Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khái quát về tỉnh Hải Dương và đặc trưng văn hoá ẩm thực Hải Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Giới thiệu tổng quan về tỉnh Hải Dương

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên

  • Vị trí địa lý

Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, có diện tích 1662km2, có toạ độ địa lý từ 20o57 vĩ độ bắc đến 106o18 kinh độ đông, tiếp giáp với 6 tỉnh, thành phố là: phía Bắc giáp với Bắc Giang, phía Tây Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Đông giáp với thành phố Hải Phòng, phía Đông Bắc giáp với tỉnh Quảng Ninh, phía Nam giáp với tỉnh Thái Bình, phía Tây giáp với tỉnh Hưng Yên.

Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông phân bố hợp lý, trên địa bàn có nhiều trục giao thông quốc gia quan trọng chạy qua như đường 5, đường 18, đường 183 và hệ thống đường tỉnh, huyện đã được nâng cấp cải tạo rất thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi với bên ngoài.

Thành phố Hải Dương là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật của tỉnh nằm trên trục đường quốc lộ 5 cách Hải Phòng 45km về phía đông, cách Hà Nội 57km về phía tây và cách thành phố Hạ Long 80km. Phía bắc tỉnh có hơn 20km quốc lộ 18 chạy qua nối sân bay quốc tế Nội Bài ra cảng Cái Lân tỉnh Quảng Ninh. Đường sắt Hà Nội – Hải Phòng là cầu nối giữa thủ đô và các tỉnh phía bắc ra các cảng biển. Là tỉnh nằm giữa vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ, Hải Dương có cơ hội tham gia vào phân công lao động trên phạm vi toàn vùng và xuất khẩu.

  • Địa hình

Địa hình Hải Dương tương đối bằng phẳng và có đặc điểm nghiêng và thấp dần từ Tây xuống Đông Nam.

Hải Dương được chia làm hai vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi nằm ở phía Bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích đất tự nhiên gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn, là vùng đồi núi thấp độ cao khoảng 1000m phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồi núi ở đây thuộc kiểu địa hình karst vì vậy rất thuận lợi cho hệ thống rừng phát triển. Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm. Vùng đồng bằng của tỉnh mang đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ với nền văn minh lúa nước lâu đời. Chính điều này đã tạo nên giá trị văn hoá trong đời sống của nhân dân trong tỉnh.

  • Khí hậu

Hải Dương mang đặc điểm chung của khí hậu Việt Nam là nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông. Số giờ nắng trong năm 1524 giờ, độ ẩm trung bình 85 – 87%. Khí hậu và độ ẩm của tỉnh thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp bao gồm cây lương thực, thực phẩm và cây ăn quả, đặc biệt là sản xuất cây vụ đông.

Mưa, bão tập trung vào các tháng 7, 8, 9 có xuất hiện hiện tượng gió lốc và có mưa đá. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.450 – 1.550mm; nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,4oC, trong đó cao nhất là 38,6oC, thấp nhất là 3,2oC. Hàng năm có các tháng lạnh nhất vào các tháng 12, 01, 02. Tần suất sương muối thường xảy ra vào các tháng 12 và tháng 1.

  • Nguồn nước

Hải Dương có hệ thống sông ngòi khá dày. Toàn tỉnh có 14 tuyến sông chảy qua, trong đó có các hệ thống sông lớn như hệ thống sông Thái Bình, sông Kinh Thầy, sông Mạo Khê… Ngoài ra còn có các hệ thống sông khác và hệ thống sông địa phương, sông thuỷ nông và các ao hồ. Vì vậy nguồn nước mặt của tỉnh cũng khá dồi dào. Nguồn nước ở các hệ thống sông địa phương, sông thuỷ nông được lấy từ sông Hồng sử dụng cho việc tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh. Hệ thống ao hồ của tỉnh cũng khá nhiều, là nơi dự trữ nước lớn, điều hoà khí hậu, tạo ra cảnh quan môi trường trong lành và trở thành những khu vui chơi giải trí, công viên, khu nghỉ mát hấp dẫn nhiều du khách như hồ Côn Sơn, hồ Mật Sơn, hồ Bạch Đằng…

Ngoài ra Hải Dương còn có nguồn nước ngầm khá phong phú, dồi dào, đảm bảo cho hệ thống các giếng ở các huyện, xã… Và Hải Dương còn có một mỏ nước khoáng ở Thạch Khôi nhưng chưa được khai thác sử dụng.

  • Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên đất:

Tỉnh Hải Dương có 84.900 ha diện tích đất tự nhiên. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 54.421 ha, chiếm 64,1%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 9.147 ha, chiếm 10,77%; diện tích đất chuyên dùng là 13.669 ha, chiếm 16,1%; diện tích đất ở là 5.688,3 ha, chiếm 6,7% và diện tích đất chưa sử dụng, sông suối đá là 6.368 ha, chiếm 7,5%.

Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 83.124 ha, chiếm 78,66%, riêng đất lúa có 72.500 ha gieo trồng được 2 vụ; diện tích đất trồng cây lâu năm là 10.636 ha, chiếm 10%; diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 7.276 ha, chiếm 6,88%. Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Diện tích đất trống, đồi trọc cần phủ xanh 7.396 ha, diện tích đất mặt nước chưa được khai thác là 1.364 ha.

Tài nguyên rừng và hệ thực vật:

Do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và địa hình núi đá vôi đã tạo cho Hải Dương có tài nguyên rừng, các thảm thực vật và hệ sinh thái đa dạng. Diện tích rừng tỉnh Hải Dương có 9.140 ha, trong đó rừng tự nhiên có 2.384 ha, rừng trồng có 6.756 ha. Rừng chủ yếu là rừng nhiệt đới với hệ thực vật như lim, táu, sến, dẻ, keo, thông…tập trung ở dãy núi Phượng Hoàng, Côn Sơn huyện chí Linh, dãy núi An Phụ – Kinh Môn..

Tài nguyên khoáng sản:

Tài nguyên khoáng sản của Hải Dương tuy không nhiều chủng loại nhưng một số có trữ lượng lớn, chất lượng tốt đáp ứng cho nhu cầu phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng của tỉnh, đồng thời cung cấp nguyên liệu cho trung ương và một số tỉnh khác. Đá vôi ở huyện Kinh Môn, trữ lượng 200 triệu tấn, chất lượng tốt, CaCO3 đạt 90 – 97% cung cấp đủ nguyên liệu cho sản xuất sứ. Xi măng sản lượng 4 – 5 triệu tấn. Cao lanh ở Kinh Môn, Chí Linh trữ lượng 40 vạn tấn cung cấp đủ nguyên liệu cho sản xuất sứ trong tỉnh và một số tỉnh khác. Sét chịu lửa ở huyện Chí Linh, trữ lượng 8 triệu tấn, chất lượng tốt cung cấp nguyên liệu sản xuất gạch chịu lửa trong tỉnh và một số tỉnh khác.

Bôxít ở huyện Kinh Môn, trữ lượng 200.000 tấn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2.1.2. Đặc điểm kinh tế – xã hội

  • Dân cư và lao động

Theo Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở, tại thời điểm điều tra 1/4/2009 tổng số nhân khẩu toàn tỉnh Hải Dương là 1.703.492 người, chiếm 2% dân số cả nước ( dân số cả nước: 85.798.573 người). Trong đó, nam chiếm 48,9%, nữ chiếm 51,1%, nhân khẩu thành thị chiếm 19,1%, nhân khẩu nông thôn chiếm 80,9%.

Sau 10 năm (1999 – 2009) dân số tỉnh ta tăng thêm 52.686 người, bình quân mỗi năm tăng 0,3%, tỷ lệ tăng thấp hơn so với cả nước và vùng đồng bằng Sông Hồng và giảm mạnh so với thời kỳ 10 năm trước. Có 5 huyện, thành phố dân số tăng, tăng nhiều nhất là TP Hải Dương, bình quân tăng 5,3%/năm. Mật độ dân số chung toàn tỉnh là 1.029 người/ 1 km2. Tỷ số giới tính của dân số tỉnh Hải Dương là 95,8 nam/100 nữ, thấp hơn của cả nước (98,1 nam/100 nữ). Cũng qua điều tra đã cho thấy trên địa bàn tỉnh hiện có 130 cụ thọ 100 tuổi trở lên, chiếm 4,8% số các cụ thọ 100 tuổi trở lên của cả nước), tăng 5 lần so với năm 1999, trong đó có 13 cụ ông và 117 cụ bà. Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Như vậy Hải Dương là tỉnh đông dân thứ 11/63 tỉnh thành trong cả nước và đứng thứ 5/11 tỉnh thành trong vùng đồng bằng Sông Hồng và là tỉnh thuộc nhóm tỉnh có tỷ số giới tính khi sinh cao trong cả nước ( theo tạp chí KHCN & MT số 5– 2009 ).

Trên địa bàn tỉnh có 10 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh có 1.646.426 người, chiếm 99,74%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Sán dìu có 1.516 người, chiếm 0,09%; dân tộc Tày có 469 người, chiếm 0,0028%; dân tộc Nùng có 75 người, chiếm 0,0045%; dân tộc Thái có 65 người, chiếm 0,0039%; dân tộc Mông có 17 người, chiếm 0,001%; dân tộc Dao có 27 người, chiếm 0,0016%; dân tộc Thổ có 21 người, chiếm 0,0012% và các dân tộc khác chiếm 0,213%.

  • Giao thông và cơ sở hạ tầng

Tỉnh Hải Dương có hệ thống cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế – xã hội của tỉnh phát triển.

