Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại KienlongBank, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NHTM cổ phần Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
2.1 Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long và chi nhánh Kiên Long Hải Phòng- sự hình thành và phát triển.
2.1.1, Lịch sử hình thành, phát triển của NH TMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng:
NH TMCP Kiên Long được thành lập vào năm 1995 theo giấy phép thành lập số 0056/NH-CP ngày 18/09/1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngày 27/10/1995, Ngân hàng Kiên Long chính thức đi vào hoạt động.
NH TMCP Kiên Long có Hội sở chính (HO) tại số 44 Phạm Hồng Thái – Thị xã Rạch Giá – Tỉnh Kiên Giang. Chi nhánh Hải Phòng (khai trương ngày 22/02/2022) là chi nhánh thứ 2 của hệ thống NH TMCP Kiên Long tại miền Bắc sau Chi nhánh Hà Nội, địa chỉ tại số 87 Tô Hiệu, phường Trại Cau, quận Lê Chân, TP Hải Phòng. Sau hơn 03 năm hoạt động, CN Hải Phòng đã có được 04 PGD (Kiến An, Lạch Tray, Ngô Quyền, Trần Nguyên Hãn) với một số lượng khách hàng giao dịch ổn định và thường xuyên.
Ngân hàng TMCP Kiên Long – CN Hải Phòng hoạt động với mục đích là cầu nối cung cấp vốn cho nền kinh tế, thực hiện các hoạt động huy động vốn, Tín dụng, các dịch vụ thanh toán và các hoạt động Ngân hàng khác vì mục tiêu lợi nhuận, tăng trưởng, phát triển cho bản thân NH và nền kinh tế.
2.1.2, Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ các phòng ban của NHTMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng:
Ngân hàng TMCP Kiên Long- CN Hải Phòng có bộ máy tổ chức phù hợp với hoạt động kinh doanh của NH TMCP Kiên Long đồng thời cũng đáp ứng được những yêu cầu của hệ thống NH nước ta hiện nay.
- Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức
2.1.3, Kết quả hoạt động kinh doanh của NHTMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng thời gian từ năm 2023-2025. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại KienlongBank.
2.1.3.1, Công tác huy động vốn:
- Bảng 2.1: Tổng vốn huy động (ĐVT: Triệu đồng)
Từ bảng tổng hợp trên ta có thể thấy tình hình huy động vốn của NH TMCP Kiên Long – CN Hải Phòng năm 2025 đã có sự tăng đáng kể so với năm 2024, tăng 173.883 triệu đồng (tương ứng với 60,76%). Đây là một con số cũng khá ấn tượng vì tình hình kinh tế năm 2025 có nhiều biến động, ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế vẫn còn, lạm phát tăng cao, hoạt động của các ngành Chứng khoán, Bất động sản, thị trường vàng có nhiều biến động, bị giám sát chặt chẽ, hệ thống Ngân hàng đang có nhiều sự thay đổi, việc sát nhập và phân loại xếp hạng Ngân hàng cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động của NHTMCP Kiên Long- CN Hải Phòng. Đây là những con số tổng quát về tình hình huy động vốn của Chi nhánh Hải Phòng trong 2 năm qua, năm 2025 huy động đạt 88% kế hoạch điều chỉnh và bằng 160,67% năm 2024.
Nhìn vào bối cảnh chung trên địa bàn Hải Phòng năm 2025: Trên địa bàn Hải Phòng có 47 TCTD, tổng huy động vốn tại các TCTD này trong năm qua là 44.084 tỷ đồng, tăng 1% so với năm 2024 và Ngân hàng Kiên Long- CN Hải Phòng chiếm tỉ trọng khoảng 1,05%. Đây là một con số không lớn lắm tuy nhiên nhìn vào quy mô hoạt động, số lượng Phòng giao dịch và thời gian hoạt động của Ngân hàng Kiên Long thì quả thật đây cũng là một con số đáng khích lệ, có thể có khả năng phát triển trong những năm tiếp theo.
2.1.3.2, Hoạt động tín dụng:
Cùng với những nỗ lực trong việc tăng cường hoạt động huy động vốn, tìm kiếm những nguồn vốn chi phí thấp và ổn định thì Ngân hàng cũng tích cực triển khai các hoạt động nhằm mục tiêu “ Tín dụng an toàn, hiệu quả”- đây vừa là phương châm hoạt động, đồng thời cũng là thách thức đối với Ngân hàng. Công tác tín dụng là hoạt động mang lại nguồn lợi nhuận lớn nhất cho Ngân hàng (thường từ 60% đến 80% tại các NHTM Việt Nam) tuy nhiên hoạt động tín dụng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro có thể dẫn đến tình trạng thất thoát vốn, mất khả năng thanh khoản của Ngân hàng. Hoạt động tín dụng góp phần không nhỏ vào sự phát triển của Ngân hàng và sự phát triển kinh tế của thành phố.
Bảng 2.2: Dư nợ Tín dụng ngày 31/12 hàng năm Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại KienlongBank.
