Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Phân tích thực trạng chất lượng Tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
2.1, Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long và chi nhánh Kiên Long Hải Phòng- sự hình thành và phát triển
2.1.1, Lịch sử hình thành, phát triển của NH TMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng:
Sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua không thể không kể đến sự đóng góp của các NHTM, trong đó có NH Kiên Long. Hiện nay mạng lưới hoạt động của Ngân hàng Kiên Long đang ngày một phát triển với 92 Chi nhánh và Phòng giao dịch trên toàn quốc.
NH TMCP Kiên Long được thành lập vào năm 1995 theo giấy phép thành lập số 0056/NH-CP ngày 18/09/1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngày 27/10/1995, Ngân hàng Kiên Long chính thức đi vào hoạt động.
Hoạt động chính: huy động vốn ngắn, trung và dài hạn theo các hình thức Tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, chứng chỉ tiền gửi, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư, nhận vốn từ các TCTD trong và ngoài nước. Cho vay ngắn, trung và dài hạn, đầu tư vào các tổ chức kinh tế, làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng kinh doanh ngoại tệ, làm dịch vụ thanh toán quốc tế, đầu tư chứng khoán, cung cấp các dịch vụ đầu tư, các dịch vụ về quản lý nợ khai thác tài sản, cung cấp các dịch vụ Ngân hàng khác.
- Giai đoạn 1995- 2014:
Đây là giai đoạn hình thành Ngân hàng Kiên Long, những người sáng lập phần đông là những kĩ sư nông nghiệp chưa có khái niệm rõ về lĩnh vực Ngân hàng. Do có tầm nhìn và định hướng chiến lược rõ ràng nên Ban lãnh đạo đã gửi gắm anh em có trình độ đến Ngân hàng bạn, Ngân hàng Nhà nước để học hỏi nghiệp vụ, chuyên môn.
Giai đoạn này đầu tư cho vay chủ yếu ở địa bàn nông thôn từ nguồn tiền mặt huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế. Hoạt động Ngân hàng có lãi, hoàn thành nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước, bảo toàn vốn và chia cổ tức cho cổ đông. Nâng vốn điều lệ từ 1,2 tỷ đồng lên 4,5 tỷ đồng. Từng bước mở rộng mạng lưới qua việc thành lập thêm 03 Phòng giao dịch. Giai đoạn này, Ngân hàng đã chạy chương trình phần mềm kế toán- truyền số liệu của Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín tại TP Hồ Chí Minh. Cũng kể từ đó Ngân hàng Kiên Long là Ngân hàng Cổ phần đầu tiên tại Kiên Giang thực hiện truyền số liêu kế toán qua mạng điện thoại từ các đơn vị về Hội sở, giúp cho Ban lãnh đạo và phòng kế toán kiểm tra giám sát hàng ngày hoạt động của các đơn vị. – Giai đoạn 2014- 2019: Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Ngân hàng Kiên Long đã xây dựng Hội sở tại Thành phố Rạch Giá- là trung tâm quản lý toàn Ngân hàng, các đơn vị trực thuộc gồm 04 Chi nhánh ( 02 Chi nhánh cấp 1 gồm: Rạch Giá, Phú Quốc; 02 Chi nhánh cấp 2 gồm : Phú Quốc, Tân Hiệp) và 03 Phòng giao dịch hoạt động trên tỉnh Kiên Giang, kể cả huyện đảo Phú Quốc nơi có nhiều tiềm năng phát triển.
NH TMCP Kiên Long không ngừng nâng cao chất lượng Tín dụng, áp dụng quy trình Tín dụng chặt chẽ, hạn chế tối đa những rủi ro. Giai đoạn này Kiên Long cũng hoàn thiện và phát triển các dịch vụ: thanh toán thẻ, séc du lịch, dịch vụ chuyển tiền nhanh trong và ngoài nước.
- Giai đoạn 2019 đến nay:
Ngân hàng Kiên Long đã có những bứt phá ngoạn mục từ việc Ban lãnh đạo quyết tâm mở rộng mạng lưới phát triển, đẩy mạnh đầu tư hiện đại hóa Công nghệ, phát triển đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng hiện đại, nhằm đáp ứng nhu cầu khả năng thanh toán của nền kinh tế.
Từ những ngày đầu hoạt động kinh doanh khó khăn, Ngân hàng Kiên Long tập trung chủ yếu cho vay Nông nghiệp với phương châm “ TÂM-TÍN-KIÊN” thì ngày nay Ngân hàng Kiên Long đã nhận được lòng tin của dân chúng với mức tăng trưởng qua các năm tương đối ổn định, tạo đà phát triển cho các năm tiếp theo.
Trong quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế Việt Nam, hệ thống NHTM đã có nhiều thay đổi quan trọng cả về cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động. NH TMCP Kiên Long cũng có nhiều thay đổi tích cực với việc mở rộng Chi nhánh và số lượng PGD của mình trên toàn quốc.
NH TMCP Kiên Long có Hội sở chính (HO) tại số 44 Phạm Hồng Thái – Thị xã Rạch Giá – Tỉnh Kiên Giang. Chi nhánh Hải Phòng ( khai trương ngày 22/02/2022) là chi nhánh thứ 2 của hệ thống NHTMCP Kiên Long tại miền Bắc sau Chi nhánh Hà Nội, địa chỉ tại số 87 Tô Hiệu, phường Trại Cau, quận Lê Chân, TP Hải Phòng. Sau hơn 03 năm hoạt động, CN Hải Phòng đã có được 04 PGD ( Kiến An, Lạch Tray, Ngô Quyền, Trần Nguyên Hãn) với một số lượng khách hàng giao dịch ổn định và thường xuyên.
Ngân hàng TMCP Kiên Long – CN Hải Phòng hoạt động với mục đích là cầu nối cung cấp vốn cho nền kinh tế, thực hiện các hoạt động huy động vốn, Tín dụng, các dịch vụ thanh toán và các hoạt động ngân hàng khác vì mục tiêu lợi nhuận, tăng trưởng, phát triển cho bản thân NH và nền kinh tế.
2.1.2, Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ các phòng ban của NH TMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng: Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Ngân hàng TMCP Kiên Long- CN Hải Phòng có bộ máy tổ chức phù hợp với hoạt động kinh doanh của NH TMCP Kiên Long đồng thời cũng đáp ứng được những yêu cầu của hệ thống NH nước ta hiện nay.
- Hình 2.1: Bộ máy tổ chức Chi nhánh Kiên Long Hải Phòng
Nhìn vào sơ đồ trên ta có thể thấy được cơ cấu tổ chức hoạt động của NH TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hải Phòng bao gồm:
Giám đốc chi nhánh: chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ bộ máy quản lý của NH, trực tiếp phụ trách P.Tín dụng, P. Kế toán, 04 PGD, P.Tổ chức hành chính và P. Công nghệ thông tin.
- Phó giám đốc chi nhánh:
PGĐ thường trực: trợ giúp cho Giám đốc chi nhánh những công việc về kế toán tại Chi nhánh, được Giám đốc uỷ quyền giải quyết các công việc khi Giám đốc vắng mặt.
PGĐ phụ trách kinh doanh: trợ giúp cho Giám đốc chi nhánh trong lĩnh vực cho vay, đầu tư, giám sát việc thực hiện kế hoạch, giải ngân đồng thời phụ trách hoạt động của PGD.
Phòng Tín dụng: Phụ trách việc tìm kiếm và liên hệ với khách hàng Doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu vay vốn, nghiên cứu chiến lược kinh doanh và đề xuất chính sách ưu đãi đối với khách hàng. Phân tích kinh tế theo ngành, nghề kinh tế kỹ thuật, danh mục khách hàng, lựa chọn biện pháp cho vay an toàn và đạt hiệu quả cao, thẩm định và đề xuất cho vay các dự án tín dụng theo phân cấp ủy quyền, tiếp nhận và thực hiện các chương trình, dự án thuộc nguồn vốn trong và ngoài nước…, thường xuyên phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân và hướng khắc phục. Đồng thời nhân viên tín dụng cũng đảm nhận trách nhiệm của cán bộ thanh toán quốc tế, thực hiện cung cấp các dịch vụ thanh toán quốc tế như thanh toán tiền, thư tín dụng, nhờ thu… Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Phòng Kế toán: Chức năng, nhiệm vụ chính là tổ chức, quản lý công tác kế toán, tài chính giúp NH hoạt động theo đúng quy định của NH và của Nhà nước, giúp GĐ NH điều hành, quản lý nguồn vốn và TS của NH một cách chính xác, an toàn, hiệu quả và phát triển vốn theo đúng quy định của pháp luật hiện hành, tham mưu và xây dựng kế hoạch về công tác kế toán, tài chính. Tính toán, phản ánh tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của NH một cách đầy đủ, chính xác tuyệt đối, trung thực, kịp thời và có hệ thống, tổ chức thiết lập đầy đủ hệ thống sổ sách, chứng từ kế toán, tổ chức bảo quản lưu trữ các chứng từ kế toán, phân tích tình hình tài chính, hoạt động của NH qua đó tham mưu cho GĐ tổ chức quản lý hoạt động tài chính phục vụ hoạt động kinh doanh của NH.
