dịch thực tế hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do nhân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế để quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam để ghi giá trị hàng tồn kho đã nhập kho.

Đến cuối niên độ kế toán, nếu xét thấy giá trị hàng tồn kho không thu hồi do bị hư hỏng, lỗi thời,… thì phải ghi giảm giá gốc hàng tồn kho cho bằng giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho. Việc này được thực hiện bằng cách lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Số dự phòng giảm giá HTK được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thược hiện được của chúng.

PHẦN II THỰC TRẠNG KẾ TOÁN HÀNG TỒN KHO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆN CƠ HẢI PHÒNG Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ.

2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆN CƠ HẢI PHÒNG

2.1.1. Giới thiệu khái quát về công ty

  • Tên doanh nghiệp: Công ty cổ phần Điện Cơ Hải Phòng
  • Tên giao dịch: Hai Phong Electrical Mechanical Joint Stock Company.
  • Tên viết tắt: HAPEMCO
  • Trụ sở chính: Số 734 đường Nguyễn Văn Linh-Lê Chân- Hải Phòng
  • Cơ sở 2: Số 20 Đinh Tiên Hoàng – Hồng Bàng – Hải Phòng
  • Điện thoại: 0313.835927 hoặc 0313.783328  Fax: 0313.857393.

2.1.2. Qúa trình hình thành và phát triển của công ty.

  • Giai đoạn năm 1961-1985

Những năm đầu của thập niên 60 của thế kỷ XX, khi miền Bắc bước vào giai đoạn cải tạo tư bản tư doanh, chủ trương của Đảng ta lúc này là thành lập một loạt các nhà máy để sản xuất ra tư liệu sản xuất phục vụ cho công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc. Trong tình hình đó Xí nghiệp Hải Phòng Điện Khí được phép thành lập theo Quyết định số 169/QĐ-TCCQ ngày 16/3/1961 của UBND thành phố Hải Phòng. Xí nghiệp được thành lập trên cơ sơ sáp nhập 3 cơ sở tư doanh nhỏ trong nội thành Hải Phòng là: Xưởng Công Tư hợp doanh Khuy Trai, Xưởng loa truyền thanh và Xí nghiệp 19-8. Từ khi thành lập cho đến nay Xí nghiệp đã trả qua nhiều nấc thăng trầm.

Đây là thời kỳ Xí nghiệp hoạt động mang tính kế hoạch hóa tập trung. Về kết cấu sản phẩm chủ yếu của Xí nghiệp thời kỳ này gồm 3 sản phẩm, sản xuất, phân phối và tiêu thụ theo kế hoạch của Nhà Nước là: Động cơ điện 3 pha từ 0,6 KW đến 10 KW, máy hàn điện 3 pha từ 380V – 21V,quạt điện dân dụng và công nghiệp.Về tổ chức bộ máy quản lý mang đầy đủ đặc điểm của thời kỳ bao cấp.Về lao động: Số lao động trung bình 219 người (lao động gián tiếp 21%, lao động trực tiếp 79 %), trình độ lao động thấp, chủ yếu là lao động phổ thông.

Từ năm 1984 Xí nghiệp đổi tên thành Xí nghiệp Điện Cơ Hải Phòng. Có thể nói đây là thời kỳ vàng son của doanh nghiệp. Từ năm 1984-1987 doanh nghiệp đã nhiều lần giữ lá cờ đầu về sản xuất – kinh doanh của Sở Công Nghiệp Hải Phòng và được thưởng nhiều huân chương và bằng khen. Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ.

  • Giai đoạn 1986 – 2003

Từ những năm thập kỷ 80, đất nước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, Xí nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, nguyên nhân chủ yếu là do hàng hóa từ nước ngoài tràn vào lấn át thị trường nội địa, hàng hóa từ các Tỉnh phía Nam tràn ra bán tràn lan với giá rẻ lấn át thị trường quạt điện của Xí nghiệp. Trong khi đó sản phẩm của doanh nghiệp được sản xuất bằng công nghệ đã lạc hậu, sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Doanh nghiệp đang đứng trước nguy cơ phải đóng cửa. Trước tình hình đó, Đảng Ủy và Ban Giám Đốc đã ra quyết định phải nhanh chóng thay đổi công nghệ sản xuất, đổi mới mẫu mã,…

Tháng 10/1992 UBND Thành phố ra quyết định số 1208/QĐ – UB ngày 11/10/1992 đối với việc thành lập doanh nghiệp Nhà nước đối với Xí nghiệp Điện Cơ Hải Phòng. Sản phẩm sản xuất là các loại quạt, lồng quạt, … các cỡ để phục vụ cho công nghệ sản xuất liên hoàn của doanh nghiệp và cung cấp linh kiện quạt. Tháng 4/1998 Công ty đã ký kết với tập đoàn Mitsustar của Nhật để sản xuất các linh kiện quạt, công nghệ sản xuất được đầu tư hiện đại. Từ năm 1999 – 2003 sản phẩm quạt điện Phong Lan của doanh nghiệp dã được người tiêu dùng bình chọn là Hàng Việt Nam chất lượng cao. Thị trường của sản phẩm đã được mở rộng ra trong và ngoài nước.

