Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa nền kinh tế, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc. Tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây liên tục ở mức 7-8%/ năm, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt. Tất cả các lĩnh vực kinh tế đều có những bước phát triển vượt bậc, trong đó, xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản liên tục tăng trong những năm qua và được coi là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Những năm gần đây, xuất khẩu nông sản, lâm, thuỷ sản thường xuyên chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của đất nước, năm 2025 tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản đạt 8,88 tỷ USD chiếm 22,2% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam.
Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và hiện là nước nhập khẩu hàng hoá lớn thứ hai của Việt Nam (sau Hoa Kỳ). Hàng năm Nhật Bản nhập khẩu khối lượng hàng hoá trị giá 300-450 tỷ USD (Năm 2025 trị giá nhập khẩu đạt 420,6 tỷ USD), trong đó nhập từ Việt Nam khoảng 5,121 tỷ USD, chiếm khoảng 13-16% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam.
Hơn nữa, Nhật Bản và Việt Nam lại gần gũi về mặt địa lý và có những nét tương đồng về văn hoá, điều này càng tạo nhiều thuận lợi cho Việt Nam có thể tăng cường xuất khẩu sang Nhật Bản, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ mạnh cho nhập khẩu công nghệ và thu hút đầu tư trực tiếp từ Nhật Bản vào nước ta. Hiện nay, Nhật Bản là thị trường nhập khẩu lớn nhất đối với thuỷ sản và thứ hai đối với lâm sản (chủ yếu là đồ gỗ, hàng mây tre đan thủ công mỹ nghệ) của Việt Nam với tỷ trọng tương ứng khoảng 25% và 13%. Ngoài ra, Nhật Bản còn nhập khẩu lớn các loại hàng nông sản của Việt Nam như cà phê, chè, gạo, cao su, rau quả… Đây là một thị trường rộng lớn, tiềm năng đối với các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản, song cũng là thị trường nổi tiếng khắt khe đối với hàng nhập khẩu và các rào cản thương mại phức tạp vào bậc nhất thế giới. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đều tăng qua các năm, nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng nông nghiệp Việt Nam và nhu cầu nhập khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản hàng năm của Nhật Bản. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như những yếu kém, hạn chế trong cạnh tranh, chưa đáp ứng được những yêu cầu của thị trường Nhật Bản, hệ thống chính sách xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản của chúng ta còn chưa hợp lý,… trong đó, năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam còn yếu là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho hiệu quả hoạt động xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản của chúng ta còn nhiều hạn chế. Việc nghiên cứu và tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản là hết sức cần thiết góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản của đất nước. Với những lý do trên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo, Ths. Nguyễn Thị Thu Hằng, tôi đã lựa chọn đề tài: “ Nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản” để làm khoá luận tốt nghiệp của mình.
II. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp và năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
- Đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản thông qua thực trạng xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu
- Nhật Bản và các vấn đề liên quan đến thị trường Nhật Bản: tổng quan về thị trường Nhật Bản, đặc điểm thị trường, các yêu cầu và chính sách và cơ chế nhập khẩu hàng hoá,…
- Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản, các yếu tố tác động và các giải pháp.
2. Phạm vi nghiên cứu
Khoá luận nghiên cứu vấn đề năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu trong phạm vi một số sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản chính xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản: Nông sản (cà phê, cao su, rau quả), lâm sản (đồ gỗ, mây tre đan), thuỷ sản (tôm, mực, cá). Những phân tích đánh giá này chủ yếu lấy mốc từ năm 2020 đến năm 2025.
IV. Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích- tổng hợp, thống kê- đối chiếu, kết hợp lý luận với thực tiễn trong quá trình nghiên cứu.
V. Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận được chia thành 3 chương:
- Chương I: Một số vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp
- Chương II: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản
- Chương III: Các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản
Do thời gian nghiên cứu có hạn và năng lực còn nhiều hạn chế, khoá luận chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót. Tôi kính mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khoá luận được hoàn thiện hơn. Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo Nguyễn Thị Thu Hằng, giáo viên hướng dẫn của tôi đã giúp tôi hoàn thành khoá luận này.
CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
I: DOANH NGHIỆP VÀ NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
1. Doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam
1.1. Khái niệm doanh nghiệp và đặc điểm của doanh nghiệp
Hiện nay, có khá nhiều khái niệm doanh nghiệp được đưa ra. Tuy nhiên, khái niệm doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2024 vẫn được thừa nhận phổ biến hơn cả. Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Theo Luật Doanh nghiệp 2024 thì “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” (Điều 4-khoản 1)
Từ định nghĩa trên có thể rút ra được một số đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp như sau:
- Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế độc lập
Doanh nghiệp hoạt động một cách độc lập, không phụ thuộc vào các chủ thể kinh tế khác. Điều này thể hiện ở việc doanh nghiệp có tên riêng, trụ sở giao dịch riêng, tài sản riêng, doanh nghiệp hoạt động một cách độc lập, nhân danh mình và tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình.
- Mục đích hoạt động của doanh nghiệp là kinh doanh thu lợi nhuận
Các doanh nghiệp thành lập thường đều nhằm mục đích kinh doanh. Mục tiêu của kinh doanh là thu được lợi nhuận. Vì vậy, mục đích hoạt động của doanh nghiệp là kinh doanh thu lợi nhuận.
- Doanh nghiệp hoạt động tuân thủ theo các quy định của pháp luật
Pháp luật chỉ thừa nhận và bảo vệ doanh nghiệp khi doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Doanh nghiệp phải được thành lập hợp pháp, tiến hành đăng ký kinh doanh và hoạt động kinh doanh tuân theo các quy định của pháp luật.
1.2. Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
- Tuỳ theo các tiêu chí khác nhau mà có các cách phân loại doanh nghiệp khác nhau.
Theo hình thức sở hữu vốn, có 2 loại chính là: doanh nghiệp quốc doanh hay doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là những doanh nghiệp do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, (Điều 1- Luật Doanh nghiệp 2024).