Hệ thống giao thông: gồm đường bộ, đường thuỷ, đường sắt; Phân bố hợp lý, giao lưu rất thuận lợi tới các tỉnh.

  • Đường bộ: có 4 tuyến đường quốc lộ qua tỉnh dài 99 km, đều là đường cấp I, cho 4 làn xe đi lại thuận tiện.
  • Đường sắt: Tuyến Hà Nội – Hải Phòng chạy song song với quốc lộ 5, đáp ứng vận chuyển hàng hoá, hành khách qua 7 ga trong tỉnh.
  • Đường thuỷ: với 400 km đường sông cho tầu, thuyền 500 tấn qua lại dễ dàng. Cảng Cống Câu công suất 300.000 tấn /năm và hệ thống bến bãi đáp ứng về vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ một cách thuận lợi.

Hệ thống giao thông trên bảo đảm cho việc giao lưu kinh tế từ Hải Dương đi cả nước và nước ngoài rất thuận lợi.

  • Kinh tế

Năm 2008, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng 10,5%; giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,9%; giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng 13 %. Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 13,5%.

Giá trị hàng hoá xuất khẩu ước đạt 420 triệu USD, tăng 73,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, chủ yếu tăng do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (tăng 85,7%). Tổng giá trị nhập khẩu ước đạt 440 triệu USD, tăng 47,9% so với cùng kỳ năm trước.

Đến nay Hải Dương đã quy hoạch 10 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.719 ha. Với chính sách thông thoáng, ưu đãi các nhà đầu tư trong và ngoài nước, với lợi thế vị trí thuận lợi, Hải Dương đã thu hút nhiều nhà đầu tư vào khu công nghiệp. Đến hết tháng 10/2008 đã thu hút 350,2 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó cấp giấy chứng nhận đầu tư mới cho 37 dự án ( tăng 9 dự án), tăng 39,2% so với cùng kỳ năm 2007. Ước tính vốn đầu tư thực hiện của các dự án năm 2008 đạt 300 triệu USD, tăng 27,6% so với năm 2007. Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

  • Du lịch

Hải Dương là miền đất giàu di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh, tuy bị chiến tranh, thiên tai tàn phá nặng nề, nhưng nhờ có truyền thống giữ gìn bản sắc dân tộc, bảo tồn di sản lịch sử văn hoá của dân tộc, cùng sự quan tâm của chính quyền địa phương, đến nay Hải Dương còn giữ được hàng nghìn di tích có giá trị. Đây là tài sản vô giá, là cơ sở của sử học, là linh hồn và niềm tự hào của nhân dân địa phương.

Tính đến hết năm 2003, toàn tỉnh có 1089 được đăng ký và nghiên cứu bước đầu, 127 di tích và cụm di tích các loại được xếp hạng Quốc gia, đứng hàng thứ tư về số lượng di tích xếp hạng theo đơn vị tỉnh và thành phố trong cả nước. Trong số những di tích đã xếp hạng có: 65 đình, 43 chùa, 33 đền-miếu-đàn, 1 nhà thờ họ, 1 cầu đá, 4 di tích lịch sử cách mạng, 5 danh thắng, 6 lăng mộ, 1 văn miếu, 1 di tích khảo cổ học, 3 hệ thống hang động. Trong số các di tích đã xếp hạng, có 2 di tích được xếp vào hạng đặc biệt quan trọng, đó là khu di tích Côn Sơn và đền thờ Kiếp Bạc.

  • Hành chính sự nghiệp

Hải Dương có 12 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Hải Dương, thị xã Chí Linh và 10 huyện: Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Ninh Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Cẩm Giàng và Bình Giang.

Trung tâm hành chính: thành phố Hải Dương là trung tâm kinh tế – chính trị văn hóa của cả tỉnh.

2.2. Những đặc trưng của ẩm thực Hải Dương

2.2.1. Văn hoá ẩm thực Hải Dương trong nền chung của ẩm thực Việt Nam

Ăn uống là nhu cầu sinh tồn của muôn loài sinh vật. Nhưng chỉ có con người- một loài sinh vật thượng đẳng mới xây dựng được nền văn hoá đa dạng, trong đó có văn hoá ăn uống.

Ăn uống là một cách thể hiện trình độ văn minh, thể hiện lối sống của con người. Mỗi dân tộc, mỗi miền đều có bản sắc văn hoá ăn uống riêng không nơi nào giống nơi nào. Đặc điểm ăn uống đó xuất phát từ quá trình sống, điều kiện địa lý, kinh tế, tập quán, khí hậu, điều kiện xã hội và các tác động bên ngoài. Việt Nam phải chịu ách đô hộ từ Trung Quốc đến Pháp, Mĩ… đã tạo ra sự phân chia địa lý, xã hội thành các vùng miền khác nhau. Tuy cùng chung một gốc dễ cội nguồn, nhưng trên cả nước vẫn có sự khác nhau về lối sống, tiếng nói và tập quán ăn uống. Nhìn chung, đặc điểm khẩu vị ăn uống của người Việt Nam là thích các món ăn nóng, giòn, sử dụng các gia vị địa phương như tỏi, gừng, riềng… để làm tăng mùi vị đặc trưng. Về màu sắc, ngoài việc sử dụng màu sắc tự nhiên của nguyên liệu còn có thể thêm vào các màu sắc từ các nguyên liệu có màu khác như trái gấc, lá rau ngót, lá dứa… Những đặc điểm đó đều tạo sự hấp dẫn đối với sản phẩm. Mỗi vùng đất trên đất nước Việt Nam ngoài những đặc điểm chung kể trên còn có lối ẩm thực riêng mang sắc thái và đặc trưng của vùng đó. Đó là phong tục, thói quen và là văn hoá của từng vùng. Cái chung và cái riêng hoà trộn với nhau khiến phong cách ẩm thực Việt Nam rất phong phú. [4] Trên cái nền chung đó, ẩm thực Hải Dương nổi lên như một nét chấm phá, mộc mạc, nhẹ nhàng mà vô cùng ấn tượng.

Có lẽ đối với du khách, cái tên Hải Dương còn khá xa lạ trên bản đồ ẩm thực Việt Nam. Trong khi ẩm thực Hà Nội, ẩm thực Huế, ẩm thực Nam Bộ lại được nhắc tới rất nhiều, gắn liền với những đặc sản nổi tiếng như phở Hà Nội, các món ăn cung đình, cơm hến Huế, canh cua cá lóc, cá kho tộ, gà nướng đất Nam Bộ… Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Trước khi nói về cái riêng của ẩm thực Hải Dương cũng cần nói rằng giống như các địa phương khác thuộc vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ tập quán ăn uống của người Hải Dương cũng bắt nguồn từ cái nền chung của ẩm thực Việt Nam, của văn hoá Việt Nam – một nền văn hoá nông nghiệp lúa nước điển hình.

Khác với người dân Hải Phòng vốn có bề dày lịch sử về nghề chài lưới nên tính cách, tập quán lối sống, ăn ở đi lại của người Hải Phòng cũng mang đậm dấu ấn của biển cả. Do đó, trong văn hoá đời thường và trong bữa ăn của người Hải Phòng có sự nghiêng về hải sản.

Người dân Hải Dương lại có bề dày lịch sử về nghề nông nghiệp, vì vậy mà văn hoá ăn của người Hải Dương lại nghiêng về lương thực thực phẩm.

Xuất phát từ điều kiện tự nhiên là nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, thuận lợi phát triển cây trồng lương thực thực phẩm, từ đó người dân Hải Dương đã sáng tạo chế biến ra các món ăn rất phong phú về chủng loại và màu sắc. Các món ăn đó đều được chế biến từ những nguyên liệu hết sức đơn giản, dân dã mà lại dễ làm đó là gạo, đỗ xanh, vừng… nhưng chất lượng và hương vị của các món ăn lại rất đậm đà và ai từng thưởng thức một lần thì còn nhớ mãi và sẽ muốn thưởng thức thêm nữa…

Văn hoá xứ Ðông được hình thành, đi lên bằng sức lao động cần cù, sáng tạo của con người trên mảnh đất này. Người Hải Dương không những giỏi làm ra hạt lúa, hạt đậu, hoa thơm trái ngọt như gạo nếp cái hoa vàng (Kinh Môn, Cẩm Giàng), vải thiều (Thanh Hà); dưa hấu (Gia Lộc); na dai, chuối mật (Chí Linh), mà còn biết chế biến nhiều món ăn đặc sản nổi tiếng khắp trong và ngoài nước như bánh đậu xanh, bánh khảo, bánh cuốn, nem chua (thành phố Hải Dương), bánh gai (Ninh Giang), bánh đa Kẻ Sặt (Bình Giang), rượu Phú Lộc (Cẩm Giàng), giò chả (Gia Lộc), mắm rươi, chả (Kim Thành), mắm cáy (Thanh Hà),…

Vùng đất xứ Ðông xưa nay đã khiến khách bốn phương “đi nhớ, về thương” bởi những đặc sản gắn với từng tên đất, tên làng, tên phố. Ðến với Hải Dương, khách nhớ đến bánh đa Kẻ Sặt, vải Thanh Hà và nhất là không ai quên mang về chục hộp bánh đậu xanh, dăm ba chục bánh gai thị trấn Ninh Giang làm quà cho người thân. Những món quà ấy tự thân nó đã nói hộ du khách về vùng đất mình vừa đặt chân, về sự tài tính, khéo léo của con người xứ Ðông, bởi đó là nét văn hoá đặc sắc, là bản sắc không thể lẫn của xứ Ðông trên mọi miền đất nước. Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Văn hoá ẩm thực của Hải Dương phong phú, đa dạng, dân dã mà tinh tế, hấp dẫn. Hương vị đặc biệt của các món ẩm thực địa phương đã làm cho người Hải Dương tự tin mời khách bốn phương và những người đã một lần thưởng thức, thì xa lâu còn nhớ.