Phòng Tổ chức – Hành chính: Thực hiện công tác giao dịch, tiếp đón khách đến liên hệ công tác. Đứng đầu là trưởng phòng chịu trách nhiệm chỉ đạo các cán bộ của phòng mình trong việc quản lý công tác tổ chức cán bộ của CN, công việc mua sắm và thanh lý các tài sản của cơ quan phục vụ theo yêu cầu công tác của NH.
Phòng giao dịch: Thực hiện công tác huy động tiền gửi của dân cư và Doanh nghiệp, thực hiện cho vay đối với các cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Phòng Công nghệ thông tin: Được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất, chức năng nhiệm vụ chính là quản trị hệ thống công nghệ thông tin của NH, thực hiện công tác an toàn và bảo mật thông tin, công tác quản lý dữ liệu, quản lý, khai thác hệ thống ngân hàng lõi.
2.1.3, Kết quả hoạt động kinh doanh của NH TMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng thời gian từ năm 2023-2025:
2.1.3.1, Công tác huy động vốn:
- Bảng 2.1: Số liệu huy động vốn Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Từ bảng tổng hợp trên ta có thể thấy tình hình huy động vốn của NH TMCP Kiên Long – CN Hải Phòng năm 2025 đã có sự tăng đáng kể so với năm 2024, tăng 173.883 triệu đồng ( tương ứng với 60,76%). Đây là một con số cũng khá ấn tượng vì tình hình kinh tế năm 2025 có nhiều biến động, ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế vẫn còn, lạm phát tăng cao, hoạt động của các ngành Chứng khoán, Bất động sản, thị trường vàng có nhiều biến động, bị giám sát chặt chẽ, hệ thống Ngân hàng đang có nhiều sự thay đổi, việc sát nhập và phân loại xếp hạng ngân hàng cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động của NH TMCP Kiên Long- CN Hải Phòng. Đây là những con số tổng quát về tình hình huy động vốn của Chi nhánh Hải Phòng trong 2 năm qua, năm 2025 huy động đạt 88% kế hoạch điều chỉnh và bằng 160,67% năm 2024. Để thấy rõ hơn về công tác này ta sẽ cùng tìm hiểu kĩ hơn qua những số liệu cho thấy cơ cấu nguồn vốn huy động qua các năm của Ngân hàng.
Nhìn vào bối cảnh chung trên địa bàn Hải Phòng năm 2025: Trên địa bàn Hải Phòng có 47 TCTD, tổng huy động vốn tại các TCTD này trong năm qua là 44.084 tỷ đồng, tăng 1% so với năm 2024 và Ngân hàng Kiên Long- CN Hải Phòng chiếm tỉ trọng khoảng 1,05%. Đây là một con số không lớn lắm tuy nhiên nhìn vào quy mô hoạt động, số lượng Phòng giao dịch và thời gian hoạt động của Ngân hàng Kiên Long thì quả thật đây cũng là một con số đáng khích lệ, có thể có khả năng phát triển trong những năm tiếp theo.
Để thấy rõ cơ cấu của hoạt động huy động vốn ta tìm hiểu đến các bảng chi tiết.
- Bảng 2.2: Kết cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn (ĐVT: triệu đồng)
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy rõ hơn về cơ cấu nguồn vốn huy động của Ngân hàng có sự tăng đột biến vào năm 2025 và có sự dịch chuyển từ tiền gửi KKH sang tiền gửi có kì hạn. Cụ thể là vào năm 2023 tiền gửi KKH là 4.051 triệu đồng, chiếm tỉ trọng 4%, sang năm 2024 chỉ còn 3,5% (10.015,4 triệu đồng) và đến năm 2025 thì chiếm 3% tương ứng với 13.801 triệu đồng. Trong khi đó thì tỉ trọng của tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng có xu hướng tăng, như ta đã thấy năm 2023 là 96.062 triệu đồng, chiếm 96%, năm 2024 là 276.138,6 triệu đồng chiếm 96,5% trong tổng số vốn huy động, đến năm 2025 tiếp tục tăng tỉ trọng lên là 97% tương ứng với 446.236 triệu đồng. Cho thấy tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng có xu hướng tăng và chiếm vị trí chủ đạo trong tổng nguồn vốn huy động. Các khoản tiền gửi có kì hạn trên 12 tháng hầu như không phát sinh trong 3 năm qua do tình hình kinh tế đất nước có nhiều biến đổi, hậu quả của đợt suy thoái và lạm phát từ năm 2022 cùng tâm lý của người dân lo về biến động của lãi suất. Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Để có được những kết quả khả quan trên, CN Hải Phòng đã có những cố gắng không nhỏ trong từng bước thay đổi phong cách giao dịch với khách hàng, áp dụng linh hoạt khung lãi suất quy định tại từng thời điểm, gắn việc giao khoán chỉ tiêu huy động vốn tới từng bộ phận, từng cá nhân với việc khen thưởng kịp thời các cán bộ công nhân viên có thành tích, áp dụng rộng rãi các phương pháp huy động vốn được cấp trên cho phép, cải tiến phương pháp làm việc, có nhiều chính sách ưu tiên đối với những khách hàng truyền thống, những khách hàng có lượng tiền gửi lớn tạo tâm lý vững tâm cho khách hàng khi gửi tiền. Từ đó đã giúp Ngân hàng huy động được một lượng tiền gửi lớn từ dân cư, góp phần ổn định, tạo thế chủ động cân đối nguồn vốn vào hoạt động tín dụng, đầu tư. Cụ thể năm 2023 nguồn tiền gửi là 100.113 triệu đồng, năm 2024 là 286.154 triệu đồng, năm 2025 tăng 173.883 triệu đồng đạt 460.037 triệu đồng. Sở dĩ có sự tăng trưởng như vậy là do Chi nhánh đã huy động được một lượng tiền lớn của các tổ chức trong nước và cũng một phần do vị thế, uy tín của NH TMCP Kiên Long- CN Hải Phòng được khẳng định và nâng cao trong địa bàn giao dịch. Bên cạnh đó thì trong những năm gần đây, đời sống của dân cư được cải thiện, lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư lớn, người dân cũng hình thành thói quen gửi tiền tại các Ngân hàng. Tiền gửi đã và đang chiếm tỉ trọng lớn trong nguồn vốn huy động của Ngân hàng.
Ngoài ra thì tiền gửi kì hạn 01 đến 03 tháng tại Ngân hàng cũng chiếm tỉ trọng lớn nhất là 90% ( kì hạn 01 tháng chiếm 60%, 02 và 03 tháng chiếm 30%), điều này cũng có thể coi là một khó khăn cho Ngân hàng vì như vậy lượng tiền gửi có kì hạn dài chiếm tỉ trọng rất nhỏ, ảnh hưởng đến các quyết định cho vay trung, dài hạn của Ngân hàng. Vậy nên Ban lãnh đạo Ngân hàng cần tận dụng tối đa lượng tiền gửi ngắn hạn thường xuyên tại Ngân hàng để hỗ trợ cho các khoản vay trung và dài hạn. Tuy nhiên trong tương lai xa thì Ngân hàng cần tích cực đưa ra những biện pháp hữu hiệu để tăng cường lượng tiền gửi dài hạn, đảm bảo cho hoạt động của Ngân hàng đồng thời giúp cho khả năng kinh doanh của Ngân hàng được ổn định hơn.
2.1.3.2, Hoạt động tín dụng:
Cùng với những nỗ lực trong việc tăng cường hoạt động huy động vốn, tìm kiếm những nguồn vốn chi phí thấp và ổn định thì ngân hàng cũng tích cực triển khai các hoạt động nhằm mục tiêu “ Tín dụng an toàn, hiệu quả”- đây vừa là phương châm hoạt động, đồng thời cũng là thách thức đối với ngân hàng. Công tác tín dụng là hoạt động mang lại nguồn lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng ( thường từ 60% đến 80% tại các ngân hàng thương mại Việt Nam) tuy nhiên hoạt động tín dụng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro có thể dẫn đến việc mất khả năng mất vốn, mất khả năng thanh khoản của ngân hàng. Hoạt động tín dụng góp phần không nhỏ vào sự phát triển của ngân hàng và sự phát triển kinh tế của thành phố.