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là những doanh nghiệp do các cá nhân, tổ chức trong xã hội đầu tư vốn thành lập. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm các Hợp tác xã (hay còn gọi là doanh nghiệp tập thể) hoạt động dưới sự điều chỉnh của Luật Hợp tác xã năm 2022, các loại hình doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2024 bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân (trong đó gồm cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Đặc điểm của các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh là không có sự tham gia đóng góp vốn và sự chi phối của Nhà nước trong hoạt động tài chính.
Theo hình thức pháp lý của doanh nghiệp, có các loại: công ty TNHH (công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty TNHH một thành viên), công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân.
Công ty TNHH hai thành viên trở lên (thường được gọi tắt là công ty TNHH) là doanh nghiệp trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá năm mươi. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.(Điều 38-khoản 1 mục a, mục b, mục c- Luật Doanh nghiệp 2024)
Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty). Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. (Điều 63 khoản 1- Luật Doanh nghiệp 2024)
Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. (trích Điều 77 khoản 1 mục a, mục b- Luật Doanh nghiệp 2024). Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợp danh), ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
2. Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam
2.1. Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp
- Xuất khẩu nâng cao trình độ lao động, trình độ quản lý của doanh nghiệp
Các sản phẩm xuất khẩu phải đảm bảo đáp ứng được những yêu cầu chất lượng khắt khe của các tiêu chuẩn quốc tế và các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu. Do đó, để xuất khẩu được sản phẩm, doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một đội ngũ lao động có kỹ thuật, lành nghề, trình độ quản lý của đội ngũ lãnh đạo cũng phải được nâng cao hơn.
- Xuất khẩu nâng cao uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp
Thông qua xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam được người tiêu dùng nước ngoài biết đến và ngày càng khẳng định được thương hiệu như cà phê Trung Nguyên, sản phẩm may mặc Hanosimex, May 10,…Do đó, xuất khẩu góp phần nâng cao uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp.
- Xuất khẩu góp phần tạo mối liên kết giữa các doanh nghiệp và các bạn hàng nước ngoài
Để xuất khẩu được hàng hoá phải thông qua rất nhiều khâu như sản xuất, thu gom nguyên, vật liệu, hàng hoá, vận tải, bảo hiểm,… Trong hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp trên sẽ liên kết theo một chuỗi để sản phẩm tới được tay người tiêu dùng, do đó xuất khẩu phát triển sẽ góp phần tạo mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước. Đồng thời hoạt động xuất khẩu cũng giúp cho các doanh nghiệp tìm thấy các bạn hàng, nhà tiêu thụ, nhà cung cấp đầu vào ở nước ngoài, học hỏi thêm các kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh. Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
2.2. Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế Việt Nam
- Xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ cho nhu cầu nhập khẩu phục vụ quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước
Trước tiên phải khẳng định rằng xuất khẩu đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, kinh tế còn nhiều khó khăn thì nhu cầu vốn để nhập khẩu máy móc, trang thiết bị công nghiệp là rất lớn. Xuất khẩu sẽ tạo nguồn thu ngoại tệ để giúp chúng ta thoát khỏi tình trạng thiếu vốn đầu tư cho nhập khẩu máy móc, trang thiết bị hiện đại và đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
- Xuất khẩu góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Xuất khẩu là một phần của GDP nên xuất khẩu góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng GDP của đất nước. Năm 2021, xuất khẩu chiếm 47% tổng GDP, so với năm 2017 tăng 62%, kéo theo sự tăng tương ứng của GDP là 55%.
- Xuất khẩu góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân
Xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá, từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hoá. Phát triển xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng và trình độ của người lao động, cải thiện đời sống nhân dân, từ đó phát triển nền kinh tế theo chiều sâu.
- Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việt Nam từ chỗ chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm thô, chưa qua chế biến, giá trị gia tăng thấp, đến nay chúng ta đã chú ý đầu tư phát triển các ngành công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và các ngành công nghiệp chế tạo linh kiện điện tử và công nghiệp phần mềm. Đồng thời, thực hiện chiến lược hướng ra xuất khẩu, cơ cấu lao động của Việt Nam đang chuyển dịch theo hướng giảm dần lao động nông nghiệp, tăng tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
- Xuất khẩu thúc đẩy các mối liên kết kinh tế Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Xuất khẩu phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của hàng loạt các ngành có liên quan như công nghệ chế biến, dịch vụ, vận tải,…Chẳng hạn, xuất khẩu nông sản thúc đẩy công nghiệp chế biến nông sản, cơ khí chế tạo máy nông nghiệp phát triển. Việc phát triển các làng nghề sản xuất các sản phẩm xuất khẩu sẽ tạo hiệu ứng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, phát triển ngành du lịch.
Thông qua xuất khẩu, nền kinh tế quốc dân đang tham gia hoà nhập vào nền kinh tế thế giới, thúc đẩy các mối giao lưu về kinh tế- thương mại, văn hoá giữa các nước.
3. Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
3.1. Khái niệm năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp
- Khái niệm
Những năm gần đây, thuật ngữ “năng lực xuất khẩu” (NLXK) thường xuyên được nhắc đến trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên câu hỏi “năng lực xuất khẩu là gì?” hiện nay vẫn chưa có một khái niệm chính xác.
Một số quan điểm cho rằng khái niệm “năng lực xuất khẩu” và “khả năng xuất khẩu” là khái niệm đồng nhất và có thể thay thế cho nhau. Tuy nhiên, theo từ điển tiếng Việt “khả năng” và “năng lực” là hai phạm trù khác nhau. “Khả năng là cái có thể xảy ra trong điều kiện nhất định”, còn “năng lực liên quan chặt chẽ đến hiện thực, nó là cặp phạm trù phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa cái hiện có, hiện đang tồn tại thực sự với những gì chưa có, nhưng sẽ có trong điều kiện tương ứng, sự vật nói tới trong khả năng chưa tồn tại”. Như vậy, “năng lực là cái nội tại, cái yếu tố bên trong vốn có của đơn vị, tổ chức hay cá nhân có thể đáp ứng một vấn đề, một nhu cầu nào đó của cuộc sống, của xã hội. Năng lực chính là khả năng được hiện thực hoá. Từ đó có thể thấy rằng khái niệm “năng lực xuất khẩu” khác với khái niệm “khả năng xuất khẩu”.