Nhìn vào các bảng số liệu trên ta thấy có sự thay đổi từ năm 2023 đến năm 2025. Cụ thể là năm 2024 dư nợ tín dụng tăng 219,47% so với năm 2023, đạt 308.427 triệu đồng, đến năm 2025 số dư nợ tín dụng có tăng thêm 28,41% tương ứng với 87.625 triệu đồng đạt 396.052 triệu đồng. Điều này là do tình hình kinh tế năm 2023 chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế Thế giới năm 2022, chỉ số lạm phát trong nước cao nên hoạt động tín dụng của Ngân hàng cũng bị ảnh hưởng. Năm 2024 tình hình kinh tế trong nước và trong địa bàn Hải Phòng đã ổn định nên hoạt động tín dụng có xu hướng tăng.
2.1.3.3, Các hoạt động dịch vụ kinh doanh khác:
Kinh doanh ngoại tệ: Trong năm 2025, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NH TMCP Kiên Long- CN Hải Phòng tăng 127% so với năm trước, lãi kinh doanh ngoại tệ là 19 triệu đồng. Chi nhánh luôn chấp hành tốt trạng thái ngoại tệ và là 1 trong 3 Chi nhánh đầu tiên trong hệ thống hoàn thành chỉ tiêu Thanh toán quốc tế.
- Tổng doanh số thanh toán, chuyển tiền trong nước đạt 478 tỷ đồng, bằng 319% so với năm 2024.
- Chi trả kiều hối đạt 2 tỷ đồng, bằng 123% năm trước.
- Doanh số mở và thanh toán L/C đạt 13,5 tỷ, bằng 53% năm trước.
Trong năm 2025 các hợp đồng mở và thanh toán L/C của NH TMCP Kiên Long- CN Hải Phòng giảm chỉ bằng 53% so với năm 2024, đến thời điểm hiện nay thì tất cả các hợp đồng thanh toán L/C đều đã kết thúc. Năm vừa qua Ngân hàng đã thực hiện 11 món thanh toán L/C cho khách hàng với giá trị của mỗi món khoảng từ 50.000 đến 70.000USD.
Trong năm 2026, NH TMCP Kiên Long- CN Hải Phòng đã và đang đưa ra những biện pháp tối ưu để nâng dần tỉ trọng các dịch vụ của Ngân hàng, thúc đẩy phát triển các hoạt động thanh toán quốc tế, L/C, hoạt động kinh doanh ngoại tệ, đồng thời phát triển hoạt động Thẻ. Đây đã và đang là những mục tiêu được Ngân hàng chú trọng đến trong tương lai gần để phát triển toàn diện và bền vững.
2.1.3.4, Về mặt doanh thu hoạt động:
- Bảng 2.3 : Kết quả hoạt động kinh doanh Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại KienlongBank.
Thu nhập từ hoạt động kinh doanh của Chi nhánh năm 2025 là 89.038 triệu đồng, tăng 15.136,5 triệu đồng, tương ứng với 20,48%; năm 2024 tăng 58.837,5 triệu đồng, tương ứng với tỉ lệ tăng là 390,6%, đồng thời chi phí qua các năm 2023, 2024, 2025 cũng tăng tương ứng là 54.390,5 triệu đồng và 4.663,5 triệu đồng. Từ đó chênh lệch thu chi cũng tăng từ 3.240 triệu đồng năm 2023 lên 7.687 triệu đồng năm 2024, và năm 2025 là 18.160 triệu đồng. Năm 2025 tăng so với năm 2024 là 136,2%; năm 2024 tăng so với năm 2023 tăng 4.447 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 137,25 %. Như vậy là tốc độ tăng chi phí trong năm 2024 so với tốc độ tăng lợi nhuận năm 2024 là rất lớn tuy nhiên đến năm 2025 thì ngược lại tốc độ tăng chi phí của Ngân hàng thấp hơn tốc độ tăng của lợi nhuận. Điều này cho thấy những chi phí (khuyến mại, quảng cáo,…) mà Ngân hàng bỏ ra trong năm 2024 thì đến năm sau đã thu được kết quả tốt. Sau 3 năm hoạt động (từ năm 2022 đến 2025) kết quả kinh doanh của NH TMCP Kiên Long- CN Hải Phòng đã có những tín hiệu đáng mừng, cho thấy biện pháp quản lý, các chính sách kinh doanh, những nỗ lực của CBNV Ngân hàng là hợp lý, và cũng cho ta thấy vị thế của NH TMCP Kiên Long- CN Hải Phòng đang được nâng cao trong khu vực. Tuy là một Chi nhánh mới nhưng những thành quả mà Chi nhánh Hải Phòng đã đạt được cho ta một cái nhìn khách quan về tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong những năm tiếp theo. Mặc dù được khai trương vào một thời điểm nhạy cảm của nền kinh tế (năm 2022) nhưng những số liệu trên đã chứng tỏ khả năng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng là có hiệu quả, đã và đang đi đúng hướng.
Xếp theo tỷ lệ thực hiện kế hoạch năm 2025 của toàn hệ thống KLB(loại trừ HO), thì Kiên Long Hải Phòng đứng thứ 3/24 đơn vị về huy động vốn sau Bến Tre, Phú Quốc và đứng thứ 3/24 về dư nợ tín dụng sau CN Sài Gòn, An Giang và đứng thứ 5/24 về chỉ tiêu lợi nhuận.