- Bảng 2.3: Dư nợ tín dụng ngày 31/12 hàng năm Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Nhìn vào các bảng số liệu trên ta thấy có sự thay đổi từ năm 2023 đến năm 2025. Cụ thể là năm 2024 dư nợ tín dụng tăng 219,47% so với năm 2023, đạt 308.427 triệu đồng, đến năm 2025 số dư nợ tín dụng có tăng thêm 28,41% tương ứng với 87.625 triệu đồng đạt 396.052 triệu đồng. Điều này là do tình hình kinh tế năm 2023 chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế Thế giới năm 2022, chỉ số lạm phát trong nước cao nên hoạt động tín dụng của Ngân hàng cũng bị ảnh hưởng. Năm 2024 tình hình kinh tế trong nước và trong địa bàn Hải Phòng đã ổn định nên hoạt động tín dụng có xu hướng tăng
2.1.3.3, Các hoạt động dịch vụ kinh doanh khác:
Kinh doanh ngoại tệ: Trong năm 2025, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NH TMCP Kiên Long- CN Hải Phòng tăng 127% so với năm trước, lãi kinh doanh ngoại tệ là 19 triệu đồng. Chi nhánh luôn chấp hành tốt trạng thái ngoại tệ và là 1 trong 3 Chi nhánh đầu tiên trong hệ thống hoàn thành chỉ tiêu Thanh toán quốc tế.
- Tổng doanh số thanh toán, chuyển tiền trong nước đạt 478 tỷ đồng, bằng 319% so với năm 2024.
- Chi trả kiều hối đạt 2 tỷ đồng, bằng 123% năm trước.
- Doanh số mở và thanh toán L/C đạt 13,5 tỷ, bằng 53% năm trước.
Trong năm 2025 các hợp đồng mở và thanh toán L/C của NH TMCP Kiên Long giảm chỉ bằng 53% so với năm 2024, đến thời điểm hiện nay thì tất cả các hợp đồng thanh toán L/C đều đã kết thúc. Năm vừa qua Ngân hàng đã thực hiện 11 món thanh toán L/C cho khách hàng với giá trị của mỗi món khoảng từ 50.000 đến 70.000USD.
Trong năm 2026, NH TMCP Kiên Long đã và đang đưa ra những biện pháp tối ưu để nâng dần tỉ trọng các dịch vụ của Ngân hàng, thúc đẩy phát triển các hoạt động thanh toán quốc tế, L/C, hoạt động kinh doanh ngoại tệ, đồng thời phát triển hoạt động Thẻ. Đây đã và đang là những mục tiêu được Ngân hàng chú trọng đến trong tương lai gần để phát triển toàn diện và bền vững.
2.1.3.4, Về mặt doanh thu hoạt động: Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
- Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh
Thu nhập từ hoạt động kinh doanh của Chi nhánh năm 2025 là 89.038 triệu đồng, tăng 15.136,5 triệu đồng, tương ứng với 20,48%; năm 2024 tăng 58.837,5 triệu đồng, tương ứng với tỉ lệ tăng là 390,58%, đồng thời chi phí qua các năm 2023, 2024, 2025 cũng tăng tương ứng là 54.390,5 triệu đồng và 4.663,5 triệu đồng. Từ đó chênh lệch thu chi cũng tăng từ 3.240 triệu đồng năm 2023 lên 7.687 triệu đồng năm 2024, và năm 2025 là 18.160 triệu đồng. Năm 2025 tăng so với năm 2024 là 136,24%; năm 2024 tăng so với năm 2023 tăng 4.447 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 57,85%. Sau 3 năm hoạt động ( từ năm 2022 đến 2025) kết quả kinh doanh của NH TMCP Kiên Long- CN Hải Phòng đã có những tín hiệu đáng mừng, cho thấy biện pháp quản lý, các chính sách kinh doanh, những nỗ lực của CBNV Ngân hàng là hợp lý, và cũng cho ta thấy vị thế của NH TMCP Kiên Long- CN Hải Phòng đang được nâng cao trong khu vực. Tuy là một Chi nhánh mới nhưng những thành quả mà Chi nhánh Hải Phòng đã đạt được cho ta một cái nhìn khách quan về tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong những năm tiếp theo. Mặc dù được khai trương vào một thời điểm nhạy cảm của nền kinh tế ( năm 2022) nhưng những số liệu trên đã chứng tỏ khả năng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng là có hiệu quả, đã và đang đi đúng hướng.
Xếp theo tỷ lệ thực hiện kế hoạch năm 2025 của toàn hệ thống KLB( loại trừ HO), thì Kiên Long Hải Phòng đứng thứ 3/24 đơn vị về huy động vốn sau Bến Tre, Phú Quốc và đứng thứ 3/24 về dư nợ tín dụng sau CN Sài Gòn, An Giang và đứng thứ 5/24 về chỉ tiêu lợi nhuận.
2.1.3.5, Về các công tác quản lý:
- Về các công tác điều hành, quản lý ngân hàng:
Nhận thức được khó khăn và thách thức trong giai đoạn hiện nay, khi hoạt động của ngân hàng chịu sự giám sát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước, trần lãi suất huy động và cho vay được áp theo quy định, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng cạnh tranh gay gắt, ban lãnh đạo ngân hàng đã xác định phương châm hoạt động đúng đắn, đề cao sự an toàn hiệu quả, không chạy theo dư nợ, doanh số cho vay. Tập trung rà soát các quy trình nghiệp vụ cho vay, nâng cao tinh thần trách nhiệm cho cán bộ nhân viên ngân hàng. Công tác thẩm định được quan tâm một cách sát sao, công tác kiểm tra giám sát một cách thường xuyên, nâng cao năng lực, nghiệp vụ của cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định.
2.1.4, Một vài nét về địa bàn hoạt động của NH TMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng: Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ ở địa bàn thành phố Hải Phòng- Thành phố loại I cấp Quốc gia với các tiềm năng về cảng biển, du lịch, công nghiệp. Nơi đây tập trung rất nhiều doanh nghiệp đặc biệt là loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong thời gian qua, Hải Phòng là một trong số những thành phố có tốc độ tăng trưởng lớn trong nước, tốc độ đầu tư đổi mới sản xuất, đầu tư xây dụng cơ bản tăng mạnh trong vòng 10 năm trở lại đây, ngoài ra hoạt động đầu tư nước ngoài vào thành phổ cũng được khuyến khích và tăng trưởng nhanh chóng. Vì thế, nhu cầu vốn nói chung và nhu cầu về vay vốn Ngân hàng nói riêng của các Doanh nghiệp trên địa bàn là khá lớn. Đây là một yếu tố thuận lợi cho Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng.
Bên cạnh đó, từ nảm 2019 khi Nhà nước sửa đổi luật Doanh nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi và môi trường thông thoáng cho sự hình thành, hoạt động của các loại hình Doanh nghiệp nhỏ, các Doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân. Tuy rằng quy mô hoạt động của các Doanh nghiệp này chưa lớn nhưng đây là thành phần kinh tế nhạy bén với nhu cầu của xã hội và đa dạng loại hình kinh doanh. Bên cạnh đó việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO cũng tạo đà phát triển cho các Doanh nghiệp tại Hải Phòng có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu. Do đặc thù tại Hải Phòng chủ yếu là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, khả năng về vốn của các Doanh nghiệp này không cao nên rất cần đến sự trợ giúp của Ngân hàng trong quá trình phát triển. Tuy nhiên bên cạnh đó môi trường kinh tế cũng còn nhiểu điểm đáng lưu tâm, khi các quy định về việc thành lập Doanh nghiệp trở nên thông thoáng hơn rất dễ đến việc kẻ xấu lợi dụng những điểm còn hạn chế trong việc quản lý để mở những Doanh nghiệp “Ma” lừa đảo Ngân hàng và các nhân viên tín dụng. Điểu này khiến Ngân hàng cần tích cực trong việc thẩm định khách hàng vay vốn, cán bộ tín dụng cần có những phẩm chất trung thực, công minh trong khi tìm hiểu về khách hàng.
Ngoài ra, như ta đã biết thu nhập của người dân Hải Phòng tuy chưa phải là quá cao so với các Thành phố như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng tuy nhiên đây cũng là một trong những nơi người dân có thu nhập cao. Đây là yếu tố thuận lợi cho việc triển khai các sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng như dịch vụ chuyển tiền, thanh toán, tiết kiệm, các sản phẩm thẻ…, nâng cao khả năng huy động vốn của Ngân hàng.
Trên địa bàn Hải Phòng cũng là nơi có số lượng Chi nhánh Ngân hàng lớn, ngoài Ngân hàng thương mại quốc doanh, Thương mại cổ phần còn có các Ngân hàng liên doanh, Ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Các ngân hàng cạnh tranh rất quyết liệt trong việc đưa ra các loại hình sản phẩm, dịch vụ mới, hấp dẫn. Khi mức trần lãi suất bị Ngân hàng Nhà nước khống chế thì thực sự việc đưa ra những sản phẩm mới, thái độ phục vụ chuyên nghiệp, nhanh chóng, chất lượng Tín dụng, thương hiệu của Ngân hàng là những vũ khí lợi hại phục vụ cho việc cạnh tranh của ngân hàng.