  • Giai đoạn 2004 đến nay.

Đây là giai đoạn công ty hoạt động duới hinh thức Công ty cổ phần. Ngày 26/12/2003 Công ty Điện Cơ Hải Phòng đổi tên thành Công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng theo Quyết định số 3430/QĐ-UB ngày 26/12/2003 của UBND thành phố Hải Phòng. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng số 0203000691 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Hải Phòng cấp ngày 13/01/2004.

Vốn Điều Lệ trên Giấy đăng ký kinh doanh là  8,450 tỷ đồng.

Trong đó:

  • Vốn Nhà nước: 1,3 tỷ đồng. chiếm 15%
  • Vốn Cổ Đông trong Công ty: 6,266 tỷ, chiếm 74,20%
  • Vốn Cổ Đông ngoài Công ty: 884 triệu , chiếm 10,80%

2.2.THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN HÀNG TỒN KHO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆN CƠ HẢI PHÒNG. Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ.

2.2.1.Đặc điểm kế toán hàng tồn kho tại Công ty.

Công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng thực hiện kế toán hàng tồn kho theo Chuẩn mực kế toán số 02 – hàng tồn kho theo quyết định số 15/2006/ QĐ – BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính.

  • Phương pháp tính giá xuất nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm: Theo giá bình quân gia quyền.
  • Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: phương pháp kiểm kê định kì.
  • Kế toán chi tiết hàng tồn kho: theo phương pháp thẻ song song.
  • Nguyên tắc ghi nhận hàng tồn kho: Theo chứng từ

2.2.1.1. Phân loại hàng tồn kho tại Công ty

Công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng là doanh nghiệp sản xuất nên hàng tồn kho của công ty thường gồm:

Nguyên vật liệu: do NVL của Công ty đa dạng về chủng loại, mẫu mã nên NVL được chia thành nhiều loại khác nhau, việc phân chia dựa trên nội dung kinh tế và chức năng của nguyên vật liệu đối với phân xưởng sản xuất.

  • Nguyên vật liệu chính: Đồng, nhôm, sắt, thép,…
  • Nguyên vật liệu phụ: hạt nhựa, dây điện, vít, …
  • Nhiên liệu: xăng dầu, đảm bảo cho máy móc hoạt động
  • Phụ tùng thay thế: ống phi nhựa, vật tư sửa chữa xe,…
  • Công cụ, dụng cụ: khuôn, máy hàn,…
  • Sản phẩm dở dang
  • Thành phẩm: Quạt bàn, quạt treo tường,quạt trần,…

2.2.1.2. Tính giá hàng tôn kho tại Công ty.

Giá thực tế hàng nhập trong kỳ:

  • Đối với hàng nhập khẩu

Căn cứ vào hợp đồng kinh tế các hóa đơn cước phí nhập khẩu hàng kế toán tính giá thực tế của hàng nhập khẩu theo công thức:

  • Đối với hàng mua trong nước Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Đối với hàng luân chuyển trong nội bộ giữa các công ty giá nhập kho là giá thực tế xuất kho của hàng tồn kho ở các công ty khác chuyển sang, cuối kỳ thanh toán bù trừ lẫn nhau.

  • Đối với hàng nhận gia công theo đơn đặt hàng của nước ngoài thì giá thực tế nhập kho là giá thỏa thuận của hai bên.
  • Đối với phế liệu thu hồi : giá thực tế nhập kho là giá ước tính có thể sử dụng.

Giá thực tế hàng xuất kho.

Tại công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng sử dụng phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ để tính giá vốn thực tế hàng xuất kho.

Theo phương pháp này trị giá thực tế hàng xuất kho được tính trên cơ sở số lượng xuất kho và đơn giá bình quân của hàng tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ.

Phần mềm kế toán máy sẽ tự động tính đơn giá bình quân này cho từng loại hàng tồn kho khi kế toán nhập đầy đủ số lượng xuất. Còn trị giá thực tế xuất kho là do máy tính tự động tính vào thời điểm cuối kỳ.