- Về các công tác điều hành, quản lý Ngân hàng:
Nhận thức được khó khăn và thách thức trong giai đoạn hiện nay, khi hoạt động của Ngân hàng chịu sự giám sát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước, trần lãi suất huy động và cho vay được áp theo quy định, hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng cạnh tranh gay gắt, ban lãnh đạo Ngân hàng đã xác định phương châm hoạt động đúng đắn, đề cao sự an toàn hiệu quả, không chạy theo dư nợ, doanh số cho vay. Tập trung rà soát các quy trình nghiệp vụ cho vay, nâng cao tinh thần trách nhiệm cho cán bộ nhân viên Ngân hàng. Công tác thẩm định được quan tâm một cách sát sao, công tác kiểm tra giám sát một cách thường xuyên, nâng cao năng lực, nghiệp vụ của cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định.
2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng tại NHTM cổ phần Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại KienlongBank.
2.2.1 Thực trạng hoạt động tín dụng:
Như ta đã nhắc đến ở phía trên những con số tổng quan về dư nợ tín dụng tại Ngân hàng ngày 31/12 trong 3 năm qua. Để hiểu rõ hơn về thực trạng hoạt động tín dụng của Ngân hàng, ta sẽ cùng phân tích những con số chi tiết hơn:
- Sơ đồ 2.2: Doanh số cho vay phân theo kì hạn khoản vay
Ở bảng trên ta thấy doanh số cho vay năm sau cao hơn năm trước, tăng dần qua các năm:
- Năm 2023 tổng doanh số cho vay là 107.908 triệu đồng, với cơ cấu doanh số cho vay ngắn hạn là 68,71%; trung dài hạn là 31,29%.
- Năm 2024 tổng doanh số cho vay tăng 352.476 triệu đồng, cơ cấu doanh số cho vay ngắn hạn là 70%, cho vay trung dài hạn là 30%.
- Năm 2025 doanh số cho vay là 697.112 triệu đồng, bằng 106% năm 2024, cơ cấu cho vay ngắn hạn là 69%, doanh số cho vay trung dài hạn là 31%.
Ta thấy 3 năm qua cơ cấu cho vay ngắn hạn; trung dài hạn không thay đổi nhiều nhưng ta cũng thấy được sự ổn định trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động tín dụng. Công tác tín dụng đăc biệt là cho vay trung và dài hạn luôn được Ngân hàng kiểm soát chặt chẽ bởi những đặc trưng cơ bản của hoạt động này, tránh rủi ro cho Ngân hàng, khách hàng và tình hình kinh tế xã hội. Đây là ưu điểm tuy nhiên cũng là nhược điểm trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Tuy cho vay ngắn hạn ít rủi ro nhưng lợi nhuận lại không lớn, và hơn thế nhìn vào phần huy động vốn của Ngân hàng ở bảng trên ta thấy Ngân hàng huy động chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn nên việc cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng cũng có những hạn chế. Đây là điểm cần khắc phục của Ngân hàng, để có được nguồn vốn cho vay trung và dài hạn một cách ổn định, lâu dài. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại KienlongBank.
- Sơ đồ 2.3: Dư nợ tín dụng qua các năm
Theo bảng số liệu phía trên ta thấy hoạt động tín dụng có nhiều biến động theo hướng tích cực, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế của các thành phần kinh tế trong xã hội. Dư nợ tín dụng ngắn hạn năm 2023 là 68.296 triệu đồng, tương ứng với 70,74%, năm 2024 tăng lên 215.714 triệu đồng tuy nhiên tỉ trọng so với tổng dư nợ giảm 0,8% còn 69,94%; năm 2025 là 69,24% tương ứng với 274.226,4 triệu đồng giảm 0,7%. Dư nợ trung và dài hạn có chiều hướng tăng tỉ trọng trong tổng dư nợ, năm 2023 là 29,26%, năm 2024 chiếm 30,06% tăng 0,8%; năm 2025 tăng 0,7% chiếm 30,76%. Tỷ lệ cho vay trung và dài hạn tuy không cao nhưng đây là lĩnh vực đầu tư mang nhiều rủi ro nên Ngân hàng đang từng bước nâng cao chất lượng tín dụng và đầu tư ở mức độ hợp lý, an toàn, vừa mang lại thu nhập cho Ngân hàng vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế cho địa phương. Đặc biệt là do tâm lý của khách hàng hiện nay khi lãi suất đang có nhiều biến động, hiện tại Ngân hàng Nhà nước vẫn đang áp mức lãi suất trần cho tiền gửi và lãi suất có xu hướng giảm nên người dân không muốn gửi tiền với kì hạn hơn 12 tháng, mà hầu hết chỉ gửi với kì hạn dưới 12 tháng. Chính vì lẽ đó nên hoạt động tín dụng trung và dài hạn cũng được Ngân hàng cân nhắc rất kĩ khi đầu tư vì có thể gây nên rủi ro dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh khoản của Ngân hàng. Ngân hàng sử dụng một phần nguồn vốn huy động ngắn hạn để đầu tư cho hoạt động tín dụng trung và dài hạn, tuy nhiên chỉ được phép sử dụng dưới 30% để tạo sự an toàn cho nguồn vốn của Ngân hàng đồng thời mang lại lợi nhuận.