2.2, Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng: Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng là một Chi nhánh của Ngân hàng Kiên Long, hoạt động tín dụng cũng như kinh doanh của Chi nhánh phải tuân thủ theo các quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam và NH TMCP Kiên Long. Đồng thời NH TMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng cũng phải chủ động tìm kiếm khách hàng, dự án sản xuất kinh doanh có khả thi, có khả năng hoàn trả nợ để cho vay và tự chịu trách nhiệm về quyết định cho vay của mình trên địa bàn Thành phố Hải Phòng. Hiện nay, NH TMCP Kiên Long đang áp dụng các văn bản nghiệm vụ tín dụng như:
Quyết định 1627/2015/QĐ- NHNN ngày 31/12/2015 của Thống độc Ngân hàng Nhà nước về quy chế cho vay đối với khách hàng của các tổ chức tín dụng.
Trong quyết định này đã có những sự đổi mới, mở rộng đối với các đối tượng được vay vốn của Ngân hàng bao gồm cả các đối tượng pháp nhân, cá nhân nước ngoài.
- Quyết định số 374/QĐ-NHKL- HĐQT ngày 01/08/2021 của Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP Kiên Long về quy chế cho vay của Ngân hàng TMCP Kiên Long đối với khách hàng.
- Quyết định 365/QĐ- NHKL- HĐQT ngày 16/04/2022 của Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP Kiên Long về quy trình nghiệp vụ cho vay đối với khách hàng vay vốn.
2.2.1, Thực trạng hoạt động tín dụng:
Như ta đã nhắc đến ở phía trên những con số tổng quan về dư nợ tín dụng tại ngân hàng ngày 31/12 trong 3 năm qua. Để hiểu rõ hơn về thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng, ta sẽ cùng phân tích những con số chi tiết hơn:
- Bảng 2.5: Tình hình sử dụng vốn
Những số liệu ở bảng trên là toàn cảnh về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng. Qua các năm ta đều thấy doanh số cho vay, doanh số thu nợ và dư nợ tín dụng ngày 31/12 hàng năm tăng dần. Doanh số cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng.
Ngân hàng luôn bám sát các đơn vị đã phát sinh nợ quá hạn từ năm cũ để bàn biện pháp xử lý tài sản trả nợ cho ngân hàng. Nhìn chung 3 năm qua hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng gặp không ít khó khăn do tình hình kinh tế chung và tình hình lạm phát trong nước cao, nhiều doanh nghiệp không trụ vững nổi dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp phá sản hàng loạt. Khách hàng của ngân hàng chủ yếu là các doanh nghiệp, hộ gia đình với sản xuất quy mô nhỏ,cơ sở hạ tầng còn hạn chế, khả năng hấp thu vốn thấp nên nguy cơ rủi ro càng tăng cao. Năm 2025, dù tình hình khó khăn nhưng ngân hàng vẫn tích cực trong việc thu hồi các khoản nợ quá hạn, nợ từ năm cũ đồng thời tìm kiếm khách hàng tăng doanh số cho vay. Như ta đã thấy năm 2024 là năm mà doanh số cho vay, doanh số thu nợ và dư nợ tín dụng của ngân hàng tăng vọt so với năm 2023, như vậy là hoạt động tín dụng của ngân hàng đã có được lòng tin của khách hàng.
Để đạt được những kết quả trên, trước hết là do nhu cầu vốn của các doanh nghiệp, hộ gia đình tăng để mở rộng sản xuất kinh doanh, mặt khác ngân hàng cũng áp dụng cơ chế tín dụng, chính sách lãi suất thỏa thuận, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng vay vốn, có những chính sách đãi ngộ với khách hàng truyền thống, trả nợ gốc và lãi đúng kì hạn.
- Bảng 2.6: Dư nợ và kết cấu dư nợ Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Theo bảng số liệu phía trên ta thấy hoạt động tín dụng có nhiều biến động theo hướng tích cực, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế của các thành phần kinh tế trong xã hội. Dư nợ tín dụng ngắn hạn năm 2023 là 68.296 triệu đồng, tương ứng với 70,74%, năm 2024 tăng lên 215.714 triệu đồng tuy nhiên tỉ trọng so với tổng dư nợ giảm 0,8% còn 69,94%; năm 2025 là 69,24% tương ứng với 274.226,4 triệu đồng giảm 0,7%. Dư nợ trung và dài hạn có chiều hướng tăng tỉ trọng trong tổng dư nợ, năm 2023 là 29,26%, năm 2024 chiếm 30,06% tăng 0,8%; năm 2025 tăng 0,7% chiếm 30,76%. Tỷ lệ cho vay trung và dài hạn tuy không cao nhưng đây là lĩnh vực đầu tư mang nhiều rủi ro nên Ngân hàng đang từng bước nâng cao chất lượng tín dụng và đầu tư ở mức độ hợp lý, an toàn, vừa mang lại thu nhập cho Ngân hàng vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế cho địa phương. Đặc biệt là do tâm lý của khách hàng hiện nay khi lãi suất đang có nhiều biến động, hiện tại Ngân hàng Nhà nước vẫn đang áp mức lãi suất trần cho tiền gửi nên người dân không muốn gửi tiền với kì hạn hơn 12 tháng, mà hầu hết chỉ gửi với kì hạn dưới 12 tháng. Chính vì lẽ đó nên hoạt động tín dụng trung và dài hạn cũng được Ngân hàng cân nhắc rất kĩ khi đầu tư vì có thể gây nên rủi ro dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh khoản của Ngân hàng. Ngân hàng sử dụng một phần nguồn vốn huy động ngắn hạn để đầu tư cho hoạt động tín dụng trung và dài hạn, tuy nhiên chỉ được phép sử dụng dưới 30% để tạo sự an toàn cho nguồn vốn của Ngân hàng đồng thời mang lại lợi nhuận.
Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế bao gồm Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hộ gia đình, cá nhân, Doanh nghiệp quốc doanh số dư nợ tại Ngân hàng hầu như không có. NH TMCP Kiên Long- CN Hải Phòng tập trung vào lượng khách hàng là DN ngoài quốc doanh với số dư nợ năm 2023 là 64.208 triệu đồng tương ứng với tỉ trọng là 66,5%; năm 2024 là 194.309 triệu đồng chiếm 63% tổng dư nợ, năm 2025 là 245.552 triệu đồng chiếm 62%. Tỉ trọng dư nợ của thành phần này qua các năm qua có giảm nhưng không đáng kể và vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong tổng dư nợ Tín dụng của Ngân hàng, đây cũng là thành phần kinh tế được Ngân hàng chú trọng nhất bởi bên cạnh việc cho vay thì Ngân hàng còn có thể triển khai các gói sản phẩm dịch vụ như: thanh toán quốc tế, chuyển tiền….đồng thời có thể tận dụng lượng tiền gửi KKH để tiết kiệm chi phí đầu vào. Tỉ lệ tăng số dư nợ tín dụng thành phần Doanh nghiệp ngoài quốc doanh năm 2025 so với năm 2023 là 282,43% tương ứng với 181.344 triệu đồng. Điều này cho ta thấy Ngân hàng đã có những chiến lược tích cực trong công tác tín dụng. Bên cạnh đó thì ta cũng nhận thấy rõ rằng thành phần khách hàng là hộ gia đình, cá nhân cũng có xu hướng tăng năm 2023 là 32.336 triệu đồng, năm 2024 tăng lên 114.118 triệu đồng, tương ứng với 37% tổng dư nợ, năm 2025 là 150.500 triệu đồng, tương ứng với 38%. Nếu như trước đây các Ngân hàng ngại giải ngân cho các cá nhân, hộ gia đình thì hiện nay đây cũng là một mảng thị trường được Ngân hàng quan tâm và mang lại nguồn lợi nhuận ổn định cho Ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Cơ cấu dư nợ tín dụng phân theo ngành nghề kinh doanh hàng có sự biến động không lớn,có xu hướng tăng, ta có thể thấy tỉ trọng của ngành công nghiệp xoay quanh từ 10%, 10,08% và 9% qua mỗi năm. Tỉ trọng ngành dịch vụ năm 2023 là 90%, năm 2024 là 89,92% và năm 2025 là 91%. Tại Ngân hàng Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng chưa có những món vay trong ngành Nông nghiệp. Dư nợ ngành công nghiệp năm 2023 là 9.654,4 triệu đồng; sang năm 2024 tăng 23.655,6 triệu đồng là 33.310 triệu đồng; sang năm 2025 tiếp tục tăng 2.335 triệu đồng là 35.645 triệu đồng vào ngày 31/12/2025. Đồng thời dư nợ tín dụng ngành dịch vụ cũng tiếp tục tăng với những con số khả quan. Năm 2023 là 86.889.6 triệu đồng; năm 2024 là 275.117 triệu đồng; năm 2025 là 360.407 triệu đồng
Xem xét dư nợ tín dụng theo ngoại tệ, ta thấy VNĐ vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong 03 năm qua, dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ có xu hướng tăng nhưng vẫn chưa cao. Điều này một phần là do chính sách của ngân hàng chưa có những định hướng tích cực để nhằm tăng cường tỉ trọng dư nợ ngoại tệ, mặt khác là do khách hàng của ngân hàng chủ yếu là các đối tượng sản xuất kinh doanh trong nước, số lượng cho vay các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chưa cao nên nhu cầu vay ngoại tệ của ngân hàng chưa lớn.
