Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Môi trường trong vấn đề marketing của một số doanh nghiệp tại Việt Nam cho các bạn.

LỜI NÓI ĐẦU

 Khi nhu cầu của người tiêu dùng thay đổi các doanh nghiệp cần có chiến lược marketing để nắm bắt được và đáp ứng được sự thay đổi đó. Có rất nhiều hình thức, nhiều chiến lược marketing đã và đang được các doanh nghiệp trong nước áp dụng nhưng vấn đề mà rất nhiều quốc gia, doanh nghiệp và người tiêu dùng quan tâm hiện nay là vấn đề môi trường lại chưa được các doanh nghiệp Việt Nam đề cập nhiều trong chiến lược marketing của mình. Trong xu thế hiện nay khi toàn thế giới, mà đặc biệt là người tiêu dùng ngày càng quan tâm nhiều hơn tới chất lượng môi trường của sản phẩm thì việc đẩy mạnh môi trường trong vấn đề marketing đối với các doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược marketing nói riêng và chiến lược kinh doanh nói chung để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tại thị trường nội địa cũng như trên trường quốc tế.

Xuất phát từ ý định đưa ra một cái nhìn và một sự đánh giá tương đối tổng quát về môi trường trong vấn đề marketing trước những thách thức của quá trình hội nhập, em đã chọn viết khóa luận với đề tài: “Môi trường trong vấn đề marketing của một số doanh nghiệp tại Việt Nam”.

Mục đích của khóa là làm sáng tỏ các lý luận về marketing, môi trường và môi trường trong vấn đề marketing. Từ đó đánh giá vai trò và tầm quan trong của môi trường trong vấn đề marketing đối với hoạt động của doanh nghiệp cũng như chỉ ra tính tất yếu khách quan trong việc áp dụng môi trường trong marketing của các doanh nghiệp.

Trong khuôn khổ của một bài khoá luận, em chỉ tìm hiểu thực trạng về môi trường trong vấn đề marketing của một số doanh nghiệp của Việt Nam từ đó đưa ra được đánh giá chung về việc áp dụng môi trường trong marketing của các doanh nghiệp trong thời gian qua. Thông qua đó đề ra một số giải pháp để đẩy mạnh việc áp dụng môi trường trong marketing của các doanh nghiệp Việt Nam. Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp.

Khoá luận được xây dựng bằng việc sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu trong đó chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phân tích tổng hợp, diễn giải, phân tích thống kê, so sánh …

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương sau:

  • Chương I: Khái quát chung về marketing và môi trường trong marketing.
  • Chương II: Thực trạng môi trường trong vấn đề marketing của một số công ty tại Việt Nam.
  • Chương III: Một số định hướng và giải pháp đẩy mạnh môi trường trong vấn đề marketing của các công ty tại Việt Nam.

Môi trường marketing luôn biến động, vì vậy các chiến lược marketing của các doanh nghiệp cũng thường xuyên thay đổi để phù hợp với chiến lược và mục tiêu kinh doanh. Do đó, trong một thời gian nghiên cứu ngắn với các hạn chế chủ quan khác như khả năng tiếp cận các nguồn thông tin, kinh nghiệm thực tế còn ít ỏi, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu… nên khóa luận của em không tránh khỏi những hạn chế. Em rất mong sự góp ý của các Thầy Cô giáo để khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Marketing

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MARKETING VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG VẤN ĐỀ MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MARKETING TRONG DOANH NGHIỆP

1. Một số quan điểm về marketing

Khái niệm marketing bắt đầu hình thành vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trước tiên ở Mỹ sau đó phát triển sang Tây Âu và Nhật Bản vào những năm 50 – 60. Trong suốt gần một nửa thế kỷ, marketing được giảng dạy tại một số nước nói tiếng Anh và nhiều nước phát triển. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, marketing mới thực sự phát triển rộng khắp toàn thế giới.

Trong quá trình tồn tại và phát triển, marketing đã trải qua nhiều giai đoạn với các chức năng, diện mạo khác nhau. Chính vậy đã có rất nhiều định nghĩa và quan điểm marketing khác nhau. Nhìn chung, marketing đã phát triển qua hai giai đoạn: marketing truyền thống và marketing hiện đại.

  • Quan điểm marketing truyền thống Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp.

Theo định nghĩa của Hiệp hội Marketing Mỹ: “Marketing là việc tiến hành hoạt động kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng vận chuyển hàng hóa và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng” [5]

Theo quan điểm truyền thống, marketing được hiểu là một hoạt động của doanh nghiệp, chủ yếu là nhằm vào việc tìm người mua những sản phẩm mà doanh nghiệp có thể sản xuất.Mục tiêu của marketing truyền thống là đảm bảo việc tiêu thụ bất kỳ loại sản phẩm nào doanh nghiệp sản xuất.  Nhà kinh tế người Anh C. Walker đã đưa ra nhận xét của mình về vấn đề này như sau: “Trong quá khứ, khi các nhà sản xuất hàng hóa chủ yếu là lo vấn đề vấn đề sản xuất hàng, và cố bằng mọi cách bán cho người tiêu dùng những hàng hóa mà họ không có nhu cầu.” [5]

Định nghĩa này được hiệp hội marketing Mỹ (American Marketing Association) xác định từ năm 1960. Đến năm 1985, khi xã hội chuyển từ xã hội sản xuất sang xã hội tiêu dùng, khi đứng trước một thị trường đã bão hòa đòi hỏi các nhà kinh doanh phải có những phương pháp mới để ứng phó với sự biến động của thị trường. Đây cũng chính là lúc ra đời quan điểm marketing hiện đại.

  • Quan điểm marketing hiện đại

Marketing hiện đại chính là tất cả các hoạt động của doanh nghiệp, trong đó chương trình sản xuất, việc nghiên cứu khoa học kỹ thuật, việc đầu tư nguồn tài chính, nhân lực và cả chương trình tiêu thụ, dịch vụ… cần phải dựa trên cơ sở số cầu của người tiêu dùng, về sự thay đổi của nó trong tương lai gần và xa. Một trong những mục tiêu của marketing hiện đại là phát hiện ra những nhu cầu chưa được đáp ứng của người tiêu dùng, để định hướng sản xuất vào việc đáp ứng những nhu cầu ấy. Về vấn đề này, nhà kinh tế Anh M.T.Baker nhận xét: “Marketing, với tính cách là triết lý kinh doanh, đòi hỏi doanh nghiệp phải liên kết các nguồn lực của mình sao cho, bằng cách tốt nhất đạt được những chỉ tiêu dài hạn về lợi nhuận”. [5]

Như vậy, thay vì tìm một thị trường để tiêu thụ một sản phẩm lại là tạo ra một sản phẩm cho một thị trường đã được nghiên cứu trước. Đó chính là quá trình phát triển từ marketing truyền thống đến marketing hiện đại.