2.2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng:
Qua những số liệu trên, ta đã thấy được thực trạng hoạt động tín dụng của Ngân hàng, tuy rằng Chi nhánh mới thành lập được 4 năm nhưng hoạt động tín dụng của Ngân hàng cũng đã có những dấu hiệu tăng trưởng về quy mô, chất lượng. Hoạt động huy động vốn, kinh doanh khác cũng có những tín hiệu khả quan, cho thấy tiềm năng phát triển của Ngân hàng trong giai đoạn tới. Để có được kết quả như vậy, Ngân hàng trong thời gian qua đã có những biện pháp đồng bộ, tích cực, có cách nhìn nhận xa vấn đề, dựa vào tốc độ phát triển của nền kinh tế để dự đoán nhu cầu tín dụng cũng như các nhu cầu về sản phẩm tài chính khác của Ngân hàng. Việc cấp tín dụng cũng dựa vào quy mô nguồn vốn của Ngân hàng, việc xác định doanh số cho vay hàng năm là khá cụ thể. Chủ động tìm kiếm khách hàng, nâng cao chất lượng tín dụng thông qua vận dụng một cách hiệu quả quy trình, quy định cấp tín dụng, cụ thể: Đối với khách hàng truyền thống, Ngân hàng thường duy trì mối quan hệ thông qua cho vay với chính sách ưu đãi. Trong khi đó, Ngân hàng cũng thực hiện nhiều biện pháp để lôi kéo thu hút khách hàng mới cũng như đưa ra những sản phẩm mới, đa dạng, tư vấn cho khách hàng trong hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên chưa nói như vậy là Ngân hàng không có rủi ro, kết quả hoạt động kinh doanh, dư nợ tín dụng tăng cũng chưa thể nói là chất lượng tín dụng tốt, ta cần đi vào một số nhóm chỉ tiêu chính ở Chương I để có cái nhìn tổng quát hơn:
2.2.2.1, Chỉ tiêu nợ quá hạn: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại KienlongBank.
Tình hình nợ quá hạn của Ngân hàng được thể hiện qua bảng sau:
- Bảng 2.4: Tỷ lệ nợ quá hạn
Nhìn bảng số liệu trên ta thấy tình hình nợ quá hạn của NH TMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng có xu hướng tăng trong 3 năm qua. Từ 1% vào năm 2023 lên đến 4% vào năm 2025. Điều này cho ta thấy khả năng có thể xảy ra rủi ro tín dụng tăng dần qua các năm, khả năng quản lý nợ và thu hồi nợ của Ngân hàng chưa cao, cần có các biện pháp khắc phục. Tuy nhiên ta cũng cần xét đến những nguyên nhân khách quan từ môi trường kinh tế trong các năm qua, hoạt động kinh doanh của DN có nhiều khó khăn. Từ những điều đó, Ngân hàng cần tích cực đưa ra những biện pháp tích cực để giảm tỷ lệ nợ quá hạn của Ngân hàng xuống thấp hơn nữa. Trước đây tỉ lệ nợ quá hạn của NHTM Việt Nam thường chiếm tỷ lệ cao(từ 12% đến 15%) nhưng trong những năm gần đây tỉ lệ này thường xoay quanh 5%. Do đó tỷ lệ nợ quá hạn của NHTMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng năm 2025 là tương đối cao, Ngân hàng cần có sự khắc phục kịp thời.
2.2.2.2, Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu:
Ta có tình hình nợ xấu của Ngân hàng qua bảng sau:
- Bảng 2.5: Tỷ lệ nợ xấu
Nhìn vào bảng số liệu phía trên, ta có thể thấy tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng tăng qua các năm, tuy nhiên điều này cũng do ảnh hưởng không nhỏ của tình hình nền kinh tế. Năm 2023, khi Ngân hàng mới đi vào hoạt động sang năm thứ 2 thì các khoản cho vay của Ngân hàng hầu hết là vay ngắn hạn, việc thu hồi nợ diễn ra nhanh chóng, không tồn đọng những khoản nợ xấu, nợ khó đòi. Năm 2024, mặc dù tình hình kinh tế trong nước có nhiều biến động, chịu sự tác động của khủng hoảng kinh tế Thế giới, các DN làm ăn khó khăn, nhiều DN phá sản nhưng các DN vẫn nhận được sự hỗ trợ của Chính phủ bằng những gói kích cầu nên các khoản nợ vẫn được tất toán đúng hạn, tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng là 0,8%. Năm 2025 vừa qua, tỷ lệ nợ xấu của NHTMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng tăng lên 1,5% cũng do nhiều nguyên nhân. Nhưng nguyên nhân chính là do ảnh hưởng của tình hình kinh tế, của thị trường bất động sản bị đóng băng, của thị trường vàng, chứng khoán bị siết chặt, trong khi đó thì tỷ lệ lạm phát trong nước cao khiến cho các loại chi phí đầu vào tăng đột biến mà đầu ra thì bị hạn chế, các đơn bị kinh doanh chậm trả nợ, số lượng doanh nghiệp phá sản tăng khiến cho nợ xấu tăng cao.