Trước hết, nếu xuất phát từ nguyên nghĩa của từ “năng lực” là khả năng tối đa có thể thực hiện được một việc gì đó, thì ta có thể hiểu: Năng lực xuất khẩu của một doanh nghiệp là khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đến mức cao nhất của doanh nghiệp trên thị trường nước ngoài. Thứ hai, có thể hiểu “ Năng lực xuất khẩu là khả năng một doanh nghiệp có thể bán được sản phẩm trên thị trường quốc tế và thu lợi trên cơ sở tạo dựng và khai thác một cách hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp và những cơ hội thị trường”. Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Cách tiếp cận về năng lực xuất khẩu này có một số hàm ý. Thứ nhất, năng lực xuất khẩu là kết quả của chiến lược và các hoạt động hay nỗ lực có chủ định của một doanh nghiệp nhằm tạo dựng và khai thác một cách hiệu quả nhất các nguồn lực mà doanh nghiệp sở hữu hoặc có khả năng tiếp cận, tức là nó phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan của doanh nghiệp. Thứ hai, doanh nghiệp có thể tạo dựng được năng lực xuất khẩu trên cơ sở tiếp cận và khai thác tốt các yếu tố về lợi thế so sánh, môi trường kinh doanh thuận lợi của quốc gia, như cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, vị trí địa lý, các ngành công nghiệp bổ trợ, điều kiện nhu cầu. Định nghĩa cũng chỉ ra rằng, năng lực xuất khẩu thực sự của doanh nghiệp phải được xem xét trong điều kiện cạnh tranh tự do, tức là bất cứ sự bảo hộ hay trợ giá nào của chính phủ đều phải được loại bỏ khi xem xét năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Từ những phân tích trên, tổng hợp lại có thể hiểu “ Năng lực xuất khẩu doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp khai thác và tận dụng một cách hiệu quả các nguồn lực của mình kết hợp với những chiến lược, đối sách thích hợp trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp để thực hiện sản xuất và/ hoặc thu gom và cung ứng, trao đổi hàng hoá- dịch vụ với nước ngoài nhằm mục đích lợi nhuận cao và không ngừng mở rộng thị trường”.
- Phân biệt năng lực xuất khẩu và năng lực cạnh tranh
Khi phân tích năng lực xuất khẩu, chúng ta thường nhắc tới khái niệm năng lực cạnh tranh. Đây là hai khái niệm rất dễ nhầm lẫn và cần phải phân biệt.
Năng lực cạnh tranh là năng lực tồn tại, duy trì hay gia tăng lợi nhuận, thị phần trên thị trường cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp. Nói cách khác, đó là khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp ở cả trong và ngoài nước. Các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh bao gồm công nghệ-kỹ thuật, năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ quản lý và cuối cùng là thị trường đầu ra của sản phẩm. Nói tới năng lực cạnh tranh là nói tới khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm cùng loại cả trong và ngoài nước để giành lấy thị phần lớn hơn.
Việc phân biệt năng lực xuất khẩu và năng lực cạnh tranh chỉ mang tính chất tương đối. Thực tế hai khái niệm này có sự đan xen lẫn nhau về nội hàm. Thực chất năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp được thể hiện ở khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế, tức là doanh nghiệp có khả năng bán sản phẩm trên thị trường quốc tế và thu được lợi nhuận. Để bán được sản phẩm trên thị trường quốc tế (có năng lực xuất khẩu) thì sản phẩm đó phải được chấp nhận bởi các nhà nhập khẩu nước ngoài. Sản phẩm của doanh nghiệp có được chấp nhận hay không trên thị trường quốc tế sẽ phụ thuộc vào lợi thế (chí phí và/hoặc khác biệt hoá) mà doanh nghiệp tạo ra. Điều đó có nghĩa là năng lực cạnh tranh là điều kiện cần của năng lực xuất khẩu. Ngược lại, doanh nghiệp có năng lực xuất khẩu, nghĩa là có khả năng xuất khẩu thu lợi nhuận, thì chưa chắc doanh nghiệp đó đã có năng lực cạnh tranh quốc tế. Hiện nay, cạnh tranh trên thương trường diễn ra vô cùng khốc liệt, năng lực cạnh tranh rất dễ bị triệt tiêu và năng lực xuất khẩu không thể trở thành năng lực cạnh tranh nếu doanh nghiệp không tích cực chủ động thường xuyên nâng cao chất lượng và cải tiến, đổi mới sản phẩm phù hợp với những biến động của thị trường.
3.2. Các yếu tố cấu thành năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Tuỳ theo quan điểm tiếp cận mà có những cách hiểu khác nhau về yếu tố cấu thành năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở đây, theo quan điểm của tác giả, các yếu tố cấu thành năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp như sau:
- Năng lực nghiên cứu thị trường và tiếp thị, tìm kiếm khách hàng
Việc nghiên cứu và phân tích thị trường sẽ giúp doanh nghiệp tìm ra được những thị trường hay phân đoạn thị trường có tiềm năng với doanh nghiệp, đồng thời giúp doanh nghiệp có những điều chỉnh về sản xuất, chiến lược kinh doanh phù hợp với các thay đổi của người tiêu dùng.
Về năng lực Marketing, tìm kiếm khách hàng: Phương thức Marketing có ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động xuất khẩu của hàng hoá. Các phương thức Marketing phổ biến là quảng cáo, tham gia hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế, quảng cáo, xúc tiến thông qua các Phòng thương mại và công nghiệp và các tổ chức hỗ trợ các nhà xuất khẩu nước ngoài của nước sở tại (như JETRO của Nhật Bản), tổ chức các hoạt động PR,…
- Năng lực tổ chức sản xuất
Khả năng chủ động về nguyên liệu đầu vào sản xuất và khả năng sản xuất: Khả năng này cho thấy doanh nghiệp có khả năng, tiềm lực cung cấp sản phẩm ra thị trường ra Với các doanh nghiệp đi thu mua nguyên liệu để chế biến xuất khẩu, việc có đủ lượng nguyên liệu cho các đơn hàng đúng thời gian, tiến độ luôn là một bài toán hóc búa đòi hỏi doanh nghiệp phải có một chiến lược thu mua hợp lý. Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Giá cả của sản phẩm: Giá cả của sản phẩm luôn là một trong những điều khoản quan trọng nhất trong mọi hợp đồng. Giá cả của sản phẩm phải đảm bảo đủ bù đắp chi phí bỏ ra và đảm bảo có lợi nhuận với nhà xuất khẩu đồng thời cũng chỉ được nhà nhập khẩu chấp nhận khi đảm bảo lợi nhuận của nhà nhập khẩu. Giá cả sản phẩm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, song cơ bản do giá thành sản xuất quyết định. Vì vậy, khi đánh giá năng lực tổ chức sản xuất của một doanh nghiệp, người ta thường xem xét khả năng tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Chất lượng của sản phẩm: Hàng hoá chỉ có thể được người tiêu dùng tin dùng khi có giá cả hợp lý và chất lượng đảm bảo. Chất lượng cao, giá cả hợp lý là những tiêu chí tạo nên sức cạnh tranh của hàng hoá và doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế. Sức cạnh tranh của hàng hoá và doanh nghiệp tăng sẽ góp phần nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
- Năng lực tổ chức xuất khẩu
Năng lực tổ chức xuất khẩu thể hiện khả năng thực hiện hợp đồng xuất khẩu, khả năng giao hàng đúng hạn và nghệ thuật bán hàng phù hợp, phương thức thanh toán thuận tiện, năng lực thực hiện những dịch vụ sau bán hàng của doanh nghiệp. Năng lực tổ chức xuất khẩu của doanh nghiệp thưòng gồm một số mặt:
- Năng lực đàm phán, ký kết các hợp đồng xuất khẩu;
- Năng lực thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu (thu mua, vận chuyển hàng hoá xuất khẩu, mua bảo hiểm, thuê tàu,…);
- Năng lực thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế;
- Năng lực xử lý các tình huống khi các tranh chấp thương mại phát sinh.
- Khả năng chiếm lĩnh và mở rộng thị trường.
Khả năng này phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp đối với thị trường. Vấn đề chiếm lĩnh và mở rộng thị trường phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, song, về cơ bản doanh nghiệp cần phải xây dựng được chiến lược kinh doanh và chiến lược thị trường dài hạn.
3.3. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Muốn đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp, ta cần xây dựng một hệ thống chỉ tiêu đánh giá. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp có thể được xây dựng bao gồm hai nhóm chỉ tiêu cơ bản: Nhóm chỉ tiêu về điều kiện sản xuất kinh doanh và nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh.
3.3.1. Nhóm chỉ tiêu về điều kiện sản xuất kinh doanh
- Chiến lược xuất khẩu của doanh nghiệp
Chiến lược xuất khẩu của doanh nghiệp thể hiện tầm nhìn chiến lược của doanh nghiệp, hoạch định được mục tiêu cần đạt được, thể hiện khả năng phân tích, dự báo và có giải pháp đối với những thay đổi của thị trường trong tương lai: nhu cầu, thị hiếu, biến động cung cầu,…Đồng thời chiến lược xuất khẩu cũng thể hiện hiểu biết của doanh nghiệp về môi trường kinh doanh về môi trường ngành, về môi trường pháp lý, hệ thống chính sách pháp luật, về cung cầu thị trường, đầu vào, đầu ra của sản xuất.
Chiến lược xuất khẩu của doanh nghiệp thường gồm: thời hạn của chiến lược, tầm nhìn, mục đích hướng tới như thị trường, dự báo nhu cầu và khả năng đầu vào, năng lực sản xuất của doanh nghiệp, phương thức tiến hành, phân tích cơ hội thách thức với doanh nghiệp, xem xét trên cơ sở tương quan với các doanh nghiệp, đối thủ cạnh tranh khác
- Hệ thống quản lý chất lượng của doanh nghiệp
Việc thực hiện và nhận được các chứng nhận quốc tế góp phần nâng cao vị thế của doanh nghiệp trong lòng người tiêu dùng, đẩy mạnh khả năng được người tiêu dùng chú ý. Đồng thời việc duy trì thể hiện uy tín và cam kết của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng về việc đảm bảo chất lượng sản phẩm ổn định, đáng tin cậy.
- Các chỉ tiêu thuộc về sản phẩm:
- Chất lượng sản phẩm
Mỗi loại sản phẩm có những yêu cầu khác nhau về chất lượng. Tuy nhiên, sản phẩm đảm bảo chất lượng là sản phẩm phải được sản xuất đúng quy trình công nghệ từ khâu cung ứng nguyên liệu cho tới khi thành thành phẩm. Quá trình sản xuất phải được kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ ở tất cả các khâu. Sản phẩm làm ra phải được kiểm định bởi hệ thống kiểm tra chất lượng của công ty và/hoặc hệ thống kiểm tra chất lượng của khách hàng và/ hoặc hệ thống kiểm tra của tổ chức đo lường chất lượng có uy tín, được công nhận. Sản phẩm còn phải đảm bảo thoả mãn các yêu cầu vệ sinh, môi trường, phải mang tính xã hội, không gây hại tới sức khoẻ người tiêu dùng. Nâng cao chất lượng sản phẩm để nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp là vấn đề chung mà bất kì doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm giải quyết trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt hiện nay.