Ta có thể nhận thấy quan niệm marketing ngày càng rộng nhưng dù ở giai đoạn nào “Marketing vẫn là một dạng hoạt động của con người hướng vào việc đáp ứng những nhu cầu thông qua trao đổi”. [8] Mục đích của marketing không chỉ dừng lại ở việc đẩy mạnh tiêu thụ mà mục đích của nó chính là nhận biết và hiểu khách hàng một cách sâu sắc tới mức hàng hóa và dịch vụ sẽ đáp ứng đúng thị hiếu của khách hàng và tự nó được tiêu thụ.

2. Các công cụ marketing trong doanh nghiệp

Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay, cái làm nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp là chiến lược marketing của họ. Tuy nhiên, việc lựa chọn một chiến lược marketing với những công cụ marketing phù hợp và hiệu quả lại không phải là một vấn đề đơn giản. Đó là cả một nghệ thuật, một môn khoa học với nhiều công cụ khác nhau. Mỗi công cụ sẽ có những ưu điểm và nhược điểm riêng và do vậy chỉ phù hợp với những điều kiện thị trường cụ thể và những sản phẩm nhất định.

  • Quảng cáo Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp.

Quảng cáo là việc doanh nghiệp thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng giới thiệu về sản phẩm, các đặc tính của sản phẩm của doanh nghiệp tới người tiêu dùng. Đồng thời quảng cáo là phương tiện có khả năng thuyết phục, tạo cơ hội cho người nhận thông tin có thể so sánh với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, làm tăng thêm sự thuyết phục với khách hàng mục tiêu. Hiện nay, quảng cáo đóng vai trò hết sức quan trọng trong chiến lược marketing chung của doanh nghiệp. Thông qua quảng cáo, doanh nghiệp đem lại cho khách hàng nhiều thông tin về sản phẩm, kích thích họ dẫn đến hành động mua hàng.

Doanh nghiệp có thể thực hiện quảng cáo qua rất nhiều phương tiện như:

  • Các phương tiện nghe nhìn: quảng cáo trên truyền hình, quảng cáo trên đài phát thanh, quảng cáo trên internet.
  • Các phương tiện in ấn: quảng cáo trển báo và tạp chí, quảng cáo trên các catalogue, các tờ rơi, lịch quảng cáo.
  • Các phương tiện quảng cáo ngoài trời: biển tôn có đèn rọi, hộp đèn quảng cáo, đèn màu uốn, biển quảng cáo điện tử, pa-nô quảng cáo.
  • Các phương tiện quảng cáo di dộng: quảng cáo trên các phương tiện giao thông, quảng cáo trên các vật phẩm quảng cáo.
  • Các phương tiện quảng cáo khác: quảng cáo bằng các sự kiện kỳ lạ, quảng cáo nhờ trên các sản phẩm khác…

Doanh nghiệp sẽ tùy theo đặc điểm thị trường, đặc điểm của sản phẩm cũng như các giai đoạn cụ thể trong chiến lược marketing để lựa chọn phương tiện quảng cáo thích hợp đồng thời phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp.

  • Quan hệ công chúng

Quan hệ công chúng là hình thức xúc tiến chủ yếu sử dụng bên thứ ba, đặc biệt là giới truyền thông để thông qua nguồn tin của bên này mà đề cập tới doanh nghiệp cùng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp một cách có lợi nhất. Trong một chừng mực nào đó quan hệ công chúng trợ giúp cho việc tung ra sản phẩm mới, hỗ trợ cho việc định vị lại sản phẩm ở giai đoạn chín muồi, gây ảnh hưởng tới một nhóm khách hàng mục tiêu, bảo vệ những sản phẩm đang gặp rắc rối với công chúng trên thị trường, xây dựng hình ảnh về doanh nghiệp. Ngày nay, hầu hết các doanh nghiệp đều có bộ phận quan hệ với công chúng. Người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi các sự kiện của quan hệ công chúng hơn gấp năm lần so với quảng cáo vì nói chung quan hệ công chúng đáng tin hơn quảng cáo. Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp.

Các công cụ quan trọng trong quan hệ với công chúng:

  • Các loại ấn phẩm: bao gồm những báo cáo tổng kết hàng năm, những cuốn sách chỉ dẫn, các bản tin nội bộ và tạp chí của doanh nghiệp.
  • Các sự kiện văn hóa, thể thao: các cuộc họp báo, hội thảo, thi đấu, các buổi lễ kỷ niệm, các sự kiện văn hóa thể thao…  Các bài phát biểu.
  • Tổ chức hội nghị khách hàng, hội thảo.

Những mối quan hệ với công chúng có thể được coi là hình thức mới phát huy tác dụng cho các phương tiện quảng cáo đã được sử dụng.

  • Hội chợ triển lãm

Hội chợ triển lãm cho phép hàng trăm doanh nghiệp lập quầy hàng tạm thời để trưng bày sản phẩm tại một vị trí đã định sẵn. Nó tạo điều kiện cho người mua tìm được người bán tập trung tại một chỗ, tạo triển vọng mua hàng, làm cho người bán có cơ hội tiếp xúc với nhiều người mua trong một thời gian ngắn và người mua có cơ hội xem xét, đánh giá về nhiều sản phẩm cùng loại tại một địa điểm mà không phải đi lại nhiều. Tham gia vào hội chợ triển lãm là một cơ hội tốt để doanh nghiệp giới thiệu, quảng bá các sản phẩm, dịch vụ của mình trực tiếp tới các đối tác khách hàng và người tiêu dùng. Đồng thời, doanh nghiệp còn có thể học hỏi, thu thập các thông tin về sản phẩm cũng như các biện pháp marketing của những doanh nghiệp đang chiếm lĩnh hàng đầu trên thị trường.

  • Bán hàng cá nhân

Đây là phương pháp nói chuyện với một hay nhiều khách hàng để bán hàng. Cách thức này có sự liên hệ trực tiếp giữa người mua và đại diện của doanh nghiệp (nhân viên bán hàng, nhân viên kinh doanh). Hình thức giao tiếp chủ yếu là gặp gỡ trực tiếp hay trao đổi qua điện thoại, chat. Bàn hàng cá nhân là một hình thức hiệu quả nhất ở giai đoạn hình thành sự ưa thích và niềm tin của người mua và giai đoạn quyết định mua trong quá trình mua hàng.