2.2.2. Tổ chức kế toán chi tiết hàng tồn kho tại Công ty.

2.2.2.1. Kiểm tra số lượng, chất lượng hàng tồn kho và phân công quản lý.

Trước khi hàng đưa vào nhập kho đều phải qua sự kiểm tra tỉ mỉ và chính xác của bên kiểm tra vật tư phòng kế hoạch – vật tư. Hàng sau khi kiểm tra xong sẽ được lập biên bản kiểm nghiệm về số lượng và chất lượng, sau đó nhập kho.

Để quản lý hàng tồn kho có hiệu quả, hàng tồn kho được chia ra như sau :

  • Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ cho sản xuất : do phòng kế hoạch vật tư quản lý.
  • Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ cho hành chính : do phòng tổ chức hành chính quản lý.
  • Thành phẩm do phòng tiêu thụ sản phẩm quản lý.

2.2.4.2. Thủ tục nhập – xuất kho. Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Căn cứ vào Hóa đơn GTGT, Biên bản kiểm nghiệm vật tư, hàng hoá thủ kho viết phiếu nhập kho, phiếu nhập kho gồm 3 liên:

  • 1 liên: lưu tại kho
  • 1 liên: Giao cho người giao hàng
  • 1 liên : Giao cho thủ kho để ghi thẻ kho, rồi chuyển cho kế toán để ghi sổ.

Căn cứ vào tình hình sản xuất và nhu cầu của khách hàng, kế toán căn cứ vào giấy đề nghị cấp vật tư và hoá đơn bán hàng để lập Phiếu xuất kho, gồm 3 liên:

  • 1 liên: Lưu tại phòng kế toán
  • 1 liên: Giao cho thủ kho
  • 1 liên :Giao cho ngưòi nhận hàng.

2.2.4.3. Phương pháp kế toán chi tiết hàng tồn kho tại Công ty.

Công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng hạch toán chi tiết hàng tồn kho theo phương pháp thẻ song song, thực hiện kết hợp giữa thủ kho và phòng kế toán trong việc quản lý hàng tồn kho.

Tại kho: Hàng ngày căn cứ vào phiếu nhập, phiếu xuất thủ kho thực hiện nhập xuất vật tư và ghi số lượng thực nhập, thực xuất vào thẻ kho của vật tư tương ứng. Cuối ngày, thủ kho tính ra số tồn kho của từng loại vật tư và ghi vào cột tồn của thẻ kho để đối chiếu với số liệu trên sổ kế toán.

Tại phòng kế toán: Kế toán phải theo dõi tình hình nhập xuất hàng tồn kho trên cả hai chỉ tiêu số lượng và giá trị. Hàng ngày kế toán tập hợp các chứng từ nhập xuất và tiến hành nhập từng nghiệp vụ vào máy tính.

PHẦN III MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN HÀNG TỒN KHO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆN CƠ HẢI PHÒNG

3.1. NHẬN XÉT VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN HÀNG TỒN KHO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆN CƠ HẢI PHÒNG. Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Trải qua một thời gian dài từ khi bước vào cơ chế thị trường, Công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng đã vượt qua mọi thử thách và khẳng định mình trên thị trường. Đó là kết quả của một quá trình phấn đấu không mệt mỏi của toàn cán bộ công nhân viên. Kết quả đó không chỉ đơn thuần là sự tăng cường về mặt cơ sở vật chất, mà còn bao hàm cả sự lớn mạnh toàn diện về trình độ quản lý của Công ty.

Trong những năm qua công ty đã đạt được rất nhiều những thành tích, sản phẩm của công ty đã đạt được thị hiếu của khách hàng trong nước và dần hòa nhập vào thi trường thế giới.

Để có được quy chế quản lý, diều hành, kiểm soát tốt hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả cao. Ban lãnh đạo của công ty đã xác định tầm quan trọng, vai trò tích cực của hạch toán kế toán nói chung và của kế toán hàng tồn kho nói riêng, nên đã trang bị những phương tiện cần thiết cho phòng kế toán nhằm phục vụ tốt nhất cho công tác quản lý tài chính của công ty.

3.1.1. Ưu điểm.

Qua thời gian tìm hiểu tình hình thực tế về công tác kế toán của công ty, đặc biệt là công tác kế toán hàng tồn kho, em thấy nhìn chung kế toán hàng tồn kho được tổ chức khá chặt chẽ, phù hợp với yêu cầu quản lý về chỉ đạo tập trung của công ty.