Tỷ lệ nợ xấu của Chi nhánh Kiên Long Hải Phòng không vượt quá tỷ lệ nợ xấu của bình quân ngành trong các năm vừa qua (Năm 2023:2,5%; năm 2024: 2,19%; năm 2025: 3,39%- theo www.stockviet.) . Như vậy là tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng vẫn nằm trong khả năng có thể kiểm soát được và chưa phải là một con số quá cao. Điều này đã cho ta thấy chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng thực sự đã được Ban lãnh đạo Ngân hàng quan tâm một cách sâu sát, trong các năm qua thường xuyên có sự kiểm tra, giám sát hoạt động cho vay của nhân viên tín dụng cũng như việc sử dụng vốn của khách hàng, đã giúp Ngân hàng chủ động trong việc giải Ngân, tìm kiếm, mở rộng thị trường. Như đã nói ở phần trên, khách hàng chiếm tỷ trọng lớn của Ngân hàng là DN tư nhân vừa và nhỏ, đây là những đối tượng khách hàng có mức độ rủi ro cao, khả năng áp dụng các biện pháp bảo đảm là rất hạn chế nhưng Ngân hàng vẫn duy trì tỷ lệ nợ xấu thấp như vậy cho ta thấy Ngân hàng đã có được nền tảng vững chắc trong việc duy trì, nâng cao chất lượng tín dụng.
2.2.2.3, Dư nợ cho vay theo biện pháp đảm bảo: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại KienlongBank.
Ta có số liệu về cơ cấu dư nợ Tín dụng phân theo có tài sản bảo đảm và không có tài sản đảm bảo
- Bảng 2.6: Dư nợ TD phân theo tài sản đảm bảo
Theo bảng phía trên, từ năm 2023 đến hết năm 2025 thì cơ cấu dư nợ theo bảo đảm tiền vay của Ngân hàng không có sự thay đổi lớn. Năm 2023, do chưa có nhiều khách hàng truyền thống, có uy tín nên 100% dư nợ tín dụng của Ngân hàng là các khoản vay có bảo đảm, đến năm 2024 và 2025 thì tỷ lệ các khoản vay không có bảo đảm tăng lên là 2%, 1% theo sắp xếp.
Như vậy ta có thể thấy rằng phần lớn các khoản cho vay của Ngân hàng TMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng trong các năm vừa qua là có tài sản thế chấp. Tuy nhiên đây cũng là tình trạng chung của hệ thống NHTM Việt Nam. Nguyên nhân của tình trạng trên là trong điều kiện của chúng ta hiện nay thông tin chưa hoàn hảo, sự hiểu biết của Ngân hàng về khách hàng còn quá hạn chế, mà nếu như có thông tin thì cũng không mấy tin cậy làm cho Ngân hàng thường e ngại trong việc cho vay tín chấp. Thực tế trên thế giới, những công ti xếp hạng tín dụng có uy tín đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin có chất lượng cho Ngân hàng, hệ thông phương tiện thông tin đại chúng phát triển. Còn trong điều kiện chúng ta thông tin chủ yếu thông qua Trung tâm thông tin tín dụng (CIC), Ngân hàng nhà nước, qua các mối qua hệ chính thức cũng như phi chính thức của Ngân hàng và nguồn chủ yếu là chính khách hàng cung cấp. Tuy nhiên, thông tin thông qua cơ quan chức năng thì không đủ tính cụ thể và tính cập nhật không cao, trong khi đó thông tin từ khách hàng thì chất lượng không cao vì khách hàng thường có xu hướng che giấu thông tin thật sự, làm đẹp hồ sơ của mình để có thể thoã mãn các điều kiện vay vốn.
Mặt khác trong quan hệ tín dụng các quy định về cho vay tín chấp còn hạn chế dẫn đến rất khó khăn cho Ngân hàng trong xử lí nếu xảy ra tình trạng khách hàng không thể thực hiện đúng hợp đồng.
Và một lí do quan trọng như đề cập ở trên là chính khách hàng của Ngân hàng không đủ uy tín để Ngân hàng cho vay không đảm bảo bằng tài sản.
Việc áp dụng cho vay không có đảm bảo bằng tài sản chỉ áp dụng đối với các khách hàng truyền thống thực sự có uy tín với Ngân hàng, trong hoạt động kinh doanh thường xuyên có lãi và thuyết phục Ngân hàng bằng chính phương án, dự án khả thi.
2.2.2.4, Tỷ lệ mức độ tập trung tín dụng theo đối tượng tín dụng và thời gian tín dụng:
- Bảng 2.7: Dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế và thời hạn TD
Qua bảng “Dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế và thời hạn TD” của Ngân hàng ta thấy rằng nhóm đối tượng khách hàng chính là DN tư nhân vừa và nhỏ(chiếm >60%) đây là nhóm đối tượng được Ngân hàng tập trung khai thác, bên cạnh đó hiện nay Ngân hàng cũng bắt đầu cho vay với nhưng nhóm đối tượng là hộ gia đình, cá nhân (chiếm >30%) vay vốn với mục đích sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ. Tỷ lệ này đối với NHTM tại Việt Nam là hợp lý. Ở địa bàn Hải Phòng hiện nay thì 2 nhóm đối tượng này chiếm tỷ trọng rất lớn, tuy là nhóm đối tượng khách hàng tiềm ẩn rủi ro cao nhưng cũng sẽ là thị phần khách hàng tiềm năng trong tương lai không xa. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại KienlongBank.
Tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng chiếm tỷ trọng khoảng 70%, có biến động không lớn qua các năm, tín dụng trung dài hạn chiếm khoảng 30%. Điều này vừa là ưu điểm, vừa là nhược điểm trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Tuy tín dụng ngắn hạn có rủi ro thấp, nhưng lại không mang lại nguồn lợi lớn cho Ngân hàng, thế nên trong tương lai Ngân hàng cần tích cực đẩy mạnh công tác tăng trưởng tín dụng trung dài hạn. Ngân hàng tập trung cho vay vào lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ và nông nghiệp hầu hết là không có. Có thực trạng trên cũng một phần do tình hình kinh tế 3 năm qua không ổn định, Ngân hàng chưa đủ điều kiện cho vay những dự án có quy mô lớn, thời gian dài và cũng do cơ cấu vốn huy động của Ngân hàng, tập trung chủ yếu vào nguồn vốn ngắn hạn (vốn huy động từ 1-3 tháng chiếm khoảng 90%). Do đó Ngân hàng cần có những biện pháp tích cực nhằm tăng cường nguồn vốn trung dài hạn để phục vụ cho hoạt động tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng, đồng thời cần có các giải pháp chiến lược nâng cao chất lượng tín dụng.
2.2.2.5, Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng:
Vòng quay vốn tín dụng của Ngân hàng qua các năm được thể hiện ở bảng:
- Bảng 2.8 : Vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn Tín dụng của Ngân hàng tăng từ 0,95 lên 2 vòng vào năm 2024 nhưng sang năm 2025 lại giảm xuống còn 1,6 vòng. Nhìn vào bảng số liệu phía trên ta thấy tốc độ tăng của doanh số thu nợ lớn hơn tốc độ tăng của dư nợ bình quân, điều này là tốt, cần được duy trì và ổn định hơn trong các năm tiếp theo.
2.2.2.6, Chỉ tiêu doanh số cho vay
- Bảng 2.9: Doanh số cho vay Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại KienlongBank.
Ở bảng trên cho ta thấy doanh số cho vay của Ngân hàng trong các năm qua có xu hướng tăng lên, đặc biệt từ năm 2023 sang năm 2024 có con số tăng đáng kể, từ hơn 107 tỷ đồng lên hơn 657 tỷ đồng tương ứng với tốc độ tăng hơn 500%, sang năm 2025 doanh số cho vay có tỷ lệ tăng khiêm tốn hơn do tình hình kinh tế gặp nhiểu khó khăn, tỷ lệ lạm phát cao, hoạt động tín dụng bị kiểm soát chặt chẽ, tỷ lệ tăng so với năm 2024 là 6%. Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng doanh số cho vay của Ngân hàng vẫn có xu hướng tăng, đây là một tín hiệu đáng mừng trong giai đoạn khó khăn này của toàn hệ thống Ngân hàng, điều đó cũng một lần nữa khẳng định rằng chất lượng tín dụng của Ngân hàng đã được quan tâm một cách hợp lý và đúng đắn.
2.2.2.7, Chỉ tiêu sinh lời từ hoạt động tín dụng:
Tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng, tỷ lệ lợi nhuận từ tín dụng 3 năm qua đều chiếm trên 90% tổng lợi nhuận. Hiện nay tại các NHTM ở Việt Nam thì lợi nhuận từ hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng cao như vậy, lợi nhuận từ các dịch vụ Ngân hàng khác chỉ chiếm khoảng 10% tổng lợi nhuận. Ta có
- Bảng 2.10: Lợi nhuận từ hoạt động Tín dụng
Nhìn bảng số liệu phía trên ta cũng nhận thấy được điều này và theo xu hướng Ngân hàng hiện đại ngày nay thì tỷ trọng này đang được dần thay đổi. Mặc dù tín dụng là nguồn thu chủ yếu của Ngân hàng nhưng lại là nơi tiềm ẩn nhiều rủi ro có thể dẫn đến mất khả năng thanh khoản cho Ngân hàng. Với những số liệu trên ta thấy hoạt động của Ngân hàng đang phụ thuộc rất lớn vào hoạt động tín dụng,trong thời điểm nhạy cảm như hiện nay, khi Nhà nước phân nhóm xếp loại các Ngân hàng, quy định mức tăng trưởng tín dụng với từng Ngân hàng (tại NHTMCP Kiên Long được phép tăng trưởng tín dụng là 15%), các Ngân hàng đang trong giai đoạn tái cơ cấu thì quả thực điều này đang là điểm bất lợi đối với Ngân hàng. Theo xu hướng hiện nay, các Ngân hàng một mặt tăng cường nâng cao chất lượng tín dụng, mặt khác cũng đưa ra nhiều sản phẩm dịch vụ Ngân hàng hơn nhằm đáp ứng nhu cầu phong phú của khách hàng như các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, giữ tài sản… nhằm tăng thu nhập và giảm thiểu rủi ro.
2.2.2.8, Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn:
Nhìn bảng số liệu 2.11 sau ta có thể thấy hiệu suất sử dụng vốn của Ngân hàng trong 03 năm qua khá tốt và có nhiều biến động mạnh:
- Năm 2023 hiệu suất sử dụng vốn là 96,4%.