Tùy theo đặc điểm sản xuất, kinh doanh cũng như đặc điểm của sản phẩm, doanh nghiệp lựa chọn sử dụng công cụ marketing nào cho phù hợp với từng giai đoạn trong vòng đời sản phẩm nói riêng và từng giai đoạn marketing nói chung. Sử dụng một hình thức marketing phù hợp sẽ mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích to lớn trong chiến lược kinh doanh của mình. 3. Vai trò của marketing trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp  Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào để tồn tại và phát triển lâu dài trên thị trường đều cần phải xây dựng cho mình một chiến lược marketing. Chiến lược marketing là một quá trình bao gồm toàn bộ các hoạt động từ nghiên cứu thị trường để tìm hiểu và phát hiện nhu cầu hiện tại cũng như nhu cầu tiềm ẩn của khách hàng tiềm năng đến việc sản xuất sản phẩm, đưa sản phẩm vào lưu thông và thực hiện các biện pháp xúc tiến nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh dài hạn của doanh nghiệp. Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp.

Tùy theo đặc điểm sản xuất kinh doanh các sản phẩm của doanh nghiệp, marketing có các chức năng cụ thể nhưng nhìn chung, chức năng chủ yếu của marketing gồm có:

  • Nghiên cứu tổng hợp về thị trường để phát hiện ra nhu cầu hiện tại và tiềm năng của thị trường, triển vọng phát triển của thị trường.
  • Hoạch định các chính sách kinh doanh của doanh nghiệp như: Chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách xúc tiến, chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh.
  • Tổ chức việc thực hiện các chính sách nói trên như:
  • Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra những mẫu mã sản phẩm mới. Sản xuất các sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
  • Tổ chức và hoàn thiện hệ thống phân phối các sản phẩm.
  • Điều tiết và thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp từ sản xuất, bao gói, vận chuyển, bán hàng, quảng cáo, dịch vụ… theo một chương trình thống nhất – “Chương trình marketing” đối với sản phẩm mà người tiêu dùng trên thị trường có nhu cầu.
  • Thực hiện việc kiểm tra hoạt động kinh doanh theo kế hoạch.

Với các chức năng trên, marketing có vai trò hết sức to lớn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

  • Định hướng kinh doanh cho doanh nghiệp

Thông qua kết quả nghiên cứu thị trường, marketing sẽ cho doanh nghiệp nhận thấy phân đoạn thị trường mình có thể thâm nhập được. Nghiên cứu thị trường là việc tìm hiểu nhu cầu hiện tại và tiềm tàng của khách hàng mục tiêu để từ đó đưa ra những chính sách cụ thể. Việc thực hiện các chính sách sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến sẽ giúp doanh nghiệp định ra được kế hoạch kinh doanh ngắn hạn và dài hạn. Kinh doanh dựa trên chiến lược marketing giúp doanh nghiệp định hướng đúng hoạt động của mình. Sản phẩm của doanh nghiệp được sản xuất dựa trên nhu cầu của thị trường sẽ hạn chế tình trạng sản xuất không tiêu thụ được hoặc sản xuất vượt quá mức cầu. Đồng thời marketing còn giúp doanh nghiệp định vị được vị thế của mình trên thị trường cũng như vị thế so với các đối thủ cạnh tranh để từ đó đưa ra chiến lược cạnh tranh hiệu quả. Có thể nói marketing là kim chỉ nam cho hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào.

  • Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Marketing với các chính sách của mình giúp doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu vào để sản xuất ra sản phẩm mà thị trường có yêu cầu . Do đó, sản phẩm của doanh nghiệp trước hết xét về mặt chi phí sản xuất sẽ thấp hơn mặt bằng chung so với các đối thủ cạnh tranh, tạo cho sản phẩm tính cạnh tranh hơn các sản phẩm khác. Xét về mặt bao bì, nhãn hiệu được thiết kế phù hợp với chiến lược phân phối nên có được lợi thế thu hút sự quan tâm của khách hàng. Xét về hệ thống phân phối, marketing giúp doanh nghiệp tìm ra phân đoạn thị trường tốt nhất của mình và đề ra được một hệ thống phân phối phù hợp nhất để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách nhanh nhất. Xét về khả năng sản phẩm thích ứng với thị trường, việc sản xuất như thế nào, cho ai và bao nhiêu đã được thực hiện chi tiết thông qua quá trình nghiên cứu thị trường nên khả năng thích ứng với thị trường của sản phẩm là rất cao. Xét về chiến lược quảng bá sản phẩm, việc giới thiệu sản phẩm đến với người tiêu dùng được vạch ra chi tiết cho từng giai đoạn của vòng đời sản phẩm. Đó là sự kết hợp giữa nhiều hình thức quảng bá khác nhau, được tính toán chi tiết về hiệu quả mang lại cũng như chi phí cho từng hoạt động quảng bá. Xét về mặt quan hệ với khách hàng, marketing mang đến cho doanh nghiệp những cách thức hiệu quả để liên lạc, thu thập thông tin phản hồi từ khách hàng cũng như những mối quan hệ gắn bó với khách thông qua các hội nghị khách hàng hay các chương trình gặp gỡ khách hàng của mình. Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp.

Có thể nói, marketing định ra cho doanh nghiệp một chiến lược kinh doanh có tính đến tác động của mọi yếu tố trong đó đặc biệt là việc định vị vị thế của doanh nghiệp trên thị trường so với đối thủ cạnh tranh, giúp doanh nghiệp có được chiến lược cạnh tranh hiệu quả để chiếm lĩnh phân đoạn thị trường của mình.

  • Đạt mục tiêu kinh doanh dài hạn

Marketing giúp doanh nghiệp định ra kế hoạch kinh doanh dài hạn và vì thế hướng tới các mục tiêu kinh doanh lâu dài. Đó không chỉ là marketing cho một sản phẩm hay một giai đoạn phát triển nhất thời của doanh nghiệp mà marketing là chiến lược tổng thể cho toàn doanh nghiệp. Với mỗi loại sản phẩm của doanh nghiệp có một chiến lược kinh doanh cụ thể và chiến lược ấy thông qua các kế hoạch ngắn hạn nhằm đạt tới mục tiêu kinh doanh dài hạn cho doanh nghiệp. Marketing dựa trên nhu cầu hiện tại và tiềm năng của thị trường và đặc biệt marketing là khơi dậy nhu cầu tương lai của khách hàng.Chính điều này đảm bảo cho kế hoạch kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp nhằm hướng tới các mục tiêu kinh doanh trong tương lai.