Về công tác quản lý: Công tác quản lý hàng tồn kho được thực hiện khá tốt ở tất cả các khâu từ khâu thu mua,bảo quản, sử dụng, dự trữ. Công ty duy trì bộ máy theo kiểu trực tuyến – tham mưu gọn nhẹ, thống nhất.

Việc mua NVL, CCDC được dựa trên kế hoạch sản xuất, dựa trên các chỉ tiêu quy định của Công ty, các đơn đặt hàng và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Công ty có một bộ phận tổ chức thu mua, đó là phòng kế hoạch vật tư chịu trách nhiệm mua kịp thời phục vụ sản xuất. Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Ở khâu bảo quản: Công ty đã tổ chức hệ thống kho bãi, phân loại hàng tồn kho để sắp xếp chúng vào các kho khác nhau, nhằm mục đích là vừa thuận lợi cho quá trình sản xuất vừa thuận lợi cho việc bảo quản.

Ở khâu sử dụng: Việc sử dụng hàng tồn kho ở các bộ phận của Công ty đêu được phòng kế hoạch vật tư căn cứ vào kế hoạch sản xuất của từng tháng, quý để lên kế hoạch cung ứng vật tư khi có yêu cầu của từng bộ phận.

Về bộ máy kế toán: Nhìn chung bộ máy kế toán của công ty tổ chức phù hợp với trình độ, khả năng chuyên môn của từng người nên việc tổ chức công tác kế toán được tiến hành kịp thời và thích ứng với điều kiện của công ty. Phòng kế toán có các nhân viên trẻ có năng lực chuyên môn, nhiệt tình trong công việc cho phù hợp với sự thay đổi của luật kế toán. Đặc biệt công ty đã trang bị cho phòng kế toán máy vi tính, đưa phần mềm kế toán vào sử dụng nên đã giảm được khối lượng công việc đáng kể mà lại đạt được kết quả cao.

Vể hình thức sổ kế toán: Công ty sử dụng hình thức Nhật ký chứng từ. Công ty có quy mô sản xuất lớn, sử dụng nhiều TK kế toán tổng hợp với nhiều nhân viên kế toán, đây là hình thức kế toán có nhiều ưu điểm với Công ty.

Về sử dụng chứng từ: Cũng như các doanh nghiệp khác, Công ty sử dụng hợp lý hệ thống chứng từ theo quy định của Bộ Tài Chính: chứng từ nhập, xuất đến các chứng từ liên quan đến hàng tồn kho. Đặc biệt Công ty đã tiến hành mã hóa, phân loại nguyên vật liệu nên mặc dù số lượng, chủng loại vật tư lớn nhưng việc cập nhật số liệu vào máy được thực hiện đơn giản, nhanh hơn, giảm bớt khối lượng công việc đáng kể cho kế toán.

Về sử dụng sổ sách kế toán: Nhìn chung Công ty đã sử dụng khá đầy đủ các loại sổ kế toán về hàng tồn kho từ hệ thống chi tiết đến hệ thống tổng hợp.

Công ty đã lập bảng danh mục vật tư để phân loại hàng tồn kho một cách chính xác, đảm bảo được tính khoa học và hợp lý….

3.1.2. Nhược điểm.

Bên cạnh những thành tích đạt được, công tác kế toán hang tồn kho của Công ty còn hạn chế:

Mặc dù công tác kiểm kê cuối kỳ được thực hiện nghiêm nghặt, song những hang tồn kho tồn đọng lâu ngày, những hang tồn kho kém phẩm chất chưa được lập biên bản trả lại người bán hoặc xử lý kịp thời, nên ảnh hưởng tới việc tồn kho lâu dài.

Việc luân chuyển chứng từ giữa phòng kế hoạch – vật tư, phòng tài chính – kế toán diễn ra thường xuyên, tuy nhiên giữa các bộ phận và phòng ban này không có biên bản giao nhận chứng từ, do đó dễ xảy ra tình trạng mất mát và kho xảy ra mất mát thì không biết quy trách nhiệm cho ai.

Công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng đẫ lựa chọn phương pháp kế toán chi tiết hàng tồn kho theo phương pháp thẻ song song, phương pháp này ưu điểm là đơn giản, dễ kiểm tra đối chiếu, tuy nhiên việc ghi chép giữa thủ kho và phòng kế toán có sự trùng lặp về chỉ tiêu số lượng, hơn nữa hàng tồn kho của công ty đa dạng về chủng loại, số lần nhập xuất nhiều, với trình độ đội ngũ nhân viên kế toán có trình độ cao thì việc áp dụng thẻ song song là chưa hợp lý.

