Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
1. Khái quát về nền kinh tế Nhật Bản
Nhật Bản hiện nay là thị trường tiêu thụ hàng hoá đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ với dân số 127,4 triệu người, GDP đạt 4,9 nghìn tỷ GDP, bình quân đầu người đạt 38.400 USD (năm 2025). Nhật Bản cũng là một thị trường quy mô lớn với các nhà đầu tư và hàng hoá nước ngoài với kim ngạch nhập khẩu hàng năm lên tới 400-450 tỷ USD (năm 2025 kim ngạch nhập khẩu đạt 420,6 tỷ USD). Về cơ cấu kinh tế, dịch vụ là ngành có vai trò quan trọng nhất ở Nhật Bản chiếm tới hơn 60% GDP hàng năm, tiếp theo là công nghiệp, nông nghiệp chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong GDP. Năm 2025, tỷ trọng các ngành kinh tế trong GDP của Nhật Bản như sau: Công nghiệp chiếm 30,78%, nông nghiệp chiếm 1,38%, dịch vụ chiếm 67,84%.
Trong giai đoạn 1953-1973, thế giới đã chứng kiến sự phát triển kinh tế ngoạn mục của Nhật Bản tạo nên hiện tượng “thần kỳ Nhật Bản” với tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục cao trong hai thập kỷ, lên tới 8,5% (giai đoạn 1955-1960), 9,8% (giai đoạn 1960-1965), 11,2% (giai đoạn 1965-1971). Nền kinh tế Nhật Bản từ chỗ bị kiệt quệ sau chiến tranh đã phát triển nhảy vọt trở thành siêu cường về kinh tế của thế giới chỉ sau Hoa Kỳ. Tốc độ tăng trưởng giảm mạnh chỉ khoảng 0,8%/ năm trong những năm 2009, thậm chí tăng trưởng âm vào năm 2017 (-1,1%) và năm 2020 (-0,2%). Hiện nay, nhờ sự cố gắng của chính phủ Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này đã có dấu hiệu hồi phục song vẫn không đạt được mức tăng trưởng thần kì như giai đoạn trước. Tốc độ tăng trưởng GDP của năm 2024 là 2,6% năm 2025 là 2,8%.
Nhật Bản là một nước có ít tài nguyên thiên nhiên. Ngành công nghiệp Nhật Bản phải nhập khẩu 90% nguyên liệu từ nước ngoài để phục vụ sản xuất công nghiệp, đặc biệt là dầu mỏ. Tuy nhiên, Nhật Bản lại rất chú trọng đến việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất, mua các bằng phát minh, sáng chế, công nghệ mới nhất của thế giới, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển thích đáng nên ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành chế tạo của Nhật Bản luôn giữ vị trí hàng đầu thế giới. Hiện nay, Nhật Bản được cả thế giới biết đến là nhà sản xuất ô tô, xe máy, đóng tàu, sản xuất thép, đồ điện và thiết bị điện tử hàng đầu với các thương hiệu nổi tiếng như Toyota, Honda, Canon, Sony, Toshiba,… Những tiến bộ vượt bậc trong nghiên cứu và công nghệ giúp Nhật Bản mở rộng nền kinh tế theo hướng xuất khẩu. Nhờ đó, ngành tài chính ngân hàng có cơ hội phát triển mạnh mẽ. Hiện nay, Nhật Bản là trung tâm thương mại tài chính hàng đầu của thế giới. Về nông nghiệp, tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế và phải nhập khẩu các loại hạt và thức ăn cho gia súc, gia cầm nhưng do áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ và được bảo hộ chặt chẽ nên nền nông nghiệp Nhật Bản vẫn được xếp vào hàng cao nhất trên thế giới. Về kim ngạch xuất nhập khẩu, trong giai đoạn 2011-2016, tăng trưởng xuất nhập khẩu của Nhật Bản tăng ổn định với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân 4,8%/ năm và nhập khẩu là 7,7%/ năm. Từ năm 2017, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á (năm 2016) và sự suy thoái của kinh tế thế giới, tăng trưởng xuất nhập khẩu giảm. Tuy nhiên, từ năm 2021, tình hình xuất nhập khẩu của Nhật Bản đang hồi phục và tăng trưởng cao trở lại với mức tăng trưởng xuất khẩu năm 2025 đạt 595,1 tỷ USD, nhập khẩu đạt 420,6 tỷ USD. Cán cân thương mại của Nhật Bản thường xuyên xuất siêu. Thời kỳ 2017-2018 và 2022-2025, mức xuất siêu của Nhật Bản đạt trên 100 tỷ USD, tập trung chủ yếu vào các sản phẩm bán dẫn, máy tính và các sản phẩm công nghệ cao. Hoa Kỳ và EU là hai đối tác thường xuyên nhập siêu từ Nhật Bản, mức nhập siêu vào các năm 2024-2025 là khoảng 170 tỷ USD.
Về cơ cấu xuất nhập khẩu: Nhật Bản chủ yếu xuất khẩu các loại thiết bị điện, điện tử, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nhập khẩu nguyên, nhiên liệu và nông sản. Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
- Bảng 1: Tình hình xuất nhập khẩu của Nhật Bản một số năm
Các đối tác thương mại lớn của Nhật Bản là các nước châu Á, Bắc Mỹ (chủ yếu là Hoa Kỳ) và EU. Nhật Bản xuất khẩu chủ yếu sang châu Á (chiếm 45% – 50% kim ngạch xuất khẩu của nước này), nhất là sang các nước và vùng lãnh thổ Đông Á gồm các nền kinh tế công nghiệp mới (Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore) và Trung Quốc, sang Hoa Kỳ và EU, trong khi cũng nhập khẩu chủ yếu từ các nguồn này (Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU…) và từ Trung Đông, nguồn cung cấp năng lượng quan trọng cho Nhật Bản.
2. Khái quát mối quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam- Nhật Bản
Trải qua gần 35 năm sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21/09/1973, quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản không ngừng phát triển trên nhiều lĩnh vực bước sang giai đoạn mới về chất và đi vào chiều sâu, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế. Năm 2011, Nhật Bản là một trong những nước đầu tiên trên thế giới nối lại viện trợ cho Việt Nam, giúp Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội. Trong chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hồi tháng 10/2025, hai bên đã ký Tuyên bố chung “ Hướng tới quan hệ đối tác chiến lược vì hoà bình và phồn vinh ở châu Á” và đạt được một loạt thoả thuận quan trọng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư. Bên cạnh đó, khởi động từ tháng 1/2026, đã trải qua hơn 3 phiên đàm phán, cả Việt Nam và Nhật Bản đang đi những bước cuối cùng để tiến tới kí kết hiệp định đối tác kinh tế Việt- Nhật (VJEPA). Hiệp định hứa hẹn sẽ mở ra cơ hội lớn cho hàng hoá Việt Nam xuất khẩu vào Nhật Bản.
Nhật Bản hiện là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam về ODA, thương mại và đầu tư. Trong những năm gần đây, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Nhật Bản vào Việt Nam liên tục tăng và quy mô các dự án ngày càng lớn. Mặc dù đứng thứ ba trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam nhưng Nhật Bản lại dẫn đầu về vốn thực hiện với 735 dự án còn hiệu lực có số vốn đăng kí đạt 7,4 tỷ USD (tính đến quý I/2026). Nhật Bản cũng là nước đứng đầu về cung cấp hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam với tổng vốn ODA mà Nhật Bản cung cấp từ năm 2015-2025 là 927.8 triệu USD.
- Bảng 2: Quan hệ thương mại Việt Nam- Nhật Bản Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Về kim ngạch thương mại, trong thời gian hơn 10 năm qua, Nhật Bản luôn một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Kim ngạch thương mại hai chiều đã tăng từ 2.382 triệu USD năm 2014 lên 4.871 triệu USD vào năm 2019, sau sự suy giảm chút ít năm 2020, thương mại hai chiều lại hồi phục từ năm 2021 đạt 4.796 triệu, từ đó liên tục gia tăng và tăng mạnh năm 2025 để đạt mức kỷ lục 9.294 triệu USD. Theo Cơ quan đại diện Thương mại Việt Nam tại Nhật Bản, kim ngạch thương mại giữa hai nước trong quý I/2026 đạt khoảng 2 tỷ USD, cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái. Trong giai đoạn 2010-2019, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật đã tăng từ 662 triệu USD lên 2.621 triệu USD , năm 2023 đạt 3.542 triệu USD, năm 2024 là 4.411 triệu USD và đến năm 2025 đạt 5.121 triệu USD, tăng 16% so với năm 2024. Thị trường Nhật Bản ngày càng khẳng định là thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam. Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam mới chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ bé trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản. Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản vẫn chủ yếu là nguyên liệu thô và sản phẩm sơ chế, chiếm trên 50%, tập trung vào các mặt hàng: dầu thô, hàng nông sản (cà phê, cao su, rau quả, gạo, chè,…), hàng dệt may, giày dép, thuỷ hải sản, thực phẩm chế biến, hàng thủ công mỹ nghệ, gốm sứ và đồ gia dụng,…
Về nhập khẩu, Việt Nam nhập khẩu từ Nhật Bản các loại thiết bị điện, điện tử, máy móc thiết bị và phương tiện vận tải, những mặt hàng có giá trị công nghệ cao. Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản cũng liên tục tăng trong hơn 10 năm qua (chi tiết ở bảng 2). Kim ngạch này còn tiếp tục tăng do Việt Nam vẫn đang đẩy nhanh việc thực hiện quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước.
Tóm lại, với những thuận lợi về vị trí địa lý, về truyền thống giao lưu và về tính bổ sung lẫn nhau của cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu giữa hai nước thì những kết quả ngoại thương đã đạt được giữa Việt Nam và Nhật Bản còn khá khiêm tốn và chưa tương xứng với tiềm năng của mỗi nước.
