Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Lịch sử và sự phát triển Hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo trong khu vực Đông Nam Á cho các bạn.

2.1. Khái quát chung về Hiến pháp và ảnh hưởng Hồi giáo tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á

Theo dòng lịch sử, dù Hồi giáo đến với Đông Nam Á muộn hơn song đã nhanh chóng có được vị trí vững vàng trong tư tưởng và đời sống pháp luật của khu vực. Hồi giáo ở khu vực Đông Nam Á là cuộc “hôn phối” tự nguyện giữa nền văn hóa Á Đông và tư tưởng giáo lý đạo Hồi. Đó hoàn toàn không phải là một cuộc “ép gả” truyền thống cho đức tin một cách khiên cưỡng. Các văn bản luật tiền hiện đại Hồi giáo ở Indonesia, Malaysia và miền nam Philippines ngày nay có từ thế kỷ 15 [50]. Dấu ấn Hồi giáo để lại trong cả khối óc và trái tim của cư dân Đông Nam Á hải đảo. Ngoài “trái tim Ả rập”, Đông Nam Á dần trở thành một vùng đất thịnh vượng khác của giáo lý đạo Hồi [51]. Ba quốc gia tiêu biểu chịu ảnh hưởng sâu sắc của Hồi giáo là Indonesia, Malaysia và Brunei [71]. Nghiên cứu tập trung đi sâu vào ba (3) quốc gia Hồi giáo tại khu vực Đông Nam Á dựa trên ba (3) cơ sở chính. Thứ nhất, như đã khẳng định, Indonesia, Malaysia, Brunei là các quốc gia chịu ảnh hưởng và chi phối sâu sắc Hồi giáo trong hệ thống pháp lý của mình, cụ thể là trong hiến pháp. Thứ hai, do chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Hồi giáo, những biểu hiện Hồi giáo và hiến pháp các quốc gia khá rõ rệt và điển hình. Cũng tùy vào môi trường và nhân sinh quan mà hình ảnh Hồi giáo được khúc xạ trong hiến pháp từng quốc gia lại có sự khác biệt. Thứ ba, khi nghiên cứu một vấn đề, rất khó và hạn hẹp về thời gian cũng như nhân lực để có thể nghiên cứu kỹ càng toàn bộ các quốc gia ở Đông Nam Á về vấn đề Hồi giáo do dấu vết của giáo lý đạo Hồi tại mỗi quốc gia đậm nhạt khác nhau. Với phương pháp chọn lọc điển hình, việc nghiên cứu Indonesia, Malaysia, Brunei sẽ đem đến cái nhìn rõ rệt và bao quát nhất về vấn đề lịch sử và sự phát triển của các quốc gia Hồi giáo trong khu vực Đông Nam Á nói chung.

Các quốc gia khu vực Đông Nam Á đều có hiến pháp thành văn với nội dung tương đấy đầy đủ: lời nói đầu, thể chế chính trị, bộ máy nhà nước, quyền con người, hệ thống tư pháp, chế độ bảo hiến,… 7/10 quốc gia ở khu vực Đông Nam Á có sự ghi nhận rõ ràng quyền con người và bộ máy chính quyền trong hiến pháp. Các nước cũng thừa nhận quyền tự do tôn giáo và vị trí nhất định của Hồi giáo trong hiến pháp. Điều 3 của Hiến pháp liên bang Malaysia tuyên bố: “Hồi giáo là tôn giáo của Liên đoàn, nhưng các tôn giáo khác có thể được thực hành trong hòa bình và hòa hợp trong bất kỳ phần nào của Liên đoàn.” Tương tự như vậy, Hiến pháp của Brunei tuyên bố rằng: “Các tôn giáo chính thức của Brunei Darussalam sẽ là đạo Hồi. Đồng thời vấn đề quyền con người trong Hiến pháp các quốc gia Hồi giáo khu vực Đông Nam Á cũng rất được quan tâm” [7]. Sau chiến thắng của phe Đồng minh trước các thế lực đối chọi năm 1945, các giá trị phổ quát về nhân quyền trên thế giới trở nên rộng rãi và phổ biến. Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (UDHR) đã chính thức đánh dấu mốc quan trọng về chủ nghĩa nhân quyền trên thế giới, con lắc giữa chủ nghĩa phổ quát và chỉ nghĩa đặc biệt trở nên rõ ràng hơn. Sự ra đời của UDHR cùng với việc lần đầu tiên cộng đồng quốc tế của người Hồi giáo xác định khái niệm về quyền con người và nêu rõ các mục tiêu cần đạt được của các chính phủ ảnh hưởng Hồi giáo trên thế giới về lĩnh vực này [46]. Điều này dẫn tới sự thay đổi và đảm bảo quyền con người không chỉ trong tư tưởng mà trong ghi nhận của hiến pháp tại các quốc gia Hồi giáo trong khu vực Đông Nam Á.

Lịch sử và xu hướng phát triển của Hiến pháp của các quốc gia khu vực Đông Nam Á cụ thể ra sao sẽ được làm rõ trong từng phần dưới đây.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.2. Lịch sử và sự phát triển Hiến pháp tại Indonesia

2.2.1. Khái quát chung

Indonesia có tên gọi đầy đủ là Cộng hòa Indonesia (tiếng Indonesia: Republik Indonesia), là một quốc gia nằm giữa Đông Nam Á và Châu Đại Dương. Indonesia được mệnh danh là “Xứ sở vạn đảo”, lãnh thổ của nó bao gồm 13.487 hòn đảo [95] và với dân số khoảng 255 triệu người, đứng thứ tư thế giới về dân số và đứng thứ ba châu Á về dân số. Tổng thống Joko Widodo là Tổng thống hiện tại của Indonesia. Thủ đô của Indonesia là Jakarta, và ngôn ngữ chính thức tại Indonesia là tiếng Indonesia [58]. Cách đây gần mười năm, Indonesia đứng thứ 3 thế giới sau Ả rập Saudi và Thổ Nhĩ Kỳ về số lượng Hồi giáo. Nhưng cùng với gia tăng nhanh chóng của các tín đồ Hồi giáo, Indonesia hiện nay đã trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới về lượng người theo đạo Hồi (87,2% dân số Indonesia xác nhận là người Hồi giáo. Số lượng người Hồi giáo ở quốc gia Đông Nam Á này lớn nhất thế giới với khoảng 225 triệu) [52, 1]. Cùng với thời gian, tín đồ Hồi giáo ở Indonesia ngày càng tăng với số lượng lớn và là một trong những “thánh đường” Hồi giáo lớn nhất Đông Nam Á.

Lịch sử Indonesia trải dài từ thời Cổ đại khoảng 1,7 triệu năm dựa trên sự phát hiện về Hôm arectus Java. Có thể chia các giai đoạn lịch sử của Indonesia thành bốn (4) giai đoạn: Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Giai đoạn 1: Giai đoạn tiền thực dân với sự xuất hiện và hình thành của các vương quốc theo đạo Hinđu, đạo Phật, đạo Hồi tại đảo Java và Sumatra. Khi Châu Âu tiến tới thời kỳ phục hưng thì tại Indonesia hai quốc gia lớn là Srivijaya tại Sumatra, và Majapahit tại Java trở nên lớn mạnh và phát triển buôn bán thương mại. Di sản để lại các bộ luật được biên soạn ra đời, và được xem như thiên sử thi Ramayana [27].

Giai đoạn 2: Giai đoạn thuộc địa do chịu sự kiểm soát của người Hà Lan. Bắt đầu từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX, Indonesia chịu sự chi phối của thực dân Hà Lan. Từ khoảng 1250 trở đi, Islam (Hồi giáo) ngày càng có đông tín đồ trên quần đảo. Đến khoảng 1550 thì trở thành tôn giáo có đông tín đồ nhất trong vùng. Năm 1619 người Hà Lan đổi tên thành Jayakarta (có nghĩa là Chiến thắng huy hoàng, tức Jakarta, đọc rút ngắn) thành Batavia, tên của chủng tộc tổ tiên họ, và đặt trung tâm hành chính của họ ở đấy. Họ đô hộ phần lớn quần đảo Indonesia đến năm 1945 [27].

Giai đoạn 3: Giai đoạn mới giành độc lập. Sau sự nỗ lực đấu tranh không ngừng nghỉ của người dân Indonesia, cuộc cách mạng chính thức thành công, Tuyên bố độc lập Indonesia 1945 là dấu mốc quan trọng của đất nước. Nhưng ngay sau đó Indonesia rơi vào chế độ Sukarno với 22 năm độc tài [62][63].

Giai đoạn 4: Giai đoạn khôi phục sau sự sụp đổ của Suharno [64] Trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau, Hiến pháp Indonesia có sự thay đổi khác nhau. Cùng với những biến động chính trị và chính sách, Hiến pháp Indonesia cũng trải qua nhiều lần sửa đổi với các điều khoản thay đổi. Tuy vậy, lịch sử chung khái quát của quốc gia là chưa đủ để có cái nhìn toàn diện về vấn đề Hiến pháp, bởi lẽ Indonesia là quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Hồi giáo. Hồi giáo và pháp luật Hồi giáo cũng là một trong những thành tố quan trọng tác động đến quá trình hình thành và thay đổi của Hiến pháp. Và giống như lịch sử chính trị Indonesia, lịch sử Hồi giáo Indonesia cũng trải qua nhiều giai đoạn với những đặc điểm khác nhau.

2.2.2. Ảnh hưởng và đặc điểm của Hồi giáo tại Indonesia Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Thứ nhất, về dấu vết Hồi giáo trong lịch sử Indonesia

Mặc dù rất khó để biết chính xác sự phát triển ban đầu của Hồi giáo ở những hòn đảo Indonesia (do thiếu nguồn thông tin), nhưng rõ ràng thương mại quốc tế là một yếu tố rất quan trọng. Nhiều khả năng thương nhân Hồi giáo từ các quốc gia khác nhau đã tồn tại trong khu vực hàng hải của Đông Nam Á kể từ thời kỳ đầu của đạo Hồi. Các nguồn tin sớm nhất cho biết một số người bản địa đã theo đạo Hồi từ đầu thế kỷ 13, bia mộ mới cho thấy sự tồn tại của một vương quốc Hồi giáo ở Bắc Sumatra vào năm 1211. Và từ thế kỷ 15 trở về sau, các vương quốc và vương quốc Hồi giáo đã trở thành lực lượng chính trị thống trị ở những hòn đảo Indonesia, mặc dù sau đó họ đã bị đánh bại bởi những người mới đến từ châu Âu (Bồ Đào Nha và Hà Lan) trong thế kỷ 16 và 17 [89]. Con đường du nhập vào Indonesia của đạo Hồi không hề dễ dàng. Trước Hồi giáo, nhiều loại tôn giáo và tín ngưỡng đã phát triển ở Indonesia, ít nhất có hai tôn giáo lớn nhất đã được hầu hết người dân Indonesia chấp nhận trước khi đạo Hồi, cụ thể là Ấn Độ giáo và Phật giáo [92]. Và việc truyền bá đạo Hồi ở Indonesia không phải là một quá trình nhanh chóng và dễ dàng, mà là quá trình của nhiều làn sóng Hồi giáo liên quan đến sự phát triển quốc tế trong thế giới Hồi giáo, những làn sóng đan xen ảnh hưởng và vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay. Các thương nhân Hồi giáo đến quần đảo này trong các thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Hồi giáo có thể được coi là làn sóng đầu tiên [89]. Làn sóng thứ hai là phong trào Wahabi và phong trào Salafi, cũng có tác động mạnh mẽ đến quá trình truyền bá đạo Hồi chính thống ở quần đảo [92]. Hai làn sóng này này nhằm khôi phục sự thuần khiết của đạo Hồi. Phong trào Wahhabi đến từ Ả Rập và có ảnh hưởng đến quần đảo này từ đầu thế kỷ 19, trong khi phong trào Salafi đến từ Ai Cập vào cuối thế kỷ 19 [92]. Cho đến nay, sự ảnh hưởng và vai trò của hai làn sóng Hồi giáo vẫn được tiếp tục duy trì ở Indonesia ảnh hưởng đến giáo lý và tư tưởng Hồi giáo được truyền bá ở đây [92].

Trong ba quốc gia thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, Indonesia là quốc gia duy nhất không khẳng định rõ ràng mình là nhà nước Hồi giáo trong Hiến pháp dẫn đến nhiều tranh cãi kịch liệt trong vấn đề quốc giáo và mô hình nhà nước. Song không thể phủ nhận trên thực tế Hồi giáo thấm rất sâu vào con người và không khí sinh hoạt của Indonesia. Lý giải cho nguyên nhân sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Hồi giáo ở khu vực Indonesia, ngoài những nguyên nhân chung giải thích ảnh hưởng Hồi giáo nói chung đến khu vực Đông Nam Á đã được trình bày ở trên thì Indonesia còn chứa đựng những nguyên do riêng trong nội tại đất nước. Thứ nhất, ngay từ đầu, Indonesia đã có vị trí địa lý rất thuận lợi trong việc giao thương buôn bán, không chỉ vậy, việc mở kênh đào Suez vào năm 1869 khiến việc đi đến Trung Đông dễ dàng hơn. Điều này dẫn đến việc liên lạc ngày càng chuyên sâu giữa người dân Indonesia và các quốc gia Ả Rập ở Trung Đông [92]. Thứ hai, Hồi giáo là một tôn giáo đã vào Indonesia, đặc biệt là Java, vào cuối vinh quang của vương quốc Phật giáo Hindu. Vào thời điểm đó, rất nhiều thậm chí phần lớn dân số Java chấp nhận Hồi giáo vì Hồi giáo không phân biệt đối xử với con người với các diễn viên như nhiều vương quốc Hindu thời đó [92]. Thứ ba, trong thời cổ đại việc truyền bá đạo Hồi trên đảo Java do Wali Songo – là một tập hợp những người truyền bá Java tồn tại trong thế kỷ 14 [73] thực hiện. Đảo Java là trung tâm của nền văn minh thời đó đã có dân số đông. Cho đến khi vinh quang của các vương quốc Hồi giáo trên đảo Java, phần lớn dân số đã theo đạo Hồi. Điều này tiếp tục cho đến khi chính phủ của Tổng thống Soeharto thúc đẩy phong trào di cư tìm đến ngay cả dân số bằng cách chuyển một phần dân số Java sang các khu vực khác ngoài Java. Một cách gián tiếp, điều này có ảnh hưởng đến lịch sử Hồi giáo ở Indonesia và quá trình phân phối của nó trên khắp đất nước [92]. Do đó, dù diễn ra chậm và gặp phải rào cản nhưng sự mở rộng ảnh hưởng của Hồi giáo tại Indonesia diễn ra rất chắc chắn và quy mô. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Thứ hai, những biến thể của Hồi giáo tại Indonesia

Cùng chịu ảnh hưởng của giáo lý Hồi giáo giống như Malaysia và Brunei, song, Hồi giáo ở Indonesia cũng có những đặc điểm riêng khác biệt. Sự biến thể của Hồi giáo ở Indonesia thể hiện ở các điểm sau. Thứ nhất, Hồi giáo được truyền bá và phổ biến ở nhiều khu vực chủ yếu là các quần đảo, các thành phố được xây dựng nhờ các thương nhân Hồi giáo hoặc nơi các thương nhân Hồi giáo định cư đông đảo và lâu dài. Một số khu vực khác của Indonesia, Hồi giáo chưa bao giờ là đa số, như miền Đông Indonesia vì nó nằm xa các tuyến đường thủy, giao lưu thương mại ít ỏi. Đồng thời, sức hút mạnh mẽ từ văn hóa vật linh hoặc Ấn Độ giáo – Phật giáo khiến con đường truyền bá đạo Hồi trở nên chông gai và dễ bị ngăn chặn bởi các nền văn hóa truyền thống. Điều này dẫn đến hay xu hướng: (1) Hồi giáo hoàn toàn bị ngăn chặn như ở khu vực Bali do văn hóa Hindu thống trị đến nay hoặc (2) là việc trộn lẫn các hệ thống tín ngưỡng với nhau, có thể kể đến khu vực Trung Java [89].

Có lẽ bởi vậy, cộng đồng Hồi giáo lớn nhất Indonesia – Cộng đồng Java được chia làm hai nhóm theo những xu hướng các nhau. (1) Nhóm 1 được gọi là “Abangan”. Họ là những người Hồi giáo truyền thống có nghĩa là họ vẫn áp dụng tín điều tôn giáo truyền thống của người Java, kết hợp các giáo lý Hồi giáo với Ấn Độ giáo, Phật giáo và vật linh. Các thành viên của nhóm này thường cư trú hoặc đến từ các vùng nông thôn. (2) Nhóm thứ hai có tên là “Santri”. Nhóm này có thể được gọi là người Hồi giáo chính thống. Họ thường sống hoặc đến từ các khu vực đô thị và có định hướng nhiều hơn về nhà thờ Hồi giáo và kinh Koran. Trên thực tế, có sự tuyên bố độc lập của những người theo một xu hướng khác, được coi là nhóm thứ ba – Priyayi (nhóm quý tộc truyền thống), nhưng vì đây là một nhóm các tầng lớp xã hội chứ không phải là một nhóm tôn giáo, nên nhóm Priyayi không được đưa vào sự phân chia xã hội ở trên [37].

Ở thời điểm hiện tại, Hồi giáo và pháp luật Hồi giáo có xu hướng gia tăng trong đời sống xã hội của Indonesia. Trong hai thập kỷ qua, ảnh hưởng của Hồi giáo ngày càng trở nên rõ ràng trên đường phố Indonesia và bắt đầu đóng một vai trò quan trọng hơn trong cuộc sống hàng ngày của người Hồi giáo. Ví dụ, số phụ nữ Indonesia đeo khăn trùm đầu đã tăng đáng kể và việc thờ cúng trong nhà thờ Hồi giáo ngày càng trở thành một phần của cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải hiểu rằng sự phát triển của Hồi giáo không giống như chủ nghĩa cấp tiến Hồi giáo. Hầu hết người Hồi giáo ở Indonesia có lòng khoan dung cao đối với các tôn giáo khác và các giáo phái khác trong Hồi giáo [77]. Dẫu vậy, thế giới vẫn luôn quan ngại trước tình trạng Hồi giáo cực đoan gia tăng ở Indonesia.

2.2.3. Lịch sử của Hiến pháp Indonesia

Để có thể đánh giá được lịch sử và sự thay đổi của hiến pháp một quốc gia, cần phải nghiên cứu và đánh giá các bản Hiến pháp đã qua của quốc gia đó gắn với bối cảnh lịch sử và các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật để có cái nhìn toàn diện. Giống như lịch sử chính trị của đất nước, lịch sử Hiến pháp Indonesia trải qua vô vàn thăng trầm. Trong quá trình nhìn lại lịch sử Hiến pháp Indonesia, tác giả sẽ đưa ra đánh giá khái quát nhất về sự thay đổi của Hiến pháp Indonesia qua từng giai đoạn.

Kể từ bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua ngày 18/08/1945, Indonesia đã trải qua nhiều lần sửa đổi Hiến pháp trên cơ sở nền tảng Hiến pháp 1945. Cụ thể là: Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

  • Hiến pháp năm 1945 (18/8/1945 – 27/12/1949).
  • Hiến pháp RIS (27/12/1949 – 17/8/1950).
  • Hiến pháp Cộng hòa Indonesia năm 1945 (17/8/1950 – 5/7/1959).
  • Hiến pháp năm 1945 của chính quyền trật tự cũ (5/7/1959 – 5/71965).
  • Hiến pháp năm 1945 của chính quyền trật tự mới (21/5/1998).
  • Hiến pháp năm 1945 cải cách (1998 – 1999)
  • Hiến pháp năm 1945 và sửa đổi lần 1, lần 2, lần 3, lần 4 (1999, 2000, 2001, 2002)

Nội dung chính và các điểm đáng lưu ý của các bản Hiến pháp Indonesia sẽ được phân tích dưới đây nhằm đưa ra một cái nhìn bao quát nhất về xu hướng lập hiến tại một trong những quốc gia đông tín đồ Hồi giáo nhất thế giới.

2.2.3.1. Hiến pháp Indonesia 1945 (18/8/1945 – 27/12/1949)

Về hoàn cảnh lịch sử:

Đây là bản Hiến pháp đầu tiên của Indonesia được ban hành ngay sau khi giành độc lập. Theo các nhà nghiên cứu, đây được xem là bản Hiến pháp ngắn nhất trên thế giới. Nó ngắn hơn nhiều so với Hiến pháp Hoa Kỳ và được một số học giả Mỹ tuyên bố là ngắn nhất. Trong khi Hiến pháp Hoa Kỳ có 1608 từ thì Hiến pháp 1945 của Indonesia chỉ có 1393 từ [48]. Hiến pháp năm 1945 lần đầu tiên được ban hành trong phiên họp Nhà nước Indonesia của Ủy ban trù bị độc lập Indonesia ngày 18/8/1945, một ngày sau khi nền độc lập của Cộng hòa Indonesia được tuyên bố bởi Sukarno và Mohammad Hatta vào ngày 17/8/1945. Văn bản của Hiến pháp năm 1945 được chuẩn bị bởi một cơ quan chính phủ Nhật Bản được thành lập có tên là “Dokuritsu Zyunbi Tyoosakai” (tiếng Indonesia có tên là “Cơ quan điều tra nỗ lực chuẩn bị độc lập của Indonesia” (BPUPKI). Các thành viên của các cơ quan này được Chính phủ nước chủ nhà lập nên vào ngày 28/5/1945 nhằm thực hiện lời hứa của Chính phủ Nhật Bản trước quốc hội (Diet) để trao độc lập cho Indonesia. Tuy nhiên, sau khi thành lập, cơ quan này không chỉ nỗ lực chuẩn bị cho độc lập theo mục đích hình thành mà thay vào đó, chuẩn bị bản thảo của Hiến pháp làm cơ sở để thành lập Indonesia độc lập [58].

Về cơ cấu:

Hiến pháp Indonesia 1945 gồm: Lời nói đầu, 16 chương với 37 điều, 194 câu và 3 chương cho quy tắc chuyển tiếp và quy tắc bổ sung. Nội dung cụ thể của từng chương: Chương 1 – Hình thức của Nhà nước và chủ quyền, Chương 2 – Hội đồng tư vấn nhân dân (Majelis Permusyawaratan Rakyat hoặc MPR), Chương 3- Quyền hành pháp, Chương 4 – Hội đồng tư vấn tối cao, Chương 5 – Bộ trưởng nhà nước, Chương 6 – Hội đồng đại diện nhân dân (Dewan Perwakilan Rakyat hoặc DPR), Chương 7 – Hội đồng đại diện các khu vực (Dewan Perwakilan Daerah hoặc DPD), Chương 8 – Bầu cử, Chương 9 – Ngân sách, Chương 10 – Ủy ban Kiểm toán Nhà nước, Chương 11 – Công dân và cư dân, Chương 12 – Quyền con người, Chương 13 – Quốc phòng và an ninh, Chương 14 – Kinh tế quốc gia và phúc lợi xã hội, Chương 15 – Quốc kỳ, quốc ngữ, quốc huy và quốc ca, Chương 16 – Sửa đổi hiến pháp. Trong Điều khoản chuyển tiếp, đáng chú ý là Điều 3 nhắc đến việc thành lập Tòa án Hiến pháp trên thực tế [44].

Như vậy, Hiến pháp Indonesia có các chương liên quan đến bộ máy nhà nước và quyền con người được sắp xếp một cách thứ tự và khá rõ ràng. Hiến pháp 1945 đã xác lập căn bản các yếu tố nền tảng để xây dựng và phát triển nhà nước. Điều này là phù hợp trong bối cảnh Indonesia vừa giành được độc lập. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Về thời gian có hiệu lực:

Đáng tiếc, Hiến pháp 1945 của nhà nước vừa giành được độc lập Indonesia không phải là một Hiến pháp được áp dụng lâu dài bởi lẽ Hiến pháp năm 1945 không được sử dụng trực tiếp làm tài liệu tham khảo trong bất kỳ quyết định nào của nhà nước và chính phủ. Về bản chất, năm 1945 thực sự chỉ được sử dụng như một công cụ để lập tức thành lập một quốc gia độc lập gọi là Cộng hòa Indonesia. Năm 1945 được dự định là một hiến pháp tạm thời, theo các điều khoản của Bung Karno, một ‘revolutie-grondwet’ hoặc Hiến pháp của sét, phải được thay thế bằng một hiến pháp mới khi nhà nước độc lập được thành lập và tình hình phù hợp [58]. Do đó, ngay trong các quy định của Hiến pháp khi đó đã có các điều khoản liên quan đến việc sửa đổi Hiến pháp: Các quy định tại Điều III của Quy tắc bổ sung cũng khẳng định rằng Hiến pháp của Cộng hòa Indonesia đã được sửa đổi sau đó sẽ có sau khi MPR chính thức thiết lập chúng. Tuy nhiên, cho đến khi Hiến pháp năm 1945 được sửa đổi lần đầu tiên vào năm 1999, MPR hiện tại vào năm 1945 vẫn chưa thành lập năm 1945 với tư cách là Hiến pháp của Cộng hòa Indonesia [44].