2.2.2. Giới thiệu một số món ăn nổi tiếng của Hải Dương

Món ăn Việt Nam phong phú, đa dạng được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như phân loại theo vùng miền, theo bữa ăn chính hay phụ, theo nguyên liệu chế biến, theo cách ăn… Dựa theo những cách phân loại đó, người viết đã phân loại các món ăn của Hải Dương theo tiêu chí sau:

2.2.2.1. Những món ăn được chế biến từ thực vật a. Bánh đậu xanh

Ai đã từng qua thành phố Hải Dương chắc hẳn sẽ không thể quên một thứ bánh đặc sản mang hương vị đậm đà xứ Đông: bánh đậu xanh. Bởi thế nên nhiều người vẫn quen gọi Hải Dương là “Thành phố bánh đậu xanh”.

Bánh đậu xanh Hải Dương là một đặc sản của tỉnh Hải Dương. Bánh đậu xanh là hàng hoá được bán ở nhiều siêu thị lớn của cả nước và được xuất khẩu đến một số nước trên thế giới.

Biết chế biến các món ăn tinh khiết hợp khẩu vị là một phương diện văn hoá, hơn thế còn là một khẩu hiệu văn minh của mỗi địa phương, mỗi dân tộc. Ở nước ta tục chế biến các món ăn truyền thống hình thành rất sớm, nhất là các loại bánh. Chế biến các loại bánh từ lâu đã trở thành nghề nghiệp của nhiều gia đình trong từng địa phương. Trong số những đặc sản của tỉnh Đông xưa phải kể đến bánh đậu xanh của Hải Dương. Nguyên liệu để chế biến nên loại bánh này không phải lấy ở đâu xa mà lấy ngay từ hoa mầu của đồng nội, hương vị của đồng quê. Thành phần của bánh cũng đơn giản: đậu xanh, đường kết tinh, mỡ lợn, tinh dầu của hoa bưởi. Những nguyên liệu này đều phải chọn lọc chế biến tinh khiết, được pha trộn với nhau theo một tỉ lệ hợp lý, vượt tỉ lệ đó bánh sẽ kém chất lượng. Giấy gói bánh phải chọn giấy bóng kính, nhãn in màu vàng để hoà với màu sắc của bánh và tôn vẻ đẹp của bánh. Bánh được đóng theo từng khẩu vuông, 10 khẩu mỏng xếp 5 hàng (8,5 x 3,2 x 1,1 cm) nặng 45 gam, gần đây đã có những cải tiến nhưng quy cách của khẩu không thay đổi.

Bánh đậu xanh không chỉ ngon mà còn bổ. Bánh có tác dụng giảm béo đối với người trung niên, giảm cholesterol và mỡ trong máu, cũng như đề phòng các bệnh xơ cứng động mạch ở người cao tuổi. Đông y cho rằng: đậu xanh tính bình, vị ngọt có tác dụng giải nhiệt thanh độc… Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Ngày xưa bánh đậu xanh chỉ có người giàu mới được thưởng thức. Khi vua Bảo Đại đi kinh lý qua Hải Dương, nhà vua đã được dâng bánh đậu xanh, nhà vua thưởng thức và khen ngợi hương vị đặc sản này và nhà vua ban sắc khen bánh đậu xanh Hải Dương, trên sắc có in hình con “rồng vàng” biểu tượng cho uy quyền của nhà vua và kể từ đó bánh đậu xanh Hải Dương có tên gọi “Bánh đậu xanh rồng vàng”.

Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông đều phù hợp để thưởng thức bánh đậu xanh. Ngày xuân, mưa xuân và hoa xoan phơi phới bay đầu ngõ ngồi bên tách trà nóng mà thưởng thức bánh đậu xanh nghe như đất trời đang nhẹ nhàng chuyển động.

Mùa hè cả nhà quây quần trên tấm chiếu trải giữa sân với một ấm chè đặc và một đĩa bánh đậu xanh để nhâm nhi cảm nhận được vị mát của đậu xanh giữa mùa hè oi.

Mùa đông giá rét, ấm trà nóng và bánh đậu xanh cũng đủ làm cho mọi người thưởng thức ấm bụng vị ngọt thơm béo tan quện với ngụm trà thanh thanh từ từ tan trong miệng cuối cùng đọng lại vị ngọt thanh rất lâu nơi đầu lưỡi.

Bánh đậu xanh Hải Dương ra đời vào đầu thế kỉ 20. Hiện nay, thành phố Hải Dương có trên 50 nhà hàng bánh đậu xanh, trong đó có những nhãn hiệu nổi tiếng như Bảo Hiên, Cự Hương, Nguyên Hương, Hoà An, Quê Hương, Rồng Vàng…

  • “Ai qua thành phố Hải Dương
  • Nhớ mua bánh đậu quê hương làm quà
  • Bánh ngon thơm ngọt đậm đà
  • Ngạt ngào hương vị mặn mà tình quê…”

Dọc các phố lớn trong thành phố và nhất là dọc tuyến đường cao tốc Hà Nội Hải Phòng qua thành phố Hải Dương, bánh đậu bán đầy ắp các cửa hàng. Nhiều thế nhưng không ế. Trong một năm mùa xuân và mùa đông hàng bán chạy hơn cả. Nhất là vào dịp tết, những nhà hàng nổi tiếng thường không đủ bánh bán.

Thành phần của bánh đến nay không gì thay đổi nhưng công cụ sản xuất và vệ sinh công nghiệp, bao nhãn và phương pháp quảng cáo đã đạt trình độ cao điển hình là nhà hàng Nguyên Hương, qua kiểm nghiệm của cơ quan có trách nhiệm, xác định, nếu bánh làm tốt có thể sử dụng được trên 100 ngày. Nghề làm bánh đậu xanh đã giải quyết việc làm ổn định cho hàng ngàn người dân thành phố và các vùng lân cận.

Cái chất tốt lành cùng với sự thanh tịnh của “vị ngọt thôn quê” đã khiến bánh đậu xanh không chỉ là món quà ấm áp cho người thân, bạn bè mà còn là tấm lòng thơm thảo thờ cúng tổ tiên vào những ngày lễ tết. Người Hải Dương xa nhà nhìn thấy bánh đậu xanh như nhìn thấy quê hương, lòng rạo rực nhớ quê. Khách muôn phương thấy bánh đậu xanh lại nhớ lại một thành phố nhỏ êm đềm, cư dân thuần hậu, giữa đồng bằng châu thổ nơi ấy có đường sắt, đường bộ, đường thuỷ đi qua. Rất nhiều người Việt nói chung và người Hải Dương sống ở nước ngoài, mỗi lần về thăm quê cha đất tổ đều không quên mang theo mấy hộp bánh đậu xanh làm quà khi quay trở lại xứ người. Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Chiếc bánh đậu xanh nhỏ bé, giản dị nhưng đã mang tiếng thơm của tỉnh đông đến muôn nơi và mang về cho quê hương một nguồn thu không nhỏ.

  • Bánh gai Ninh Giang

Bánh gai có ở nhiều vùng quê nhưng là đặc sản truyền thống của Ninh Giang ( Hải Dương) đó là thứ bánh được làm từ gạo nếp hoa vàng và lá gai. Cũng vẫn là đỗ xanh, lạc, dứa, mứt bí, vừng… nhưng bánh gai Ninh Giang lại có vị riêng không trộn lẫn của một vùng đất có bề dày lịch sử văn hoá.

Cách thành phố Hải Dương 30 km về hướng đông nam, giáp Hải Phòng và Thái Bình, Ninh giang được ví là nơi có tiếng gà gáy ba tỉnh đều nghe rõ. Là một thị trấn duyên dáng, được con sông Luộc bao bọc, Ninh Giang đã ghìm sâu tên mình vào lòng người bằng đặc sản quê mình: bánh gai Ninh Giang.

Theo nhiều cụ già tại thị trấn Ninh Giang nghề làm bánh gai đã có từ hơn 700 năm trước. Ban đầu bánh tròn như quả chanh, không có lá bọc. Ngày xưa bánh gai rất hiếm, chỉ được dùng trong ngày tết hay nhà có giỗ chạp.

Làm bánh gai là cả một nghệ thuật. Để làm ra chiếc bánh ngon, đạt tiêu chuẩn, làm vừa lòng người tiêu dùng phải trải qua rất nhiều công đoạn. Ở mỗi công đoạn lại đòi hỏi sự tinh tế, khéo léo, điêu luyện và kinh nghiệm cùng bí quyết gia truyền của người thợ làm nghề.

Người ta phải kén gạo nếp cái hoa vàng, thơm, đem về vo sạch rồi ngâm nước lạnh đến khi hạt gạo mềm thì vớt ra để vào nơi thoáng mát cho ráo nước rồi đem xay thành bột mịn.

Lá gai phơi khô, tước bỏ hết gân, thái nhỏ đem luộc rồi vắt kiệt nước, cho vào cối giã thật nhuyễn, trộn với bột và đường kết tinh làm vỏ bánh, khi trộn bột phải vắt nhiều lần cho thật dẻo.