3. Thị trường và người tiêu dùng Nhật Bản Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
3.1. Đặc điểm của thị trường Nhật Bản
Hệ thống phân phối: Nhật Bản ít khi nhập khẩu hàng hoá có số lượng lớn mà thường yêu cầu nhiều chủng loại hàng với số lượng nhỏ. Hệ thống phân phối về cơ bản gồm ba kênh chính: (1) Nhà nhập khẩu -> nhà bán buôn – > nhà bán lẻ -> người tiêu dùng. Giá bán lẻ thường cao gấp 3 hay 4 lần; (2) Nhà nhập khẩu -> nhà bán lẻ (siêu thị, cửa hàng bách hoá…) -> người tiêu dùng. Giá bán lẻ thường gấp 2- 2,5 lần giá FOB; (3) Nhà nhập khẩu -> người tiêu dùng (đặt hàng qua thư) và giá bán lẻ có thể gấp đôi giá FOB.
Hệ thống phân phối của Nhật Bản tương đối phức tạp, đòi hỏi nhiều nhân công, bộ máy cồng kềnh. Chính sự phức tạp của hệ thống phân phối này làm cho chi phí phân phối tăng lên và làm cho giá hàng hoá tại Nhật cao hơn rất nhiều so với các nước khác trên thế giới. Trong những năm 90, một số thay đổi đã diễn ra trong hệ thống phân phối trước những yêu cầu thay đổi bức thiết, tuy nhiên, hệ thống phân phối truyền thống vẫn còn tồn tại và tiếp tục là một rào cản đáng kể với các nhà xuất khẩu nước ngoài muốn thâm nhập vào thị trường Nhật Bản.
Sự trì hoãn trong sự thay đổi của hệ thống phân phối của Nhật Bản phần nào chịu ảnh hưởng của yếu tố văn hoá. Người Nhật rất ngại việc làm gián đoạn mối quan hệ truyền thống, làm ăn lâu dài với các nhà cung cấp trong nước, bạn hàng quen thuộc, ngay cả khi các nhà xuất khẩu nước ngoài có thể cung cấp các sản phẩm tốt hơn với giá thành cạnh tranh hơn. Đồng thời, người Nhật luôn lo ngại liệu nhà cung cấp mới có thể giao hàng đúng tiến độ hay không, có khả năng cung cấp các dịch vụ hậu mãi tốt không bởi đây chính là điều mà người Nhật luôn chú trọng và là điểm mạnh của các nhà cung cấp Nhật Bản.
Hệ thống bán lẻ: Ở Nhật, chuỗi các cửa hàng bán lẻ nhỏ “Mom and Pop” và cửa hàng thực phẩm nhỏ chiếm vị trí thống trị trong hệ thống kinh doanh bán lẻ thực phẩm với khoảng một nửa lượng tiêu dùng được thực hiện tại đây. Thông thường các cửa hàng này chỉ bán đồ Nhật, không bán hàng nhập ngoại. Các cửa hàng này thường có sự liên hệ mật thiết với các nhà sản xuất trong nước để nhận được các ưu đãi về tài chính, sự hỗ trợ về Marketing, tuy nhiên, lại không đủ diện tích và tiềm lực tài chính để nhập khẩu các hàng hoá đắt tiền và nhập khẩu theo đơn đặt hàng lớn. Trong những năm gần đây, chuỗi các cửa hàng này đang gặp phải sự cạnh tranh quyết liệt từ sự phát triển nhanh chóng của các cửa hàng bách hoá, các quầy thực phẩm trong những cửa hàng lớn (DS- Department Stores), các siêu thị (SM Supermarket) và các chuỗi cửa hàng chuyên dụng (CVS- Convenient Stores), các cửa hàng giảm giá và các cửa hàng bán hàng chuyên biệt của các hãng nổi tiếng.
3.2. Người tiêu dùng Nhật Bản Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Người tiêu dùng Nhật Bản nhìn chung có độ thẩm mỹ cao, tinh tế. Đặc tính của người tiêu dùng Nhật Bản là tính đồng nhất, 90% người tiêu dùng cho rằng họ thuộc tầng lớp trung lưu.
Người Nhật là người tiêu dùng có yêu cầu khắt khe nhất: Sống trong môi trường có mức sống cao (GDP theo đầu người năm 2025 là 38.400 USD / người) nên người tiêu dùng Nhật Bản đặt ra những tiêu chuẩn đặc biệt chính xác về chất lượng, độ bền, độ tin cậy, sự tiện dụng của sản phẩm và đảm bảo thời gian giao hàng. Yêu cầu này còn bao gồm dịch vụ hậu mãi như sự phân phối kịp thời của nhà sản xuất khi một sản phẩm bị trục trặc, khả năng sửa chữa những sản phẩm đó. Những vết xước nhỏ, mẫu chỉ cắt còn sót lại trên mặt sản phẩm, bao bì xô lệch,…những lỗi nhỏ do sơ suất trong quá trình vận chuyển hay khâu hoàn thiện sản phẩm có thể dẫn đến tác hại lớn là làm lô hàng khó bán, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất lâu dài. Bởi vậy cần có sự quan tâm đúng mức đến khâu hoàn thiện, vệ sinh sản phẩm, bao gói và vận chuyển hàng. Các gia đình Nhật Bản thường có ít người, ít phương tiện dự trữ, vì vậy hàng hoá được bao gói với số lượng lớn `thường không tiện dụng. Đảm bảo thời hạn giao hàng cũng là yếu tố rất quan trọng: Việc giao hàng đúng hẹn được đảm bảo một cách nghiêm ngặt, nếu chậm hợp đồng có thể bị huỷ bỏ hay bị phạt..
Người Nhật cũng tương đối nhạy cảm với giá cả: nhu cầu sản phẩm rẻ có xu hướng tăng lên trong giai đoạn kinh tế trì trệ nhưng cũng có ngoại lệ, chấp nhận giá cao cho những sản phẩm mới, chất lượng cao.Các bà nội trợ đi chợ hàng ngày và là lực lượng quan trọng ảnh hưởng đến thị hiếu tiêu dùng, họ hay để ý đến biến động giá và các mẫu mã mới.
Người Nhật Bản rất quan tâm đến an toàn vệ sinh thực phẩm, xuất xứ thực phẩm và đặc biệt quan tâm đến chất lượng sản phẩm. Họ nhạy cảm với hương vị và độ tươi mới của thực phẩm, sẵn sàng trả giá cao cho các sản phẩm có thể tin cậy được về độ tươi mới và các sản phẩm có lợi cho sức khoẻ (các sản phẩm được quảng cáo trên truyền hình là tốt cho sức khoẻ đều được tiêu thụ rất nhanh trên thị trường Nhật Bản). Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Một đặc điểm nổi bật của người tiêu dùng Nhật Bản là họ coi trọng các tiêu chuẩn của Nhật Bản: Tiêu chuẩn nông sản Nhật Bản (JAS), Tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) được coi trọng hơn các tiêu chuẩn quốc tế. Hàng hoá đáp ứng được tiêu chuẩn JIS, JAS sẽ dễ tiêu thụ hơn trên thị trường Nhật bởi người tiêu dùng rất tin tưởng chất lượng của những sản phẩm được đóng dấu JIS hoặc JAS. Nếu thực phẩm được cấp xác nhận này thì việc tiêu thụ trên thị trường Nhật Bản sẽ trở nên dễ dàng hơn, thủ tục nhập khẩu cũng được giải quyết nhanh hơn (trong vòng 1 ngày thay vì 7 ngày). Ngoài ra trên thị trường Nhật Bản còn có các dấu chất lượng và độ an toàn sản phẩm khác như dấu Q là chất lượng và độ đồng nhất của sản phẩm, dấu G về thiết kế, dịch vụ sau bán hàng và chất lượng, dấu S về độ an toàn, dấu S.G về độ an toàn (bắt buộc)… Ecomark là dấu chứng nhận sản phẩm không làm hại sinh thái, ra đời từ năm 2008 và ngày càng được quan tâm hơn trên thị trường Nhật Bản.
Tiêu dùng của người Nhật Bản mang tính “mùa vụ” rất rõ rệt: Quần áo, đồ dùng trong nhà, thực phẩm là những mặt hàng có ảnh hưởng theo mùa. Có những sản phẩm và màu sắc chỉ dùng trong dịp này mà không hề dùng cho dịp khác. Ngoài ra, người Nhật cũng rất thích các sản phẩm thủ công tinh xảo, làm bằng tay, thể hiện văn hoá châu Á tinh tế, đặc thù.
Người tiêu dùng Nhật Bản ưa chuộng sự đa dạng của sản phẩm: Hàng hoá phải đa dạng, phong phú mới thu hút được người tiêu dùng Nhật Bản. Chỉ một loại dầu gội trong siêu thị của Nhật Bản thôi cũng đã có vô số chủng loại khác nhau về màu sắc, thành phần, hương thơm,…Một yêu cầu cũng rất đáng lưu ý là nhãn hàng phải đính kèm những thông tin hướng dẫn tiêu dùng là rất cần thiết.
4. Chính sách và cơ chế nhập khẩu hàng hoá của Nhật Bản Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
4.1. Chính sách nhập khẩu hàng hoá của Nhật Bản:
Trong những năm 80, chính phủ Nhật Bản đã thực hiện cắt giảm và bãi bỏ thuế nhập khẩu, chấm dứt và nới lỏng các biện pháp hạn chế số lượng, cấp tín dụng nhập khẩu và cải thiện hệ thống cấp chứng nhận. Mục đích của những biện pháp này là nhằm giảm những rào cản nhập khẩu, tạo điều kiện cho các nhà xuất khẩu nước ngoài xuất khẩu hàng hoá vào Nhật. Hiện nay, Nhật Bản vẫn đang nỗ lực thực hiện các cam kết hướng tới tự do hoá thương mại trong khuôn khổ WTO.
Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn duy trì nhiều chính sách và biện pháp nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, hạn chế hàng hoá nước ngoài nhập khẩu vào Nhật dưới các hình thức chính thức và không chính thức như:
- Thiết lập các tiêu chuẩn riêng của Nhật Bản (cả chính thức và không chính thức)
- Việc đòi hỏi hỏi phải chứng minh kinh nghiệm trong thị trường Nhật Bản thực tế đã cản trở các nhà xuất khẩu mới muốn thâm nhập thị trường này.
- Các quy định chính thức nhằm bảo trợ sản xuất trong nước và phân biệt đối xử đối với hàng ngoại nhập
- Quyền cấp phép nằm trong tay các hiệp hội sản xuất với số lượng thành viên hạn chế nhưng có sự ảnh hưởng rất lớn trên thị trường, có khả năng kiểm soát thông tin và hoạt động một cách hoàn hảo.