Về lời nói đầu:

Ngay ở Lời nói đầu Indonesia đã khẳng định nền tảng niềm tin dựa trên tôn giáo. Hiến pháp viết: “…By the grace of God Almighty and motivated by the noble desire to live a free national life, the people of Indonesia hereby declare their independence.” [44] (Dịch: theo ân sủng của Thiên Chúa Toàn năng và thúc đẩy bởi mong muốn cao cả để sống một cuộc sống của một dân tộc tự do, người dân Indonesia nay tuyên bố sự độc lập của mình), “…therefore the independence of Indonesia shall be formulated into a constitution of the Republic of Indonesia which shall be built into a sovereign state based on a belief in the One and Only God, just and civilised humanity, the unity of Indonesia, and democratic life led  by wisdom of thoughts in deliberation amongst representatives of the people, and achieving social justice for all the people of Indonesia.” [44] (Dịch: Do đó, hình thành một nhà nước có chủ quyền dựa trên niềm tin vào một và chỉ một Thiên Chúa, vào nhân loại văn minh và công chính, vào sự thống nhất của Indonesia, và đời sống dân chủ dẫn dắt bởi sự khôn ngoan của những suy tư được thảo luận giữa những đại biểu nhân dân, hướng đến công bằng xã hội cho tất cả người dân Indonesia.) Không chỉ vậy, tại khoản 1 Điều 29 chương XI. Tôn giáo, Hiến pháp Indonesia cũng ghi nhận “(1) The State shall be based upon the belief in the One and Only God” (Dịch: Nhà nước sẽ dựa trên một niềm tin và duy nhất vào Chúa”). Như vậy, có thể thấy dù không tuyên bố quốc giáo, song, Hiến pháp Indonesia 1945 đã khẳng định nền tảng đức tin và tầm ảnh hưởng của tôn giáo tới Hiến pháp Indonesia.

Về nguyên tắc:

Hiến pháp Indonesia đã nhấn mạnh đến một trong những nguyên tắc rất quan trọng của nhà nước Indonesia – Pancasila với năm (5) nội dung chính, trong đó nội dung được nhắc đến ngay đầu tiên đó là nền tảng Hồi giáo đang mở rộng và có tầm vóc ở Indonesia [82]. Nội dung cụ thể của nguyên lý Pancasila sẽ được phân tích rõ ở phần Hiến pháp hiện tại của Indonesia (phần 2.2.4) bởi đó nguyên lý được gìn giữ và coi là “linh hồn” của việc xây dựng và làm nên Nhà nước Cộng hòa Indonesia.

Về các nội dung chính: Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Thứ nhất, Hiến pháp đã tuyên bố, nhà nước Indonesia là nhà nước đơn nhất với hình thức chính thể cộng hòa [87], chủ quyền trong tay người dân và sẽ được thực hiện theo Hiến pháp [88], đồng thời khẳng định Indonesia là nhà nước vận hành trên cơ sở luật pháp [89].

Thứ hai, do tại thời điểm Hiến pháp ra đời, Indonesia mới chỉ tuyên bố độc lập, và trong thời kỳ chính phủ chuyển đổi. Vì vậy, không phải tất cả các UDD năm 1945 đã được thực hiện và đã có những sự khác biệt trên thực tế. Cụ thể:

  • Quyền lực của tổng thống với tư cách là người nắm giữ quyền lực hành pháp cao nhất và các nhà tổ chức chính phủ là rất rộng. Vào thời điểm đó, quyền lực của tổng thống cũng bao gồm cơ quan lập pháp. Điều này tiếp tục cho đến khi cuối cùng Ủy ban Quốc gia Indonesia (KNIP) được giao nhiệm vụ quyền lực lập pháp thông qua Tuyên bố của Tổng thống số. X, ngày 16/10/1945.
  • Sự hình thành của một nội các nghị viện với các bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Hạ viện và do Thủ tướng Sutan Syahrir chủ trì. Dự thảo hiến pháp bao gồm việc mở Luật cơ bản (trong đó có tuyên bố độc lập, mục tiêu nhà nước và cơ sở nhà nước), nội dung hoặc nội dung của hiến pháp bao gồm 16 Chương, 37 điều, 4 điều chuyển tiếp, và 2 quy tắc bổ sung và giải thích về Hiến pháp [82].

Thứ ba, các nội dung liên quan đến quyền con người còn ở mức độ hạn chế. Các điều khoản về nhân quyền trong Hiến pháp, từ Điều 28A đến Điều 28J (gồm 10 quyền) thuộc chương 10 – Quyền con người của Hiến pháp. Có thể thấy, số lượng quyền được hiến định còn khá ít ỏi và còn nhiều chỗ trống.

Thứ tư, về cơ chế bảo hiến, Hiến pháp có quy định về Tòa án Hiến pháp ở Điều 24C, nhưng các vấn đề liên quan đến Tòa án Hiến pháp chưa được tách riêng mà chúng được xếp vào chương 8A – Ban Kiểm toán Nhà nước. Các quy định về Tòa án Hiến pháp và cơ cấu tòa án (với 9 Thẩm phán) đã được quy định, song trên thực tế, Tòa án Hiến pháp năm 1945 chưa được thực hiện nhiệm vụ bảo hiến của mình trên thực tế do tính lịch sử chỉ tồn tại trong thời gian ngắn của Hiến pháp Indonesia 1945.

Qua những nội dung sơ lược trên, có thể thấy, Hiến pháp 1945 đã đưa ra các nền tảng căn bản về đức tin, bộ máy nhà nước, tòa án, quyền con người,… Dù còn tồn tại những điểm hạn chế, song có thể lý giải bởi hoàn cảnh lịch sử và tính chất đặc biệt của Hiến pháp 1945. Những điểm hạn chế đó sẽ được sửa đổi dần trong những bản Hiến pháp của Indonesia về sau.

2.2.3.2. Hiến pháp RIS (27/12/1949 – 17/8/1950)

Về hoàn cảnh lịch sử:

Quốc gia Indonesia độc lập tiếp tục bị phá hoại bởi những người Hà Lan muốn giành lại Indonesia. Trận chiến bảo vệ nền độc lập của Indonesia xảy ra ở hầu hết các khu vực. Đỉnh cao của cuộc xâm lược Milter đầu tiên của Hà Lan vào năm 1947 và Cuộc xâm lược quân sự II của Hà Lan vào năm 1948. Hai thỏa thuận tiếp theo, đó là Thỏa thuận Linggarjati và Thỏa thuận Renville, tiếp tục bị vi phạm. Liên Hợp Quốc bước vào và cuối cùng đã tổ chức Hội nghị Bàn tròn (KMB) vào ngày 23 tháng 8 năm 1949 cho đến ngày 2 tháng 11 năm 1949 tại Den Hag, Hà Lan. KMB có sự tham dự của đại diện đến từ Indonesia do Mohammad Hatta, đại diện của Nhà nước bù nhìn Hà Lan, Sultan Hamid II, một đại diện từ Hà Lan do Mr. Van Brussven và từ Liên Hợp Quốc do Crittchlay lãnh đạo. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Các kết quả KMB chính là:

  • Thành lập Cộng hòa Indonesia Hoa Kỳ (RIS)
  • Đệ trình chủ quyền cho Nhà nước Cộng hòa Indonesia Hoa Kỳ
  • Thành lập Liên minh giữa Vương quốc Hà Lan và Cộng hòa Indonesia Hoa Kỳ.

Với việc thành lập RIS, điều đó có nghĩa là Hiến pháp năm 1945 sẽ tự động vô hiệu. Vì vậy, nhân dịp này, Hiến pháp RIS cũng được soạn thảo. Hiến pháp RIS được thực hiện bởi đại diện của phái đoàn Indonesia và đại diện của các nước bù nhìn được thực hiện ở Hà Lan. Hiến pháp RIS này đã chính thức được ban hành kể từ khi chuyển giao chủ quyền cho RIS, ngày 27 tháng 12 năm 1949 [82].

Về nội dung, Hiến pháp RIS đã có những thay đổi so với Hiến pháp 1945 ở các điểm:

Thứ nhất, Indonesia biến thành một quốc gia liên bang (thay vì đơn nhất như Hiến pháp 1945), có quyền lực ở các bang. Các bang là Cộng hòa Indonesia (bao gồm Java và Sumatra), Đông Indonesia, Pasundan, Đông Java, Madura, Đông Sumatra và Nam Sumatra.

Thứ hai, việc giải thể RIS vẫn được lãnh đạo bởi một tổng thống, cụ thể là Tổng thống Soekarno. Nhưng tổng thống chỉ đóng vai trò là người đứng đầu nhà nước, không phải là người đứng đầu chính phủ. Người đứng đầu chính phủ được lãnh đạo bởi thủ tướng chịu trách nhiệm trước Hạ viện. Nó có nghĩa là tại thời điểm này nội các nghị viện cũng được áp dụng [92].

Tóm lại, do yếu tố lịch sử, Hiến pháp RIS đã ra đời và dựa trên phần lớn nội dung của Hiến pháp 1945 của Indonesia. Tuy nhiên, Hiến pháp RIS đã thu hẹp quyền của Tổng thống, Nghị viện đã hoạt động chính thức, hình thức nhà nước Indonesia đã không còn là nhà nước đơn nhất, đó là những điểm mới đáng chú ý của Hiến pháp Indonesia. Nhưng Hiến pháp RIS vẫn chưa thể giải quyết được hết vấn đề liên quan đến quyền con người và cơ chế bảo hiến từ Hiến pháp 1945.

2.2.3.3. Hiến pháp 1950 (17/8/1950 – 5/7/1959)

Về bối cảnh lịch sử: 

Sau khi Hiến pháp RIS được ban hành và áp dụng, người ta nhận ra người dân Indonesia yêu thích Cộng hòa Thống nhất Indonesia (NKRI) hơn là nhà nước liên bang như RIS tuyên bố. Việc áp dụng Hiến pháp 1949 trở nên mờ nhạt, cuối cùng, đến đến năm 1950, tất cả các tiểu bang đã đồng ý quay trở lại NKRI. Vào ngày 17 tháng 8 năm 1950, đất nước liên bang theo Hiến pháp RIS không còn tồn tại trên bản đồ thế giới.

Về nội dung: Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Thứ nhất, hiến pháp năm 1950 đã được soạn thảo và áp dụng tạm thời theo tên của nó. Một hiến pháp mới sẽ được soạn thảo và soạn thảo càng sớm càng tốt bởi Quốc hội lập hiến được hình thành dựa trên kết quả của cuộc tổng tuyển cử năm 1955 [88].

Thứ hai, trong Hiến pháp năm 1950, nhà nước đã trở lại hình thức của một nhà nước đơn nhất. Tổng thống đóng vai trò là nguyên thủ quốc gia có nhiệm vụ không thể tranh cãi. Tổng thống không chịu trách nhiệm cho bất cứ ai và bất kỳ tổ chức nào. Người đứng đầu chính phủ vẫn do thủ tướng nắm giữ với hệ thống nội các nghị viện [99].

2.2.3.4. Hiến pháp năm 1945 của hệ thống chính quyền trật tự cũ (ngày 5 tháng 7 năm 1959 – 1965)

Về bối cảnh lịch sử:

Xuất phát từ sự phát triển có phần chững lại và thụt lùi. Với áp lực từ các bên khác nhau, Tổng thống Indonesia lúc bấy giờ đã ban hành Nghị định của Tổng thống ngày 5 tháng 7 năm 1959. Cốt lõi của sắc lệnh là 3, cụ thể là:

  • Quốc hội lập hiến bị giải tán
  • Quay trở lại Hiến pháp năm 1945 cho tất cả người Indonesia và tuyên bố rằng Hiến pháp năm 1945 không còn hiệu lực
  • Thành lập Hội đồng tư vấn nhân dân lâm thời, có các thành viên bao gồm các thành viên của DPRS cộng với các đại biểu khu vực và nhóm. Ngoài ra, Hội đồng tư vấn tối cao tạm thời cũng được thành lập.
  • Mặc dù nhà nước đã trở lại Hiến pháp năm 1945, nhưng trong quá trình thực thi, nó vẫn còn xa hiến pháp. Nhiều sai lệch so với Hiến pháp năm 1945. Trong số những sai lệch so với hiến pháp , những sai lệch này là:
  • Sự hình thành của MPR, DPR và DPA vẫn chưa được thiết lập theo Hiến pháp năm 1945. Tất cả các tổ chức được thành lập vẫn chỉ là tạm thời. Vì vậy, nhiệm vụ vẫn chưa rõ ràng.
  • Tổng thống với tư cách là người nắm quyền hành pháp và lập pháp (với DPR) có thể đưa ra luật mà không cần sự chấp thuận của DPR.
  • MPRS đã có bài phát biểu của tổng thống vào ngày 17 tháng 8 năm 1959 với tựa đề “Tái khám phá cuộc cách mạng của chúng ta” được biết đến như là Tuyên ngôn chính trị của Cộng hòa Indonesia (Manipol), trở thành Nguyên tắc chính sách nhà nước vĩnh viễn (GBHN).

Về nội dung: 

Thứ nhất, các chỉ đạo của Tổng thống đã được thực thi làm thay đổi diện mạo Hiến pháp, bởi dù đã thu hẹp quyền của Tổng thống trong Hiến pháp RIS và Hiến pháp 1950, nhưng Tổng thống vẫn còn quyền rất lớn với lập pháp và các cơ quan Nhà nước. Cụ thể, năm 1960, do DPRS không phê duyệt dự thảo ngân sách do chính phủ đề xuất, Tổng thống đã giải tán nó và thay thế bằng Dân chủ Hội đồng Nhân dân Gotong Royong (DPRGR)

Thứ hai, ngay lập tức, MPRS đã đưa ra quyết định biến Tổng thống Sukarno trở thành tổng thống trọn đời. Các nhà lãnh đạo của các tổ chức nhà nước được làm bộ trưởng và tổng thống trong khi làm chủ tịch của DPAS.

Thứ ba, hệ quả của việc Tổng thống nắm trong tay quá nhiều quyền dẫn đến tình trạng độc quyền của Tổng thống. Tình trạng của đất nước ngày càng tồi tệ và lên đến đỉnh điểm với cuộc nổi loạn PKI G30S năm 1965 [99].

2.2.3.5. Hiến pháp năm 1945 của Chính phủ trật tự mới (21/5/1998)

Về bối cảnh lịch sử:  Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Nhờ sự cảnh giác của Lực lượng Vũ trang Indonesia (ABRI) và người dân, cuộc nổi dậy G30S PKI đã bị hủy hoại. Tổng thống Sukarno đã ban hành Thư Chính phủ Mười một tháng ba (Supersemar) cho Trung tướng Suharto. Với việc phát hành Supersemar, chính phủ Trật tự cũ đã kết thúc. Chính phủ Trật tự mới đã quyết tâm thực hiện nguyên tắc Pancasila và Hiến pháp năm 1945 một cách triệt để Về nội dung:

Ban đầu, chính phủ trật tự mới đã thực thi một chính phủ định hướng phát triển dựa trên nguyên tắc Pancasila và Hiến pháp năm 1945. Ngay sau đó, GBHN được thành lập bởi chức năng MPR làm cơ sở để thực hiện phát triển. Sau một thời gian, thực tiễn nảy sinh những điểm mới so với Hiến pháp năm 1945. Cụ thể là:

  • Sự tập trung quyền lực nằm trong tay tổng thống, do đó tham nhũng, thông đồng và Nepotism (KKN) lan tràn rộng rãi, bất bình đẳng xã hội ngày càng lan rộng, nợ nước ngoài ngày càng phình to và khủng hoảng đa chiều xảy ra ở khắp mọi nơi. Các thể chế nhà nước hiện có được kiểm soát bởi Tổng thống.
  • Hạn chế quyền chính trị của nhân dân. Điều này có thể được nhìn thấy bởi số lượng chức năng hạn chế của các đảng chính trị (PPP, Golkar, PDIP) và tự do báo chí bị xiềng xích.

Sau cùng, thời kỳ trật tự mới kết thúc với sự từ chức của Tổng thống Soeharto vào ngày 21 tháng 5 năm 1998 sau một cuộc biểu tình lớn được các sinh viên tiên phong và yêu cầu cải cách trong tất cả các lĩnh vực [53].

2.2.3.6. Hiến pháp cải cách năm 1945 (1998 – 1999)

Về bối cảnh lịch sử:

Hiến pháp từng có hiệu lực ở Indonesia bước vào thời kỳ cải cách trong tất cả các lĩnh vực với sự chấm dứt của sự cai trị của Tổng thống Soeharto. Trong thời gian này, có nhiều yêu cầu thay đổi Hiến pháp năm 1945. Hiến pháp năm 1945 được coi là có nhiều điểm yếu, bao gồm:

  • Cơ cấu quyền lực trong Hiến pháp năm 1945 đặt quyền lực của Tổng thống rất lớn. Quyền lực của Tổng thống bao gồm quyền hành pháp, lập pháp và CHDCND Triều Tiên, và có các quyền theo hiến pháp đặc biệt, như đưa ra sự khoan hồng , ân xá , bãi bỏ và cải tạo . Ngoài ra, giới hạn thời gian của Tổng thống cũng trở nên không rõ ràng với dòng chữ “năm năm và có thể được bầu lại”.
  • Chức năng và nhiệm vụ giữa các tổ chức nhà nước không cân bằng. Ví dụ, không có bài viết nào đề cập đến luật sẽ như thế nào nếu Tổng thống từ chối phê chuẩn Dự thảo Luật do DPR đề xuất.
  • Quyền của công dân trong Hiến pháp năm 1945 không rõ ràng. Chẳng hạn như liên quan đến quyền tự do lập hội, thu thập và đưa ra ý kiến cả bằng miệng và bằng văn bản được coi là không khả thi vì Luật chưa được hình thành. Kết quả là, những hạn chế về tự do báo chí đã từng xảy ra.

Trước khi sửa đổi Hiến pháp năm 1945 các bên đã thống nhất một số điều:

  • Không thay đổi Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1945
  • Nhà nước Indonesia vẫn ở dạng một nhà nước đơn nhất với nội các tổng thống
  • Hiến pháp sửa đổi năm 1945 sẽ không còn sử dụng giải thích của Hiến pháp năm 1945
  • Cấu trúc của tổ chức nhà nước trước và sau khi sửa đổi được thực hiện bằng phụ lục [88].

2.2.3.7. Hiến pháp năm 1945 sửa đổi 1999, 2000,  Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Lần sửa đổi đầu tiên của Hiến pháp năm 1945 (1999): là lần đầu tiên trong Phiên họp chung của MPR vào ngày 19/10/1999. Sửa đổi này bao gồm 9 điều và 16 câu. Chín (9) điều được sửa đổi so với Hiến pháp năm 1945 là: Điều 5, Điều 7, Điều 9, Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 17, Điều 20, và Điều 21. Bản chất của sửa đổi đầu tiên là để hạn chế lại thẩm quyền điều hành quá lớn trước đây của Tổng thống và Phó Tổng thống nhằm tránh rơi lại vào giai đoạn độc tài Sukarno. Điều này được thấy trong việc sửa đổi Điều 7, điều chỉnh nhiệm kỳ của Tổng thống và Phó Tổng thống bị giới hạn ngắn lại. Không chỉ vậy, trong Điều 5, trong đó tổng thống không còn quyền quy định pháp luật một cách hợp pháp bởi và thay vào đó là thẩm quyền của Hạ Viện [98].

Bản sửa đổi thứ hai của Hiến pháp năm 1945 (2000): được thành lập tại Phiên họp chung của MPR, ngày 18/8/2000. Có 27 điều được sửa đổi trong 7 chương. Các chương sửa đổi, cụ thể là Chương của Chính phủ khu vực, Hội đồng đại diện khu vực, Lãnh thổ nhà nước, Vị trí của công dân trong nước và dân số, Cơ sở của quyền con người, Luật quốc phòng và an ninh, và Cờ, Ngôn ngữ, Quốc gia và Quốc ca [88]. Hiến pháp đã đưa vào Điều 18, Điều 18A, Điều 18B, Điều 19, Điều 20, Điều 20A, Điều 22A, Điều 22B, Điều 25E, Điều 26, Điều 27, Điều 28A, Điều 28B, Điều 28C, Điều 28D, Điều 28E, 28F, Điều 28G, Điều 28H, Điều 28I, Điều 28J, Điều 30, Điều 36B, và Điều 36C. Một trong những điểm nhấn ở bộ máy chính quyền là việc phê chuẩn Điều 18 với sự công nhận quyền tự trị khu vực và chính quyền khu vực sẽ được bầu thông qua cuộc bầu cử khu vực (pilkada) và được tham gia cuộc bầu cử quốc hội. Ngoài ra, lần sửa đổi này cũng tạo thành một cột mốc quan trọng cho định nghĩa về quyền con người trong cơ sở pháp lý của Indonesia, cụ thể là việc mở rộng Điều 28 [100].

Hiến pháp năm 1945 sửa đổi lần ba (2001): Bản sửa đổi sửa đổi thứ ba năm 1945 được quy định vào ngày 9/11/2001. Các sửa đổi bao gồm 23 điều trong 7 chương. Các chương được sửa đổi là: Chương 1 – Hình thức và Chủ quyền, Chương 2 – MPR, Chương 3 – Quyền lực của Chính phủ Nhà nước, Chương 5 – Bộ Ngoại giao, Chương 7A – DPR, Chương 6 – Tổng tuyển cử, và Chương 8A BPK [53]. Thay đổi chính trong sửa đổi thứ ba là cuộc bầu cử tổng thống không còn thông qua MPR, mà trực tiếp thông qua người dân (Điều 1, Điều 6A). Điều khiến MPR không còn là tổ chức cao nhất. Hiến pháp cũng quy định thủ tục “đàn hạch” tổng thống. Thủ tục “đàn hạch” được quan tâm đặc biệt sau vụ việc Tổng thống Abdurrahman Wahid vào ngày 23/7/2001 đã bị phế truất với một cơ chế khá dễ dàng, người ta bắt đầu sợ hãi điều đó có thể gây ra sự bất ổn chính trị. Việc sửa đổi dẫn đến Điều 24 cũng bắt buộc phải thành lập Tòa án Hiến pháp và Ủy ban Tư pháp [83].

Sửa đổi Hiến pháp năm 1945 lần thứ tư (2002): Bản sửa đổi thứ tư của Hiến pháp năm 1945 đã được quy định tại Phiên họp chung của MPR, ngày 10/8/2002. Trong lần sửa đổi thứ tư này, nó quy định một số điều, cụ thể là:

  • Sửa đổi Hiến pháp năm 1945 là Hiến pháp năm 1945 được thành lập vào ngày 18/8/1945.
  • Việc sửa đổi đã được quyết định tại Hội nghị toàn thể MPR RI lần thứ 9, ngày 18/8/2000 và có hiệu lực vào ngày quy định.
  • DPA có trong Chương IV đã bị bãi bỏ và sửa đổi tại Điều 16, sau đó được đưa vào Chương III liên quan đến Quyền lực của Chính phủ Nhà nước.
  • Chủ quyền bên ngoài và bên trong được nhà nước cấp cho nhà nước liên bang. Trao chủ quyền hoặc đầu hàng quyền lực đó với giới hạn hạn. Điều này cũng xác nhận rằng nhà nước không có chủ quyền, nhưng quyền lực thực sự vẫn thuộc sở hữu của nhà nước [88]. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Các điều: Điều 2, Điều 6A, Điều 8, Điều 11, Điều 16, Điều 23B, Điều 23D, Điều 24, Điều 31, Điều 32 của Hiến pháp được sửa đổi, đồng thời bổ sung bổ sung Điều 33, Điều 34 và Điều 37. Thay đổi chính trong sửa đổi lần này là thành lập Hội đồng đại diện khu vực (DPD) với tư cách là một thành phần trong MPR và được bầu thông qua bầu cử. Việc sửa đổi đã bãi bỏ tổ chức DPA. Ngoài ra, cũng có những điều khoản quy định việc thực hiện nhiệm vụ đã được ghi trong Hiến pháp năm 1945 liên quan đến phúc lợi của mọi người như giáo dục, văn hóa và y tế [83].

Trải qua những thay đổi lịch sử, Hiến pháp Indonesia nhiều lần được sửa đổi với những nội dung mới khác nhau. Dù có những mục tiêu khác nhau và cách thức khác nhau, nhưng mỗi giai đoạn Hiến pháp đều dựa trên nền tảng Hiến pháp 1945 và thay đổi theo hướng tăng cường Nhân quyền và sự ảnh hưởng của Hồi giáo trong Hiến pháp. Bộ máy Nhà nước có sự phân chia và giới hạn quyền lực rõ ràng hơn.

2.2.4. Nội dung Hiến pháp Indonesia hiện hành

Hiến pháp Indonesia hiện hành là Hiến pháp 1945 sửa đổi lần thứ tư năm 2002. Cũng giống như các bản Hiến pháp sửa đổi trước đó, Hiến pháp 1945 (sửa đổi 2002) vừa có điểm kế thừa Hiến pháp 1945 (18/8/1945) vừa có những điểm mới khác biệt. Việc nhìn nhận, đánh giá Hiến pháp hiện hành sẽ giúp bức tranh về lịch sử và xu hướng thay đổi Hiến pháp tại Indonesia trở nên rõ ràng hơn.

2.2.4.1. Khái quát chung

Về hình thức:

Hiến pháp Indonesia là bản Hiến pháp thành văn. So với Hiến pháp được ban hành 1945, Hiến pháp sửa đổi 2002 đã có sự phong phú, đa dạng hơn trong các lĩnh vực quy định.

Về cấu trúc:

Mức độ chi tiết và kỹ thuật hợp hất các điều khoản. Hiến pháp Indonesia hiện hành có cấu trúc khá rõ ràng chia ra làm các chương với 16 chương cơ bản theo Hiến pháp được ban hành 1945. Hiến pháp Indonesia thuộc nhóm Hiến pháp có mức độ chi tiết hóa thấp (bên cạnh Lào và Campuchia) [11]. Sau quá trình sửa đổi, từ Hiến pháp ngắn nhất thế giới, Hiến pháp hiện hành của Indonesia trở thành Hiến pháp có độ dài vừa phải.

Về tính có hiệu lực:

Trong Hiến pháp Indonesia không có dòng nào quy định rõ ràng về hiệu lực của Hiến pháp. Tuy vậy, có những điều khoản gián tiếp khẳng định tầm quan trọng của Hiến pháp. Đồng thời, có quy định không cho phép các văn bản pháp luật do các cơ quan Nhà nước ban hành hoặc công nhận không được trái với Hiến pháp. Ví dụ, Điều 24C của Hiến pháp Indonesia hiện hành: “Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền ra phán quyết cuối cùng đối với các vụ việc sơ thẩm đồng thời chung thẩm liên quan đến việc kiểm tra sự phù hợp của các đạo luật Hiến pháp.” Quy định tính hiệu lực Hiến pháp Indonesia vẫn chưa tương xứng với tầm quan trọng và vai trò của Hiến pháp trong Nhà nước và xã hội [96].