- Hình 2.2: Cơ cấu dư nợ theo mục đích vay năm 2025
Theo biểu đồ trên, tại NH TMCP Kiên Long- CN Hải Phòng thì mục đích vay vốn để sản xuất kinh doanh thường chiếm tỷ trọng từ 72 đến 75%; mục đích vay vốn là tiêu dùng thường chiếm tỉ trọng 25 đến 28% dao động qua mỗi năm. Những gói sản phẩm tín dụng phục vụ mục đích tiêu dùng của Ngân hàng cũng tương đối phong phú, khai thác những nhu cầu thiết yếu trong đời sống hiện nay như cho vay mua xe, cho vay xây sửa nhà, cho vay đối với cán bộ công nhân viên… Tuy nhiên thì tỉ trọng cho vay sản xuất kinh doanh vẫn chiếm ưu thế và luôn được khuyến khích. Trong thời điểm hiện nay, khi Ngân hàng Nhà nước đang siết chặt tín dụng thì tại Ngân hàng hầu hết đã ngừng giải ngân cho những món vay tiêu dùng, vay không có tài sản bảo đảm nhưng đối với mỗi Ngân hàng thì các mảng cho vay tiêu dùng vẫn luôn là mảnh đất màu mỡ, nhiều tiềm năng hứa hẹn với lãi suất cao hơn mức lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh.
Ở phần trên ta cũng thấy phần nào kết quả kinh doanh, tình hình hoạt dộng của Chi nhánh Kiên Long Hải Phòng. Nhìn chung hoạt động tín dụng trong các năm qua đạt kết quả khá tốt nhưng để đánh giá chính xác hơn chúng ta cần tìm hiểu những vấn đề liên quan đến các chỉ tiêu định lượng đánh giá chất lượng tín dụng.
2.2.2, Thực trạng chất lượng tín dụng: Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Qua những số liệu trên, ta đã thấy được thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng, tuy rằng Chi nhánh mới thành lập được 4 năm nhưng hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng đã có những dấu hiệu tăng trưởng về quy mô, chất lượng. Hoạt động huy động vốn, kinh doanh khác cũng có những tín hiệu khả quan, cho thấy tiềm năng phát triển của ngân hàng trong giai đoạn tới. Để có được kết quả như vậy, ngân hàng trong thời gian qua đã có những biện pháp đồng bộ, tích cực, có cách nhìn nhận xa vấn đề, dựa vào tốc độ phát triển của nền kinh tế để dự đoán nhu cầu tín dụng cũng như các nhu cầu về sản phẩm tài chính khác của ngân hàng. Việc cấp tín dụng cũng dựa vào quy mô nguồn vốn của ngân hàng. Việc xác định doanh số cho vay hàng năm là khá cụ thể. Chủ động tìm kiếm khách hàng, nâng cao chất lượng tín dụng thông qua vận dụng một cách hiệu quả quy trình, quy định cấp tín dụng, cụ thể: Đối với khách hàng truyền thống, ngân hàng thường duy trì mối quan hệ thông qua cho vay với chính sách ưu đãi. Trong khi đó, ngân hàng cũng thực hiện nhiều biện pháp để lôi kéo thu hút khách hàng mới cũng như đưa ra những sản phẩm mới, đa dạng, tư vấn cho khách hàng trong hoạt động kinh doanh của mình. Thái độ phục vụ của các nhân viên tín dụng cũng rất hòa nhã, cởi mở, chuyên nghiệp, tạo cho khách hàng sự thân thiện, thoải mái khi đến ngân hàng tìm hiểu về các sản phẩm tín dụng. Tuy nhiên không thể nói như vậy là ngân hàng không có rủi ro, kết quả hoạt động kinh doanh, dư nợ tín dụng tăng cũng chưa thể nói là chất lượng tín dụng tốt, ta cần đi vào một số nhóm chỉ tiêu chính ở Chương I để có cái nhìn tổng quát hơn:
2.2.2.1, Chỉ tiêu nợ quá hạn:
Tình hình nợ quá hạn của ngân hàng được thể hiện qua bảng sau:
- Bảng 2.7: Tỷ lệ nợ quá hạn
Nhìn bảng số liệu trên ta thấy tình hình nợ quá hạn của NH TMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng có xu hướng tăng trong 3 năm qua. Từ 1% vào năm 2023 lên đến 4% vào năm 2025. Điều này cho ta thấy khả năng có thể xảy ra rủi ro tín dụng tăng dần qua các năm, khả năng quản lý nợ và thu hồi nợ của ngân hàng chưa cao, cần có các biện pháp khắc phục. Tuy nhiên ta cũng cần xét đến những nguyên nhân khách quan từ môi trường kinh tế trong các năm qua, hoạt động kinh doanh của DN có nhiều khó khăn. Từ những điều đó, ngân hàng cần tích cực đưa ra những biện pháp tích cực để giảm tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng xuống thấp hơn nữa. Trước đây tỉ lệ nợ quá hạn của NHTM Việt Nam thường chiếm tỷ lệ cao( từ 12% đến 15%) nhưng trong những năm gần đây tỉ lệ này thường xoay quanh 5%. Do đó tỷ lệ nợ quá hạn của NH TMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng năm 2025 là tương đối cao, ngân hàng cần có sự khắc phục kịp thời.
Theo bảng tỷ lệ nợ quá hạn theo kì hạn cho vay, tỷ lệ nợ quá hạn ngắn hạn tăng đột biến vào năm 2024 là 4%, trong khi năm 2023 chỉ là 2% và được giảm xuống còn 3,8% vào năm 2025. Điều này cho thấy tỷ lệ nợ quá hạn ngắn hạn đang có xu hướng tăng, điều này do ngân hàng chủ yếu tập trung cho vay ngắn hạn, khả năng quay vòng vốn của ngân hàng cao. Tỷ lệ nợ quá hạn dài hạn năm 2025 cũng tăng lên 0,3%; con số này chưa phải là lớn nhưng cũng cho ta thấy có dấu hiệu rủi ro.
- Bảng 2.8: Cơ cấu nợ quá hạn phân theo nhóm nợ Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Nợ quá hạn của ngân hàng chủ yếu tập trung vào các nợ nhóm 1. Như vậy là ngân hàng vẫn có khả năng kiểm soát những món cho vay của mình, tuy sang năm 2024 tỷ trọng nợ quá hạn nhóm 2 đã tăng lên 5% nhưng sang năm 2025 đã được kiềm chế ở mức 2%. Điều đó cho ta thấy ngân hàng đã có những biện pháp tích cực nhằm mục đích giảm tỷ trọng các nhóm nợ quá hạn 2 và 3. Các biện pháp của ngân hàng đã có những tác động tốt đối với việc thu hồi nợ của khách hàng trong năm 2025, ngân hàng cần tích cực đưa ra những biện pháp để giảm tỷ lệ nợ quá hạn xuống mức thấp nhất có thể. Mặc dù tình hình kinh tế trong nước và tại thành phố Hải Phòng trong năm 2025 có nhiều bất lợi, tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng tăng nhưng ngân hàng vẫn giữ được cơ cấu nợ quá hạn như trên thực sự là sự cố gắng, nỗ lực của cán bộ nhân viên tín dụng, ban lãnh đạo ngân hàng.