- Các hiệp hội doanh nghiệp (cartel) hoạt động chính thức và không chính thức. Việc nắm giữ cổ phiếu của nhau cũng như việc liên kết chặt chẽ các lợi ích thương mại trong nước của các doanh nghiệp Nhật Bản tạo ra những bất lợi đối với các công ty bên ngoài những hiệp hội này.
- Tầm quan trọng của các mối quan hệ cá nhân ở Nhật Bản và việc miễn cưỡng phá bỏ hoặc thay đổi quan hệ kinh Để có thể vượt qua các rào cản này, yếu tố thành công phụ thuộc vào lĩnh vực sản xuất, ngành hàng, vào tính cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ, cũng như là sự sáng tạo và các quyết định sáng suốt của ban lãnh đạo doanh nghiệp.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, Nhật Bản vẫn duy trì bảo hộ, trợ giá nông nghiệp cho nông dân. Theo tính toán của tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế OECD, chính phủ Nhật Bản trợ giá đến 60% giá trị sản lượng nông nghiệp, trong khi tỷ lệ này ở Mỹ là 23%, EU là 34%. 12Các chính sách bảo hộ, hạn chế nhập khẩu của Nhật có thể kể tới như: Hạn ngạch sản xuất (PQ) đối với ngành sữa; Chính sách ổn định thu nhập (ISP) đối với ngành rau quả; Hỗ trợ giá (DP); chương trình trợ cấp bảo hiểm rủi ro (GSIP), đặc biệt tiêu chuẩn Chất lượng và an toàn thực phẩm (FSAQ) ngày càng trở nên quan trọng ở Nhật Bản do tình trạng dịch bệnh gia tăng và những báo động về nạn hàng giả, hàng kém chất lượng xảy ra thời gian những năm 2009. Năm 2022 một Uỷ ban an toàn thực phẩm cấp Văn phòng Chính phủ đã được thành lập nhằm đánh giá và xác định mức độ rủi ro an toàn đối với các sản phẩm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và hoá chất nông nghiệp. Đây thực sự là một rào cản kỹ thuật phức tạp mà các doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu thực phẩm vào Nhật Bản phải vượt qua.
4.2. Các công cụ, biện pháp điều tiết nhập khẩu Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
- Thuế quan
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của Nhật Bản bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/ 8/1971, dựa trên hiệp ước của Hội nghị Liên Hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) năm 1970. Nhật Bản sử dụng Hệ thống phân loại HS với 4 mức thuế như sau:
- Thuế suất chung: mức thuế cơ bản căn cứ vào Luật thuế quan hải quan, áp dụng trong một thời gian dài.
- Thuế suất tạm thời: là mức thuế được áp dụng trong thời gian ngắn, thay cho mức thuế chung.
- Thuế suất ưu đãi phổ cập (GSP): là mức thuế áp dụng cho việc nhập khẩu hàng hoá từ các nước đang phát triển hay các khu vực lãnh thổ. Mức thuế áp dụng có thể thấp hơn những mức thuế được áp dụng cho hàng hoá của những nước phát triển.
- Thuế suất WTO: là mức thuế căn cứ vào cam kết WTO và các hiệp định quốc tế khác.
Về nguyên tắc, mức thuế áp dụng sắp xếp theo thứ tự mức thuế GSP, mức thuế WTO, mức thuế tạm thời và mức thuế chung. Tuy nhiên, mức thuế GSP chỉ được áp dụng khi thoả mãn các điều kiện trong Chương 8 của Luật áp dụng thuế suất ưu đãi. Mức thuế WTO chỉ áp dụng khi nó thấp hơn cả mức thuế tạm thời và mức thuế chung. Như vậy mức thuế chung áp dụng cho những nước không phải là thành viên của WTO, mức thuế WTO áp dụng cho những nước công nghiệp phát triển là thành viên của WTO và mức thuế GSP áp dụng cho các nước đang phát triển. Nếu mức thuế tạm thời thấp hơn những mức thuế trên, nó sẽ được áp dụng.
Ngoài thuế nhập khẩu, hàng nhập khẩu phải chịu 5% thuế tiêu thụ thông thường, được áp dụng đối với tất cả mặt hàng bán tại Nhật Bản. Loại thuế này phải được thanh toán ngay khi khai báo hải quan hàng nhập khẩu. Thuế tiêu thụ được tính trên trị giá CIF của hàng nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu.
Đối với các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản chỉ được công nhận hưởng tiêu chuẩn GSP sau khi đã được cân nhắc các ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp của Nhật khi chúng được hưởng qui chế ưu đãi. Thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng này thấp hơn từ 10% – 100% so với biểu thuế chung. Thuế quan ưu đãi không áp dụng đối với các sản phẩm không có tên trong danh sách tích cực. Thông thường, nông, lâm, thuỷ sản đủ chuẩn qui chế ưu đãi thuế thì không chịu giới hạn của hạn ngạch. Nói chung, biểu thuế ưu đãi được áp dụng không giới hạn. Tuy vậy, nếu việc công nhận qui chế ưu đãi đối với hàng nhập khẩu có thể gây ảnh hưởng xấu tới ngành nông, lâm, ngư nghiệp trong nước thì một qui định về các trường hợp ngoại lệ sẽ được đưa ra để tạm hoãn qui chế ưu đãi của sản phẩm này. Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
- Các công cụ phi thuế quan
Hàng hoá nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản được điều chỉnh và bị chi phối bởi một hệ thống các luật sau đây:
- Luật kiểm soát ngoại hối và ngoại thương
- Luật và quy định liên quan đến hàng cấm
- Luật và quy định liên quan đến độc quyền chính phủ
- Luật và quy định liên quan đến kiểm dịch
- Luật và quy định liên quan đến ma tuý
Các công cụ phi thuế quan gồm có: Chế độ cấp giấy phép nhập khẩu, Chế độ hạn ngạch nhập khẩu, Hàng cấm nhập khẩu, Chế độ thông báo nhập khẩu, Các quy định về tiêu chuẩn đối với hàng hoá nhập khẩu (gồm Tiêu chuẩn công nghiệp của Nhật Bản (JIS), Tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản (JAS), Tiêu chuẩn môi trường, Luật bảo vệ thực vật, Luật vệ sinh thực phẩm, Luật bao gói và tái chế bao bì và Luật khuyến khích sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, Luật an toàn sản phẩm, Luật dán nhãn chất lượng hàng gia dụng, Luật ngoại thương và ngoại hối, Chương trình xúc tiến nhập khẩu).
Đối với nông, lâm, thuỷ sản nhập khẩu vào Nhật, cần chú ý đến các quy định về tiêu chuẩn đối với hàng hoá nhập khẩu, trong đó đặc biệt chú ý đến các tiêu chuẩn:
- Tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản (JAS)
Luật tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật bản – JAS quy định các tiêu chuẩn về chất lượng, đưa ra các quy tắc về ghi nhãn chất lượng và đóng dấu chất lượng tiêu chuẩn JAS. Các sản phẩm được điều chỉnh bởi luật JAS gồm đồ uống, các sản phẩm chế biến, lâm sản và các mặt hàng nông nghiệp, thú nuôi, dầu và chất béo, thuỷ hải sản, các loại gỗ dán, gỗ ván, ván lát sàn, gỗ xẻ. Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Nhật Bản đặt ra các tiêu chuẩn về việc ghi 28 nhãn chất lượng và bắt buộc tất cả các nhà sản xuất phải tuân thủ các tiêu chuẩn này. Các tiêu chuẩn này cũng được áp dụng đối với các sản phẩm nhập khẩu.
- Tiêu chuẩn môi trường: Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Vấn đề môi trường ngày càng thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng Nhật Bản. Cục môi trường Nhật Bản khuyến khích người tiêu dùng sử dụng các sản phẩm được đóng dấu Ecomark không làm hại môi sinh kể cả các sản phẩm nhập khẩu. Các sản phẩm được đóng dấu Ecomark phải đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chuẩn sau đây:
- Việc sử dụng sản phẩm đó không gây ô nhiễm môi trường hoăc rất ít gây ô nhiễm môi trường.
- Việc sử dụng sản phẩm đó mang lại nhiều lợi ích đối với môi trường.
- Việc sử dụng sản phẩm đó đóng góp đáng kể vào việc bảo vệ môi trường.
Luật vệ sinh thực phẩm
Luật vệ sinh thực phẩm cấm kinh doanh những loại thực vật chứa độc tố hoặc có những chất phụ gia có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.
Luật này qui định lượng kháng sinh và lượng phụ gia tối đa cho phép trên một đơn vị đo lường có thể chứa trong sản phẩm. Luật này cũng quy định các thông tin cần thiết phải có trên nhãn mác sản phẩm nhập khẩu và quy định về nhãn mác sản phẩm biến đổi gen .
II: ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG, LÂM, THUỶ SẢN VÀO THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
Nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể, từng bước chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc sang nền nông nghiệp hàng hoá đa dạng và hướng mạnh ra xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản năm 2025 đạt 8,88 tỷ USD, chiếm 22,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tăng 25% so với năm 2024, trong đó xuất khẩu nông sản đạt 3,58 tỷ USD tăng 28%, xuất khẩu thuỷ sản đạt 3,42 tỷ USD, tăng 24%, xuất khẩu lâm sản đạt 1,94 tỷ, tăng 21% so với năm 2024. Đối với thị trường Nhật Bản, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này liên tục có mức tăng trưởng khá qua các năm, với tốc độ tăng năm sau so với năm trước từ 20-25%, từ 2,5 tỷ USD năm 2020 lên 4,5 tỷ USD năm 2025. Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản Việt Nam vào thị trường Nhật Bản tăng dần qua các năm. Thị trường Nhật Bản trong dài hạn vẫn là thị trường tiềm năng, chủ lực đối với các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, sản Việt Nam. Về thuỷ sản, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của các doanh nghiệp Việt Nam vào Nhật Bản năm 2025 đạt 785,7 triệu USD, tăng 8.7% so với năm 2024, chiếm 29% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Về nông sản, kim ngạch xuất khẩu sang Nhật năm 2025 đạt 498,8 triệu USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu rau là 27,5 triệu USD. Kim ngạch xuất khẩu lâm sản (gỗ và sản phẩm thủ công mỹ nghệ) sang thị trường Nhật Bản đạt 326,4 triệu USD, chiếm tỷ trọng 13% trong cơ cấu thị trường xuất khẩu lâm sản của Việt Nam.