- Giá cả của sản phẩm Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Giá cả là một trong những tiêu chí quan trọng ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng, do đó giá sản phẩm phải hợp lý, tương xứng với giá trị của sản phẩm. Đối với doanh nghiệp, giá sản phẩm phải đảm bảo đủ bù đắp chi phí sản xuất đồng thời đảm bảo yêu cầu đem lại lợi nhuận. Nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm luôn là yếu tố căn bản nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
- Bao bì, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm
Ngày nay, bao bì sản phẩm không chỉ dừng lại ở việc là hình thức, vỏ bọc bên ngoài sản phẩm mà còn là biểu tượng của doanh nghiệp. là sức hút của sản phẩm đối với người tiêu dùng. Kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm phải phù hợp với thị trường, thu hút sự chú ý và kích thích nhu cầu mua hàng của người tiêu dùng. Do đó , kiểu dáng sản phẩm phải tiện lợi, đa dạng và phù hợp với thẩm mỹ của người tiêu dùng. Để nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần hết sức chú ý đến khâu thiết kế bao bì, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm
- Uy tín thương hiệu sản phẩm
Trong nỗ lực thâm nhập thị trường, gắn liền với việc nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, doanh nghiệp phải không ngừng xây dựng uy tín cho sản phẩm. Uy tín thương hiệu của sản phẩm được tạo nên bởi chất lượng sản phẩm, hệ thống phân phối, các dịch vụ sau bán hàng,… Uy tín thương hiệu của sản phẩm do người tiêu dùng đánh giá, lựa chọn và có ảnh hưởng quan trọng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Xây dựng uy tín thương hiệu sản phẩm cũng là xây dựng hình ảnh của doanh nghiệp, khả năng tiếp cận của doanh nghiệp với người tiêu dùng càng tăng lên, năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp cũng được nâng cao. Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
- Các yếu tố thuộc nguồn nhân lực và quản lý của doanh nghiệp
Đội ngũ nhân lực của doanh nghiệp là một nguồn lực quan trọng cốt yếu của doanh nghiệp. Chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp thường được thể hiện ở các yếu tố: trình độ học vấn trung bình, năng suất lao động, tuổi đời trung bình, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo và có kinh nghiệm, tỷ lệ lao động có trình độ tay nghề cao, khả năng tin học và ngoại ngữ của người lao động, khả năng tác nghiệp theo nhóm và năng lực sáng tạo,… Về chất lượng của đội ngũ quản lý thường được thể hiện ở các yếu tố: khả năng tổ chức và phân công công việc, khả năng xây dựng chiến lược và khả năng kiểm tra, kiểm soát quá trình kinh doanh hoạt động của doanh nghiệp, trình độ học vấn, thâm niên,…
- Trình độ ứng dụng khoa học công nghệ của doanh nghiệp
Hiện nay, khoa học công nghệ đã trở thành một phần vô cùng quan trọng trong việc tạo nên năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào nắm bắt được khoa học công nghệ coi như đã có được chìa khoá của sự thành công. Trình độ khoa học công nghệ của doanh nghiệp được đánh giá thông qua: khả năng tự phát triển và ứng dụng những công nghệ mới, mức độ hiện đại của máy móc, chiến lược công nghệ của doanh nghiệp,…
- Hiệu quả của hoạt động quảng cáo, xúc tiến thương mại
Hoạt động quảng cáo, xúc tiến thương mại giúp mở rộng hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường và định vị hình ảnh trong lòng người tiêu dùng. Hiệu quả của hoạt động quảng cáo, xúc tiến thương mại được đánh giá thông qua: trình độ học vấn và kinh nghiệm của đội ngũ quảng cáo, xúc tiến thương mại của doanh nghiệp, cơ hội và năng lực tiếp cận với các công nghệ truyền thông hiện đại, khả năng ghi nhớ của người tiêu dùng đối với sản phẩm và đối với doanh nghiệp, khả năng xây dựng các kế hoạch xúc tiến thương mại, mức độ thành công của các chiến dịch quảng cáo,…
3.3.2. Nhóm chỉ tiêu về kết quả và hiệu quả kinh doanh
- Chỉ tiêu về lượng và trị giá xuất khẩu của doanh nghiệp
Lượng xuất khẩu: thể hiện trình độ lực lượng sản xuất của từng doanh nghiệp, phản ánh quy mô, cũng như khả năng sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp. Giá trị xuất khẩu là yếu tố đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cũng phản ánh khả năng huy động nguồn lực cho sản xuất, khả năng thực hiện đơn hàng của doanh nghiệp. Với một giá bán không đổi, khối lượng tiêu thụ tăng sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Giá xuất khẩu: Giá hàng hoá/ dịch vụ là một yếu tố khách quan nhưng năng lực xuất khẩu có thể được đánh giá thông qua chính sách định giá của doanh nghiệp đối với hàng hoá/ dịch vụ xuất khẩu. Chính sách giá hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận nhiều hơn. Giá xuất khẩu sẽ được so sánh giữa nhiều kỳ với nhau, giữa nhiều thị trường với nhau, giữa giá doanh nghiệp định ra và giá thị trường trong tương quan với biến động lượng xuất khẩu…để đánh giá hiệu quả chính sách giá của doanh nghiệp trên thị trường.
Trị giá xuất khẩu: được tính bằng công thức: q*p, trong đó q là lượng xuất khẩu và p là đơn giá mặt hàng xuất khẩu, phản ánh trị giá thu về của doanh nghiệp sau một kỳ xuất khẩu. Đây cũng là một chỉ tiêu để đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp thông qua việc theo dõi sự biến động trị giá xuất khẩu qua các kỳ kinh doanh (tương đối và tuyệt đối), so sánh với đối thủ cạnh tranh (trong nước và nước ngoài) dựa trên thị phần, tốc độ tăng trưởng, so sánh với ngành.