II: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG VẤN ĐỀ MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP

1. Định nghĩa môi trường

1.1. Định nghĩa chung về môi trường

Môi trường là sinh quyển, sinh thái cần thiết cho sự sống tự nhiên của con người, môi trường cũng là nơi chứa đựng những nguồn tài nguyên cần thiết cho việc sản xuất và hình thành các nguồn lực cần thiết cho việc sản xuất ra của cải vật chất của loài người, trong số này một số có thể tái tạo được, một số không thể tái tạo.” [2]

Chúng ta có thể hiểu môi trường theo định nghĩa được đưa ra trong

“Luật bảo vệ môi trường” Việt Nam năm 2023: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”. [6]

Có thể thấy môi trường tự nhiên có vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống con người nói chung và quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng.

1.2. Định nghĩa môi trường trong marketing Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp.

Môi trường marketing bao gồm các yếu tố thuộc môi trường bên trong và các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài. Môi trường bên trong chứa đựng những yếu tố chủ quan của doanh nghiệp có thể kiểm soát được để quản lý hoạt động kinh doanh của mình. Các yếu tố đó bao gồm: tình hình tài chính, trình độ công nghệ, đội ngũ cán bộ nhân viên của doanh nghiệp, các quyết định từ các cấp thuộc doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh… Môi trường bên ngoài chính là thị trường đối với doanh nghiệp, ở đó chứa đựng hàng loạt các yếu tố khác nhau rất phức tạp, không lệ thuộc và không bị doanh nghiệp kiểm soát. Cùng với môi trường kinh tế, chính trị – pháp luật, xã hội và nhân khẩu, văn hóa, khoa học kỹ thuật, môi trường tự nhiên là một trong các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài – yếu tố có tác động mạnh tới hoạt động marketing của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp không kiểm soát được.

Theo quan điểm marketing: “Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố như tài nguyên đất đai, vấn đề ô nhiễm môi trường,… là những vấn đề có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, có ảnh hưởng đến các sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường, liên quan đến giá thành và lợi nhuận do vậy mà doanh nghiệp không thể coi thường ảnh hưởng của những yếu tố thuộc môi trường tự nhiên.” [24]

Theo quan điểm của giáo sư Andrew Crane: “Môi trường tự nhiên là các nguồn lực hữu hình trong tự nhiên như khí hậu, thời tiết và các tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng đến hoạt động thị trường của doanh nghiệp hoặc khả năng thực hiện các hoạt động marketing của doanh nghiệp.” [23]

Như vậy, môi trường tự nhiên có vai trò hết sức quan trọng trong chiến lược marketing của các công ty. Nó không đơn thuần chỉ là đầu vào cho quá trình sản xuất mà còn là một trong những nguồn lực tạo ra sức mạnh cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp.

2. Môi trường trong chiến lược marketing của doanh nghiệp Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp.

2.1. Môi trường trong chính sách sản phẩm

Các nhà marketing khi xây dựng chính sách sản phẩm cho chiến lược marketing môi trường cần chú ý các điểm sau:

  • Nhận biết nhu cầu mang tính môi trường của khách hàng và phát triển các sản phẩm đáp ứng nhu cầu đó.
  • Phát triển những sản phẩm thân thiện với môi trường, ít gây tác hại đến môi trường hơn các đối thủ cạnh tranh.

Khi xây dựng chính sách sản phẩm, các doanh nghiệp phải chú ý đến các cấp sản phẩm, định vị sản phẩm, vòng đời và bao bì nhãn hiệu của sản phẩm.

Mỗi sản phẩm có năm cấp, bao gồm sản phẩm cốt lõi, sản phẩm hiện thực, sản phẩm mong đợi, sản phẩm bổ sung và sản phẩm tiềm năng. Trong đó, sản phẩm cốt lõi chính là giá trị sử dụng hay công dụng của sản phẩm. Sản phẩm hiện thực là đặc điểm chung về kết cấu các bộ phận của sản phẩm được thể hiện dưới dạng vật chất thực tế như hình dạng, kích thước, màu sắc, kể cả nhãn hiệu, bao bì sản phẩm. Sản phẩm mong đợi là tập hợp những thuộc tính và những điều kiện mà người mua thường mong đợi và hài lòng khi mua sản phẩm. Sản phẩm bổ sung là phần tăng thêm vào sản phẩm hiện hữu nhữ dịch vụ hay lợi ích khác. Sản phẩm tiềm năng là toàn bộ những yếu tố bổ sung và đổi mới của sản phẩm đó có thể đạt mức cao nhất trong tương lai. [5]  Sản phẩm môi trường thuộc cấp sản phẩm thứ ba – sản phẩm mong đợi. Người tiêu dùng hiện nay mua sản phẩm không chỉ quan tâm tới giá trị sử dụng của sản phẩm đó mà họ quan tâm nhiều hơn tới mức độ hài lòng sản phẩm tiêu thụ mang lại. Có thể thấy khi mức sống của người tiêu dùng tăng lên thì sự hài lòng mà họ mong muốn sản phẩm mang lại cho mình sẽ càng cao hơn. Bởi vậy khi xây dựng chính sách sản phẩm nhà sản xuất cần chú ý tới chất lượng môi trường của sản phẩm bởi các sản phẩm môi trường luôn mang đến cho khách hàng của doanh nghiệp nhiều lợi ích hơn các sản phẩm cùng loại và khách hàng sẽ hài lòng hơn khi lựa chọn loại sản phẩm đó.

Một sản phẩm được đánh giá là có chất lượng môi trường cao thì chắc chắn phải được định vị cao hơn các sản phẩm cùng loại mà không có được các chứng nhận môi trường. Với sự khác biệt mà yếu tố môi trường tạo cho sản phẩm doanh nghiệp cần định vị chính xác sản phẩm của mình trên thị trường để từ đó đưa ra các chính sách khác trong chiến lược marketing một cách hợp lý.