2.2.4.2. Lời nói đầu Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Về cơ bản Lời nói đầu của Hiến pháp hiện hành so với Hiến pháp ban hành 1945 không có quá nhiều điểm khác biệt. Nội dung đầu tiên lời nói đầu nhắc đến là nền tảng phát triển đất nước Indonesia độc lập , tự do, thống nhất, chủ quyền, bình đẳng; đó là dựa trên giá trị độc lập, dân chủ và cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Nội dung thứ hai được nhắc đến là mục đích ban hành Hiến pháp Indonesia với việc thiết lập Chính phủ, bảo vệ Nhà nước, quyền con người. Đồng thời nhấn mạnh “niềm tin vào thánh Allah” [11]. Lời nói đầu ngắn gọn đã nêu được những mục tiêu và mục đích của Hiến pháp. Có bốn giá trị triết học được coi là đáng chú ý trong Lời nói đầu, đó là giá trị của (1) sự bình đẳng về mức độ giữa tất cả các quốc gia trên thế giới và (2) nguyên tắc nhân đạo, giá trị (3) công lý (công lý) dựa trên (4) giá trị của Thiên Chúa toàn năng, đó là niềm tin rằng thông minh như con người, không phải lúc nào cũng như mọi thứ họ có thể làm, mà không cần sự ban phước của thánh Allah toàn năng [107].

2.2.4.3. Chế độ Nhà nước

Theo Hiến pháp hiện hành, Indonesia là “Nhà nước đơn nhất với hình thức chính thể Cộng hòa. Chủ quyền thuộc về nhân dân và được thực hiện căn cứ vào Hiến pháp.” (Điều 1). Có thể thấy, trong lịch sử Hiến pháp Indonesia, chỉ có Hiến pháp RIS là nêu hình thức Nhà nước liên bang. Hiến pháp có nhắc tới chế độ Nhà nước, nhưng còn mức độ đơn giản, không hề nêu rõ nhiệm vụ của Nhà nước. Các quy định không chi tiết và cụ thể [11].

2.2.4.4. Các quy định về nhân quyền

So với bản Hiến pháp 1945, số lượng các quy định về Quyền con người trong Hiến pháp hiện hành đã tăng lên. Ngoài việc quy định riêng tại một chương (như Hiến pháp 1945), Hiến pháp Indonesia còn đưa quyền con người vào một số điều khoản thuộc chương 10 – Công dân và cư trú [11]. Từ những quyền ban đầu trong Hiến pháp 1945, Indonesia gần như đã đưa toàn bộ các quyền được công nhận trong Công ước về Quyền con người vào bản Hiến pháp hiện hành. Đây là một trong những xu hướng nổi bật của quá trình thay đổi của Hiến pháp Indonesia để cập nhật và bắt kịp xu thế thời đại. Xu hướng này sẽ được phân tích kỹ ở Chương 3 – Xu hướng và những vấn đề đặt ra của khóa luận.

2.2.4.5. Chính thể và bộ máy tổ chức nhà nước

Về chính thể, Hiến pháp quy định Indonesia là Nhà nước theo chính thể Cộng hòa Tổng thống. Đây là hình thức chính thể được Indonesia xác định phát triển theo ngay từ thời điểm mới giành độc lập. Đáng tiếc, Tổng thống đầu tiên của Indonesia vì lạm dụng quyền lực đã khiến đất nước lâm vào cảnh độc tài suốt 22 năm. Các Hiến pháp về sau đã có sự thay đổi, giới hạn lại quyền lực của Tổng thống, điều này cũng được thể hiện trong Hiến pháp hiện hành.

Về bộ máy Nhà nước,

Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, vừa là người trực tiếp thi hành quyền hành pháp. Tổng thống do người dân trực tiếp bầu ra, có nhiệm kỳ 5 năm và có thể giữ chức vụ tối đa 2 nhiệm kỳ. Tổng thống và Phó Tổng thống phải tranh cử theo đảng phái và theo cặp, và sẽ trúng cử nếu đạt tỷ lệ phiếu từ 20% ở bất kỳ tỉnh nào. Tổng thống ngoài các quyền mang tính nghi lễ, ngoại giao, Tổng thống còn có quyền phủ quyết với các đạo luật do cơ quan lập pháp thông qua. Đối với lập pháp, Hiến pháp Indonesia quy định Tổng thống không được phép giải tán cơ quan lập pháp. Đồng thời, Hiến pháp cũng quy định rõ ràng thủ tục đàn hạch với Tổng thống. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Cơ quan lập pháp của Indonesia là Hội đồng đại diện nhân dân. Trên thực tế, công việc lập pháp là phép cộng giữa Tổng thống và Hội đồng đại diện nhân dân. Đôi khi Tổng thống còn co vẻ “mạnh” hơn vì có thể trình dự án Luật và nắm trong tay quyền lập quy [11]. Hội đồng đại diện nhân dân được thành lập qua con đường bầu cử, họp ít nhất 1 lần mỗi năm. Hội đồng đại diện nhân dân kết hợp với Hội đồng tư vấn nhân dân trở thành một cơ quan đặc biệt trong bộ máy nhà nước Indonesia.

Cơ quan tư pháp của Indonesia theo Hiến pháp hiện hành gồm Tòa án Tối cao và Tòa cấp dưới. Đặc biệt, Indonesia còn có Tòa Hiến pháp trong cơ cấu của mình. Hiến pháp hầu như chỉ quy định cụ thể các vấn đề thuộc Tòa án Tối cao, Tòa Hiến pháp, còn Tòa án cấp dưới được quy định và điều chỉnh trong các văn bản có liên quan. Không chỉ vậy, Indonesia còn có Tòa án Nhân quyền được thành lập theo Đạo luật số 26 năm 2000 về Tòa án Nhân quyền. Đạo luật công nhận Tòa án Nhân quyền Ad Hoc có thẩm quyền đặc biệt để xử lý vi phạm thô bạo về quyền con người diễn ra trước khi ban hành Đạo luật số 26 năm 2000. Việc thành lập Tòa án này phải được tiến hành theo khuyến nghị đặc biêt của quốc hội và được thành lập theo Nghị định của Tổng thống [44].

2.2.4.6. Cơ chế sửa đổi Hiến pháp, bảo hiến và các thiết chế hiến định độc lập

Việc sửa đổi bổ sung được quy định trong Hiến pháp Indonesia khá bó hẹp, được ví như “công việc riêng” của Hội đồng tư vấn nhân dân (bao gồm Hội đồng đại diện nhân dân và Hội đồng đại diện địa phương đã nhắc đến ở trên). Nhóm ít nhất 1/3 người đến từ Hội đồng tư vấn nhân dân có thể bắt đầu chu trình sửa đổi Hiến pháp. Hiến pháp có thể sửa đổi các nội dung, tuy nhiên, khoản 5 điều 37 Hiến pháp hiện hành với tuyên bố về:

Hình thức nhà nước Cộng hòa đơn nhất là không được thay đổi.

Hiến pháp Indonesia trao quyền bảo hiến cho cơ quan độc lập – Tòa án Hiến pháp. Theo Hiến pháp, Tòa án Hiến pháp tại Indonesia có các thẩm quyền sau: xét xử các vụ việc liên quan đến tính hợp hiến của các luật với Hiến pháp, tranh chấp vụ việc về nhiệm vụ các cơ quan, về vấn đề bầu cử, đưa ra phán quyết về các  quyết định vi hiến của Hội đồng đại diện nhân dân, hành vi vi hiến của Tổng thống hoặc Phó Tổng thống [44]. Hiến pháp cũng ghi nhận rất rõ ràng các quy định nhằm đảm bảo Tòa án Hiến pháp hoạt động một các độc lập với việc tuyển chọn 9 Thẩm phán có tiêu chuẩn gắt gao. Điểm trừ của Hiến pháp hiện hành là chưa quy định rõ ràng quy trình và nói rõ ai là người khởi động mà chỉ nói sẽ do Hội đồng đại diện Nhân dân quy định.

Ngoài các cơ quan bộ máy Nhà nước đã được Hiến pháp kể tên, Indonesia còn tổ chức và thành lập các cơ quan kiểm toán độc lập nhằm hỗ trợ và thực hiện hiệu quả các công việc được quy định trong Hiến pháp [44].

2.2.4.7. Chính quyền địa phương

Hiến pháp Indonesia không có quy định chi tiết về chính quyền địa phương. Cộng hòa Indonesia chia thành các tỉnh, huyện, thành phố [97]. Và mỗi tỉnh, huyện, thành phố có Hội đồng đại diện địa phương của riêng mình. Tuy vậy, Hiến pháp Indonesia chỉ có 4 điều liên quan đến chính quyền địa phương (Điều 1, 3, 4, 18) nhưng không nói rõ đến mối quan hệ giữa các cơ quan đại diện dẫn đến những cách lý giải khác nhau trên thực tế.

Như vậy, có thể thấy từ Hiến pháp ban đầu năm 1945 đến Hiến pháp hiện hành, Indonesia đã có nhiều thay đổi, nổi bật là quy định rõ ràng về bộ máy nhà nước theo hướng phân quyền hơn, hạn chế quyền Tổng thống, nâng cao quyền con người, và tăng cường cơ chế bảo hiến.

2.2.5. Thực tiễn thi hành Hiến pháp Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Việc quy định của Hiến pháp hiện hành Indonesia trên lý thuyết có nhiều thay đổi như vậy, nhưng từ lý thuyết đến thực tiễn luôn có một khoảng cách nhất định. Thực tiễn thi hành Hiến pháp Indonesia ra sao chính là thước đo việc áp dụng và tôn trọng Hiến pháp, cũng như vai trò của Hiến pháp với các nguồn pháp luật khác cùng tồn tại. Thực tiễn thi hành Hiến pháp Indonesia sẽ được nhìn nhận chủ yếu thông qua các vụ việc thực tiêu biểu và phán quyết của Tòa án.

2.2.5.1. Thực tiễn thi hành quyền con người

Tờ báo Anh quốc The Economist từng có bài viết về Indonesia với tựa đề ”Niềm ngạc nhiên đến từ Indonesia”, để nói tới nền dân chủ Indonesia trong không khí bầu cử theo Hiến pháp. Vào lúc Indonesia tổ chức cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội lần thứ ba, báo chí tại Indonesia hiện rất sôi động và tự do, không bị ảnh hưởng của loại luật giống như luật cấm như Thái Lan, hay bị rào cản trong cách lý giải gò bó về tội phỉ báng như tại Singapore hay Malaysia. Không giống như quân đội Thái Lan đã trở lại chính trường với cuộc đảo chính vào năm 2006, quân đội Indonesia vẫn ở yên trong doanh trại của mình. Và cũng không giống như Philippines, nơi mà các cuộc bầu cử bị súng đạn, những kẻ giết mướn hay vàng bạc chi phối, với hàng chục vụ ám sát, Indonesia được hưởng một bầu không khí an lành hơn rất nhiều [25]. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được được thực hiện và tôn trọng.

Một dẫn chứng khác về việc đảm bảo quyền con người theo Hiến pháp là việc Quốc hội đã chấp nhận một số yêu cầu của người dân trong lần sửa đổi Hiến pháp sau một cuộc biểu tình quy mô ngàn người yêu cầu thay đổi hiến pháp cho phép người dân trực tiếp bầu ra tổng thống và bỏ đi 38 ghế dành cho các đại diện của lực lượng an ninh nước này [17]. Và chỉ 4 ngày sau, Quốc hội Indonesia (MPR) đã thông qua đạo luật sửa đổi hiến pháp quan trọng, theo đó người dân Indonesia lần đầu tiên sẽ được trực tiếp bầu chọn tổng thống và phó tổng thống nước này kể từ năm 2004. Đồng thời, trong phiên họp thường niên kéo dài 10 ngày này, MPR cũng thông qua thay đổi rằng giới quân sự và cảnh sát sẽ không còn có ghế đại diện nào trong Quốc hội từ năm 2004 [18]. Không chỉ quyền tự do ngôn luận, quyền biểu tình được đảm bảo, thông qua cuộc biểu tình cùng quyết định thay đổi Hiến pháp, quyền bầu cử của người dân và sự công bằng trong Quốc hội được đảm bảo hơn. Nó cho thấy sự tôn trọng và lắng nghe người dân đến từ cơ quan lập pháp cao nhất Indonesia.

Trường hợp thứ ba đáng kể, Toà án Hiến pháp của Indonesia đã bác bỏ một luật từ chối sự công nhận và quyền hợp pháp của các tín đồ tôn giáo bản địa, đây được đánh giá là sự tiến bộ bất ngờ đối với tự do tôn giáo ở quốc gia Hồi giáo đông dân nhất thế giới. Phán quyết được đưa ra vào 7/11 với sự nhất trí của toàn bộ 9 Thẩm phán với lý do: “Các điều luật này sẽ không có hiệu lực về mặt pháp lý vì chúng mâu thuẫn với Hiến pháp” (Thẩm phán phiên tòa Arief Hidayat) và trái với quyền công bằng được Hiến pháp Indonesia ghi nhận. Theo đó, đạo luật yêu cầu tín đồ tôn giáo không nằm trong sáu tôn giáo được chính quyền Indonesia công nhận (Hồi giáo, Tin lành, Công giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo và Khổng giáo) sẽ không được thực hiện một số quyền: quyền kết hôn, quyền sở hữu đất, nhà ở, không được điền đầy đủ thông tin trên giấy tờ,… sẽ hoàn toàn được xóa bỏ. Quyết định này là một chiến thắng bất ngờ cho những người ôn hòa. Phán quyết của Tòa án vừa thực hiện nhiệm vụ bảo hiến, vừa đem lại công bằng và sự bình đẳng cho người tôn giáo thiểu số tại Indonesia [90].

Indonesia cũng từng có cuộc thảo luận gay gắt về “Dự thảo Luật về xóa bỏ bạo lực tình dục” nhằm mục đích ngăn chặn và ngăn chặn sự xuất hiện của bạo lực tình dục trong đó bao gồm cưỡng hiếp, mại dâm cưỡng bức, nô lệ và lạm dụng tình dục trong các hộ gia đình, tại nơi làm việc và trong không gian công cộng vào năm 2016 để phản ứng với vụ cưỡng hiếp cũng như vụ ám sát một học sinh trung học cơ sở 13 tuổi tên là Yuyun bởi 14 thanh niên ở Bengkulu. Dù có nhiều ý kiến trái chiều và tranh luận đến từ các phe đối lập, song, không thể phụ nhận điều này cho thấy động thái của Chính phủ và Tòa án trong việc đảm bảo và nâng cao quyền con người, bảo vệ phụ nữ, tại Indonesia [93]. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Trong những năm gần đây, trong xu thế phát triển về quyền con người, Indonesia cũng thể hiện nỗ lực thực hiện và đảm bảo quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp. Bằng chứng là Ủy ban Quốc gia về Nhân quyền của Cộng hòa Indonesia (Komnas HAM) đã được thành lập và biết đến như một trong những địa chỉ đáng tin cậy để người dân tự bảo vệ chính mình trước những hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích chính đáng.

2.2.5.2. Hoạt động của tòa án và cơ chế bảo hiến

Thứ nhất, Hiến pháp Indonesia dành một khoảng không gian nhất định cho việc quy định về Tòa án và điều khoản để đảm bảo Tòa án hoạt động độc lập. Trên thực tế, quy trình tuyển chọn Thẩm phán của Tòa án rất gắt gao với các tiêu chuẩn cơ bản như: ứng viên phải có bằng cử nhân luật và phải thi đỗ khoá đào tạo tư pháp kéo dài khoảng vài tháng,… Indonesia cũng thành lập Ủy ban Tư pháp giám sát hoạt động và hành vi của các Thẩm phán ở tất cả các Tòa án Indonesia, kể cả Tòa án tối cao và Tòa án Hiến pháp, như một phần của chức năng “bảo vệ danh dự, phẩm giá, và bảo đảm tư cách (tốt) của Thẩm phán” [77]. Nỗ lực đảm bảo thực hiện các quy định trong Hiến pháp nhằm đảm bảo Tòa án hoạt động độc lập được minh chứng bằng vụ việc Thẩm phán bị bắt hay xét xử bởi những tội danh vi hiến, điển hình như vụ Thẩm phán Moechar với tội tham nhũng đã bị sa thải.

Dù còn gặp nhiều khó khăn trong việc minh bạch hệ thống pháp lý, Tòa án Tối cao mất thời gian nhiều hơn để công bố quyết định của mình so với Tòa án Hiến pháp, nhưng Tòa án Tối cao cũng có vai trò và tầm quan trọng trong thi hành Hiến pháp và pháp luật tại Indonesia [42, 208]. Thẩm quyền Tòa án Tối cao được quy định rõ ràng trong Hiến pháp hiện hành (Điều 24C), Tòa án Tối cao đã vận hành trơn tru và thuận lợi hơn trên thực tế các nhiệm vụ của mình so với các giai đoạn lịch sử trước đó của Indonesia.

Điểm đáng lưu tâm nhất là cơ quan độc lập thực thi nhiệm vụ bảo hiến theo Hiến pháp Indonesia – Tòa án Hiến pháp. Có rất nhiều vụ việc cho thấy Tòa án Hiến pháp đã thực hiện và đảm bảo khá tốt nhiệm vụ của mình.

Tòa án Hiến pháp cũng từng tuyên bố rằng Luật số 27 năm 2004 liên quan đến Ủy ban Sự thật và Hòa giải đã mâu thuẫn với Hiến pháp và đi đến quyết định bãi bỏ Luật này. Trong quá trình thúc đẩy thành lập Ủy ban Sự thật và Hòa giải (TRC) để xử lý các vi phạm nhân quyền trong quá khứ, dựa trên các Ủy ban Sự thật và Hòa giải của Nam Phi, Argentina và Chile, Tòa án Hiến pháp nhận được đơn yêu cầu xem xét lại tư pháp từ các nhóm NGO. Rõ ràng, Tòa án Hiến pháp Indonesia đã dựa trên luật tối cao nhất của quốc gia – Luật Hiến pháp để xem xét và đưa ra quyết định [91].

Ngay khi vừa thành lập, Tòa án Hiến pháp đã thực hiện nhiệm vụ giải thích Hiến pháp của mình, thông qua giải thích về khái niệm: “Hiến pháp” của Giáo sư Jimly Asshiddiqie, Chánh án đầu tiên của Tòa Hiến pháp. Ông cho rằng Hiến pháp thực hiện việc: “đảm bảo hoạt động các cơ quan Nhà nước là dân chủ và hạn chế lạm quyền”, đồng thời “bảo vệ công dân khỏi sự lạm quyền của các tổ chức nhà nước vi phạm các quyền cơ bản được bảo đảm bởi hiến pháp” [42, 208]. Việc giải thích khái niệm cơ bản về Hiến pháp của Chánh án đầu tiên cho thấy Tòa án Hiến pháp đã ý thức được tầm quan trọng xứng đáng của mình, nó giúp các Thẩm phán có cái nhìn rõ ràng về công lý và thực thi nhiệm vụ bảo hiến một cách tốt nhất sau những giai đoạn bất ổn, phát triển trồi sụt của cơ quan hiến định độc lập này [72, 21]. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Tòa án Hiến pháp cũng từng ra quyết định về cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp thứ ba của Indonesia theo đúng Hiến pháp. Khi cả hai ứng cử viên Joko Widodo và Prabowo Subianto cùng tuyên bố thắng cử sau khi kết quả kiểm phiếu sơ bộ được công bố, người ta quan ngại về nguy cơ bất ổn chính trị tại quốc gia Hồi giáo đông dân nhất thế giới và cũng là nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á [23]. Tuy vậy, người dân vẫn tin tưởng vào sự làm việc sáng suốt của Tòa án Hiến pháp, Thứ trưởng Bộ Luật pháp và Nhân quyền – Denny Indrayana, nói: “Xét tới những tuyên bố thắng cử của cả hai ứng cử viên, dường như khó tránh khỏi một trận chiến pháp lý tại Tòa án Hiến pháp… Uy tín của Tòa án Hiến pháp, với tư cách là cơ quan quyết định cuối cùng đối với kết của bầu cử tổng thống Indonesia, đang bị thách thức”. Và phán quyết sau đó của Tòa án Hiến pháp đã chứng tỏ Tòa án Hiến pháp vượt qua thách thức và giành được sự tin tưởng của người dân. Chánh án tòa án Hiến pháp Indonesia Hamdan Zoelva tuyên bố toàn bộ chín thẩm phán của Tòa bác bỏ mọi khiếu nại của ứng cử viên Subianto và phán quyết của tòa là không thể kháng cáo. Tòa án Hiến pháp Indonesia đã nhất trí ủng hộ kết quả cuộc bầu cử tổng thống diễn ra tháng 7 vừa qua, điều này đồng nghĩa với việc ứng viên Joko Widodo trở thành nhà lãnh đạo tiếp theo của nước này. Ứng viên về thứ hai trong cuộc chạy đua này Prabowo Subianto tuyên bố chấp nhận kết luận của Tòa án Hiến pháp. [22]

2.2.5.3. Ảnh hưởng của Hồi giáo với Hiến pháp

Như phần phân tích ở trước, qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, dù có nhiều thay đổi, song, ảnh hưởng Hồi giáo tại Indonesia không hề giảm sút, sự ảnh hưởng đó được thể hiện ngay trong Hiến pháp. Với lời mở đầu của Hiến pháp cũng như Điều 29, Hiến pháp Indonesia dù không tuyên bố quốc giáo, song đã cho thấy dấu vết lớn mạnh của Hồi giáo tại quốc gia này.

Ngược lại lịch sử, sẽ thấy Hồi giáo ảnh hưởng ngay trong quá trình thành lập Hiến pháp. Hiến pháp đầu tiên 1945 của Indonesia được tạo thành do Ủy ban gồm 9 người, trong đó 8 người thuộc Hồi giáo [88]. Điều đó, thể hiện sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Hồi giáo tại Indonesia với lượng lớn người tham gia. Đồng thời cũng là một trong số các nguyên nhân lý giải Hiến pháp Indonesia ngay từ bản đầu tiên đã chịu ảnh hưởng tư tưởng Hồi giáo. Và tư tưởng đó tiếp tục được khẳng định qua từng bản Hiến pháp.

Lời nói đầu của Hiến pháp qua các thời kỳ cũng cho thấy rõ vị thế của Hồi giáo và các tôn giáo khác trong Hiến pháp. Triết lý Pancasila phù hợp đức tin về tín ngưỡng và sự sùng bái về các bậc tối cao [65, 16]. Điều này hoàn toàn phù hợp với giáo lý Hồi giáo. Nó cho thấy có một mạch đập Hồi giáo chảy trong Hiến pháp Indonesia.

Trong điều 29 đoạn (1), người ta giải thích rằng Nhà nước dựa trên thiên tính tối cao. Điều này phù hợp với học thuyết của kinh Koran: “Hãy nói:” Ngài là Allah, Đấng toàn năng “. Các quy định trong việc thực hiện các tôn giáo và tín ngưỡng tương ứng của họ có trong Hiến pháp năm 1945 đề cập đến sự công nhận sự tồn tại của một Thiên Chúa tối thượng. Do đó, công dân Indonesia có thể tự do xác định cách sống của mình với mối quan hệ với Thiên Chúa, theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng của họ, đó là niềm tin của họ trong khi duy trì sự cân bằng cho việc tạo ra sự khoan dung giữa người tin và người tin (Setiardja, 1993: 121) [65, 16]. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Triết lý của Thiên Chúa tối thượng trong bài viết này có thể được hiểu là đồng nghĩa với tauhid, vốn là cốt lõi của giáo lý Hồi giáo, với sự hiểu rằng giáo lý Hồi giáo dung túng cho tự do và cơ hội rộng lớn nhất cho những người theo các tôn giáo khác để thực hiện giáo lý tôn giáo tương ứng của họ.

Cũng theo tinh thần công lý, Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm không có sự phỉ báng nhân danh tôn giáo hoặc tín ngưỡng của những người theo các tôn giáo khác. Hãy để tất cả mọi người tin vào tôn giáo của họ là chính nghĩa, thậm chí là quyền duy nhất, mà không phải phỉ báng tôn giáo hoặc niềm tin của người khác là sai lầm hoặc sai lầm. Chuẩn mực là như nhau: nếu bạn không thích tôn giáo của mình bị xúc phạm, thì đừng xúc phạm tôn giáo của người khác. Ngược lại, nếu bạn thích người khác tôn trọng tôn giáo của bạn, thì hãy tôn trọng tôn giáo của người khác. Kinh Koran dạy: “Và đừng nguyền rủa sự thờ phượng mà họ tôn thờ ngoại trừ Allah, vì họ sẽ nguyền rủa Allah bằng cách vi phạm mà không có kiến thức. Vì vậy, chúng tôi làm cho mọi ummah xem xét công việc của họ tốt. Sau đó, họ trở lại với Chúa, và họ nói với họ những gì họ đã làm trước đây [65, 16].