- Chỉ tiêu về chi phí
Chi phí nói chung là sự hao phí thể hiện bằng tiền trong quá trình kinh doanh với mong muốn mang về một sản phẩm, dịch vụ hoàn thành hoặc một kết quả kinh doanh nhất định. Chi phí phát sinh trong hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là doanh thu thu và lợi nhuận. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, quản lý tốt được chi phí sẽ góp phần thể hiện năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Theo cách phân loại chung hay phân loại theo hệ thống kế toán hiện hành, chi phí được phân loại thành chi phí sản xuất, chi phí ngoài sản xuất, chi phí thời kỳ và chi phí sản phẩm. Chi phí sản xuất gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung (chi phí nhân viên, chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ; chi phí khấu hao tài sản cố định; chi phí điện nước, thuế sản xuất; chi phí bằng tiền khác). Chi phí ngoài sản xuất gồm chi phí bán hàng (chi phí nhân viên; chi phí vật liệ, công cụ dụng cụ; chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí vận chuyển, bốc xếp, chi phí quảng cáo, tiếp thị; chi phí bằng tiền khác) và chi phí quản lý doanh nghiệp (chi phí nhân viên văn phòng; chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ; chi phí khấu hoa tài sản cố định; thuế, lệ phí, lãi vay; chi phí hội nghị, tiếp khách, công tác; chi phí bằng tiền khác. Chi phí thời kỳ là chi phí phát sinh chung trong một kỳ kinh doanh, có thể liên quan đến nhiều đối tượng hay nhiều sản phẩm khác nhau. Chi phí sản phẩm là chi phí gắn liền, làm nên giá trị sản phẩm, đang tồn kho hoặc đã được bán. Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Khi phân tích chi phí của doanh nghiệp, người ta thường dựa trên một số chỉ tiêu chủ yếu có liên quan như:
- Mức chênh lệch tuyệt đối của chi phí:( F): DF=F1-Fo
- Tỷ suất phí của từng kỳ kinh doanh: (F’): F’= [F/DT]*100%
- Tỷ lệ chênh lệch tỷ suất phí ( F’): F’=F’1-F’o
- Mức độ tăng, giảm tỷ suất phí ( tf): tf=[ F’/F’o]*100%
- Mức bội chi (U): U= F’.DTkỳ nghiên cứu
(F: Chi phí (các loại), DT: Doanh thu trong hoạt động xuất khẩu)
- Chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động xuất khẩu
Hiệu quả là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mối quan hệ tương đối giữa việc sử dụng tổng các yếu tố đầu và và khả năng tạo ra toàn bộ các yếu tố đầu ra trong một điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Hiệu quả có ảnh hưởng quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp nói riêng. Công thức chung của hiệu quả thường được áp dụng là:
Các yếu tố đầu vào thường là: chi phí, nguồn vốn vay và đầu tư, nguồn nhân lực,… Các yếu tố đầu ra là: doanh thu, lợi nhuận, số lượng sản phẩm xuất khẩu,…
Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời của doanh nghiệp xuất khẩu: gồm tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu và hệ số sinh lời của vốn đầu tư cho hoạt động xuất khẩu. Tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu được tính theo công thức: phản ánh hiệu quả của giá thành sản xuất lô hàng xuất khẩu thông qua chỉ tiêu mức sinh lời. Hệ số sinh lời của vốn đầu tư cho hoạt động xuất khẩu được tính theo công thức:
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh năng suất lao động bình quân
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả từng hợp đồng, dự án
Các chỉ tiêu tài chính tổng hợp của doanh nghiệp Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp mạnh thì khả năng đầu tư cho xuất khẩu tốt, qua đó năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp tăng lên. Các chỉ tiêu tài chính thường được sử dụng là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán, chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn, chỉ tiêu lợi nhuận, chỉ tiêu cơ cấu tài chính.
- Nhóm chỉ tiêu thanh toán: Hệ số khái quát:
Các chỉ tiêu dùng để xem xét tình hình cụ thể gồm: các khoản phải thu và các khoản phải trả.
Hai chỉ tiêu dùng xem xét các khoản phải thu là: Số vòng quay càng cao (tức số ngày thu tiền càng ngắn) chứng tỏ tình hình quản lý và thu công nợ tốt, doanh nghiệp có khách hàng quen thuộc, ổn định, thanh toán đúng hạn. Mặt khác, số vòng quay quá cao thể hiện phương thức bán hàng cứng nhắc, gần như bán hàng thu tiền mặt, khó cạnh tranh và mở rộng thị trường. Tuỳ vào tình hình cụ thể, chỉ tiêu trên sẽ được vận dụng cho phù hợp.
Các khoản phải trả: Tổng quát về tình hình khả năng thanh toán (trả nợ) thể hiện bằng hệ số thanh toán chung:
Khả năng thanh toán gồm tất cả các nguồn có thể huy động dùng để trả nợ. Nhu cầu thanh toán là các khoản nợ cần phải trả trước mắt hoặc trong một thời hạn ấn định. Hệ số thanh toán chung là dạnh hệ số so sánh cân bằng vì vậy trường hợp tốt nhất là hệ số bằng một. Nếu khác đi, dẫn đến hai cực: thiếu khả năng thanh toán hoặc thừa vốn, gây ứ đọng.
Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn: Thể hiện qua số vòng quay vốn chung, số vòng luân chuyển hàng hoá và thời hạn thanh toán.
Số vòng quay vốn chung là hệ số tổng quát về số vòng quay tổng tài sản tức so sánh mối quan hệ giữa tổng tài sản và doanh thu hoạt động. Hệ số này càng cao thị hiệu quả sử dụng tài sản càng cao.
Số vòng luân chuyển hàng hoá nói lên chất lượng và chủng loại hàng hoá phù hợp trên thị trường. Hệ số này là một chỉ tiêu đặc trưng, thường được sử dụng khi phân tích hiệu quả sử dụng vốn.
Nhóm chỉ tiêu lợi nhuận: gồm hệ số lãi gộp, hệ số lãi ròng, suất sinh lời của tài sản, suất sinh lời của vốn chủ sở hữu và phương trình DuPont. Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Hệ số lãi gộp: Lãi gộp là khoản chênh lệch giữa giá bán và giá vốn. Không tính đến chi phí kinh doanh, hệ số lãi gộp biến động sẽ là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận. Hệ số lãi gộp thể hiện khả năng trang trải chi phí đặc biệt là chi phí bất biến, để đạt lợi nhuận.
Lãi ròng ở đây được hiểu là lợi nhuận sau thuế. Hệ số lãi ròng hay còn gọi là suất sinh lời của doanh thu, thể hiện một đồng doanh thu có khả năng tạo ra bao nhiêu lợi nhuận ròng.
Suất sinh lời của tài sản ROA: mang ý nghĩa: một đòng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Hệ số càng cao thể hiện sự sắp xếp, phân bổ và quản lý tài sản càng hợp lý và hiệu quả.
Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu ROE: mang ý nghĩa một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu lợi nhuận ròng cho chủ sở hữu.
- Phương trình Dupont:
ROE=ROA*Đòn bẩy tài chính
Trong đó, đòn bẩy tài chính hay đòn cân tài chính hay đòn cân nợ FL (financial leverage) là chỉ tiêu thể hiện cơ cấu tài chính của doanh nghiệp:
Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính gồm hệ số nợ so với tài sản và hệ số nợ so với vốn.