Mỗi sản phẩm thông thường trải qua bốn giai đoạn là thâm nhập, tăng trưởng, chín muồi và bão hòa. Và các sản phẩm môi trường chắc chắn không nằm ngoài vòng đời này. Tuy nhiên, do vượt trội hơn các sản phẩm khác về mặt chất lượng, mang lại giá trị cao hơn cho người tiêu dùng chắc chắn vòng đời của sản phẩm môi trường sẽ dài hơn so các sản phẩm khác. Đặc biệt giai đoạn chín muồi sẽ kéo dài hơn vì khi đó người tiêu dùng đã quen với sản phẩm và cảm thấy hài lòng với chất lượng sản phẩm đó nên nhu cầu tiêu dùng cũng lâu hơn và họ không nhanh chóng chuyển qua sử dụng một loại sản phẩm khác.

Nhãn hiệu, bao bì của sản phẩm là một phương tiện hữu hiệu để truyền đạt các thông số môi trường của sản phẩm đến với người tiêu dùng. Thông qua các hình ảnh, biểu tượng về sản phẩm có thể tái chế và chứng nhận môi trường sản phẩm đạt được được in trên bao bì sản phẩm, người tiêu dùng có thể phân biệt được các sản phẩm môi trường so với các sản phẩm khác.

2.2. Môi trường trong chính sách giá Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp.

Giá là một trong những chính sách quan trọng của một chiến lược marketing. Hầu hết các khách hàng chỉ sẵn sàng trả giá cao hơn nếu sản phẩm có các giá trị gia tăng. Các giá trị đó có thể là mẫu mã, chức năng, thiết kế hoặc hương vị… Các lợi ích môi trường của sản phẩm luôn luôn là một phần giá trị gia tăng đó và nó chính là điều đưa ra quyết định lựa chọn giữa các sản phẩm có giá trị và chất lượng như nhau. Các sản phẩm thân thiện với môi trường thường có giá cao hơn một chút do doanh nghiệp phải đầu tư thêm chi phí cho quá trình sản xuất. Tuy nhiên mức giá tăng thêm đó mang lại cho khách hàng một phần giá trị gia tăng đáng kể và khách hàng sẵn sàng chi trả cho khoản tăng thêm đó. Việc định giá của sản phẩm môi trường sẽ dựa trên định vị sản phẩm khi doanh nghiệp thực hiện chính sách sản phẩm. Sản phẩm môi trường được định vị cao hơn sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường thì việc đưa ra một mức giá cao hơn giá các đối thủ và phù hợp với giá trị của sản phẩm là hoàn toàn hợp lý.

2.3. Môi trường trong chính sách phân phối 

Việc lựa chọn địa điểm và thời gian để đưa sản phẩm ra thị trường có ý nghĩa quan trọng đối với việc thu hút khách hàng. Tuy nhiên, sẽ thật khó để bắt khách hàng phải đi xa nơi họ sống để mua các sản phẩm sinh thái chỉ vì lợi ích về môi trường nó mang lại. Những nhà marketing thành công với việc giới thiệu sản phẩm sinh thái của mình cần phải đưa sản phẩm tới một thị trường rộng lớn, không phải chỉ thích ứng sản phẩm với một khu vực thị trường nhỏ bé. Ngoài ra, tại mỗi địa điểm phân phối, các nhà hoạch định chiến lược phải chỉ cho khách hàng thấy được các lợi ích môi trường của sản phẩm mình cung cấp. Hệ thống phân phối các sản phẩm này thường được tập trung trong các hệ thống siêu thị, cửa hàng có uy tín, chất lượng và ở nhữ khu vực dân cư đông đúc. Việc tập trung sản phẩm môi trường trong các hệ thống siêu thị và cửa hàng chắc chắn thu hút được sự chú ý của khách hàng.

2.4. Môi trường trong chính sách xúc tiến, hỗ trợ 

Như đã nói ở trên, chính sách xúc tiến bao gồm quảng cáo, quan hệ công chúng, bán hàng cá nhân, hội chợ triển lãm và marketing trực tiếp. Đây là chính sách có nhiều công cụ nhất để  doanh nghiệp giới thiệu đến khách hàng các hoạt động môi trường đã thực hiện trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh. Tại Việt Nam hiện nay, công cụ xúc tiến hữu hiệu nhất là quảng cáo chính vì vậy các doanh nghiệp cần tận dụng vai trò to lớn của quảng cáo, đặc biệt là trong giai đoạn mới bắt đầu quy trình làm việc mới. Thông qua quảng cáo, quan hệ công chúng,… người tiêu dùng sẽ biết nhiều đến chất lượng môi trường của các sản phẩm cũng như thấy được sự khác biệt giữa sản phẩm của doanh nghiệp với các sản phẩm cùng loại khác. Việc đưa thông tin môi trường của sản phẩm cũng như toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vào chiến lược xúc tiến hỗ trợ kinh doanh là phương thức quảng bá tốt nhất cho sản phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp. Đặc biệt ở các nước hình thức quảng cáo vẫn rất được đông đảo người tiêu dùng quan tâm và có tác động lớn tới quyết định mua hàng của họ, các doanh nghiệp cần chú trọng nhiều hơn nữa tới vai trò quảng cáo trong chiến lược marketing của mình. Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của mạng internet các hình thức marketing điện tử đang được đưa vào ứng dụng nhằm thúc đẩy hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong việc quảng bá thông tin đến các đối tác nước ngoài.  

2.5. Vai trò của môi trường trong quá trình sản xuất Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, môi trường cung cấp đầu vào cho quá trình sản xuất. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ hoạt động của doanh nghiệp. Sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên không những giúp doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận mà còn tạo ra một quy trình sản xuất hợp lý. Đặc biệt với các doanh nghiệp sử dụng nhiều nguồn tài nguyên không có khả năng tái tạo như các loại nhiên liệu. Trong điều kiện hiện nay, khi các nhà hoạch định chiến lược marketing phải đối mặt với bốn vấn đề nổi trội trong việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên: sự khan hiếm nguyên liệu thô; giá nguyên liệu tăng; mức độ ô nhiễm gia tăng nghiêm trọng và sự thay đổi vai trò của các chính phủ thì việc đưa ra một chiến lược marketing nhấn mạnh yếu tố môi trường là hết sức cần thiết. Theo quan điểm kinh doanh hiện đại, môi trường không chỉ đơn thuần là đầu vào của quá trình sản xuất mà đóng vai trò như một nguồn lực của doanh nghiệp và là một nguồn lực hữu hạn. Vì vậy, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất cũng như đảm bảo môi trường làm việc trong sạch không những giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí xử lý chất thải mà còn đem lại cho doanh nghiệp nguồn lợi từ việc sử dụng hợp lý nguồn lực của mình.