2.2.6. Đánh giá và lý giải

Về các nội dung trong Hiến pháp

Như vậy, có thể thấy, trải qua thời gian, từ bản Hiến pháp đầu tiên 1945 đến bản Hiến pháp hiện hành, bộ mặt đất nước Indonesia có nhiều đổi thay. Từ Hiến pháp ngày đầu thành lập, sau đó được phục hồi vào năm 1959. Hiến pháp 1945 đã quy định về Pancasila – triết lý quản lý nhà nước ở Indonesia; phân chia quyền lực một cách hạn chế giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp, theo đó Indonesia được coi là chính thể tổng thống pha trộn một số nét của chính thể nghị viện. Tuy nhiên, sau khi chế độ Suharto bị lật đổ, một loạt điểm sửa đổi được đưa vào Hiến pháp dẫn đến những thay đổi quan trọng trong hệ thống chính quyền. Hiến pháp được sửa đổi qua 4 lần vào các năm 1999, 2000, 2001 và 2002, tăng từ 37 điều lên 73 điều, trong đó chỉ 11% tổng số điều được giữ nguyên so với bản Hiến pháp 1945. Những điểm thay đổi quan trọng nhất của Hiến pháp Indonesia bao gồm: Quy định Tổng thống chỉ được giữ chức hai nhiệm kỳ; thiết lập Hội đồng Đại diện vùng (DPD) cùng với Hội đồng Đại diện nhân dân (DPR) tạo thành Đại hội đồng tư vấn nhân dân (MPR)-cơ quan lập pháp tối cao của Indonesia; thay thế chính thể tổng thống hỗn hợp bằng chính thể tổng thống đơn thuần; bầu cử Tổng thống trực tiếp thay vì được bầu bởi MPR; thay đổi mối quan hệ theo chiều dọc giữa các cơ quan nhà nước thay vì trao cho MPR vị thế hiến định tối cao; quy định bầu cử trực tiếp, tự do và bí mật đối với DPR và các cơ quan lập pháp vùng; thiết lập Tòa án Hiến pháp nhằm bảo vệ Hiến pháp; thiết lập Ủy ban Tư pháp; bổ sung 10 điều mới về quyền con người [76, 188]. Hiến pháp Indonesia đã có những quy định rõ ràng hơn về các bộ máy nhà nước, tránh làm quyền, bổ sung quyền con người. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Có thể lý giải những vấn đề nội dung của Hiến pháp Indonesia cụ thể:

Thứ nhất, Indonesia sở dĩ chấp nhận triết lý Pacasila bởi trên thực tế công dân Indonesia là đa nguyên, do đó sự thống nhất trong đa dạng trở thành một điều cần thiết. Sự thất bại của các nước châu Âu như Đức vì đã biến văn hóa Đức thành thánh địa của tất cả các nền văn hóa khác sống ở Đức. Sự kiêu ngạo này đã khiến Đức thất bại trong quá trình hội nhập được thực hiện bởi chính sách của Bộ Nội vụ Đức. Thực tế này khác với các điều kiện ở Mỹ mà ngay từ đầu đã xây dựng văn hóa của họ dựa trên nguyên tắc “nấu chảy” hoặc lò luyện kim từ các nền văn hóa khác nhau của người khác. Do đó, tỷ lệ làm cho văn hóa địa phương và trí tuệ địa phương trong cuộc sống Indonesia là lựa chọn đúng đắn [94, 16]

Thứ hai, sự thay đổi của Hiến pháp Indonesia dựa trên sự học hỏi các quốc gia tiến bộ. Trong thời đại toàn cầu hóa, không một quốc gia nào có thể không học, mượn hay chấp nhận một số ý tưởng hiến pháp từ những nước khác hay người khác. Mặc dù Indonesia đã phát triển hơn hàng trăm là một xã hội rất đa nguyên với các nền văn hóa chính trị địa phương, nhưng ngay từ Hiến pháp thành văn đầu tiên của Nhà nước, Indonesia đã xây dựng theo xu hướng hiện đại. Một số khía cạnh của hệ thống tổng thống Mỹ, cân bằng với sự tồn tại của cơ quan cao nhất của hội đồng người dân như thường thấy ở Liên Xô và Đông Âu các nước. Một số thể chế nhà nước đã được điều chỉnh từ những cái cũ dưới thời thuộc địa Hà Lan. Một số thuật ngữ pháp lý được sử dụng trong phần giải thích chính thức của Hiến pháp năm 1945 phản ánh các từ tiếng Đức, cho thấy các tài liệu tham khảo về các nhà soạn thảo về tiếng Đức hệ thống hiến pháp. Ý tưởng của hệ thống ba đại diện trong Hội đồng nhân dân bao gồm đại diện chính trị (Hạ viện), đại diện khu vực (từ các tỉnh) và đại diện chức năng (từ các nhóm bộ lạc và các đảng phi chính trị khác Các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức chuyên nghiệp khác) đã được cấy ghép một cách sáng tạo từ một số lưỡng viện hệ thống nghị viện bao gồm Anh, Hoa Kỳ và các nước châu Âu khác.

Thứ ba, Tòa án Hiến pháp Indonesia phát triển trong sự tin tưởng và kỳ vọng của người dân bởi lẽ mong muốn có một Tòa án trong sạch và dễ tiếp cận là niềm khao khát và mơ ước của nhiều người Indonesia. Tòa án cũng có thể hiểu được khoảng cách và kỳ vọng của công chúng từ một cơ quan tư pháp, hoạt động trên thực tiễn của Tòa án Hiến pháp cũng ngày càng được đảm bảo. Do đó, sự ủng hộ của công chúng đối với tòa án ngày càng tăng. Bằng cách thành lập Tòa án, chính phủ thực hiện nguyện vọng công cộng. Việc tạo ra Tòa án được thực hiện vào đúng thời điểm khi mọi người đang mất niềm tin vào hệ thống tư pháp. Do đó, khi Tòa án được thành lập, có nhiều kỳ vọng từ công chúng sang một tòa án mới [42, 237].

Thứ tư, tình hình chính trị ủng hộ cũng ủng hộ cho sự lớn mạnh của Tòa án Hiến pháp. Theo quan điểm của Horowitz, những gì mà các đảng thống trị đã làm trong 13 năm qua là soạn thảo luật mới cho mỗi cuộc bầu cử khác xa với thông lệ tiêu chuẩn ở các nền dân chủ trên toàn thế giới. Nó không chỉ tạo ra luật bất ổn từ bầu cử này sang bầu cử khác mà còn tạo ra cuộc chiến giữa các đảng chính trị lớn và nhỏ. Những cấu hình đó tạo ra sự cân bằng phe phái trong đó Tòa án Hiến pháp có chỗ để hoạt động độc lập, tuyên bố chính sách của chính phủ là vi hiến, và không ai xem xét việc không tuân theo quyết định của Tòa án. Dường như bầu không khí cạnh tranh chính trị mới này đã giải phóng không gian cho Tòa án xây dựng tính hợp pháp về thể chế của họ [42, 237]. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Và mặc dù Tòa án được tạo ra thông qua sửa đổi hiến pháp, các đảng chính trị đã ủng hộ việc tạo ra Tòa án. Tuy nhiên, khi thành lập Tòa án, Tòa án quay lưng lại và bắt đầu xem xét những gì các đảng chính trị đã tạo ra. Nghị viện không có đòn bẩy để tấn công hoặc sửa đổi Tòa án thông qua các cơ chế khác. Người ta nhận ra rằng Tòa án có sự hỗ trợ của công chúng, đó là điều mà Nghị viện không có [42, 237].

Về sự ảnh hưởng của Hồi giáo trong Hiến pháp

Lý giải cho sự ảnh hưởng của Hồi giáo mạnh mẽ ở Indonesia với xu hướng ngày càng tăng, có thể đưa ra một số lý do sau: tư tưởng nhà nước trong Hồi giáo vẫn duy trì sự hội nhập giữa tôn giáo và nhà nước vì Hồi giáo có những quy định điều chỉnh hệ thống xã hội, bao gồm các vấn đề chính trị. Trong mô hình tích phân, tôn giáo và nhà nước được thống nhất. Do đó, người đứng đầu nhà nước là người nắm giữ quyền lực tôn giáo và quyền lực chính trị. Chính phủ của ông được tổ chức trên cơ sở “chủ quyền thiêng liêng”, bởi vì chủ quyền bắt nguồn và nằm trong “bàn tay của Chúa”.

Quan hệ Hồi giáo và Nhà nước trong hệ thống hiến pháp, tôn giáo và nhà nước Indonesia vận hành một cách linh hoạt – biện chứng, do đó việc thể chế hóa các quy tắc tôn giáo Hồi giáo trong cuộc sống của quốc gia và nhà nước không thể được thực hiện theo cách lập hiến, nhưng phải thông qua một quá trình lập hiến, dựa trên hiến pháp NRI 1945. Bản chất của các chuẩn mực tôn giáo Hồi giáo chỉ có thể được áp dụng trong hệ thống pháp luật quốc gia nếu được ban hành theo cách lập hiến và phù hợp với Hiến pháp Pancasila và Hiến pháp năm 1945 [136].

Ngoài ra, do sự phát triển của quyền con người trên thế giới, bản thân Hồi giáo khi du nhập vào Indonesia cũng có những điểm tiến bộ về công bằng và bình đẳng.

2.3. Lịch sử và sự phát triển Hiến pháp Malaysia Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

2.3.1. Khái quát chung

“Malay” theo tiếng Mã Lai là “hoàng kim”. Được gọi bằng cái tên “Châu Á thu nhỏ”, Malaysia là một quốc gia đa dân tộc và đa văn hóa với dân số hơn 28 triệu dân bao gồm người Malaysia, người Hoa, người Ấn và các dân tộc khác sinh sống hòa hợp với nhau, đặc điểm này đóng một vai trò lớn trong chính trị quốc gia [53]. Malaysia là một quốc gia quân chủ lập hiến liên bang tại Đông Nam Á. Quốc gia bao gồm 13 bang và 3 lãnh thổ liên bang, là quốc gia lớn thứ 67 trên thế giới về diện tích đất liền với tổng diện tích khoảng 329.847 km2. Malaysia bị tách làm hai phần qua biển Đông: Malaysia bán đảo và Borneo thuộc Malaysia. Bán đảo chiếm 40% diện tích đất liền của Malaysia, trải dài 740 km từ Bắc xuống Nam, và có chiều rộng tối đa là 322 km.

Quá trình lịch sử tại Malaysia có thể chia làm bảy (7) giai đoạn. Cụ thể:

Giai đoạn 1: Thời cổ đại. Những người Mã Lai nguyên thủy có nguồn gốc đa dạng hơn và đã định cư tại Malaysia vào khoảng 1000 TCN. Khoảng 300 TCN, họ bị người Mã Lai thứ đẩy và nội lục, người Mã Lai thứ là một dân tộc thời đại đồ sắt hoặc đồ đồng và có nguồn gốc một phần từ người Chăm [53].

Giai đoạn 2: Các vương quốc đầu tiên. Một số vương quốc Mã Lai tồn tại trong thế kỷ II và III, số lượng đến 30, chủ yếu tập trung tại bờ phía Đông của bán đảo Mã Lai. Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII, phần lớn bán đảo Mã Lai nằm dưới quyền cai trị của Đế quốc Srivijaya theo Phật giáo [53]. Đế quốc dựa vào mậu dịch, với các vương tại địa phương (dhatu hay thủ lĩnh cộng đồng) tuyên thệ trung thành với quân chủ trung ương nhằm cùng hưởng lợi.

Giai đoạn 3: Vương quốc Malacca. Trong vòng vài năm sau khi thành lập, Malacca chính thức chấp nhận Hồi giáo, việc cải biến tôn giáo của người Mã Lai sang Hồi giáo được tăng tốc trong thế kỷ XV. Quyền lực chính trị của Malacca giúp truyền bá nhanh chóng Hồi giáo trên khắp quần đảo. Đến đầu thế kỷ XVI, cùng với Malacca trên bản đảo Mã Lai và nhiều bộ phận của Sumatra, vương quốc Demak tại Java, và các vương quốc khác trên khắp quần đảo Mã Lai ngày càng cải sang Hồi giáo, nó trở thành tôn giáo chi phối đối với người Mã Lai, và tiến xa đến Philippines ngày nay. Vương triều Malacca tồn tại trong hơn một thế kỷ, song trong thời gian này nó trở thành trung tâm của văn hóa Mã Lai [53].

Giai đoạn 4: Johor và người Hà Lan. Sau khi Malacca sụp đổ trước người Bồ Đào Nha, Vương quốc Johor và Vương quốc Aceh tại miền bắc Sumatra lấp đầy khoảng trống quyền lực [53]. Ba thế lực đấu tranh nhằm thống trị bán đảo Mã Lai và các đảo xung quanh.

Giai đoạn 5: Chủ nghĩa thực dân Anh tại Malaysia. Từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XIX, Malacca thuộc về người Hà Lan. Trong suốt cuộc chiến Napoleon từ năm 1811 đến năm 1815, Malacca cùng chung số phận với những thuộc địa khác của Hà Lan tại Đông Nam Á, đã bị người Anh chiếm đóng. Vào năm 1824, Anh và Hà Lan kí kết Hiệp ước Anh – Hà Lan. Thông qua Hiệp ước, Malacca được chuyển giao hợp pháp cho chính quyền Anh. Hiệp ước đồng thời phân chia Malaysia thành hai thực thể riêng biệt cũng như đặt nền móng cho ranh giới Malaysia và Indonesia ngày nay. Đến năm 1910, mô hình cai trị của Anh tại các lãnh thổ Mã Lai được thiết lập [53]. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Giai đoạn 6: Giai đoạn Chiến tranh thế giới II.Trong Chiến tranh thế giới II, quân đội Nhật Bản tấn công, đánh bại quân Anh và chiếm đóng Malaya, Bắc Borneo, Sarawak, và Singapore trong ba năm. Người Malaya tiếp tục chứng kiến người Anh trở lại vào năm 1945, song mọi thứ không thể được duy trì như thời tiền chiến [53]. Nhiều cuộc đấu tranh giành lại chính quyền đã nổ ra. Vào ngày 31 tháng 8 năm 1975, nền độc lập cho liên minh trong khối thịnh vượng chung đã được trao trả.

Giai đoạn 7: Thời kỳ độc lập, thống nhất cho đến nay. Năm 1963, Liên bang được đổi tên thành Malaysia với sự chấp nhận của các thuộc địa của Anh là Singapore, Sabah và Sarawak. Từ đó đến nay, Malaysia tiến hành ổn định tình hình quốc gia và phát triển kinh tế.

Có thể thấy, cũng giống như hầu hết các quốc gia Đông Nam Á khác, đất nước Malaysia đã trải qua sự hình thành và phát triển của các vương triều, cùng với đó là những biến cố thăng trầm của lịch sử. Từ các thế lực thực dân châu Âu như Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh quốc, cho đến các thế lực trong khu vực như Xiêm, Nhật Bản. Điều này làm cho Malaysia trở thành một đất nước đa dạng về chủng tộc, văn hóa và tôn giáo. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến Hiến pháp và tình hình pháp luật của Indonesia.

2.3.2. Ảnh hưởng và đặc điểm của Hồi giáo tại Malaysia

Là một quốc gia đa dạng sắc tộc và tôn giáo, trong đó Hồi giáo có số lượng tín đồ lớn nhất (khoảng 60,4%), con đường du nhập và Hồi giáo tại Malaysia có nhiều điểm đặc biệt so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

Thứ nhất, con đường xâm nhập của Hồi giáo vào Malaysia

Đã có rất nhiều tranh cãi, giả thuyết đã nổ ra nhằm xác định quá trình hình thành và du nhập của Hồi giáo vào Malaysia. Qua nghiên cứu các tài liệu và giả thuyết, khóa luận có thể tạm chia ảnh hưởng của Hồi giáo tại Malaysia thành ba (3) giai đoạn. Cụ thể:

Giai đoạn 1: Giai đoạn thích ứng và thay đổi (khoảng từ những năm 1200 – 1400 năm) [125]. Hồi giáo ở Malaysia là bán đảo Ả rập, một số thì cho là từ Ai Cập thông qua các thương gia Hồi giáo và Ấn Độ truyền sang trong thế kỷ VII – XIII [41, 4]. Đến thế kỷ XIII – XV, các thương gia Hồi giáo đã đến quần đảo Malaya – Indonesia buôn bán, định cư, lấy vợ người bản xứ…nhiều đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho các tu sĩ Hồi giáo xâm nhập vào vùng đất này truyền đạo. Giới quý tộc bản xứ, từ lâu đã thèm khát của cải của người Hồi nên đã vui vẻ chào đón, kết thân và tiếp nhận tôn giáo của họ. Kết quả là vào thế kỷ XIII – XV, đã có một số nước ở Đông Nam Á như Pasai (Indonesia) đã trở thành quốc gia Hồi giáo.

Giai đoạn 2: Giai đoạn thích ứng của Malaysia về mặt tinh thần, tư tưởng của giáo lý đạo Hồi (khoảng 1400 – 1700) [125]. Malaysia được cải giáo muộn hơn, thể kỷ XIV – XV [147]. Đầu thế kỷ XV, vua nước Melaka là Parameswara (1403 – 1424) đã cải theo Hồi giáo, lấy tên Hồi giáo là Iskandar Shah. Từ đây, Melaka không những là trung tâm buôn bán quốc tế mà còn là trung tâm truyền bá tôn giáo lớn nhất thời bấy giờ. Lần lượt các tiểu quốc khác ở phía bắc Demak, Terengganu, Kelantan… đã lần lượt thiết lạp quan hệ buôn bán, giao thương và đối ngoại với Melaka và du nhập Hồi giáo. Thời kỳ kỷ nguyên vinh quang Hồi giáo ở Malaya và đồng thời là sự sụp đổ của vương quốc Hindu ở Java là thời kỳ của Sultan Mansor Shah năm 1459 – 1477 [125] Trong suốt hơn một thế kỷ từ năm 1403 cho đến khi bị Bồ Đào Nha xâm lược (1511), Melaka là một nước giàu có, một trung tâm buôn bán quốc tế năng động và là trung tâm Hồi giáo lớn nhất Đông Nam Á và từ đây, Hồi giáo lan sang hầu hết ở miền Tây Malaysia và có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần, xã hội Malaysia.

Giai đoạn 3: Giai đoạn bắt đầu đi vào phát triển ổn định và cho đến nay của Hồi giáo tại Malaysia. Hồi giáo bước chân vào cuộc sống tại Malaysia trong tư tưởng và cả hệ thống vương quyền của Malaysia, vì thế, giống như Indonesia, Hồi giáo dần lớn mạnh và trở thành một phần không thể thiếu của đời sống tại Malaysia. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Sở dĩ Hồi giáo có thể du nhập và có tầm ảnh hưởng quan trọng ở Malaysia do một vài điều kiện thuận lợi có thể kể đến như: Thứ nhất, Hồi giáo đến Malaysia vào lúc đế quốc Ấn Độ giáo Majapahit đang rơi vào khủng hoảng và tan rã. Sự khủng hoảng của hệ tư tưởng Ấn Độ giáo đã tạo sự trống rỗng niềm tin, một lỗ hổng lớn cho Hồi giáo len vào và phát triển [12]. Thứ hai, ở khu vực Đông Nam Á khi đó đang có sự chuyển hướng kinh tế từ nền nông nghiệp sang kinh tế buôn bán. Và rất thuận lợi khi Hồi giáo xâm nhập vào Malaysia qua con đường buôn bán. Hồi giáo trở thành ngọn cờ của các tiểu quốc đấu tranh chống đế chế Majapahit và giành độc lập, tiêu biểu là Melaka. Từ một làng chài nghèo nàn, Melaka đã dần vươn lên thành quốc gia hùng mạnh về quân sự và có tiềm lực kinh tế lớn. Chính sự thành công của Melaka đã cổ vũ các nước thuộc Majapahit cải theo Hồi giáo và tham gia vào thương trường quốc tế. Thứ ba, Hồi giáo ảnh hưởng vào Malaysia cũng có những điều kiện thuận lợi như khi du nhập vào Đông Nam Á nói chung và Indonesia nói riêng: du nhập hòa bình, sử dụng chung tiếng Malay, tư tưởng bình đẳng được đón nhận, nhà vua cải đạo,… Một ví dụ cụ thể ở Melaka, là “nhà vua sau khi cải giáo theo Hồi giáo đã ra lệnh cho các quan chức và thần dân của mình ở Melaka, dù có địa vị cao hay thấp, đều phải trở thành tín đồ Hồi giáo” [56, 27].

Thứ hai, về đặc điểm của Hồi giáo tại Malaysia. Ngoài những đặc điểm chung của Hồi giáo khu vực và Hồi giáo Indonesia, Hồi giáo ở Malaysia chia làm hai (2) phái hệ Islam: Sunni Islam và Islam Hadhari. Sunni Islam là hệ phái chiếm đa số ở Malaysia. Hệ phái này có một đặc điểm rất nổi bật là vẫn còn mang trong nó những yếu tố của Shaman giáo (sùng bái tự nhiên) vẫn còn phổ biến ở các vùng nông thôn ngày nay của Malaysia.

Mặc dù như thế, nhưng hệ phái Sunni Islam vẫn có điểm tương đồng với Islam toàn thế giới, đó là cầu nguyện năm lần trong một ngày. Và các cấp chính quyền của Malaysia có chính sách nghiêm ngặt trong việc duy trì đóng cửa hai giờ mỗi chiều thứ sáu ở các cơ quan chính phủ, các cơ sở giáo dục cũng như các công ty, ngân hàng đều phải đóng cửa trong hai giờ vào mỗi chiều để công nhân có thể tiến hành cầu nguyện. Islam Hadhari là một hệ phái tiến bộ do Thủ tướng Malaysia AbdullahAhmad Badawi khởi xướng nhằm để nhấn mạnh vai trò của niềm tin và trung thực trong công việc khó khăn. Tuy nhiên có những tín đồ Islam ở Malaysia rằng không đồng ý với khái niệm này vì những lời dạy của Hồi giáo đã và đang hoàn tất và vì vậy, họ cảm thấy rằng Hồi giáo không cần có một tên mới và nội dung mới [9].

2.3.3. Lịch sử Hiến pháp Malaysia Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Hiến pháp Malaysia cũng có nhiều điểm tương đồng với Hiến pháp Indonesia khi trải qua nhiều lần sửa đổi với những biến động chính trị không ngừng. Từ bản Hiến pháp liên bang đầu tiên được thông qua ngày 31/8/1957 đến bản Hiến pháp hiện hành có hiệu lực ngày 1/11/2010, Malaysia đã trải qua sáu (6) lần sửa đổi Hiến pháp chính với những khác biệt trong nội dung từng lần để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử thay đổi.

  • Hiến pháp Liên bang Malaysia 1957 (31/8/1957).
  • Hiến pháp Liên bang Malaysia 1957 và hai lần sửa đổi 1960 và 1962.
  • Hiến pháp Liên bang Malaysia trong giai đoạn 1963 – 1964.
  • Hiến pháp Liên bang Malaysia 1957 sửa đổi 1973 – 1985.
  • Hiến pháp Liên bang Malaysia 1957 sửa đổi 2003.
  • Hiến pháp Liên bang Malaysia sửa đổi 2010.

2.3.3.1. Hiến pháp Liên bang Malaysia 1957 (31/8/1957)

Về hoàn cảnh lịch sử:

Hiến pháp Malaysia ( Văn bản Jawi : ڤرلمباڬأن مليسيا), còn được gọi là Hiến pháp Liên bang năm 1948 có 183 trường hợp, là luật tối cao ở Malaysia . Đây là một văn bản pháp luật tài liệu đã được định hình bởi hai văn bản trước đây của Liên đoàn các Hiệp định Malaya năm 1948 và Hiến pháp độc lập trong năm 1957. Hiến pháp này được soạn thảo theo lời khuyên của Ủy ban Reid đã thực hiện một nghiên cứu vào năm 1956. Hiến pháp có hiệu lực ngay sau khi giành độc lập vào ngày 31 tháng 8 năm 1957. Nó bắt đầu từ một hội nghị lập hiến được tổ chức tại London vào ngày 18 tháng 1 đến ngày 6 tháng 2 năm 1956, với sự tham dự của một phái đoàn từ Liên bang Malaya , bao gồm bốn đại diện chính phủ, người đứng đầu Bộ trưởng Liên bang ( Tunku Abdul Rahman ) và ba bộ trưởng khác, cũng như Cao ủy Anh tại Malaya và các cố vấn của ông [53].

Về cơ cấu:

Hiến pháp gồm 15 phần và 13 bảng với những nội dung cơ bản như: chế độ chính trị, tôn giáo, quyền công dân, mối liên hệ giữa liêng bang và tiểu ban, bầu cử, tư pháp,… Ủy ban đã nhận được 131 bản ghi nhớ từ một loạt các tổ chức chính trị và kinh tế xã hội và được tổ chức nhiều hơn 100 phiên điều trần trên khắp Malaya trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 11 năm 1956. Dự thảo hiến pháp đã được xem xét bởi một Ban công tác ở Kuala Lumpur bao gồm Cao ủy Anh, đại diện của đảng Liên minh và chín nhà cầm quyền Malay từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1957. Hiến pháp sửa đổi sau đó tranh luận tại quốc hội Anh và Hội đồng lập pháp liên bang ở Malaya và có hiệu lực vào ngày 31 tháng 8 năm 1957 khi Malaya độc lập [50].

Về thời gian có hiệu lực Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Khác với Hiến pháp Indonesia thời kỳ đầu độc lập được sửa đổi ngay sau đó, Hiến pháp Malaysia có đời sống dài lâu hơn khi không có một điều khoản nào trong Hiến pháp hay một tuyên bố nào của người đứng đầu Nhà nươc về việc sẽ ngay lập tức sửa đổi Hiến pháp khi vừa giành được độc lập.

Về nguyên tắc và những nội dung chính

Trong quá trình Ủy ban thảo luận để thống nhất các nội dung sẽ đưa vào Hiến pháp Malaysia 1957, các bên đã đi đến thống nhất các điều sau:

  • Bảo vệ vị trí và uy tín của Hoàng thân với tư cách là những người cai trị hiến pháp của các quốc gia tương ứng.
  • Một hiến pháp Yang di-Pertuan Besar (Nguyên thủ quốc gia) để Liên bang được lựa chọn trong số các Hoàng thân của họ.
  • Quốc tịch chung cho toàn Liên bang.
  • Bảo vệ vị trí đặc biệt của người Mã Lai và lợi ích hợp pháp của các cộng đồng khác [66] (Lý do, tại thời điểm đó, người Malaysia không muốn chấp nhận sự hiện diện của người Ấn Độ và Trung Quốc ở Malaya như một người thường trú. Họ muốn đảm bảo quyền lợi cho người Malay gốc trước những luồng nhập cư.)