- Hệ số nợ hay tỉ số nợ là phần nợ vay chiếm trong tổng nguồn vốn:
- Hệ số nợ so với vốn:
Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu- một cách khác viết về đòn cân tài chính, là loại hệ số cân bằng dùng so sánh giữa nợ vay và vốn chủ hữu, cho biết cơ cấu tài chính của doanh nghiệp rõ ràng nhất.
Hệ số càng cao hiệu quả mang lại cho chủ sở hữu càng cao trong trường hợp ổn định khối lượng hoạt động và kinh doanh có lãi. Hệ số càng thấp, mức độ an toàn càng đảm bảo trong trường hợp khối lượng hoạt động bị giảm và kinh doanh thua lỗ.
II: CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp chịu tác động của rất nhiều nhân tố. Ta có thể chia các nhân tố này thành hai nhóm chủ yếu: Nhóm các nhân tố thuộc môi trường nội tại của doanh nghiệp và nhóm các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp
1. Các nhân tố thuộc môi trường nội tại doanh nghiệp
1.1. Nguồn nhân lực
Yếu tố con người luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, kinh doanh của một doanh nghiệp. Do đó, quy mô và chất lượng đội ngũ lao động sẽ quyết định thành công hay thất bại của doanh nghiệp.
Quy mô nguồn nhân lực biểu hiện ở một số tiêu chí như sau: số lượng nhân viên trong doanh nghiệp, số lượng nhân viên mà doanh nghiệp có thể điều động trong một khoảng thời gian nhất định, tốc độ tăng trưởng hàng năm về số lượng nhân viên, nhu cầu về nhân lực trong tương lai của doanh nghiệp…
Vì các sản phẩm của doanh nghiệp xuất khẩu là nhằm bán ra trên thị trường nước ngoài phải đảm bảo phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế cũng như các tiêu chuẩn của thị trường nước nhập khẩu, do đó, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho xuất khẩu thường xuyên được yêu cầu cao hơn, khắt khe hơn so với nhân lực sản xuất những sản phẩm bán cho thị trường nội địa. Trước hết, chất lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua tỷ lệ lao động có trình độ học vấn, bằng cấp , đã qua đào tạo, tỷ lệ lao động có kinh nghiệm trong doanh nghiệp, số lượng chuyên gia, số lượng người được nhận được các chứng chỉ được quốc tế công nhận. Bên cạnh đó, trình độ ngoại ngữ, tin học của nhân viên cũng là một đòi hỏi quan trọng đối với nhân viện của các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là các doanh nghiệp có website thương mại điện tử mua bán trực tuyến.
Các chính sách đãi ngộ đối với người lao động là liều thuốc tinh thần kích thích sự lao động hăng say, sáng tạo của đội ngũ nhân viên. Các chính sách về lương, thưởng, chính sách hỗ trợ đào tạo, tập huấn, chuyển giao kỹ thuật, bổ nhiệm…có vai trò to lớn duy trì và phát huy đối với nhân tố nguồn nhân lực của năng lực xuất khẩu.
1.2. Năng lực tài chính Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động tài chính luôn giữ vai trò quan trọng đối với sự sống còn của doanh nghiệp. Năng lực tài chính của doanh nghiệp thường được thể hiện thông qua hai yếu tố chính là: Khả năng huy động vốn và hiệu quả của sử dụng vốn.
Như ta đã biết, vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập doanh nghiệp và tiến hành sản xuất kinh doanh. Quy mô vốn của doanh nghiệp sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp theo đuổi được các hợp đồng, dự án, chiến lược đòi hỏi đầu tư lớn và trong dài hạn. Thông thường, người ta thường dựa vào chỉ tiêu quy mô vốn của doanh nghiệp để đánh giá quy mô của doanh nghiệp.
Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp biểu thị khả năng doanh nghiệp đáp ứng được các đòi hỏi về vốn để thực hiện các quyết định đầu tư. Đứng trước một hợp đồng, dự án, chiến lược cần đầu tư, doanh nghiệp có khả năng huy động vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu (vốn góp, các quỹ, tăng vốn thông qua phát hành cổ phiếu mới đối với công ty cổ phần) hay từ các nguồn khác bên ngoài doanh nghiệp (xin tài trợ, hỗ trợ của Nhà nước, vay các quỹ tín dụng, vay ngân hàng, phát hành trái phiếu,…). Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Mức độ phát triển của thị trường tài chính, quy mô doanh nghiệp, uy tín và tình hình tăng trưởng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,…
Tuy nhiên không phải cứ có nhiều vốn, khả năng huy động vốn lớn là doanh nghiệp có khả năng sử dụng vốn một cách hiệu quả. Hiệu quả của việc sử dụng vốn của doanh nghiệp biểu hiện thông qua năng lực tài chính trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn, khả năng tài trợ cho các rủi ro về tài chính, khả năng đảm bảo các cân đối về vốn. Ngoài ra, một chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đó là năng lực tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng duy trì vị thế của doanh nghiệp trong điều kiện tăng trưởng kinh tế chung và kinh tế ngành. Hiệu quả của việc sử dụng vốn trong doanh nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh và tài năng kinh doanh của bộ máy quản lý, lãnh đạo.