- Năm 2024 hiệu suất sử dụng vốn là 107,8%
- Năm 2025 hiệu suất sử dụng vốn là 86,1%.
Bảng 2.11: Hiệu suất sử dụng vốn Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại KienlongBank.
Năm 2024 là năm Ngân hàng có hiệu suất sử dụng vốn cao nhất trong vòng 3 năm qua. Những con số trên đây cho ta một cách nhìn khả quan về tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng, từ đó cho ta thấy Ngân hàng sử dụng vốn đạt được hiệu quả cao. Ngân hàng đã tích cực trong việc tìm kiếm khách hàng tốt để cho vay, tận dụng nguồn vốn huy động với chi phí thấp để cho vay. Tuy nhiên Ngân hàng cũng cần chú trọng đến việc đảm bảo an toàn cho các khoản vay để đem lại lợi nhuận, hiệu quả cho hoạt động tín dụng cũng như các hoạt động kinh doanh khác của Ngân hàng.
2.2.2.9, Tỷ lệ xóa nợ
Ngân hàng TMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng có tỉ lệ xóa nợ trong các năm như sau:
- Bảng 2.12 : Tỷ lệ xóa nợ
Tỷ lệ xóa nợ trong 3 năm qua có xu hướng tăng, năm 2023 là 0%, năm 2024 là 0 % và đến năm 2025 là 0,4%. Điều này cho thấy rằng rủi ro tín dụng của Ngân hàng đang có xu hướng tăng dần qua các năm. Mặc dù tỷ lệ xóa nợ của Ngân hàng còn thấp, nhân viên tín dụng cũng tập trung vào việc giám sát, quản lý vốn vay, tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng các khoản vay nhưng xu hướng này cũng là điều đáng bận tâm đối với bản thân Chi nhánh Hải Phòng và toàn hệ thống Kiên Long. Ta cần có những biện pháp hợp lý và nhanh chóng để giảm tỷ lệ nợ xấu xuống mức thấp nhất, tránh việc mất vốn của Ngân hàng và khách hàng.
2.3 Đánh giá về thực trạng chất lượng tín dụng tại NHTMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng:
2.3.1 Những kết quả đạt được: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại KienlongBank.
Qua những số liệu và phân tích ở trên ta thấy trong 3 năm qua Ngân hàng đã đạt được những kết quả rất khả quan:
Về quy mô của dư nợ tín dụng ngày càng tăng, năm 2023 là 96.544 triệu đồng, sang năm 2024 tăng 219,475 đạt 308.427 triệu đồng, năm 2025 tăng lên là 396.052 triệu đồng. Có thể nói đây là một kết quả rất tốt mà Ngân hàng đã đạt được trong hơn 4 năm hoạt động, cho thấy uy tín và quan hệ tín dụng của Ngân hàng đang ngày được mở rộng. Đặc biệt dư nợ tín dụng đối với những DN tư nhân vừa và nhỏ giữ được mức độ ổn định, tỷ trọng chênh lệch giữa mỗi năm không lớn, điều này đã đáp ứng được một phần nhu cầu vay vốn của những đơn vị kinh doanh này góp phần phát triển kinh tế của Hải Phòng nói riêng và của cả nước nói chung. Ngoài ra Ngân hàng cũng hướng những sản phẩm tín dụng đến những nhóm khách hàng mới như hộ gia đình, cá nhân kinh doanh, đồng thời phát triển thêm những sản phẩm tín dụng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Về chất lượng tín dụng, mặc dù chỉ mới thành lập hơn 4 năm nhưng Chi nhánh Kiên Long Hải Phòng đã có những sự cố gắng đặc biệt trong việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng có xu hướng tăng dần từ năm 2023 là 0% đến năm 2025 là 1,5% nhưng so với tỷ lệ nợ xấu bình quân ngành trong những năm này thì đó vẫn còn được coi là một con số không quá lớn, có thể kiểm soát được. Do tình hình kinh tế Thế giới và trong nước có những ảnh hưởng nhất định nên tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng mới có xu hướng tăng như vây, trong những năm tiếp theo Ngân hàng sẽ có những biện pháp cụ thể để giảm tỷ lệ nợ xấu. Ngoài ra hiệu suất sử dụng vốn của Ngân hàng cũng khá cao.
Như vậy duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng cao và chất lượng tốt trong những năm qua đã mang lại cho Ngân hàng khoản thu nhập hàng năm tăng cao. Đây là những thành công rất lớn của Ngân hàng, của sự nỗ lực của toàn bộ CBNV trong hệ thống Ngân hàng. Một điều có thể nói là Ngân hàng đã biết tận dụng tốt các mối quan hệ của mình để tìm kiếm khách hàng, khách hàng tốt và duy trì mối quan hệ truyền thống đó. Điều này có tác dụng rất to lớn trong việc nâng cao doanh số tín dụng và chất lượng tín dụng cho Ngân hàng.