Nhân bánh cũng phải chọn nguyên liệu và gia công rất cầu kì: đỗ xanh, lạc, dừa, mứt bí, vừng, hạt sen, dầu chuối… mỡ lợn dày khổ đem pha rồi luộc chín, thái con chì, trộn đường rồi đem ủ đến khi những miếng mỡ trắng, trắng, trong, giòn mới đem dùng. Đậu xanh cũng phải chọn loại ngon, hạt nhỏ, xay vỡ, ngâm đãi sạch vỏ, nấu chín giã nhuyễn. Các thức ấy được trộn, chế biến để làm nhân. Đặc biệt bánh gai phải được gói bằng lá chuối khô lau sạch, xếp nhiều lớp để giữ được lâu. Khâu hấp bánh là khâu cuối cùng. Hấp bánh trong xửng nhiều nước và để sôi lớn lửa, xếp thưa bánh và hấp trong khoảng hai tiếng đến khi bánh dậy mùi thơm ngậy đặc trưng là được. Lấy bánh ra để ra chỗ thoáng gió cho lá mau khô ráo.

Cũng cùng nguyên liệu như đường, gạo nếp, hương liệu, lạc, dừa… nhưng mỗi cơ sở sản xuất bánh lại có những bí quyết riêng trong từng công đoạn chế biến để tạo nên hương vị đặc trưng riêng của mình. Hiện nay, thị trấn Ninh Giang có gần 100 cơ sở sản xuất bánh gai với thương hiệu nổi tiếng như bánh gai Bà Tới, Lan Trạm, Liên Hương… Trung bình một ngày mỗi cơ sở làm bánh gai thường gói từ 500 đến 1000 chiếc, khi có nhiều đơn đặt hàng thì con số này lên đến hàng ngàn chiếc. Trung bình mỗi chiếc giá từ 2000 đến 3000 đồng. Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

So với các loại bánh gai khác, bánh gai Ninh Giang chính hiệu bao giờ cũng có hương vị riêng: từ màu sắc, kỹ thuật, cách gói với một nét riêng của một vùng quê đã tạo nên một đặc sản truyền thống lâu đời. Có một điều rất thú vị là mua bánh gai ngay tại thị trấn Ninh Giang, khách hàng sẽ không bao giờ sợ mua phải bánh làm từ các loại lá khác hoặc hoá chất vì nếu có hàng bánh nào làm ra thứ bánh ấy, sẽ bị các hiệu khác, nhất là người dân Ninh Giang “tẩy chay”.

Bánh gai là một sản phẩm ẩm thực, du lịch độc đáo của Ninh Giang. Hàng năm tại đây thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến thăm quan làng nghề và cũng để thưởng thức món đặc sản nổi tiếng xứ Đông này. Tuy là đặc sản nổi tiếng song bánh gai Ninh Giang hiện vẫn gặp nhiều khó khăn do các cơ sở sản xuất bánh gai vẫn duy trì kiểu làm ăn manh mún, lại thiếu vốn, giá nguyên liệu tăng cao, chưa liên kết để tìm đầu ra lâu dài cho sản phẩm. Do vậy, trong thời gian tới để phát triển thương hiệu làng nghề bánh gai Ninh Giang rất cần sự quan tâm của các cấp ngành, địa phương trong việc quảng bá thương hiệu, tìm đầu ra cho sản phẩm.

  • Bánh đa Kẻ Sặt

Hải Dương hầu như ở huyện nào cũng có người làm bánh đa nhưng chỉ có bánh đa Kẻ Sặt mới nổi tiếng trở thành đặc sản của Hải Dương tương tự như bánh gai, bánh đậu xanh và cũng là loại bánh đặc sản ngon nổi tiếng của tỉnh Đông thủa trước.

Kẻ Sặt thời phong kiến là một xã thuộc tổng Thị Tranh. Kẻ Sặt là tên nôm của làng Tráng Liệt. Năm 1958, tách một phần xã Tráng Liệt, lập thị trấn Kẻ Sặt.

Bánh đa Kẻ Sặt là loại bánh đa ngọt, bánh đa cao cấp. Để làm bánh đa Kẻ Sặt rất công phu, gồm: gạo tẻ loại tốt, vừng loại tốt, trước đây thường mua loại vừng ở miền núi, hạt mẩy và nhỏ, chỉ bằng 1/3 hạt vừng đồng bằng nhưng chất lượng cao. Đường kính hoặc đường cát tinh khiết. Lạc chọn loại già, mẩy, nhân to. Dừa loại già, cùi dầy. Gừng tươi loại già. Bánh đa được làm theo tỉ lệ nguyên liệu: gạo 10, đường 4, vừng 1, lạc và dừa 1,5 và vài lát gừng giã nhỏ làm gia vị.

Bánh đa Kẻ Sặt đầu thế kỷ 20 rất nổi tiếng và ăn khách, người ta không chỉ bán tại quê mà còn bán buôn đi nhiều thành phố, thị xã. Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, nghề làm bánh đa ngọt sa sút. Sau hoà bình lập lại, 80 % dân Kẻ Sặt di cư vào Nam, vì đây là dân công giáo. Đến năm 1991, bên cạnh nghề nông có tới 30 % số hộ làm nghề buôn bán và tiểu thủ công nghiệp. Bánh đa ngọt chưa tìm được thị trường nên chỉ có 4 gia đình làm bánh, bằng 2 % số dộ hiện có. Hiện nay, đời sống của nhân dân đã được cải thiện, khách sạn, nhà hàng phát triển, nếu tiếp thị tốt và cải tiến về mặt sản xuất, bánh đa Kẻ Sặt hoàn toàn có cơ hội phục hồi và phát triển như bánh đậu xanh, bánh gai.

  • Bún cổ truyền Đông Cận Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Bún là món ăn cổ truyền quen thuộc của người Việt Nam. Từ xa xưa trong các chợ quê hay chợ tỉnh thành bao giờ cũng có hàng bún. Bún không chỉ là một thứ quà sáng mà còn được sử dụng như một thức ăn chính thay cơm trong những ngày mùa màng ở nông thôn và những tiệc chiêu đãi ở thành phố. Bún mềm và có men chua kích thích tiêu hoá. Vì vậy khi lao động mệt nhọc, người ta thích ăn bún hơn ăn cơm.

Hải Dương nổi tiếng nhất là bún Đông Cận, thuộc xã Tân Tiến, huyện Gia Lộc. Làm bún là nghề tuy không khó nhưng không phải nhà nào cũng làm được và có truyền thống. Ở Đông Cận có tới 95% gia đình biết làm bún và sản xuất thường xuyên. Có thể nói Đông Cận là làng bún cổ truyền.

Nghề làm bún rất đơn giản, vài ba cái vại to ( 50 lít), cối giã gạo, khuôn, dây lọc bột, túi lọc, mâm, thúng đựng bún, chén (đĩa) vắt con bún. Kỹ thuật làm bún cũng không khó, muốn có bún ngon phải từ nguyên liệu, cách lọc, pha chế.

Nguyên liệu làm bún là gạo. Gạo là loại gạo ngon, hạt mẩy, không bị gẫy. Khi ngâm gạo trước khi xay bột phải chú ý đến thời gian ngâm, không được ngâm quá lâu sẽ làm cho sợi bún bở, không dai cũng không được ngâm quá nhanh sẽ làm cho sợi bún đục không đẹp, không ngon. Gạo sau khi ngâm được xay rồi bọc lại thành từng khối nén chặt lại. Bột gạo sau khi nén chặt thì được đem ra pha với nước nhưng nước pha phải thật sạch, phải pha hợp lý giữa lượng nước và lượng bột gạo, không sẽ làm cho sợi bún bị nhão, đục không thành sợi. Trong quá trình cho ra sợi bún phải để ý đến hơi nước, hơi nước phải nóng, kín thì sợi bún mới liền, dai. Trung bình 1 kg gạo được 2 kg bún. Chất lượng bún được đánh giá vào độ trắng, độ bông dòn và đậm của sợi. Bún trắng nhưng phải dòn và đậm mới là bún ngon. Bún ngon nhất là ăn với mắm tôm hoặc riêu cua, riêu cá.

Hiện nay thị trường bún Đông Cận rất mở rộng, đặc biệt từ năm 2005 nghề bún được công nhận là làng nghề truyền thống, sản phẩm của làng nghề ngày càng đi xa và không ngừng mở rộng thị trường, trong đó lớn nhất là cung cấp cho thành phố Hải Dương. Hầu hết, các gia đình ở Đông Cận đều làm bún, mỗi năm đưa ra thị trường hàng trăm tấn bún. Từ nghề làm bún làng quê nơi đây ngày càng trù phú.

  • Cốm làng Thạc Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Mỗi độ thu về, người dân thành phố Hải Dương lại nghe xôn xao tiếng rao “ai mua cốm Thạc không”. Hạt cốm làng Thạc xanh rờn, vừa dẻo, vừa thơm. Cái hương thơm rất riêng của lúa nếp mới qua thời kỳ ngậm sữa…

Theo truyền thuyết, ngày xưa mỗi khi lụt lội, mất mùa người nông dân đành phải ngụp lặn để mò mẫm nhặt những bông lúa còn non bị ngập trong nước đem về rang khô để chống đói và để ăn dần. Không ngờ cái sản phẩm vớt vát ấy lại có hương vị riêng, rất hấp dẫn, khiến người vùng lũ sau đó thường hay lặp lại để ăn chơi mỗi khi mùa vụ đến. Cứ mỗi lần làm là một lần rút kinh nghiệm, sáng tạo thêm. Hạt cốm ngày càng xanh, càng mỏng, càng dẻo và thơm ngon. Và cốm làng Thạc đã ra đời như thế rồi vượt khỏi luỹ tre làng trở thành đặc sản quý. Làng Thạc bây giờ thuộc xã An Châu, tỉnh Hải Dương.