2.2.2.2, Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu:
Ta có tình hình nợ xấu của ngân hàng qua bảng sau:
- Bảng 2.9: Tỷ lệ nợ xấu
Nhìn vào bảng số liệu phía trên, ta có thể thấy tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng tăng qua các năm, tuy nhiên điều này cũng do ảnh hưởng không nhỏ của tình hình nền kinh tế. Năm 2023, khi ngân hàng mới đi vào hoạt động sang năm thứ 2 thì các khoản cho vay của ngân hàng hầu hết là vay ngắn hạn, việc thu hồi nợ diễn ra nhanh chóng, không tồn đọng những khoản nợ xấu, nợ khó đòi. Năm 2024, mặc dù tình hình kinh tế trong nước có nhiều biến động, chịu sự tác động của khủng hoảng kinh tế Thế giới, các DN làm ăn khó khăn, nhiều DN phá sản nhưng các DN vẫn nhận được sự hỗ trợ của Chính phủ bằng những gói kích cầu nên các khoản nợ vẫn được tất toán đúng hạn, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng là 0,8%. Năm 2025 vừa qua, tỷ lệ nợ xấu của NH TMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng tăng lên 1,5% cũng do nhiều nguyên nhân. Nhưng nguyên nhân chính là do ảnh hưởng của tình hình kinh tế, của thị trường bất động sản bị đóng băng, của thị trường vàng, chứng khoán bị siết chặt, trong khi đó thì tỷ lệ lạm phát trong nước cao khiến cho các loại chi phí đầu vào tăng đột biến mà đầu ra thì bị hạn chế, các đơn bị kinh doanh chậm trả nợ, số lượng doanh nghiệp phá sản tăng khiến cho nợ xấu tăng cao.
Tỷ lệ nợ xấu của Chi nhánh Kiên Long Hải Phòng không vượt quá tỷ lệ nợ xấu của bình quân ngành trong các năm vừa qua ( Năm 2023:2,5%; năm 2024: 2,19%; năm 2025: 3,39%- theo www.stockviet) . Như vậy là tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng vẫn nằm trong khả năng có thể kiểm soát được và chưa phải là một con số quá cao. Điều này đã cho ta thấy chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thực sự đã được ban lãnh đạo quan tâm một cách sâu sát, trong các năm qua thường xuyên có sự kiểm tra, giám sát hoạt động cho vay của nhân viên tín dụng cũng như việc sử dụng vốn của khách hàng, đã giúp ngân hàng chủ động trong việc giải ngân, tìm kiếm, mở rộng thị trường. Như đã nói ở phần trên, khách hàng chiếm tỷ trọng lớn của ngân hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh vừa và nhỏ, đây là những đối tượng khách hàng có mức độ rủi ro cao, khả năng áp dụng các biện pháp bảo đảm là rất hạn chế nhưng ngân hàng vẫn duy trì tỷ lệ nợ xấu thấp như vậy cho ta thấy ngân hàng đã có được nền tảng vững chắc trong việc duy trì, nâng cao chất lượng tín dụng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Theo bảng cơ cấu nợ xấu phân theo nhóm nợ, ta thấy nợ xấu của ngân hàng chủ yếu là nợ nhóm 3( các khoản nợ dưới tiêu chuẩn ). Năm 2025 đã xuất hiện nợ nhóm 4 và nợ nhóm 5, mặc dù tỷ lệ nợ nhóm 4 chỉ là 1,5%, nhóm 5 là 0,5% nhưng cũng cho ta thấy rủi ro của ngân hàng đang có xu hướng tăng, ngân hàng đã phải sử dụng đến các khoản dự phòng bù đắp rủi ro tín dụng và hoạch toán ngoại bảng chờ theo dõi. Điểu này là do những ảnh hưởng trực tiếp từ thị trường bất động sản đóng băng, thị trường vàng trong năm 2025 có nhiểu diễn biến khó lường, mặc dù Nhà nước đã có nhiểu biện pháp nhưng đến cuối năm 2025 thì hoạt động của hai thị trường này vẫn chưa có dấu hiệu khả quan. Bên cạnh đó, tình hình kinh tế thế giới cùng với sức mua từ các thị trường nước ngoài giảm mạnh khiến không ít doanh nghiệp rơi vào tình trạng khốn đốn, hàng hóa ứ đọng, không có nơi tiêu thụ.
2.2.2.3, Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn tín dụng của Ngân hàng qua các năm được thể hiện ở bảng sau:
- Bảng 2.10: Vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn Tín dụng của Ngân hàng tăng từ 0,95 lên 2 vòng vào năm 2024 nhưng sang năm 2025 lại giảm xuống còn 1,6 vòng. Nhìn vào bảng số liệu phía trên ta thấy tốc độ tăng của doanh số thu nợ lớn hơn tốc độ tăng của dư nợ bình quân, điều này là tốt, cần được duy trì và ổn định hơn trong các năm tiếp theo. Vòng quay vốn Tín dụng càng cao càng cho ta thấy vòng luân chuyển vốn của Ngân hàng tốt, chất lượng Tín dụng cao.
2.2.2.4, Chỉ tiêu doanh số cho vay
- Hình 2.3: Doanh số cho vay theo kì hạn vay Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Ở bảng trên cho ta thấy doanh số cho vay của Ngân hàng trong các năm qua có xu hướng tăng lên, đặc biệt từ năm 2023 sang năm 2024 có con số tăng đáng kể, từ hơn 107 tỷ đồng lên hơn 657 tỷ đồng, sang năm 2025 doanh số cho vay có tỷ lệ tăng khiêm tốn hơn do tình hình kinh tế gặp nhiểu khó khăn, tỷ lệ lạm phát cao, hoạt động tín dụng bị kiểm soát chặt chẽ.
Tuy nhiên trong bảng này ta cũng thấy rằng cơ cấu doanh số cho vay theo kì hạn có sự ổn định tương đối qua các năm. Tỷ lệ doanh số cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn ( Năm 2023 là 68,71%, năm 2024 là 70% và năm 2025 giảm nhẹ còn 69%), doanh số cho vay trung và dài hạn còn thấp( Năm 2023 à 31,29%; năm 2024 là 30% và năm 2025 là 31%). Như vậy doanh số cho vay của ngân hàng từ năm 2023 đến năm 2025 là tương đối ổn định. Công tác tín dụng đăc biệt là cho vay trung và dài hạn luôn được Ngân hàng kiểm soát chặt chẽ bởi những đặc trưng cơ bản của hoạt động này, tránh rủi ro cho Ngân hàng, khách hàng và tình hình kinh tế xã hội. Đây là ưu điểm tuy nhiên cũng là nhược điểm trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tuy cho vay ngắn hạn ít rủi ro nhưng lợi nhuận lại không lớn, và hơn thế nhìn vào phần huy động vốn của ngân hàng bảng trên ta thấy ngân hàng huy động chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn nên việc cho vay trung và dài hạn của ngân hàng cũng có những hạn chế. Đây là điểm cần khắc phục của ngân hàng, để có được nguồn vốn cho vay trung và dài hạn một cách ổn định, lâu dài.
2.2.2.5, Dư nợ cho vay theo biện pháp đảm bảo:
- Bảng 2.11: Dư nợ cho vay phân theo có tài sản đảm bảo
Theo bảng phía trên, từ năm 2023 đến hết năm 2025 thì cơ cấu dư nợ theo bảo đảm tiền vay của ngân hàng không có sự thay đổi lớn. Năm 2023, do chưa có nhiều khách hàng truyền thống, có uy tín nên 100% dư nợ tín dụng của ngân hàng là các khoản vay có bảo đảm, đến năm 2024 và 2025 thì tỷ lệ các khoản vay không có bảo đảm tăng lên là 2%, 1% theo sắp xếp.
Như vậy ta có thể thấy rằng phần lớn các khoản cho vay của ngân hàng TMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng trong các năm vừa qua là có tài sản thế chấp. Tuy nhiên đây cũng là tình trạng chung của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Nguyên nhân của tình trạng trên là trong điều kiện của chúng ta hiện nay thông tin chưa hoàn hảo, sự hiểu biết của ngân hàng về khách hàng còn quá hạn chế, mà nếu như có thông tin thì cũng không mấy tin cậy làm cho ngân hàng thường e ngại trong việc cho vay tín chấp. Thực tế trên thế giới, những công ti xếp hạng tín dụng có uy tín đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin có chất lượng cho ngân hàng, hệ thông phương tiện thông tin đại chúng phát triển. Còn trong điều kiện chúng ta thông tin chủ yếu thông qua Trung tân thông tin tín dụng (CIC), Ngân hàng nhà nước, qua các mối qua hệ chính thức cũng như phi chính thức của ngân hàng và nguồn chủ yếu là chính khách hàng cung cấp. Tuy nhiên, Thông tín thông qua cơ quan chức năng thì không đủ tính cụ thể và tính cập nhật không cao, trong khi đó thông tin từ khách thì chất lượng không cao vì khách hàng thường có xu hướng che giấu thông tin thật sự, làm đẹp hồ sơ của mình để có thể thoã mãn các điều kiện vay vốn.
Mặt khác trong quan hệ tín dụng các quy định về cho vay tín chấp còn hạn chế dẫn đến rất khó khăn cho ngân hàng trong xử lí nếu xảy ra tình trạng khách hàng không thể thực hiện đúng hợp đồng.