Đây là những điểm được xem là “bất di bất dịch” trong Hiến pháp Malaysia và nó được truyền tải nguyên vẹn trong bản Hiến pháp độc lập của quốc gia này. Đây cũng là những nội dung đáng chú ý nhất của Hiến pháp lịch sử Malaysia. Thậm chí, trong những lần sửa đổi Hiến pháp về sau, những điều này cũng ít khi bị thay đổi. Hiến pháp cũng đã xây dựng một hệ thống để phân phối quyền lực lập pháp và nguồn lực tài chính, phù hợp với điều kiện chính trị và kinh tế [49]. Tất cả hướng đến mục đích xây dựng một chính quyền trung ương mạnh, có quyền lập pháp, xác định chính sách và xử lý thuế. Trong khi đó, các bang được trao quyền ở một số khu vực nhất định. Họ cũng có một biện pháp tự chủ tài chính và được đảm bảo thu nhập ổn định thông qua các khoản viện trợ.

Hiến pháp, cũng công nhận rằng có một tiền lệ hiến pháp cho vị trí đặc biệt của Malay trong Hiệp định Malaya năm 1948 và đồng ý rằng các điều khoản nên tiếp tục trong một thời gian để hỗ trợ người Malay, về mặt xã hội và kinh tế [49]. Các điều khoản ưu đãi đó không phải được duy trì vĩnh viễn mà sẽ được xem xét 15 năm sau khi độc lập.

Mặc dù Hội nghị đã đề nghị Hồi giáo trở thành tôn giáo chính thức, nhưng ủy ban đã từ chối. Ủy ban lo sợ về sự mâu thuẫn tôn giáo nảy sinh, nên đã nhất trí Malaya sẽ là một quốc gia thế tục. Tuy nhiên, những điều này đã thay đổi sau các cuộc biểu tình từ một số người Malaysia. Khi Ban công tác xem xét bản dự thảo hiến pháp, quyết định cuối cùng là Hồi giáo trở thành tôn giáo liên bang [49].

Ngoài ra, quyền công dân được trao cho những người sinh ra trong liên đoàn từ ngày Merdeka. Những người được sinh ra trước đó và có quốc tịch nước ngoài có thể có được quyền công dân thông qua đăng ký hoặc nhập tịch bằng cách tuyên thệ. Những người có quốc tịch kép sẽ phải chọn quốc gia nào họ muốn cam kết trung thành [49]. Việc chèn một phần về các quyền tự do cơ bản trong dự thảo hiến pháp Malaysia của Ủy ban Reid đã gây tranh cãi. Ban đầu, các thành viên hàng đầu của đảng Liên minh cầm quyền, Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Tổ chức Quốc gia Mã Lai (UMNO) và Hiệp hội người Trung Quốc tại Malaysia (MCA), không nghĩ rằng cần có một phần độc quyền trong hiến pháp để bảo đảm các quyền tự do cơ bản. Họ cảm thấy rằng luật pháp thông thường hiện hành đã cung cấp các biện pháp bảo vệ đầy đủ để bảo vệ các quyền tự do dân sự và chính trị của cá nhân. Tuy nhiên, đối tác cơ sở trong Liên minh, Đại hội người Ấn Độ – Malaysia (MIC) cho rằng một phần đặc biệt đảm bảo các quyền cơ bản của các cá nhân nên được đưa vào hiến pháp. Các đại diện của MIC liên quan đến các cuộc đàm phán trong nội bộ Liên minh và trong phiên điều trần với Ủy ban Reid là các luật sư rõ ràng quen thuộc với các điều khoản phức tạp trong hiến pháp Ấn Độ về các quyền cơ bản. MIC đã thuyết phục các đối tác của mình, UMNO và MCA, rằng một phần về tự do cơ bản là rất cần thiết. Do đó, bản ghi nhớ của đảng Liên minh với Ủy ban Reid đã liệt kê một danh sách dài các quyền cơ bản mà họ cảm thấy có thể được đưa vào hiến pháp để bảo vệ các quyền cơ bản của công dân [50].

2.3.3.2. Hiến pháp Malaysia 1957 sửa đổi lần 1 vào 1960 và lần 2 vào 1962

Về bối cảnh lịch sử: 

Lần sửa đổi Hiến pháp lớn đầu tiên là 3 năm sau khi Hiến pháp đầu tiên ra đời. Đó cũng  là điều tất yếu với một quốc gia non trẻ và đang trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Bối cảnh lịch sử lần sửa đổi đầu tiên trong không khí đấu tranh ngột ngạt của các lực lượng chính trị khi. Đến năm 1960, chiến tranh đã nổ ra giữa các thế lực khác nhau [81]. Trong bối cảnh đó, Hiến pháp Malaysia cần sửa đổi để lập lại trật tự quốc gia. Đến 1962, khi đã bình ổn được cuộc hỗn chiến giữa các bên, Hiến pháp được sửa đổi lần nữa nhằm hợp nhất quyền lực.

Về cơ cấu: 

Cơ cấu của Hiến pháp Malaysia 1957 về cơ bản vẫn được giữ lại trong lần sửa đổi 1960. Lần sửa đổi đầu tiên, Hiến pháp đã sửa 33 điều và bổ sung thêm 2 điều mới nhằm chấm dứt vấn đề xung đột trong nội tại đất nước [81]. Lần sửa đổi lớn thứ hai của Hiến pháp diễn ra chỉ hai năm sau lần đầu tiên. Hiến pháp đã được sửa đổi 29 điều, thêm ba điều nữa trong khi bãi bỏ ba điều khác, và thay đổi quy tắc bầu cử trong lần sửa thứ hai.

Về nội dung:

Thay vì tận dụng kết thúc chiến tranh để mở ra kỷ nguyên hòa bình và tự do mới, Chính phủ Malaysia muốn chấm dứt chiến tranh mà không mất đi quyền lực vì tình huống khẩn cấp nên đã đi đến sửa đổi Hiến pháp lần thứ nhất. Điều này có thể thấy rõ từ các sửa đổi được thực hiện cho Phần XI của Hiến pháp, bao gồm các Điều từ 149 đến 151, liên quan đến pháp luật chống lật đổ và hành động gây phương hại đến trật tự công cộng. Điều 149 quy định về việc tạo ra đạo luật của Nghị viện, trước các mối đe dọa lật đổ Liên bang, điều này đã gây trở ngại cho việc thực hiện quyền con người được liệt kê trong Điều 5, 9, 10 và 13 liên quan đến quyền tự do ngôn luận, lập hội, biểu tình, tài sản, và được tự do khỏi sự giam giữ bất hợp pháp. Những quyền con người quan trọng này bị hạn chế và tước bỏ, điều đó mở đường cho việc tạo ra Đạo luật An ninh Nội bộ khét tiếng năm 1960, vẫn còn hiệu lực cho đến 52 năm sau đó, khi nó được thay thế bởi luật Vi phạm An ninh (Các biện pháp đặc biệt), Đạo luật 2012 và Đạo luật chống khủng bố năm 2015. Trước đây trong quy định Điều 150, để tuyên bố khẩn cấp, cần đưa ra hai viện Quốc hội để quyết định nhằm đảm bảo tính nhanh chóng và thuận tiện. Sau khi được triệu tập, Nghị viện phải phê chuẩn nghị quyết cho trường hợp khẩn cấp, nghị quyết sẽ không thể tự động hết hiệu lực sau hai tháng kể từ ngày ban hành. Trong trường hợp Quốc hội không họp bàn thời điểm đó, thì Yang di-Pertuan Agong có thể ban hành các sắc lệnh khẩn cấp sẽ hết hiệu lực sau 15 ngày. Tuy nhiên, các điều khoản đã được sửa đổi để loại bỏ sự cần thiết phải có sự chấp thuận của quốc hội. Thay vào đó, bất kỳ tuyên bố hoặc sắc lệnh khẩn cấp nào bây giờ sẽ có hiệu lực cho đến khi Quốc hội bãi bỏ nó. Từ chỗ cần phải có sự chấp thuận của Quốc hội để duy trì tình trạng khẩn cấp, giờ Quốc hội chỉ còn quyền kết thúc lệnh khẩn cấp. Chính sự thay đổi này đã dẫn đến hệ quả về sau là đình chỉ hoạt động Nghị viện năm 1969. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Trong khi hầu hết các sửa đổi hiến pháp khác được thực hiện vào năm 1960 chủ yếu mang tính chất hành chính. Ví dụ, sửa đổi các Điều 122, 125 và 138, dẫn đến việc bãi bỏ Ủy ban Dịch vụ Pháp lý và Tư pháp (JLSC), cho đến nay, chịu trách nhiệm về việc đưa ra tất cả các khuyến nghị liên quan đến các vấn đề tư pháp.

Ngoài ra, quyền khởi xướng các thủ tục tố tụng đối với các thẩm phán đã được chuyển từ JLSC sang Agong theo lời khuyên của thủ tướng, điều đó làm suy giảm nghiêm trọng sự độc lập của tư pháp. Những hậu quả từ động thái này tạo điều kiện cho việc sa thải Chủ tịch Tòa án liên bang Salleh Abbas và hai thẩm phán khác của Tòa án Tối cao, gây ra một cuộc khủng hoảng tư pháp quốc gia chưa từng có.

Ngoài tư pháp, việc sửa đổi Điều 145 cũng có tác dụng thay đổi vị trí của luật sư từ một người làm việc độc lập trở thành thành viên của chính phủ và họ phải trả lời trực tiếp trước Nghị viện. Các luật sư có thể dễ dàng bị sa thải bất cứ lúc nào và gặp nhiều áp lực khi thực hiện công việc của mình [81].

Quyền con người trong thời điểm này tại Malaysia trở nên rất khó khăn và hạn chế, đặc biệt là bầu cử. Dân chúng suy giảm niềm tin, và để làm dịu đi tình hình cử tri, Chính phủ đã đầu tư vào một chương trình phát triển nông thôn quy mô lớn. Mặt khác, họ tìm cách kiềm chế việc thực hiện quyền con người của những ai không phải là người Malay bằng hai cách: thứ nhất, quyền con người bị hạn chế ở mức tối thiểu với những ai không phải người Malay; thứ hai, thay đổi hệ thống bầu cử nhằm hạn chế những ai không phải người Malay đi bầu cử bằng mọi cách.

2.3.3.3. Hiến pháp sửa đổi giai đoạn 1963 – 1969

Về bối cảnh lịch sử:

Hiến pháp đã trải qua một cuộc đại tu lớn khác. Đạo luật Malaysia 1963 được đưa ra để phù hợp với những thay đổi về cấu trúc của đất nước với việc bổ sung Sabah, Sarawak và Singapore. Liên bang Malaysia được mở rộng và đổi tên. Nhưng việc sát nhập chưa được bao lâu, vào ngày 9/8/1965, Singapore đã tách khỏi Liên bang. Trong giai đoạn đó, giữa Malaysia và Indonesia cũng có những mâu thuẫn nhất định do ảnh hưởng của hai cực “chiến tranh lạnh”. Bên cạnh áp lực mâu thuẫn chủng tộc đến từ những người Malaysia theo chủ nghĩa dân tộc cũng như các phần tử cánh tả thân cộng sản. Những bối cảnh ngặt nghèo đó đã thúc ép Malaysia cần thay đổi Hiến pháp cho phù hợp với tình hình.

Về cơ cấu và nội dung:

Điều chỉnh 45 điều và 4 mục nhỏ. Nội dung chủ yếu là các vấn đề liên quan đến chính quyền địa phương, bộ máy tổ chức khi Singapore ra khỏi liên bang [81] Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

2.3.3.4. Hiến pháp sửa đổi giai đoạn 1969 – 1973

Về bối cảnh lịch sử:

Mở đầu cho bối cảnh lịch sử đầy bão táp là cuộc bạo loạn chủng tộc ngày 13/5/1969. Căng thẳng đã gia tăng trong những năm 1969 trước cuộc tổng tuyển cử, dẫn đến bùng phát bạo lực giáo phái. Những gì diễn ra vào ngày 13/5 sẽ mãi mãi được khắc ghi trong lịch sử là ngày “ô nhục” của Malaysia, được Tunku mô tả là một vụ phun trào chính trị và xã hội của độ lớn đầu tiên, một khoảnh khắc đen tối khi máu chảy trên đường phố, hàng trăm người thiệt mạng trong cuộc bạo loạn giáo phái. Hiến pháp Malaysia được sửa đổi ngay lập tức nhằm cải thiện tình hình.

Về cơ cấu và nội dung:

 Hiến pháp tập trung sửa đổi các vấn đề nhạy cảm của phe Hồi giáo, 7 điều đã được thay đổi bao gồm tự do ngôn luận, hội họp và hiệp hội, đặc quyền của Quốc hội, ngôn ngữ quốc gia, và việc mở rộng phạm vi của Điều 153 liên quan đến việc bảo vệ vị trí đặc biệt của người Hồi giáo là người Mã Lai. Những sửa đổi này đã được tăng cường hơn nữa bởi các đạo luật khác, chẳng hạn như Đạo luật Đại học 1971, cấm sinh viên đại học tham gia các hoạt động chính trị, và Đạo luật Bí mật 1972, đưa ra một hệ thống các vấn đề bị coi là bí mật và không được phép phổ biến công khai.

Năm 1973, một dự luật sửa đổi Hiến pháp lớn khác đã được thực hiện chủ yếu ở lĩnh vực bầu cử. Giới hạn Hiến pháp đối với ty lệ người từ nông thôn đã được nới lỏng từ 15% lên 33%, sau đó, quy định đã bị bãi bỏ hoàn toàn.

2.3.3.5. Hiến pháp giai đoạn 1973 – 1994

Về bối cảnh lịch sử:

Những sửa đổi được thực hiện vào năm 1983 và 1984 liên quan đến vai trò lập pháp của những người cai trị. Năm 1981, Mahathir Mohamad nhậm chức Thủ tướng, ông bắt đầu cuộc đối đầu đầu tiên với hoàng gia Malay năm 1983 về các cuộc bạo loạn trước đây. Cuộc đối thoại đã đưa ra nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ trong Hiến pháp cần được sửa đổi.

Về cơ cấu:

Từ năm 1973 đến 1985, Hiến pháp đã được sửa đổi thêm 11 lần, bao gồm nhiều sửa đổi đối với các khoản trợ cấp cho các tiểu bang, thắt chặt hơn nữa luật bầu cử, cho phép chính phủ có thêm quyền lực và giới thiệu đồng ringgit là tiền tệ quốc gia.

Về nội dung: Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Trước đó, những người cai trị được hưởng quyền miễn trừ pháp lý, một điều khoản đã bị lạm dụng để trốn tránh trách nhiệm hiệu quả. Đến đầu những năm 1980, hành vi của những người cầm quyền ngày càng bị nghi ngờ trong các diễn ngôn công khai, đặc biệt là liên quan đến sai lầm tài chính, lãng phí quỹ công, tham gia vào kinh doanh bất hợp pháp. Trước bối cảnh đó, Mahathir quyết định làm sáng tỏ tình hình bằng cách đưa ra Dự luật Hiến pháp (Sửa đổi) năm 1983.

Trong số 43 điều được sửa đổi, quyền lực của những người đứng đầu đã bị giới hạn lại. Ngoài ra, Mahathir cũng đề xuất chuyển quyền lực để tuyên bố tình trạng khẩn cấp từ Agong sang tay Thủ tướng. Điều 121 cũng là một trong điểm sửa đổi đáng chú ý trong Hiến pháp 1988. Những sửa đổi bao gồm loại bỏ quyền lực chung của Tòa án tối cao để tiến hành đánh giá tư pháp, trao quyền cho Tổng chưởng lý để xác định tòa án cho các vụ án được xét xử, và tạo ra một ranh giới giữa tòa án dân sự và tòa án Shari’ah, đồng thời nâng vị trí của tòa Shari’ah ngang bằng với tòa dân sự thường, dẫn đến hai hệ thống tòa án song song, điều đặc biệt khó khăn khi xét xử các vụ án vừa có yếu tố Hồi giáo, vừa có yếu tố hình sự và những người không liên quan đến Hồi giáo. Đặc biệt Điều 121 (1A) với điều kiện Tòa án tối cao “sẽ không có thẩm quyền đối với bất kỳ vấn đề nào thuộc thẩm quyền của tòa án Shari’ah” [32, 356] đã gây ra một cuộc tranh cãi lớn về thẩm quyền hai tòa.

Năm 1994, Hiến pháp đã được sửa đổi lần nữa để bãi bỏ quyền lực của Agong trì hoãn một dự luật bằng cách trả lại cho Quốc hội. Các điều khoản tương tự cũng được mở rộng cho các cơ quan lập pháp tiểu bang, khiến vai trò của hoàng gia Malay như một cơ chế kiểm tra và cân bằng bị loại bỏ. Đồng thời, thay đổi những yếu tố mang tính biểu tượng trong tư pháp như đổi gọi chính thức thành Chánh án và Tòa án tối cao là Tòa án Liên bang, cũng như đưa ra bộ quy tắc đạo đức chuẩn cho các Thẩm phán.

Hiến pháp được sửa đổi thêm 16 lần nữa, lần cuối cùng là vào năm 2009. Hầu hết các thay đổi trong giai đoạn này là vấn đề hành chính.

2.3.3.6. Hiến pháp năm 2003 và Hiến pháp 2010

Về bối cảnh lịch sử:

Với những thay đổi không ngừng của thế giới: quyền con người, chủ nghĩa hiến pháp,… cùng những thay đổi trong nội bộ quốc gia, Hiến pháp Malaysia đã được thay đổi để bắt kịp với xu thế chung của thời đại và những biến trong trong đời sống tình hình chính trị trong nước.

Về cơ cấu:

Hiến pháp vẫn giữ nguyên 183 điều và 15 chương với nội dung bao quát các lĩnh vực: thể chế nhà nước, quyền con người, tài chính, liên bang và tiểu bang,… Về nội dung:

Hiến pháp đã tăng cường quyền con người và quy định rõ hơn các chức năng, quyền hạn của bộ máy nhà nước. Điều này sẽ được phân tích kỹ dưới đây.

2.3.4. Nội dung Hiến pháp hiện hành Malaysia Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

2.3.4.1. Khái quát chung

Hiến pháp hiện hành của Malaysia là Hiến pháp sửa đổi năm 2010 với các điểm đáng chú ý. Hiến pháp Liên bang có 183 Điều cùng với 13 phụ lục. Mỗi phụ lục là sự cụ thể hóa các điều khoản nhằm hướng dẫn và hỗ trợ các cơ quan thi hành cũng như người dân về các vấn đề được nêu trong Hiến pháp.

Cơ cấu gồm Lời nói đầu và các chương: Chương 1 – Các tiểu bang, tôn giáo và luật liên bang, Chương 2 – Tự do cơ bản, Chương 3 – Quyền công dân, Chương 4 – Liên bang, Chương 5 – Liên bang, Chương 6 – Mối quan hệ giữa liên bang và tiểu bang, Chương 7 – Điều khoản tài chính, Chương 8 – Bầu cử, Chương 9 – Tư pháp, Chương 10 – Dịch vụ công cộng, Chương 11 – Quyền hạn đặc biệt chống lại sức mạnh lật đổ và khẩn cấp, Chương 12 – Các quy định riêng biệt, Chương 13 – Các trường hợp tạm thời, Chương 14 – Ngoại lệ đối với quyền của các vị vua và Chương 15 – Thủ tục tố tụng của Yang diPertuan Agong và những người cai trị.

Về dung lượng và mức độ chi tiết: Hiến pháp Malaysia được đánh giá là bản Hiến pháp có độ dài đáng kể, các điều khoản quy định khá chi tiết và có bảng phụ lục chi tiết để tham khảo. Khi thay đổi hay bổ sung thêm điều khoản, Hiến pháp Malaysia vẫn giữ nguyên số thứ tự của điều khoản trước đó, cho dù nó đã bị bãi bỏ. Điều đó khiến Hiến pháp trở nên dễ cập nhật, tra cứu hơn.

2.3.4.2. Lời nói đầu

Hiến pháp Malaysia không có lời mở đầu giống như Hiến pháp Indonesia. Ngay từ những trang đầu tiên Hiến pháp Malaysia đã đi vào Chương 1 và những điều khoản đầu tiên. Điều này có thể lý giải được bởi lẽ Malaysia từng chịu ảnh hưởng của pháp luật Anh, có thể việc không có Lời mở đầu của Hiến pháp là do ảnh hưởng của phong cách Hiến pháp bất thành văn của Anh. Ngoài ra, các quy định của Hiến pháp Malaysia về sau rất chi tiết và cụ thể, các vấn đề như tôn giáo hay mục tiêu Nhà nước, được đề cập ngay trong lời nói đầu trong Hiến pháp Indonesia đều được các điều khoản sau đó trong các chương của Hiến pháp Malaysia. Do đó, việc Hiến pháp Malaysia không có Lời nói đầu không phải là vấn đề gì quá nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến ý nghĩa và giá trị của Hiến pháp Malaysia hiện hành.

2.3.4.3. Chế độ nhà nước

Giống như đã phân tích ở trên, có thể do ảnh hưởng của Hiến pháp bất thành văn và phong cách Hiến pháp các quốc gia tư sản, Hiến pháp hiện hành Malaysia tập trung làm rõ hai mảng: tổ chức quyền lực Nhà nước và quyền cơ bản của công dân. Hiến pháp Malaysia có quy định chung về vấn đề tôn giáo. Theo đó, Hiến pháp ghi nhận “Hồi giáo là tôn giáo liên bang”, và các tôn giáo khác vẫn được tự do thực hành cũng như phát triển. (Khoản 3, Điều 1). Tuy vậy, cách giải thích và nhìn nhận vấn đề “tôn giáo liên bang” này có nhiều mâu thuẫn và đánh giá khác nhau về vị trí, vai trò của Hồi giáo trong Hiến pháp. Chủ yếu là hai luồng ý kiến trái ngược nhau: (1) Hồi giáo mang tính chất nghi lễ, hình thức; và (2) Hồi giáo là cả lối sống, cách thực hiện, triển khai trên thực tế. Cụ thể hai luồng ý kiến này sẽ được phân tích kỹ trong mục thực tiễn thi hành Hiến pháp Malaysia dưới đây.

Nhân quyền Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Nhìn lại hầu hết các bản Hiến pháp đã qua trong lịch sử Malaysia, có thể thấy, gần như quyền con người trong bất kỳ bản Hiến pháp nào cũng đều bị hạn chế ở một mức độ nào đó. Do nhiều lý do, chủ yếu là do những biến động chính trị, sự bạo loạn và những cuộc chiến đẫm máu. Nguyên nhân chính là bởi xung đột sắc tộc và đối nghịch tư tưởng của những nhóm người khác nhau, điều dễ xảy ra ở các quốc gia đã sắc tộc và tôn giáo như Malaysia. Quyền tự do ngôn luận, tự do biểu tình,… được xem là những quyền dễ bị can thiệp bởi nhà nước Malaysia nhất trong số các quyền cơ bản của con người. Nhưng cùng với thời gian, sự đi lên và trỗi dậy mạnh mẽ của vấn đề nhân quyền trên thế gới, Hiến pháp Malaysia đã có xu hướng tôn trọng và đề cao quyền con người hơn. Cụ thể có thể thấy qua một số biểu hiện:

  • Ngay ở khoản 1, Điều 8, Hiến pháp Malaysia quy định: “Mọi người đều bỉnh đẳng trước pháp luật, và được pháp luật bảo vệ như nhau.” Việc công nhân sự bình đẳng và không phân biệt đối xử với bất kỳ ai trước pháp luật trong Hiến pháp là điều quan trọng và là cơ sở để công dân được bảo vệ và tôn trọng quyền của mình một cách đúng nghĩa.
  • Không chỉ vậy, số lượng quyền con người có xu hướng tăng trong từng lần thay đổi Hiến pháp và được quy định riêng trong một chương (Chương 2), được đẩy lên vị trí những chương đầu tiên trong Hiến pháp cho thấy sự quan tâm và nhìn nhận của cơ quan lập pháp và Nhà nước đối với một trong những giá trị nhân bản của nhân loại.
  • Như đã đề cập trước đó, Hiến pháp liên bang quy định rất rõ quy trình sửa đổi các quy định trong Hiến pháp. Và việc sửa đổi các vấn đề liên quan đến quyền con người được xếp vào các vấn đề đặc biệt, cần có sự tham khảo và điều trần ngặt nghèo, nghiêm khắc hơn. Cụ thể là ngoài tỷ lệ 2/3 nghị sĩ đồng ý trong phiên điều trần thứ 2 và thứ 3, thì việc điều chỉnh quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp còn phải được sự đồng ý của Hội đồng tiểu vương hoặc hai bang quan trọng nhất của Malaysia là Tiểu vương bang Sabah và Sarawak [110].

Chính thể và bộ máy nhà nước

Về chính thể, Hiến pháp quy định chính thể của nhà nước Malaysia là quân chủ liên bang. Điều này được thể hiện thông qua sự hiện diện của Quốc vương Malaysia và sự thừa nhận Hồi giáo là tôn giáo liên bang của Malaysia.

Tuy nhiên, không giống như các quốc gia theo hình thức chính thể quân chủ trong khu vực (Brunei, Campuchia, Thái Lan), bên cạnh Quốc vương Malaysia còn có thiết chế đặc biệt mang tên “Majlis Raja – Raja” (tạm dịch là Hội đồng tiểu vương). Hội đồng tiểu vương bao gồm những người đứng đầu về tôn giáo và tiếp quản chức vụ theo việc kế truyền. Đồng thời, khi so sánh Quốc vương của Malaysia và Quốc vương của Brunei, có thể thấy Quốc vương Malaysia thẩm quyền bị hạn chế hơn Brunei. Việc chọn lựa Quốc vương dựa trên sự nhất trí của Hội đồng tiểu vương. Về mặt thế quyền, Quốc vương Malaysia là nguyên thủ tối cao có Phó Quốc Vương giúp việc và hỗ trợ.