Nói cách khác doanh nghiệp thu lợi hai lần.

Đối với các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ liên quan đến môi trường, đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch. Môi trường tự nhiên giữ vai trò quyết định cho hoạt động của doanh nghiệp. Nói cách khác các doanh nghiệp đó đang khai thác trực tiếp môi trường cho hoạt động của mình. Lúc này môi trường không chỉ giữ vai trò đầu vào như đối với các doanh nghiệp sản xuất mà chính là sản phẩm đầu ra, là đối tượng kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời môi trường cũng chính là môi trường tác nghiệp của doanh nghiệp. Có thể nói không có môi trường tự nhiên thì không thể có hoạt động của loại hình doanh nghiệp này.

2.6. Vai trò của môi trường trong quá trình tiêu thụ sản phẩm

Trong điều kiện mở cửa thị trường như hiện nay, các doanh nghiệp trong nước không những phải cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài ngay trên thị trường nội địa và để vươn tới các thị trường ngoài biên giới quốc gia đòi hỏi các doanh nghiệp phải tạo cho mình một tiềm lực đủ mạnh để cạnh tranh. Sản xuất ra sản phẩm đáp ứ được yêu cầu thị trường về cả chất lượng và mẫu mã không có nghĩa doanh nghiệp đã nắm chắc chiến thắng. Các doanh nghiệp nước ngoài thường có tiềm lực tài chính mạnh hơn, có hàng hóa chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn, có công nghệ phân phối, tiếp thị tốt hơn. Do đó, để không đánh mất thị phần ngay chính trên thị trường nội địa, các doanh nghiệp trong nước bên cạnh việc chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm, củng cố hệ thống phân phối, cần lập cho mình một kế hoạch, một chiến lược marketing cụ thể và phù hợp. Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp.

Trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, môi trường có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra sự tin tưởng của khách hàng đối với sản phẩm. Những sản phẩm được xác định đạt các tiêu chuẩn, quy định môi trường tự bản thân đã tạo ra chứng nhận về chất lượng cho chính mình. Xu hướng hiện nay của người tiêu dùng trên khắp thế giới, nhất là ở Châu Âu, Hoa Kỳ và Nhật Bản là hướng tới các sản phẩm an toàn, đặc biệt là các sản phẩm thực phẩm. Một nghiên cứu về người tiêu dùng Châu Âu cho thấy, 58% sẵn sàng trả giá đắt hơn từ 5% trở lên, 33% đồng ý trả đắt hơn đến 15%. Tỷ lệ người tiêu dùng mua sản phẩm sinh thái với mục đích góp phần bảo vệ thiên nhiên cũng tăng trong vài năm qua: 17% người tiêu dùng thường xuyên mua, 51% đôi khi mua, nâng tổng tỷ lệ người tiêu dùng mua lên 68%. Lý do chọn các sản phẩm này cũng khác nhau: 74% người tiêu dùng chọn vì quan tâm đến sức khỏe, 58% vì lý do môi trường và 23% vì hương vị ngon hơn. Nhiều năm qua, ý thức bảo vệ môi trường trên thế giới, nhất là ở các nước Châu Âu, ngày càng được nâng cao, ở Châu Âu hiện nay, từ “môi trường không chỉ là xu hướng mà điều kiện bắt buộc đối với các nhà xuất khẩu muốn thâm nhập thị trường này. Có thể nói, những doanh nghiệp có được chứng nhận quốc tế về môi trường như ISO 14000, HACCP đang nắm giữ trong tay “giấy thông hành xanh” để đưa sản phẩm vào thị trường thế giới. [27]

Có được chứng nhận tiêu chuẩn môi trường, khẳng định được thương hiệu của sản phẩm trên thị trường đồng nghĩa với việc người tiêu dùng tin tưởng và sẵn sàng trả giá cho sản phẩm hơn. Một sản phẩm khi đã khẳng định được vị trí của mình chắc chắn sẽ tạo được tâm lý an tâm cho người tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm đó. Trong điều kiện kinh tế phát triển như hiện nay, có rất  nhiều sự lựa chọn cho khách hàng vì vậy một chiến lược marketing hợp lý sẽ giúp đẩy nhanh quyết định mua của khách hàng. Và chất lượng sản phẩm sẽ giúp giữ lại khách hàng cho doanh nghiệp.

3. Xu hướng “marketing xanh” (green marketing) trên thế giới

3.1. Khái niệm “marketing xanh”

Khái niệm marketing xanh (green marketing) trở nên phổ biến trên thế giới từ cuối những năm 1980, đầu những năm 2008, tuy nhiên nó đã được các nhà hoạch định chiến lược marketing đề cập đến từ trước đó rất lâu. Hiệp hội marketing Mỹ (AMA) tổ chức hội thảo đầu tiên về “marketing sinh thái” (Ecological Marketing) vào năm 1975. Từ hội nghị này, năm 1976, cuốn sách về marketing xanh đầu tiên trên thế giới của đồng tác giả Henion và Kinnear được xuất bản với tựa đề “Ecological Marketing”. [22]

Rất nhiều người cho rằng, marketing xanh chỉ là việc xúc tiến bán hàng và các chương trình quảng cáo về các đặc điểm môi trường của sản phẩm. Người tiêu dùng thường liên hệ marketing xanh với các vấn đề như nguyên liệu có thể tái sử dụng, sản phẩm thân thiện với môi trường, không gây ảnh hưởng tới tầng ozon. Đây cũng là những vấn đề marketing xanh đề cập đến tuy nhiên khái niệm về marketing xanh rộng hơn thế rất nhiều, nó có thể bao gồm các sản phẩm tiêu dùng, sản phẩm công nghiệp và thậm chí là các loại hình dịch vụ. Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp.

Hội thảo của AMA đã chỉ ra cho các nhà nghiên cứu, xây dựng chiến lược marketing thấy được tác động của marketing tới môi trường tự nhiên. Tại hội thảo đó, marketing xanh được định nghĩa là “việc nghiên cứu những tác động tích cực và tiêu cực của hoạt động marketing đối với vấn đề ô nhiễm, cạn kiệt các nguồn tài nguyên và năng lượng”. Như vậy khái niệm này bao gồm ba nội dung chính: nó là một phần của toàn bộ hoạt động marketing; nó nghiên cứu về cả hoạt động tích cực và tiêu cực; nghiên cứu một số khía cạnh của vấn đề môi trường.