Hạt lúa thu hoạch khi còn xanh, khi bấm còn có sữa, đều hạt; lúa già, cốm sẽ cứng, khách chê. Vụ cốm chính trong năm rộ nhất là rằm tháng 8 âm lịch, cũng có cốm chiêm nhưng khách sành ăn, họ hay mua cốm mùa. Lúa khi được chở về đến nhà, phải được làm ngay trong ngày, nếu để qua đêm nó cũng bị ôi tựa như rau ôi, sản phẩm sẽ kém ngon. Lúa được đưa vào máy tuốt, sau khi tuốt xong, đãi sạch chất bẩn, loại những hạt lép. Khi tuốt xong, những hạt lúa được cho lên chảo rang to lửa, người thợ luôn đảo đều bằng tay để lúa không cháy, đến độ hạt thóc bắt nhiệt chuyển dạng đông sữa quằn lại là được. Qua khâu rang, thóc để nguội là sang khâu xát vỏ. Lúc này, những hạt cốm thô ra đời, vỏ trấu được loại ra phần lớn rồi chuyển sang công đoạn giã.

Cốm thô được cho xuống cối đá giã, lòng cối không sâu lắm, chừng 20cm. Cốm được giã tới 4, 5 lần; sau mỗi lần giã người ta lại sàng, xẩy để tạp chất trấu, cám ra đi và cứ làm như thế khi nào thấy cốm sạch thì thôi. Để có màu xanh người dân dùng lá gừng hoặc lá cây mây nghiền nhỏ lấy nước cốt đồ lên cùng với cốm, một chút nước đường, bánh đậu xanh, cùi dừa… tạo nên sắc thái mới cho hương cốm ngày nay.

Cốm không phải món ăn no, người sành thưởng thức thường nhâm nhi cốm với chén nước trà xanh. Thưởng thức vị cốm đầu mùa mới là ngon nhất, có thể ăn cốm với chuối chín hay với quả hồng chín đỏ mọng. Từ cốm, người ta có thể chế biến ra nhiều loại món ăn bao gồm: bánh cốm, chả cốm, kem cốm, chè cốm…

Là đặc sản của một làng nghề lâu đời, cốm Thạc đáng được đầu tư khôi phục.

2.2.2.2. Những món ăn được chế biến từ động vật

  • Các món ăn làm từ rươi Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Mỗi độ thu về khi làng quê vào mùa gặt mới, những chút gió heo may tràn về và lúc hoa sữa ngào ngạt toả hương thơm cũng là lúc chuẩn bị đón mùa rươi mới. Ở Hải Dương rươi có nhiều ở các huyện như Thanh Hà, Tứ Kỳ, Ninh Giang. Mỗi phiên chợ rươi thường chỉ diễn ra trong đôi ba ngày nên luôn để lại trong lòng thực khách bao thương nhớ:

  • “Ước gì cho đến tháng mười
  • Bát cơm thì trắng, bát rươi thì đầy.”

Mua rươi phải biết chọn những con rươi còn tươi, bò lổm ngổm trong thúng, rươi màu hồng thân mập thì ngon, còn rươi màu xanh, thân gầy và bò yếu là rươi không ngon. Để làm món rươi, khâu quan trọng nhất là phải rửa thật sạch rươi. Rươi ăn bùn, rêu đá nên thân đầy bùn, nhiều con còn bị đứt đoạn hoặc chết vì thiếu nước khi ở trong thúng. Rươi đem về nhà cho vào rổ dày nan thả nhẹ nhàng vào chậu nước rồi rửa nhẹ tránh làm vỡ ruột, nhặt sạch mùn rác sau đó để ráo nước.

Món rươi ngon nhất phải kể đến chả rươi. Cho rươi vào bát kèm với thịt lợn băm nhỏ, trứng vịt, mắm, tiêu, vỏ quýt, thì là, lá gấc rồi đánh hỗn hợp này thật nhuyễn, khi nhấc đũa lên hãy còn dính quện không dời. Việc rán chả rươi mỗi nơi một khác, có nơi cho rươi sau khi trộn gia vị vào rán luôn nhưng như vậy rươi sẽ không ngon vì rươi sẽ chín không đều và dễ cháy, khi ăn sẽ thấy khô không còn vị béo ngậy, muốn rươi ngon ta phải dùng nồi hấp xôi cho lót lá chuối xuống dưới, sau đó cho từng muôi rươi vào hấp, khi rươi chín đều đóng bánh ta đem rươi đã hấp chín cho vào chảo mỡ nóng già và đun nhỏ lửa sao cho rươi không cháy nhanh, khi rươi có màu vàng cánh rán đều hai mặt thơm ngào ngạt thì vớt rươi ra để ráo mỡ. Nước chấm rươi ngon nhất là nước mắm chắt, có tỏi ớt vằm nhuyễn cho thêm mì chính, đường và vắt chanh là hợp nhất.

Tương tự chả rươi, nem rươi cũng rất ngon và có cách làm cầu kỳ. Có hai loại nem rươi. Nem sống là nem ăn sống, được làm bằng cách lấy rươi trộn với nấm hương, mộc nhĩ và một số rau quả như khế, chuối xanh, ngò, mùi, xà lách, tía tô, kinh giới, vỏ quýt thái nhỏ quấn trong bánh đa nem và chấm mắm ớt. Nem chín là nem ăn chín, có cách làm giống nem sống nhưng đem rán. So với chả và nem, món rươi hấp đơn giản hơn. Cũng là hỗn hợp rươi, nấm, vỏ quýt, thì là, mộc nhĩ, các loại rau xanh cùng với thịt lạc băm nhỏ nêm mắm, tiêu, đường trộn đề xong hấp cách thuỷ. Canh rươi là món ăn đợc nấu nhừ trong nước. Thường thấy là canh măng, sườn ninh, trước khi ăn mới thả rươi vào đun chín, múc ra bát dùng nóng.

Rươi cũng được xào với các loại củ quả. Trong món rươi xào, do phải đảo nhiều dễ làm rươi gẫy vụn nên nhiều người thường xào rau quả và thịt trước, khi sắp chín mới đổ rươi vào, đập trứng trộn đều, cho gia vị vừa độ, cuối cùng múc ra đĩa, rưới ít dầu vừng, rắc lá mùi, rau thơm và đặt một quả ớt tỉa hoa lên trên làm đĩa rươi thêm đẹp.

Món rươi kho và rươi rang bằng nồi đất lại là món ăn giữ nguyên được hương vị đặc trưng rươi. Khi làm món rươi kho, người ta thường nót dưới đáy nồi một lớp gừng, khế, củ cải, vỏ quýt, thì là, lá gấc thái chỉ rồi xếp rươi lên trên, nêm gia vị, mỳ chính, đổ nước sâm sấp, đậy kín và đun trong ngọn lửa nhỏ. Khi nước trong nồi cạn cũng là lúc rươi chín mềm, thơm ngậy. Đơn giản hơn trong món rươi rang chỉ cần lấy lá chuối lót đáy nồi, đặt lên bếp, đổ rươi vào chao đến khi rươi săn ròn.

Trong các món ăn từ rươi, mắm rươi là dễ làm nhất và giữ nhiều dưỡng chất nhất. Sau khi rửa rươi thật sạch, đổ rươi vào vại rắc muối mặn lên và đổ nước ngập bề mặt. Tỷ lệ là năm rươi, một muối, bốn nước. Cứ 5 kg rươi rắc 1 kg muối và đổ 4 lít nước. Cuối cùng cho thêm vào một chén rượu, một lạng thính. Đậy kín vại đem phơi nắng một, hai tuần đến khi rươi chín n hừ tạo thành dịch quánh. Có thể dùng mắm sống hoặc chưng mắm rồi ăn. Mắm rươi có rất nhiều đạm, khoáng chất bổ dưỡng thường để chấm thịt ba chỉ, thăn bò giò heo hoặc nem rau cuộn.

  • Đặc sản mắm cáy Hải Dương Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Trong khi trên thị trường nhan nhản các loại nước mắm được quảng cáo rầm rộ vẫn có thể bị người tiêu dùng “lãng quên”, do không hợp khẩu vị, do nghi ngờ có hàm lượng u-rê, chất độc hại 3 MPCĐ cao…, thì nước mắm cáy vẫn chiếm được lòng tin của đông đảo người tiêu dùng. Bởi lẽ, mắm cáy được chế biến bằng phương pháp thủ công truyền thống với nguyên liệu chủ yếu là con cáy vùng nước lợ, muối và nước sạch.

Trên địa bàn tỉnh Hải Dương, con cáy có nhiều ở những vùng nước lợ như Thanh Hà, Kim Thành, Tứ Kỳ, Kinh Môn, Nam Sách… Nhưng nhiều hơn cả là vùng khu Hạ (Tứ Kỳ) và khu Hà Đông (Thanh Hà). Cáy được bán ở nhiều chợ trong tỉnh, với giá phổ biến 30 nghìn đồng/kg. Người kinh doanh mắm cáy, thường đến các chợ mua gom cáy về để chế biến. Dọc đường 391 thuộc địa phận huyện Tứ Kỳ, đường 37 thuộc địa phận huyện Ninh Giang, hay đường 183 thuộc địa phận huyện Nam Sách và Chí Linh, thậm chí ngay trong TP Hải Dương… có khá nhiều điểm bán mắm cáy.