Và một lí do quan trọng như đề cập ở trên là chính khách hàng của ngân hàng không đủ uy tín để ngân hàng cho vay không đảm bảo bằng tài sản. Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Việc áp dụng cho vay không có đảm bảo bằng tài sản chỉ áp dụng đối với các khách hàng truyền thống thực sự có uy tín với ngân hàng, trong hoạt động kinh doanh thường xuyên có lãi và thuyết phục ngân hàng bằng chính phương án, dự án khả thi.
2.2.2.6, Tỷ lệ mức độ tập trung tín dụng theo đối tượng tín dụng và thời gian tín dụng:
Qua bảng “ Dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế” ( Bảng 2.5: Dư nợ tín dụng và cơ cấu dư nợ) của ngân hàng ta thấy rằng nhóm đối tượng khách hàng chính là doanh nghiệp ngoài quốc doanh vừa và nhỏ( chiếm >60%) đây là nhóm đối tượng được ngân hàng tập trung khai thác, bên cạnh đó hiện nay ngân hàng cũng bắt đầu cho vay với nhưng nhóm đối tượng là hộ gia đình, cá nhân(chiếm >30%) vay vốn với mục đích sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ.Tỷ lệ này đối với ngân hàng thương mại tại Việt Nam là hợp lý. Ở địa bàn Hải Phòng hiện nay thì 2 nhóm đối tượng này chiếm tỷ trọng rất lớn, tuy là nhóm đối tượng khách hàng tiềm ẩn rủi ro cao nhưng cũng sẽ là thị phần khách hàng tiềm năng trong tương lai không xa.
Tín dụng ngắn hạn của ngân hàng chiếm tỷ trọng khoảng 70%, có biến động không lớn qua các năm, tín dụng trung dài hạn chiếm khoảng 30%. Điều này vừa là ưu điểm, vừa là nhược điểm trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tuy tín dụng ngắn hạn có rủi ro thấp, nhưng lại không mang lại nguồn lợi lớn cho ngân hàng, thế nên trong tương lai ngân hàng cần tích cực đẩy mạnh công tác tăng trưởng tín dụng trung dài hạn. Có thực trạng trên cũng một phần do tình hình kinh tế 3 năm qua không ổn định, ngân hàng chưa đủ điều kiện cho vay những dự án có quy mô lớn, thời gian dài và cũng do cơ cấu vốn huy động của ngân hàng, tập trung chủ yếu vào nguồn vốn ngắn hạn ( vốn huy động từ 1-3 tháng chiếm khoảng 90%). Do đó ngân hàng cần có những biện pháp tích cực nhằm tăng cường nguồn vốn trung dài hạn để phục vụ cho hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng, đồng thời cần có các giải pháp chiến lược nâng cao chất lượng tín dụng.
2.2.2.7, Chỉ tiêu sinh lời từ hoạt động tín dụng:
Ta có bảng số liệu sau:
- Bảng 2.12: Lợi nhuận hoạt động tín dụng Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, tỷ lệ lợi nhuận từ tín dụng 3 năm qua đều chiếm trên 90% tổng lợi nhuận. Hiện nay tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam thì lợi nhuận từ hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng cao như vậy, lợi nhuận từ các dịch vụ ngân hàng khác chỉ chiếm khoảng 10% tổng lợi nhuận. Nhìn bảng số liệu phía trên ta cũng nhận thấy được điều này và theo xu hướng ngân hàng hiện đại ngày nay thì tỷ trọng này đang được dần thay đổi. Mặc dù tín dụng là nguồn thu chủ yếu của ngân hàng nhưng lại là nơi tiềm ẩn nhiều rủi ro có thể dẫn đến mất khả năng thanh khoản cho ngân hàng. Với những số liệu trên ta thấy hoạt động của ngân hàng đang phụ thuộc rất lớn vào hoạt động tín dụng, trong thời điểm nhạy cảm như hiện nay, khi Nhà nước phân nhóm xếp loại các ngân hàng, quy định mức tăng trưởng tín dụng với từng ngân hàng( tại NH TMCP Kiên Long được phép tăng trưởng tín dụng là 15%), các ngân hàng đang trong giai đoạn tái cơ cấu thì quả thực điều này đang là điểm bất lợi đối với ngân hàng. Theo xu hướng hiện nay, các ngân hàng một mặt tăng cường nâng cao chất lượng tín dụng, mặt khác cũng đưa ra nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng hơn nhằm đáp ứng nhu cầu phong phú của khách hàng như các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, giữ tài sản… nhằm tăng thu nhập và giảm thiểu rủi ro.
2.2.2.7, Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn:
- Bảng 2.13: Hiệu suất sử dụng vốn
Nhìn bảng số liệu trên ta có thể thấy hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng trong 03 năm qua khá tốt và có nhiều biến động mạnh:
- Năm 2023 hiệu suất sử dụng vốn là 96,4%.
- Năm 2024 hiệu suất sử dụng vốn là 107,8%
- Năm 2025 hiệu suất sử dụng vốn là 86,1%.
Năm 2024 là năm ngân hàng có hiệu suất sử dụng vốn cao nhất trong vòng 3 năm qua. Những con số trên đây cho ta một cách nhìn khả quan về tình hình sử dụng vốn của ngân hàng, từ đó cho ta thấy ngân hàng sử dụng vốn đạt được hiệu quả cao. Ngân hàng đã tích cực trong việc tìm kiếm khách hàng tốt để cho vay, tận dụng nguồn vốn huy động với chi phí thấp để cho vay. Tuy nhiên ngân hàng cũng cần chú trọng đến việc đảm bảo an toàn cho các khoản vay để đem lại lợi nhuận, hiệu quả cho hoạt động tín dụng cũng như các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng.
2.3, Đánh giá về thực trạng chất lượng tín dụng tại NH TMCP Kiên Long- Chi nhánh Hải Phòng: Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
2.3.1, Những kết quả đạt được:
Qua những số liệu và phân tích ở trên ta thấy trong 3 năm qua ngân hàng đã đạt được những kết quả rất khả quan:
Về quy mô của dư nợ tín dụng ngày càng tăng, năm 2023 là 96.544 triệu đồng, sang năm 2024 tăng 219,475 đạt 308.427 triệu đồng, năm 2025 tăng lên là 396.052 triệu đồng. Có thể nói đây là một kết quả rất tốt mà ngân hàng đã đạt được trong hơn 4 năm hoạt động, cho thấy uy tín và quan hệ tín dụng của ngân hàng đang ngày được mở rộng. Đặc biệt dư nợ tín dụng đối với những doanh nghiệp ngoài quốc doanh vừa và nhỏ giữ được mức độ ổn định, tỷ trọng chênh lệch giữa mỗi năm không lớn, điều này đã đáp ứng được một phần nhu cầu vay vốn của những đơn vị kinh doanh này góp phần phát triển kinh tế của Hải Phòng nói riêng và của cả nước nói chung. Ngoài ra ngân hàng cũng hướng những sản phẩm tín dụng đến những nhóm khách hàng mới như hộ gia đình, cá nhân kinh doanh, đồng thời phát triển thêm những sản phẩm tín dụng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Về chất lượng tín dụng, mặc dù chỉ mới thành lập hơn 4 năm nhưng Chi nhánh Kiên Long Hải Phòng đã có những sự cố gắng đặc biệt trong việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng có xu hướng tăng dần từ năm 2023 là 0% đến năm 2025 là 1,5% nhưng so với tỷ lệ nợ xấu bình quân ngành trong những năm này thì đó vẫn còn được coi là một con số không quá lớn, có thể kiểm soát được. Do tình hình kinh tế Thế giới và trong nước có những ảnh hưởng nhất định nên tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng mới có xu hướng tăng như vậy, trong những năm tiếp theo ngân hàng sẽ có những biện pháp cụ thể để giảm tỷ lệ nợ xấu. Ngoài ra hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng cũng khá cao.
Như vậy duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng cao và chất lượng tốt trong những năm qua đã mang lại cho ngân hàng thu thu nhập hàng năm tăng cao. Đây là những thành công rất lớn của ngân hàng, của sự nổ lực của toàn bộ cán bộ công nhân viên trong hệ thống ngân hàng. Một điều có thể nói là ngân hàng đã biết tận dụng tốt các mối quan hệ của mình để tìm kiếm khách hàng, khách hàng tốt và duy trì mối quan hệ truyền thống đó. Điều này có tác dụng rất to lớn trong việc nâng cao doanh số tín dụng và chất lượng tín dụng cho ngân hàng.