Sau đó khái niệm về marketing xanh được mở rộng để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế. “Marketing xanh hay marketing môi trường bao gồm toàn bộ các hoạt động được thiết lập để tạo ra những trao đổi thuận lợi nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người mà gây tác hại tối thiểu tới môi trường tự nhiên”. [22]

Khái niệm này không chỉ bao hàm những nội dung của khái niệm trước đó mà còn bao gồm cả vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên thông qua nỗ lực hạn chế tới mức tối đa tác động của việc sản xuất tới môi trường. Điểm bổ sung này có ý nghĩa hết sức quan trọng vì nguyên nhân dẫn đến môi trường bị phá hủy chính là do sự tiêu dùng của con người. Marketing xanh hướng tới giảm thiểu tới mức thấp nhất tác hại tới môi trường chú không nhất thiết là xóa bỏ hẳn những tác động tiêu cực đó. Bởi vậy với mỗi sản phẩm của marketing xanh nên được tuyên bố  “ít gây hại cho môi trường” hơn là “thân thiện với môi trường”.

3.2. Sự cần thiết khách quan áp dụng marketing xanh trong các doanh nghiệp

Câu hỏi tại sao marketing xanh ngày càng quan trọng được giải thích một cách đơn giản theo định nghĩa cơ bản về kinh tế: “Kinh tế là phương thức làm thế nào con người sử dụng các nguồn lực hữu hạn để thỏa mãn những nhu cầu vô hạn.”

Trong thị trường nơi người tiêu dùng được tự do chọn lựa, người ta chấp nhận việc các cá nhân hoặc tổ chức có quyền cố gắng để thỏa mãn mong muốn của họ. Khi các doanh nghiệp phải đối mặt với các nguồn lực hữu hạn trong tự nhiên, họ phải đổi mới hoặc thay thế phương pháp để thỏa mãn những nhu cầu vô hạn. Và markting xanh đưa ra giải pháp cho các hoạt động marketing để sử dụng những nguồn lực hữu hạn đó đáp ứng yêu cầu của cả khách hàng cá nhân cũng như các tổ chức đồng thời đảm bảo mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.

Nguyên nhân chính, các doanh nghiệp sử dụng chiến lược marketing xanh có thể tóm lược trong các nguyên nhân dưới đây:

3.2.1. Marketing xanh mang lại cho doanh nghiệp cơ hội đạt được mục tiêu kinh doanh của mình

Trước hết là vì tất cả các khách hàng, cả cá nhân và các tổ chức ngày càng quan tâm và nhận thức rõ ràng hơn về vấn đề môi trường. Theo một cuộc khảo sát từ năm 2010 tiến hành tại 16 quốc gia, có trên 50% người tiêu dùng tại mỗi quốc gia, mà đặc biệt là tại Singapore trả lời họ thực sự quan tâm đến vấn đề môi trường liên quan tới sản phẩm họ tiêu dùng.  Một cuộc khảo sát năm 2012 tại Australia đã chỉ ra rằng có 84,6% người tiêu dùng thực sự quan tâm tới môi trường và hơn 80% trong số này trả lời họ quyết định các hành vi của mình, bao gồm cả hành vi tiêu dùng thông qua các lý do về môi trường [22]. Khi nhu cầu của người tiêu dùng thay đổi, rất nhiều các doanh nghiệp đã nhận thấy sự thay đổi đó là cơ hội cho chiến lược kinh doanh của mình. Điều đó có nghĩa những doanh nghiệp thực hiện chiến lược marketing sản phẩm thông qua các đặc điểm môi trường sẽ có lợi thế cạnh tranh hơn các doanh nghiệp không quan tâm tới vấn đề môi trường trong chiến lược marketing.

3.2.2. Áp lực từ phía chính phủ Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp.

Các chính phủ muốn bảo vệ người tiêu dùng và xã hội và chính điều này đã đẩy mạnh việc thực hiện marketing xanh. Các quy định của chính phủ liên quan đến marketing xanh được đưa ra nhằm bảo vệ người tiêu dùng qua một số biện pháp như: hạn chế những sản phẩm có hại, liệt kê danh sách các sản phẩm có hại khi người tiêu dùng hoặc tổ chức sử dụng hoặc tiêu thụ, đảm bảo tất cả các khách hàng đều có quyền đánh giá thành phần môi trường của sản phẩm… Đồng thời, chính phủ các nước đề ra các quy định để kiểm soát số lượng rác thải nguy hiểm của các doanh nghiệp. Rất nhiều các sản phẩm của doanh nghiệp phải chịu sự kiểm soát của các loại chứng nhận môi trường.

3.2.3. Áp lực cạnh tranh

Một nguyên nhân quan trọng buộc các doanh nghiệp phải đẩy mạnh chiến lược marketing xanh là vì họ muốn duy trì lợi thế cạnh tranh. Rất nhiều trường hợp các doanh nghiệp quan sát các chiến lược môi trường của đối thủ cạnh tranh và đem áp dụng cho doanh nghiệp mình. Có thể nói chính áp lực cạnh tranh đã buộc toàn bộ nền kinh tế phải đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường.

3.2.4. Chi phí và lợi nhuận

Các doanh nghiệp áp dụng chiến lược marketing xanh nhằm giảm thiểu chi phí xử lý rác thải. Trong quá trình giảm bớt lượng chất thải, các doanh nghiệp đồng thời xem xét lại quá trình sản xuất của mình. Nếu tiến quy trình sản xuất hợp lý thì không những doanh nghiệp giảm thiểu được lượng chất thải mà còn tiết kiệm được nguyên liệu đầu vào. Điều đó có nghĩa doanh nghiệp đã tiết kiệm chi phí gấp đôi. Trong một số trường hợp, doanh nghiệp nỗ lực đưa ra các giải pháp xử lý toàn bộ chất thải chứ không chỉ giảm thiểu lượng chất thải. Khi đó, phế thải của doanh nghiệp này sẽ là đầu vào của một doanh nghiệp khác. Như vậy, doanh nghiệp còn thu được khoản lợi nhuận từ việc xử lý chất thải của mình.

Có thể thấy rõ tác dụng của môi trường xanh trong hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong điều kiện môi trường đang là vấn đề cả thế giới quan tâm như hiện nay.

III. ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG TRONG VẤN ĐỀ MARKETING ĐẾN DOANH NGHIỆP Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp.