Mắm cáy là loại nước mắm được làm từ con cáy ( gần giống con cua, nhưng nhỏ hơn, chân nó có nhiều lông hơn, vỏ ngoài màu nâu đậm). Mùi vị của mắm cáy rất khác biệt, có cái thơm nồng của phù sa sông và cái hăng hắc đặc trưng của cáy. Đó là một loại nước mắm dân dã nhưng chứa đựng bao tinh tuý của đất trời và cái tài khéo léo không thể chê vào đâu được của người làm mắm.

Mắm cáy dễ chế biến, với công thức rất đơn giản. Nếu muốn có mắm trong thì cứ 3 bát cáy, bóc yếm, rửa thật sạch, để nguyên con dùng một bát muối để muối cáy. Sau đó, rắc thêm một ít thính bằng gạo rang hoặc đỗ rang nghiền nhỏ, cho vào chum, bọc kín lại, chôn xuống đất. Một năm sau, đào lên, tuỳ theo lượng cáy nhiều hay ít, mà chế nước muối. Cứ 3 bát nước lã đun sôi, hoà tan một bát muối để pha chế, chắt bỏ bã cáy là được mắm cáy trong. Còn chế biến mắm cáy đục, thì cũng công thức trên, nhưng đem cáy giã nhỏ với muối, cho vào chum, bọc kín lại, để vào nơi kín gió, sau một tháng rưỡi, chế thêm nước muối là có mắm cáy đục để dùng. Ngoài những nguyên liệu trên, có thể dùng vỏ quýt, vài lát dứa chín để chế biến nước mắm, nhằm tăng hương vị cho mắm cáy. Nhưng nếu dùng bất cứ một thứ hoá chất nào, kể cả bột ngọt, bột nêm đưa vào khi bắt đầu công việc chế biến nước mắm cáy, đều làm hỏng mắm. Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Tuỳ theo chất lượng mắm cáy, giá bán chênh lệch nhau. Nhưng phổ biến từ 12 đến 25 nghìn đồng/lít mắm cáy trong. Mỗi thứ nước mắm dùng với một loại thực phẩm khác nhau sẽ đưa lại cảm giác ẩm thực riêng. Nước mắm đục, vắt thêm lát chanh, dùng làm nước chấm với rau muống, mồng tơi, bánh đúc, hay ăn với bún… Gần đây, mắm cáy đục còn dùng làm nước chấm thịt trâu, thịt bò luộc. Mắm cáy trong dùng để chấm thịt vịt, thịt ngan, thịt thỏ hay thịt lợn quay đều rất ngon.

  • Bún cá rô đồng

Cá rô đồng thì nơi nào cũng có nhưng nếu muốn thưởng bát bún cá rô vừa thơm vừa đậm đà hương vị thì bạn phải về đất Hải Dương. Có lẽ do thổ nhưỡng vùng đất này đã sản sinh ra loại cá rô béo ngậy, ngọt đậm đà và cả cái không khí khiến người thưởng thức cảm thấy ấm áp và không thể nào quên.

Vào tháng tư âm lịch sau những đợt mưa rào là cá rô ngon nhất. Cá rô béo sau khi đánh vảy, moi mang ruột sẽ được chia làm hai phần, một phần dành nấu nước dùng, một phần dành để bày ra tô. Nước dùng chỉ thuần túy cá rô, không thêm xương heo, cứ một phần cá tươi thì hai phần rưỡi nước nấu cho đến khi nào thịt và xương cá rã ra, nồi nước trong leo lẻo và đậm đà vị ngọt của cá thì đạt yêu cầu. Người ta cũng bỏ vào nước dùng sau khi nấu một ít gừng tươi đập dập cho mùi thơm thêm phần quyến rũ cũng như là át bớt mùi tanh của cá.

Những con cá được dành phần lại được luộc chín, bóc thịt ra riêng. Sau đó xào cùng chút hành tím, nước mỡ cho thơm. Đấy là hoàn tất công đoạn chuẩn bị. Sau đó cho bún ra tô, sắp lên ít thịt cá đã xào thơm, thêm ít hành tiêu, chan vào nước dùng nóng. Sau đó dọn ra bàn cùng với nước mắm nguyên chất có vài khoanh ớt cùng đĩa rau thơm, bông chuối, rau muống là đã có một bữa ăn ra ngon.

Được đến vùng đất Hải Dương bạn đừng quên thưởng thức món ăn tuy dân dã nhưng cũng không kém phần công phu này nhé.

2.2.2.3. Đặc sản không qua chế biến

  • Vải thiều Thanh Hà

Mùa hè đỏ lửa cũng là lúc vườn vải nhuộm một màu đỏ sậm. Từ trên cao nhìn xuống màu xanh của lá cây đã bị màu đỏ của trái vải lấn át, trông giống như những đĩa xôi được nhuộm màu rất khéo.

Khu vườn rộn rã tiếng chim, sực nức mùi hương vải thơm nồng. Trái vải kết thành chùm ở đầu cành, nặng trĩu, nhiều khi không chịu nổi sức nặng của trái, gió mạnh một chút là cành nhỏ tự gãy. Một cành vải bằng cổ tay người lớn cũng được khoảng 10 kg trái chín. Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Nếu tháng 5 bạn có mặt ở Thanh Hà – Hải Dương bạn sẽ thấy làng quê như có hội – hội vải. Du khách về quê vải vừa tham quan vừa thưởng thức vải tại chỗ. Xe tải thì chở vải đi nơi khác bán.

Trái vải thiều lớn cỡ ngón chân cái, tạo thành chùm, vỏ màu đỏ sậm hơi sần sùi. Bóc vỏ ra, bên trong là một lớp cùi trắng nõn, mọng nước, vị ngọt dịu mát, thơm của nước vải ngấm tận chân răng. Đặc biệt, mùi thơm của vải khi ăn xong vẫn còn vương vấn mãi. Vải thiều Thanh Hà hột nhỏ, màu nâu đen, cây vải tuổi càng cao thì hạt càng nhỏ, có nhiều trái gần như không có hạt và lớp cùi dày ngọt lịm, đầy nước.

Trái vải là cây ăn quả quý, dễ tiêu hóa, an thần, đặc biệt là bổ não, có tác dụng chữa bệnh đường ruột. Trồng vải còn là nguồn cung cấp nhiều mật tốt cho nghề nuôi ong và cho gỗ tốt. Dùng vải tươi hay khô đều tốt cả. Vải sấy khô cùi đen lại, dẻo quánh, ngọt vô cùng. Khi ăn, ta có cảm giác như ăn một quả táo Tàu thường có vị thuốc Bắc. Được ăn trái vải sấy khô và uống một ly trà nóng ấm thì thật không còn gì thú hơn. Ở Thanh Hà, nhà nào cũng có bình rượu ngâm vải sấy khô.

Theo phân loại thời điểm chín và thu hoạch, vải trồng tại vùng Thanh Hà được phân thành 3 nhóm giống vải chính sau:

  • Nhóm giống vải chín sớm: gồm 2 giống là U trứng và Lãng Xuyên, chiếm khoảng 4% diện tích trồng vải.
  • Nhóm giống vải chín trung bình: gồm vải U hồng, U thâm, Tàu lai hoa trắng, Tàu lai hoa đen, Thiều phú hộ, chiếm 16% diện tích trồng vải.
  • Nhóm giống vải chín muộn: có duy nhất một giống là vải thiều. Đây là giống vải chính vụ với diện tích chiếm khoảng 80% diện tích trồng vải toàn huyện.

Cây vải tổ của vải Thiều được trồng tại thôn Thuý Lâm xã Thanh Sơn do cụ Hoàng Văn Cơm mang về. Người ta kể rằng Cụ Cơm nguyên là một người phục vụ tại một cửa hàng ăn ở tỉnh Quảng Ninh. Một hôm, có một du khách người Trung Quốc sau khi ăn cơm xong đã dùng tráng miệng bằng một loại quả và khi rời khỏi quán ăn ông ta có để lại một vài quả. Cụ Cơm ăn thử thấy ngon quá, liền mang hạt về gieo ở vườn nhà và mọc lên được 3 cây. Trong 3 cây đó chỉ sống được 1 cây và cây đó vẫn tồn đến ngày nay (khoảng 150 tuổi). Vì vậy, xã Thanh Sơn được coi làn xã hạt nhân của vùng sản xuất vải Thiều. Do chất lượng quả vải đươc nhiều người ưa chuộng nên dần dần được nhân rộng ra các xã lân cận như xã Thanh Xá, xã

Thanh khê. Trong giai đoạn từ năm 1960-1970, hình thành các vườn cây đặc sản và sản xuất theo kế hoạch của nhà nước, cây vải thiều được trồng trong vườn nhà của các xã Thanh sơn, Thanh Thuỷ, Thanh Xá, Thanh Khê, Thanh Xuân, Hợp Đức, Thanh Cường, Thanh Hồng, Trường Thành. Từ năm 1993, có chính sách địa phương chuyển đổi đất lúa sang trồng vải, cây vải thiều được trồng và phát triển trên khắp các xã trong huyện. Căn cứ vào nguồn gốc lịch sử cây vải là những đặc tính đặc biệt của vải thiều Thanh Hà, năm 1992 Trung ương hội làm vườn Việt Nam đã công nhận cây vải do ông Hoàng Văn Cơm thôn Thuý Lâm – xã Thanh Sơn huyện Thanh Hà – tỉnh Hải Dương trồng là cây vải tổ của Việt Nam.