Quyền hành pháp theo Hiến pháp là được “trao cho Quốc vương” nhưng trên thực tế thì nằm trong tay của Chính phủ. Bất cứ quyết định nào của Quốc vương đều phải dựa trên sự tư ván và đồng ý của Chính phủ.

Quyền lập pháp được trao cho Nghị viện. Hạ nghị viện có nhiệm kỳ 5 năm và Thượng viện có nhiệm kỳ 3 năm. Quốc Vương đứng đầu trên danh nghĩa Nghị viện, còn thẩm quyền thực sự thuộc về hai viện.

Quyền tư pháp của Nhà nước quân chủ Malaysia được trao cho hệ thống tòa án. Tòa cấp cao nhất là Tòa án liên bang có thẩm quyền xem xét các vấn đè liên quan đến các bang, các quyết định trong vụ án của tòa cấp dưới, tính hợp hiến của các dự luật do Nghị viện trình lên,…Như vậy, khác với Indonesia, Malaysia không có Tòa Hiến pháp riêng, nhưng bù lại Tòa án tối cao liên bang có quyền xem xét tính hợp hiến. Ngoài ra, ở Malaysia còn tồn tại Tòa Shari’ah chuyên xét xử các vấn đề liên quan đến đạo Hồi. Và tòa án thường không được nhúng tay vào (kể cả Tòa tối cao liên bang).

Về vấn đề tam quyền phân lập, trong Hiến pháp Malaysia, không nhắc đến cụ thể vấn đề “tam quyền phân lập”, nhưng thông qua việc nhìn nhận tổ chức bộ máy nhà nước có thể thấy, việc phân chia quyền lực quyền lực của ba nhánh lập pháp – hành pháp – tư pháp khá rõ ràng và cụ thể. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Sửa đổi Hiến pháp, bảo hiến và các thiết chế hiến định độc lập

Về sửa đổi Hiến pháp:

Trong Hiến pháp hiện hành của Malaysia, không có điều khoản nào quy định những nội dung “bất di bất dịch” không được thay đổi hay hạn chế thay đổi như Hiến pháp của Indonesia. Đồng thời, Hiến pháp cũng không chỉ rõ, những đối tượng nào được quyền sáng kiến sửa đổi. Như vậy, có thể hiểu bất cứ nghị sĩ hay nhóm nghị sĩ nào đều có thể đề xuất sáng kiến sửa đổi Hiến pháp và có thể đề xuất ở bất kỳ Nội dung nào. Thủ tục và quy trình của việc sửa đổi sẽ qua ba (3) lần điều trần và được quyết định bởi cả hai (2) viện. Tỷ lệ để được thông qua tại phiên thứ hai và phiên thứ ba là 2/3 số thành viên trong Nghị viện. Hiến pháp cũng quy định chặt chẽ hơn với các điều khoản liên quan đến việc sửa đổi địa vị Quốc vương, Hội đồng tiểu vương, các vấn đề liên quan đến vùng Sabah và Sarawak,…

Về các thiết chế hiến định độc lập:

Ủy ban bầu cử quốc gia. Ủy ban công vụ, Ủy ban nhân quyền là những thiết chế hiến định độc lập được thành lập để thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ. Đáng chú ý nhất là Ủy ban nhân quyền mới được thành lập để tăng cường đảm bảo vấn đề quyền con người theo quy định của Hiến pháp.

2.3.4.7. Chính quyền địa phương

Trong Hiến pháp của Malaysia hiện hành không có quy định cụ thể về cấu trúc các cấp chính quyền địa phương cho các cấp ở các bang mà các vấn đề liên quan đến quyền lập pháp của các cấp chính quyền của Liên bang và cấp bang trong phụ lục 9 trong Hiến pháp. Thông qua đây có thể thấy căn cứ phân định phạm vi thẩm quyền hành pháp của chính quyền cấp bang và các việc chính quyền cấp bang không có quyền thực hiện.

2.3.4.8. Hiệu lực

Khác với Hiến pháp Indonesia, Hiến pháp Malaysia quy định rất rõ ràng về hiệu lực của Hiến pháp: “Hiến pháp này là hiến pháp chính của Liên bang và bất kỳ luật nào được thông qua sau ngày Merdeka không phù hợp với Hiến pháp này đều vô hiệu cho đến khi không thống nhất.” (Khoản 1 – Điều 4). Nếu như Hiến pháp Indonesia chỉ nói chung chung “tuân theo Hiến pháp” mà không xác định rõ ràng vị trí tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp lý quốc gia thì Hiến pháp Malaysia lại tỏ ra trân trọng và tôn vinh Hiến pháp đúng vị trí của nó. Qua khoản 1, điều 4, có thể thấy, Hiến pháp Malaysia được khẳng định là đạo luật cao nhất, buộc các cơ quan, người dân phải tuân theo. Đồng thời cũng chỉ rõ mọi luật hay đạo luật được ban hành có nội dung trái với Hiến pháp đều bị hủy bỏ. Nội dung cũng như vị trí về quy định có hiệu lực của Hiến pháp được đặt ngay đầu vừa nhấn mạnh tầm quan trọng của Hiến pháp, vừa cho thấy điểm đáng lưu ý và cần thiết của nó trong sự vận động và phát triển của quốc gia.

2.3.5. Thực tiễn thi hành Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

2.3.5.1. Quyền con người

Sự nâng cao của quyền con người không chỉ thể hiện trong các điều khoản của Hiến pháp mà còn thể hiện ở các quyết định của tòa án bảo vệ quyền con người.

Hiến pháp đã ghi nhận một số điều khoản quan trọng về quyền con người, cụ thể:

  • Tự do của bản thân: Điều về tự do của bản thân đã được quy định tại Khoản 1, Điều 5 của Hiến pháp Liên bang quy định rằng không ai có thể lấy mạng sống của mình và bị tước quyền tự do ngoại trừ theo luật. Một người bị bắt phải được thông báo ngay khi biết lý do bị bắt và anh ta được phép tự bào chữa bởi một luật sư do chính anh ta chọn. Ngoài ra, một người bị bắt và được thả nếu không bị đưa ra xét xử sau 24 giờ.
  • Bình đẳng trong pháp luật: Hiến pháp Liên bang Malaysia quy định rằng mọi người đều có quyền được bảo vệ như nhau. Khoản 2 quy định rằng một công dân không thể được phân biệt chỉ vì tôn giáo, chủng tộc, tổ tiên hoặc nơi sinh. Tuy nhiên, các trường hợp ngoại lệ được quy định tại Điều 153 cung cấp các dịch vụ đặc biệt cho người Malaysia và các “bumiputeras” khác ở Sabah và Sarawak trong các lĩnh vực khác nhau như giữ chức vụ dịch vụ công cộng, cấp học bổng và cấp giấy phép.
  • Tự do ngôn luận, hội họp và lập hội: Điều 10 của Hiến pháp Liên bang Malaysia quy định quyền tự do của mọi công dân được nói, tập hợp và thành lập các hiệp hội. Tuy nhiên, quốc hội có thể áp đặt một số biện pháp trừng phạt nhất định nếu họ gây ảnh hưởng đối với an ninh, trật tự công cộng hoặc đạo đức.

Trong thực tế, Tòa án từng có phán quyết để bảo vệ quyền tự do ngôn luận, tự do thể hiện quan điểm, tư tưởng của công dân. Bộ trưởng Bộ Nội vụ, sử dụng quyền hạn của mình theo Đạo luật Xuất bản và In ấn 1984, đã cấm xuất bản một số sách báo. Các nhà xuất bản của NXB Herald sau đó đã nộp đơn kiện lên Tòa án, và vào tháng 12/2009, Tòa án Tối cao đã đưa ra một bản án mạnh mẽ giáng xuống lệnh cấm của Bộ trưởng với lý do vi phạm quyền thực hành tôn giáo trong hòa bình và hòa hợp theo Điều 3 (1) và quyền tự do ngôn luận.

Không chỉ có vậy, chính kỳ bầu cử 2018 mới làm nổi bật hẳn tinh thần tự do bầu cử và làm chủ đất nước của người dân Malaysia. Chiến thắng của Liên minh PH với 47% số phiếu phổ thông đã cho thấy rằng, sức mạnh của người dân có thể đẩy lùi cả một liên minh BN hùng mạnh, vốn đã quá nổi tiếng với những chiêu trò gian lận bầu cử và thao túng truyền thông. Với tinh thần tích cực tham chính của cả người dân lẫn các tổ chức xã hội dân sự như vậy, chắc chắn nền dân chủ Malaysia sẽ còn tiến xa hơn nữa [28].

Một minh chứng nữa cho việc đảm bảo quyền con người là quy định và sửa đổi Hiến pháp nhằm đảm bảo cho quyền con người kể cả với những người bị xét xử trong Tòa án Shari’ah với những tội liên quan đến Hồi giáo. Với sửa đổi này, một người phạm tội có thể bị xét xử tại Tòa án Syariah sẽ có các quyền tương tự được cấp cho anh ta trong trường hợp anh ta bị xét xử tại Tòa án của Thẩm phán. Hiệu quả là nếu anh ta bị giam giữ vì mục đích này, anh ta sẽ được đưa ra trước một thẩm phán Tòa án Syariah trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm bị bắt mà không có sự chậm trễ vô lý [126].

Không chỉ vậy, sự ra đời của Ủy ban Nhân quyền Malaysia (SUHAKAM) được thành lập bởi Nghị viện theo Đạo luật Ủy ban Nhân quyền Malaysia năm 1999, Đạo luật 597 nhằm thực hiện tốt và hiệu quả hơn quyền con người tại Malaysia đã được tiến hành một cách nhanh chóng. Với những mục đích và mục tiêu: Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

  • Để nâng cao nhận thức và cung cấp giáo dục nhân quyền.
  • Tư vấn và hỗ trợ Chính phủ xây dựng các hướng dẫn và thủ tục lập pháp và hành chính và đề xuất các biện pháp được thực hiện.
  • Đề xuất với Chính phủ về việc ký kết hoặc tham gia các điều ước và công cụ quốc tế khác trong lĩnh vực nhân quyền.
  • Để điều tra các khiếu nại liên quan đến vi phạm nhân quyền.

Ủy ban Nhân quyền được hy vọng sẽ là chỗ dựa vững chắc đảm bảo về nhân quyền tại Malaysia.

2.3.5.2. Hoạt động của Tòa án và cơ chế bảo hiến

Bên cạnh việc nâng cao quyền con người, trên thực tiễn cũng cần nhìn nhận những phán quyết của Tòa án về các vấn đề liên quan đến quyền con người, về các đạo luật vi hiến để xem xét khả năng thực thi trên thực tế của Hiến pháp.

Từng có một thời gian Malaysia hạn chế quyền của những người theo tôn giáo cải đạo với lý do an ninh quốc gia và tránh xung đột tôn giáo sắc tộc. Nhưng đã có một vụ án nổi tiếng làm thay đổi điều đó. Trong vụ Bộ trưởng Bộ Nội với Jamaluddin bin Othman, Tòa án tối cao đã bãi bỏ lệnh giam giữ phòng ngừa được ban hành theo Đạo luật An ninh Nội bộ năm 1960 chống lại một người Malay chuyển đổi sang Cơ đốc giáo, người đã chuyển đổi một số người Hồi giáo sang Kitô giáo, theo một quyết định tiên tiến, rằng ngay cả an ninh quốc gia cũng không thể thắng thế đối với tự do tôn giáo [32, 356] và nhằm đảm bảo quyền thực hiện tự do tín ngưỡng không bị ngăn cản bởi những lý do phi lý của người dân.

Các phán quyết trước đó về quyền con người kể trên của Tòa án cũng được xem là minh chứng rõ ràng trong nỗ lực thực hiện của Nhà nước trong việc đảm bảo quyền con người trên thực tiễn của Malaysia.

2.3.5.3. Ảnh hưởng của Hồi giáo

Việc quy định về vị trí của Hồi giáo trong Hiến pháp cho đến nay vẫn là một cuộc tranh cãi giữa các luồng ý kiến. Việc ghi nhận “Hồi giáo là tôn giáo liên bang, nhưng các tôn giáo khác vẫn được tự do phát triển trong hòa bình” tạo ra hai luồng quan điểm khác nhau về vị trí của đạo Hồi trong Hiến pháp. Có hai ý kiến khác nhau về vị trí của đạo Hồi trong Hiến pháp Liên bang. L.A Sheridan và H.E Groves đưa ra quan điểm của họ rằng quy định về Hồi giáo nhằm mục đích cho thấy Malaysia có những đặc điểm và đặc điểm Hồi giáo cũng như các nghi lễ chính thức quốc gia (Sheridan L.A và Groves H.E). Đọc kinh tại các nghi lễ chính thức như Yang di-Pertuan Agong và Ngày quốc khánh là một trong những ví dụ về mục đích của điều khoản về đạo Hồi. Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng với quy định tôn giáo “liên bang” và quy định Yang di-Pertuan Agong được trao quyền lực là người đứng đầu tôn giáo Hồi giáo đối với các quốc gia đã cho thấy vị trí của Hồi giáo nổi bật của Hiến pháp so với các tôn giáo khác. Trong cuộc tranh luận đầy căng thẳng đó, vai trò của Tòa án thu hút được chú ý với việc giải thích vị trí của Hồi giáo trong Hiến pháp. Trong vụ Che Omar v. Public Prosecutor, Tòa khi đó tuyên bố rằng địa vị của Hồi giáo trong Điều 3 chỉ giới hạn vào những “hoạt động liên quan đến nghi thức và lễ nghi” (rituals and ceremonies), và rằng luật pháp của đất nước là luật pháp thế tục [106, 56]. Hai năm sau, Tòa Tối cao tái khẳng định cơ sở thế tục của Hiến pháp, căn cứ trên những tuyên bố của các nhà lập pháp rằng thừa nhận đạo Hồi là tôn giáo nhà nước “không ảnh hưởng theo bất cứ cách thức nào đến các quyền dân sự của những người không Hồi giáo” [79]. Nhưng dù theo cách giải thích của Tòa án, Hồi giáo chỉ mang tính nghi lễ thì không thể phủ nhận đạo Hồi và pháp luật Hồi giáo có ảnh hưởng lớn và ngày càng mạnh mẽ trên thực tế. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Mặc dù chỉ mang tính hình thức, song trong tuyên thệ nhậm chức của Vua Malaysia, ông tuyên thệ nhậm chức trước tuyên thệ cụm từ “wabillahi, watallahi” và thề rằng: “Và chúng tôi thề sẽ tôn trong và thực sự duy trì Hồi giáo và chính phủ sẽ dựa trên công bằng và hòa bình trong nước.” Tuyên lời thề đó là cần thiết trong tôn giáo Islam và nó biểu thị sự ảnh hưởng của Hồi giáo trong các nghi lễ vương quyền tại Malaysia [112]. Năm 2016, lãnh đạo đảng đối lập Đảng Hồi giáo liên Malaysia (Pan-Malaysian Islamic Party, PAS) đề xuất một dự luật nhằm mở rộng quyền lực của Tòa án Syariah ở Malaysia để áp đặt các án phạt hà khắc hơn nữa. Dự luật gây ra phản đối mạnh mẽ từ xã hội dân sự và các nhóm đối lập, nhưng cũng nhận được ủng hộ từ những thành phần khác trong xã hội Malaysia thể hiện bằng một cuộc biểu tình lớn ủng hộ dự luật diễn ra ở Kuala Lumpur tháng 2/ 2017. Điều đó cũng cho thấy sự gia tăng ảnh hưởng của Hồi giáo trong đời sống pháp luật và xã hội tại Malaysia.

Việc duy trì pháp luật Hồi giáo cũng gây ra những rào cản nhất định trong quá trình thực hiện quyền tự do của người dân trong nhiều trường hợp, đặc biệt là vấn đề cải đạo – một trong những tội được xem là nặng nề nhất trong giáo lý đạo Hồi. Điều đó càng đặc biệt khó khăn khi hệ thống tòa án thường không có quyền can thiệp vấn đề thuộc Hồi giáo hay công việc của Shari’ah. 750 người Hồi giáo (chủ yếu tự chuyển sang đạo Hồi) đã nộp đơn lên Cục Đăng ký quốc gia để đổi tên thành tên không theo đạo Hồi; chỉ 220 trong số này đã thành công. Chỉ có 100 người nộp đơn lên tòa án tổng hợp để từ bỏ Hồi giáo từ năm 1994 đến 2003. Trong số những người nộp đơn này, chỉ có 16 người đã thành công. Năm bang đã thông qua luật phạt một người Hồi giáo từ bỏ Hồi giáo, với hình phạt tối đa là ba năm tù tù [32, 382]. Điều đó khiến việc cải đạo trở nên khắc nghiệp và gần như là không tưởng với những ai theo đạo Hồi và cũng ngăn cản người dân thực hiện quyền tự do tôn giáo của mình.

Một ví dụ nổi tiếng cho vấn đề cải đạo, đó là vụ kiện của Lina Joy. Sinh ra trong một gia đình Hồi giáo Malay, Lina Joy sau đó cải sang Thiên chúa giáo và định kết hôn với một vị hôn phu theo đạo Thiên chúa. Theo Luật Gia đình Hồi giáo năm 1984 (trong lãnh thổ Liên bang), Lina sẽ không được kết hôn và cải đạo khác với Hồi giáo. Cô buộc phải có được giáy chứng nhận từ Tòa án Shari’ah nhưng bị từ chối. Lina Joy kháng cáo lên tòa dân sự trên căn cứ rằng sự cải đạo của mình được bảo hộ dưới Điều 11 về quyền tự do tôn giáo. Năm 2007, Tòa Phúc thẩm Tối cao Malaysia ra phán quyết chống lại cô, viện dẫn việc cô rời bỏ đạo Hồi không được bảo vệ bởi Hiến pháp bảo đảm quyền “tuyên xưng và thực hành” tôn giáo; mà đây là vấn đề do tòa Syariah quyết định. Đa số Toà Liên bang xem việc bỏ đạo là việc liên quan đến Luật Hồi giáo, do đó nằm trong thẩm quyền của Tòa Shariah. Tổng Chưởng lý sau đó đã trả lời rằng “người ta không thể từ bỏ hay chấp nhận một tôn giáo theo ý thích và sở thích bất chợt riêng của mình được”. Điều đó khiến Lina gần như phải trốn chạy khỏi Malaysia và luật sư Nhân quyền của cô sau đó bị đe dọa giết hại nhiều lần.

Nhưng điều đó không có nghĩa lúc nào Hồi giáo hay tòa Shari’ah cũng lấn lướt trước Tòa án thường hay Tòa án thường bất lực trước việc bảo vệ quyền công dân. Trong Hiến pháp cũng quy định những giới hạn nhất định cho việc thực hiện giáo lý đạo Hồi. Theo đó, Chính phủ tiểu bang không thể thực thi hoặc thi hành luật Hồi giáo ngoài những gì đã được đề cập trong Danh sách Nhà nước vì nó trái với Điều 74 (2) của Hiến pháp Liên bang, hay ngoài vấn đề được liệt kê trong Danh sách Nhà nước (nghĩa là Danh sách thứ hai được nêu trong Thứ chín Lịch trình) hoặc Danh sách đồng thời [43].

Luật Hồi giáo chỉ có thể được trao quyền cho người Hồi giáo và không cho người Hồi giáo. Ví dụ, trong các trường hợp quyền nuôi con, nếu một người là cha hoặc mẹ không theo đạo Hồi thì vụ việc sẽ được giải quyết tại tòa án dân sự chứ không phải tại tòa án. Trong trường hợp bắt giữ liên quan đến nhóm người trong đó có người không theo Hồi giáo liên quan đến vấn đề Hồi giáo, cáo buộc chỉ áp dụng đối với người Hồi giáo [120]. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Cũng theo Điều 121 (1A) Hiến pháp, Tòa án Syariah không có quyền miễn trừ đối với bất kỳ bên nào liên quan nếu một trong số họ không phải là người Hồi giáo. Chẳng hạn, Tòa án Syariah đã không thành công trong việc bảo vệ một người cải đạo Re Susie Teoh vì người cha không theo đạo Hồi. Và ông có quyền cao hơn đối với tôn giáo của người con chưa đầy 18 tuổi. Điều này đúng bởi vì theo Điều 11 và 12, một người cha hoặc người giám hộ có quyền quyết định về tôn giáo và giáo dục con cái của họ. Trong trường hợp này, Tòa án Tối cao Dân sự đã phê chuẩn yêu cầu của người cha đối với Re Susie Teoh để hủy bỏ việc nhận con trai của mình vào đạo Hồi. Tóm lại, trong trường hợp này, vị trí của luật Hồi giáo tại Tòa án Syariah bị hạn chế.

Theo một thông cáo báo chí, vào tháng Tư, Cục Đăng ký Quốc gia đã kháng cáo quyết định của Tòa án Tối cao Liên bang về một người đàn ông Sarawakian sinh ra trong một gia đình Kitô giáo chuyển sang đạo Hồi khi anh ta còn nhỏ có quyền trở lại Kitô giáo khi trưởng thành và có chứng minh thư trong đó cho thấy tôn giáo của mình là Kitô hữu. Có thông tin rằng cho rằng chỉ có tòa án Shari’ah mới có thể đưa ra quyết định này, nhưng thẩm phán Tòa án tối cao không đồng ý với câu nói: “… tự do tôn giáo là quyền lập hiến và chỉ anh ta (ám chỉ vị Thẩm phán đó) mới có thể thực hiện quyền đó” [115].

2.3.6. Đánh giá và lý giải

Về các nội dung của Hiến pháp

Dù còn nhiều vấn đề trong việc giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật thường và luật Hồi giáo, nhưng không thể phủ nhận vấn đề quyền con người tại Malaysia ngày càng được quan tâm và nỗ lực nâng cao nó của Hiến pháp. Việc nâng cao quyền con người trong Hiến pháp Malaysia có thể lý giải qua sự lớn mạnh, xu hướng của quyền con người trên thế giới, cũng như sự học hỏi của Malaysia với các điều khoản Hiến pháp trên thế giới. Ví dụ, Điều 3 quy định về “quyền tự do của con người” và bảo vệ cá nhân khỏi bị bắt hoặc giam giữ bất hợp pháp. Dự thảo ban đầu có nội dung: “Không ai bị tước đoạt mạng sống hoặc quyền tự do cá nhân theo luật pháp.” Điều khoản này về tự do cá nhân là một đặc điểm cơ bản của các hiến pháp hiện đại lấy cảm hứng từ Dự luật Nhân quyền trong hiến pháp Hoa Kỳ. Phần này được rút ra từ Điều 5 (2) của hiến pháp Pakistan, Sửa đổi thứ năm của hiến pháp Hoa Kỳ, Điều 21 của hiến pháp Ấn Độ cũng như Điều 16 của hiến pháp Miến Điện.

Hay Điều 4 (1) về quyền bình đẳng của công dân trong hiến pháp liên bang đã rút ra từ Sửa đổi thứ 14 của Hiến pháp Mỹ, Điều 14 từ Ấn Độ và Điều 5 từ Pakistan. Khoản 4 (2), mặt khác, được rút ra từ Đạo luật Chính phủ Ấn Độ 1935.

Điều 5 quy định về quyền tự do đi lại của công dân trong bất kỳ lãnh thổ nào của liên bang. Bài viết này nhấn mạnh rằng không có công dân nào bị loại trừ khỏi bất kỳ phần nào của đất nước chỉ dựa trên tôn giáo, chủng tộc, nơi cư trú, ngôn ngữ hoặc nơi sinh.Điều khoản tương tự được tìm thấy trong hiến pháp của Miến Điện, Điều 17 (iv), Ấn Độ, Điều 19 (1) (d) và (e) và Pakistan.

Như vậy cùng với xu hướng thế giới, Indonesia hay Malaysia đều thể hiện sự hiện đại hóa trong Hiến pháp của mình, và phần dễ dàng nhận ra nhất chính là nhân quyền.

Về ảnh hưởng của Hồi giáo Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Thứ hai, cũng giống như các quốc gia chịu ảnh hưởng Hồi giáo, có thể lý giải sự phát triển và lớn mạnh của pháp luật Hồi giáo tại Malaysia qua các cơ sở sau:

Từ đầu thập kỷ 70, Islam ngày càng chiếm được vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần với nhiều lý do: (1) Islam ở Malaysia đã chịu ảnh hưởng của phong trào phục hưng Islam quốc tế bắt đầu từ cuộc chiến tranh Ả rập – Israel năm 1973 và cuộc khủng hoảng dầu lửa xảy ra sau đó, đặc biệt là từ cuộc cách mạng Islam ở Iran năm 1979. Các sự kiện trên góp phần đẩy mạnh phong trào phục hưng Islam phát triển như một lực lượng chính trị trên trường quốc tế, tác động mạnh mẽ đến tinh thần Islam ở Malaysia. (2) tinh thần phục hưng Islam ở Malaysia đã được hun nóng từ chính tình hình nội bộ phức tạp của một nước đa dân tộc, đa tôn giáo, đặc biệt là từ sau cuộc khủng hoảng chính trị năm 1969. Mối quan hệ giữa Islam và Malayu (người Malayu và bản sắc Malayu) là mối quan hệ tương hỗ. Khi tinh thần dân tộc Malayu lên cao, thì Islam trở thành sợi dây liên kết cộng đồng Malayu chống lại các cộng đồng cư dân khác. Islam cùng với nền văn hoá của nó được người Malayu coi là đặc trưng văn hoá dân tộc của họ, là giải pháp cho mọi vấn đề của đất nước. Vì thế Islam ngày càng được đề cao, càng có vị trí quan trọng trong xã hội. Trong bối cảnh Malaysia vào những năm 70 – 80, phong trào phục hưng Islam đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển tình hình chính trị trong nước Malaysia, phong trào này đã gay áp lực lớn đối với sự tồn tại và phát triển của các đảng phái chính trị ở Malaysia, đặc biệt là sự đấu tranh giữa PAS và UMNO. Điều này giải thích tại sao từ những năm 70 – 80 đến nay, chính phủ Malaysia hết sức coi trọng vai trò của Islam, nâng cao địa vị của Islam trong đời sống chính trị, xã hội của Malysia. Cũng chính Islam đã khiến Malaysia thay đổi chính sách đối ngoại, thiên về thế giới Islam.