1. Về số lượng doanh nghiệp: Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan thì tính đến hết năm 2025, cả nước có khoảng hơn 1300 doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp và các cơ sở kinh doanh của Việt Nam tham gia hoạt động xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản. Chúng ta có hơn 500 nhà máy chế biến thuỷ sản, có 22 nhà máy chế biến rau quả xuất khẩu, hơn 50 nhà máy chế biến xuất khẩu nông sản và hơn 40 nhà máy chế biến xuất khẩu gỗ.
2. Về quy mô doanh nghiệp:
Hiện nay, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam nói chung và sản xuất nông, thuỷ sản nói riêng vẫn trong tình trạng manh mún và lạc hậu. Vì vậy, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất gặp rất nhiều khó khăn và hiệu quả không cao. Hầu hết hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản vẫn ở quy mô nhỏ, chưa có những trang trại hay các doanh nghiệp lớn. Nếu so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới, năng suất nông, lâm, ngư nghiệp của Việt Nam tương đối thấp. Chính vì vậy, nguồn nguyên liệu cho sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản của các doanh nghiệp sang thị trường Nhật Bản còn hạn chế; chất lượng các sản phẩm còn chưa cao và không đồng đều.
3. Về nguyên liệu đầu vào:
Một yêu cầu đối với doanh nghiệp xuất khẩu là phải chủ động được đầu vào cho xuất khẩu. Tuy nhiên, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam nói chung, doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nông lâm thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản nói riêng phần đông chưa làm được điều này. Các doanh nghiệp vẫn chủ yếu đi thu mua nguyên liệu trong các hộ nông nghiệp đem về cơ sở sản xuất phân loại, chế biến. Do đặc điểm sản xuất nông nghiệp của Việt Nam là sản xuất nhỏ, với sự manh mún, nhỏ lẻ trong ruộng đất, kỹ thuật canh tác tương đối lạc hậu, năng suất lao động thấp, trình độ phát triển thị trường ở các khu vực nông thôn, do đó quy mô nguồn hàng cung cấp cho các doanh nghiệp xuất khẩu nhỏ, chất lượng chưa thể đảm bảo đặc biệt là đối với thị trường yêu cầu cao về chất lượng như thị trường Nhật. Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản nói chung, các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản nói riêng đã bước đầu chú trọng đến việc quy hoạch vùng nguyên liệu cung cấp cho xuất khẩu. Đối với hàng nông sản, các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, cao su đã xây dựng các đồn điền cà phê, cao su quy hoạch cho xuất khẩu. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản, một mặt thu mua thuỷ sản đánh bắt và nuôi trồng của người dân, mặt khác đã xây dựng những cơ sở nuôi trồng của doanh nghiệp để đảm bảo chất lượng sản phẩm xuất khẩu từ con giống đến thành phẩm. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ đã quy hoạch vùng nguyên liệu trồng rừng. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm đồ mây, tre đan thủ công mỹ nghệ, nguồn nguyên liệu chủ yếu từ trong các hộ cá thể, hầu như chưa có quy hoạch vùng nguyên liệu. Hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam thường không tập trung mà nằm rải rác ở rất nhiều làng nghề trong cả nước. Vì vậy vấn đề về thu gom hàng hoá rất khó khăn nếu được đặt hàng với nhu cầu lớn. Tuy nhiên, Nhật Bản lại thường đặt hàng với khối lượng nhỏ, do đó chúng ta có thể đáp ứng được các đơn hàng của Nhật Bản. Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
4. Về trình độ công nghệ và năng lực tài chính:
Hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nông, lâm thuỷ sản nói chung, xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản nói riêng, có quy mô vừa và nhỏ, trình độ công nghệ lạc hậu, hệ số đổi mới thiết bị thấp, chỉ đạt 7%/ năm, bằng 1/2-1/3 mức tối thiểu của các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia. Nhìn chung, các doanh nghiệp này thiếu vốn kinh doanh, vốn lưu động chỉ đáp ứng trên dưới 30% nhu cầu kinh doanh, còn lại là vốn đi vay. Hiện nay trong tổng số 110 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, chỉ có 16 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản có niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán. Do đó, khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật bản còn nhiều hạn chế. Những khó khăn về vốn đầu tư và trình độ hiểu biết về công nghệ chế biến đã làm hạn chế phát triển công nghệ chế biến nói chung và chất lượng sản phẩm nông nghiệp cho xuất khẩu nói riêng của các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản. Hiện nay trong xuất khẩu nông sản việc nắm bắt được công nghệ cao là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh trên thị trường thế giới, nhất là thị trường có sức mua cao và yêu cầu chất lượng cao như thị trường Nhật Bản. Khâu này các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu kém. Do trình độ khoa học, công nghệ thấp nên trong sản xuất, thu hoạch chế biến nông, thuỷ sản, mức hao hụt và tổn thất rất cao (khoảng 25%) dẫn đến giá thành sản xuất tăng, sức cạnh tranh về giá kém. Ngoài ra, công nghệ, thiết bị trong chế biến của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản Việt Nam hiện nay hầu hết vẫn ở mức trung bình, điều này đã làm cho các sản phẩm chế biến của Việt Nam khó có khả năng đáp ứng được yêu cầu khắt khe của người tiêu dùng Nhật Bản, vì vậy hàng hoá của Việt Nam vẫn chưa được người Nhật Bản đánh giá cao và khó thâm nhập vào thị trường Nhật Bản.
5. Về trình độ nguồn nhân lực:
Trình độ lao động của Việt Nam trong ngành nông, lâm, thuỷ sản hiện nay còn rất thấp. Lao động trong những ngành này, chủ yếu là nông dân, ngư dân và thợ thủ công với học vấn rất thấp và hầu như không được đào tạo nghề, do vậy trình độ dân trí, tay nghề và những hiểu biết về thị trường còn hạn chế. Tại các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản nói chung, xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản nói riêng, đội ngũ những cán bộ có trình độ hiểu biết về thị trường còn ít, hoạt động đào tạo cán bộ cho xuất khẩu còn chưa được quan tâm đúng mức. Đội ngũ cán bộ quản lý hoạt động sản xuất và xuất khẩu tại các doanh nghiệp còn thiếu và yếu về trình độ, năng lực công tác.
III: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG, LÂM, THUỶ SẢN SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
1. Thực trạng xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản của doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
1.1. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản
- Kim ngạch xuất khẩu nông sản sang thị trường Nhật Bản
Những năm gần đây, quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam- Nhật Bản ngày càng phát triển. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng của Việt Nam sang thị trường Nhật ngày càng tăng lên, trong đó có mặt hàng nông sản. Kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Nhật Bản đã tăng từ 45,05 triệu USD (năm 2020) lên mức 92,04 triệu USD (năm 2025). Kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam được phản ánh qua bảng 3.
Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
- Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản
Nhật Bản là thị trường nhập khẩu thuỷ sản lớn thứ hai thế giới chỉ sau EU. Hiện nay, mỗi năm Nhật Bản nhập khẩu khoảng 15 tỷ USD hàng thuỷ sản. Nhật Bản hiện là bạn hàng lớn nhất của hàng thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam. Năm 2023 kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Nhật Bản đạt 582.838 triệu USD, chiếm 24,2%. Năm 2024 đạt 671,688 triệu USD, chiếm 23,4% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam, năm 2025 đạt 785,876 triệu USD, chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là tôm và mực đông lạnh, đưa Việt Nam trở thành một trong 3 nước xuất khẩu hàng đầu mặt hàng này vào thị trường Nhật Bản. Do những bất ổn trên thị trường Mỹ nên nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam đã chuyển sang xuất khẩu sang những thị trường có mức độ ổn định cao hơn như thị trường Nhật Bản. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản được phản ánh qua Bảng 4.
Bảng 4: Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
- Kim ngạch xuất mây, tre đan sang thị trường Nhật Bản Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Những năm gần đây, xuất khẩu mây tre đan của Việt Nam vào Nhật liên tục tăng với nhịp độ cao, tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng từ 17-20%/năm. Nhật Bản thực sự trở thành thị trường tiềm năng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu mây tre đan của Việt Nam. Giá trị xuất khẩu hàng mây tre đan năm 2025 đạt 40,2 triệu USD. Nhật Bản nhập khẩu mây tre đan chủ yếu từ các nước Đông Nam Á như Philippin, Inđônêxia, Việt Nam. Hiện nay Việt Nam chiếm tới 1/3 kim ngạch xuất khẩu mây tre đan vào Nhật. Mây tre đan Việt Nam được người tiêu dùng Nhật Bản khá được ưa thích do sự phong phú về chủng loại, mẫu mã, tốt về chất liệu và mang tính truyền thống.
- Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu mây, tre đan Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
1.2. Cơ cấu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản xuất khẩu sang Nhật Bản
- Cơ cấu sản phẩm nông sản xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản
Hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản chủ yếu là cà phê, gạo, cao su, chè, hạt điều, hạt tiêu, rau quả. Các mặt hàng này Việt Nam có thế mạnh về điều kiện tự nhiên và được sản xuất tại các vùng chuyên canh nên xuất khẩu sang Nhật Bản với tốc độ tăng trưởng nhanh.
- Bảng 7: Các mặt hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật giai đoạn 2020-2025
Trong tổng kim ngạch nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản, cà phê, cao su và rau quả là ba mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất, tương ứng 65,61% năm 2023, 69,64% năm 2024, 76,52% năm 2025. Đây là ba mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng sang thị trường Nhật Bản. Trong số đó, cà phê chiếm 19,76% trong tổng số giá trị nông sản xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản năm 2023, năm 2024 chiếm 22,12%, năm 2025 chiếm tỷ trọng 28,68%. Tiếp theo là cao su năm 2023, 2024 và 2025 tương ứng là 19,48%, 20,11% và 20,32%. Đối với mặt hàng rau quả, tỷ trọng trong tổng giá trị nông sản xuất khẩu sang Nhật Bản trong các năm 2023, 2024 và 2025 tương ứng là 26,37%, 27,41% và 27,52%.