Hỗ trợ cho công tác cấp tín dụng, đảm bảo quy trình nghiệp vụ và tính linh hoạt nhằm không những tăng doanh số mà vẫn đảm bảo chất lượng tín dụng ngân hàng còn rất chú trọng đến công tác bồi dưỡng nghiệp vụ- đó là việc tổ chức thường xuyên các cuộc thi cán bộ tín dụng giỏi trong ngành, công tác thông tin thông qua việc trang bị hệ thống vi tính kết nối mạng truyền thông, có mối quan hệ với trung tâm thông tin tín dụng (CIC)… Ngoài ra đời sống của cán bộ công nhân viên được quan tâm về cả đời sống vật chất lẫn tinh thần, ngoài lương và phụ cấp ngân hàng còn hỗ trợ tín dụng cho cán bộ nhằm nâng cao đời sống. Chính những sự quan tâm thích đáng như vậy đã không ngừng cũng cố đội ngũ cán bộ hoạt động với hiệu quả cao, mang lại thành công cho ngân hàng.
2.3.2, Những điểm hạn chế: Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Bên cạnh những kết quả đạt được thì hoạt động tín dụng của ngân hàng vẫn tồn tại những điểm hạn chế, cần khắc phục:
Nguồn vốn huy động tăng song vẫn chưa được coi là tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của thành phố, số lượng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tuy đã được phát triển thêm nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.
Dư nợ tín dụng tăng dần qua các năm, tỷ lệ nợ xấu so với bình quân ngành còn thấp nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Dư nợ tín dụng trung và dài hạn còn thấp do nguồn vốn huy động của ngân hàng chỉ hầu hết tập trung vào nguồn vốn ngắn hạn.
Nhân viên tín dụng vẫn có tâm lý ngại rủi ro, chưa phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của bản thân cũng như của ngân hàng mình. Tỷ trọng cho vay có bảo đảm bẳng tài sản vẫn chiếm tỷ trọng quá lớn, ảnh hưởng đến việc cho vay của ngân hàng và việc tiếp cận nguồn vốn vay của khách hàng.
Chế độ lương thưởng cho nhân viên còn hạn chế, chưa khuyến khích được khả năng làm việc của nhân viên tín dụng, cán bộ tín dụng còn phải đảm trách quá nhiều công việc nên rất dễ đến việc tư lợi cá nhân.
2.3.3, Nguyên nhân:
Có được những kết quả trên là nhờ sự chỉ đạo đúng đắn của Ban lãnh đạo ngân hàng cùng sự cố gắng, nỗ lực của toàn bộ CBNV công tác tại Chi nhánh. Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
- Với những mặt còn hạn chế thì bao gồm nhiều nguyên nhân:
Nguyên nhân khách quan: Do môi trường kinh tế thế giới vài năm gần đây không tốt, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2022 và cuộc khủng hoảng nợ công tại Mỹ, các nước Châu Âu gần đây khiến cho tình hình kinh doanh của hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng như doanh nghiệp Việt Nam khó khăn hơn. Tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế khu vực và Việt Nam tăng cao, đang trong giai đoạn kiềm chế, khiến việc tăng trưởng tín dụng gặp nhiều bất lợ, tình hình nợ xấu của ngân hàng tăng. Từ năm 2022 có rất nhiều DN nhỏ, tình hình tài chính yếu đã dẫn đến việc phá sản, điều này đã gây những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của ngân hàng vì đối tượng cho vay được ngân hàng hướng tới chủ yếu là loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tỷ lệ lạm phát tăng cao vào năm 2023 đã dẫn đến tình trạng điêu đứng của nhiều doanh nghiệp, mặc dù đã được Chính phủ hỗ trợ bằng nhiều biện pháp nhưng sự ảnh hưởng của nền kinh tế Thế giới vẫn tác động mạnh đến hoạt động của các doanh nghiệp. Gia nhập WTO, Việt Nam hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển mới đặc biệt đối với các DN kinh doanh xuất nhập khẩu nhưng trong những năm qua hoạt động xuất khẩu cũng bị giảm sút do sức mua trên thị trường Thế giới giảm mạnh, các mặt hàng xuất khẩu khó bán tại thị trường trong nước. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc hoàn trả các khoản nợ của DN một cách đúng hạn, có thể gây ra việc mất vốn của ngân hàng. Được hưởng các mức thuế ưu đãi đặc biệt và không bị hạn chế bởi hạn ngạch khi hội nhập WTO sẽ tạo điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hoá Việt Nam. Việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam kết mở cửa sẽ góp phần giảm chi phí nguyên liệu đầu vào của nhiều ngành sản xuất kinh doanh, từ đó giúp hạ giá thành sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá trong nước. Các chính sách khuyến khích tự do hoá đầu tư và thương mại của Chính phủ sẽ góp phần tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam. Hội nhập quốc tế sẽ tạo môi trường, động lực cho tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho xã hội, cũng như thêm nhiều cơ hội kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, trong đó có việc tăng trưởng tín dụng, đầu tư. Cơ cấu hình thức sở hữu NHTM đang có những thay đổi cơ bản: các NHTM Nhà nước gấp rút chuẩn bị cổ phần hoá, các NHTM cổ phần liên kết với các đối tác chiến lược, các ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên, khi hàng rào bảo hộ doanh nghiệp trong nước giảm dần, sức mạnh tài chính, công nghệ, trình độ quản lý cao của các doanh nghiệp nước ngoài tạo ra sức ép cạnh tranh mạnh buộc các doanh nghiệp và các NHTM trong nước phải điều chỉnh, cơ cấu lại để có thể đứng vững trên thị trường. Bên cạnh đó sự phát triển chưa bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam, sự đóng băng của thị trường bất động sản và nhiều yếu tố biến động khác trên thị trường cũng có tác động không nhỏ tới hoạt động của các doanh nghiệp và chất lượng tín dụng các NHTM. Có nhiều doanh nghiệp không chịu được sức ép cạnh tranh phải giải thể, phá sản. Nguy cơ vốn tín dụng đã được thực hiện khó có thể sử dụng có hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn cho Ngân hàng là khó tránh khỏi. Từ những nguyên nhân khách quan của tình hình kinh tế Thế giới cũng những đặc điểm riêng của nước ta khi bước đầu gia nhập vào nền kinh tế chung nên nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu của các NHTM sẽ có xu thế tăng lên trong giai đoạn này. Một nguyên nhân khác là hệ thống pháp luật của Việt Nam còn nhiều khe hở, chưa đồng bộ, nhất quán khiến việc xử lý những rủi ro tín dụng còn rườm rà, mất thời gian, khả năng mất vốn của ngân hàng cao. Cũng không thể không nói tới công tác quản lý Nhà nước về kế toán, thống kê chưa được quan tâm đúng mức; các chuẩn mực kế toán chưa được tuân thủ nghiêm túc, chế độ kiểm toán nội bộ chỉ mang tính hình thức trong khi kiểm toán độc lập lại có chi phí cao. Điều đó dẫn đến báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chưa tin cậy, khiến cho việc đánh giá, thẩm định tài chính doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn,….Môi trường kinh doanh ngân hàng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng đang có rất nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp phải không ít khó khăn, thách thức. Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
Nguyên nhân chủ quan: Nguyên nhân của việc áp dụng biện pháp đảm bảo có thế chấp bằng tài sản quá cao là việc áp dụng biện pháp như vậy một phần làm giảm rủi ro cho ngân hàng nhưng mặt khác nó cũng hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng. Bởi vì khả năng thoã mãn các ràng buộc về tài sản đảm bảo đối với các khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất hạn chế. Đây cũng là tình trạng chung của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, việc e dè trong cấp tín dụng không có đảm bảo đối với các loại hình doanh nghiệp này là rất rủi ro, và một phẩn đặc biệt là khả năng nguồn vốn của một ngân hàng TMCP nhỏ thì khó có thể đáp ứng những rủi ro mang lại. Bên cạnh đó thì trình độ phân tích của một số cán bộ chưa cao, chưa chú trọng đến việc phân tích tình hình tài chính của DN vay vốn. Dư nợ tín dụng ngắn hạn của ngân hàng chiếm tỷ trọng cao, điều này có thể được coi là biện pháp an toàn cho ngân hàng tuy nhiên trong tương lai thì đây được coi là bất lợi. Tín dụng trung và dài hạn tiềm ẩn nhiều rủi ro nhưng là nguồn lợi nhuận lớn cho ngân hàng. Điều này không chỉ do tâm lý của cán bộ tín dụng còn e ngại mà còn do tình hình nguồn vốn huy động của ngân hàng chưa hợp lý. Trong khi nguồn vốn huy động ngắn hạn chiếm tỷ trọng quá cao thì nguồn vốn trung và dài hạn trong 3 năm qua hầu như là không có. Thế nên ngân hàng không chỉ cần nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng mà cần đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhằm mục đích tăng tỷ trọng của vốn huy động trung và dài hạn. Khóa luận: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại NH KienlongBank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại NH KienlongBank


Pingback: Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH KienlongBank