Hỗ trợ cho công tác cấp tín dụng, đảm bảo quy trình nghiệp vụ và tính linh hoạt nhằm không những tăng doanh số mà vẫn đảm bảo chất lượng tín dụng Ngân hàng còn rất chú trọng đến công tác bồi dưỡng nghiệp vụ- đó là việc tổ chức thường xuyên các cuộc thi cán bộ tín dụng giỏi trong ngành, công tác thông tin thông qua việc trang bị hệ thống vi tính kết nối mạng truyền thông, có mối quan hệ với trung tâm thông tin tín dụng (CIC)… Ngoài ra đời sống của cán bộ công nhân viên được quan tâm về cả đời sống vật chất lẫn tinh thần, ngoài lương và phụ cấp Ngân hàng còn hỗ trợ tín dụng cho cán bộ nhằm nâng cao đời sống. Chính những sự quan tâm thích đáng như vậy đã không ngừng củng cố đội ngũ cán bộ hoạt động với hiệu quả cao, mang lại thành công cho Ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại KienlongBank.
2.3.2 Những điểm hạn chế:
Bên cạnh những kết quả đạt được thì hoạt động tín dụng của Ngân hàng vẫn tồn tại những điểm hạn chế, cần khắc phục:
Nguồn vốn huy động tăng song vẫn chưa được coi là tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của thành phố, số lượng sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng tuy đã được phát triển thêm nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.
Dư nợ tín dụng tăng dần qua các năm, tỷ lệ nợ xấu so với bình quân ngành còn thấp nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Dư nợ tín dụng trung và dài hạn còn thấp do nguồn vốn huy động của Ngân hàng chỉ hầu hết tập trung vào nguồn vốn ngắn hạn.
Nhân viên tín dụng vẫn có tâm lý ngại rủi ro, chưa phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của bản thân cũng như của Ngân hàng mình. Tỷ trọng cho vay có bảo đảm bẳng tài sản vẫn chiếm tỷ trọng quá lớn, ảnh hưởng đến việc cho vay của Ngân hàng và việc tiếp cận nguồn vốn vay của khách hàng.
Chế độ lương thưởng cho nhân viên còn hạn chế, chưa khuyến khích được khả năng làm việc của nhân viên tín dụng, cán bộ tín dụng còn phải đảm trách quá nhiều công việc nên rất dễ đến việc tư lợi cá nhân.
2.3.3 Nguyên nhân: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại KienlongBank.
Có được những kết quả trên là nhờ sự chỉ đạo đúng đắn của Ban lãnh đạo Ngân hàng cùng sự cố gắng, nỗ lực của toàn bộ CBNV công tác tại Chi nhánh.
- Với những mặt còn hạn chế thì bao gồm nhiều nguyên nhân:
Nguyên nhân khách quan: Do môi trường kinh tế thế giới vài năm gần đây không tốt, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2022 và cuộc khủng hoảng nợ công tại Mỹ, các nước Châu Âu gần đây khiến cho tình hình kinh doanh của hệ thống Ngân hàng Việt Nam cũng như doanh nghiệp Việt Nam khó khăn hơn. Tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế khu vực và Việt Nam tăng cao, đang trong giai đoạn kiềm chế, khiến việc tăng trưởng tín dụng gặp nhiều bất lợi, tình hình nợ xấu của Ngân hàng tăng. Một nguyên nhân khác là hệ thống pháp luật của Việt Nam còn nhiều khe hở, chưa đồng bộ, nhất quán khiến việc xử lý những rủi ro tín dụng còn rườm rà, mất thời gian, khả năng mất vốn của Ngân hàng cao.
Nguyên nhân chủ quan: Nguyên nhân của việc áp dụng biện pháp đảm bảo có thế chấp bằng tài sản quá cao là việc áp dụng biện pháp như vậy một phần làm giảm rủi ro cho Ngân hàng nhưng mặt khác nó cũng hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của Ngân hàng. Bởi vì khả năng thoả mãn các ràng buộc về tài sản đảm bảo đối với các khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất hạn chế. Đây cũng là tình trạng chung của các NHTM tại Việt Nam, việc e dè trong cấp tín dụng không có đảm bảo đối với các loại hình doanh nghiệp này, và một yếu tố đặc biệt là khả năng nguồn vốn của một Ngân hàng TMCP nhỏ thì khó có thể đáp ứng những rủi ro mang lại. Bên cạnh đó thì trình độ phân tích của một số cán bộ chưa cao, chưa chú trọng đến việc phân tích tình hình tài chính của DN vay vốn. Dư nợ tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng chiếm tỷ trọng cao, điều này có thể được coi là biện pháp an toàn cho Ngân hàng tuy nhiên trong tương lai thì đây được coi là bất lợi. Tín dụng trung và dài hạn tiềm ẩn nhiều rủi ro nhưng là nguồn lợi nhuận lớn cho Ngân hàng. Điều này không chỉ do tâm lý của cán bộ tín dụng còn e ngại mà còn do tình hình nguồn vốn huy động của Ngân hàng chưa hợp lý. Trong khi nguồn vốn huy động ngắn hạn chiếm tỷ trọng quá cao thì nguồn vốn trung và dài hạn trong 3 năm qua hầu như là không có. Thế nên Ngân hàng không chỉ cần nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng mà cần đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhằm mục đích tăng tỷ trọng của vốn huy động trung và dài hạn. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại KienlongBank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại KienlongBank


Pingback: Khóa luận: Nâng cao chất lượng Tín dụng tại KienlongBank
Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại KienlongBank