- Cơ cấu sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản
Về thuỷ sản, Nhật Bản là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam, chiếm hơn 25% thị phần xuất khẩu. Theo số liệu thống kê của Bộ Thuỷ sản (trước đây), nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam năm 2025 sang Nhật là 785,876 triệu, tăng 7,1% so với năm 2024. Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
- Bảng 8: Các mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản, 2017-2025
Thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu vào Nhật chủ yếu là tôm, mực đông lạnh. Hải sản của Việt Nam, nhất là tôm, được thị trường Nhật Bản đánh giá khá cao. Hầu hết lượng tôm, mực đông lạnh chào hàng của Việt Nam đều được khách hàng Nhật đặt mua. Tuy nhiên, để nâng cao giá bán và tăng tính hấp dẫn đối với mạng lưới xuất khẩu và phân phối tại Nhật, các doanh nghiệp chế biến hải sản của Việt Nam cần quan tâm hơn nữa đến khâu chất lượng và vệ sinh thực phẩm. Trong đó, việc lấy xác nhận trước về chất lượng (pre-certification) đóng vai trò hết sức quan trọng bởi nó góp phần rất lớn vào việc giảm chi phí phát sinh trong quá trình hàng hoá lưu thông tại Nhật.
- Cơ cấu sản phẩm lâm sản xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản
Các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu lâm sản sang thị trường Nhật Bản chủ yếu là đồ gỗ và các sản phẩm mây tre đan thủ công mỹ nghệ. Về hàng mây tre đan, Nhật Bản luôn là thị trường nhập khẩu lớn, luôn chiếm từ 10-29% tổng kim ngạch xuất khẩu lâm sản của Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng hàng năm của xuất khẩu mây tre đan sang Nhật liên tục ở mức 25-30% từ năm 2020 đến nay.
Hiện nay Việt Nam đang vươn lên thứ 3 trong số các nước xuất khẩu đồ gỗ vào Nhật Bản, sau Trung Quốc và Thái Lan, chiếm thị phần 15%. Năm 2023, xuất khẩu đồ gỗ sang Nhật Bản đạt 150 triệu, đến năm 2024 đạt 172,5 triệu và đến năm 2025 con số này là 286,2 triệu USD, chiếm 14,6% kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam với mức tăng trưởng khoảng 10,8%/ năm. Cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản năm 2025 như sau:
- Bảng 9: Cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản
Tổng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ sang Nhật của các doanh nghiệp Việt Nam đạt 286,2 triệu USD. Về cơ cấu sản phẩm đồ gỗ, dăm gỗ là sản phẩm đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất sang Nhật, đạt 64,12 triệu USD, chiếm tỷ trọng 22,4%. Tiếp đến là đồ gỗ nội thất phòng ngủ, kim ngạch đạt 54,1 triệu USD, chiếm 18,9% tỷ trọng. Đồ nội thất văn phòng đạt 42,07 triệu USD, chiếm 14,7% tỷ trọng. Đồ nội thất phòng khách, phòng ăn đạt 58,1 triệu USD, chiếm 20,3% tỷ trọng; ghế đạt 36,9 triệu USD, chiếm tỷ trọng 12,9%.
2. Đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
2.1. Về chất lượng sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản
Nhật Bản là thị trường có những đòi hỏi rất cao về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Hiện nay, sản xuất nông nghiệp Việt Nam nói chung và sản xuất nông, thuỷ sản nói riêng vẫn trong tình trạng manh mún và lạc hậu. Vì vậy, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong quá trình sản xuất gặp rất nhiều khó khăn và hiệu quả không cao. Hầu hết hoạt động sản xuất vẫn ở quy mô nhỏ, chưa có những trang trại hay các doanh nghiệp lớn. Nếu so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới năng suất nông, ngư nghiệp của Việt Nam tương đối thấp. Chính vì vậy, nguồn nguyên liệu cho sản xuất và xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, thuỷ sản còn hạn chế; chất lượng các sản phẩm còn chưa cao và không đồng đều. Tỷ lệ các sản phẩm ở dạng nguyên liệu hoặc mới qua sơ chế chiếm tỷ lệ cao trong tổng khối lượng xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản. Các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ tận dụng được lợi thế về điều kiện tự nhiên và nhân công chi phí rẻ trong quá trình sản xuất song hàm lượng công nghệ trong sản phẩm xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản còn thấp.
Chất lượng hàng nông, lâm thuỷ sản của Việt Nam nói chung và hàng nông, lâm, thuỷ sản xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản nói riêng tuy đã được cải thiện nhưng chưa cao, chưa ổn định và chưa đáp ứng được những yêu cầu đặt ra của thị trường Nhật Bản, đặc biệt là những quy định liên quan đến kiểm dịch động thực vật và an toàn vệ sinh dịch tễ. Có một số nguyên nhân của tình trạng trên:
Chưa kiểm soát được chất lượng nguyên liệu đầu vào cho xuất khẩu.
- Thu mua nguyên liệu Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản của chúng ta chưa kiểm soát được nguồn gốc và chất lượng nguyên liệu dẫn đến tình trạng nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu không đồng nhất, xuất xứ từ nhiều nguồn khác nhau, rất khó kiểm soát được các thành phần nguyên liệu có độc hại hay không. Các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản chủ yếu thu mua nguyên liệu xuất khẩu từ các hộ, tuy nhiên, đến nay, nhiều vùng, kể cả những vùng sản xuất hàng hoá tập trung, vẫn tồn tại kỹ thuật canh tác kiểu cổ truyền, sử dụng cây con năng suất, chất lượng thấp, không thích ứng với nhu cầu thị trường Nhật Bản. Ngoài ra, tình trạng lạm dụng những chế phẩm hoá học trong trồng trọt và chăn nuôi và đã bị phát hiện như vấn đề nhiễm kháng sinh với thuỷ sản, vấn đề tồn dư hoá chất bảo vệ thực vật trong rau, quả Việt Nam trong thời gian qua gây ảnh hưởng xấu tới uy tín của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản. Ngoài ra, theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 90% diện tích và sản lượng nông sản như cà phê, cao su, rau quả xuất khẩu là từ nông dân nhưng việc trồng trọt, thu hoạch cà phê của người nông dân vẫn mang tính riêng lẻ…Trong khi việc chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp, công nghệ chế biến nông sản cho nông dân, một vấn đề quan trọng để nâng cao chất lượng cho nông sản Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn, mặc dù Trung tâm khuyến nông quốc gia thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã có nhiều cố gắng. Nếu cứ để nông dân sản xuất riêng lẻ như hiện nay thì khó có thể đảm bảo chất lượng nông sản xuất khẩu.
Đối với thuỷ sản, chúng ta thấy rõ trong việc những tháng đầu năm 2026, Nhật Bản liên tục cảnh báo phát hiện dư lượng kháng sinh Chloramphenicol tồn tại trong thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam. Nguyên nhân của tình trạng trên là các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản chủ yếu đi thu mua từ ngư dân, khi đánh bắt xa bờ ngư dân do không có hầm cấp đông bảo quản, thay vì sử đụng đá cây đã sử dụng Chloramphenicol bảo quản được lâu hơn. Hơn nữa, tại các cơ sở nuôi trồng cũng rất khó khăn trong việc kiểm soát sử dụng thức ăn không rõ nguồn gốc và hoá chất đảm bảo không có thành phần bị cấm.
Khâu nghiên cứu, lai tạo và phát triển nguồn cây giống, con giống còn nhiều hạn chế. Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chưa gắn kết được hoạt động với các viện nghiên cứu để nghiên cứu, áp dụng nuôi trồng cây giống, con giống tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu vùng nuôi trồng đồng thời đảm bảo năng suất và đáp ứng được chất lượng của thị trường nhập khẩu Nhật Bản đặt ra. Thời gian lai tạo lâu, việc phổ biến giống mới còn chậm và nhiều hạn chế. Điều này làm cho đầu vào của các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản gặp khó khăn ngay từ khâu giống.
Công nghệ chế biến ở các doanh nghiệp xuất khẩu nông lâm thuỷ sản còn lạc hậu, chậm đổi mới. Máy móc, thiết bị, kỹ thuật chế biến chưa đáp ứng yêu cầu chất lượng của thị trường Nhật Bản. Việc thiếu vốn dẫn tới các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam không thường xuyên đổi mới được máy móc, thiết bị công nghệ chế biến. Hệ số đổi mới máy móc thiết bị của các doanh nghiệp này chỉ đạt 7%/ năm, bằng 1/2-1/3 so với mức tối thiểu của các nước xuất khẩu nông, thuỷ sản trong khu vực như Thái Lan, Maylaysia. Ngoài ra, việc phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản phụ thuộc khá nhiều vào khả năng cung cấp nguyên liệu cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, hiện nay việc cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thường xuyên không ổn định vì chưa có các vùng chuyên canh nông, lâm, sản tập trung cho năng suất cao, sản xuất nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến phục vụ xuất khẩu phần lớn là tự phát, chưa gắn công nghiệp chế biến với vùng nguyên liêu. Do đó, vẫn có tình trạng sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sản xuất ra không có nhà máy chế biến thu mua, tiêu thụ hết và ngược lại, nhiều doanh nghiệp khi có đơn đặt hàng lớn từ thị trường Nhật Bản lại không thu mua đủ nguyên liệu để chế biến đành phải khước từ đơn hàng. Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Hệ thống quản lý chất lượng mang tính quốc tế như ISO 9000, ISO 14000 và HACCP là chứng nhận quan trọng đối với thị trường Nhật Bản. Tuy nhiên, chưa có nhiều doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam đạt được những chứng chỉ này. Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP), đến nay mới chỉ có 89/336 cơ sở chế biến thuỷ sản được Bộ Thuỷ sản công nhận đạt tiêu chuẩn ngành về điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, bao gồm các loại hình chế biến thuỷ sản đông lạnh, chế biến thủy sản khô, chế biến đồ hộp, chế biến nước mắm xuất khẩu. Chỉ số này cho thấy, còn đến 73,5% số cơ sở chưa đạt tiêu chuẩn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm ngành thuỷ sản và còn 20% sản phẩm còn đang được sản xuất trong điều kiện không đạt tiêu chuẩn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (78/336 doanh nghiệp chiếm 80% lượng hàng xuất khẩu). Đối với các cơ sở chế biến đạt tiêu chuẩn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm ngành thuỷ sản, việc áp dụng HACCP là nội dung bắt buộc khi xuất khẩu sản phẩm vào thị trường Nhật Bản. Tuy nhiên, việc áp dụng HACCP trong các cơ sở chế biến xuất khẩu còn mang nặng tính hình thức, đối phó với thị trường nhập khẩu, với cơ quan kiểm tra. Đa số các doanh nghiệp chưa quan tâm đầy đủ việc áp dụng thực sự HACCP tại cơ sở và thực sự coi HACCP là biện pháp hữu hiệu để quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sản phẩm do cơ sở sản xuất, từ đó dẫn đến nhiều lô hàng bị huỷ bỏ hoặc bị trả về do không đạt yêu cầu.