3.2. Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN KẾ TOÁN HÀNG TỒN KHO TẠI CÔNG TY. Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Để hoàn thiện và phát huy hơn nữa vai trò của công tác kế toán hàng tồn kho cần thực hiện những vấn đề sau:

Ý kiến 1: Công ty nên hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên. Vì theo phương pháp này kế toán có thể theo dõi tình hình biến động một cách nhanh chóng kịp thời. Nếu điều kiện chưa cho phép có sự thay đổi này thì công ty nên tiến hành sử dụng tài khoản 6111 theo đúng quy định tài khoản sử dụng cho phương pháp kiểm kê định kỳ.

Ý kiến 2: Tại công ty tình hình nhập xuất hàng tồn kho diễn ra thường xuyên, do đó để thuận lợi cho việc cung cấp thông tin một cách kịp thời thì hàng ngày kế toán phải theo dõi trị giá vốn thực tế cho từng loại hàng tồn kho. Để làm được điều đó thì Công ty nên sử dụng đơn giá bình quân liên hoàn:

Tại công ty có thể tính được trị giá vốn xuất kho theo phương pháp bình quân liên hoàn bởi vì trị giá vốn thực tế của hàng nhập kho bao gồm cả trị giá mua. Mà chi phí thu mua đó ta có thể tính được ngay khi mua hàng mà không cuối kỳ mới hạch toán.

Ý kiến 3: Kế toán nên sử dụng sổ chi tiết cho từng vật tư, công cụ dụng cụ, sản phẩm cụ thể. Công ty thường mở sổ tổng hợp nên rất khó khăn cho việc theo dõi một số nghiệp vụ, đối chiếu sổ sách.Công ty không mở sổ chi tiết cho từng loại hàng tồn kho nên rất khó theo dõi tình hình nhập xuất của từng loại hàng tồn kho.

Ví dụ lập sổ chi tiết TK 1522, chi tiết cho vật tư lõi quấn dấy điện từ loại to.

Ý kiến 4: Công ty đã lựa chọn phương pháp kế toán chi tiết hàng tồn kho theo phương pháp thẻ song song, phương pháp này ưu điểm là đơn giản, dễ kiểm tra đối chiếu, tuy nhiên việc ghi chép giữa thủ kho và phòng kế toán có sự trùng lặp về chỉ tiêu số lượng, hơn nữa hàng tồn kho của công ty đa dạng về chủng loại, mẫu mã, số lần nhập xuất nhiều, liên tục. Đồng thời với đội ngũ nhân viên kế toán có trình độ cao thì việc áp dụng phương pháp thẻ song song là chưa hợp lý.

Công ty nên lựa chọn phương pháp sổ số dư thì có nhiều thuận lợi hơn, tránh đựơc sự trùng lặp giữa thủ kho và phòng kế toán, khối lượng ghi chép của kế toán được giảm bớt, công việc đều hàng tháng.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Có thể nói, ở các doanh nghiệp sản xuất kế toán hàng tồn kho đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công tác quản lý sản xuất, tiêu thụ. Quản lý tốt hàng tồn kho là một biện pháp tích cực để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm…

Đồng thời thông qua công tác kế toán hàng tồn kho, các doanh nghiệp sản xuất có thể ngăn ngừa được các hiện tượng tiêu cực, lãng phí vật tư làm thiệt hại đến tài sản, ứ đọng vốn sản xuất kinh doanh

Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng đã giúp em nắm vững hơn kiến thức về công tác kế toán nói chung và tổ chức kế toán hàng tồn kho nói riêng. Em nhận thấy lý thuyết là cơ sở, là căn bản để ta vận dụng vào thực tế tuy lý thuyết và thực tế có chút khác nhau. Vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tế để hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán cũng như làm cho lý thuyết phản ánh được thực tế một cách sinh đông nhất và chính xác nhất.

Do thời gian không nhiều và trình độ có hạn nên bài khoá luận của em không tránh khỏi những thiếu sót, chưa được đầy đủ. Vì vậy, em rất mong được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của thầy cô để bài khoá luận của em được hoàn thiện hơn.

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn cô Bùi Thị Chung trường CĐ Cộng Đồng, các thầy cô trong khoa quản trị kinh doanh trường ĐHDL Hải Phòng, cùng các cô chú, anh chị trong phòng tài chính – kế toán, phòng tổ chức – hành chính, phòng tiêu thụ sản phẩm của công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng đã giúp đỡ em hoàn thành bài khoá luận này. Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Điện Cơ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537