Đồng thời, những chính sách trong lịch sử Malaysia như “Chính sách kinh tế Mới” với đối tượng bumiputra – “những đứa con của đất” – người Malaysia theo Hồi giáo được thụ hưởng tài sản quốc gia, kinh doanh, giáo dục với lập luận bản sắc Malaysia nằm ở Islam, vì trong Islam chứa đựng ngôn ngữ, lịch sử cũng như truyền thống văn hóa lâu đời của cư dân bản địa trên bán đảo Malay. Điều này đã thúc đẩy công dân của Malaysia cải đạo theo Islam một thời gian dài. Và cho đến nay số lượng người Malaysia duy trì và tiếp tục bởi hoặc họ truyền bá cho gia đình, cộng đồng; hoặc chính bản thân họ cũng khó thay đổi được khi vấn đề cải đạo cực kỳ khó khăn như đã phân tích trên.

Tuy vậy, trong quá trình thực hiện pháp luật Hồi giáo cũng gặp các rào cản, trên thực tế, Hồi giáo không còn toàn quyền trong mọi vấn đề đời sống chính trị nữa, thậm chí nó còn bị Hiến pháp giới hạn lại, và sự tác động chủ yếu nằm ở vấn đề gia đình, hôn nhân, thừa kế so với Hồi giáo nguyên thủy. Bởi lẽ, vào cuối thế kỷ 19, tất cả các bang ở Malaya đều nhận được các cố vấn người Anh. Sự xuất hiện của cố vấn người Anh ở Mã Lai này đã dẫn đến việc áp dụng luật Hồi giáo đã bị xói mòn theo cách người Anh. Theo M.B. Hooker, nói rằng mục đích thực sự của người Anh đã đưa ra Luật dân sự ở vùng đất Malay và do đó làm giảm tình trạng của luật Hồi giáo không phải vì luật dân sự bất hợp pháp hay Luật Hồi giáo không phải là hệ thống mà là các yếu tố kinh tế. Họ cũng cho rằng Hồi giáo là một yếu tố rào cản trong sứ mệnh phát triển Malaya của họ [126].

2.4. Lịch sử và sự phát triển Hiến pháp Brunei Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

2.4.1. Khái quát chung

Brunei trong tiếng gốc là chữ “Varunai”. Nó được bắt nguồn từ “varunadvipa” có nghĩa là đảo Kalimantan. Lý do đây là tên của quốc gia Brunei là bởi vì Brunei nằm ở đảo Borneo. Brunei Darussalam, hay còn gọi là Brunei là một quốc gia nhỏ với diện tích 5.765 km. Dân số Brunei là 301.000 người, bao gồm 70,5% người Mã Lai thường làm việc trong chính phủ, 16% người Hoa, trong đó 80% không được làm công dân chính thức và một số nhóm dân cư địa phương như Iban, Kedayan, Kayan, Kenyah, Kiput, Muru và Tutung. Người nhập cư tại Brunei chiếm 8.2% và chủ yếu sinh sống với nghề nghiệp công nhân. Tiếng Mã Lai trở thành ngôn ngữ chính tại Brunei, cùng với tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Iban và hàng chục phương ngữ khu vực với số lượng lên đến 17 ngôn ngữ.

Đây là một trong những quốc gia giàu nhất với số lượng dầu mỏ khủng lồ tại khu vực Đông Nam Á. Quá trình lịch sử tại Brunei trải qua nhiều giai đoạn, thời kỳ phát triển thịnh vượng nhất của Brunei là vào đầu thế kỳ 16. Vương quốc Brunei khi đó, là một quốc gia mạnh mẽ và có thẩm quyền không chỉ bao trùm toàn bộ đảo Borneo mà còn một số phần của các đảo Sulu và Philippines. Nhưng vào thế kỷ 17 cho đến thế kỷ 18, sức mạnh của Vương quốc Brunei bắt đầu giảm dần do sự nhượng bộ trước Hà Lan, Anh của Vua Serawak. Chính sách nhượng bộ gây bất lợi lớn cho chính Brunei. Và cuối cùng vào thế kỷ 19, lãnh thổ của Brunei Darussalam đã bị thu hẹp đến các ranh giới cuối cùng. Với sự xuất hiện của người nước ngoài đến Brunei, đặc biệt của Vương quốc Anh, đã tác động đến thay đổi hệ thống luật gia đình Hồi giáo trong một hành trình dài để giành độc lập cho đến bây giờ. Đồng thời, sự ngự trị của Anh cũng làm xói mòn dần hệ thống luật Hồi giáo tại Brunei. Điều đó dẫn đến một số điểm cải cách trong luật Hồi giáo ở Brunei sẽ được phân tích trong những phần tiếp theo. Năm 1847, Vương quốc Brunei đã có một thỏa ước cùng với Anh. Hiệp ước được thực hiện vào năm 1856, trao quyền cho Vương quốc Anh kiểm soát các trường hợp phát sinh từ tranh chấp giữa người dân Anh hoặc giữa người Anh và người nước ngoài ở Nhà nước Brunei. Đồng thời, bên cạnh các thẩm phán của Brunei, còn có các thẩm phán Anh cùng thực hiện quyền tư pháp. Trong thời gian đó, người Anh bắt đầu can thiệp vào các vấn đề của Vương quốc Hồi giáo Brunei và can thiệp vào vấn đề công lý xã hội. Vào năm 1888, một hiệp ước trao toàn quyền cho các thẩm phán Anh trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình đã được xác lập giữa Anh và Brunei. Bản chất của thỏa thuận là trao toàn bộ quyền lực cho các thẩm phán Anh trong việc thực hiện nhiệm vụ của họ tại Vương quốc Brunei Darussalam. Với các thỏa thuận đã đề cập ở trên, nó sẽ dẫn đến những thay đổi trong các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là việc thực thi luật Hồi giáo ở Brunei.

2.4.2. Ảnh hưởng và đặc điểm của Hồi giáo tại Indonesia Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Về ảnh hưởng

Một số nhà sử học châu Âu cho rằng Brunei vẫn không phải là một quốc gia Hồi giáo cho đến thế kỷ 15. Trong một cuốn sách tham khảo Trung Quốc có tên “Ming Shih”, lưu ý rằng vị Quốc vương Hồi giáo đầu tiên tại Brunei là Mahmud Shah. Robert Nicholl, một người phụ trách Bảo tàng Brunei trước đây đã lập luận trong một bài báo khác có tên là “Ghi chú về một số vấn đề gây tranh cãi trong Lịch sử Brunei năm 1980”, rằng cái tên Ma-ho-mo-sa có thể được phát âm là Maha Moksha có nghĩa là Vĩnh cửu vĩ đại. Đồng thời, Nicholl tiếp tục lập luận rằng Quốc vương Muhammad Shah cải đạo sang Hồi giáo vào cuối thế kỷ 16 chứ không phải trong thế kỷ 14 như được biết đến rộng rãi. Tuy nhiên, theo các nhà sử học Brunei, Quốc vương Muhammad Shah đã chuyển sang đạo Hồi vào năm 1376 và ông đã cai trị cho đến năm 1402. Sau đó, đó là Quốc vương Abdul Majid Hassan, người đã chết ở Trung Quốc, lên ngôi. Dù có nhiều đồn đoán về thời điểm chính xác và vị Quốc vương đầu tiên của đất nước Brunei, song đa phần các nghiên cứu khoa học đều cho rằng, có hai làn sóng giáo lý đạo Hồi đã du nhập đến Brunei. Làn sóng đầu tiên được mang đến bởi các thương nhân từ Ả Rập, Ba Tư, Ấn Độ và Trung Quốc. Làn sóng thứ hai được tạo ra bởi sự cải đạo của Sultan Muhammad Shah. Sự ảnh hưởng của Hồi giáo dù theo con đường thứ nhất hay con đường thức hai đều có tầm ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ và rộng mở. Theo Thomas Stamford Raffles trong cuốn sách “Lịch sử của Java”, các hoạt động Hồi giáo của vị Quốc vương Brunei có tên Syarif Ali đã khiến Hồi giáo được lan truyền mạnh mẽ không chỉ giới hạn ở Brunei. Ông được cho rằng đã đến Java để tuyên truyền đạo Hồi – nơi ông được gọi là Raja Chermin. Những nỗ lực của người Brunei trong việc truyền bá đạo Hồi đã giúp truyền bá đạo Hồi không chỉ ở Borneo mà còn ở tận phía bắc tới các đảo phía nam Philippines. Khi Malacca rơi vào tay người Bồ Đào Nha vào năm 1511, chính Brunei đã đóng vai trò chính trong sự truyền bá đạo Hồi trong khu vực. Đến thế kỷ 16, Brunei đã xây dựng một trong những nhà thờ Hồi giáo lớn nhất của mình. Năm 1578, Alonso Beltran, một du khách người Tây Ban Nha mô tả nhà thờ với năm tầng cao vút được dựng xây trên mặt nước. Nhiều khả năng nó có năm lớp mái để đại diện cho năm trụ cột của đạo Hồi. Hồi giáo đã bắt nguồn vững chắc ở Brunei vào thế kỷ 16. Nhưng đáng tiếc, nhà thờ Hồi giáo này không may bị người Tây Ban Nha phá hủy vào tháng 6 cùng năm. Như vậy, có thể thấy ngay từ thời kỳ xa xưa trong lịch sử, Hồi giáo đã ảnh hưởng rất mạnh mẽ và bền vững tại Brunei, điều đó sẽ lý giải tại sao cho đến nay, Brunei vẫn ảnh hưởng sâu sắc của Hồi giáo và kiên quyết theo con đường trở thành quốc gia Hồi giáo theo đức tin về thánh Allah.

Về đặc điểm

Giống như các quốc gia khác, Hồi giáo ở Brunei mang những đặc điểm chung của Hồi giáo trên thế giới và các quốc gia trong khu vực. Tuy vậy, việc ảnh hưởng Hồi giáo tới Brunei không phải lúc nào cũng thuận lợi, Hồi giáo cũng gặp nhiều rào cản đặc biệt là vào giai đoạn thực dân, pháp luật Hồi giáo bị thu hẹp. Giai đoạn đầu của sự thay đổi dẫn đến việc thu hẹp thẩm quyền của Bộ luật Hồi giáo Hồi giáo bị giới hạn trong Bộ luật Dân sự. Sau đó, các sửa đổi liên tiếp là từ năm 1957, 1960, 1961 và 1967, vấn đề luật gia đình Hồi giáo chỉ được quy định 29 điều, cụ thể theo các quy tắc: Hôn nhân và ly hôn trong phần VI bắt đầu từ điều 134 đến 157, và Người phụ thuộc trong phần VII bắt đầu bằng Điều 157 đến 163. Vì vậy, vấn đề luật gia đình Hồi giáo ở Brunei, chỉ quy định vấn đề hôn nhân, ly hôn và tài chính sinh kế. Dường như các hạn chế đối với thẩm quyền thực thi pháp luật Hồi giáo ở Brunei Darussalam bắt đầu từ thời thuộc địa Anh. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

2.4.3. Lịch sử Hiến pháp Brunei

Hiến pháp Brunei trải qua nhiều giai đoạn cùng với những sửa đổi qua từng thời kỳ, song, so với Malaysia hay Indonesia, Hiến pháp Brunei ít thay đổi và sửa đổi hơn. Kể từ bản Hiến pháp đầu tiên 1959 cho đến bản Hiến pháp hiện hành sửa đổi năm 2004, Hiến pháp Brunei trải qua lần lượt các mốc lịch sử nổi bật sau:

2.4.3.1. Hiến pháp Brunei 1959

Về hoàn cảnh lịch sử:

Đây là Hiến pháp thành văn đầu tiên của Brunei. Khác với Indonesia, bản Hiến pháp đầu tiên của Indonesia ra đời sau khi Indonesia vừa giành được độc lập, còn Hiến pháp Brunei ra đời khi Brunei vẫn còn chịu ảnh hưởng của Anh. Mục đích ra đời bản Hiến pháp là Quốc vương Brunei thời điểm đó, muốn Brunei dần tự lập và tự chủ, không còn lệ thuộc vào Anh nữa. Ông cho rằng, sự ra đời của một bản Hiến pháp sẽ giúp Brunei thực hiện được điều đó.

Về nội dung:

Hiến pháp năm 1959 quy định Quốc vương là Nguyên thủ quốc gia có toàn quyền hành pháp. Quốc vương được hỗ trợ và tư vấn bởi năm hội đồng – Hội đồng tôn giáo, Hội đồng Cơ mật, Hội đồng Bộ trưởng (Nội các), Hội đồng Lập pháp và Hội đồng Kế vị. Hiến pháp năm 1959 đã thiết lập Thủ tướng là một quan chức cao nhất, với Cao ủy Anh là cố vấn cho Chính phủ về tất cả các vấn đề ngoại trừ những vấn đề liên quan đến tôn giáo Hồi giáo và phong tục Malay.

Gần như trong Hiến pháp 1959, toàn bộ các quy định chủ yếu xoay quanh vị trí và quyền lực vô biên của Sultan. Mọi thẩm quyền điều hành đất nước đều tập trung trong tay Quốc vương. Trên thực tế, Quốc vương đã nhậm chức Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Nội vụ vào năm 1984, sau khi nối lại độc lập chính trị hoàn toàn. Vào tháng 10 năm 1986, ông từ bỏ Bộ Tài chính và Nội vụ và tiếp quản Bộ Quốc phòng. Quốc vương cũng là Tư lệnh tối cao của Lực lượng Vũ trang Hoàng gia Brunei. Nội các có 13 thành viên và mỗi báo cáo cho Quốc vương. Hiến pháp năm 1959 quy định rằng quyền bổ nhiệm vào các Hội đồng được thực hiện bởi Quốc vương. Quốc vương có thể tuyên bố tình trạng khẩn cấp, bất chấp mọi điều không phù hợp với Hiến pháp.

Hội đồng tôn giáo chịu trách nhiệm tư vấn cho Quốc vương về các vấn đề liên quan đến Hồi giáo. Điều này được giải quyết trong Phần II của Hiến pháp, trong đó nói rằng tôn giáo của Brunei sẽ là Hồi giáo theo giáo phái Shafeite. Người đứng đầu đức tin là Quốc vương. Tự do tôn giáo được Hiến pháp bảo vệ. Hội đồng Cơ mật khuyên Quốc vương liên quan đến việc thực thi quyền ưu tiên, sửa đổi hoặc hủy bỏ bất kỳ điều khoản nào của Hiến pháp và trao tặng danh hiệu.

Hội đồng Lập pháp được quy định trong Hiến pháp để thực hiện vai trò xem xét kỹ lưỡng về pháp luật. Tuy nhiên, vì lý do của Nhà nước, Hội đồng Lập pháp đã không được đáp ứng trong những năm gần đây và luật pháp được ban hành thông qua tuyên bố của Hoàng gia.

Hội đồng kế vị quyết định sự kế vị ngai vàng trong trường hợp nhu cầu đó phát sinh. Thứ tự kế vị được xác định bởi Hiến pháp và các thỏa thuận của Hội đồng cũng được đặt ra tương tự.

Tư pháp hình thành một nhánh chính phủ riêng biệt trong Brunei và sự độc lập của tư pháp được đảm bảo. Chính phủ quy định việc bảo vệ quyền tự do tôn giáo trong nước bằng cách đảm bảo rằng Tòa án Hồi giáo chỉ có quyền tài phán đối với người Hồi giáo. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Tuy vậy, không phải lúc nào Quốc vương cũng tự quyết các vấn đề liên quan đến đất nước. Việc tham vấn các cố vấn người Anh truyền thống đã dần trở thành một công việc quen thuộc và thường niên dù không có điều khoản nào cho thấy việc này là bắt buộc với các Sultan.  Trong lịch sử, Quốc vương Brunei luôn hành động tham khảo ý kiến với các cố vấn truyền thống của mình. Do đó, sự xuất hiện trên các tài liệu quan trọng của Nhà nước và hiến pháp, chữ ký và con dấu của cố vấn người Anh, cho thấy thỏa thuận của họ, cũng như chữ ký và con dấu của Quốc vương. Truyền thống tham vấn đã được chính thức hóa sau khi thành lập hệ thống cố vấn thường trú của Anh tại Brunei do Sultan chủ trì. Hệ thống này tồn tại cho đến khi có Hiến pháp thành văn đầu tiên vào năm 1959 khi một Hội đồng Hành pháp (sau này gọi là Hội đồng Bộ trưởng) và Hội đồng Lập pháp thay thế Hội đồng Nhà nước cũ. Các cố vấn truyền thống tiếp tục đóng một vai trò quan trọng theo Hiến pháp năm 1959. Mặc dù họ không còn tham gia trực tiếp vào quá trình của chính phủ, nhưng phần lớn trong số họ bao gồm tư cách thành viên của Hội đồng Cơ mật và Hội đồng Kế vị.

2.4.3.2. Hiến pháp sửa đổi năm 1971, 1984

Về bối cảnh lịch sử: 

Năm 1971, Hiệp ước giữa Anh và Brunei sửa đổi đã làm giảm thêm quyền lực của Chính phủ Vương quốc Anh chỉ giữ lại ảnh hưởng đối với các vấn đề đối ngoại khi quốc phòng trở thành trách nhiệm chung của cả hai nước. Năm 1984, Brunei đã giành lại độc lập chính trị hoàn toàn và nhận trách nhiệm về quốc phòng cũng như quan hệ đối ngoại của chính mình. Trước tình hình đó, Brunei tiến hành việc sửa đổi Hiến pháp cho phù hợp với các biến đổi chính trị, xã hội trong nước. Hiến pháp Brunei đã lần lượt trải qua lần sửa đổi vào 1971, 1984.

Về nội dung:

Hệ thống chính phủ, được thực hiện theo cách tư vấn truyền thống của người Malay thông qua một Bộ trưởng và các quan chức cấp cao, đã được thay thế vào năm 1984 với Nội các kiểu mới. Điều đó phản ánh cam kết của Hoàng thượng đối với một chính quyền hiệu quả và tiến bộ.

Một số quy định của Hiến pháp, liên quan đến bầu cử và Hội đồng Lập pháp, đã được sửa đổi. Hội đồng lập pháp thỉnh thoảng được thành lập lại cho đến khi một Chính phủ kiểu Nội các được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1984. Các văn phòng cũ của Bộ trưởng, Bộ trưởng Ngoại giao và Cán bộ Tài chính Nhà nước đã bị bãi bỏ và thay thế bởi Thủ tướng và các Bộ trưởng khác.

Theo Hiến pháp, Quốc vương thực thi quyền hạn ban hành luật trong trường hợp không có Hội đồng Lập pháp. Các thỏa thuận tài chính theo Hiến pháp năm 1959 vẫn không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi địa vị vào năm 1984 ngoại trừ trong trường hợp các điều khoản đó đề cập đến Hội đồng Lập pháp. Vị trí của Tổng Kiểm toán vẫn giữ nguyên như trước năm 1984, Tổng kiểm toán chịu trách nhiệm báo cáo với Quốc vương. Không có thay đổi nào được thực hiện đối với vị trí của các dịch vụ công cộng. Chúng tiếp tục được kiểm soát và giám sát bởi Ủy ban Dịch vụ Công cộng.

Liên quan đến Tư pháp, Quốc vương có quyền bổ nhiệm các Thẩm phán trở thành ủy viên tư pháp của Tòa án Tối cao Brunei. Vào tháng 7/1991, hai người Brunei được bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án Trung cấp. Ủy ban Tư pháp của Hội đồng Cơ mật hoạt động như Tòa án phúc thẩm cuối cùng. Tòa án tối cao nhận được kháng cáo từ các Tòa án sơ thẩm cho các vụ án hình sự và dân sự cấp quận. Kháng cáo của Tòa án cấp cao được đệ trình lên Tòa án phúc thẩm. Ủy ban Tư pháp của Hội đồng Cơ mật tại London là tòa phúc thẩm cuối cùng chỉ dành cho các vụ án dân sự. Tòa án Shari’ah cùng tồn tại với Tòa án tối cao và liên quan đến luật Hồi giáo. Năm 1991, Tòa án Trung cấp được thành lập, với thẩm quyền xét xử dân sự và hình sự rộng lớn; mặc dù nó không giải quyết các vi phạm về kinh tế. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Theo Hiến pháp Brunei năm 1959, Quốc hội nước này có 33 ghế, trong đó 16 ghế do bầu cử trực tiếp. Cơ chế bỏ phiếu đã bị cha của Hồi vương Bolkiah là Omar Ali Saifuddin giải thể năm 1962, sau khi đại đa số cử tri hậu thuẫn cho đảng cánh tả Nhân dân Brunei. Do tình trạng bất ổn sau đó, Hồi vương Omar đã ban bố tình trạng khẩn cấp và đến nay quyết định này về mặt hình thức vẫn còn hiệu lực. Những sửa đổi về hiến pháp trong những năm 1970 và 1980 đã dẫn đến việc hình thành Quốc hội Brunei có 21 thành viên hoàn toàn do chỉ định mà không qua bầu cử. Nhưng cơ quan lập pháp này cũng bị giải tán vào năm 1984, sau khi Brunei được Anh trao trả độc lập hoàn toàn. Hồi vương Bolkiah trở thành người có quyền lực tối thượng tại Brunei. Hiện ông vừa là nguyên thủ quốc gia kiêm thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Tài chính.

2.4.3.3. Hiến pháp Brunei sửa đổi 2004

Về hoàn cảnh lịch sử:

Khi Brunei bước vào thế kỷ XXI và cùng với sự thay đổi của đất nước và thế giới, nhiều người dân ở Brunei mong đợi việc tái thể chế hóa các cuộc bầu cử và cơ hội tham gia vào chính phủ. Người ta mong chờ nhiều hơn về một bản Hiến pháp hoàn thiện và đáp ứng nhu cầu của người dân ở mức độ nhất định.

Về nội dung: 

Thực tế, một loạt các sửa đổi hiến pháp được công bố vào năm 2004 đã mang lại cho Sultan nhiều quyền lực hơn. Mặc dù Hội đồng Lập pháp với tư cách thành viên một phần dựa trên các cuộc bầu cử đã được tái hoạt động vào năm 2004, tất cả các thành viên đã được bầu bởi Sultan và các thành viên của nó bao gồm chính Sultan, anh trai của Sultan, hoàng tử Mohamed Bolkiah, Bộ trưởng Nội các, đại diện từ các khu vực khác nhau. Nội các hoạt động lại và được giao nhiệm vụ phê chuẩn các sửa đổi Hiến pháp năm 2004 bao gồm các quy định mới được về việc Sultan là người cai trị tuyệt đối. Sửa đổi mới này đã làm rõ thẩm quyền của Sultan, trao cho Quốc vương thẩm quyền phi thường và đặt mình lên trên pháp luật, cả về năng lực chính thức và cá nhân. Trong sửa đổi hiến pháp mới này, vị trí của Hội đồng Lập pháp ngày càng yếu đi.

Ban cố vấn chỉ bao gồm các thành viên được bầu hàng năm họp vào tháng 3 để thảo luận về ngân sách và các vấn đề liên quan đến chính phủ đang được công chúng quan tâm. Theo hiến pháp năm 1959, Ban cố vấn có chức năng giám sát và mọi luật phải được Hội đồng tư vấn phê duyệt trước khi được phê chuẩn. Tuy nhiên, sửa đổi năm 2004 đã phủ nhận điều kiện này, và làm cho Hội đồng Lập pháp thực sự trở thành một cơ quan đóng dấu vô nghĩa. Việc bầu cử trực tiếp các thành viên của Hội đồng Lập pháp khó có thể xảy ra trong tương lai gần. Việc sửa đổi hiến pháp năm 2004 đã biến Sultan thành nền tảng (hay Grundnorm) của hệ thống luật pháp ở Brunei. Horton từng nhận định rằng các sửa đổi Hiến pháp năm 2004 tại Brunei cho thấy mong muốn bao bọc vương quốc dưới hình thức dân chủ tự do mà không thực sự trở thành một nền dân chủ tự do đúng nghĩa.

2.4.4. Nội dung Hiến pháp hiện hành Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

2.4.4.1. Khái quát

Hiến pháp sửa đổi 2004 là lần sửa đổi gần đây nhất của Hiến pháp Brunei nhân dịp 45 năm ban hành Hiến pháp 1959. Tuy vậy, việc sửa đổi chỉ nhằm củng cố thêm quyền lực của Quốc vương ở cả ba nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đồng thời bãi bỏ cơ chế tư pháp giám sát. Nội dung cụ thể của Hiến pháp Brunei hiện hành sẽ được phân tích kỹ dưới đây.

2.4.4.2. Lời nói đầu

Hiến pháp Brunei có lời mở đầu khá ngắn gọn, với nội dung chính tuyên bố về mục đích ban hành Hiến pháp Brunei chủ yếu về áp dụng pháp luật và chính trị. Hiến pháp Brunei chưa được nhìn nhận đúng đắn với giá trị một bản Hiến pháp quốc gia. Nó giống như một công cụ để Quốc vương thực hiện quyền lực của mình hơn là pháp luật tối cao của một Nhà nước mà bất cứ ai cũng phải tuân theo.

2.4.4.3. Về hiệu lực

Cần lưu ý rằng trong Hiến pháp Brunei không có điều khoản nào nói rằng Hiến pháp là luật chính của đất nước và bất kỳ luật nào không phù hợp với nó đều vô hiệu. Cũng không có yêu cầu về các quyền tự do cơ bản, bầu cử, Tòa án Tư pháp hoặc Shari’ah. Nếu xem xét kỹ trong Hiến pháp Brunei hiện hành, chỉ có khoản 1 Điều 84 có nhắc đến hiệu lực Hiến pháp một cách rất sơ sài: “Chính quyền sẽ phải bị điều chỉnh theo quy định của Hiến pháp này…” nhưng ngay sau đó lại khẳng định: “Hiến pháp này không được làm ảnh hưởng đến đặc quyền của Quốc vương[…]Quốc vương có toàn quyền làm luật và sửa luật, bổ sung Hiến pháp nếu thấy điều này là cần thiết.” Có thể thấy hiệu lực của Hiến pháp là thứ yếu so với quyền lực của Nhà vua. Bất cứ khi nào, và bất cứ lúc nào, Hiến pháp cũng có thể bị thay đổi theo “ý thích” và mong muốn của Quốc vương. Nó cho thấy sự chưa tương xứng với vị trí và tầm quan trọng của Hiến pháp với một quốc gia trên thực tế. Nhưng điều này có thể lý giải được ở một chế độ quân chủ chuyên chế lại ảnh hưởng sâu sắc Hồi gáo với sự tín nhiệm và trung thành tuyệt đối với người đứng đầu.

2.4.4.4. Chế độ Nhà nước

Khác biệt so với Hiến pháp Indonesia hay Malaysia, Hiến pháp hiện hành của Brunei không quy định về chế độ nhà nước. Hiến pháp chủ yếu tập trung khẳng định các điều sau: (1) Hồi giáo là tôn giáo chính thức, nhưng các tôn giáo khác vẫn được phép tồn tại và hoạt động một cách hòa bình, (2) Quốc vương là người đứng đầu về tôn giáo và chính trị tại Brunei. Điều này đã được lý giải ở trên bởi vị trí Hiến pháp vẫn đang ở thứ yếu so với quyền lực Quốc vương.

2.4.4.5. Nhân quyền

Hiến pháp Brunei không có ghi nhận riêng về nhân quyền. Trong lần sửa đổi Hiến pháp vào năm 2004, khoản 3 Điều 83 mới được bổ sung quy định về hành vi “Mua bán và buôn lậu người”, coi đó là hành vi bị cấm, nếu vi phạm sẽ phải chịu chế tài hình sự. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là ở Brunei luật pháp không quy định về quyền con người. Mặc dù không được ghi nhận trong Hiến pháp những những quy định về quyền con người nằm rải rác trong các luật thành văn do Nhả nước ban hành và trong luật Hồi giáo. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

2.4.4.6. Chính thể và Bộ máy Nhà nước

Hiến pháp Brunei ghi nhận Brunei là quốc gia theo chính thể quân chủ chuyên chế Hồi giáo. Không có chương nào trong Hiến pháp quy định về Quốc vương bởi lẽ Quốc vương chi phối tất cả và Quốc vương còn “đứng trên” cả Hiến pháp. Do đó, Sultan Brunei có toàn quyền trong lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhưng trong bản thân Hiến pháp cũng ghi nhận việc thành lập riêng biệt và hoạt động của ba nhánh quyền lực này. Có thể nói, việc ghi nhận nguyên tắc “tam quyền phân lập” ở Hiến pháp Brunei hiện hành là có, nhưng mang tính hình thức. Thực tế, Quốc vương vẫn chi phối tất cả dù trực tiếp hay gián tiếp.

Brunei là một quốc gia được cai trị bởi một vị vua (Quốc vương) với quyền lực tuyệt đối. Quyền lực cai trị cao nhất của Brunei nằm trong tay Ngài. Ông là Thủ tướng. Ông là Tư lệnh tối cao của Lực lượng Vũ trang Hoàng gia Brunei. Cơ quan cầm quyền sẽ được thực thi bởi ông. Hiến pháp Brunei trao quyền cho Quốc vương đưa ra tuyên bố khẩn cấp. Việc công bố tình trạng khẩn cấp được thực hiện vào năm 1962 vẫn còn hiệu lực cho đến bây giờ. Trong khi tuyên bố tình trạng khẩn cấp, trong số những người khác, Quốc vương có thể “đưa ra bất kỳ Lệnh nào mà Quốc vương thấy cần thiết cho lợi ích của công chúng.” Các lệnh bao gồm: “… sửa đổi, thay thế hoặc đình chỉ tất cả hoặc bất kỳ điều khoản nào của pháp luật được viết bằng văn bản…” Và việc sửa đổi Bộ luật hình sự Jeyah Shari’ah 2013 là một trong những lệnh như vậy.

Quốc vương không thể bị truy tố dưới bất kỳ hình thức nào, kể cả xem xét tư pháp trong khả năng cá nhân hoặc chính thức. Ngay cả các quan chức chính phủ thực hiện nhiệm vụ của họ được miễn truy tố trong một số trường hợp. Điều 85 cho phép Quốc vương, “với Tuyên bố, sửa đổi, bổ sung hoặc thu hồi bất kỳ điều khoản nào của Hiến pháp này”. Thông thường việc giải thích Hiến pháp là nhiệm vụ của Tòa án. Tuy nhiên, theo Hiến pháp Brunei, nhiệm vụ được giao cho Toà án giải thích có ba thành viên do Quốc vương bổ nhiệm.

Điều 84 khoản (2) quy định rõ ràng về quyền của Quốc vương: “(2) Không có gì trong Hiến pháp này được coi là làm giảm quyền của Quốc vương” và, “Quốc vương có quyền lập luật, công bố Hiến pháp hoặc một phần của Hiến pháp này nếu xét thấy cần thiết…” Tiếp theo là quy định của Điều 84A: “84B. (1) Quốc vương Yang di-Pertuan không có khả năng làm sai trong bản chất cá nhân hoặc chính thức của mình. Quốc vương và Yang di-Pertuan sẽ không bị xét xử tại bất kỳ tòa án nào liên quan đến bất kỳ điều gì được thực hiện hoặc bỏ qua trong thời gian làm việc hoặc sau khi trị vì cho dù là bản chất cá nhân hay chính thức.”

Giúp việc cho Quốc vương là Hội đồng Cơ mật và Hội đồng Ân xá. Hội đồng Cơ mật hỗ trợ vấn đề sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, phong hàm, tước quý tộc và các việc được Quốc vương giao. Hội đồng Ân xá góp ý các trường hợp phạm tội xin ân xá. Cả hai hội đồng hoạt động dựa trên sự “hài lòng” của Quốc Vương.

Về lập pháp, Hiến pháp có quy định Hội đồng lập pháp giống các chính thể Cộng hòa. Tuy nhiên, thẩm quyền thực tế lại thuộc về Quốc vương. Mọi đề xuất từ Hội đồng lập pháp dù được thông qua hay không thông qua đều được trình lên Quốc vương. Quốc vương sẽ xem xét và là chốt cuối quyết định có sửa đổi, bổ sung hay không. Trong trường hợp, Quốc vương quyết định không theo Hội đồng lập pháp, Quốc vương cũng không cần thông báo lại cho Hội đồng lập pháp.

Về hành pháp, Hiến pháp có quy định liên quan đến các Bộ trưởng giúp việc cho Nhà vua. Nhưng việc bổ nhiệm Bộ trưởng phụ thuộc hoàn toàn vào Quốc vương. Cũng giống như các bộ phận giúp việc khác, Quốc vương không nhất thiết phải tham khảo ý kiến đến từ các Bộ trưởng mà có toàn quyền vận hành hành pháp theo ý định riêng của mình.

2.4.4.7. Sửa đổi Hiến pháp, bảo hiến và thiết chế hiến định độc lập

Như đã phân tích ở phần hiệu lực, trên thực tế, Hiến pháp Brunei không có quy định chặt chẽ về việc sửa đổi Hiến pháp. Việc sửa đổi Hiến pháp ra sao phụ thuộc hoàn toàn vào Quốc vương. Hiến pháp có ghi nhận Quốc vương cần tham khảo ý kiến của Hội đồng Cơ mật, nhưng ý kiến chỉ mang tính chất tham khảo. Hiến pháp không hề quy định thêm ý kiến Hội đồng có vai trò ra sao với quyết định của Quốc vương. Có thể hiểu, Quốc vương có thể đồng ý có thể không tùy theo ý chí của mình.

Hiến pháp có ghi nhận sự có mặt của Ủy ban công vụ trong việc giúp đỡ Quốc vương. Số lượng, nhiệm vụ, tiền lương hay công việc đều do Quốc vương chỉ định. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

2.4.4.8. Chính quyền địa phương

Hiến pháp Brunei không hề quy định về chính quyền địa phương.

2.4.5. Thực tiễn thi hành Hiến pháp

2.4.5.1. Quyền con người

Trong Hiến pháp Brunei không có quy định nào rõ ràng về quyền con người. Tuy vậy, Brunei cũng có những động thái nhất định nhằm bảo vệ quyền con người ở mức độ nhất định thông qua việc ký kết và tham gia các Công ước quốc tế về quyền con người và ban hành các đạo luật chuyên ngành để bảo vệ các đối tượng riêng biệt: Đạo luật Trẻ em và Người trẻ tuổi (tại Chương 219), Bộ luật Tố tụng Hình sự (tại Chương 22), Đạo luật Việc làm (tại Chương 93) và Đạo luật gia đình Hồi giáo (tại Chương 217). Cụ thể như, Đạo luật Luật Gia đình Hồi giáo, tại Chương 217 quy định về quyền sinh kế và chăm sóc của trẻ em.

Luật Hồi giáo thường đặt phụ nữ vào thế bất lợi trong các lĩnh vực như ly hôn, nhưng ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia lực lượng lao động trong những năm gần đây tại Brunei. Điều này có được là do Brunei đã bãi bỏ bớt một số điều khoản bất lợi cho phụ nữ vào những khoảng thời gian gần đây, đồng thời thay đổi những điều khoản bất công trong Hồi giáo liên quan đến phụ nữ, sự thay đổi pháp luật Hồi giáo sẽ được phân tích dưới đây. Vào tháng 8 năm đó, Brunei đã bổ nhiệm nữ luật sư đầu tiên của mình, Hayati Salleh, người trước đây là nữ thẩm phán Tòa án tối cao đầu tiên của đất nước. Đây được coi là một biểu hiện cho sự vận động bình đẳng dần quyền nam nữ tại đất nước Brunei. Trong một cuộc cải tổ nội các hiếm hoi vào tháng 5/2010, vị Sultan đã bổ nhiệm Adina Othman thành Thứ trưởng văn hóa, thanh niên và thể thao. Đây là lần đầu tiên suốt một thời gian dài từ khi lập quốc, Brunei có phụ nữ giữ chức vụ cao cấp như Thứ trưởng trong Nội các.

Theo Kinh Koran, phụ nữ không được quyền bình đẳng với nam giới trong một số lĩnh vực quan trọng như hôn nhân, gia đình, thừa kế. Vì thế, ở Brunei trước đây, con mới sinh ra bắt buộc phải mang quốc tịch người bố. Mãi đến năm 2002, Luật quốc tịch sửa đổi mới cho phép con được theo quốc tịch bố hoặc mẹ.

Ở Brunei trước đây, phụ nữ không có quyền li dị chồng và không được chia tài sản khi li hôn. Theo luật Hồi giáo, chỉ người chồng mới có quyền quyết định kết thúc cuộc hôn nhân. Bằng cách nói 3 lần câu “Tôi li dị cô”, người chồng có thể chấm dứt mối quan hệ hôn nhân và người vợ không được nhận bất cứ tài sản nào hình thành trong thời kì hôn nhân đó. Đến năm 1999, bằng việc sửa đổi Luật gia đình Hồi giáo, vai trò và vị trí của người phụ nữ trong hôn nhân mới bước đầu được khẳng định. Tới năm 2003, phụ nữ Hồi giáo Brunei li hôn mới có quyền được kiện chồng cũ ra Toà án Hồi giáo để chia nửa khối tài sản của cuộc hôn nhân. Có thể thấy, dù tiến độ khá chậm, nhưng Brunei cũng đã có những thay đổi nhất định thu hẹp khoảng cách bất công giữa phụ nữ và nam giới theo giáo lý đạo Hồi.

2.4.5.2. Hoạt động của Tòa án và cơ chế bảo hiến Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Do toàn bộ hoạt động của các nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp phụ thuộc rất lớn vào Sultan, nên quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước chủ yếu theo ý muốn và chỉ đạo của Quốc vương. Các cơ quan nhà nước hoạt động không được đều đặn mà bất cứ khi nào cũng có thể bị bãi bỏ một cách bất chợt mà không có lý do chính đáng.

Điển hình như Quốc hội bị hủy bỏ vào 1984 sau đó được phục hồi vào năm 2004.

2.4.5.3. Ảnh hưởng của Hồi giáo

Như đã nói ở trên, Brunei có sự thay đổi luật Hồi giáo theo xu hướng mềm mại và phù hợp thời đại hơn. Mặc dù là nước áp dụng khắc nghiệt nhất luật Shari’ah vào đời sống, nhưng không thể phủ nhận những thay đổi tích cực của Brunei trong việc áp dụng luật Hồi giáo tại đất nước mình.

Thứ nhất, Brunei có sự thay đổi trong luật Hôn nhân và gia đình, theo pháp luật Brunei, kết hôn cần sự chứng giám của Nhà nước chứ không chỉ đơn thuần là linh mục hay sự thừa nhận của Hồi giáo. Nếu là các linh mục, đó cũng phải là là các luật sư được ủy quyền (tauliyah) bởi Quốc vương hoặc được pháp luật ủy quyền cho người Hồi giáo. Do đó, sự tồn tại của họ trở nên quan trọng như một hình thức quản lý đám cưới có trật tự tại quốc gia. Trong thực tế, đôi khi cuộc hôn nhân đã được thực hiện không được đăng ký. Tuy nhiên, những cuộc hôn nhân không đăng ký này vẫn còn hiệu lực. Hôn nhân chỉ được coi là không hợp lệ nếu không tuân thủ luật pháp của cả hai bên. Đăng ký kết hôn là một hình thức của isthe istana nhằm bảo tồn hai hình thức lợi ích của năm lợi ích, đó là lợi ích của con cái (al-Nasl) và lợi ích của tài sản (al-mal).

Ở Brunei, cũng có một quy tắc quy định rằng nếu người chồng không đồng ý ly hôn, cả hai bên có thể chấp thuận ly hôn với tiền chuộc. Cả hai bên có thể thỏa thuận số tiền và đưa ra thống nhất ly hôn bằng cách bên nữ “đưa tiền chuộc” nếu muốn đơn phương ly hôn. Điều này vừa đem đến lối thoát cho phụ nữ khi có thể ly hôn chồng nếu muốn, nhưng cũng đẩy họ vào thế bị động, đôi khi bế tắc khi vẫn phải chờ sự thỏa thuận nhất trí của chồng.

Đồng thời, Brunei cũng thay đổi luật Hồi giáo khi cho phép phụ nữ tái hôn nếu có giấy “chứng tử”. Một người vợ có lý do để tái hôn nếu chồng cô ta đã chết hoặc được cho là đã chết hoặc đã không nghe tin tức trong một thời gian dài. Các quy tắc nghiêm ngặt là thái độ thận trọng của chính phủ Brunei để không đưa ra tuyên bố có thể gây tổn hại cho một bên và không hối tiếc trong tương lai. Đây là một hình thức cải cách của luật pháp của chính phủ Brunei nhằm cố gắng đưa “người mất” phù hợp với thời đại thay đổi [85].

Tuy nhiên, Hồi giáo tại Brunei vẫn được ưu ái hơn so với các tôn giáo khác. Và việc áp dụng luật Hồi giáo một cách toàn diện trong mọi mặt đời sống khiến quyền con người bị hạn chế. Bất chấp các điều khoản hiến pháp quy định cho tự do tôn giáo, chính phủ đã hạn chế, ở các mức độ khác nhau, các hoạt động tôn giáo của tất cả các nhóm tôn giáo khác ngoài trường phái Hồi giáo Sunni của Shafi’i. Sự thịnh vượng của bất kỳ nhóm nào khác ngoài giáo phái Shafi’i chính thức đều bị cấm. Chính phủ duy trì các biện pháp kiểm soát hải quan nghiêm ngặt đối với việc nhập khẩu các văn bản tôn giáo phi Hồi giáo như Kinh thánh, cũng như các tài liệu giảng dạy tôn giáo Hồi giáo hoặc kinh sách dự định bán hoặc phân phối. Bất cứ ai dạy hoặc khuyến khích bất kỳ niềm tin hoặc thực hành “lệch lạc” nào ở nơi công cộng đều có thể bị buộc tội theo Đạo luật của Hội đồng Tôn giáo Hồi giáo và bị phạt tù ba tháng và phạt 2.000 BND (1.550 đô la). Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Ngoài ra, Chính phủ định kỳ cảnh báo người dân về “những người ngoài cuộc” rao giảng những tín ngưỡng cơ bản cực đoan hoặc không chính thống và cũng cảnh báo người Hồi giáo chống lại các nhà truyền giáo Kitô giáo [180]. Chính phủ thường xuyên kiểm duyệt các bài báo trên tạp chí về các tín ngưỡng khác, bôi đen hoặc xóa các bức ảnh về thánh giá và các biểu tượng tôn giáo Kitô giáo khác. Các quan chức chính phủ cũng hạn chế việc phân phối và bán các mặt hàng có hình ảnh của các biểu tượng tôn giáo [181]. Vào tháng 1/2010, Sultan ra lệnh rằng giáo dục tôn giáo sẽ là bắt buộc đối với sinh viên Hồi giáo. Do đó, các trường tư thục được yêu cầu dạy Hồi giáo và bắt buộc giảng dạy tiếng Ugama trên cơ sở ngoại khóa, ngoài giờ cho học sinh Hồi giáo của họ. Ugama là một khóa học giáo dục sáu năm dạy Hồi giáo Sunni theo trường phái Shafi’i. Các trường học, bao gồm các trường tư, có thể bị phạt hoặc các quan chức nhà trường bị cầm tù vì dạy các môn tôn giáo phi Hồi giáo.

Như tuyên bố của Quốc vương ngay từ khi giành được độc lập, Brunei sẽ dần áp dụng toàn bộ luật Shari’ah tại đất nước mình nhằm tiến tới hình ảnh một Brunei “thánh đường của Hồi giáo” trong khu vực và trên thế giới. Brunei Darussalam bắt đầu áp dụng luật Shari’ah hình sự trong các giai đoạn, bắt đầu từ ngày 1/5/2014, biến Brunei trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á thực hiện đầy đủ luật Hồi giáo. Hồi giáo Shari’ah được thực hiện ở Brunei trong ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên bao gồm án tù hoặc phạt tiền đối với các vi phạm như không thực hiện những lời cầu nguyện vào thứ Sáu và mang thai ngoài giá thú. Trước khi kết thúc năm, giai đoạn thứ hai được lên kế hoạch thực hiện bao gồm các hình phạt nghiêm khắc hơn bao gồm cắt tay và đóng hộp. Và theo đúng tiến trình, Brunei hiện đang ở giai đoạn 3 với việc thông qua luật ném đá đến chết người ngoại tình vào đầu tháng 4 vừa qua. Giai đoạn thứ ba được lên kế hoạch để thực hiện với các hình phạt thậm chí còn nghiêm khắc hơn, bao gồm cả án tử hình bằng cách ném đá cho các hành vi tội phạm dưới hình thức sodomy và ngoại tình. Giải thích cho việc áp dụng bộ luật hà khắc này, quốc vương 67 tuổi nói: “Chúng ta cần đấng Allah tối cao, với tất cả sự rộng lượng của Ngài, tạo cho chúng ta những điều luật để chúng ta sử dụng mà đạt được công lý” [15].

2.4.6. Đánh giá và lý giải

Những vấn đề được quy định trong Hiến pháp và thay đổi trên thực tế

Dù ảnh hưởng luật Hồi giáo lớn và là một nước theo chính thể quân chủ, song, Brunei vẫn có những thay đổi tích cực trong việc áp dụng luật Shari’ah. Điều này có thể lý giải bởi xu thế thế giới, áp lực từ cộng đồng quốc tế. Đồng thời, như đã nhắc đến ở trên là sự xuất hiện của Vương quốc Anh làm xói mòn phần nào luật Hồi giáo ở Brunei. Vai trò của Anh thể hiện rất rõ trong Hiến pháp Brunei ngay từ những ngày đầu thành lập. Từ đề nghị ban đầu của Ngài Cecil Clementi, Thống đốc Định cư và Cao ủy của các quốc gia Mã Lai năm 1930, Sir Anthony Abell sau đó đề xuất Hiến pháp cho Brunei, Sarawak và North Borneo thành lập một nhà nước. Khi nghe lời đề nghị, Quốc vương Omar Ali Saifuddien đã từ chối. Tuy nhiên, Hoàng thân muốn có một hiến pháp để chuẩn bị cho Brunei giành độc lập và cho các quyền của chủ quyền Brunei. Với lời khuyên của Ngài Anthony Abell, Quốc vương Omar Ali Saifuddien đã ra lệnh cho R.H. Hickling đề xuất một dự thảo để chuẩn bị Hiến pháp năm 1959. Quốc vương Omar Ali Saifuddien sau đó đã thành lập ‘Tujuh Serangkai, một ủy ban cố vấn vào tháng 4 năm 1953 để tìm hiểu ý kiến của người Brunei về việc chuẩn bị nền độc lập. Cố vấn người Anh – R.H. Hickling được mời đến Brunei để soạn thảo các bản thảo cho Hiến pháp. Bản ghi nhớ của Hickling đã làm sáng tỏ Chính phủ Anh để tôn trọng lịch sử và truyền thống của các hoạt động hành chính của Brunei. Vai trò của R.H. Hickling và Bản ghi nhớ của ông sau đó đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cho việc tạo ra Hiến pháp Brunei. Sau khi bản dự thảo được hoàn thiện và sửa đổi, Quốc vương Omar Ali Saifuddien đã cùng với các thành viên của ‘Tujuh Serangkai’ dẫn đầu một phái đoàn đến Luân Đôn vào ngày 11 tháng 9 năm 1957. Dù không đạt được thỏa thuận ngay trong lần gặp đầu tiên, nhưng với quyết tâm sửa đổi Hiến pháp, Brunei đã có những thay đổi và đạt được thỏa thuận với Anh vào ngày 29 tháng 9 năm 1959. Vai trò của Hồi giáo: Văn hóa Brunei chính thức xuất phát từ Thế Giới Mã Lai cổ đại bao trùm quần đảo Mã Lai và văn hóa này bắt nguồn từ thực tế hình thành lịch sử xã hội là nền Văn Minh Mã Lai.

Đồng thời, những chính sách của Anh thi hành tại Brunei về sau cũng ít nhiều hạn chế lại sự ảnh hưởng của pháp luật Hồi giáo. Thỏa thuận 1888M của cơ quan tài phán của Tòa án địa phương sử dụng Đạo luật Brunei đã bị giới hạn bởi quyền lực của nó. Nói cách khác, một lần nữa Luật Hồi giáo đã bị giảm sức mạnh. Người Anh đã cố gắng kiểm soát hoàn toàn lĩnh vực pháp lý và tư pháp ở Brunei. Hiệp định 1905M được ký ngày 3/12/1905 và Hiệp định 1906M ngày 2/1/1906 giữa Vương quốc Anh và Brunei đã mở ra cơ hội của Anh để tiếp tục loại bỏ Đạo luật Brunei. Người Anh không chỉ nắm vững luật pháp và tư pháp mà còn kiểm soát chính quyền và hành chính của Nhà nước Brunei. Họ đã thay thế Luật Hồi giáo bằng Luật Anh. Từ các hiệp định 1905 và 1906M, Chính phủ Brunei phải chấp nhận và hành động theo lời khuyên của cư dân Anh ngoại trừ những thỏa thuận liên quan đến Hồi giáo. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

Về ảnh hưởng của Hồi giáo

Sự ảnh hưởng của Hồi giáo như đã lý giải ở phần chung tại các quốc gia khu vực Đông Nam Á, Hồi giáo “ăn sâu” vào bộ máy vương quyền, kết hợp với chính thể quân chủ của Brunei khiến Hồi giáo càng có đất để lan tỏa mạnh mẽ. Căn cứ trên các sự kiện lịch sử, nhiều yếu tố văn hóa khác nhau, có bốn thời kỳ văn hóa lớn tại Brunei là Hồn Linh Giáo, Ấn Giáo, Hồi Giáo và Kitô giáo Phương Tây. Trong số đó Hồi giáo đã làm thành nền văn hóa Brunei, và từ đó Brunei dần có một cung cách sống và chấp nhận Hồi Giáo làm ý thức hệ và triết lý của quốc gia. Bởi vậy, văn hóa Brunei tương tự với văn hóa Malay, bị ảnh hưởng nhiều từ đạo Hindu và Hồi giáo. Điều đó lý giải tại sao Brunei muốn đạt được tầm nhìn và sự phát triển cho đến 2035 là “Quốc gia Luôn Nhớ về Đức Allah”. Khóa luận: Lịch sử hiến pháp của các quốc gia Hồi giáo.

2.5. Tiểu kết chương 2

Như vậy, có thể thấy cùng chịu ảnh hưởng của giáo lý đạo Hồi, nhưng trên thực tế các quốc gia trong khu vực vẫn có những ghi nhận liên quan đến quyền con người trên lý thuyết và sự bảo vệ quyền con người ở thực tiễn. Không chỉ vậy, vị trí vai trò của hiến pháp trong các quốc gia kể trên ngày càng được nâng cao. So với Indonesia và Malaysia, Hiến pháp Brunei có sự yếu thế hơn. Song, quá trình xây dựng hiến pháp và thi hành hiến pháp đang ngày càng được quan tâm hơn tại quốc gia Hồi giáo này.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Xu hướng phát triển hiến pháp các quốc gia hồi giáo

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537