Ngày 8/6/2007 vải thiều Thanh Hà đã chính thức được Cục Sở hữu trí tuệ trao bằng Chứng nhận Chỉ dẫn địa lý. Nghĩa là từ nay “Thanh Hà” trong cụm từ “Vải thiều Thanh Hà” không thuần tuý là một địa danh, mà đã là một thương hiệu sản phẩm, giống như “Nước mắm Phú Quốc”, “Vang Đà Lạt”, “chè Thái Nguyên”…

2.3. Thực trạng khai thác văn hoá ẩm thực Hải Dương Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

2.3.1. Phân bố địa điểm ăn uống, bán hàng

Các món ăn đặc sản của Hải Dương phân bố ở nhiều nơi trong cả tỉnh chứ không tập trung ở một vùng nào cả. Mỗi vùng có một đặc sản riêng, mang đặc trưng riêng của vùng đó.

Nơi tập trung sản xuất, bày bán nhiều món ăn đặc sản nhất là ở thành phố Hải Dương và dọc tuyến quốc lộ 5. Đi xa hơn một chút trên quốc lộ số 5, những cửa hiệu Bánh đậu xanh Hải Dương bề thế đua nhau ngoi ra mặt đường, tạo sức thu hút thực khách và bánh đậu xanh đã được nâng lên thành tập đoàn, hiệp hội và cũng có nhiều cửa hàng, cửa hiệu bán các loại đặc sản khác như bánh gai, bánh đa, mắm cáy…

Các loại ẩm thực đặc sản được tiêu thụ ngay tại nơi sản xuất và cũng đem đi tiêu thụ ở khắp các nơi trong cả tỉnh Hải Dương và các vùng lân cận.

2.3.2. Tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, địa chỉ các món ăn đặc trưng của Hải Dương

Quảng cáo là hình thức tuyên truyền, giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ, công ty hay ý tưởng nhằm tác động tới hành vi, thói quen mua hàng của người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệp bán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán.

Hải Dương đã sử dụng rất nhiều biện pháp quảng cáo hình ảnh các món ăn đặc sản để giới thiệu đến thực khách ở khắp mọi nơi. Một số biện pháp quảng cáo như: Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Quảng cáo thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, báo chí, internet, phát thanh. Những hình thức này sẽ giới thiệu ngay cho người tiêu dùng biết các món ăn đó là gì, thành phần nguyên liệu chế biến ra sao, ăn như thế nào… Trong đó phương tiện quảng cáo qua internet là tối ưu hơn cả, được sử dụng nhiều vì mang chi phí rẻ hơn các hình thức quảng cáo qua truyền hình hay báo chí mà cũng mang lại hiệu quả cao vì ngày nay trong thời kỳ hội nhập phát triển inernet đóng vai trò ngày càng quan trọng, con người sử dụng để tìm hiểu tất cả thông tin mà họ chưa biết qua internet. Tỉnh Hải Dương đã xây dựng các trang web giới thiệu hình ảnh các món ăn đặc sắc, hấp dẫn thu hút hàng ngàn người truy cập, tìm hiểu về các món ăn đặc sản của tỉnh như: Dulichhaiduong.vn, Yeuhaiduong.vn, Amthuchaiduong.vn, Haiduong.dost.gov.vn

Quảng cáo trên bao bì sản phẩm: các thông tin về món ăn như nguyên liệu chế biến, cách ăn, nơi sản xuất, hạn sử dụng…đều được các nhà sản xuất giới thiệu ghi rõ trên bao bì sản phẩm, do đó khách hàng sẽ có được những thông tin mà họ cần khi sử dụng sản phẩm.

Quảng cáo truyền miệng. Đây là hình thức quảng cáo mà hầu hết nhà quảng cáo muốn thực hiện được vì hiệu quả lớn cũng như việc không phải đầu tư chi phí. Tuy nhiên họ chỉ có thể đạt được trong quá trình cung cấp sản phẩm, dịch vụ ra thị trường với uy tín và chất lượng tốt. Bằng hình thức quảng cáo này mà các món ăn đặc sản của Hải Dương đã được đông đảo thực khách biết đến nhờ uy tín và chất lượng tốt của chúng và ngày càng mở rộng thị trường hơn nữa ra các khu vực lân cận.

Ngoài ra các cửa hàng, cửa hiệu cũng có các hình thức quảng cáo đa dạng, độc đáo, thu hút thực khách với các bảng hiệu treo trước cửa bắt mắt, lấp lánh màu sắc…đây là hình thức tiếp cận khách hàng ít tốn kém nhất nhưng lại đạt hiệu quả cao nhất.

2.3.3. Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm

Vệ sinh an toàn thực phẩm đang là một trong những mối quan tâm chung của toàn xã hội và là vấn đề thời sự được dư luận đặc biệt quan tâm.

Các làng nghề sản xuất thực phẩm ở Hải Dương đã chú trọng hơn việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, không sử dụng các chất gây độc trong thực phẩm như hàn the, không sử dụng phẩm mầu các phụ gia nằm ngoài quy định của bộ y tế, sử dụng nước sạch, an toàn để chế biến thức ăn, thường xuyên vệ sinh dụng cụ nấu nướng chế biến thực phẩm, sử dụng nguyên liệu sạch, không chất bảo quản…

Tuy nhiên, cũng vẫn còn tình trạng một số địa phương, đơn vị chưa quan tâm thoả đáng đối với công tác vệ sinh an toàn thực phẩm; lực lượng thanh tra, kiểm tra còn mỏng, hiệu quả kiểm tra của một số đoàn chưa cao. Một số cơ sở sản xuất kinh doanh và một số bộ phận người dân chưa ý thức đầy đủ và chấp hành nghiêm chỉnh các qui định về điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm… Đó là những vi phạm như: không có giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm; người lao động không được khám sức khỏe định kỳ; không sử dụng trang phục bảo hộ lao động khi chế biến thực phẩm…

Do sự phát triển kinh tế quá nhanh, nhu cầu thực phẩm và dịch vụ ăn uống lớn, trong khi các điều kiện về cơ sở hạ tầng và năng lực chưa đáp ứng được trước những yêu cầu phát triển đó.

Sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm còn lạc hậu, mang tính hộ gia đình, cá thể: các cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ, lẻ, manh mún, mang tính chất hộ gia đình là chủ yếu; kỹ thuật thủ công, lạc hậu, thiết bị thô sơ, điều kiện cơ sở chế biến không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Đồng thời đó là do hệ thống tổ chức, quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm mới được thành lập, chưa hoàn thiện và lực lượng còn mỏng, yếu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Các chế tài xử lý vi phạm còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe. Cùng với việc thực thi pháp luật còn chưa nghiêm dẫn đến các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chưa thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật.

Ngay tại 2 làng Đông Cận và Tam Lương thuộc xã Tân Tiến (huyện Gia Lộc) hiện có hơn 100 hộ chuyên làm nghề bún với trên 300 lao động thường xuyên cung cấp cho thị trường hàng tấn bún, bánh phở mỗi ngày. Thế nhưng, mỗi gia đình chỉ dành một diện tích rất khiêm tốn (từ 15 – 20,2 m2) làm cơ sở chế biến và có tới 70% dùng nước giếng khoan không hề được khử trùng. Chưa kể, khu vực sản xuất phần lớn đặt rất gần khu vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi, nguy cơ ô nhiễm thực phẩm cao.

Để khắc phục tình trạng trên, ban chỉ đạo về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh Hải Dương đã đẩy mạnh công tác thanh kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm ở các cơ sở sản xuất thực phẩm và đưa ra một số giải pháp sau:

Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức, thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm và ý thức trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh.

Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm; kết hợp giữa kiểm tra, xử lý và thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các cơ sở sản xuất kinh doanh vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm.

Xây dựng và triển khai các Đề án đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại các làng nghề, tạo điều kiện cho các hộ gia đình có đủ điều kiện chấp hành các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát ô nhiễm sinh học và hoá chất tồn dư; phân tích cảnh báo nguy cơ gây ô nhiễm thực phẩm.

2.3.4. Giá cả các loại ẩm thực

Những địa chỉ ăn uống, phong cách ẩm thực và giá cả là mối quan tâm lớn của du khách khi đi đến một vùng đất mới. Việc đưa ra được chính sách giá có sức cạnh tranh cao, phù hợp với túi tiền thực khách là cả một quá trình nghiên cứu lâu dài, đòi hỏi các công ty phải có kế hoạch phân tích khả năng tài chính của khách hàng một cách hợp lý.

Giá cả các loại ẩm thực ở Hải Dương khá rẻ và dễ mua. Du khách không cần quá nhiều tiền mà chỉ cần vài trăm ngàn đã có thể mua quà đặc sản của vùng này về cho người thân hoặc thưởng thức ngay tại chỗ. Giá cả các mặt hàng ẩm thực dao động từ vài chục ngàn đến vài trăm ngàn như: Một hộp bánh đậu xanh có giá từ 15000 đồng đến 80000 đồng/hộp với khối lượng từ 200 gam đến 900 gam; 30000 – 50000 đồng/chục bánh gai; mắm cáy có giá 40000 đồng/lít, vải thiều có giá từ 3000 đến 10000 đồng/1kg tuỳ chất lượng và thời điểm bán…

2.3.5. Hiệu quả kinh doanh ẩm thực Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Hiệu quả kinh doanh là thước đo tổng hợp, phản ánh năng lực sản xuất và trình độ kinh doanh của một doanh nghiệp, là điều kiện quyết định sự thành bại của các doanh nghiệp.

Trong những năm gần đây các cơ sở sản xuất ẩm thực của tỉnh Hải Dương đã có những bước phát triển chưa từng có, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao, chất lượng các món ăn cũng được nâng lên, mở rộng quy mô sản xuất cũng như thị trường tiêu thụ ra các vùng trong toàn tỉnh và các vùng lân cận khác.

Việc phát triển của các cơ sở sản xuất, kinh doanh ẩm thực không những đem lại một nguồn lợi nhuận lớn mà còn góp phần giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Tiêu biểu như các cơ sở sản xuất sau:

Bánh đậu xanh là một đặc sản của tỉnh Hải Dương, được bán ở nhiều siêu thị lớn của cả nước và được xuất khẩu đến một số nước trên thế giới. Trước năm 1986 Hải Dương chỉ có một vài cơ sở sản xuất bánh đậu xanh quy mô nhỏ, ít được biết đến nhưng từ sau năm 1986, đất nước có nhiều đổi mới, nền kinh tế thị trường phát triển, bánh đậu xanh ngày càng phát triển. Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hải Dương có trên 50 cơ sở sản xuất bánh đậu xanh, trong đó có những cơ sở nổi tiếng như Bảo Hiên, Nguyên Hương, Bảo Long, Hoà An, Quê Hương… Chiếc bánh đậu xanh nhỏ bé, giản dị nhưng đã mang tiếng thơm của tỉnh Đông đến muôn nơi và mang về cho quê hương một nguồn thu không nhỏ và không ít cửa hàng đã đạt mức tỉ phú, điều mà xưa nay ít người nghĩ tới đồng thời nghề làm bánh đậu xanh đã giải quyết việc làm ổn định cho hàng ngàn người dân thành phố và các vùng lân cận.

Bánh gai là một sản phẩm ẩm thực, du lịch độc đáo của Ninh Giang. Hiện nay ở thị trấn Ninh Giang có gần 100 cơ sở sản xuất bánh gai nằm rải rác khắp nơi với nhiều thương hiệu nổi tiếng như Tuyết Nhung, Minh Tân, Nhân Hưng, bà Tới… Trung bình một ngày mỗi cơ sở làm bánh gai gói từ 500 đến 1000 chiếc, khi có nhiều đơn đặt hàng thì con số này lên đến hàng ngàn chiếc. Trung bình mỗi chiếc từ 3000 đên 5000 đồng, người làm bánh gai thu được một số tiền không nhỏ. Cuộc sống của người dân vì thế cũng được nâng lên rất nhiều. Sản phẩm bánh gai trở nên nổi tiếng, khách hàng từ khắp nơi tìm về thu mua bánh gai ngày càng đông, con đường 17A luôn tấp nập người ra kẻ vào để mua bánh. Điều này giúp người dân làng nghề có công việc ổn định, cuộc sống được nâng cao. Không những thế, bánh gai còn giúp tạo công ăn việc làm cho người lao động ở các xã, vùng lân cận lúc nông nhàn. Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Bún Đông Cận được công nhận là làng nghề truyền thống năm 2005 đã thúc đẩy sản phẩm của làng nghề ngày càng đi xa và không ngừng mở rộng thị trường. Nhất là việc người dân làng nghề đã tự tìm hiểu, đầu tư máy móc hiện đại để sản xuất bún, góp phần nâng công suất sản xuất bún, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường, mang lại giá trị thu nhập cao. Không những làm giàu từ việc bán bún mà các sản phẩm thừa từ khâu sản xuất còn được người dân tận dụng làm thức ăn chăn nuôi hiệu quả. Hằng năm, ngoài khoản thu nhập từ làm bún, người dân trong thôn còn thu về hàng trăm triệu đồng từ chăn nuôi. Sự phát triển của làng nghề bún Đông Cận đã góp phần giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân trong thôn.

2.3.6. Văn hoá trong kinh doanh ẩm thực ở Hải Dương

Quan tâm đến văn hoá, kết hợp văn hoá với kinh doanh, làm cho cái lợi (kinh tế) gắn bó với những giá trị chân, thiện, mỹ (kinh doanh có văn hoá) là xu hướng chung của các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài.

Các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất ẩm thực của tỉnh Hải Dương cũng đã áp dụng “văn hoá” trong kinh doanh. Điều đó được thể hiện qua việc kiếm lời chân chính trên cơ sở tài năng, sức lực của người kinh doanh. Đồng tiền thu được của họ là đồng tiền làm ra bởi sự nhanh nhạy nắm bắt thông tin và nhu cầu thị trường, không ngừng cải tiến kỹ thuật, kiểu dáng sản phẩm, đổi mới các hình thức dịch vụ hướng tới sự tiện ích ngày càng cao… chứ không phải là bởi buôn lậu, hành vi gian lận thuế, làm hàng nhái hàng giả, hối lộ… Mặt khác văn hoá kinh doanh (hay kinh doanh có văn hoá) còn thể hiện ở việc các nhà kinh doanh quan tâm đến lợi ích tinh thần, khuyến khích tài năng sáng tạo của người lao động, giữ gìn và ngày càng củng cố chữ tín đối với bạn hàng và khách hàng về chất lượng các sản phẩm mà các doanh nghiệp sản xuất ra.

Mặt khác kinh doanh có văn hoá (hay văn hoá kinh doanh) của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất ở Hải Dương còn thể hiện qua đạo đức của người kinh doanh. Đó là tính trung thực, giữ chữ tín đáp ứng được đòi hỏi của cuộc sống, không chạy theo lợi ích để làm ăn dối trá, lừa đảo, chụp giật, bất chấp mọi thủ đoạn, kể cả việc loại trừ đối thủ trên thương trường. Các doanh nghiệp đã chủ trương đưa ra hình ảnh tối ưu nhằm nâng cao uy tín cho doanh nghiệp qua những triết lý kinh doanh như phục vụ khách hàng hoàn hảo, coi khách hàng là thượng đế chữ tín quý hơn vàng, gửi trọn niềm tin…

Để đánh giá một doanh nhân có phải là một doanh nhân văn hoá hay không, cần nhìn nhận trên các yếu tố, điều kiện sau:

  • Là người có đạo đức tốt, có “tâm” theo những chuẩn mực của lối sống, văn hoá dân tộc.
  • Có sự trung thực và chữ “tín”.
  • Tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật.
  • Phát triển bền vững, sáng tạo và vì quyền lợi quốc gia.
  • Hoạt động xã hội – từ thiện. Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất ẩm thực trên địa bàn Hải Dương đều có đầy đủ các yếu tố trên. Nhiều doanh nghiệp lớn như doanh nghiệp sản xuất bánh đậu xanh Nguyên Hương, Hoà An, Quê Hương… đã có nhiều chính sách từ thiện như giúp đỡ trẻ em lang thang cơ nhỡ, người già không nơi lương tựa…có chỗ ăn ở có người chăm sóc, có việc làm…

Nội dung văn hóa trong kinh doanh trước hết là xây dựng “chữ tín” trong làm ăn, xây dựng truyền thống và uy tín của doanh nghiệp mà cụ thể là kinh doanh đúng pháp luật, giữ “chữ tín” với khách hàng. Làm ăn thì phải có lời, nói một cách bài bản, lợi nhuận là động lực trực tiếp đối với doanh nghiệp và doanh nhân. Những người kinh doanh có văn hóa luôn đặt lợi ích của mình trong sự kết hợp hài hòa với lợi ích của cộng đồng, của đất nước. Điều này bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc, của lòng yêu nước, của ý thức cộng đồng. Chúng ta đang xây dựng đất nước theo phương châm: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”. Dân có giàu nước mới mạnh mà nước càng giàu mạnh, doanh nghiệp mới có môi trường, điều kiện thuận lợi trong làm ăn. Với tinh thần đó doanh nghiệp ở Hải Dương đã xây dựng nề nếp quản lý kinh doanh minh bạch, trung thực, thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật, tham gia các hoạt động xã hội, khắc phục các hành vi gian lận thương mại, làm hàng giả, trốn thuế, gian lận sổ sách, đầu cơ, lừa đảo, phô trương lãng phí, chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá…

2.4. Tiểu kết

Trong những năm gần đây cùng với sự lớn mạnh của du lịch cả nước, du lịch Hải Dương cũng từng bước trưởng thành và phát triển, góp phần vào thành tựu chung xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, Hải Dương vẫn chưa khai thác hết tiềm năng vốn có của mình mà chỉ tập trung một số lĩnh vực chính như lễ hội, các di tích lịch sử… trong đó văn hoá ẩm thực cũng là một nguồn tài nguyên quý báu của tỉnh mà vẫn chưa được khai thác triệt để để phục vụ cho du lịch.

Chương 2 của luận văn đã giới thiệu khái quát về tỉnh Hải Dương và các loại ẩm thực đặc sản của tỉnh cũng như thực trạng khai thác nguồn tài nguyên này. Qua đó có thể thấy ẩm thực Hải Dương rất phong phú, đa dạng nhưng chưa được khai thác phục vụ trong hoạt động du lịch một cách hiệu quả. Vì vậy, trong tương lai nếu biết khai thác tốt lĩnh vực này kết hợp với các hoạt động du lịch khác thì sẽ thu hút ngày một đông du khách đến với thành phố Hải Dương. Khóa luận: Thực trạng du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp du lịch văn hoá ẩm thực ở Hải Dương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537