1.3. Tổ chức quản trị doanh nghiệp Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Để việc sản xuất kinh doanh đi đúng hướng, việc tổ chức quản trị doanh nghiệp đóng một vai trò quyết định. Khả năng quản trị doanh nghiệp bao gồm tổng thể các hoạt động từ việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều hành quản lý các nguồn lực đầu vào của doanh nghiệp để đạt được đầu ra hiệu quả theo đúng kế hoạch đã định, Hoạt động của doanh nghiệp bao gồm rất nhiều mảng từ tài chính, nhân sự, sản xuất, quản lý chất lượng,… do đó, năng lực quản trị của doanh nghiệp cũng phải bao quát, trải rộng trên tất cả các lĩnh vực đó. Năng lực quản trị biểu hiện trước hết thông qua sự phân chia hợp lý các khâu, các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp, số lượng và trình độ các nhân viên chuyên trách công tác quản lý ở mỗi khâu, mỗi bộ phận, năng lực và kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp của ban lãnh đạo doanh nghiệp, khả năng điều chỉnh bộ máy quản lý phù hợp khi doanh nghiệp trở nên lớn mạnh,… Bên cạnh đó, năng lực quản lý biểu hiện thông qua hiệu quả của từng mảng hoạt động. Nhìn chung, doanh nghiệp thường được đánh giá là có năng lực quản trị tốt là doanh nghiệp mà: có định hướng, chiến lược phát triển rõ ràng, các chính sách đãi ngộ đối với người lao động thực hiện nhất quán, hoạt động đào tạo, tập huấn, chuyển giao công nghệ đạt hiệu quả cao và đi vào thực chất. Hoạt động tài chính doanh nghiệp hỗ trợ tích cực đối với việc thực hiện các kế hoạch kinh doanh. Hệ thống giám sát chất lượng hiệu quả đảm bảo mỗi sản phẩm làm ra tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt nhất về tiêu chuẩn chất lượng doanh nghiệp đặt ra và tiêu chuẩn chất lượng của thị trường nước nhập khẩu. Đội ngũ lãnh đạo năng động, có khả năng nhìn xa trông rộng trước những biến động thay đổi của thị trường và có những quyết sách phù hợp.
1.4. Năng lực công nghệ
Ngày nay khoa học công nghệ phát triển như vũ bão. Năng lực công nghệ giữ vị trí quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Năng lực công nghệ của doanh nghiệp trước hết biểu hiện thông qua số lượng sản phẩm doanh nghiệp sản xuất ra, số lượng các bí quyết kỹ thuật, bằng phát minh, sáng chế, các chứng chỉ chất lượng quốc tế mà doanh nghiệp đạt được. Ở một số lĩnh vực, năng lực công nghệ còn được biểu hiện thông qua mức độ độc quyền mà doanh nghiệp đang nắm giữ.
- Khả năng chiếm lĩnh thị trường và thương hiệu
Khả năng chiếm lĩnh thị trường khẳng định sức mạnh của doanh nghiệp trong việc sản xuất và cung cấp những sản phẩm phù hợp với thị trường của doanh nghiệp. Khả năng này thường được biểu thị thông qua thị phần của doanh nghiệp, doanh nghiệp càng chiếm thị phần cao thì khả năng thâm nhập và chi phối được thị trường lớn, do đó, năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp càng tăng.
Thương hiệu là tài sản quý giá mà tất cả các doanh nghiệp cần phải có. Thương hiệu không đơn thuần là phương tiện cạnh tranh mà còn có giá trị vật chất, tinh thần to lớn. Uy tín thương hiệu của doanh nghiệp gắn liền với chất lượng sản phẩm, hệ thống phân phối sản phẩm, các dịch vụ bán hàng, uy tín kinh doanh của doanh nghiệp,.. và có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
2. Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
2.1. Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh quốc tế
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá ngày nay diễn ra trong xu thế toàn cầu hoá và bùng nổ của cách mạng khoa học kỹ thuật. Môi trường kinh doanh quốc tế có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp
- Xu thế toàn cầu hoá và hợp tác liên kết giữa các quốc gia, khu vực
Đặc điểm nổi bật của xu thế này là sự liên kết ngày càng chặt chẽ giữa các quốc gia, thông qua việc xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các nước, tiến tới tự do hoá thương mại. Toàn cầu hoá và khu vực hoá đồng thời mang đến những cơ hội và thách thức cho tất cả các quốc gia. Các rào cản thương mại bị dỡ bỏ giúp doanh nghiệp có cơ hội tham gia vào một thị trường rộng lớn, bình đẳng, tuân theo một luật chơi chung. Tuy nhiên điều đó cũng đồng nghĩa với cạnh tranh vô cùng khốc liệt. Các sản phẩm của doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh, năng lực xuất khẩu cao sẽ khó có thể tiếp cận với thị trường các nước. Một yêu cầu bức thiết được đặt ra là doanh nghiệp cần nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp để có thể kinh doanh trong một môi trường luôn luôn biến động.
- Sự bùng nổ của khoa học công nghệ Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật đã tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống con người. Trong lĩnh vực thương mại, khoa học công nghệ cho phép nâng cao giá trị của sản phẩm, rút ngắn vòng đời của sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh, năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp. Khoa học công nghệ hiện nay là công cụ đắc lực giúp doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường. Các doanh nghiệp phải liên tục áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao giá trị, khả năng cạnh tranh cho sản phẩm và nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp mình.
- Những biến động về tình hình chính trị- an ninh trên thế giới
Tình hình an ninh chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Hiện nay, trên thế giới, xu thế phân cực, việc mở rộng của các khối quân sự, sự tăng cường liên kết giữa các quốc gia, khu vực, nạn khủng bố,… đang hàng ngày hàng giờ diễn ra. Do đó, khi xây dựng chiến lược kinh doanh, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm xuất khẩu cần chú đến những biến động kể trên nhằm hạn chế tối đa những rủi ro trong kinh doanh.
2.2. Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh trong nước
Môi trường kinh doanh trong nước với các nhân tố như sự phát triển của nền kinh tế, cơ sở hạ tầng, hệ thống chính sách pháp luật hiện hành,… cũng có những ảnh hưởng nhất định đến năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
- Sự phát triển của nền kinh tế
Sự phát triển của nền kinh tế tạo thuận lợi cho môi trường kinh doanh trong nước, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp . Từ đó, năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp được nâng lên, doanh nghiệp có thể thâm nhập được vào thị trường các nước khác nhau.
- Cơ sở hạ tầng
Các điều kiện như đường giao thông, điện, nước, hệ thống thông tin liên lạc, cầu cảng, sân bay,…có thể tạo thuận lợi hoặc gây khó khăn trong việc lưu thông, xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp. Do đó, việc cải thiện cơ sở hạ tầng cũng giúp nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
- Hệ thống chính sách pháp luật hiện hành Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Hệ thống chính sách pháp luật hiện hành có liên quan đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp tạo nên môi trường pháp lý chi phối hiệu quả hoạt động xuất khẩu. Sự hoàn thiện, ổn định và minh bạch của hệ thống chính sách pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu và góp phần nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp


Pingback: Khóa luận: Giải pháp năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp