Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng công tác huy động vốn tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

2.1. Vài nét về hoạt động kinh doanh của SACOMBANK

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (“Ngân hàng”) là một ngân hàng TMCP do NHNN Việt Nam cấp giấy phép hoạt động theo Giấy phép Ngân Hàng số 0006/NH-GP ngày 5 tháng 12 năm 1991. Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ ngày 21 tháng 12 năm 1991 và thời hạn hoạt động của Ngân hàng là 50 năm kể từ ngày của giấy phép đầu tiên.

Trụ sở chính của Ngân hàng tọa lạc tại số 278 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2025, Ngân hàng có một Hội sở , hai sở giao dịch, 47 chi nhánh và 99 phòng giao dịch trên toàn quốc. Tại ngày 31 tháng 12 năm 2025, Ngân hàng có bốn công ty con và một công ty liên doanh như sau:

  • Công ty TNHH Quản lý nợ và Khai thác Tài sản Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín
  • Công ty TNHH Cho thuê Tài chính Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín
  • Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín
  • Công ty TNHH Kiều hối Sài Gòn Thương Tín

Công ty Liên doanh Quản lý Quỹ Đầu tư Chứng khoán Việt Nam Sacombank đã thắt chặt quan hệ với các định chế tài chính nước ngoài, tiếp tục nhận được hỗ trợ kỹ thuật của IFC, ANZ và tổ chức CIDA, liên kết với tổ chức thẻ quốc tế và tham gia các hội nghị, diễn đàn quốc tế tại Mỹ và Singapore. Đó là những bước tiến quan trọng, khẳng định sự phát triển ngày một khởi sắc và bền vững của Sacombank ở một tầm cao mới. Việc mở rộng mạng lưới để chiếm lĩnh thị phần, cùng với việc thành lập các công ty con nhằm chuyên nghiệp hóa hoạt động ngân hàng là những tiền đề cần thiết để Sacombank có thể phát triển vững chắc trong tương lai.

Với phương châm hành động “tăng tốc, nâng chất để phát triển nhanh và bền vững” , năm 2025 Sacombank đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu đã đề ra với nhịp độ tăng trưởng bình quân đạt 50-70% so với năm trước, đồng thời cũng là năm đầy ắp các sự kiện có ý nghĩa. Trong đó:

  • Sacombank là Ngân hàng thương mại duy nhất đạt 2/8 kỷ lục kể từ ngày thị trường chứng khoán Việt Nam đi vào hoạt động gồm:
  • Ngân hàng thương mại đầu tiên niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam( ngày 12 tháng 6 năm 2025);
  • Ngân hàng TMCP có Công ty Liên doanh Quản lý Quỹ Đầu tư Chứng khoán đầu tiên niêm yết chứng chỉ quỹ trên TTCK Việt Nam;
  • Sacombank là Ngân hàng TMCP đầu tiên thành lập công ty trực thuộc hoạt động trong lĩnh vực cho thuê tài chính (SacombankLeasing) Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

Sacombank hôm nay đã trở thành một hạt nhân không thể thiếu của thị trường tài chính Việt Nam và là một trong những thương hiệu ngân hàng được sự tín nhiệm và yêu thích của mọi tầng lớp dân cư Việt Nam cũng như các đối tác nước ngoài. Điều đó được minh chứng qua việc Sacombank đã gặt hái được nhiều giải thưởng có giá trị do Nhà nước cũng như các tổ chức tài chính quốc tế uy tín trao tặng: Bằng khen do Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam trao tặng cho toàn thể cán bộ, nhân viên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ngân hàng; Giải thưởng biểu tượng “Ngọn Hải Đăng” của ngành ngân hàng do người tiêu dùng trực tiếp bình chọn; giải thưởng “Thương hiệu Việt nổi tiếng”, “Doanh nghiệp Việt Nam uy tín chất lượng” do các tổ chức trong nước bình chọn; giải thưởng “Ngân hàng tốt nhất tại Việt Nam trong cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ” do SMEDF bình chọn; giải thưởng “Ngân hàng thực hiện xuất sắc thanh toán quốc tế” do Citigroup trao tặng; giải thưởng “Ngân hàng có dịch vụ ngoại hối tốt nhất Việt Nam 2025” do các định chế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương bình chọn; giải thưởng “Chất lượng cao trong định dạng lệnh thanh toán và tỷ lệ thanh toán trực tiếp” do ngân hàng Standard Chartered trao tặng…

Mục tiêu trước mắt của Sacombank là quyết tâm xây dựng Sacombank trở thành một Ngân hàng bán lẻ đa năng hiện đại, đạt mức trung bình tiên tiến trong khu vực; đồng thời tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác – liên minh liên kết và phát huy cao nhất hiệu quả hoạt động của các Công ty liên doanh & trực thuộc để trong một tương lai gần Sacombank có đủ điều kiện cung ứng cho thị trường các giải pháp tài chính trọn gói nhằm giảm bớt áp lực và nâng cao sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập là mục tiêu kỳ vọng của Sacombank.

Có thể nói, hoài bão đưa Sacombank trở thành ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam và là một thương hiệu được nhận biết trên thị trường tài chính khu vực đã được hiện thực hóa bằng hành động theo đuổi những chiến lược trọng tâm: Nâng cao năng lực tài chính, phát triển công nghệ hiện đại, mở rộng mạng lưới hoạt động, cải tiến và sáng tạo sản phẩm dịch vụ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, và đặc biệt hoàn thiện hệ thống quản trị điều hành,…để qua đó có thể đưa các tiện ích ngân hàng tốt nhất vào cuộc sống, cùng cộng đồng Việt Nam hướng đến tương lai thịnh vượng và phát triển.

2.1.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của Sacombank những năm qua Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

Năm 2025, nước ta tiếp tục thành công trên nhiều lĩnh vực, tình hình kinh tế xã hội phát triển ổn định nói chung và ngành ngân hàng tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao nói riêng. NHNN đã ban hành nhiều cơ chế chính sách quan trọng phù hợp tạo thuận lợi cho hoạt động của các NHTM. Bên cạnh đó, nước ta cũng phải hứng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng và tình trạng hạn hán, bão lụt xảy ra liên tiếp, nên sự phát triển kinh tế cũng bị một số tác động nhất định.

Những thuận lợi – khó khăn và các cơ hội – thách thức nêu trên đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt hoạt động kinh doanh của các NHTM nói chung. Song Sacombank vẫn gặt hái được những thành công ấn tượng và vượt bậc.

2.1.2.1. Hoạt động huy động vốn

Vốn là nguồn lực quan trọng để kinh doanh, đặc biệt là vốn huy động – nguồn vốn chủ yếu để cho vay của các NHTM. Huy động vốn đóng vai trò then chốt trong hoạt động ngân hàng hiện nay, khi mà nhu cầu vốn đầu tư phát triển kinh tế – xã hội rất lớn và nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư rất tiềm năng. Chính vì vậy, Sacombank luôn xác định đây là một trong những nhiệm vụ tối quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mình, đã áp dụng nhiều biện pháp để thu hút vốn. Trong năm 2025, Ngân hàng đã đưa ra nhiều chính sách khuyến mại đóng góp một phần không nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động, trong đó phải kể đến chương trình khuyến mãi “Sinh nhật vàng” của Sacombank với nội dung gửi tiết kiệm dự thưởng với nhiều kỳ hạn và nhiều mức lãi suất khác nhau. Để mở rộng nguồn huy động, tăng tỷ trọng nguồn vốn dài hạn, Ngân hàng tiếp tục đàm phán, giải ngân nguồn vốn ủy thác, đầu tư từ các định chế tài chính quốc tế( RDF II, FMO, SMEDF). Bên cạnh đó, Ngân hàng đã tăng cường công tác quảng cáo thương hiệu, tạo ấn tượng tốt với khách hàng bằng cung cách phục vụ và kỹ năng chăm sóc khách hàng với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, thân thiện, cởi mở. Đồng thời, mở rộng mạng lưới, mở rộng địa bàn hoạt động, cùng với hệ thống trụ sở khang trang bề thế là lợi thế cạnh tranh của Sacombank qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng nguồn vốn huy động.

  • Kết quả cụ thể như sau:

Sacombank là Ngân hàng có số dư vốn huy động lớn thứ 2 trong khối các ngân hàng TMCP chỉ sau ngân hàng Á Châu(39.548 tỷ đồng). Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

Tính đến tháng 9 năm 2026. Sacombank có tổng vốn huy động đạt 40.880 tỷ đồng, tăng 128% so với cùng kỳ năm 2025.

Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2025 đạt 21.338,02 tỷ đồng, tăng 74% so với năm 2024 và 132% so với năm 2023, số tuyệt đối là 9077,92 tỷ đồng và 12.137,02 tỷ đồng và tăng hơn 2 lần so với tốc độ tăng trưởng toàn ngành( 35%). So với năm 2020, tổng nguồn vốn huy động tăng 750%, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 50, 5%.

  • Nguồn vốn VNĐ đạt 17.095 tỷ đồng, chiếm 80,12% trong tổng nguồn vốn huy động.
  • Nguồn vốn bằng ngoại tệ đạt 4.243 tỷ đồng, chiếm 19,88% trong tổng nguồn vốn huy động.

2.1.2.2. Hoạt động tín dụng

Song hành với với quá trình đổi mới và hội nhập của nền kinh tế, nhu cầu vốn đầu tư cho xã hội tiếp tục gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi trong việc phát triển tín dụng.

Tổng dư nợ cho vay của Sacombank tính đến tháng 9/ 2026 là 24.330 tỷ đồng, tăng 99% so với cùng kỳ năm 2025. Năm 2025, tổng dư nợ cho vay của Sacombank đạt 14.394 tỷ đồng, tăng 70,9% so với năm 2024(8.425 tỷ đồng), tăng 140,4% so với năm 2023( 5.987 tỷ đồng) và tăng hơn 3 lần so với tốc độ tăng trưởng toàn ngành( 21,4%). So với năm 2020, dư nợ tăng 6,2 lần, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 44,7%. Có được thành công này là nhờ việc Sacombank đã triển khai thêm một số sản phẩm tín dụng mới, liên kết với nhiều doanh nghiệp có thương hiệu lớn để cung cấp sản phẩm, dịch vụ ngân hàng và thực hiện bảo hiểm cho khách hàng. Đây là những nét đặc trưng mới trong tiếp thị và bán sản phẩm mang tính liên kết mạng lưới toàn hệ thống của Sacombank nhằm phát huy tối đa lợi thế sẵn có để tăng lợi nhuận.

Cơ cấu dư nợ cho vay(năm 2025):

  • Theo loại tiền: Cho vay bằng VND vẫn đóng vai trò chủ yếu với tỷ trọng 74,8%; cho vay bằng ngoại tệ 21,3% và bằng vàng 3,9%.
  • Theo loại hình: Cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng 65,1% và cho vay trung dài hạn 34,9%.
  • Theo thành phần kinh tế: Cho vay doanh nghiệp Nhà nước chiếm tỷ trọng 0,56%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 52,6% và Cá nhân, hộ gia đình chiếm 46,8%( năm 2024 là 39,62%).

Tỷ lệ cho vay/ huy động vốn cuối năm 2025 là 67,5%, giảm 1,1% so với năm 2024(68,6%) và giảm 2,43% so với năm 2023(65,07%). Đây là định hướng phát triển bền vững của Sacombank nhằm từng bước đa dạng danh mục sử dụng vốn và giảm sự lệ thuộc vào hoạt động tín dụng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

Mặc dù tăng trưởng dư nợ khá cao nhưng Sacombank đã tuân thủ triệt để Quyết định 493/2024/QĐ- NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng vẫn nằm trong tầm kiểm soát chặt chẽ, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ năm 2025 là 0,95%, trong đó tỷ lệ nợ xấu 0,72% và quỹ dự phòng rủi ro đến cuối năm đạt 81,4 tỷ đồng, tăng 77,4% so với năm trước. Đây là điểm nổi bật của Sacombank trong quá trình tái cấu trúc nợ theo định hướng cho vay phân tán rủi ro với đối tượng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cá nhân và hộ gia đình. Đồng thời, Sacombank đã xác lập quy mô, cơ cấu tín dụng theo ngành kinh tế nhằm giảm đầu tư tập trung quá lớn vào một ngành, giữ vững mục tiêu vừa tăng trưởng tín dụng vừa phân tán rủi ro.

2.1.2.3. Hoạt động đầu tư

Cùng với sự khởi sắc của nền kinh tế trong quá trình hội nhập, thị trường chứng khoán phát triển sôi động và chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước được đẩy mạnh, đây là cơ hội tiềm năng phát triển dịch vụ đầu tư. Bên cạnh việc tăng nhanh vốn điều lệ để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư, liên doanh, liên kết, góp vốn mua cổ phần vào các tổ chức kinh tế, Sacombank đã và đang thực hiện chính sách đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm dự trữ thanh khoản thứ cấp, phân tán rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận.

Tính đến đầu năm 2025, tổng số vốn đầu tư tham gia góp vốn, mua cổ phần của Sacombank đạt 325 tỷ đồng. Đến cuối năm, tổng số dư đầu tư vào chứng khoán vốn, chứng khoán nợ và góp vốn mua cổ phần đạt 3.109 tỷ đồng, tăng 61,2% so với năm trước. Trong đó Ngân hàng đã tham gia góp vốn, mua cổ phần của 05 TCTD, 59 doanh nghiệp niêm yết và chưa niêm yết,… Trong thời gian gần đây, Sacombank đã góp vốn làm cổ đông sáng lập của Công ty Cổ phần Đầu tư Sài Gòn Thương Tín với tỷ lệ 11% vốn, ký kết thỏa thuận hợp tác kinh doanh toàn diện với Habubank và MB, mua 10% cổ phần của công ty cổ phần Hữu Liên Á Châu… Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

Việc đẩy mạnh đầu tư vào các chứng khoán vốn, chứng khoán nợ, góp vốn mua cổ phần của Sacombank cho thấy Ngân hàng đang đi đúng hướng, không những góp phần thực hiện tốt đa dạng hóa hoạt động đầu tư, phân tán rủi ro mà còn liên kết để tăng sức cạnh tranh, vượt qua sức ép của quá trình hội nhập nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định, tăng trưởng bền vững. Nhìn chung, hoạt động đầu tư đóng góp đáng kể vào kết quả lợi nhuận chung của Ngân hàng.

2.1.2.4. Hoạt động thanh toán, bảo lãnh.

Năm 2025, Sacombank vinh dự được nhận nhiều giải thưởng danh giá do Nhà nước cũng như các tổ chức tài chính quốc tế uy tín trao tặng, trong đó Citigroup trao tặng giải thưởng “Ngân hàng thực hiện xuất sắc thanh toán quốc tế ” và giải thưởng “Chất lượng cao trong định dạng lệnh thanh toán và tỷ lệ thanh toán trực tiếp” do ngân hàng Standard Chartered trao tặng.

Trong năm 2025, Ngân hàng đã đặt quan hệ với 1.173 đại lý của 72 ngân hàng và đến cuối năm, Sacombank đã quan hệ với 8.900 đại lý của 222 ngân hàng tại 85 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Số lượng đại lý của Sacombank tăng lên chỉ trong năm 2025 là 7.727 đại lý và mở rộng thêm 150 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đây là con số tăng trưởng đáng kinh ngạc cho thấy những nỗ lực vượt bậc của Sacombank nhằm củng cố vững chắc uy tín, tạo lòng tin với khách hàng trong nước và thể hiện quyết tâm vươn ra tầm quốc tế, nhanh chóng thích nghi với quá trình mở cửa hội nhập của đất nước nói chung và của ngành ngân hàng nói riêng.

  • Tổng doanh số thanh toán quốc tế quy đổi đạt 1917,89 triệu USD, tăng 26% so với năm 2024.

Về thanh toán nội địa, doanh số chuyển tiền đi trong và ngoài hệ thống tăng trưởng ổn định và doanh số cả năm đạt 94.415 tỷ đồng, tăng 47.666 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 102% so với năm 2024.

Về bảo lãnh, doanh số bảo lãnh trong năm 2025 là 68 triệu USD và 982,3 tỷ đồng. Số dư bảo lãnh đến cuối năm quy VND là 406, 9 tỷ đồng.

Trên cơ sở hiện đại hóa công nghệ và hệ thống công nghệ thông tin, Sacombank đã đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Với tái cấu trúc mới, Trung tâm thẻ trực thuộc Khối dịch vụ Cá nhân đã dần đi vào hoạt động ổn định và có nhiều tiến bộ so với các năm trước. Với sự ra đời của các sản phẩm dịch vụ mới như thẻ Visa Debit, thẻ đồng thương hiệu Sacom Metro, triển khai hoạt động chấp nhận thanh toán thẻ Master, dịch vụ chuyển khoản qua máy ATM… bước đầu hoạt động thanh toán thẻ của Sacombank đã tạo ra được sự chuyển biến đáng kể. Tổng số thẻ đã phát hành trong năm là 58.775 thẻ, tăng 49% so với năm trước. Nâng tổng số thẻ lưu hành đến cuối năm đạt 94.144 thẻ. Mạng lưới chấp nhận thẻ được tái bố trí, sắp xếp lại địa điểm và mở rộng thêm, đến cuối năm có 1.317 điểm chấp nhận thẻ.

2.1.2.5. Kết quả kinh doanh Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

Mọi hoạt động kinh doanh đều nhằm mục tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận quyết định đến sự tồn tại và phát triển cũng như khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng cũng vậy, mọi hoạt động như mở rộng khả năng huy động vốn, tăng chất lượng tín dụng…đều nhằm mục tiêu lợi nhuận. Năm 2025 là năm Sacombank đạt mức lợi nhuận cao nhất từ trước đến nay. Lợi nhuận trước thuế đạt 611,33 tỷ đồng, tăng 95,4% so với năm trước, bằng 15,5 lần so với năm 2020 và đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm trong giai đoạn 2020- 2025 là 74%.

Kết quả kinh doanh của Ngân hàng được thể hiện qua bảng sau:

  • Bảng 1: Kết quả kinh doanh của Sacombank từ năm 2023 – 2025 và 9 tháng đầu năm 2026

Trong tổng thu nhập của Ngân hàng thì thu nhập từ hoạt động dịch vụ vẫn ở mức thấp, nguồn thu chủ yếu vẫn là từ hoạt động tín dụng. Mặc dù thu nhập từ thu phí dịch vụ có tăng qua các năm nhưng mức tăng vẫn thấp hơn mức tăng thu từ hoạt động tín dụng. Tỷ trọng thu từ thu phí dịch vụ cao nhất của Ngân hàng là năm 2025, đạt tỷ lệ 16.8% trong tổng thu nhập.

Trong cơ cấu nguồn chi, ngoài chi phí trả lãi tiền gửi, các chỉ tiêu chi phí khác theo kế hoạch thì trong 3 năm 2023 – 2025 Ngân hàng đã trích lập dự phòng rủi ro trên 60.000 triệu đồng.

Mức tăng lợi nhuận năm 2025(95.4%) thấp hơn so với năm 2024(102,3%) là do lợi nhuận quý 3/2025 giảm 30% so với quý 2/2025. Việc lợi nhuận giảm trong quý 3 là do Sacombank tập trung vào đầu tư mở rộng mạng lưới và xây dựng cơ sở hạ tầng. Đây cũng là thế mạnh của Ngân hàng bởi hiện nay hầu hết mạng lưới hoạt động của Ngân hàng là tài sản của doanh nghiệp, chứ không phải đi thuê lại. Do vậy, lợi nhuận của quý 2 cao hơn quý 3 là sự điều tiết hoàn toàn chủ động của Ngân hàng. Lợi nhuận trước thuế 9 tháng đầu năm 2026 đạt 1006.2 tỷ đồng, tăng 143% so với cùng kỳ năm 2025. Lý giải cho mức tăng trưởng ngoạn mục này là do trong quý 3/2026 Ngân hàng đã đầu tư mạnh vào các loại chứng nợ và kinh doanh ngoại hối đồng thời nhận được các khoản tạm ứng cổ tức từ các hoạt động góp vốn mua cổ phần. Mặt khác, cơ cấu thu nhập và chi phí có sự chuyển biến tích cực, thu nhập phi tín dụng đã tăng dần tỷ trọng, nhằm cải thiện sự lệ thuộc vào thu nhập từ hoạt động tín dụng và chi điều hành giảm tỷ trọng so với các năm trước, góp phần tăng lợi nhuận cho Ngân hàng.

2.2. Thực trạng hoạt động huy động vốn tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

2.2.1. Mạng lưới huy động vốn

Tính đến thời điểm cuối năm 2025, Sacombank có 3.808 cán bộ nhân viên với 159 điểm giao dịch tại 38/64 tỉnh, thành trên cả nước. Trong năm Ngân hàng đã thành lập mới 46 điểm giao dịch(gồm 14 chi nhánh và 32 phòng giao dịch) đặt tại các vị trí thuận tiện nhằm rút ngắn khoảng cách không gian giữa Ngân hàng với khách hàng. Hiện tại, Ngân hàng đã phủ sóng tới 42/64 tỉnh thành với 210 điểm giao dịch. Sacombank là ngân hàng có mạng lưới hoạt động rộng lớn nhất trong khối các ngân hàng TMCP ở Việt Nam. Với tốc độ mở rộng mạng lưới trong giai đoạn 2020- 2025, Sacombank đi trước một bước nhằm chiếm lĩnh thị trường, tăng thị phần và đặt nền tảng để phát triển thành tập đoàn tài chính đa chức năng – đa sở hữu trong tương lai là định hướng chiến lược rất đúng đắn của Ban lãnh đạo Sacombank . Cùng với mạng lưới giao dịch, cơ sở khang trang bề thế tại các vị trí trọng điểm tạo ra ưu thế cạnh tranh và hội nhập, củng cố và vun đắp lòng tin khách hàng giao dịch. Mặt khác, chi phí thành lập đã được hạch toán vào các năm trước, nhân sự tự đào tạo và được nâng cao nghiệp vụ theo thời gian, hệ thống trụ sở là cơ hội tích sản trong tương lai và cơ sở xác định giá trị Ngân hàng của các đối tác đầu tư. Đây là lợi thế so sánh rất tiềm năng, thể hiện chiến lược của Sacombank đã và đang thực hiện thành công. Đồng thời, đây cũng là một trong những tiêu chí hoạt động của Sacombank : “Đem những tiện ích ngân hàng tốt nhất đến với tất cả những người dân khắp mọi miền đất nước.”

Dự kiến đến cuối năm 2026, mạng lưới của Sacombank trải dài khắp mọi miền đất nước khoảng 220 điểm, phủ sóng đến 44/64 tỉnh, thành trên cả nước.

2.2.2. Tình hình tăng trưởng nguồn vốn Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

Sau hơn 15 năm xây dựng và không ngừng phát triển, cùng với sự hoàn thiện mạng lưới chi nhánh, nguồn vốn của Sacombank tăng trưởng ổn định. Bảng số liệu dưới đây phản ánh tình hình huy động vốn từ năm 2023 – 2025 và 9 tháng đầu năm 2026 đã minh chứng điều đó.

  • Bảng 2: Tình hình huy động vốn từ năm 2023 – 2025 và 9 tháng đầu năm 2026

Tổng nguồn vốn của Ngân hàng tăng liên tục qua các năm: Năm 2024 tăng 39,01% so với năm 2023, năm 2025 tăng 71,41% so với năm 2024, 9 tháng đầu năm 2026 tăng 128% so với cùng kỳ năm 2027. Tốc độ tăng nguồn vốn 9 tháng đầu năm 2026 và năm 2025 tăng cao như vậy một phần là do Sacombank được nhận vốn từ FMO lần hai, nâng tỷ trọng nguồn vốn UTĐT năm 2025 lên 1,51%. Đồng thời, tỷ trọng của Nguồn vốn UTĐT và Nguồn vốn vay trong Tổng nguồn vốn tăng dần qua các năm từ 2023- 2025 và 9 tháng đầu năm 2026. Đây là kết quả rất đáng tự hào của Sacombank trong nỗ lực giảm sự lệ thuộc vào nguồn vốn huy động, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, góp phần chuyển dịch cơ cấu huy động nguồn vốn.

  • Biểu 1: Tình hình tăng trưởng nguồn vốn huy động từ năm 2020-2025 và 9 tháng đầu năm 2026

Qua biểu đồ trên cho thấy nguồn vốn huy động của Ngân hàng tăng liên tục qua các năm. Năm 2023 đạt 9.201 tỷ đồng, năm 2024 đạt 12.260 tỷ đồng, năm 2025 đạt 21.338 tỷ đồng, năm 2025 là năm đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong 3 năm, chứng tỏ rằng Ngân hàng huy động vốn đang có chiều đi lên, chưa đạt đến điểm bão hòa. Điều này được minh chứng rõ ràng khi tổng nguồn vốn huy động được trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt 40.880 tỷ đồng. Đây là xu hướng tích cực và đáng mừng vì vốn nhàn rỗi trong dân được huy động một cách hiệu quả, thu nhập người dân ngày càng cải thiện, kênh đầu tư vào ngân hàng đã trở thành sự lựa chọn tối ưu và minh bạch hơn.

Nguồn vốn huy động trong năm 2025 chủ yếu vẫn là từ tổ chức kinh tế và dân cư, đạt 93.9%, tăng 73,4% so với năm 2024. Điều này chứng tỏ vốn tiềm tàng trong dân cư là rất lớn, đồng thời nó cũng đặt ra cho Ngân hàng thách thức cạnh tranh không nhỏ với các ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác trong việc tiếp tục duy trì và tăng tốc độ huy động vốn, đòi hỏi Ngân hàng phải củng cố hoạt động của mình một cách vững mạnh, phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại và tiện ích, đa dạng hơn nữa các hình thức huy động vốn, lãi suất mềm dẻo, linh hoạt… Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

2.2.3. Cơ cấu nguồn vốn huy động

2.2.3.1 Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đồng tiền

  • Bảng 3: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đồng tiền

Dựa vào bảng 3 ta có thể biết rằng kết quả huy động vốn theo đồng tiền của Sacombank như sau:

  • Biểu 2: Cơ cấu vốn huy động theo đồng tiền

Lượng tiền ngoại tệ huy động của Ngân hàng bao gồm USD, EUR, JPY, AUD, CAD và các ngoại tệ khác. Giá trị đã được chuyển đổi ra đồng Việt Nam vào thời điểm cuối năm theo quy định của Nhà nước. Qua bảng số liệu số 3 và biểu đồ 2 cho ta thấy cơ cấu loại tiền và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động tương đối ổn định qua các năm với tỷ trọng chủ yếu vẫn là từ nội tệ. Vốn nội tệ qua các năm có tăng lên về giá trị nhưng tỷ trọng lại đang có xu hướng giảm xuống. Năm 2023 vốn nội tệ chiếm 84,9%, năm 2024 chiếm 75%, năm 2025 là 80,1% và 9 tháng đầu năm 2026 là 77,6% . Đồng thời, vốn ngoại tệ đang có xu hướng tăng lên về cả giá trị lẫn tỷ trọng, năm 2023 đạt tỷ trọng 15,1%, sang năm 2024 đạt 25%, 19,9% năm 2025 và 22,4% trong 9 tháng đầu năm 2026. Dù chỉ xê dịch những con số không lớn, tuy nhiên đây là một kết quả đáng ghi nhận của Ngân hàng trong những năm qua.

  • Sở dĩ nguồn vốn huy động từ ngoại tệ tăng lên trong các năm qua là vì:

Thứ nhất là hiện nay thị trường chứng khoán đang phát triển mạnh ở nước ta, đồng tiền ngoại tệ cũng được đưa vào nước ta nhiều hơn trước, đa số khách hàng đã nhận thức được giá trị của đồng ngoại tệ. Phần lớn người dân có ngoại tệ thì chỉ gửi ngoại tệ chứ không quy đổi ra nội tệ để gửi, mặc dù hiện nay lãi suất huy động đồng nội tệ tương đối cao có lợi rất nhiều.

Thứ hai là hiện nay hệ số lạm phát của Việt Nam đang gia tăng nhất là sau các vụ như dịch cúm gia cầm, lở mồm long móng ở lợn…đã khiến giá cả hàng hóa tăng cao, chỉ số giá tăng kéo theo hệ số lạm phát tăng. Do đó đồng nội tệ dần bị mất giá, tâm lý của người dân lúc này là tích lũy đồng ngoại tệ. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

Thứ ba là Ngân hàng đã chủ động tìm kiếm, đàm phán ký kết hợp đồng thúc đẩy việc giải ngân các nguồn vốn nhận từ Quỹ phát triển nông thôn, FMO, Quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ…Nguồn vốn này tăng lên góp phần tăng tỷ trọng vốn ngoại tệ trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng.

Về giá trị, năm 2023 tổng nguồn vốn huy động đạt 9.201 tỷ, trong đó nội tệ chiếm 7.812 tỷ, ngoại tệ chiếm 1.389 tỷ. Năm 2024 tổng nguồn vốn huy động đạt 12.260 tỷ so với năm 2023 tăng là 3.059 tỷ, tốc độ tăng là 33,2%, trong đó nguồn vốn nội tệ chiếm 9.196 tỷ với tỷ trọng 75%, ngoại tệ chiếm 3.064 tỷ, tỷ trọng 25%. Năm 2025 nguồn vốn huy động lại tiếp tục tăng với tổng nguồn là 21.338 tỷ so với năm 2024 tăng 9.078 tỷ, tốc độ tăng 74%, trong đó nội tệ chiếm 17.095 tỷ với tỷ trọng 80,1%, ngoại tệ chiếm 4.243 tỷ với tỷ trọng 19,9%. 9 tháng đầu năm 2026 nội tệ chiếm 31.723 tỷ với tỷ trọng 77,6%, ngoại tệ chiếm 9.157 tỷ với tỷ trọng 22,4%.

Có thể thấy rằng cả nguồn vốn nội tệ và ngoại tệ đều tăng về giá trị qua các năm nhưng tỷ trọng lại tăng trưởng không đều. Năm 2023, vốn nội tệ chiếm tỷ trọng 84,9%, năm 2024 là 75% nhưng đến năm 2025 lại tăng lên 80,1% và 77,6% trong 9 tháng đầu năm 2026, vốn ngoại tệ năm 2023 chiếm tỷ trọng 15,1%, năm 2024 là 25% nhưng năm 2025 chỉ có 19,9% và tăng lên 22,4% trong 9 tháng đầu năm 2026. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn ngoại tệ của năm 2024 so với năm 2023 là 120,6% nhưng năm 2025 so với 2024 chỉ là 38,5%. và 9 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025 tăng 205,4%. Điều này được giải thích là do Ngân hàng đang trong quá trình đa dạng hóa nguồn vốn huy động và chuyển dịch cơ cấu huy động vốn theo sự thay đổi của môi trường kinh tế.Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nguồn vốn ngoại tệ chảy vào Việt Nam tăng mạnh so với thời gian trước WTO.

2.2.3.2 Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn

  • Bảng 4: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn từ năm 2023 – 2025 và 9 tháng đầu năm 2026
  • Biểu 3: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn từ năm 2023-2025 và 9 tháng đầu năm 2026

Nhìn vào biểu đồ ta thấy: Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn của Ngân hàng phân bổ không đều nhau. Nguồn tiền gửi không kỳ hạn và nguồn tiền gửi trung dài hạn không có sự biến động lớn trong khi nguồn tiền gửi ngắn hạn có sự thay đổi lớn nhất với tầm giao động từ 59,4% đến 68,3%.

Cũng giống như những ngân hàng khác, Sacombank có cơ cấu nguồn vốn mà tỷ trọng kỳ hạn dưới 12 tháng là chủ yếu. Năm thấp nhất chiếm 59,4%, năm cao nhất chiếm 68,3% và ổn định đều trong 3 năm 2023, 2024, 2025 và 9 tháng đầu năm 2026. Đây là nguồn vốn hình thành chủ yếu từ huy động tiết kiệm tiền gửi tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể kinh tế, nên tính ổn định rất cao, ít có sự biến động từ 59,4% năm 2023 lên 68,31% năm 2025 và 68,3% trong 9 tháng đầu năm 2026. Vì thế, Ngân hàng có thể chủ động vốn để cho vay và đầu tư.

Tiền gửi không kỳ hạn có giá trị tăng dần nhưng tỷ trọng giảm dần qua các năm. Năm 2023 nguồn vốn này đạt 1.721 tỷ, chiếm 18,7%, năm 2024 đạt 2024 tỷ chiếm 16,4%, năm 2025 đạt 3.402 tỷ chiếm 15,9% và 9 tháng đầu năm 2026 đạt 6009 tỷ. Đây là nguồn vốn không ổn định, phụ thuộc vào các nhu cầu thanh toán của các chủ thể kinh tế. Vì vậy chi phí cho việc sử dụng nguồn này là rất thấp, cao nhất là 0,25%/ tháng.

Trong những năm gần đây, việc huy động vốn dài hạn trong dân cư gặp khó khăn. Người dân muốn gửi tiền với thời hạn ngắn để đảm bảo hiệu quả số tiền của mình, bởi lãi suất huy động của Ngân hàng biến đổi liên tục. Do sự biến đổi của tỷ giá các đồng tiền với đồng USD dẫn đến lãi suất huy động của đồng tiền này cũng thay đổi theo. Hơn nữa, khi gửi tiền tiết kiệm ngắn hạn trong điều kiện lãi suất huy động liên tục tăng, thì các chủ thể tiết kiệm có thể nhận được mức lãi suất này, khi nó thực sự tăng. Đó cũng chính là lý do tỷ trọng của nguồn vốn huy động trên 12 tháng của Ngân hàng liên tục giảm so với tổng nguồn vốn, cụ thể 21,9% năm 2023, 20,2% năm 2024, năm 2025 là 18% và đang ở mức 17% trong 9 tháng đầu năm 2026. Về giá trị của bảng 4 ta thấy qua các năm thì tất cả các nguồn không kỳ hạn, kỳ hạn dưới 12 tháng và trên 12 tháng đều có sự gia tăng.

Tiền gửi không kỳ hạn có tỷ trọng bị giảm sút qua từng năm lý do là lãi suất huy động thấp(0,25%/ tháng), chủ yếu là tiền gửi của các tổ chức kinh tế cho nên thường biến động, hơn nữa do nhu cầu thanh toán cao do đó tốc độ tăng trưởng bị giảm sút. Năm 2023 là 18,7%, năm 2024 là 16,4%, năm 2025 là 15,9% và 14,3% trong 9 tháng đầu năm 2026.

Đối với tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng, đa số được hình thành từ lượng vốn nhàn rỗi trong dân cư, nên tốc độ ổn định cao. Năm 2023 là 5.465 tỷ chiếm tỷ trọng 59,4%, năm 2024 là 7.780 tỷ chiếm 63,5%, năm 2025 là 14.102 tỷ chiếm 66,1% và 27.921 tỷ chiếm 68,3% trong 9 tháng đầu năm 2026 . Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

Đối với tiền gửi trên 12 tháng, nguồn này được hình thành chủ yếu từ các chủ thể có nhu cầu tiết kiệm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong tương lai. Do đó thời gian gửi thường là dài, để hưởng mức lãi suất cao. Hoặc là được hình thành từ tiền gửi, tiền vay của các tổ chức. Năm 2023 là 2.015 tỷ chiếm 21,9%, năm 2024 là 2.475 tỷ chiếm 20,2%, năm 2025 là 3.834 chiếm 18% và chiếm 17% trong 9 tháng đầu năm 2026. Giá trị tiền gửi có kỳ hạn qua các năm đều tăng một phần là do Ngân hàng đã áp dụng nhiều biện pháp huy động ngắn hạn và dài hạn có thưởng, ví dụ: Huy động đợt tiết kiệm dự thưởng SINH NHẬT VÀNG SACOMBANK, kỳ hạn 13 tháng với lãi suất huy động 0,75%/ tháng, 24 tháng 0,78%/ tháng, 36 tháng 0,8%/ tháng. Trong năm 2026, Sacombank đưa ra chương trình khuyến mại SACOMBANK – BẢO VỆ GIÁ TRỊ CUỘC SỐNG với nội dung “khách hàng gửi tiết kiệm có kỳ hạn từ 3tháng trở lên với số tiền tối thiểu 50 triệu đồng hoặc 3.000 USD sẽ được nhận ngay 1 mũ bảo hiểm chất lượng cao từ Sacombank”. Như vậy, Ngân hàng huy động với lãi suất cao và có quà tặng nên đã thu hút được nhiều khách hàng đến gửi tiền.

2.2.4. Kết quả huy động vốn

  • Bảng 5: Kết quả huy động vốn từ năm 2023 – 2025 và 9 tháng đầu năm 2026

Bộ phận chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng là TGKH(tiền gửi khách hàng), chiếm từ 82,15% đến 86,4% qua các năm.

Cụ thể sự biến động các nguồn vốn này qua các năm như sau:

  • Tiền gửi khách hàng:

Khách hàng của Ngân hàng bao gồm các cá nhân, các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế. Năm 2023 tiền gửi khách hàng chiếm tỷ trọng 86,4% trong tổng nguồn vốn huy động, năm 2024 tỷ trọng này giảm xuống 85,4%. Đến năm 2025 tỷ trọng này lại tiếp tục giảm xuống còn 82,1% và xuống 80,1% trong 9 tháng đầu năm 2026. Mặc dù tỷ trọng giảm nhưng giá trị của nguồn vốn này không hề giảm mà trái lại tăng đều qua các năm. Điều này được giải thích là do nguồn tiền gửi khách hàng tăng qua các năm đồng thời tổng nguồn vốn huy động cũng tăng. Hơn nữa, tốc độ tăng tiền gửi khách hàng thấp hơn tốc độ tăng của tổng nguồn vốn huy động(từ 33,2% đến 131,9%), do đó tỷ trọng của nguồn tiền gửi khách hàng giảm tương đối qua các năm. Nguyên nhân làm cho giá trị của nguồn tiền gửi khách hàng tăng đều qua các năm là do trong nền kinh tế thị trường hiện nay, người dân có thu nhập ngày càng cải thiện, nhu cầu tiêu dùng tăng lên, lượng tiền dư thừa trong dân cư lớn…Mặt khác, để khuyến khích các khách hàng gửi tiền, Sacombank đã đưa ra nhiều mức lãi suất hấp dẫn và hình thức khuyến mại nhằm thu hút nguồn tiền nhàn rỗi này. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

  • Tiền gửi, tiền vay của các TCTD khác:

Trong năm 2023, tỷ trọng của nguồn vốn này chiếm 5,6% trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng đạt 512 tỷ. Năm 2024, mức huy động của nguồn vốn này đã tăng lên 674 tỷ nhưng chỉ chiếm tỷ trọng 5,5%, đạt tốc độ tăng trưởng là 31,6%, tăng 162 tỷ so với năm 2023. Năm 2025, nguồn vốn huy động này lên tới 924 tỷ ,chiếm tỷ trọng 4,3%, tốc độ tăng trưởng là 37,1%, tăng 250 tỷ so với năm 2025. Trong 9 tháng đầu năm 2026, nguồn này đã lên tới 1.635 tỷ, chiếm 4% trong tổng nguồn vốn huy động. Cũng giống như nguồn tiền gửi khách hàng, có thể thấy nguồn tiền gửi, tiền vay của các TCTD khác cũng tăng về giá trị nhưng tỷ trọng lại giảm qua các năm. Nguyên nhân của tình trạng này cũng do tốc độ tăng của nguồn tiền gửi, tiền vay các TCTD khác thấp hơn so với tốc độ tăng của tổng nguồn vốn huy động. Mặt khác, hình thức gửi tiền của TCTD chủ yếu dưới dạng không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn, trong đó tiền gửi và tiền vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn tiền gửi, tiền vay của các TCTD. Điều này rất tốt bởi nó giúp Ngân hàng phát triển các loại dịch vụ khác liên quan đến tiền gửi ngắn hạn và giúp giảm bớt gánh nặng cho Ngân hàng trong việc tìm kiếm các nguồn tiền gửi có kỳ hạn, đảm bảo an toàn hơn cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong hiện tại và tương lai.

  • Chứng chỉ tiền gửi:

Đây là phương thức huy động vốn chủ động của Ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn tăng cao và bổ sung lượng vốn trung và dài hạn cho Ngân hàng, là phương thức chỉ áp dụng khi phương thức huy động tiết kiệm khác không dủ để đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng. Vì thế nó chỉ mang tính thời vụ và phụ thuộc vào tình hình nguồn vốn của Ngân hàng.

Bảng 5 cho thấy nguồn vốn huy động thông qua phát hành các CCTG không ngừng tăng lên qua các năm 2023-2025 và 9 tháng đầu năm 2026. Đến năm 2025 CCTG đã chiếm tỷ trọng 11,9%, tăng 129,4% so với năm 2024 và 256,2% so với năm 2023. Điều này chứng tỏ rằng Ngân hàng đang thiếu vốn để phục vụ hoạt động tín dụng của mình do đó phải phát hành các CCTG để bù đắp cho sự thiếu hụt đó. Nó sẽ làm tăng chi phí đầu vào và giảm lợi nhuận của Ngân hàng do lãi suất của nguồn vốn này luôn cao hơn lãi suất của các loại tiền gửi thông thường. Để giải quyết vấn đề này, Ngân hàng cần phải có những giải pháp tích cực để khai thác tối đa các nguồn tiền gửi có tính chất ổn định, có lãi suất thấp đảm bảo đáp ứng tốt nhất nhu cầu sử dụng vốn của mình.

  • Nguồn vốn UTĐT:

Trong 3 năm 2023, 2024, 2025 và 9 tháng đầu năm 2026 thị phần của nguồn vốn này trong tổng nguồn vốn huy động không cao, dao động từ 1,1% đến 3,5% đạt 1.451 tỷ năm 2025. Tuy nhiên kết quả này rất đáng ghi nhận những nỗ lực của Sacombank trong việc đàm phán, ký kết và thúc đẩy quá trình giải ngân các nguồn vốn UTĐT này. Đồng thời, nó cũng thể hiện Ngân hàng đang kinh doanh tốt, năng lực tài chính mạnh và tạo được uy tín với các tổ chức quốc tế và các tổ chức khác.

2.2.5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín năm 2023 – 2025 và 9 tháng đầu năm 2026 Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

2.2.5.1 Chỉ tiêu NVHĐ bình quân/ 1lao động

  • Bảng 6: NVHĐ bình quân 1 lao động của Sacombank năm 2023 – 2025 và 9 tháng đầu năm 2026

Trong những năm gần đây, chỉ tiêu này tại Sacombank biến động tăng giảm không đều. Năm 2023, bình quân 1 lao động của Ngân hàng huy động được 4,987 tỷ đồng, năm 2024 là 4,619 tỷ đồng, giảm 6,37% so với năm 2023, tương đương với 0,315 tỷ đồng. Năm 2024, số lao động tăng lên 789 người, tăng 42,3% so với năm 2023, tuy nhiên tốc độ tăng nguồn vốn huy động thấp hơn(33,2%) nên chỉ tiêu này giảm. Sang năm 2025, số lao động tăng thêm 1.154 người, tương đương 43,48% thấp hơn tốc độ tăng nguồn vốn (74%) nên chỉ tiêu này năm 2025 tăng lên 5,603 tỷ đồng trên 1 lao động. Trong 9 tháng đầu năm 2026, số lao động ở mức 4.501 người, tăng 693 người và chỉ tiêu này đạt 9,082 tỷ đồng, tăng 62,1% so với năm 2025.

Tình hình kinh tế nước ta tăng trưởng ổn định trong những năm gần đây xét trong bối cảnh ngày càng có nhiều ngân hàng TMCP và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các ngân hàng liên doanh tham gia vào thị trường Việt Nam khiến cho thị phần của các ngân hàng bị chia sẻ, tốc độ huy động bình quân 1 lao động như phân tích ở trên là khá cao. Năm 2023 bình quân 1 lao động của Ngân hàng huy động được 4.934 tỷ đồng, tăng lên 5,603 tỷ đồng năm 2025 và 9,082 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2026. Có được năng suất lao động trong việc huy động vốn cao như vậy thể hiện sự nỗ lực rất lớn cũng như trình độ của đội ngũ cán bộ nhân viên đóng góp cho sự thành công chung của Sacombank.

Chỉ tiêu NVHĐ bình quân/ 1 lao động chỉ thể hiện được năng suất lao động trong việc huy động vốn, nó cũng cho thấy một phần về khả năng huy động vốn của Ngân hàng. Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào chỉ tiêu này thì ta chưa thể kết luận về hiệu quả huy động vốn được mà còn phải xét đến các chỉ tiêu khác nữa.

2.2.5.2. Chỉ tiêu quy mô sử dụng vốn/ NVHĐ Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

Tín dụng luôn là hoạt động sử dụng nhiều vốn nhất của NHTM. Hiện nay, tại ngân hàng Sài Gòn Thương Tín tín dụng vẫn là hoạt động sử dụng vốn chính và đây cũng là mục tiêu của hoạt động huy động vốn của Ngân hàng. Ngoài cho vay thông thường đối với các thành phần kinh tế, Sacombank còn cho vay ủy thác cho các dự án. Tuy nhiên, các khoản cho vay này đều có nguồn vốn ủy thác nên không sử dụng nguồn vốn huy động. Vì vậy, quy mô sử dụng nguồn vốn huy động chính là quy mô cho vay thông thường. Những năm qua, Sacombank có tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động khá cao nhưng đồng thời, hoạt động cho vay cũng có những bước phát triển vượt bậc. Chỉ tiêu : Quy mô sử dụng vốn/ nguồn vốn huy động được tính bằng tỷ lệ giữa cho vay thông thường chia cho tổng nguồn vốn huy động, nó cho thấy sự phù hợp giữa nguồn vốn huy động với mục tiêu sử dụng vốn của Ngân hàng. Bảng dưới đây sẽ trình bày cụ thể về nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay thông thường tại Sacombank trong những năm qua.

  • Bảng 7: Quy mô NVHĐ và dư Nợ cho vay năm 2023 – 2025 và 9 tháng đầu năm 2026

Qua bảng số liệu trên, ta thấy trong những năm qua nguồn vốn huy động của Ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn cho vay, cụ thể là chỉ tiêu Quy mô sử dụng vốn/ Nguồn vốn huy động luôn nhỏ hơn 1, dao động từ 0,60 đến 0,68. Chỉ tiêu Quy mô sử dụng vốn/ Nguồn vốn huy động ổn định qua các năm và dao động không nhiều cho thấy nguồn vốn huy động phù hợp và đáp ứng được mục tiêu cho vay của Ngân hàng.

Mặc dù nguồn vốn huy động và nguồn vốn cho vay qua các năm có mức tăng trưởng khá, tuy nhiên xem xét cơ cấu cho vay lại thấy có sự bất hợp lý. Năm 2023 và 9 tháng đầu năm 2026, tỷ trọng cho vay ngắn hạn lớn hơn tỷ trọng cho vay dài hạn trong tổng nguồn vốn cho vay thông thường. Các năm 2024 và 2025, tỷ trọng cho vay của hai nguồn này đã có sự đổi chỗ cho nhau. Cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn. Đây là xu hướng tốt của Ngân hàng. Nhưng nguồn vốn huy động trung và dài hạn không đủ đáp ứng nhu cầu cho vay trung và dài hạn. Để bù đắp phần thiếu hụt này, Ngân hàng đã lấy một phần nguồn vốn huy động ngắn hạn đem cho vay trung và dài hạn. Năm 2023, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung và dài hạn là 5,68% thì đến năm 2024, 2025 tỷ lệ này đã là 19,10% và 15,54%, năm 2026 là 14,9%. Điều này cho thấy khả năng huy động vốn trung và dài hạn để cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng là chưa cao và chưa có hiệu quả. Việc lấy nguồn vốn ngắn hạn đem cho vay trung dài hạn là không bền vững, nó sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của Ngân hàng khi cùng một thời điểm có nhiều khách hàng đồng loạt rút vốn ngắn hạn. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

Để giải quyết thực trạng này, Sacombank cần có nhiều giải pháp tích cực nhằm tăng trưởng nguồn vốn huy động trung và dài hạn một cách nhanh chóng, cân đối giữa nguồn vốn huy động trung dài hạn và cho vay trung dài hạn, tiến tới giảm tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và dần đưa tỷ lệ này về giá trị không. Có như vậy Ngân hàng mới có thể nâng cao được hiệu quả hoạt động của Ngân hàng mình.

2.2.5.3. Chỉ tiêu chi phí HĐV/ Tổng nguồn vốn huy động

Để đánh giá được hiệu quả huy động vốn thông qua chỉ tiêu này, ta phải tìm hiểu cơ cấu nguồn vốn huy động của Sacombank trong những năm qua cũng như chi phí bỏ ra để huy động những nguồn vốn này. Cơ cấu nguồn vốn và chi phí huy động vốn của Ngân hàng được thể hiện trong bảng dưới đây:

  • Bảng 8: Chi phí huy động vốn của Sacombank năm 2023 – 2025 và 9 tháng đầu năm 2026

Nguồn vốn huy động của Sacombank có sự tăng trưởng đáng kể trong những năm qua. Có được kết quả này là do Ngân hàng đã nắm bắt được nhu cầu vốn cho vay, tiến độ giải ngân các dự án nên đã chủ động đề ra các giải pháp huy động kịp thời. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng là tiền gửi khách hàng, TG,TV các TCTD, phát hành giấy tờ có giá và nhận UTĐT. Trong đó tiền gửi khách hàng và TG,TV các TCTD luôn là nguồn vốn quan trọng và chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng. Điều này đã tạo rất nhiều thuận lợi cho Sacombank trong việc sử dụng vốn vào các mục đích của mình, bởi đây là nguồn vốn dồi dào và có tính ổn định cao. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

Do nguồn vốn huy động tăng lên mà theo đó chi phí huy động vốn cũng gia tăng hàng năm. Chi phí huy động vốn năm 2023 là 211,6 tỷ, năm 2024 là 315,1 tỷ, năm 2025 là 612,9 tỷ và đạt giá trị 1203,3 tỷ đồng tính đến tháng 9 năm 2026. Tiền gửi khách hàng là nguồn vốn lớn trong tổng nguồn vốn huy động của Sacombank, vì vậy mặc dù thu được một nguồn vốn ổn định nhưng chi phí cho nguồn tiền gửi này luôn chiếm từ 90% trở lên trong chi phí huy động vốn của Ngân hàng.

Chi phí huy động vốn tăng hàng năm. Năm 2023, để huy động được một đồng vốn Ngân hàng phải bỏ ra 0,025 đồng chi phí, năm 2024 tăng lên 0,032 đồng, đến năm 2025 là 0,033 đồng và ở mức 0,035 đồng vào tháng 9/2026. Chỉ tiêu này tăng lên cho thấy Ngân hàng phải huy động vốn với chi phí ngày càng cao hơn, việc huy động vốn gặp nhiều khó khăn hơn. Trong mấy năm vừa qua thì năm 2026 là năm mà Sacombank phải huy động vốn với chi phí trên một đồng vốn là cao nhất(0,035 đồng), nhưng nhìn chung xu hướng là nguồn vốn ngày càng khó khăn hơn, cạnh tranh gay gắt hơn, số ngân hàng ngày càng tăng lên, dẫn đến để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng nguồn vốn, đảm bảo nhu cầu vốn cho sản xuất-kinh doanh thì chi phí huy động vốn phải ngày càng tăng lên, cả về số tuyệt đối cũng như chi phí huy động tính trên một đồng vốn.

2.2.5.4. Chỉ tiêu Chênh lệch lãi suất bình quân

Với chi phí huy động vốn ngày càng tăng cho thấy việc mua sắm “đầu vào” cho quá trình kinh doanh của Ngân hàng đang ngày càng khó khăn hơn. Việc sử dụng những nguồn vốn có chi phí lớn vào hoạt động kinh doanh có đem lại hiệu quả không? Điều này còn phụ thuộc vào việc sử dụng vốn(cho vay thông thường) của Ngân hàng. Hiệu quả hoạt động sử dụng vốn được thể hiện bằng lãi suất cho vay trung bình- lãi suất đầu vào trung bình. Để xem xét hiệu quả kinh doanh ta xét đến chênh lệch giữa lãi suất cho vay bình quân và lãi suất huy động bình quân.

  • Bảng 9: Chênh lệch lãi suất bình quân của Sacombank năm 2023 – 2025 và 9 tháng đầu năm 2026

Năm 2023, lãi suất huy động bình quân là 0,25%/tháng, lãi suất này tăng lên 0,32%/tháng năm 2024 và 0,33%/tháng năm 2025, ở mức 0,36%/tháng trong 9 tháng đầu năm 2026. Đây là động thái không chỉ của riêng Sacombank mà thời gian này các ngân hàng đều đồng loạt tăng lãi suất để thu hút nguồn tiền gửi về phía ngân hàng mình. Lãi suất huy động vốn bình quân tăng lên hàng năm trong khi đó lãi suất cho vay có xu hướng giảm từ 0,682%/tháng năm 2024 xuống 0,674%/tháng trong 9 tháng đầu năm 2026. Điều này dẫn đến chênh lệch lãi suất đầu ra, đầu vào bình quân có xu hướng ngày càng giảm.

Chênh lệch lãi suất bình quân của Sacombank từ năm 2023 đến năm 2025 và 9 tháng đầu năm 2026 đang giảm dần, do vậy đã làm cho lợi nhuận trên một đồng vốn huy động bị giảm sút. Nguồn vốn huy động ngày càng đắt thêm trong khi việc cho vay lại không thể tăng lãi suất nhằm đảm bảo tính cạnh tranh của Ngân hàng trên thị trường. Đó cũng là một khó khăn nữa trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và nó đòi hỏi phải có nhiều biện pháp để có thể huy động được nguồn vốn rẻ hơn phục vụ cho nhu cầu kinh doanh.

2.2.6. Đánh giá hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Sài Gòn Thương Tín Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

2.2.6.1 Những kết quả đạt được

Trong những năm gần đây, môi trường kinh tế thế giới cũng như Việt Nam có nhiều biến động, nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập. Vì vậy cạnh tranh giữa các ngân hàng trong và ngoài nước ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt. Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao đã ảnh hưởng rất lớn tới công tác tạo vốn của các NHTM nói chung và của Sacombank nói riêng. Mặc dù gặp nhiều khó khăn như vậy song Ngân hàng đã chủ động khắc phục khó khăn và đạt được những kết quả đáng khích lệ.

Sự kiện ngày 12/7/2025 cổ phiếu Sacombank(mã chứng khoán STB) chính thức niêm yết trên sàn giao dịch thành phố Hồ Chí Minh đã đưa Sacombank lên một tầm cao mới: là ngân hàng thương mại đầu tiên niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Sự kiện này đã được Trung tâm Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam ghi nhận và trao cúp kỷ lục Việt Nam vào tháng 1 năm 2026.

Sacombank đạt mức vốn điều lệ 2.089 tỷ đồng và là ngân hàng có mức vốn điều lệ cao nhất trong hệ thống ngân hàng NHTM Việt Nam. Tăng năng lực tài chính nhằm tăng cường sức mạnh cạnh tranh và đảm bảo hệ số an toàn tối thiểu theo quy định của Nhà nước luôn nằm trong kế hoạch phát triển hàng năm của Sacombank. Hiện tại, tổng số vốn điều lệ của Ngân hàng đã tăng lên 4.450 tỷ đồng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

Mạng lưới hoạt động kinh doanh tiền tệ không ngừng được mở rộng. Tính đến cuối năm 2025, Ngân hàng đã có 159 điểm giao dịch tại 38/64 tỉnh, thành trong cả nước đưa Sacombank trở thành ngân hàng TMCP có mạng lưới hoạt động lớn nhất mà hầu hết các điểm giao dịch này đều là sở hữu của Ngân hàng chứ không phải đi thuê như các ngân hàng khác. Những thuận lợi này tạo đà cho Ngân hàng vươn lên trong cạnh tranh hiện tại và cho những năm sau. Do đó, Ngân hàng đã thu hút được nhiều vốn từ các thành phần kinh tế. Và chứng tỏ nhiệm vụ huy động vốn vẫn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Sacombank.

Bên cạnh việc mở rộng mạng lưới thì các hình thức huy động vốn và đối tượng huy động vốn cũng được mở rộng tối đa và thu hút được ngày càng nhiều các thành phần kinh tế, các khách hàng lớn gửi tiền vào nên lượng vốn huy động tăng đáng kể. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn tăng nhanh. Đến cuối năm 2025, tổng nguồn vốn huy động đạt 21.338 tỷ đồng, tăng 74% so với năm 2024 và tăng 131,9% so với năm 2023. Tổng huy động vốn 3 quý đầu năm 2026 đạt 40.880 tỷ đồng, tăng 128% so với cùng kỳ năm 2025. Có được điều này là sự nỗ lực của toàn Ngân hàng, luôn coi trọng công tác tăng trưởng nguồn vốn, và xác định đây là nguồn vốn kinh doanh chính, ổn định lâu dài của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng đã thực hiện các biện pháp tích cực cho công tác huy động vốn như: Mở rộng mạng lưới và các hình thức huy động vốn, tăng cường công tác quảng cáo thương hiệu, tạo ấn tượng tốt với khách hàng gửi tiền, cung cách phục vụ, kỹ năng chăm sóc khách hàng, đưa ra các chương trình khuyến mại hấp dẫn và các dịch vụ tiện ích gia tăng…

Cơ cấu nguồn vốn cũng có sự thay đổi hợp lý về mặt thời gian. Nguồn vốn trung và dài hạn tăng lên tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn duy trì ở mức thấp 15,54% năm 2025 nhỏ hơn rất nhiều so với mức 40% theo quy định của NHNN. Điều này cho thấy Sacombank phát triển ổn định, bền vững và chấp hành tốt các chủ trương chính sách của Nhà nước.

Kết quả kinh doanh năm 2025, Sacombank đạt lãi trước thuế 611,328 tỷ đồng. Đây là số lợi nhuận lớn nhất trong 15 năm hoạt động từ năm 1991 đến 2025, đưa Sacombank trở thành một trong hai ngân hàng TMCP đạt lợi nhuận cao nhất khối. Với những nỗ lực không ngừng để “bứt phá” kế hoạch năm 2026, toàn hệ thống Sacombank đã đẩy mạnh mọi hoạt động và kết quả đạt được hết sức ấn tượng: lợi nhuận trước thuế hơn 1.006 tỷ đồng, tăng 143% so với cùng kỳ năm 2025.

Công tác thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ đã thực hiện tốt các chỉ tiêu đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu thanh toán xuất nhập khẩu đối với các doanh nghiệp đang giao dịch tại Sacombank. Trong năm 2025, Ngân hàng đã vinh dự được nhận những giải thưởng và bằng khen có giá trị do Nhà nước cũng như các tổ chức uy tín trao tặng, trong đó có giải thưởng “Ngân hàng thực hiện xuất sắc thanh toán quốc tế” do Citigroup trao tặng; giải thưởng “Ngân hàng có dịch vụ ngoại hối tốt nhất Việt Nam 2025” do các định chế khu vực Châu Á- Thái Bình Dương bình chọn…

Với phương châm “tăng tốc, nâng chất để phát triển nhanh và bền vững” trong những năm qua, Sacombank đã có được sự tín nhiệm và chiếm được lòng tin yêu của hàng triệu khách hàng. Từ đó giúp Ngân hàng giữ được khách hàng truyền thống và thu hút được ngày càng nhiều khách hàng mới có năng lực tài chính tốt.

2.2.6.2. Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

Bên cạnh những thành tựu không thể phủ nhận như đã kể trên, Sacombank không tránh khỏi những hạn chế trong hoạt động cũng như trong công tác huy động vốn. Điều này được thể hiện qua các vấn đề sau:

Mặc dù Sacombank là Ngân hàng TMCP có mạng lưới huy động vốn rộng lớn nhất trong khối với 159 điểm giao dịch tại 38/64 tỉnh, thành trên cả nước nhưng quy mô mạng lưới như vậy vẫn chưa phủ sóng đến được những nơi có nguồn vốn tiềm tàng, chưa thực sự tạo thuận lợi cho khách hàng đến giao dịch tại Ngân hàng. Nhìn chung các điểm giao dịch của Sacombank vẫn tập trung tại những nơi đô thị hoặc những nơi đông dân cư. Điều này vừa là một thuận lợi đồng thời lại là một hạn chế. Bởi vì những nơi đô thị và đông dân cư sẽ tập trung rất nhiều các điểm giao dịch của các ngân hàng khác do đó hoạt động huy động vốn sẽ gặp phải nhiều sự cạnh tranh. Mặt khác, mạng lưới của Sacombank chủ yếu tập trung ở phía nam nên số lượng các chi nhánh và phòng giao dịch ở phía bắc và trung còn ít. Hơn nữa, càng ngày mức sống người dân càng được cải thiện, thu nhập ngày càng cao không chỉ ở những nơi thành thị mà ở cả những vùng nông thôn. Có một câu hỏi đặt ra là vậy ở 26/64 tỉnh thành còn lại mà Sacombank chưa phủ sóng đến không phải là một mảnh đất màu mỡ đầy tiềm năng? Chính vì vậy Ngân hàng cần nhanh chóng hoạch định chiến lược, nắm bắt thời cơ, đi trước đón đầu một bước ở những nơi còn thiếu sự hiện diện của Sacombank . Có như vậy hoạt động huy động vốn mới có thể đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới, tạo nguồn vốn dồi dào, ổn định cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

Trong nỗ lực chuyển dịch hợp lý về cơ cấu nguồn vốn huy động theo hướng tăng tỷ trọng nguồn vốn dài hạn cho thấy Ngân hàng vẫn chưa đạt được mục tiêu đặt ra, bởi vì tỷ trọng nguồn vốn trung dài hạn chỉ chiếm từ 18% đến 21,9% trong tổng nguồn vốn huy động, chưa đáp ứng được nhu cầu vốn cho vay trung dài hạn. Chính vì lý do đó, Ngân hàng đã phải lấy một phần nguồn vốn ngắn hạn đem cho vay trung dài hạn. Tuy rằng tỷ lệ này vẫn nằm trong giới hạn theo quy định của NHNN nhưng nó cũng làm cho Ngân hàng ở thế bị động là dễ gặp rủi ro đặc biệt là rủi ro thanh khoản.

Vốn điều lệ của Ngân hàng đến cuối năm 2025 là 2.089 tỷ đồng và hiện nay đã lên tới 4.450 tỷ đồng. Xét trong khối các ngân hàng NHTM thì Sacombank đứng đầu về vốn điều lệ, tuy nhiên so với các ngân hàng trong khu vực và các ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì con số này là một con số thấp. Năng lực tài chính hạn hẹp đã và sẽ cản trở đáng kể đến khả năng cung ứng vốn cho các dự án có quy mô lớn, bởi Luật các tổ chức tín dụng đã quy định “Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có”. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

Tầng lớp quản trị cao cấp và trung cấp, bao gồm cả Hội Đồng Quản Trị và Ban Tổng Giám đốc thay đổi liên tục, tạo ra ảnh hưởng và tâm lý không tốt cho nhà đầu tư. Trên trang web của Ngân hàng và trang web của BSC news cập nhật thường xuyên về thay đổi nhân sự thuộc tầng cao và trung cấp. Điều này khiến cho khách hàng không khỏi hoài nghi về sự ổn định đội ngũ nhân sự cũng như sự ổn định về chiến lược kinh doanh của Ngân hàng mỗi khi có sự thay đổi về nhân sự mới ở tầng trung và cao cấp. Vì những người này trực tiếp liên quan đến chiến lược kinh doanh, trực tiếp ra quyết định đối với các vấn đề lớn ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của Ngân hàng.

  • Nguyên nhân của những tồn tại này:

Ngân hàng chưa thật sự chú trọng tới địa bàn phân bổ các điểm giao dịch. Phần lớn các điểm giao dịch được đặt ở vị trí trung tâm, đông dân cư và tại các đô thị lớn. Do đó khi người dân ở xa muốn giao dịch với Ngân hàng gặp khó khăn trong vấn đề đi lại và vấn đề thời gian. Hiện nay, khu vực nông thôn có tốc độ phát triển rất nhanh và nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng tăng lên nhưng việc tiếp cận với các điểm giao dịch của Ngân hàng chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân. Điều này làm hạn chế khả năng huy động vốn của Ngân hàng từ các khu vực này.

Trong mấy năm gần đây, tình hình kinh tế – chính trị trên thế giới có nhiều biến động phức tạp. Kinh tế đất nước cũng có nhiều biến đổi, nhiều thiên tai, dịch bệnh làm cho chỉ số giá tiêu dùng tăng cao(năm 2023 là 9,5%). Do vậy, đời sống của người dân cũng gặp khó khăn. Mặt khác, trên thị trường ngoại hối, sự biến động của tỷ giá đồng USD so với các đồng tiền khác quá cao dẫn đến tình trạng người dân thích nắm giữ vàng, ngoại tệ, tài sản có giá trị khác hơn là gửi tiền vào Ngân hàng. Hơn nữa, do thói quen sử dụng tiền mặt của người Việt Nam vẫn chưa thay đổi nhiều nên luôn có một lượng tiền mặt rất lớn nằm rải rác trong dân cư, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày. Vả lại, người dân lo sợ đồng tiền mất giá nên không muốn gửi tiền với kỳ hạn dài dẫn đến việc người dân ưa thích gửi không kỳ hạn và kỳ hạn ngắn hơn.

Trong những năm qua thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động nên rất hấp dẫn người tham gia. Chính vì vậy, mà một phần lớn người đầu tư dám chấp nhận rủi ro để có thể tìm kiếm lợi nhuận cao hơn là gửi tiền vào Ngân hàng để hưởng một mức lãi suất cố định tham gia. Hơn nữa thị trường bất động sản trong những năm qua cũng rất phát triển vì thế đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng khá lớn tới tình hình huy động vốn cũng như cơ cấu nguồn vốn huy động của Ngân hàng.

Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những mục tiêu phát triển của Sacombank. Vì vậy xu hướng trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo đã tạo ra những sự thay đổi về mặt nhân sự của Ngân hàng dẫn đến việc nhiều người hoài nghi về tính ổn định của Ngân hàng. Tuy nhiên, dù có thay đổi trong bộ phận nhân sự nhưng những chiến lược kinh doanh và định hướng của Ngân hàng vẫn luôn thống nhất và kiên trì mục tiêu đưa Sacombank thành ngân hàng bán lẻ đa năng hiện đại đạt mức trung bình tiên tiến trong khu vực. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp huy động vốn tại ngân hàng Sacombank

One thought on “Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank”

  1. Pingback: Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng Sacombank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537