1. Giúp doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng

Mục tiêu chính của hoạt động marketing của doanh nghiệp là đáp ứng các nhu cầu của khách hàng. Khi nhu cầu đó thay đổi thì doanh nghiệp cần phải có chiến lược marketing phù hợp để bắt kịp các thay đổi đó. Xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất của con người ngày càng được nâng cao vì vậy người tiêu dùng giờ đây không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn quan tâm tới chất lượng môi trường của sản phẩm đó cũng như quan tâm nhiều hơn đến vấn đề bảo vệ môi trường. Khi thu nhập gia tăng, mỗi người dân bình thường đều sẵn lòng chấp nhận các hàng hóa có chất lượng môi trường cao. Việc doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn và quy định về môi trường trong quá trình sản xuất, sẽ cho người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn các sản phẩm xanh và sạch.

2. Nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường

Trong bối cảnh các vấn đề môi trường toàn cầu đang có nguy cơ ngày càng gia tăng, nhu cầu của người tiêu dùng về sản phẩm thân thiện với môi trường ngày càng cao thì việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn về môi trường ở các nước ngày càng trở nên phổ biến và bắt buộc. Trước tình hình đó, các sản phẩm thân thiện với môi trường dễ được chấp nhận hơn so với các sản phẩm không tuân thủ các yêu cầu nói trên. Thực tế cho thấy các công ty áp dụng các biện pháp quản lý môi trường tốt như ISO 14000, HACCP… dễ được khách hàng tiếp nhận hơn.

Mặc dù việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy định về môi trường trong nhiều trường hợp làm tăng chi phí sản xuất, do đó, trong ngắn hạn có thể ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt như hiện nay thì việc tuân thủ các tiêu chuẩn và quy định về môi trường lại tạo điều kiện cho doanh nghiệp dễ dàng vay vốn để mở rộng sản xuất và góp phần nâng cao uy tín và vị thế của doanh nghiệp trên trường quốc tế, tăng khả năng thâm nhập thị trường.

3. Tạo ra cơ cấu sản xuất phù hợp và khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động bền vững Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp.

Việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn về môi trường sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện đáng kể tình trạng quản lý chung của doanh nghiệp, nâng cao hình ảnh, uy tín, mối thiện cảm của các nhà chức trách và người tiêu dùng đối với doanh nghiệp, đảm bảo sự phát triển lâu dài và bền vững của doanh nghiệp.

Áp dụng các quy định và tiêu chuẩn về môi trường giúp các doanh nghiệp tạo ra một cơ cấu sản xuất phù hợp nhằm sử dụng hợp lý các nguồn nguyên, nhiên liệu đầu vào và hạn chế các chất thải. Để áp dụng được các tiêu chuẩn và quy định về môi trường, các doanh nghiệp cần có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cũng như một cơ chế quản lý môi trường. Có thể nhận thấy điều này ở các doanh nghiệp áp dụng bộ tiêu chuẩn ISO 14000. Bộ tiêu chuẩn này thích ứng với yêu cầu giải quyết các vấn đề môi trường với mục đích là cải thiện việc quản lý môi trường, bảo vệ môi trường, chú trọng đến ảnh hưởng xấu của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đến môi trường. Như vậy, để được cấp chứng nhận ISO 14000 các doanh nghiệp buộc phải tạo lập một cơ chế quản lý, một quy trình sản xuất phù hợp và đáp ứng được các yêu cầu của bộ tiêu chuẩn. Và chính điều này đã điều chỉnh cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp một cách hợp lý. Việc áp dụng và được chứng nhận tiêu chuẩn môi trường quốc tế không chỉ có ý nghĩa trước mắt mà có ảnh hưởng lâu dài tới hoạt động của doanh nghiệp. Hơn nữa việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn về môi trường còn tạo ra một môi trường làm việc trong lành trong doanh nghiệp. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong việc nâng cao điều kiện làm việc, sản xuất tại doanh nghiệp mà còn nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường và trong đánh giá của xã hội.

4. Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường nước ngoài

Trong điều kiện nền kinh tế thế giới hội nhập sâu và rộng như hiện nay, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội để xuất khẩu hàng hóa ra thị trường thế giới. Tuy nhiên, có thể coi các quy định về môi trường như một rào cản thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp cảu các nước kém phát triển vào thị trường các nước phát triển. Do trình độ khoa học công nghệ tại các nước này còn lạc hậu nên việc đảm bảo các điều kiện về tiêu chuẩn môi trường cho hàng xuất khẩu còn thấp. Do đó để đẩy mạnh xuất khẩu, các doanh nghiệp cần chú trọng vấn đề môi trường trong chiến lược marketing của mình. Các doanh nghiệp không những cần phải xây dựng quy trình sản xuất đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường mà doanh nghiệp còn cần đáp ứng được yêu cầu của từng thị trường riêng biệt. Có thể thấy điều này khi nói về các nhãn hiệu sinh thái đối với các sản phẩm xuất khẩu vào thị trường EU. Chúng ta phải phân biệt rõ nhãn hiệu sinh thái của một nước, chương trình nhãn hiệu sinh thái của EU và các nhãn hiệu môi trường cụ thể của sản phẩm. Các nhãn hiệu sinh thái của EU và mỗi quốc gia dựa trên một sự đánh giá đầy đủ vòng đời sản phẩm và áp dụng cho hàng loạt các sản phẩm trong khi nhãn hiệu cụ thể của sản phẩm có thể có phạm vi hạn chế hơn và chỉ áp dụng với một nhóm sản phẩm hay một quá trình sản xuất riêng lẻ nào đó. Như vậy, để có thể cạnh tranh với các sản phẩm của các quốc gia khác, các doanh nghiệp nói chung phải nghiên cứu thật chi tiết quy định về môi trường đối với từng mặt hàng để có thể thâm nhập vào các thị trường trên thế giới.

Tóm lại, môi trường có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của doanh nghiệp. Môi trường trong vấn đề marketing đóng vai trò quan trọng trong chiến lược kinh doanh lâu dài và bền vững của doanh nghiệp. Bên cạnh đó môi trường trong vấn đề marketing cũng tạo ra những thách thức đối với doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải có sự kết hợp hài hòa các yếu tố môi trường trong chiến lược marketing để thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp cũng như củng cố và khẳng định vị trí, hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường. Khóa luận: Môi trường marketing của một số doanh nghiệp.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537