- Tiêu chuẩn chất lượng
Thêm vào đó, các tiêu chuẩn chất lượng nông sản, lâm, thuỷ sản của Việt Nam hiện nay còn nhiều điểm chưa đổi mới, theo kịp được các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là với thị trường khắt khe như Nhật Bản nên việc nông sản, lâm, thuỷ dù đã phân loại chất lượng song vẫn không được đánh giá cao là điều dễ hiểu. Ví dụ như các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê đang mua bán cà phê không theo quy trình tiêu chuẩn. Nông dân trồng cà phê thường có thói quen thu hái tổng hợp hạt xanh lẫn hạt chín, phơi và cất giữ thủ công khiến chất lượng giảm. Tuy nhiên, điều đáng nói hiện nay là việc áp dụng tiêu chuẩn cho cà phê xuất khẩu. Là thành viên của Tổ chức Cà phê thế giới (ICO)- tổ chức có 25 nước chiếm 73,1% lượng cà phê xuất khẩu toàn cầu phải tuân thủ những tiêu chuẩn về cà phê xuất khẩu, nhưng Việt Nam hiện lại nằm trong số 26,9% lượng cà phê xuất khẩu không tuân theo tiêu chuẩn nào của ICO. Điều này khiến Việt Nam trở thành nước chuyên xuất khẩu cà phê xô, bởi hàng tốt hàng xấu trộn lẫn lộn. Hiện chúng ta đã có tiêu chuẩn nhà nước-TCVN4193:2024 của Việt Nam về yêu cầu kỹ thuật đối với cà phê nhân sống và đã được tổ chức cà phê thế giới công nhận. Nhưng đến thời điểm này tiêu chuẩn TCVN4193:2024 vẫn chưa được áp dụng, cả người bán và người mua vẫn có thói quen sử dụng tiêu chuẩn cũ- TCVN4194-3-93. Điểm khác nhau là tiêu chuẩn cũ chỉ đánh giá cà phê ở ba tiêu chí là hàm lượng ẩm, hạt đen vỡ và tạp chất. Trong khi tiêu chuẩn mới đánh giá theo số lỗi của cà phê. Việc chưa áp dụng tiêu chuẩn mới phù hợp với quốc tế phản ánh những yếu kém trong quản lý chất lượng hàng hoá của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam nói chung, các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu cà phê sang thị trường Nhật Bản nói riêng.
2.2. Thực trạng trình độ lao động, năng lực tài chính và công nghệ của doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Trình độ đội ngũ lao động của các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản còn yếu kém về cả về tay nghề và trình độ học vấn, chủ yếu thiên về số lượng. Đặc biệt, nguồn lao động được đào tạo về chuyên môn lại càng hiếm hoi. Điều này gây ảnh hưởng lớn đến việc tiếp thu và sử dụng các kỹ thuật, công nghệ mới vào trong sản xuất. Trình độ quản lý của các cấp lãnh đạo các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản mặc dù đang được cải thiện song trình độ chuyên môn, kinh nghiệm quản lý còn nhiều hạn chế, thiếu hiểu biết về thị trường Nhật Bản. Trình độ tin học, ngoại ngữ của người lao động còn hạn chế vẫn là vấn đề lớn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam nói chung, doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm sản sang thị trường Nhật Bản nói riêng. Hơn nữa, muốn làm ăn thương mại với thị trường Nhật Bản, chúng ta cũng phải biết tiếng Nhật để hiểu hơn về thị trường Nhật Bản, tuy nhiên số lượng người biết tiếng Nhật ở nước ta còn chưa nhiều, do đó, đội ngũ cán bộ biết tiếng Nhật trong các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản còn rất ít.
Năng lực tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản còn nhiều hạn chế. Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, năng lực tài chính có hạn, chủ yếu kinh doanh dựa trên vốn vay từ các ngân hàng. Nhìn chung, các doanh nghiệp này thiếu vốn kinh doanh, vốn lưu động chỉ đáp ứng trên dưới 30% nhu cầu kinh doanh. Tình trạng doanh nghiệp sau khi ký được hợp đồng với đối tác Nhật Bản mới đi vay tiền ngân hàng đến khi tổ chức thu mua nguyên liệu thì giá thành đã thay đổi không phải là không có. Các doanh nghiệp phải vay vốn chịu lãi suất cao, đẩy chi phí lên cao, ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt, do thiếu vốn kinh doanh các doanh nghiệp không đủ sức tiêu thụ với khối lượng lớn sản phẩm cho người sản xuất, nhất là các vùng sản xuất tập trung để dự trữ chế biến xuất khẩu, không đủ sức liên kết với bên sản xuất, đầu tư ứng trước giống, phân bón, thuốc phòng bệnh… cho người sản xuất, nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản xuất khẩu. Cũng do thiếu vốn nên khả năng đầu tư của các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản nhìn chung nhỏ cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng hàng hoá và không có tiền chi cho hoạt động xúc tiến thương mại, Marketing, thâm nhập thị trường . Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Không có tiềm lực tài chính đủ mạnh đầu tư cho việc mua sắm đổi mới máy móc, thiết bị sản xuất, chế biến nên thực trạng công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản còn chậm đổi mới, lạc hậu so với các nước trong khu vực và thế giới. Công nghệ chế biến của chúng ta tuy đã có nhiều đổi mới so với trước đây, song so với các nước xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, công nghệ chế biến của chúng ta vẫn còn lạc hậu. Đối với hàng nông sản, lâm sản các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm sản Việt Nam chủ yếu sử dụng máy móc, quy trình kỹ thuật chế biến chưa đáp ứng được yêu cầu chất lượng của thị trường Nhật Bản. Một số máy móc, thiết bị chế biến còn thiếu và chưa đồng bộ, tốc độ thay thế máy móc, công nghệ mới chậm hơn so với tốc độ tăng trưởng sản xuất nông nghiệp. Hệ số đổi mới thiết bị chỉ đạt 7%, chỉ bằng 1/2-1/3 mức tối thiểu của các nước khác trong khu vực như Thái Lan, Malaysia. Tỷ trọng công nghệ chế biến của các mặt hàng nông sản của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp, với cà phê là 50%, cao su là 45%, rau quả là 5%. Chế biến nông sản của Việt Nam ở các hộ gia đình chủ yếu dừng lại ở chế biến tiểu thủ công nghiệp, kỹ thuật lạc hậu. Mặt khác, do công nghệ chế biến còn lạc hậu nên các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam thường không đúng khẩu vị của người Nhật Bản, trong khi đó các đối thủ cạnh tranh của Việt Nam như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan có cơ cấu sản phẩm xuất khẩu cũng như chất lượng sản phẩm xuất khẩu có khả năng đáp ứng cao yêu cầu của người tiêu dùng Nhật Bản. Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam còn gặp phải vấn đề công nghệ chế biến chưa phù hợp, cơ cấu sản phẩm vì thế không phù hợp với nhu cầu thị trường. Ví dụ như thị trường Nhật Bản không trồng được cao su nguyên liệu, nhu cầu nhập khẩu cao su nguyên liệu từ nước ngoài để phục vụ các ngành công nghiệp như xăm, lốp, ô tô, trục lăn,… là rất lớn. Chủ yếu thị trường này cần cao su nguyên liệu SVR 10,20. Tuy nhiên cao su Việt Nam dù được sản xuất trên dây chuyền tương đối hiện đại so với khu vực nhưng cơ cấu cao su chưa phù hợp với thị trường nên chủ yếu sản phẩm là cao su SVR3L (chiếm 83%) là loại nhu cầu thị trường ít, do đó lượng xuất khẩu cao su vào thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế. Ngoài ra, đối với xuất khẩu lâm sản, các doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ mỹ nghệ, đồ mây tre đan phần lớn tập trung ở các làng nghề, chủ yếu là các xưởng sản xuất, chưa xây dựng được nhà máy quy mô lớn, chủ yếu là công nghệ thủ công, chưa ứng dụng được các kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. cũng do chậm đổi mới về công nghệ, các thiết kế kiểu dáng đồ gỗ mỹ nghệ và nội thất, mây tre đan của các doanh nghiệp xuất khẩu lâm sản của Việt Nam chưa chủ động, chưa phù hợp với yêu cầu của thị trường Nhật Bản . Các đơn đặt hàng của đối tác luôn kèm theo các kiểu dáng mà họ đã lựa chọn. Nhưng thiết kế mẫu mã thường rất khó và tốn kém, công nghệ của Việt Nam khó mà đáp ứng được. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu rau quả vào thị trường Nhật Bản, việc ứng dụng công nghệ sản xuất tiên tiến được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây. Các tiến bộ bao gồm các lĩnh vực: Thay đổi cơ cấu giống, đa dạng hoá sản phẩm, ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô trong nhân giống để cải thiện chất lượng giống: áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác và bảo vệ thực vật tiên tiến: áp dụng công nghệ nhà lưới có mái che sáng, công nghệ tưới tiên tiến. Tuy nhiên, sự thay đổi này diễn ra không đồng đều giữa các vùng sản xuất vì nhiều lý do như khí hậu thời tiết, trình độ thâm canh, khả năng đầu tư, khả năng tiếp cận kỹ thuật tiến bộ và thị trường,… Công nghệ và trang thiết bị xử lý sau thu hoạch để trừ côn trùng, vi sinh vật có hại, bảo vệ chất lượng rau quả cũng như công nghệ bảo quản rau quả tươi chưa được các doanh nghiệp xuất khẩu rau quả áp dụng rộng rãi. Kho lạnh ít và phần lớn chưa đặt đúng chỗ, ít phát huy tác dụng. Công nghệ sau thu hoạch còn rất kém và đã có rất ít tiến bộ kỹ thuật về lĩnh vực này được chuyển giao cho các hộ nông dân mà doanh nghiệp tiến hành thu mua. Việc thu hoạch, vận chuyển, đóng gói, bao bì và bảo quản không đúng cách làm cho rau quả xuất khẩu sang Nhật bị hư hỏng nhiều (trên 20%). Một số công nghệ bảo quản rau tươi mới chỉ dừng lại ở mức độ áp dụng thử nghiệm nên lượng xuất khẩu từ các công nghệ mới này còn rất hạn chế. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản, vấn đề công nghệ cũng đang là khó khăn mà các doanh nghiệp này phải giải quyết. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang Nhật ngày càng tăng với tốc độ tăng trưởng trung bình 7,5-8%/ năm là tín hiệu cho thấy các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản đã đầu tư máy móc, công nghệ để sản xuất hàng hoá cho giá trị cao. Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản đang từng bước kết hợp mở rộng và giữ vững thị trường Nhật Bản với việc ngày càng nhiều nhà máy đạt tiêu chuẩn quốc tế, ứng dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO, HACCP… Tuy nhiên vẫn còn nhiều doanh nghiệp sử dụng công nghệ đã lạc hậu. Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Đánh giá thực trạng về công nghệ chế biến thuỷ sản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam, Viện nghiên cứu cơ khí nhận định: Công nghệ của ngành chế biến thuỷ sản của nước ta hiện nay ở mức trung bình so với thế giới. Chỉ có 15% doanh nghiệp chế biến thuỷ sản sử dụng công nghệ hiện đại theo tiêu chuẩn Nhật Bản. Trong lĩnh vực đông lạnh chiếm hơn 80% công nghệ, thiết bị sản xuất chủ yếu được trang bị trước năm 2019. Mặt khác việc bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng chế biến thuỷ sản còn thấp. Trong năm 2025, chỉ 30% các doanh nghiệp có sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, trong đó 18% doanh nghiệp quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn HACCP. Những năm gần đây, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thuỷ sản đã rất nỗ lực trong việc cải tạo điều kiện sản xuất, môi trường và đổi mới nâng cấp thiết bị công nghệ chế biến, Tuy nhiên, do trên 70% nhà máy đã hoạt động trên 10 năm, máy móc thiết bị chủ yếu là công nghệ sơ chế, đông lạnh, tỷ lệ lao động thủ công trong chế biến còn lớn, năng lực tài chính lại có hạn nên việc đầu tư nâng cấp điều kiện sản xuất đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đổi mới trang thiết bị công nghệ chưa được thực hiện đồng bộ, nhất là trang thiết bị phụ trợ. Vì vậy, quá trình sản xuất, chế biến của nhiều cơ sở không những không đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm như yêu cầu của thị trường Nhật Bản mà hàm lượng công nghệ trong sản phẩm còn thấp. Sản phẩm chủ yếu là đông lạnh, chiếm tới 86% sản lượng và hơn 90% về giá trị, đồ hộp và thuỷ sản tươi sống chiếm một tỷ lệ rất nhỏ tại thị trường Nhật Bản. Phần lớn sản phẩm ở dạng thô, sơ chế, các hàng thuỷ sản có giá trị gia tăng chỉ chiếm 1/5 tỷ trọng.
Nâng cao trình độ khoa học và công nghệ là điều kiện cơ bản nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp. Sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp trong những năm qua có phần đóng góp đáng kể của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học. Nhiều loại giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện tự nhiên đã thay thế cho những loại giống cũ. Khoa học và công nghệ bước đầu phát huy vai trò tích cực trong chuyển biến cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao chất lượng nông, lâm, thuỷ sản xuất khẩu, nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu chuyển đổi nhanh, có hiệu quả và bền vững sản xuất nông nghiệp theo định hướng thị trường và nâng cao chất lượng sản phẩm, hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ vẫn còn nhiều bất cập. Đến nay, nhiều vùng, kể cả những vùng sản xuất hàng hoá tập trung, vẫn tồn tại kỹ thuật canh tác kiểu cổ truyền, sử dụng cây con năng suất, chất lượng thấp, không thích ứng với nhu cầu thị trường Nhật Bản. Ngoài ra, tình trạng lạm dụng những chế phẩm hoá học trong trồng trọt và chăn nuôi và đã bị phát hiện như vấn đề nhiễm kháng sinh với thuỷ sản, vấn đề tồn dư hoá chất bảo vệ thực vật trong rau, quả Việt Nam trong thời gian qua gây ảnh hưởng xấu tới uy tín của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản. Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
2.3. Thực trạng năng lực tổ chức sản xuất, xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản
Về khả năng chủ động về nguyên liệu đầu vào sản xuất và khả năng sản xuất, xuất khẩu: Nguồn nguyên liệu cho sản xuất, chế biến ở các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản phần lớn do thu mua từ các hộ cá thể. Đối với mặt hàng thuỷ sản, trong một thời gian dài, nguyên liệu thủy sản cung cấp cho chế biến chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên gần bờ sẵn có, lệ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên. Nuôi trồng thuỷ sản chưa trở thành nguồn cung cấp nguyên liệu chủ yếu và ổn định cho chế biến, và cũng lệ thuộc quá nhiều vào thiên nhiên. Đối với nông, lâm sản chúng ta cũng chưa xây dựng được quy hoạch những vùng nguyên liệu cho sản xuất, chế biến quy củ. Khâu tổ chức sản xuất của các doanh nghiệp xuất khẩu vì thế thường thiếu hoặc bỏ trống quy hoạch vùng nguyên liệu. Phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản chỉ tập trung đầu tư xây dựng mới hoặc mở rộng các nhà máy chế biến mà thiếu quy hoạch và xây dựng cơ sở nguyên liệu làm nguồn cung cấp nguyên liệu vững chắc, lâu dài cho mình. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản thường xuyên xẩy ra tình trạng thiếu nguyên liệu trong thời điểm này nhưng lại thừa nguyên liệu trong thời điểm khác và nguyên liệu cung cấp không đủ tiêu chuẩn chất lượng theo yêu cầu của thị trường Nhật Bản. Đây là hậu quả của sự phát triển chưa đồng bộ giữa tốc độ xây dựng nhà máy chế biến với khả năng mở rộng vùng nguyên liệu. Khi năng lực chế biến vượt xa năng lực cung cấp nguyên liệu (công suất của các nhà máy chế biến chỉ sử dụng được 65-70%) tất yếu giá nguyên liệu bị đẩy lên cao trong khi hàm lượng công nghệ của sản phẩm chế biến lại không tăng đáng kể, tỷ trọng chi phí nguyên liệu trong giá thành sản phẩm tăng từ 50-60% lên tới 80-90% khiến cho năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản còn nhiều hạn chế. Hàng thuỷ sản là một ví dụ điển hình. Nguồn nguyên liệu trong nước hiện chỉ đủ công suất khoảng 50% công suất chế biến thuỷ sản xuất khẩu nên đầu năm nay, Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP) vừa kiến nghị Chính phủ về việc nhập nguyên liệu về chế biến xuất khẩu, nhất là mặt hàng tôm. Với mặt hàng cá ba sa, cá tra thời điểm giá cao mọi người đổ xô đào ao, mở rộng diện tích nuôi, nhưng do vượt quá khả năng chế biến của nhà máy, làm giá giảm mạnh, người nuôi thua lỗ, cùng nhau ngưng nuôi, và sau đó, diễn biến ngược lại, thiếu nguyên liệu, giá tăng cao… Tình hình này diễn ra không dưới 2 lần trong năm 2025. Đó là biểu hiện của sự phát triển chưa bền vững, sự chưa tương đồng giữa mối quan hệ sản xuất tiểu nông, manh nún, phân tán với lực lượng sản xuất hàng hoá quy mô ngày càng lớn, đang phát triển của các nhà máy chế biến.
Câu chuyện của các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ sang thị trường Nhật Bản cũng tương tự, 80% gỗ nguyên liệu chế biến phải nhập khẩu từ nhiều nước. Năm 2025, các doanh nghiệp phải nhập 760 triệu USD, trong số 1,93 tỷ USD xuất khẩu sản phẩm, trong đó xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản là 286,2 triệu USD. Thực chất, đây là các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ của Việt Nam đang thực hiện công việc chế biến gia công. Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Trong công tác quản lý xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản cũng còn nhiều bất cập. Tình trạng thiếu máy móc, chuyên gia giám định chất lượng, không tuân thủ tiêu chuẩn chất lượng hoặc tuân thủ nhưng lại là tiêu chuẩn chất lượng đã cũ, không còn phù hợp thường xuyên xảy ra. Thậm chí có những doanh nghiệp không có chuyên môn trong lĩnh vực này, không có chuyên gia giám định chất lượng cũng tham gia xuất khẩu. Hậu quả là chất lượng sản phẩm không đảm bảo, uy tín sản phẩm của chúng ta cũng giảm sút. Thực tế này đã diễn ra đối với một số doanh nghiệp chè, cà phê, thuỷ sản.
Giá cả của sản phẩm: Mặc dù một số chi phí dịch vụ hạ tầng phục vụ sản xuất nông. lâm, thuỷ sản xuất khẩu như điện, nước, viễn thông, cảng biển, phí vận tải,…của Việt Nam cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh như Thái Lan, Malaysia, Inđônêxia,… nhưng do tận dụng được lợi thế về điều kiện tự nhiên và chi phí nhân công, chi phí sản xuất nên giá thành của nhiều nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam thấp hơn so với giá trên thị trường thế giới và khu vực. Tuy nhiên, giá thấp, chất lượng chưa cao nên yếu tố giá vẫn không phải là yếu tố cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản của chúng ta, đặc biệt là với thị trường có thể chấp nhận giá cao nếu chất lượng tốt như thị trường Nhật Bản. Giá nông sản, thuỷ sản và lâm sản (đồ gỗ, mây tre đan) của Việt Nam thường xuyên chỉ bằng khoảng 80-90% giá của Ấn Độ, Thái Lan và thấp hơn nhiều so với giá sản phẩm nông, thuỷ sản và lâm sản (đồ gỗ, mây tre đan) cùng loại trên thị trường Nhật Bản. Mặt hàng gạo là một ví dụ. Mặc dù chất lượng đã được cải thiện nhưng chủ yếu là cải thiện độ gãy của gạo. So với loại 5% tấm của Thái Lan, chất lượng của chúng ta về mùi vị, hình dáng, kích thước và tỷ lệ thuỷ phần vẫn thua kém. Điều này làm cho giá gạo xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam thấp hơn so với giá gạo xuất khẩu của Thái Lan và giá gạo thế giới. Giá gạo của Thái Lan năm 2025 loại 5%DP là 350 USD/ tấn, của Việt Nam là 325 USD/ tấn, loại 5% của Thái Lan là 340 USD/ tấn, của thế giới là 330 USD/ tấn thì giá gạo của Việt Nam chỉ có 320 USD/tấn. Đối với hàng cà phê, tỷ lệ thuỷ phần, tạp chất, tỷ lệ vỡ cao và chưa theo tiêu chuẩn của Tổ chức cà phê Thế giới ICO. Giá cà phê của Việt Nam năm 2025 là 1.507 USD/ tấn trong khi giá cà phê của Braxin là 2.272 USD/ tấn và của thế giới là 2.504 USD/ tấn. Với hàng thuỷ sản tình trạng cũng diễn ra tương tự. Năm 2025, giá tôm càng xanh loại 1-2 của Ấn Độ là 6,72 USD/ kg, Thái Lan là 7,02 USD/ kg trong giá tôm càng xanh loại này của Việt Nam chỉ là 6,3 USD/ kg. Đối với hàng mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản còn chưa phong phú về mẫu mã, kiểu dáng nên giá hàng hoá của Việt Nam dù thấp song vẫn không cạnh tranh được so với các sản phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc cùng loại.
2.4. Thực trạng năng lực công tác marketing, tổ chức xuất khẩu và thâm nhập thị trường Nhật Bản Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Hiện nay các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản Việt Nam đã chú trọng hơn công tác marketing, tổ chức xuất khẩu và thâm nhập thị trường Nhật Bản bởi đây thực sự là thị trường tiềm năng với các sản phẩm trên của Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề Marketing sản phẩm vẫn là điểm yếu nhất của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản. Nó bao hàm từ việc nắm bắt các thông tin thị trường như: nhu cầu (số lượng, chất lượng, mẫu mã, vòng đời sản phẩm hàng hoá…), giá cả, chính sách, luật lệ, kênh phân phối, đối thủ cạnh tranh… đến việc quảng bá sản phẩm vào thị trường. Khả năng thực hiện marketing xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản còn quá yếu trong khi hỗ trợ marketing xuất khẩu của các cơ quan chức năng Nhà nước lại không được thường xuyên và chưa thực sự có trọng điểm. Việc nắm bắt các thông tin thị trường không tốt sẽ dẫn đến việc không dám quyết định hoặc quyết định không đúng trong sản xuất, xuất khẩu và bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu. Việc quảng bá sản phẩm (trong đó có xây dựng thương hiệu) của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu. Thực tế hiện nay, hình thức xuất khẩu của chúng ta sang thị trường Nhật Bản vẫn chủ yếu dừng lại ở hình thức xuất khẩu trực tiếp hoặc qua trung gian nước thứ ba chứ chưa gắn liền với các hình thức hợp tác kinh tế khác đặc biệt là đầu tư, liên doanh, liên kết và hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Năng lực tiếp cận và đáp ứng các đòi hỏi của thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế. Bản thân các doanh nghiệp khi mới chuyển sang kinh tế thị trường chưa hoàn toàn tỏ ra thích ứng và nhanh nhạy với những thay đổi trên thị trường thế giới nói chung và thị trường NhậtBản nói riêng. Cũng vì lý do không tiếp cận được thị trường một các đầy đủ nên các doanh nghiệp của Việt Nam thường phải xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản gián tiếp qua nước thứ ba, do đó giá xuất khẩu của Việt Nam thường thấp hơn nhiều so với giá xuất khẩu của các nước trong khu vực.
Việc tiếp cận thông tin thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản còn rất hạn chế do các đơn vị này hầu hết có qui mô nhỏ, không đủ năng lực và chi phí cho công tác tiếp thị. Trong khi công tác xúc tiến thương mại của các cơ quan chức năng của Nhà nước không thường xuyên và chưa thực sự có hiệu quả. Thực tế các doanh nghiệp của chúng ta vẫn thiếu rất nhiều thông tin về thị trường Nhật Bản. Ở cấp Bộ cũng như các doanh nghiệp chưa có những tổ chức hoặc bộ phận chuyên nghiên cứu về thị trường nông sản, thuỷ sản, lâm sản của Nhật Bản để chủ động đối phó với sự biến động của thị trường. Khâu khai thác thông tin từ những tổ chức hỗ trợ các nhà xuất khẩu nước ngoài của Nhật Bản như JETRO (Tổ chức xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản) còn yếu và chưa tận dụng được hết thông tin từ các tổ chức này. Tình trạng thiếu thông tin đã hạn chế rất nhiều đến cơ hội giao thương, cũng như tận dụng được những ưu đãi mà thị trường Nhật Bản dành cho các doanh nghiệp Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Việc phân tích và dự báo các xu hướng chuyển biến của thị trường cũng chưa được thực hiện đầy đủ và chính xác nên gây khó khăn trong công tác tổ chức xuất khẩu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản thường xuyên rơi vào tình trạng bị động về nguyên liệu đầu vào, sản phẩm phù hợp với thời vụ.
Công tác tiếp thị cho các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam còn yếu, phần lớn chưa có chiến lược cụ thể, thiếu tầm nhìn xa, thiếu sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành. Một phần cũng do các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản Việt Nam phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, quy mô vốn còn nhiều hạn chế nên chi phí cho hoạt động xúc tiến thương mại, Marketing, việc thâm nhập thị trường Nhật Bản còn nhiều hạn chế, không đủ mạnh, đơn lẻ, rời rạc. Các phương thức tiếp thị truyền thống như tổ chức hội chợ triển lãm, tham gia hội chợ quốc tế vẫn còn chưa được chú trọng hoặc nếu có vẫn chưa thực sự có hiệu quả.
Công tác xây dựng chiến lược xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản còn nhiều bất cập. Phần lớn chưa xây dựng được chiến lược xuất khẩu mà chỉ dừng lại ở việc tổ chức xuất khẩu khi đã giành được đơn hàng, vẫn mang tính “chộp giật”.
Chất lượng sản phẩm chưa cao, uy tín thương hiệu doanh nghiệp và sản phẩm chưa cao, công tác Marketing, tiếp cận thị trường còn chưa tốt, do đó năng lựu xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản còn nhiều hạn chế.
2.5. Uy tín thương hiệu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản
Người tiêu dùng biết đến doanh nghiệp thông qua chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp, hệ thống phân phối, các dịch vụ bán hàng và hậu bán hàng, uy tín kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp,…. Những yếu tố này tạo nên uy tín thương hiệu của doanh nghiệp trong lòng người tiêu dùng. Ngày nay, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản nói riêng ngày càng quan tâm hơn đến việc xây dựng thương hiệu bởi công tác này có giá trị to lớn cả về vật chất và tinh thần, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lựu xuất khẩu của doanh nghiệp.
Tuy đã có nhiều thay đổi trong nhận thức về xây dựng thương hiệu nhưng vấn đề thương hiệu vẫn là hạn chế của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản làm giảm năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp. Theo điều tra của Cục xúc tiến thương mại Việt Nam (Viet Trade) ở 14/37 tỉnh phía Bắc, số doanh nghiệp thực hiện công tác đăng ký nhãn hiệu hàng hoá mới chiếm khoảng 21%, và chỉ 2,1% đăng ký nhãn hiệu ở nước ngoài. Chỉ có khoảng 15% hàng nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam được đăng ký mang thương hiệu Việt Nam trong khi Nhật Bản là thị trường coi trọng thương hiệu, coi trọng những sản phẩm có thương hiệu. Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản chưa chủ động được nguồn hàng xuất khẩu. Do đặc điểm của sản phẩm nông, lâm, thủy sản và sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, ảnh hưởng rất nhiều bởi yếu tố biến động thời tiết, mức sinh lời, khả năng quay vòng, thu hồi vốn thấp nên cũng là những nhân tố khách quan làm giảm uy tín thương hiệu của doanh nghiệp Việt Nam. Hiện các doanh nghiệp Việt Nam chưa xây dựng được hệ thống phân phối các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản mang thương hiệu Việt Nam rộng khắp trên thị trường Nhật Bản. Các dịch vụ bán hàng và hậu bán hàng còn yếu, rất khó triển khai do thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm. Ngoài ra, chất lượng sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản của chúng ta còn thấp, công tác xúc tiến thương mại, Marketing còn nhiều hạn chế, chưa hiệu quả cũng là những yếu tố gây ảnh hưởng xấu đến uy tín thương hiệu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản.
Tóm lại, mặc dù khối lượng và kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản liên tục tăng trong những năm qua, năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu các sản phẩm này còn thấp. Ngoài những nguyên nhân chủ quan từ phía các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam như chất lượng sản phẩm thấp, công nghệ chậm đổi mới, công tác tiếp thị, Marketing, thâm nhập thị trường còn yếu, uy tín thương hiệu doanh nghiệp còn thấp,… còn có những nguyên nhân khách quan như chính sách thương mại và quy chế nhập khẩu khắt khe của thị trường Nhật Bản, hệ thống pháp luật chính sách của chúng ta tồn tại nhiều bất cập,…Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam cần tận dụng và phát huy tối đa lợi thế, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, tích cực đổi mới công nghệ, hệ thống quản lý, đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, Marketing, thâm nhập thị trường, xây dựng uy tín thương hiệu,…nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản của đất nước. Khóa luận: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp


Pingback: Khóa luận: Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam